GIA-CƠ

MỤC LỤC

GIA-CƠ

1. LỜI CHÀO THĂM (Gia 1:1)

Gia-cơ mở đầu bằng việc xác nhận mình là trước giả và sau đó giới thiệu về độc giả.  Về bản thân, ông đã dùng một cách mệnh danh đơn giản là tôi tớ Đức Chúa Trời Đức Chúa Giê-xu Christ.  Lẽ dĩ nhiên, đây là một danh hiệu đầy vinh dự trong đó Môi-se đã từng nhiều lần được gọi là “tôi tớ của Đức Giê-hô-va” trong sách Giô-suê và Khải Huyền, cũng như chính bản thân Giô-suê trong sách Các quan xét vậy.  Nhưng đồng thời nó cũng là một danh hiệu đơn giản mà bất cứ Cơ Đốc nhân nào cũng có thể dùng.  Gia-cơ đi xa hơn cách dùng của Kinh Thánh Cựu Ước bằng cách thêm cụm từ (của) Đức Chúa Giê-xu Christ.  Điều này cho thấy phong trào của Hội Thánh đầu tiên trong việc thừa nhận sự bình đẳng của Chúa Cứu Thế Giê-xu với Đức Chúa Trời.

Độc giả là mười hai chi phái tan lạc (giữa các dân).  Nhóm từ mười hai chi phái có thể không có nghĩa rằng tất cả độc giả đều là người Do Thái, mà có nghĩa là Gia-cơ nghĩ họ như dân sự của Đức Chúa Trời, là dân Y-sơ-ra-ên đích thực, cho dù họ là người Do Thái hay người ngoại quốc (cũng như ở Ga 6:16  IPhi 2:9).  Các độc giả này cũng bị tan lạc y như dân Do Thái đã từng bị tan lạc trong thời kỳ lưu đày, điều này có thể ám chỉ rằng các độc giả này hiện không sống tại Xứ Thánh.  Tuy nhiên, từ ngữ “tan lạc” còn được dùng theo một ý nghĩa khác nữa.  1:1 đã dùng thuật ngữ này để ám chỉ rằng kể từ lúc trở thành Cơ Đốc nhân, các độc giả ngoại quốc của ông không còn có quê hương tại xứ sở của họ nữa  quê hương đích thực của họ là thiên đàng.

2. LỜI MỞ ĐẦU (Gia 1:2-27)

Sau khi đã đề cập về độc giả, Gia-cơ giới thiệu các chủ đề trong bức thư của ông.  Cũng như cách trình bày của nhiều bức thư viết khác bằng tiếng Hi Lạp, ông đã trình lời mở đầu thư hai lần, trước tiên là giới thiệu các chủ đề chính của mình trong Gia 1:2-11 và sau đó trình bày lại chúng (với phần khai triển đầy đủ hơn) trong 1:12-27 (đối chiếu IGi 1:1-4).

1. Phần thứ nhất: sự thử nghiệm, cầu nguyện và của cải (Gia 1:2-11)

(Gia 1:2-4) Sự thử nghiệm  Các Cơ Đốc nhân được Gia-cơ gởi bức thư này cho đang gặp thử thách trăm bề.  Những thử thách này không phải là sự bắt bớ bách hại nặng nề (và chắc chắn không phải là bệnh tật, vì nếu như thế thì phải có những từ ngữ khác được dùng), mà đúng hơn đó là sự bắt bớ ở một mức độ thấp hơn, chẳng hạn như việc bị chối bỏ về phương diện xã hội và bị tẩy chay về kinh tế.  Điều này xảy ra đơn giản vì họ là những Cơ Đốc nhân.  Tuy những thử thách ấy thật đau đớn, khó chịu, nhưng Gia-cơ kêu gọi các tín hữu hãy vui mừng, không phải vì nỗi đau này dễ chịu, mà vì họ phải có một tầm nhìn vượt trên bối cảnh sống hiện tại để hướng về phần thưởng đời đời.  Điều vui mừng trọn vẹn không phải là hạnh phúc trong hiện tại, mà là niềm vui được nhìn thấy trước tương lai mà Đức Chúa Trời đã định sẵn.

Lý do họ có thể vui mừng chính là sự thử nghiệm đức tin của họ sẽ làm nảy sinh tính kiên nhẫn hay nhẫn nhục.  Kiên nhẫn là một đức tính quan trọng của Cơ Đốc nhân, thường được đề cập bởi Chúa Giê-xu (Lu 8:15  21:19 đối chiếu Mat 10:22) và Phao-lô (Ro 5:3-4  8:25  IICo 6:4  12:12).  Đối với những độc giả am hiểu Kinh Thánh, như chính Gia-cơ, thì tầm quan trọng của đức hạnh này đã được nhấn mạnh qua sự kiện Áp-ra-ham là người đầu tiên trong Kinh Thánh chịu thử nghiệm (Sa 22:1) và Đức Chúa Trời đã ban thưởng cho lòng trung tín của ông.  Ngoài ra, Gióp cũng đã chịu Sa-tan thử thách, và trong các câu chuyện về Gióp được truyền tụng trong Do Thái giáo vào thế kỷ thứ nhất thì ông là tấm gương cao cả về lòng kiên nhẫn.  Chắc chắn các Cơ Đốc nhân này cũng mong nhận được một phần thưởng tương tự.

Tuy nhiên, sự kiên nhẫn tự nó cũng có một tác dụng.  Nó giống như việc nung một lưỡi gươm thép tốt trong lửa cho đến lúc nó được trui rèn đúng mức.  Trong trường hợp này lưỡi gươm là người tín hữu, lửa là sự thử thách và “sự trui rèn” chính là người tín hữu trở nên trưởng thành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào (c.4).  Thuật ngữ tiếng Hi Lạp dùng để chỉ “sự trưởng thành” cũng thường được dịch là ‘trọn lành’.  Đây là đức tính mà Nô-ê đã bộc lộ trong 6:9 (bản NIV dịch là “không chỗ chê trách”).  Đó là điều Chúa Giê-xu muốn nói khi Ngài kêu gọi những người theo Ngài rằng “thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn” (Mat 5:48).  Nó chỉ về một tính cách giống như của Đức Chúa Trời vậy.  Loại trưởng thành này nảy sinh bởi việc giữ vững được đức tin và phẩm chất Cơ Đốc lúc ở trong lò lửa của sự bắt bớ.  Những tạp chất trong cá tính của một người đều sẽ bị thiêu huỷ.  Kết quả cuối cùng sẽ không chỉ là sự trưởng thành, mà còn là sự toàn vẹn, nghĩa là không một phần nào của một tính cách giống với của Đức Chúa Trời sẽ bị thiếu mất.  Nếu đây là kết quả cuối cùng của những thử thách mà độc giả phải chịu, thì dù có khó khăn, thật vẫn có điều gì đó để vui mừng.

Kết cấu của những câu trên là một kết cấu của “câu nói dây chuyền” (a sinh ra b, rồi b sinh ra c, v.v..).  Chắc hẳn đây là một cách nói truyền thống của Hội Thánh, vì chúng ta tìm thấy phiên bản tương tự của nó trong Ro 5:3-6 và IPhi 1:6-7.

(Gia 1:5-8) Cầu nguyện  Nhưng giả sử một người vẫn chưa ‘trưởng thành và toàn vẹn’ thì người ấy phải làm gì?  Nếu một người sợ thất bại khi gặp thử thách, thì phải làm sao? Chắc hẳn câu trả lời của Phao-lô sẽ là người ấy phải sống, hay phải được dẫn dắt bởi Đức Thánh Linh (Ga 5:16-18,25).  Câu trả lời của Gia-cơ là họ phải cầu xin Đức Chúa Trời ban cho mình sự khôn ngoan, vì sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời chính là năng quyền mà Gia-cơ tin rằng có thể chống lại điều ác trong đời sống con người.  Một lời cầu nguyện như thế sẽ không vô ích, vì Đức Chúa Trời là Đấng ban cho rời rộng.  Sự rời rộng của Ngài không hề được bao bọc bởi một tinh thần chỉ trích: “lại là người nữa sao! Ngươi đã làm gì với điều ta đã ban cho ngươi lần trước?”.  Khác với thái độ đó, đơn giản Đức Chúa Trời ban cho tất cả những ai cầu xin Ngài, lần này đến lần khác.

Nhưng nếu muốn nhận được sự khôn ngoan thì chúng ta phải đáp ứng một đòi hỏi:  lời cầu xin phải nảy sinh từ đức tin nơi Đức Chúa Trời, hay đúng hơn là sự đầu phục Đức Chúa Trời.  Sự “nghi ngờ” mà Gia-cơ cảnh cáo ở đây không phải là sự nghi ngờ của một người không biết Đức Chúa Trời có đáp lời cầu xin đặc biệt này hay không, hoặc là sự hoài nghi của một người nghi ngờ hay xem xét nội tâm, là người thường chiến đấu với đức tin.  Ngược lại, đây là sự nghi ngờ của một người phân tâm, một cụm từ có liên hệ chặt chẽ với Thi Thiên (Thi 12:1-2), là thái độ tương phản với sự hết lòng tin cậy Đức Chúa Trời (Phu 6:5 8:3).  Nói cách khác, loại người nghi ngờ này là người không hoàn toàn phó thác cho Đức Chúa Trời, mà chỉ “ra vẻ an tâm” bằng cách cầu nguyện.  Điều họ thật sự quan tâm là sự thăng tiến trong thế gian này, nhưng họ cũng muốn được hưởng một vài phước hạnh của Đức Chúa Trời ngay trong đời này và cả trong cõi thiên đàng lúc họ qua đời.  Gia-cơ nói người như thế sẽ chẳng được sự khôn ngoan.  Thật vậy, một người như thế sẽ không nhận được gì từ Đức Chúa Trời cả.

(Gia 1:9-11) Của cải  Sau khi đã nói về việc hết lòng phó thác cho Đức Chúa Trời và vui mừng trong thử thách, Gia-cơ chuyển sang trình bày một thí dụ về người như thế.  Người anh em địa vị thấp hèn được khích lệ hãy nhìn nhận mình theo quan điểm của Đức Chúa Trời và khoe mình về phần cao trọng mình.  Thế gian cho rằng người này nghèo (từ “thấp hèn” trong tiếng Hi Bá Lai tiềm ẩn ý niệm chỉ về người thấp hèn hay bị áp bức).  Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã tuyên bố rằng họ vốn giàu có.  Quan điểm của Đức Chúa Trời luôn đúng hơn, nên người ấy có thể vui mừng về sự thật đó ngay cả khi hoàn cảnh bên ngoài của mình vẫn chưa có gì thay đổi.

Trái lại, kẻ giàu phải khoe mình về phần đê hèn.  Có thể đây là một câu nói mỉa mai có chủ ý.  Từ ngữ “giàu” (Hi văn plousios) trong thư Gia-cơ chỉ dùng cho những người không tin Chúa.  Gia-cơ có biết một số Cơ Đốc nhân giàu có (Gia 2:2 4:13), nhưng ông nói về họ nhưng không gọi họ là “kẻ giàu”.  Mặc dù câu này có thể mang ý nghĩa rằng đúng ra người giàu phải tự hào vì Đức Chúa Trời đã làm cho mình trở nên khiêm nhường và đã được kết giao bình đẳng với các Cơ Đốc nhân nghèo, có thể Gia-cơ đang muốn nói rằng nếu người giàu cùng nhìn về tương lai với người anh em “thấp hèn”, thì điều duy nhất người ấy tự hào là “địa vị thấp hèn” của mình, hay sự chóng qua của mình.  Trong đời này, kẻ giàu quả thật được tôn trọng và chào đón (như trong Thi Thiên 73), vì họ có vẻ quá cao quý, nhưng khi xem xét trong ánh sáng tương lai của Đức Chúa Trời, thì dù người ấy có sống thọ chăng nữa, quãng đời của họ cùng mọi vinh quang hiện tại của quãng đời ấy cũng chỉ ngắn ngủi chẳng khác gì một bông hoa chớm nở lúc bình minh nhưng chưa đến trưa thì đã tàn héo bởi ánh nắng chẳng còn lại gì cả.  (Bức tranh này được lấy từ Es 40:6-8).  Gia-cơ trình bày lại về sự sa ngã của kẻ giàu trong Gia 5:1-6.

Chủ đề về sự “đảo ngược số phận” này rất thường gặp trong văn chương Do Thái (ISa 2:1-10  Lu 1:46-55).  Khi Đức Chúa Trời hành động, người thấp hèn được tôn lên, còn kẻ cao sang thì bị hạ xuống.  Giô-sép đi từ nhà tù đến đỉnh vinh quang, còn Nê-bu-cát-nết-sa lại đi từ ngai vàng ra cánh đồng.  Đức Chúa Trời bày tỏ các giá trị của Ngài, còn các giá trị của loài người thì bị phủ nhận.  Sự việc sẽ diễn ra như thế vào lúc tận thế.  Gia-cơ muốn các độc giả của mình vui mừng về sự thực hầu đến này.

2. Phần thứ hai: thử nghiệm,  những ân tứ, và nghe và làm theo (Gia 1:12-27)

Trong phần hai của đoạn mở đầu, cả ba luận điểm lại được thảo luận lại theo thứ tự, nhưng Gia-cơ không đơn giản chỉ lặp lại.  Thay vào đó, ông khai triển thêm một khía cạnh mới của từng chủ đề.

(Gia 1:12-15) Thử nghiệm  Gia-cơ trở lại với luận điểm về sự thử thách bằng cách đưa ra một lời hứa.  Phước cho người chịu đựng thử thách.  Tại sao người ấy lại được kể là có phước?  Theo cách nhìn của người đời, thì họ vô phước, nhưng theo cách nhìn của Đức Chúa Trời thì họ có thể được phước.  Đức Chúa Trời từng hứa ban một mão triều thiên của sự sống, ấy chính là sự sống (như trong Kh 2:10), cho một người chứng tỏ rằng mình thật sự yêu mến Đức Chúa Trời bằng cách chịu ở trong thử thách.  Điều này cũng giống với trường hợp của Áp-ra-ham, người đã kiên nhẫn chịu đựng thử thách và rồi nhận được lời hứa của Đức Chúa Trời (Sa 22:15-18), vì Đức Chúa Trời nói: “Bây giờ ta biết ngươi thật kính sợ Đức Chúa Trời” (22:12).

Không phải tất cả mọi người đều chứng tỏ được sự chân chính của mình khi đối diện với thử thách.  Những người thất bại hay muốn đầu hàng khi chịu thử thách có lẽ thường thực hiện điều này bằng cách trách cứ Đức Chúa Trời rằng: “Đức Chúa Trời đang cám dỗ tôi” (trong Hi văn, từ ngữ chỉ sự ‘thử nghiệm’, ‘thử thách’ và ‘cám dỗ’ chỉ là một).  Đây chính là điều dân Y-sơ-ra-ên đã làm trong hoang mạc họ than phiền rằng đó là lỗi của Đức Chúa Trời và trách cứ Ngài (Xu 17:2,7).  Thật vậy, họ đã làm như thế đến mười lần (Dan 14:22).  Các tín hữu mà Gia-cơ viết bức thư này cho được khuyến cáo không được phép làm như thế, ông nói, thứ nhất vì “Đức Chúa Trời không thể bị kẻ tội lỗi thử thách được” (điều này có thể được dịch rõ hơn là Đức Chúa Trời chẳng bị sự ác nào cám dỗ được).  Đây chính là điều đã được dạy cho dân Y-sơ-ra-ên trong Phu 6:16.

Lý do thứ hai khiến các tín hữu không được trách cứ Đức Chúa Trời là vì Ngài không cám dỗ ai.  Làm thể nào Gia-cơ có thể viết như thế trong khi Sa 22:1 cho biết rằng: “Đức Chúa Trời đã thử (hay cám dỗ, cùng một từ ngữ giống nhau) Áp-ra-ham”?  Câu trả lời bắt đầu ngay trong Kinh Thánh Cựu Ước và kế đến là trong các sách của Do Thái giáo giữa Kinh Thánh Cựu và Tân Ước, những truyện tích chẳng hạn như những chuyện về Áp-ra-ham đều được lý giải là ma quỉ, nguyên nhân đích thực gây ra sự thử thách, đã bị bỏ sót (thí dụ IISa 24:1 chép rằng “Đức Chúa Trời giục lòng Đa-vít”, trong khi ISu 21:1 lại chép “Sa-tan… giục Đa-vít”).  Do vậy trong Jubilee, một sách nằm khoảng giữa Kinh Thánh Cựu ước và Tân Ước, đoạn ký thuật về Áp-ra-ham ở Sa 22:1-24 đã được viết lại theo một hình thức tương tự như trong sách Gióp vậy.  Do truyền thống trình bày này vào thời của mình, mà Gia-cơ, người đã trích dẫn 22:1-24 trong Gia 2:21 một cách rõ ràng, đã có thể nói rằng nguyên nhân thật sự gây ra thử thách không phải là Đức Chúa Trời.  Câu chuyện trong Cựu Ước là thật, nhưng nó là một kiểu sự thật đã được đơn giản hoá.

Nhưng Gia-cơ cũng không muốn người ta trách cứ cả ma quỉ nữa (tuy ông có nói đến nó ở 4:7), mà phải trực tiếp tự mình gánh lấy trách nhiệm.  Chính dục trong con người ta biến thử thách thành một thử thách.  dục này là điều mà người Do Thái gọi là “sự thúc đẩy xấu xa” trong con người, hay điều mà các nhà tâm lý học thường gọi là “xu hướng”, hay Phao-lô gọi là “tội lỗi” trong Ro 7:1-25  đơn giản đó là điều “Tôi muốn”.  Nó quyến rủ người ta như một gái điếm, và làm nảy sinh tội lỗi, và tội lỗi làm cho quá trình này kết thúc bằng sự chết.  Chuỗi tư dục – tội lỗi – sự chết này dọn đường cho đoạn sách tiếp theo.

(Gia 1:16-18) Ân tứ  Tương phản với những điều xấu do tư dục gây ra, Đức Chúa Trời chỉ ban cho ân tứ tốt lành và trọn vẹn mà thôi.  Một thí dụ về ân tứ tốt lành như thế là sự khôn ngoan đã được đề cập ở câu 5, phần Kinh Thánh tương tự.  Trong câu 17 Đức Chúa Trời được mô tả là Cha sáng láng từ thiên đàng hay Đấng Tạo Hoá của cả vũ trụ.  Nhưng không giống mặt trăng và những nguồn sáng khác do Ngài đã tạo nên, chính Đức Chúa Trời vốn bất biến.  Ngài vẫn luôn y nguyên.  Cho nên, nếu hôm nay Ngài ban cho điều tốt lành, thì hẳn ngày mai Ngài sẽ chẳng ban điều xấu xa đâu.  Sự tốt lành của Ngài được thể hiện qua việc Ngài đã theo ý muốn mình (“chọn” không phải là ngẫu nhiên) sanh chúng ta, nghĩa là tái sinh chúng ta bằng phúc âm (lời chân thật).  Mục tiêu của Ngài là khiến chúng ta trở nê trái đầu mùa của tất cả mọi điều Ngài đã sáng tạo.  Trái đầu mùa được xem là phần tốt nhất của mùa gặt, vì thế Đức Chúa Trời đang làm cho nhân loại được cứu chuộc trở thành tuyệt đỉnh của cả công trình sáng tạo.  Ở đây, chúng ta lại thấy một chuỗi từ khác: Đức Chúa Trời – lời chân thật – sinh ra.  Tư dục và ma quỉ dẫn đến sự chết.  Ngược lại, Đức Chúa Trời làm nảy sinh sự sống.

(Gia 1:19-27) Nghe làm theo  Kết quả của sự sống này hay sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời là gì?  Đó sẽ là một cái lưỡi được kiểm soát.  Cơn giận của loài người cho dù có được gọi là “giận đúng” hay không, thì cũng không sản sinh ra loại công bình của Đức Chúa Trời.  Vì thế, người khôn ngoan sẽ chậm mở miệng, thậm chí càng chậm hơn nữa trong việc bộc lộ sự giận dữ.  Gia-cơ lý luận, thực vậy một thái độ khiêm hạ tiếp nhận phúc âm (lời đã trồng trong anh em) sẽ đồng nghĩa với việc người ấy sẽ loại bỏ được mọi biểu hiện giận dữ (như Gia 3:9 và 4:1-2 cho thấy, vấn đề chính là sự bùng nổ của cơn giận chứ không phải là cảm xúc nội tâm) và tất cả những điều xấu xa khác, cả khi chúng hoàn toàn được người đời chấp nhận.

Chuyển sang luận đề thứ ba của mình, Gia-cơ chỉ ra rằng chỉ biết lời Kinh Thánh hay lời truyền dạy tốt lành thôi thì chưa đủ.  Chỉ có mỗi kiến thức thôi thì không giúp ích được gì.  Thận chí nó còn tệ hại hơn cả vô ích nữa, vì người tưởng rằng việc thông hiểu Thánh Kinh sẽ khiến một người trở nên tin kính, là đang tự lừa dối mình.  Trái lại, chính việc làm theo lời truyền dạy mới khiến một người trở nên tin kính.  Theo Gia-cơ, nguồn của sự dạy dỗ là gì ?  Luật pháp trọn vẹn, luật pháp về sự tự do là điều người ta phải vâng theo, và đó là Kinh Thánh Cựu Ước như Chúa Giê-xu từng giải thích cùng với những lời truyền dạy khác của Chúa Giê-xu.  Như Chúa Giê-xu cũng đã phán, điều đem đến phước hạnh cho một người không phải do nghe Lời Ngài nhưng do vâng theo những Lời ấy (Mat 7:24-27).

Điều này có nghĩa là một người có thể bày tỏ mình là người tin kính thật qua cách sống.  Nếu người nào không kềm hãm được lưỡi mình (nên thường nổi giận hoặc gây gổ), thì tất cả những sự thực hành tôn giáo của người ấy đều vô giá trị.  Lòng họ thật sự không yêu mến Đức Chúa Trời.  Sự tin đạo mà Đức Chúa Trời trông đợi có hai đặc điểm, cũng giống như hai mặt của một đồng tiền.  Thứ nhất, đó là chăm sóc kẻ nghèo (cô nhi và quả phụ là hai trong bốn hạng người nghèo chủ yếu trong Kinh Thánh Cựu Ước).  Thứ hai, đó là không bị ô uế bởi thế gian, nghĩa là không tìm cầu sự an toàn hay thăng tiến theo cách đánh giá của người đời.  Vì sự tin đạo này không để lòng yêu mến thế gian, nên không cần phải nắm chặt lấy tiền bạc.  Cho nên, những người như thế thường có lòng hào hiệp và ban cho cách rời rộng.

3. THỬ NGHIỆM BỞI LÒNG RỜI RỘNG (Gia 2:1-26)

Câu trên đây biến sự rời rộng thành một vấn đề, và vì thế nó đã đưa độc giả đến với vấn đề chính của thư, đó là sự kêu gọi hãy bày tỏ lòng rộng rãi và điều này thử nghiệm thực tế của đức tin ra sao.  Gia-cơ chia đề mục này thành hai phần.  Có lẽ mỗi phần là một sự tóm tắt của một bài giảng đơn lẻ,  vì cả hai phần đều tuân thủ mẫu mực của loại bài giảng được rao truyền trong nhà hội.

1. Sự tây vị và lòng yêu thương (Gia 2:1-13)

Bài giảng thứ nhất đề cập về sự rộng lượng trong cách cư xử.  Gia-cơ lý luận rằng nếu một người có cách cư xử tây vị, thì người ấy đang sống giống với kẻ bắt bớ Hội Thánh hơn là giống Chúa Giê-xu.  Sau khi nêu rõ nguyên tắc, ông khai triển luận đề ấy bằng một lý lẽ thần học và hai câu trích dẫn Kinh Thánh trước khi trình bày phần đúc kết của mình.

(Gia 2:1) Nguyên tắc  Gia-cơ mở đầu bài giảng bằng việc lưu ý rằng Chúa Giê-xu là Chúa vinh hiển chúng ta.  Lời xưng nhận mình phó thác cho một Đấng như thế (‘tin đến’ Ngài) không thể thích hợp với thói tây vị.  Bản thân Đức Chúa Trời hoàn toàn chẳng tây vị ai cả (Phu 10:17  Ga 2:6).  Do đó việc phó thác mình cho Đấng đã trọn vẹn hiện thân là một Đức Chúa Trời, và giờ đây là Chúa phục sinh vinh hiển không thể dung dưỡng bất kỳ kiểu tây vị chủ nghĩa nào.

(Gia 2:2-4) Một thí dụ  Gia-cơ tiếp tục đưa ra một thí dụ về điều ông muốn nói.  Qua việc đối chiếu bức tranh của Gia-cơ về những khác biệt trong cách ăn mặc và dáng điệu với những nguồn tài liệu về người Do Thái, chúng ta phát hiện thấy đây là khung cảnh một phiên toà của Hội Thánh (như trong ICo 6:1).

Bức tranh này mô tả hai tín hữu có sự bất hòa.  Một người thì giàu có.  Gia-cơ không gọi người này là “kẻ giàu”, vì ông chỉ dùng cụm từ đó cho những người không phải là Cơ Đốc nhân, nhưng ông cũng lưu ý rằng người này có đeo nhẫn vàngmặc áo đẹp (nguyên văn “sáng ngời”, nghĩa là được tẩy trắng chứ không phải là loại vải thô màu trắng được dệt tại nhà).  Người còn lại thì nghèo.  Anh ta đến trong bộ quần áo rách rưới (nguyên văn có nghĩa là ‘bẩn thỉu’).  Đó là tất cả những gì anh có để mặc đi làm việc cũng như  để ngủ, chúng đã sờn rách và hết sức bẩn.  Người giàu được mời đến chỗ ngồi, trong khi đó kẻ nghèo bị bảo đứng hoặc ngồi xuống sàn nhà.

Thậm chí trước khi lý lẽ được đưa ra, ai cũng có thể nhận thấy rằng đây không phải là một buổi xét xử công minh.  Theo yêu cầu của luật Do Thái, cả hai phía đều phải ngồi ngang hàng với nhau hoặc đứng.  Luật pháp ấy cũng đòi hỏi rằng giả sử một người là người giàu, thì hoặc là người ấy phải mặc cho người nghèo kia y phục giống như mình đang mặc, hoặc là chính mình phải ăn mặc xoàng xỉnh như kẻ nghèo kia.  Nếu Hội Thánh phân biệt giàu nghèo giữa hai người này thì chứng tỏ họ có sự tây vị.  Hơn thế nữa, họ đã trở thành những thẩm phán có ý xấu.  Hội Thánh tôn xưng Chúa Cứu Thế Giê-xu vinh hiển là Chúa của mình có lẽ nào lại trở thành quan tòa phán xử bất công, tây vị!

(Gia 2:5-7) lẽ thần học  Gia-cơ bắt đầu phần luận về sự thiên vị như thế dành cho người giàu bằng việc đề cập đến những lời phán của Chúa Giê-xu.  Ông nói Đức Chúa Trời đã chọn kẻ nghèo để kế tự Nước Trời.  Câu này nằm trong Bài Giảng Đồng Bằng (Lu 6:20).  Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài đặc biệt quan tâm đến người nghèo (Phu 15:1-23  Thi 35:10  Ch 19:17) trong Kinh Thánh Cựu Ước, và Chúa Giê-xu khiến họ trở thành mục tiêu công bố Phúc Âm của Ngài (Lu 4:18).  Gia-cơ vạch rõ rằng kẻ nghèo ông đang đề cập ở đây là những người nghèo về kinh tế, vì họ chỉ nghèo theo đời này mà thôi.  Trước mặt Đức Chúa Trời, họ giàu trong đức tin.  Do đó không phải bất cứ người nghèo nào cũng được kể là có phước, vì không phải tất cả người nghèo đều được chọn cho sự cứu rỗi (kế tự Nước) mà chỉ những kẻ kính mến Ngài.  Điều mỉa mai là Hội Thánh lại đang xét đoán họ như cách của người đời, chứ không theo cách của Đức Chúa Trời.  Hội Thánh không thấy được rằng kẻ ăn mặc xoàng xỉnh thật ra đang giàu có theo cách nhìn của Đức Chúa Trời, và bằng hành động của mình họ đã khinh dể kể nghèo, khinh dể chính những người mà Đức Chúa Trời đã chọn để làm những người kế tự của Ngài. 

Khi Hội Thánh sỉ nhục người nghèo tức là đang thiên vị người giàu.  Nhưng chính những người giàu ở ngoài Hội Thánh là những kẻ đang áp bức bóc lột họ.  Điều này được rút ra từ một luậm điểm trong Kinh Thánh Cựu Ước về việc kẻ giàu áp bức bóc lột người nghèo (Gie 7:6  22:3  Am 4:1  8:4), đúng như việc đang xảy ra vào thời của Gia-cơ.  Hơn nữa, kẻ giàu còn kéo các Cơ Đốc nhân ra toà vì biết rằng toà án đời này ủng hộ họ, vì lúc bấy giờ chẳng ai ưa các Cơ Đốc nhân cả.  Miệng nói tay đâm, họ đang nói phạm thượng đến danh tốt đã được lấy đặt cho các tín hữu lúc họ chịu phép báp-tem.  Có lẽ điều này liên quan đến việc làm thể nào họ là người ngay lành khi trước toà án họ đã chế nhạo rằng “kẻ theo người Ga-li-lê đáng nguyền rủa này”.  Kẻ giàu là như vậy.  Nhưng các Cơ Đốc nhân sẽ trở nên giống như họ khi phân biệt đối xử với người nghèo ngay trong những buổi nhóm họp của mình.  Những Cơ Đốc nhân này đã trở thành những kẻ bắt bớ.

(Gia 2:8-11) lẽ của Kinh Thánh  Lý lẽ của Kinh Thánh được chia ra làm hai phần.  Đầu tiên, Gia-cơ trích dẫn “luật pháp của vua” (luật pháp tôn trọng).  Câu dùng để trích dẫn là Le 19:18: “Hãy yêu thương kẻ lân cận ngươi như mình”.  Nhưng tại sao đây lại là luật pháp của vua? Mặc dù một số người tin rằng sở dĩ như thế là vì luật pháp này là nguyên tắc gồm tóm mọi bổn phận đối với người lân cận (Mac 12:31), nhưng có lẽ vì danh hiệu này đề cập đến lời tóm tắt các bổn phận là do Chúa Giê-xu thực hiện, do đó nó được gọi là Luật pháp của Vua.  Sau cùng, từ ngữ đã được dùng là “luật pháp” chớ không phải là “điều răn” (chắc sẽ phù hợp hơn nếu vấn đề là một điều răn đơn lẽ được tóm tắt), và Nước Ngài đã được đề cập ở Gia 2:5.  Thế thì, chính luật pháp của Vua (Kinh Thánh Cựu Ước được Chúa Giê-xu dẫn giải) là điều đang được vâng giữ hay bị vi phạm.  Ai thực sự ăn tốt tất nhiên là không vi phạm luật này.

Tuy nhiên, rõ ràng thiên vị là không yêu thương người lân cận như bản thân.  Nói tóm lại, đó chẳng phải là yêu thương người lân cận gì cả.  Do đó, có thái độ thiên vị hay không công bằng là vi phạm luật pháp của Nước Trời và đứng trước Vua là Đấng Cứu Thế với tội danh là kẻ vi phạm luật pháp.  Quả thật, đây là một tình trạng nghiêm trọng!

Người đọc có thể trả lời: “Nhưng khó có thể xem tính thiên vị cũng nghiêm trọng như một tội lỗi.  Há chẳng phải tôi đã tuân giữ rất nhiều điều răn khác của Chúa Giê-xu hay sao?”  Gia-cơ lưu ý rằng chỉ cần vi phạm một điều luật cũng khiến cho người ấy trở thành một tội phạm.  Để làm thí dụ, ông đưa ra phân đoạn Kinh Thánh thứ hai, đó là Xu 20:13-14 (hoặc Phu 5:17-18), cố ý trích dẫn tội tà dâm trước và tội sát nhân sau.  Lấy thí dụ một người hoàn toàn chung thuỷ với vợ, nhưng lại giết người.  Người ấy vẫn là tội phạm, cho dù chỉ vi phạm có một điều luật.  Chính Đức Chúa Trời đã ban bố cả hai điều răn.  Việc chọn làm theo điều răn tùy thuộc mỗi người.  Bằng thái độ thiên vị kẻ giàu và không công bằng với người nghèo có lẽ Hội Thánh đã cướp đi cuộc sống của người nghèo, vì thế hậu quả là họ giết chết người ấy.  Có lẽ đó cũng là cách mà kẻ giàu giết người nghèo công chính trong Gia 5:4-6.  Hình phạt của Kinh Thánh Cựu Ước dành cho kẻ sát nhân lẫn tà dâm là tử hình.  Cách hành quyết vẫn nghiêm khắc như nhau cho dù người bị xử tử mang một hay nhiều trọng tội.

(Gia 2:12-13) Lời kêu gọi kết thúc  Thế thì, ta phải nói và làm như một người sắp phải chịu xét xử theo luật pháp tự do.  Nói và làm bao hàm mọi cách hành xử của một người.  Chẳng một phương diện nào của đời sống sẽ được miễn trừ khỏi sự phán xét.  Chuẩn mực sẽ là luật pháp của Nước Trời, là Kinh Thánh Cựu Ước theo cách Chúa Giê-xu diễn giải, và những lời truyền dạy của chính Ngài.  (Vào thời của Gia-cơ, Kinh Thánh Tân Ước vẫn chưa được hình thành).  Đây không phải là một định chuẩn nặng nề, nhưng là một bộ luật giúp chúng ta được tự do để phục vụ Đức Chúa Trời.  Nhưng trong lời truyền dạy của mình, Chúa Giê-xu từng vạch rõ tự do không phải là được phép làm bất cứ điều gì mình muốn.  Tất cả mọi người đều sẽ ứng hầu trước mặt Ngài và trả lời về việc mình có vâng theo luật pháp này hay không (Mat 7:15-23  Lu 6:43-45).

Hai câu châm ngôn sự đoán xét không thương xót kẻ chẳng làm sự thương xótsự thương xót thắng sự đoán xét có lẽ đều bắt nguồn từ chính Chúa Giê-xu, chúng đã đúc kết cho phần này và bắc cầu cho đoạn tiếp theo.  Kinh Thánh Cựu Ước dạy rõ rằng Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời hay thương xót (Phu 4:31) và dạy rằng Ngài đã truyền dạy dân Ngài cũng phải hành động tương tự (Mi 6:8  Xa 7:9).  Chúa Giê-xu phán: “Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót” (Mat 5:7).  Ngài cũng phán: “Vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy” (7:2).  Do đó, với hành động không thương xót kẻ nghèo, họ đang gặt lấy sự phán xét nghiêm khắc cho chính mình.  Nếu họ không bày tỏ lòng thương xót trong cõi trần gian này, thì họ sẽ không nhận được sự thương xót trong cõi vĩnh hằng.  Thương xót thắng hơn sự đoán xét là một lời truyền dạy khác của Chúa Giê-xu (6:14-15  18:21-35).  Bằng cách tỏ lòng thương xót đối với người khác ngay trong hiện tại (nghĩa là phô bày bản tính của Đức Chúa Trời), họ sẽ nhận ra rằng sự đoán phạt mình phải gánh chịu đã được giảm bớt.  Trường hợp của họ không phải là vô vọng, họ không cần thiết tự chất chứa án phạt cho chính mình.

2. Hành động ban cho rời rộng và đức tin (Gia 2:14-26)

Câu Kinh Thánh trước đã bắc cầu cho phần thảo luận này, vì từ ngữ chỉ về “thương xót” liên hệ đến thuật ngữ chỉ về việc bố thí cho kẻ nghèo.  Bố thí là một hình thức thể hiện lòng thương xót.  Ví thế, nếu một người không bị xem là có phân biệt đối xử với người nghèo, vấn đề được đặt ra là người ấy nên đối xử với kẻ nghèo ra sao?  Câu trả lời là bày tỏ lòng thương xót cùng với việc bố thí.  Ý niệm này giới thiệu một bài giảng khác, một bài giảng về mối liên hệ giữa việc làm, chủ yếu là những công tác phước thiện hay hành động ban cho rời rộng, với đức tin.

(Gia 2:14) Nguyên tắc  Gia-cơ đưa ra một nguyên tắc rất đơn giản: Nếu ai nói mình đức tin song không việc làm, thì ích chi chăng?  Nói cách khác, nếu một người tuyên bố rằng mình tin tất cả các giáo lý đúng đắn, nhưng đời sống người ấy lại không bày tỏ rằng mình vâng lời Chúa Cứu Thế, thì đức tin như thế có ích lợi gì?  Câu trả lời đã được ngụ ý trong câu hỏi, là “Chẳng ích lợi gì hết”.

E chúng ta không nắm bắt được điều muốn đề cập, Gia-cơ nói thêm, Đức tin đó cứu người ấy được chăng?  Trong Hi văn, cách bạn đặt câu hỏi sẽ hàm ý câu trả lời mà bạn mong đợi.  Trong trường hợp này câu trả lời mà Gia-cơ trông đợi thật rõ ràng, đó là “không, nó không cứu được người ấy”.

(Gia 2:15-17) Một thí dụ  Gia-cơ đưa thêm một thí dụ nữa để làm thật sáng tỏ điều ông đang trình bày.  Ông vẽ một bức tranh về một anh em Cơ Đốc nhân đang thật sự nghèo thiếu.  Không phải họ thiếu quần áo đẹp, mà là chẳng có quần áo để mặc cho đủ ấm và lịch sự.  Không phải là họ không có lương thực dự trự cho một tuần lễ, mà là chẳng có gì ăn trong ngày.  Một người anh em Cơ Đốc của họ sẽ làm gì?  Người ấy dâng lời cầu nguyện.  Câu Hãy đi cho bình an là một lời chúc phước, có nghĩa là  “tôi chúc bạn đi mạnh giỏi”.  Câu Hãy sưởi cho ấm ăn cho no khiến cho lời chúc phước này trở nên cụ thể.  Đó là một lời chúc giả dối.  Nó chứa đầy đức tin – Đức  Chúa Trời sẽ cung cấp mọi sự.  Nó là một lời chúc thiêng liêng.  Nó rất đúng về phương diện thần học.  Điều còn thiếu đó là đi đến tủ quần áo của mình, lấy chính quần áo và thực phẩm của mình để chia xẻ cho những anh chị em bất hạnh.  Chính vì điều này mà Gia-cơ nói rằng một lời cầu nguyện như thế hoàn toàn vô ích.  Và ông kết luận rằng mọi hình thức đức tin không có việc làm kèm theo đều giống như vậy.  Có thể chúng ta tin rằng Chúa Giê-xu là Chúa, nhưng nếu chúng ta không vâng lời Ngài thì niềm tin ấy chỉ là những lời nói rỗng tuếch.  Có thể chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương kẻ nghèo, nhưng nếu chúng ta không quan tâm chăm sóc họ, thì đức tin của chúng ta là đức tin chết.

(Gia 2:18-19) Luận cứ thần học  Một thí dụ rõ ràng như ông vừa đưa ra cần có một lời biện hộ.  Bây giờ, Gia-cơ sẽ trình bày nó.  Ông đưa vào một nhân vật tưởng tượng để tranh luận với ông.  Đối thủ này xem đức tin và việc làm như thể chúng là những ân tứ riêng biệt do Đức Chúa Trời ban.  Ngươi (ân tứ là) đức tin, còn ta (ân tứ là) việc làm.  Gia-cơ đáp lại rằng đức tin mà không được thể hiện ra bên ngoài bằng việc làm thì chẳng khác gì không có đức tin.  Người ta không nhìn thấy hoặc kinh  nghiệm được nó.  Nó hoàn toàn mang tính tưởng tượng.  Trái lại, Gia-cơ nói ông sẽ chứng tỏ sự trao phó của  mình cho Chúa Cứu Thế, đó là đức tin của ông, qua việc làm.

Lúc bấy giờ đối thủ tưởng tượng phản đối rằng: “Tôi tin rằng Đức Chúa Trời chỉ có một”.  Đây là tín điều căn bản của Do Thái giáo được rút ra từ Phu 6:4-5, mà tất cả những người Do Thái tin kính đều đọc thuộc lòng mỗi ngày hai lần.  Đó chính là loại đức tin mà người ta nói rằng Áp-ra-ham đã khám phá.  Và nó cũng là nền tảng của Cơ Đốc giáo (Mac 12:28-34  Ro 3:30 cũng được ngụ ý trong bài giảng ở Cong 17:22-31).  Chắc chắn một tín ngưỡng chính thống như thế là đủ.  Nhưng Gia-cơ trả lời: Không, như thế chưa đủ, vì chính ma quỉ cũng tin như thế.  Các đạo quân của Sa-tan cũng tin trọn vẹn vào tín lý chính thống ấy, cũng tin trọn vẹn vào lẽ thật  thực tế, trong các sách Phúc Âm chúng còn đưa ra một lời xưng nhận về Chúa Cứu Thế còn đầy đủ hơn cả các sứ đồ nữa (Mac 1:24  5:7).  Và không giống với những người tự xưng mình tin mà không thể hiện bằng bất kỳ một việc làm nào, chúng hành động phù hợp với niềm tin của chúng – chúng run sợ.  Chúng run sợ vì chúng đang chống nghịch Đức Chúa Trời và biết rằng chúng sắp phải vào hoả ngục.  Có lẽ Gia-cơ ngụ ý rằng những ai tự xưng mình có đức tin mà không thể hiện chúng bằng việc làm cũng nên run sợ nữa.

(Gia 2:20-25) lẽ của Kinh Thánh  Bây giờ, Gia-cơ đưa ra những chứng cứ của Kinh Thánh về điều ông đã lý luận.  Ông dùng ngôn từ mạnh mẽ như của Chúa Giê-xu (Mat 23:17) hay của Phao-lô (Ga 3:1), tiêu biểu cho cách tranh luận vào thời của ông.  Chứng cứ ông đưa ra là chứng cứ về Áp-ra-ham và câu chuyện trong Sa 22:1-19.  Áp-ra-ham đã được xưng công bình hay “được tuyên bố là công bình” trong 22:12, khi Đức Chúa Trời phán “Bây giờ ta biết rằng ngươi thật sự kính sợ Đức Chúa Trời”.  Điều này có được do việc ông chuẩn bị để dâng Y-sác.  Nói cách khác, quyết định theo Đức Chúa Trời và tin cậy Ngài của Áp-ra-ham rất quá chắc chắn đến nỗi khi đối diện với những thử thách nặng nề nhất ông vẫn theo Ngài và kiên quyết vâng phục, dù phải trả bất cứ giá nào.

Tuy nhiên, trong bản văn, còn có nhiều hơn thế nữa.  Cụm từ cậy việc làm trong bản NIV đáng ra được dịch là “căn cứ vào những việc làm của ông”.  Xin lưu ý là “những việc làm của ông” (số nhiều) chớ không chỉ “một việc” (số ít).  Không phải Gia-cơ đang nghĩ đến một việc làm nào đó của Áp-ra-ham.  Trong cái nhìn của người Do Thái, việc dâng Y-sác là kết cuộc của cả một chuỗi dài của sự vâng lời khởi đầu từ 12:1.  Điều họ thắc mắc là tại sao Đức Chúa Trời truyền lệnh dâng Y-sác, nhưng rồi không để cho Áp-ra-ham thực thi điều đó?  Họ trả lời rằng vì Áp-ra-ham đã từng vâng lời rất nhiều lần trước đó rồi, kể cả, theo những câu chuyện của họ, việc ông vốn rất quan tâm chăm sóc kẻ nghèo, nên Đức Chúa Trời đã ban thưởng cách công bằng cho các việc làm của ông trong 22:1-24 bằng cách tha cho Y-sác.  Việc Y-sác được tha không phải xảy ra do một việc làm đơn lẽ, mà là do một chuỗi đời sống vâng phục.

Bây giờ, Gia-cơ khẳng định rằng đức tin và hành động (hay việc làm) không thể tách rời nhau.  Đức tin chỉ ở trong tâm trí mà thôi thì chưa trọn vẹn.  Nó sẽ trở nên hoàn thiện khi nó dẫn đến một quyết định của ý chí, và được thực hiện bằng hành động.  Về vấn đề này Phao-lô và Gia-cơ có chung ý kiến.  Phao-lô chống lại “những việc làm” trong Ro 4:1-25 và Ga 3:1-4:31, nhưng những việc làm mà ông chống lại đó là “những việc làm của luật pháp”, tức là những hành động mang tính nghi lễ như phép cắt bì, những luật lệ về kiêng ăn và giữ ngày Sa-bát hầu phân biệt một người Do Thái với một người không phải là Do Thái.  Người ta không nhất thiết phải trở thành người Do Thái rồi mới được Đức Chúa Trời kể là công chính.  Nhưng khi bàn về những việc làm công chính, thì Phao-lô không cho rằng một người sẽ vào được thiên đàng mà không có chúng, như ông đã vạch rõ trong ICo 6:9-10 và Ga 5:19-21.  Đó là vì với Phao-lô đức tin không chỉ là niềm tin suông vào các giáo lý chính thống, như quan điểm của đối thủ tưởng tượng của Gia-cơ, nhưng là sự trao phó cho Chúa Cứu Thế.  Mà sự trao phó bao giờ cũng tạo ra một điều gì đó – sự vâng lời.  Và đây chính là điều Gia-cơ đề cập ở đây, đức tin sẽ trở nên đức tin thật hay trọn vẹn khi nó được gắn liền với việc vâng lời Chúa Cứu Thế.

Bây giờ Gia-cơ trích dẫn Sa 15:6 và cho thấy điều này được ứng nghiệm trong 22:1-24 Trong Ro 4:3 và Ga 3:6, Phao-lô cũng trích dẫn Sa 15:6, nhưng ông chú trọng đến việc chỉ rõ rằng Đức Chúa Trời đã phán câu này trước khi Áp-ra-ham chịu phép cắt bì.  Gia-cơ muốn chúng ta biết rằng những hành động về sau của Áp-ra-ham đã chứng minh lời tuyên bố của Đức Chúa Trời rằng ông là một người công chính là chính xác.  Quả thật Áp-ra-ham đã sống bằng đức tin và trên thực tế ông là một người công chính.  Để bổ sung cho điều này, Gia-cơ thêm vào lời diễn giải của IISu 20:7 hay Es 41:8 rằng Áp-ra-ham là bạn Đức Chúa Trời.  Bạn bè phải nhất trí với nhau, và bởi việc vâng lời Đức Chúa Trời suốt đời mình, Áp-ra-ham đã tự chứng tỏ ông là một người bạn đích thực, một người sống hoà thuận với Đức Chúa Trời.

Vậy một người được kể là công chính nhờ những người ấy làm, chớ không phải chỉ nhờ một mình đức tin thôi.  Phao-lô dùng từ ngữ “kể là công chính” (xưng công bình) để chỉ lời tuyên bố của Đức Chúa Trời rằng một tội nhân đã được tha bổng.  Đây là ý nghĩa mới của từ ngữ này.  Gia-cơ dùng từ ngữ này theo nghĩa nguyên thuỷ của nó (nghĩa được tìm thấy trong Cựu Ước bằng tiếng Hi Lạp), ấy là một người được tuyên bố là ngay lành hay công chính.  Ông lý luận rằng lời tuyên bố ấy xảy ra không phải vì cớ những điều vô hình trong lòng một người, mà vì cớ những điều cụ thể trong việc làm của một người.

Bây giờ, Gia-cơ chuyển sang một phân đoạn Kinh Thánh thứ hai, đó là câu chuyện của Ra-háp trong Gios 2:1-24.  Người kỵ nữ này đã được nghe về những việc làm của Đức Chúa Trời và lòng nàng tin những điều đó.  Nhưng điều đó vẫn chưa đủ để nàng được cứu.  Rất có thể nhiều người trong thành Giê-ri-cô cũng đã tin những điều giống như thế.  Tuy nhiên, Ra-háp đã hành động dựa trên những điều mình tin bằng cách bảo vệ cho các điệp viên Hi Bá Lai.  Vì cớ đức tin của nàng đã được chuyển thành hành động, nên nàng đã được giải thoát.  Theo cách nhìn của người Do Thái, bà được xem là mẹ của tất cả những người ngoại giáo chuyển sang Do Thái giáo, là hình ảnh đầu tiên về một người biết ăn năn quy đạo.

(Gia 2:26) Lời kêu gọi kết thúc  Phần tóm tắt của Gia-cơ rất ngắn gọn và rõ ràng.  Đức tin không có việc làm cũng giống như một xác chết, một thi thể không có linh hồn hay hơi thở.  Một vật như thế là một vật chết, vô dụng, chỉ phải chôn đi mà thôi.  Một đức tin như thế không giúp một người được cứu.  Đức tin cứu rỗi thật sự phải là đức tin đưa đến những việc làm vâng phục Đức Chúa Trời.

4. THỬ NGHIỆM BẰNG LƯỠI (Gia 3:1-4:12)

Một trong những cách để qua đó thử nghiệm sự trao phó của một người cho Chúa Cứu Thế là việc người ấy sử dụng lưỡi của mình.  Và một trong những vấn đề đầu tiên có thể xảy ra trong một Hội Thánh đang chịu sự bắt bớ là các tín hữu có thể bắt đầu tranh cãi với nhau.

1. Điều ác từ lưỡi (Gia 3:1-12)

Điểm đầu tiên Gia-cơ muốn trình bày chính là lưỡi là một công cụ hữu hiệu cho điều ác.  Ông thực hiện điều này qua một phần biện luận dài, tỉ mỉ.

Lưỡi là công cụ chính của người giảng dạy, cho nên đó là điểm Gia-cơ mở đầu.  Trong vòng anh em chớ nhiều người tự lập làm thầy chính xác hơn có nghĩa là “không nên có nhiều người trở thành thầy”.  Nhiều người muốn trở thành giáo sư và lãnh đạo của cộng đồng Cơ Đốc.  Gia-cơ lý luận rằng đó là một động lực nguy hiểm có thể dẫn đến xung đột trong Hội Thánh.  Một nguyên nhân là cho dù ước vọng trở thành giáo sự được thúc đẩy bởi những lý do tốt đẹp nhất, người giảng dạy sẽ phải chịu xét đoán càng nghiêm hơn.  Ở đây, Gia-cơ đặt chính mình vào địa vị của người giảng dạy, và ông nhắc chúng ta về Chúa Giê-xu, Đấng đã từng lên án các giáo sư người Do Thái (Mat 23:1-33  Mac 12:40  Lu 20:47) và phán rằng ngay đến những lời nói tình cờ của chúng ta cũng sẽ bị phán xét (Mat 12:36).  Hơn nữa, Chúa Gê-xu còn dạy rằng người ta phải chịu trách nhiệm về những gì mình biết (Lu 12:47-48).  Người làm giáo sư trình bày những điều mình hiểu biết và lập mình thành một gương mẫu cho Hội Thánh, vì trong thời Tân Ước người giáo sư phải giảng dạy bằng chính đời sống và gương tốt của mình hơn là bằng lời nói.  Những người như ấy sẽ phải chịu biết bao trách nhiệm ngày phán xét!

Tất cả mọi người đều phạm tội hay vấp phạm, mà nơi dễ dàng gây vấp phạm nhất là trong cách sử dụng lưỡi.  Một lời chê bai chỉ trích dễ dàng bật ra biết bao!  Nếu một người thật sự kiểm soát được hoàn toàn cái lưỡi của mình để không phạm tội trong lãnh vực ấy, thì quả thật người ấy đã biết tự kiềm chế để trở nên hoàn thiện, vì lưỡi là bộ phận sau cùng cần chịu sự kiểm soát.

Gia-cơ đưa ra một loạt thí dụ minh hoạ cho sự thật này.  Một con ngựa (là một trong những “cỗ máy” mạnh mẽ nhất vào thời của Gia-cơ) được điều khiển bởi một hàm thiếc được đặt trong miệng nó.  Một chiếc tàu, là phương tiện chuyên chở to lớn nhất vào thời ông, được điều khiển nhờ chiếc bánh lái, mà thời bấy giờ nó có hình dáng giống như cái lưỡi vậy.  Cái lưỡi cũng mạnh mẽ, như sự khoe khoang của nó đã minh chứng.

Từ điểm này, Gia-cơ chuyển hướng phần bình luận của mình và ví sánh cái lưỡi với một đốm lửa có thể làm cháy cả một khu rừng.  Nguồn gốc của một đốm lửa như thế chính là hoả ngục.  Gia-cơ không nói cái lưỡi như một nơi xuất phát ngôn ngữ do Đức Chúa Trời ban.  Đúng hơn, ông nghĩ cái lưỡi như một vật thể đã bị sự sa ngã làm cho hư hoại.  Nhiều tội lỗi, nếu không nói là tất cả, đều khởi đầu từ một lời nói.  Nó có thể được nói ra công khai hoặc “thì thầm” trong nội tâm.

Tiếc thay, mạnh mẽ là vậy, nhưng cái lưỡi thật khó chế phục được.  Gia-cơ nhấn mạnh cái chân lý chung về khả năng con người trong việc trị phục muôn thú và so sánh nó với sự bất năng của họ trong việc chế phục cái lưỡi.  (Ông không đang ám chỉ về một nhận định mang tính cách khoa học rằng mọi loài thú đều đã được trị phục).  Thế nhưng với tất cả kỹ năng này không một người nào có thể kiểm soát được cái lưỡi của chính mình.  Ngay cả vị thánh đồ hoàn thiện nhất cũng trải qua những lần ao ước mình có thể rút lại những lời mình vừa nói ra.

Kế đến, cái lưỡi không nghỉ yên.  Tính không nghỉ yên là đặc điểm của thế giới ma quỉ và điều ác, trong khi sự hoà bình là một đặc điểm của Đức Chúa Trời và vương quốc tốt lành của Ngài.  Cái lưỡi luôn muốn thốt ra một điều gì đó, thường là chất độc làm nảy sinh sự chết.  Những kẻ sát nhân thay mặt một bạo chúa hành động khi bạo chúa ấy truyền lệnh.  Ở mức độ cá nhân, chúng ta cũng có từng trải tương tự khi nói ra điều ác và nhận ra rằng nó đem cho chúng ta sự chết chớ không phải sự sống.

Gia-cơ còn trình bày thêm một số thí dụ nữa.  Trong Hội Thánh (ông đang viết cho các tín hữu), chúng ta dùng cái lưỡi của mình để ngợi khen Đức Chúa Trời.  Nhưng rồi chúng ta lại nói xấu (từ ngữ ông dùng là “rủa sả” – bất cứ lời nói nào chống lại một người khác đều có thể trở thành một lời nguyền rủa) người khác, mà họ vốn được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời (Sa 1:26-27  9:6).  Vào thời Gia-cơ, vua hay hoàng đế có thể cho dựng tượng của mình ở các thành phố thuộc lãnh thổ của mình.  Nếu ai sỉ nhục hay nguyền rủa bức tượng ấy, họ sẽ bị đối xử như thể họ đã nguyền rủa ngay trước mặt hoàng đế, vì bức tượng là hình ảnh của vị hoàng đế.  Do vậy, việc nhục mạ một người, được tạo dựng theo hình tượng Đức Chúa Trời, cũng giống như nhục mạ chính Đức Chúa Trời vậy.  Hành động nước đôi ấy, hai lời nói khác nhau và mâu thuẫn nhau được thốt ra từ một lỗ miệng, là một kiểu giả hình.

Gia-cơ đưa ra hai ví dụ để đúc kết quan điểm của mình.  Ví dụ thứ nhất được rút ra từ vùng đất Y-sơ-ra-ên nơi từ xa người ta có thể nhìn thấy từ trũng Giô-đanh khô khan một dòng nước chảy xuống vách trũng phía Đông.  Ai đi đến đó đều mong có nước.  Đôi khi nguồn nước đó trong trẻo và tốt lành.  Đôi khi nó đầy những khoáng chất (muối) và không uống được.  Nhưng có một điều chắc chắn, hai loại nước không thể chảy ra từ cùng một con suối.  Cũng vậy người ta không thể hái được trái từ một cây không phải cây của trái đó.  Ngụ ý của lý luận này chính là nếu chúng ta nói những lời sỉ nhục hay rủa sả, thì đó là bản chất chúng ta.  Còn những lời chúng ta ngợi khen Đức Chúa Trời chỉ là một lớp vỏ bọc, một kiểu giả hình.

2. Thuốc chữa cho lưỡi (Gia 3. 13-18)

Gia-cơ đã đặt chúng ta vào một tình trạng tuyệt vọng.  Ai là người hãm cầm được lưỡi của mình?  Làm sao chúng ta có thể thoát khỏi thứ quyền lực khủng khiếp này và đạt đến sự hoàn thiện?  Đó cũng là tiếng kêu mà chúng ta có thể cảm nhận được ở cuối Gia 1:4.  Câu trả lời của Gia-cơ vẫn giống như nó đã được trả lời ở đó: chúng ta chẳng cần năng lực riêng của mình, mà cần được sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.

Gia-cơ bắt đầu phần thảo luận của ông bằng cách nêu ra điểm khác nhau giữa một người có sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và một người không có sự khôn ngoan ấy.  Đặt điểm của người có sự  khôn ngoan thật là có cách ăn tốt, nghĩa là một lối sống tốt đẹp đúng theo sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu.  Người ấy cũng sẽ bày tỏ thái độ nhu bởi khôn ngoan ra.  Một trong những vấn đề trong Hội Thánh mà Gia-cơ biết đó là các giáo sư đang công kích lẫn nhau và hung hăng chống trả lại.  Tính nhu mì trái ngược với thái độ tranh cạnh này.  Môi-se là gương mẫu nổi bật về một người khiêm hoà (Dan 12:3).  Trong câu chuyện mà ông được gọi là “khiêm hoà” (hay khiêm nhường), ông đã bị hai lãnh tụ khác công kích một cách sai lầm.  Nhưng thay vì ăn miếng trả miếng (vì dù sao ông đã được Đức Chúa Trời ban cho những khải tượng và mặc khải trổi hơn hẳn những gì họ có), ông khiêm nhường chẳng nói gì, thậm chí chẳng biện hộ cho mình.  Cuối cùng thì Đức Chúa Trời đã can thiệp và bênh vực cho ông.  Thái độ không cần tự bào chữa đó là thí dụ của Gia-cơ về một người đầy dẫy sự khôn ngoan.

Tuy nhiên, một số các giáo sư (và những người khác nữa) mà Gia-cơ biết là hay tranh cãi trong Hội Thánh vốn khác hẳn như thế.  Họ có đặc điểm là ganh ghét cay đắngsự tranh cạnh (tham vọng ích kỷ).  Có thể họ từng cho thói ghen tị của họ là một “sự sốt sắng”, như sự sốt sắng của Phi-nê-a (25:10), nhưng dù sốt sắng vốn là điều tốt, sự sốt sắng này vốn không thật sự đến từ Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì đặc điểm của nó không phải là tính khiêm hoà.  Đây là thói ghen tị trá hình.  Điều mà Gia-cơ mô tả là “tham vọng ích kỷ” có lẽ đã được họ cho là “bênh vực cho chân lý” hay “giữ cho tập thể chúng ta được thuần khiết”.  Từ ngữ mà Gia-cơ đã dùng để chỉ tình trạng này cũng có thể được dịch là “tinh thần chia phe lập đảng”, vì họ đang lập thêm nhiều phe đảng chớ không phải đang theo chủ trương hợp nhất toàn thể Hội Thánh.  Cho những thái độ này là “sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời” và rồi tự khoe mình là hành động phủ nhận sự thực, chân lý của Đức Chúa Trời.  Đây không phải là cách Chúa Giê-xu đã hành xử.  Gia-cơ tuyên bố rằng rõ ràng đây không phải là ân tứ khôn ngoan tốt lành của Đức Chúa Trời.  Loại tinh thần thôi thúc cách ăn ở như thế không phải thuộc về thiên đàng, nhưng là thuộc về đất.  Nó thuộc về thế gian và đời này.  Nó cũng thuộc về xác thịt, một từ ngữ mà Giu-đe dùng để chỉ những người ‘không có Đức Thánh Linh ‘(Giu 1:19).  Nó cũng không phải đơn giản chỉ là tinh thần khôn ngoan giả mạo của đời này, mà thực tế là nó thuộc về ma quỉ.  Tự xưng mình được Đức Chúa Trời linh cảm, đám người này trong tình trạng ganh tị và tham vọng của mình thật ra đã bị ma quỉ thúc đẩy.  Gia-cơ tóm lại bằng cách vạch rõ rằng sự ghen tị và tham vọng không chỉ đến một mình, mà còn dẫn đến sự lộn lạo (một đặc điểm của ma quỉ mà chúng ta đã thấy trước trong Gia 3:8) và đủ mọi thứ ác, là những điều mà khi nghiên cứu sử ký Hội Thánh chúng ta sẽ thấy rõ.

Cách duy nhất và thật sự để bảo vệ khỏi sự khôn ngoan giả tạo này và điều ác của lưỡi là sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời.  Gia-cơ đưa ra một danh sách các đặc điểm của sự khôn ngoan thật này, rất giống với danh sách mà Phao-lô đã trình bày về trái của Thánh Linh (Ga 5:22-23).  Nó vốn thanh sạch nghĩa là người ấy thật lòng vâng lời Đức Chúa Trời, không có bất kỳ động cơ mờ ám nào trong ước muốn được nên thánh của mình.  Nó vốn hoà thuận (Ch 3:17  He 12:11), nghĩa là nó kiến tạo hòa bình trong Hội Thánh.  Nó vốn tiết độ hay “tử tế” (Phi 4:5  ITi 3:3) nghĩa là không hiếu chiến.  Nó vốn “thuận phục”, muốn nói về một người sẵn lòng học hỏi, chịu sửa sai, hay nói cách khác là vui lòng đáp ứng trước cách thức lãnh đạo đẹp lòng Chúa.  Nó đầy dẫy lòng thương xótbông trái lành ám chỉ các việc làm từ thiện mà theo Gia-cơ chúng vốn rất quan trọng.  Lẽ dĩ nhiên, Đức Chúa Trời hay thương xót và ban cho nên những người đầy dẫy sự khôn ngoan của Ngài cũng sẽ như thế.  Cuối cùng là không sự hai lònggiả hình impartial and sincere), điều này có nghĩa là người ấy chuyên tâm bước theo Đức Chúa Trời, không giống với kẻ phân tâm ở Gia 1:8.  Từ ngữ chân thành (sincere) có nghĩa là không có sự giả dối hay đóng kịch trong hành động của người ấy.  Giống như một người khi đứng trước mặt người khác thể nào, thì sau lưng họ người ấy vẫn thế.

Gia-cơ đúc kết cả phân đoạn này bằng một câu nói nghe giống như một câu châm ngôn.  Một số học giả cho rằng có lẽ ông đã nghe được câu này từ Chúa Giê-xu.  “Những người hòa giải gieo trong hòa bình thì gặt hái hoa quả của sự công chính”.  Đây là giải pháp của vấn đề đã được nêu ra ở 1:20  sự nóng giận của loài người không tạo ra được sự công chính của Đức Chúa Trời, nhưng người kiến tạo hoà bình thì làm được.  Đây cũng chính là điều Chúa Giê-xu từng phán: “Phước cho những kẻ làm cho người hoà thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!” (Mat 5:9).  Họ là con cái của Đức Chúa Trời bởi vì họ đang hành động giống như Cha thật của họ, làm nảy sinh sự công chính mà Đức Chúa Trời lấy làm tự hào.  Điều này khác hẳn với sự giận dữ và tranh đấu theo phương cách của con người để tạo ra điều mà loài người thường cho là “đúng”.  Phương cách Đức Chúa Trời thực hiện mọi việc đi kèm với sự khôn ngoan của Ngài, Thánh Linh của Ngài.

3. Nguồn gốc của điều ác và cách chữa trị (Gia 4:1-10)

Chủ đích của Gia-cơ trong phần thảo luận về cái lưỡi và sự khôn ngoan được bày tỏ trong phần kế tiếp này.  Trong cộng đồng Cơ Đốc giáo mà Gia-cơ viết bức thư này cho đang có những sự tranh cạnh.  Mỗi người đều muốn có con đường của riêng mình và mối lợi của riêng mình.  Gia-cơ vạch rõ rằng những sự tranh cạnh như thế đều không bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, và kêu gọi những người đang cư xử như thế hãy ăn năn để nhận được sự tha thứ.

Đến điểm này Gia-cơ trưng dẫn lời Thánh Kinh, nhưng không ai biết câu này đã được chép ở đâu.  Chắc ông đang viện dẫn ý nghĩa tổng quát của Kinh Thánh, hoặc là của một quyển sách mà ông biết nhưng hiện nay nó đã bị thất lạc.  Bản NIV dịch rằng, Linh Ngài khiến trong lòng chúng ta ham mến chúng ta đến nỗi ghen tương dường như ám chỉ đến nhân linh và khuynh hướng ghen tuông của nó.  Dù điều này khá đúng, nhưng dường như nó không phù hợp với văn cảnh ở đây.  Tốt hơn nên dịch,  “Đức Chúa Trời trông đợi linh mà Ngài khiến sống trong lòng chúng ta đến nỗi ghen tương”, nghĩa là Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi con người một tâm linh.  Ngài trông đợi họ đáp lại bằng lòng yêu mến trọn vẹn đến nỗi ghen tương (đối chiếu Xu 20:5-6).  Kinh Thánh đã không nói xuông về sự ghen tương này của Đức Chúa Trời, vì dân Y-sơ-ra-ên đã khám phá ra điều này qua những kinh nghiệm thương đau lúc họ tìm cách vừa hầu việc Đức Chúa Trời vừa phục vụ Ba-anh.

Lý luận của Gia-cơ có thể đưa người ta đến chỗ tuyệt vọng vì cớ tội lỗi của họ.  Tuy nhiên, Gia-cơ vẽ một bức tranh về Hội Thánh theo những gì ông nhìn thấy: tranh cạnh chiến đấu, giết ngườiganh ghét.  Từ ngữ “giết” có lẽ ám chỉ việc nhiết mắng bằng lời nói chớ không phải là sát nhân theo nghĩa đen, nhưng toàn thể bức tranh này quen thuộc với những ai biết đến Hội Thánh hiện đại.  Tất cả những chiến đấu và tranh cạnh đó chắc chắn đã được những người liên quan biện minh, có  lẽ là “sự tranh đấu cho chân lý”.  Nhưng Gia-cơ viết về chúng đúng theo cách nhìn Đức Chúa Trời về chúng.  Ông vạch rõ nguồn gốc của những xung đột này, không phải bởi lòng yêu mến Đức Chúa Trời của những người đọc thư ông, mà là do sự tham muốn của anh em, là sự xúi dục của điều ác mà chúng ta đã được biết đến ở Gia 1:14-15.

Tất cả những sự tranh cãi của họ đều vô ích: họ chẳng nhận được điều họ muốn, bởi vì họ không cầu xin Đức Chúa Trời.  Họ có thể đáp lại rằng: “nhưng thật chúng tôi có cầu xin!”.  “Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ”.  Họ đã không tìm cầu ý chỉ hay sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, mà theo ý riêng của mình: “Xin Đức Chúa Trời chúc phước cho những kế hoạch của tôi”.  Động cơ của họ chính là những tham dục hay khoái lạc của họ.  Mục đích của Đức Chúa Trời vốn không nhằm ban cho loài người điều mà dục vọng của họ đòi hỏi  mục đích của Ngài chính là loài người sẽ học cách yêu mến điều mà chính Ngài yêu mến.  Không phải là Đức Chúa Trời không muốn cho loài người được vui vẻ, nhưng Ngài muốn rèn luyện họ nhận được niềm vui trong những điều mà Ngài biết là thật sự tốt lành.  Với những người thuộc về Đức Chúa Trời, sự đóng đinh vào thập tự giá phải xảy ra trước sự phục sinh,  cũng giống như đã xảy ra với Chúa Cứu Thế vậy (Ga 5:24).

Khi đã tuyên bố tin cậy Đức Chúa Trời nhưng lại sống theo tư dục của chính mình, những người này đang phạm tội dâm.  Nguyên văn từ ngữ này là “đàn bà ngoại tình”, không phải vì họ đều là phụ nữ, mà vì Hội Thánh vốn là tân nương của Chúa Cứu Thế (IICo 11:2  Kh 19:1-21  21:1-21) như dân Y-sơ-ra-ên vốn là vợ của Đức Chúa Trời vậy (Es 1:21  Gie 3:1-25  Os 1:1-3:5).  Đi theo tình nhân khác tức là bất trung với Đức Chúa Trời, cho nên làm bạn với thế gian tức thù nghịch với Đức Chúa Trời (đối chiếu Mat 6:24  IGi 3:15).  Không phải việc vừa vâng phục Đức Chúa Trời vừa phục vụ “tư dục” hay ‘thế gian” là điều hết sức khó khăn hay vất vả mà đó là điều bất khả thi.  Thực tế, kẻ cố tìm cách làm bạn với thế gian chính là kẻ thù của Đức Chúa Trời.  Có lẽ họ là những tín đồ có niềm tin chính thống và thường xuyên đi nhà thờ, nhưng dù sao họ vẫn là một kẻ thù.

ông nói rõ rằng Đức Chúa Trời ban cho người tín hữu ăn năn “ân điển nhiều hơn” (ơn lớn hơn nữa) sự kết án.  Để hỗ trợ cho lời tuyên bố này, ông trích dẫn Ch 3:34, cũng đã được trích dẫn trong IPhi 5:5 Đức Chúa Trời ban ơn cho kẻ khiêm nhường (tức là cho người ăn năn).

Kế đến Gia-cơ trình bày cho chúng ta một thái độ khiêm hạ như vậy phải thế nào.  Vậy hãy phục Đức Chúa Trời. Phần chính yếu của sự ăn năn là ngưng điều mình đang làm và bắt đầu vâng phục Đức Chúa Trời. Hãy chống trả ma quỉ. Ma quỉ là căn nguyên của sự thử thách hay cám dỗ (Mat 4:1-11  Mac 8:28-34  Lu 22:31  Gi 13:2,27), và từ chối tiếng gọi của tư dục tức là chống lại nó.  Khi bị chống lại, nó sẽ trốn chạy, có thể nó đe doạ sẽ gây họa, nhưng tất cả chỉ là lời dối trá.  Nó chỉ có quyền khi chúng ta tin nó. Hãy đến gần Đức Chúa Trời. Câu này nghe giống với Ma 3:7 và Xa 1:3.  Đó là hình ảnh một người đến dâng của lễ trong đền thờ và đến gần Đức Chúa Trời qua nghi lễ.  Hãy lau tay mình.  Đây lại là một hình ảnh khác nữa của Kinh Thánh Cựu Ước (Xu 30:19-21), minh hoạ việc thanh tẩy những việc làm tội lỗi.  Hãy làm sạch lòng mình.  Việc thanh tẩy đã được đề cập ở Kinh Thánh Cựu Ước (19:10), nhưng đây là việc làm cho tấm lòng được nên trong sạch.  Kẻ hai lòng là người tìm cách để vừa phục vụ Đức Chúa Trời vừa phục vụ thế gian (Gia 1:8).  Làm sạch lòng mình nghĩa là tận hiến cho một mình Đức Chúa Trời mà thôi.  Những việc làm này phải được kết hợp với một sự than khóc cho tình trạng tội lỗi của mình.  Ăn năn bao gồm thái độ đau buồn về tội lỗi kết hợp với việc xây bỏ tội lỗi, và khi có thể, bồi hoàn những tổn hại do tội lỗi mình gây ra.  Cuối cùng Gia-cơ gồm tóm những lời hứa vào phần ông kêu gọi sự ăn năn. Đức Chúa Trời sẽ đến gần anh em. Ngài sẽ nhắc anh em lên. Đức Chúa Trời sẽ không để một tấm lòng khiêm hạ cứ phải than khóc mãi.  Ngài sẽ chấp nhận sự ăn năn đó và đáp lại bằng tình yêu của Ngài, đưa người ấy thoát khỏi tình trạng khóc than và vào trong tình yêu thương nồng ấm của Ngài.

4. Lời kêu gọi kết thúc (Gia 4:11-12)

Sau khi đã kêu gọi ăn năn, Gia-cơ kết thúc phần trình bày của mình về cái lưỡi và những hài hoà trong cộng đồng bằng một lời kêu gọi khác. Chớ nói hành nhau. Có lẽ để rõ hơn nên dịch là “nói xấu” hay “phanh phui chuyện xấu để chống lại nhau” vì trong tiếng Anh từ “nói hành” (slander) thường hàm ý những điều được nói là không thật còn từ ngữ Hi văn thì không có hàm ý này.  Điều Gia-cơ muốn nhấn mạnh là, cho dù những chuyện được nói ra đó là thật hay không, những lời chỉ trích làm cho cộng đồng bị chia rẻ chớ không mang lại trật tự.  Chắc hẳn Phao-lô cũng đồng ý (IICo 12:20) và Phi-e-rơ cũng vậy (IPhi 2:12  3:16).

Gia-cơ nói rõ rằng chỉ trích như thế là đang xét đoán luật pháp.  Tại sao lại như thế?  Le 19:18, được Chúa Giê-xu trích dẫn trong Mac 12:31 và triển khai trong Mat 7:12, vạch rõ rằng ta phải yêu người lân cận như bản thân.  Thật khó yêu thương khi có thái độ chỉ trích người khác.  Tuy nhiên, đối với Gia-cơ điều quan trọng hơn nữa đó là khi chỉ trích người khác, người ấy đang tự nâng mình lên như một quan toà.  Quan toà là người xét đoán chớ không phải vâng giữ luật pháp.  Hơn nữa, chỉ Đức Chúa Trời mới có quyền phán xét (Thi 75:6-7  Gi 5:22-23,30), cho nên kẻ chỉ trích anh em Cơ Đốc nhân khác thật ra là đang gạt Đức Chúa Trời sang một bên và chiếm lấy vai trò phán xét mà chỉ Đức Chúa Trời mới có quyền thi hành.  Làm sao một người như thế lại có thể trông mong mình không bị Đức Chúa Trời phán xét?

5. THỬ NGHIỆM THÔNG QUA CỦA CẢI (Gia 4:13-5:6)

Sau khi hoàn tất chủ đề về cái lưỡi, Gia-cơ chuyển sang vấn đề cuối cùng ông muốn đề cập: sự thử thách đến thông qua của cải.  Những người giàu có một trách nhiệm.  Có lẽ họ nghĩ rằng mình chỉ đang thực hiện những quyết định kinh doanh của mình, nhưng sự thật là họ đang chịu thử nghiệm bởi Đức Chúa Trời.  Những người không vượt qua được cuộc thử nghiệm này sẽ phải nhận lãnh hậu quả.  Gia-cơ trình bày luận đề này thành hai phần, mỗi phần được giới thiệu bằng cụm từ “Hỡi anh em (hãy nghe)”.  Phần thứ nhất đề cập đến các Cơ Đốc nhân, là thuộc viên của Hội Thánh, là những người đã thất bại trong cuộc thử nghiệm.  Phần thứ hai nói về những người giàu không phải là Cơ Đốc nhân, mà sự thất bại của họ lại càng cùng cực và nghiêm trọng hơn.

1. Thử nghiệm trước của cải (Gia 4:13-17)

Nhóm thứ nhất được đề cập gồm các Cơ Đốc nhân giàu có hơn.  Như thường lệ, Gia-cơ cẩn thận tránh gọi họ là kẻ giàu, nhưng rõ ràng là họ có tài sản, vì họ có thể tham gia vào việc buôn bán với nước ngoài.  Họ có những hoạch định thông thường: đi đến một thành phố nào đó, bán đi số hàng hoá họ mang theo, và có lẽ là mua một số hàng khác để kiếm lời.  Chuyện làm ăn há không phải được tiến hành như vậy sao?

Thật ra điều Gia-cơ chê trách họ chính là họ đang tiến hành chuyện kinh doanh giống như cách mà tất cả những  con buôn khác đều làm.  Là Cơ Đốc nhân, đáng lý ra họ phải nhận thức rõ không chỉ tương lai là điều mình không biết chắc, mà còn ai là Đấng đang kiểm soát nó.  Mặc dù hình ảnh về sự ngắn ngủi của cuộc đời được rút ra từ Kinh Thánh Cựu Ước (Giop 7:7,9  Thi 39:5-6), thì ý niệm về sự ngu dại trong việc lập kế hoạch mà không cân nhắc gì đến những giá trị của Đức Chúa Trời là sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu trong Lu 12:16-21.  Quan điểm của Gia-cơ không phải chỉ đơn giản là họ phải mở đầu mọi kế hoạch của mình bằng: bằng Chúa muốn.  Đó chắc hẳn chỉ là lời nói cửa miệng đối với Đức Chúa Trời.  Trái lại, ông muốn họ tìm cầu kế hoạch của Đức Chúa Trời và vâng theo ý muốn của Ngài trong cách sử dụng tiền bạc.  Điều này được thể hiện rõ trong câu ông bình luận rằng họ kiêu ngạokhoe mình, hay tốt hơn nên dịch là, “khoe khoang trong sự kiêu ngạo của mình”.  Đây là loại kiêu ngạo gì?  IGi 2:16 cũng dùng từ ngữ này để chỉ thói khoe khoang (hay kiêu ngạo) về những gì mà một người “sở hữu và làm ra”.  Họ đặt ra những kế hoạch mà Đức Chúa Trời không lập, tuyên bố rằng họ có tài lèo lái cuộc đời mà họ vốn không sở hữu, và khoe khoang về những vụ giao dịch ngon lành mà họ sẽ thực hiện.  Điều này chẳng khác gì yêu thế gian.

Một câu châm ngôn ngắn đã đủ nêu rõ vấn đề.  Những người này vốn ở trong Hội Thánh và rõ ràng là mỗi người biết điều lành mà mình cần phải làm.  Tại sao họ không cầu vấn Đức Chúa Trời để biết mình nên làm gì với tiền bạc mình đang có?  Có lẽ sở dĩ họ không làm điều này vì lo sợ rằng Đức Chúa Trời sẽ yêu cầu họ chia sẻ số tiền đó cho người khác.  Họ không làm việc lành đó, vì thế họ đang phạm tội.  Họ chẳng làm vấy bẩn đôi tay họ bằng những điều trộm cắp hay vô đạo đức hoặc những tội ác khác.  Họ là những doanh nhân lương thiện, nhưng họ đã phạm tội vì không làm điều tốt mình có thể làm cũng giống như họ đã thật sự phạm phải những việc làm xấu xa.  Trong cả hai trường hợp, những lời dạy dỗ của Đức Chúa Trời đều bị bỏ qua.

2. Trắc nghiệm kẻ giàu (Gia 5:1-6)

Bây giờ Gia-cơ chuyển sang những người giàu có ở ngoài Hội Thánh.  Số người này không chỉ thất bại trong thử nghiệm về của cải, mà họ còn là nguồn gốc tạo ra những áp lực trên Hội Thánh vì họ lợi dụng các Cơ Đốc nhân nghèo thiếu, có thể bởi vì họ nghèo hoặc vì họ là Cơ Đốc nhân, hoặc vì cả hai.  Với những người này Gia-cơ đã không đưa ra lời kêu gọi, nhưng chỉ lên án.  Như những tiên tri của Cựu Ước, ông công bố số phận của họ.

Nếu Cơ Đốc nhân nên sống bằng niềm vui hầu đến, vui mừng mặc dù ở trong cảnh thử thách vì cớ phần thưởng hầu đến (Gia 1:2), thì kẻ giàu cũng phải sống bằng tình trạng khóc than sắp xảy ra, vì họ phải chịu đoán phạt cũng sẽ chắc chắn như việc các Cơ Đốc nhân sẽ nhận được phần thưởng vậy.  Gia-cơ nhìn của cải họ bằng viễn ảnh của tương lai và nhận thấy rằng những kho của cải lớn của họ bị mục nát, ten rét.  Giả sử ông viết bức thư này ngày nay, chắc ông đã thêm vào đó một vài điều về nạn lạm phát.  Đơn giản ông chỉ đang ứng dụng lời phán của Chúa Giê-xu trong Mat 6:19 của cải thế gian cũng chỉ tạm thời mà thôi.

Nhưng không chỉ họ không có của cải trong cõi vĩnh hằng mà thôi.  Của cải họ bị ‘ten rét’ là bằng cớ chứng minh rằng họ chẳng cần đến nó.  Nó sẽ ăn thịt anh em giống như lửa, như kẻ giàu trong ẩn dụ của Chúa Giê-xu ở Lu 16:19-31, họ sẽ bị ném vào hoả ngục vì đã không vâng lời Đức Chúa Trời và không chia sẻ cho người khác.  Họ đã thâu trữ của cải cho “một ngày trời mưa”, nhưng đây là những ngày sau rốt.  Thời kỳ cuối cùng đã xuất hiện qua Chúa Giê-xu.  Hiện nay sự phán xét cuối cùng đã được công bố.  Đã đến lúc phải chất chứa của cải ở thiên đàng, đừng thâu trữ nó trên đất này nữa.

Đã không ban phát, những người này thậm chí còn hành động tồi tệ hơn nữa, đó là không trả tiền công cho con gặt gặt ruộng cho họ.  Có lẽ họ muốn đợi cho đến khi giá lúa tăng cao hoặc có thể họ cho rằng các con gặt đã không lao động đúng mức.  Kinh Thánh Cựu Ước dạy rằng người chủ phải trả lương cho công nhân vào mỗi buổi chiều (Le 19:13  Phu 24:14-15), nhưng ngay đến những ông chủ trong thời Cựu Ước cũng tìm cách né tránh điều luật này (Gie 22:13  Ma 3:5).  Chắc chắn điều này đã được tiến hành theo luật định của xứ, nên không vị quan toà loài người nào nghe thấy những lời than phiền của công nhân.  Tuy nhiên, các công nhân đã kêu van đến thiên đàng, và vị thẩm phán trên trời đã nghe được tiếng kêu than của họ.  Từ ngữ “Đức Giê-hô-va vạn quân” (Chúa các binh) gợi cho độc giả nhớ đến Es 5:9 và hành động Đức Chúa Trời chống lại kẻ giàu ở câu đó.  Đức Chúa Trời không nghe rồi quên đi nhưng Ngài nghe và hành động bằng quyền năng đáng sợ của Ngài.

Trở lại với chủ đề của Lu 16:19-31, Gia-cơ bình luận về lối sống xa hoa của kẻ giàu.  Với họ, ngày nào cũng giống như một ngày chém giết (hay tiệc tùng), vì ở những vùng không có hệ thống ướp lạnh thì mỗi khi làm thịt một con thú người ta phải ăn thật no nê, vì số còn lại sẽ phải đem phơi khô hoặc ướp muối để dành.  Ẩn sau bức tranh ấy, Gia-cơ muốn ngụ ý ngày chém giết ở đây là ngày chính họ bị chém giết, ngày Đức Giê-hô-va chém giết các kẻ thù của Ngài (Es 30:33  34:5-8).

Một lần nữa Gia-cơ đưa ra lời bình luận cuối cùng.  Những kẻ giàu này từng luận tội đã giết người công bình (hay người công chính).  Ông không đang nói việc giết người theo nghĩa đen, vì từ ngữ Hi văn được dịch ra là “luận tội” cho thấy có liên quan đến toà án.  Ông cũng không có ý nói rằng người công chính đã bị hành quyết.  Có lẽ ông đang nghĩ đến những vụ kiện mà trong đó kẻ giàu đã cướp đi tiền công hay đất đai của người nghèo.  Không có phương tiện để sinh nhai, các Cơ Đốc nhân nghèo bị đói khát, hoặc bị suy kiệt vì thiếu thực phẩm, phải chết vì bệnh tật.  Gia-cơ vạch rõ rằng người nghèo đã chẳng cự lại kẻ giàu.  Thật chẳng có lý do gì để kẻ giàu hành động như vậy.  Một cách diễn giải khác, có lẽ là rõ hơn, đó là “họ há không phản đối ngươi sao?”  Có lẽ các nạn nhân bị kẻ giàu áp bức này đã chết, nhưng cũng giống như linh hồn của các thánh tử đạo trong Kh 6:10, họ hiện đang ở trong chính sự hiện diện của Đức Chúa Trời để kêu nài cho lẽ công bằng.  Lẽ công bằng này sẽ không bị trì hoãn lâu hơn nữa.

6. KẾT LUẬN (Gia 5:7-20)

Giờ đây phần thân của bức thư đã hoàn tất và Gia-cơ đã sẵn sàng đi đến kết luận.  Một bức thư bằng Hi văn thường có nhiều phần khác nhau ở đoạn kết.  Trước hết, có một phần tóm tắt.  Rồi kế đến là một lời thề, một lời chúc sức khoẻ, và một câu trình bày lý do bức thư được viết ra.  Tất cả những điều như thế đều xuất hiện trong phần kết này, tuy theo một hình thức đã được Cơ Đốc giáo hoá.

(Gia 5:7-11) Tóm tắt về lòng kiên trì chịu đựng Các Cơ Đốc nhân đã bị kẻ giàu áp bức bóc lột.  Họ phải làm gì?  Họ có thể nhân danh Đức Chúa Trời để hành động và dùng sức mạnh của đôi tay để dành lại sự công bằng nếu cần, nhưng Gia-cơ đã nói rằng cơn giận của loài người không làm nên sự công chính của Đức Chúa Trời (Gia 1:20).  Thay vì làm như thế, các Cơ Đốc nhân phải nhịn nhục hay “kiên nhẫn chịu đựng” cho đến kỳ Chúa trở lại.  Đây chính là đức tính mà trong 1:2-3 gọi là “sự nhịn nhục”.  Điều Gia-cơ muốn nói ở đây là hãy để cho đức tính ấy được trưởng thành trong anh em.  Lẽ dĩ nhiên là người nông dân phải có đức tính ấy.  Ở Y-sơ-ra-ên, họ phải chờ cho đến khi có các trận mưa thu rồi mới gieo trồng, rồi lại phải chờ đợi và hy vọng rằng những cơn mưa xuân sẽ đến, và làm cho lúa chín trước khi có thể thu gặt.

Không phải Cơ Đốc nhân đang chờ đợi một điều gì đó, mà là một người nào đó.  Hai lần Gia-cơ đề cập về kỳ Chúa đến và một lần nói rằng Đấng xét đoán (đang) đứng trước cửa.  Kinh Thánh Tân Ước thường đề cập sự tái lâm của Chúa Cứu Thế là “gần” rồi (Ro 13:12  He 10:25  IPhi 4:7).  Mặc dù có thể hầu hết các trước giả đều trông mong rằng điều này sẽ xảy đến trong lúc họ còn sống, nhưng nó vẫn luôn “ở trong bầu không khí” căng thẳng, vì không ai biết khi nào nó xảy ra, giây phút ngay sau đó hay là thế kỷ sau (Mac 13:32).

Chủ đề về cái lưỡi được nhắc lại và tóm lược.  Vấn đề chính là họ chớ oán trách nhau nữa.  Nếu họ vẫn oán trách nhau, làm ngơ trước những lời khuyên dạy trong Gia 4:11-12, họ sẽ phải nhận lấy điều mà họ đã gieo (2:13).  Đề cập Chúa Cứu Thế như Đấng xét đoán là một lời cảnh cáo đáng ngại, nhất là nếu Ngài đang đứng trước cửa.

Các đấng tiên tri đã nhân danh Chúa nói, ấy là đấng tiên tri của Cựu Ước, cũng đã từng chịu khổ dưới tay những kẻ giàu có và quyền thế.  Nhưng giờ đây những vị vua như A-háp và Ma-na-se đều đã bị quên lãng hay bị nguyền rủa, trong khi các nhà tiên tri như Ê-li và Ê-sai được tôn vinh trên đất (và thậm chí còn được tôn vinh hơn thế nữa ở thiên đàng đối chiếu với Mat 5:11-12).  Ở trường hợp của các nhà tiên tri thì cũng có điều giá trị để mà chịu đựng.  Thí dụ của Gióp, không phải là một nhà tiên tri, nhưng là một con người công chính, đã được gắn vào đây.  Trong câu chuyện được ghi lại ở Kinh Thánh Cựu Ước, Gióp chẳng nhịn nhục được mấy vì ông than phiền nhiều, nhưng trong các chuyện kể của người Do Thái được lưu hành trong thời Gia-cơ, Gióp tiêu biểu cho một tấm gương trọn vẹn về lòng nhịn nhục chịu đựng.  Thật vậy, một trong những câu chuyện như thế là Di chúc của Gióp (The Testament of Job), trong đó sự kiên trì nhẫn nhục được dùng làm chủ đề cho toàn sách.  Chắc độc giả của Gia-cơ đều biết về câu chuyện ấy.

Vấn đề là Đức Chúa Trời đã không quên các Cơ Đốc nhân mà Gia-cơ đang viết bức thư này cho.  Ông trích dẫn Thi 103:8 hay 111:4, lưu ý về lòng nhân từ và thương xót của Đức Chúa Trời.  Đức Chúa Trời không tìm cách làm cuộc sống trở nên khó khăn cho những người tin Ngài, mà thay vào đó, Ngài đang bày tỏ lòng thương xót của mình trong việc giúp họ phát triển tính cách và đầu tư vào thiên đàng, nơi họ sẽ ở vĩnh viễn.

(Gia 5:12) Lời thề Phần tóm tắt đã kết thúc.  Ở giai đoạn này của một bức thư Hi văn người ta trông chờ một lời thề chứng thực rằng những gì đã được nói trong thư là thật.  Thay vào đó, Gia-cơ trích dẫn Chúa Giê-xu (Mat 5:33-37) và lý luận rằng Cơ Đốc nhân không nên thề.  Bản thân lời thể không có gì là sai trái, nhưng nó chia lời nói thành hai cấp bậc.  Có một số câu nói được kèm theo lời thề, do đó chúng phải là thật, trong khi những câu khác chỉ là câu nói thông thường và có thể là không thật.  Chúa Giê-xu phán rằng người ta sẽ phải chịu phán xét vì mọi lời mình nói ra (12:36).  Mọi lời được nói ra đều phải thật.  Mọi sự đều phải công khai và thành thật.  Vì Đức Chúa Trời nghe hết mọi lời được nói ra, nên với Cơ Đốc nhân mọi lời nói ra đều phải như một lời thề

(Gia 5:13-18) Lời cầu xin được sức khoẻ Đề mục thứ hai trong đoạn kết của một bức thư Hi văn thường là một lời chúc, nhân danh các thần, mong người nhận thư được mạnh khoẻ.  Gia-cơ còn làm tốt hơn thế nữa.  Ông nhắc các Cơ Đốc nhân rằng Đức Chúa Trời đã chuẩn bị sẵn sàng để chữa lành cho họ.  Đây không phải là một sự dạy dỗ mới dành cho độc giả của ông, mà chỉ là một lời nhắc nhở về cách hành đạo chuẩn mực của Cơ Đốc nhân.

Giống như tất cả những giáo sư Cơ Đốc giáo khác, Gia-cơ chia điều dữ mà một người có thể trải nghiệm ra làm hai loại.  Loại thứ nhất bao gồm từ “chịu khổ” và nói đến những kinh nghiệm không hay đến từ bên ngoài, có thể là những gian khổ phải trải nghiệm trong việc truyền bá Phúc Âm hay những sự bắt bớ của kẻ ác.  Đây là những gì Gia-cơ đã thảo luận dưới tiêu đề “thử nghiệm” hay “thử thách” và đã đi đến kết luận trong Gia 5:7-11.  Những người phải chịu khổ như thế nên cầu nguyện, không nhất thiết là để được giải cứu, nhưng là để có khả năng nhẫn nhục chịu đựng.  Những ai đang được sống an lành cũng phải cầu nguyện, nhưng lời cầu nguyện của họ phải là những bài ca tán tụng.  Loại còn lại là nhóm người phải có tội lỗi, bệnh tật.

Người bệnh cần mời các trưởng lão Hội Thánh đếnKhi một người bị đau yếu đến mức không thể đến nhà thờ được, thì họ cần những người có đức tin vững vàng nhất trong Hội Thánh đến cầu nguyện cho.  Bình thường, nếu bệnh không nặng lắm, thì có quy tắc là “cầu nguyện cho nhau”.  Các trưởng lão sẽ hành động y như các môn đệ Chúa trong Mac 6:13 những người chắc hẳn đã học tập điều đó từ Chúa Giê-xu, và xức dầu cho người bệnh khi họ cầu nguyện, nên lời cầu nguyện của họ chẳng những chỉ được nghe, mà còn được cảm nhận về phương diện thuộc thể nữa.  Điều quan trọng là lời cầu nguyện phải là cầu nguyện với Chúa, và việc xức dầu được thi hành nhân danh Chúa.  Chính Chúa, chớ không phải là năng lực của lời cầu nguyện hay của dầu, sẽ đỡ kẻ ấy dậy.  Và đó chính là lý do Gia-cơ hứa rằng Chúa sẽ đáp ứng lời cầu nguyện bởi đức tin.  Đây không phải là lời cầu nguyện theo kiểu “hy vọng như thế” hay “có lẽ”, mà là một lời cầu nguyện bày tỏ lòng tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ chữa bệnh vì các trưởng lão đó trước hết nghe theo lời Đức Chúa Trời và đã có sự tin quyết ấy trong lòng họ.  Điều này rất gần với ân tứ đức tin mà Phao-lô đề cập trong ICo 12:9.  Những sự cầu nguyện như thế cần có thời gian chúng không phải là một nghi thức hay thủ tục nhanh gọn.

Gia-cơ luận về mối liên hệ đôi khi vẫn tồn tại giữa bệnh tật và tội lỗi.  Không phải mọi bệnh tật đều có liên hệ đến tội lỗi (Gi 9:3), nhưng tội lỗi có thể là nguyên nhân gây ra bệnh tật (ICo 11:30).  Nếu tội lỗi có can dự vào, thì cái căn nguyên này phải được giải quyết trước khi chuyển sang phần hậu quả của cái gốc đó, tức chính là bệnh tật.  Gia-cơ bảo đảm với các độc giả của ông rằng những tội lỗi như thế sẽ được tha thứ.  Đức Chúa Trời sẽ không hoãn lại việc tha tội để kéo dài bệnh tật.  Thật ra Gia-cơ muốn nói rằng tốt hơn nên lưu ý đến tội lỗi trước khi để nó gây ra một chứng bệnh trầm trọng.  Hãy xưng tội cùng nhau.  Trong việc này thì không cần đến các vị trưởng lão vì  mỗi một tín hữu đều là thầy tế lễ.  Việc lớn tiếng xưng tội và nhận được từ tín hữu khác sự bảo đảm rằng tội đó được tha có một giá trị lớn lao.

Có lẽ một độc giả nào đó của bức thư này sẽ nói: “Điều đó thật tốt cho các trưởng lão, còn tôi chỉ là một Cơ Đốc nhân tầm thường mà thôi.  Làm thế nào tôi có thể cầu nguyện cho một ai đó được chữa lành?  Làm sao tôi dám nghe lời xưng tội của họ?  Thế nhưng, vì là những người tin Chúa chúng ta là người công bình, nên lời cầu nguyện của chúng ta có quyền năng và linh nghiệm.  Gia-cơ lưu ý rằng Ê-li vốn là một người tầm thường, nhưng cũng như các tín hữu ở đây, ông vốn có một Đức Chúa Trời phi thường Đấng lắng nghe và đáp lời cầu nguyện.  Ê-li là một nhân vật quan trọng không chỉ trong Kinh Thánh Cựu Ước, mà cả trong những truyền thuyết của người Do Thái nữa.  Trong những truyền thuyết đó ông thường được gắn liền với vấn đề cầu nguyện.  Đó là lý do mà cho dù việc cầu mưa không được đề cập rõ ràng trong IVua 17:1 hay 18:16-46, Gia-cơ, cũng như người Do Thái vào thời của ông, vẫn cho rằng sự việc ấy có liên quan ở đây.

(Gia 5:19-20) Lời trình bày về chủ đích thư Gia-cơ kết thúc bằng cách nói rõ tại sao ông đã viết bức thư này.  Nguyên tắc ông nêu ra là nguyên tắc ông đang tuân theo.  Một số độc giả của thư này đã lầm lạc cách xa lẽ thật, như chúng ta đã thấy từ những vấn đề trong Hội Thánh.  Cụm từ này được dùng để chỉ những sự lệch lạc nghiêm trọng về đức tin (đối chiếu Es 9:16), chớ không chỉ là sự sa vào tội lỗi.  Nếu việc đó xảy ra cho một tín hữu, thì một người nào đó phải làm cho người ấy trở lại, như điều mà một người thuộc linh cần phải làm được ghi lại trong Ga 6:1.  Không phải  buộc tội mà phục hồi mới chính là mục đích.  Và đó là điều mà Gia-cơ hy vọng sẽ xảy ra.

Sự phục hồi như thế sẽ đưa đến một kết quả tuyệt vời.  Không những người tội trở lại bỏ đường lầm lạc, và thế giới này sẽ giảm bớt tội lỗi, mà người ấy còn được cứu khỏi sự chết, nghĩa là khỏi bị diệt vong đời đời (IGi 5:16-17  Giu 1:22-23), tuy dĩ nhiên là cái chết phần thuộc thể vẫn có thể xảy ra (Cong 5:1-11).  số tội lỗi sẽ được khỏa lấp.  Ch 10:12, được trích dẫn trong IPhi 4:8, dạy rằng “sự yêu thương che đậy mọi sai lầm” hay “sự yêu thương khỏa lấp vô số tội lỗi”.  Khi dùng động từ “khỏa lấp” có lẽ các trước giả này muốn nói  đến hành động “mua chuộc”, vì trong Cựu Ước vẫn thường có một hình ảnh đó là huyết của một sinh tế “che phủ” tội lỗi.  Trái ngược của yêu là ghét, điều đã làm lan truyền những lời đồn đại và khơi dậy sự tranh cãi.  Với Gia-cơ, tình yêu hành động khiến cho người ta mềm mại trở lại ăn năn.  Sự ăn năn đó sẽ được Đức Chúa Trời tiếp nhận và tha tội cho.  Và người đã được tha thứ ấy có thể tiếp tục đi theo chánh đạo, vui mừng trong cơn thử thách, vì biết rằng rồi đây mình sẽ được phần thưởng. 

Lên đầu trang