Ê-PHÊ-SÔ

MỤC LỤC

Ê-PHÊ-SÔ

1. LỜI ĐẠT VÀ LỜI CHÀO THĂM (Eph 1:1-2)

Phần này căn bản là theo hình thức của những lời chào thăm và lời đạt trong các bức thư khác của Phao-lô.  Nhóm từ thành Ê-phê- không thấy có trong các bản chép tay đầu tiên mà chúng ta có, nhưng cấu trúc văn phạm gợi ý rằng các bản chép tay sớm hơn nữa có đến hai địa danh.  A.  Van Roon gợi ý các bản này viết là “các thánh đồ tại Hi-ê-ra-bô-li và Lao-đi-xê, là những người trung tín trong Chúa Cứu Thế Giê-xu”, nhưng Ê-phê- và Lao-đi-xê (hai đầu của chuyến đi mà chắc Ti-chi-cơ đã thực hiện) có lẽ dễ chấp nhận hơn để giải thích thế nào bức thư này được mọi người biết đến là thư Ê-phê-sô (xem phần Dẫn nhập).

2. LỜI CẢM TẠ VÀ CẦU NGUYỆN CỦA PHAO-LÔ (Eph 1:3-3:31)

1. Ngợi khen về kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời (Eph 1:3-14)

Phao-lô mở đầu phần nội dung của bức thư bằng lời tán dương Đức Chúa Trời (cũng như trong IICo 1:3-4 tham khảo ở IPhi 1:3-5).  Phân đoạn về sự ngợi khen vui vẻ này (mà trong Hi văn gồm một câu duy nhất thật dài) không có tiết tấu bình thường của những bài thánh ca Hi văn, mà cũng chẳng theo phép song đối theo từng cặp câu trong các Thi Thiên của người Do Thái, nhưng được cấu trúc cẩn thận bằng cách soạn thảo thành sáu đoạn.  Nó được hiểu đúng nhất là một bài cầu nguyện trang nghiêm, hay một bài kêu gọi hãy thờ phượng, được chuẩn bị để người đọc phải ngước mắt lên khỏi bản thân họ, và khỏi nỗi sợ hãi của họ, để nhìn thấy vẻ oai nghiêm và tình yêu của Đức Chúa Trời được bày tỏ ra trong kế hoạch đang dần dần được tiết lộ của Ngài và nhìn thấy rõ đặc ân khi dự phần vào đó.  Nội dung (cũng như với những lời cảm tạ trong phần dẫn nhập của Phao-lô trong các bức thư khác) được cố ý chọn lọc để giới thiệu các chủ đề chính của bức thư do đó phần nầy là chìa khoá để hiểu toàn thể bức thư.

Cũng như trong các bài cầu nguyện tương tự của người Do Thái, lời tán dương này được mở đầu bằng việc xưng rằng Đức Chúa Trời là Đấng đáng được ca ngợi chúc phước (3a) và một phần mô tả tiếp theo để mở rộng và biện minh cho việc ấy.  Sự mô tả này gồm sáu phần (3b-4,5-6,7-8,9-10,11-12,13-14) nhưng chúng không có tính cách nổi bật ngang nhau.  Hi văn của Phao-lô nêu bật ba mệnh đề cụ thể với tư cách là trọng tâm của bài viết.  Ông nói Đức Chúa Trời đã xuống phước cho chúng tađủ mọi thứ phước thiêng liêng (3b), đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi (5) và khiến chúng ta biết sự mầu nhiệm của ý muốn Ngài (9).

Các phần được xây dựng xung quanh các mệnh đề này (3b-4,5-6,9-10) thật sự cung cấp phần cốt lõi cho những gì Phao-lô đang nói.  Trong mỗi trường hợp, trọng tâm là hành động của Đức Chúa Cha (nghĩa là Ngài là chủ từ của động từ), và ý chính là Đức Chúa Trời phải được xem là Đấng đáng được ca tụng chính vì Ngài đã thực hiện các hành động kia.  Trong ba phần khác, Đức Chúa Trời không phải là chủ thể của các hành động, mà đúng hơn tiêu điểm là ở những gì “chúng ta” (toàn thể các Cơ Đốc nhân) đã nhận được trong Đức Chúa Con (7-8,11-12) hoặc ở những gì mà các độc giả đã bắt đầu kinh nghiệm qua Đức Thánh Linh (13-14, xin chú ý việc chuyển sang “anh em”), như là một kết quả từ hành động của Đức Chúa Trời.

Việc tập trung vào các thì quá khứ đã khiến cho nhiều nhà giải kinh hiểu sai rằng trong thư Ê-phê-sô, sự cứu rỗi được xem như là đã hoàn tất rồi.  Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, đúng hơn mà nói rằng Phao-lô ngợi khen về việc sự cứu rỗi tương lai đã được khởi đầu và được bảo đảm trong Chúa Cứu Thế.

Eph 1:3-4 Mấy từ mở đầu có lẽ nên  dịch  đúng hơn là “Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời” thay vì “ngợi khen Đức Chúa Trời” và những điều tiếp theo đó là cơ sở cho chúng ta đọc rằng “Đáng ngợi khen…”.  Tuy nhiên, không phải Phao-lô đang lý luận, mà ông đang bắt đầu đề cao Đức Chúa Trời và mặc nhiên mời gọi các độc giả của ông cũng làm như thế, cho nên việc chọn cách dịch kia cũng nói lên được nghĩa đúng. Tiếp theo, Phao-lô nhận diện Đức Chúa Trời là Cha Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta, và chính là trong Đức Chúa Con (và Phúc Âm về những điều Đức Chúa Cha đã hoàn tất qua Ngài) mà các độc giả nhận biết được Đức Chúa Trời đã bắt đầu thừa nhận Ngài là Đấng đáng được ngợi khen.

Lý do thứ nhất để reo lên Đức Chúa Trời “đáng ngợi khen” là vì Ngài xuống phước một cách phong phú cho chúng ta (3b).  Lẽ dĩ nhiên, Phao-lô ý thức rằng bản thân ông và các độc giả của ông vẫn chưa kinh nghiệm được đủ mọi thứ phước thiêng liêng mà ông sắp kể ra sau đây.  Chúng ta chỉ nhận được các phước hạnh ấy trong thiên đàng và trong Chúa Cứu Thế mà thôi.  Nghĩa là các phước hạnh của đời hầu đến (Eph 1:21) hay Nước Trời đã được dứt khoát ban xuống trên Chúa Cứu Thế là Đấng đang trị vì bên hữu Đức Chúa Trời (“ở các nơi trên trời”, 1:20-21), vì thế thông qua Ngài, chúng ta là con dân Ngài cũng được bảo đảm.  Hơn nữa, vì chúng ta được hợp nhất với Ngài (2:6), chúng ta bắt đầu dự phần trong số những người hy vọng về những phước hạnh đó (chúng ta sẽ thấy đó là những phước hạnh nào và kinh nghiệm chúng như thế nào khi tiếp tục đọc hết bức thư này).

Phước hạnh thiết yếu trong tương lai mà chúng ta bắt đầu kinh nghiệm được trong Chúa Cứu Thế còn được bảo đảm thêm trên cơ sở của sự chọn lựa của Đức Chúa Trời (4).  Ngay từ trước khi sáng thế, Đức Chúa Trời đã chọn một dân (trong Chúa Cứu Thế), những người sẽ đứng trước mặt Ngài, thánh khiết không chỗ trách được trong tình yêu (như trong Phi 2:15). Xin lưu ý rằng tư tưởng chủ yếu ở đây không phải là sự chọn lựa những cá nhân cho hội thánh (dù có thể có ẩn ý đó), thánh khiết không chỗ trách trước mặt Ngài giữa thế gian này (như trong 2:15).  Nói đúng hơn thì ý tưởng chủ yếu là từ trước muôn đời Đức Chúa Trời đã chọn một dân trong Chúa Cứu Thế (dân đó là chúng ta, Hội Thánh), để trở nên thánh khiết và không chỗ chê trách trước mặt Ngài trong kỳ phán xét cuối cùng (như ở Co 1:22 là câu mà Phao-lô đang nghĩ đến ở đây) và vì thế, bước vào những phước hạnh trọn vẹn trong kỷ nguyên của Đấng Mê-si-a và công trình sáng tạo mới.

Eph 1:5-6 Phần này xem xét thêm về tư tưởng trong câu 4.  Tựu trung nó nhắc nhở chúng ta rằng ý muốn mang tính chọn lọc của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài chính là việc trong tương lai Ngài nhận chúng ta cách đầy đủ để làm con Ngài trong Chúa Cứu Thế Giê-xu (5) Phao-lô tin rằng trong một ý nghĩa thì các tín hữu đã được hưởng “quyền làm con” của Đức Chúa Trời, yêu mến sự vâng lời của kẻ làm con được Thánh Linh cảm thúc (Ro 8:14-15  Ga 4:6).  Tuy nhiên, ông xem đây chủ yếu là sự xếp đặt đầu tiên hoặc một sự nếm trước về một loại thừa nhận quyền làm con đầy đủ hơn.  Cho nên ông mới nói rằng cả công trình sáng tạo đang chờ đợi con cái Đức Chúa Trời được bày tỏ ra (Ro 8:19), và chúng ta vẫn phải “nóng nảy” trông đợi việc được nhận làm con nuôi (8:23) vốn sẽ được đem đến qua sự sống lại và công trình sáng tạo mới.  Cùng với Eph 1:4,12-14 có lẽ phần này muốn nói đến tư cách làm con trong “công trình sáng tạo mới” sau này.  Nói cách khác, Đức Chúa Trời đã chọn Hội Thánh cho địa vị làm con đầy đủ và vinh quang cho Ngài, là điều vốn nảy sinh từ sự sống lại và biến hoá của chúng ta để trở Ê-phê-sôthành giống như Chúa Giê-xu (theo nghĩa đầy đủ là “trong Đấng Christ” ICo 15:42-49  Phi 3:21  Co 3:4).

Vì quyền làm con là kết quả của ý chỉ do ân điển của Đức Chúa Trời, có hiệu lực trong Chúa Cứu Thế, cho nên nó sẽ góp phần vào sự ngợi khen Đức Chúa Trời (6a) Và vì chúng ta đã được hợp nhất với Chúa Cứu Thế qua Đức Thánh Linh, nên ân điển ấy, bao gồm quyền làm con đã được ban cho chúng ta cách miễn phí, miễn là việc đó phải được làm cho đủ tư cách bởi lời quả quyết trong Con yêu dấu của Ngài (tức là Chúa Cứu Thế  Mac 1:11  9:7  Co 1:13).

Eph 1:7-8 Phần phụ thêm này khai triển câu 6b.  Khi chúng ta hợp nhất với Chúa Cứu Thế, chúng ta đã được dự phần trong những lợi ích của sự cứu chuộc tương lai dành cho thế gian này khỏi điều ác mà Đức Chúa Trời đã bảo đảm qua sự chết chuộc tội của Chúa Cứu Thế (Huyết là một biểu tượng trong Thánh Kinh chỉ về cái chết chuộc tội mang tính hi sinh – (cho dù cái chết đó có phải đổ máu hay không tham khảo Gion 1:14) vì hồi nguyên thuỷ, huyết của các con thú làm sinh tế đã thật sự được dâng lên).  Lợi ích cụ thể mà Phao-lô nêu ra để mọi người đặc biệt chú ý ở đây (cũng như trong Co 1:14) là sự tha tội – không phải vì đây là phần duy nhất của phước hạnh tương lai mà chúng ta kinh nghiệm hôm nay, mà vì nó là nguồn gốc của các phước hạnh khác.  Trước khi tội lỗi được giải quyết, nhân loại vẫn còn bị xa cách với Đức Chúa Trời và các lợi ích của mình (Eph 2:1-3,11-22  4:17-19  5:8-14).  Thật vậy, Phao-lô vạch rõ rằng ân điển về sự tha tội còn được kèm theo với ân điển về sự khôn ngoan thuộc linh và sự thông hiểu vốn có trong việc chúng ta bước đi với Đức Chúa Trời là Cha (và để cho điều này được sâu đậm thêm nên ông mới cầu nguyện như trong 1:15-23  3:14-19).

Eph 1:9-10 Phần này quay trở lại với sự khẳng định về những gì Đức Chúa Trời đã làm, lý do Ngài “đáng được ngợi khen”, và đi đến cao điểm của nó: Đức Chúa Trời đã bày tỏ để chúng ta vừa hiểu biết vừa kinh nghiệm được sự mầu nhiệm, vốn luôn luôn là trung tâm của ý chỉ Ngài.  Trong thư Ê-phê-sô, “sự mầu nhiệm” có nghĩa là  điều gì đó quá tráng lệ, huy hoàng đến nỗi khó có thể lãnh hội thấu đáo.  Sự mầu nhiệm mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho chúng ta biết là hàm ý trung tâm của những gì Ngài “đã lập thành trong Đấng Christ” nghĩa là trong chức vụ, sự chết và sự vinh hiển phục sinh của Ngài.  Đó là huyền nhiệm liên quan đến “kỳ mãn” – trước hết nói về các thời kỳ sau ngày tận thế (nghĩa là về Nước Trời và công trình sáng tạo mới).  Nhưng Phao-lô tin rằng “kỳ mãn” đã được dự báo  lúc Chúa Cứu Thế được lên ngôi trong các nơi trên trời, và các tín hữu dự phần trong sự trị vì ấy của Ngài.  Nội dung của sự mầu nhiệm ấy là ý định của Đức Chúa Trời đối với vũ trụ này, tức là “hội hiệp muôn vật lại trong Đấng Christ, cả vật ở trên trời và vật ở dưới đất”.  Về ý nghĩa thần học của sự hợp nhất  và tầm quan trọng cốt lõi của bức thư này, xin xem phần Dẫn nhập.  Thế thì về căn bản, tính cách “đáng ngợi khen” của Đức Chúa Trời được khẳng định trên cơ sở rằng Ngài đã cho chúng ta thấy trong Chúa Cứu Thế và trong Hội Thánh những điểm khởi đầu của kế hoạch – tổng thể của Ngài là phục hồi vũ trụ này lại cho chính Ngài và cho sự hài hoà đã bị mất vì sự phản loạn và sự cách ly do sự phản loạn ấy gây ra.

Eph 1:11-12 Cũng như phần tiếp theo sau đây, mấy câu này thôi tập trung vào hành động của Đức Chúa Trời để xem xét việc chúng ta được dự phần vào mọi điều đó trong Chúa Cứu Thế (cũng như trong c.7-8 vậy).  Chúng nhắc lại một phần về sự bảo đảm rằng bởi sự hợp nhất với Chúa Cứu Thế, chúng ta được định trước sẽ trở thành chiến lợi phẩm của ân điển Đức Chúa Trời, giục giã cả công trình thọ tạo hãy ca tụng Đức Chúa Trời (c.6a).  Điểm nhấn mạnh trên sự định trước này không che khuất quyền lựa chọn và trách nhiệm thật của con người, như những lời kêu gọi trong phần còn lại của bức thư làm rõ, nhưng nó bảo đảm cho chúng ta về quyền năng tể trị tối cao và mục đích chỉ đạo của Ngài đang hành động trong tín hữu (xem Carson).  Sự nhấn mạnh ấy chắc đã phù hợp đặc biệt với các độc giả trong khu vực Ê-phê-sô, những người đặc biệt có khuynh hướng sợ ảnh hưởng quyết định của các thế lực khác (xem Arnold).

Phần lớn các bản dịch (đáng chú ý là bản NJB) và các nhà giải kinh xem c.12 có sự phân biệt chúng ta là người Do Thái hoặc các Cơ Đốc nhân người Do Thái là kẻ đã trông cậy trong Đấng Christ trước nhất, với anh em (13) là các Cơ Đốc nhân người ngoại quốc tin sau này.  Nhưng xuyên suốt từ câu 3-10, từ “chúng ta” đều đề cập toàn thể các tín hữu (chớ không phải chỉ những người Do Thái mà thôi), và ở đây cũng thế (xem Lincoln).  Đúng hơn chúng ta phải dịch câu 12 là “để chúng ta là những người trước hết có hy vọng trong Chúa Cứu Thế (nghĩa là hiện nay) đến khi đó (nghĩa là ngày phán xét sau cùng) có thể ngợi khen sự vinh hiển của Ngài”.

Eph 1:13-14 Phần cuối này nêu bật việc các độc giả được dự phần vào tất cả mọi điều đó (do đó mà có việc chuyển sang từ “anh em”).  Trong Chúa Cứu Thế, sau khi đã tin Phúc Âm, họ cũng được ấn chứng là dân của Đức Chúa Trời (Exe 9:4-6  Kh 7:1-8 về ý niệm Đức Chúa Trời đóng ấn trên con dân Ngài).  Dấu ấn dùng để đóng trên họ không gì khác hơn là lời hứa ban Đức Thánh Linh.  Như trong Công Vụ 2, lời hứa được đề cập chủ yếu là lời hứa ở Gio 2:28-29 nhưng được hiểu theo cách riêng của Cơ Đốc giáo. Qua ân tứ này, họ nhận được sự khôn ngoan và sự soi sáng để hiểu thấu các hàm ý của Phúc Âm (Eph 1:17-20  3:5), sự mạnh mẽ từ bên trong của Phúc âm (3:16  6:17), sự đến gần Đức Chúa Trời và sự ngự trị của Chúa Cứu Thế (2:18,22  3:16-17), những điểm bắt đầu cho sự hợp nhất phổ quát đã được hứa ban (4:3-4), sự cảm thúc để sống tin kính và thờ phượng với lòng biết ơn (4:30  5:18-20) và sự giúp đỡ trong khi cầu nguyện (6:18).  Tất cả các hoạt động này là điều ấn chứng các tín hữu là con dân Đức Chúa Trời và rất cần thiết để họ cứ tiếp tục sống cuộc đời Cơ Đốc nhân.  Ấn chứng của Thánh Linh không phải là loại phước hạnh thứ yếu – nhóm chữ đã tin (13b) có nghĩa tương đương với “lúc anh em tin” nghĩa là “một khi anh em đã đặt lòng tin (vào Phúc Âm)” (bản NJB).  Các hoạt động này của Thánh Linh báo trước về kiểu mẫu và tính chất của những gì Ngài sẽ làm đầy đủ hơn trong công trình sáng tạo mới, và vì thế, Thánh Linh mà Đức Chúa Trời ấn chứng trên chúng ta rằng Ngài có chủ quyền trên chúng ta, cũng rất thích hợp để được gọi là “của tin”, “vật bảo đảm” hay thậm chí là “của đặt cọc trước” cho quyền thừa kế của chúng ta (Ro 8:23  IICo 1:22 5:5).  Nhưng các phước hạnh mà chúng ta nhận được hiện nay chỉ mới là sự báo trước: theo Phao-lô, chúng ta vẫn phải chờ đợi quyền thừa kế của mình trong sự cứu chuộc thế gian này lần cuối cùng và trọn vẹn bởi Đức Chúa Trời trong kỳ cuối cùng.  Eph 4:30 nhấn mạnh lại việc này, nhắc nhở chúng ta rằng việc chúng ta được Đức Thánh Linh ấn chứng “cho ngày cứu chuộc” sẽ đến.  Khi ấy mục đích của Đức Chúa Trời, đã được bắt đầu trong Chúa Cứu Thế, sẽ được đưa đến chỗ kết cuộc, và việc chứng kiến sự cứu chuộc ấy từ đầu đến cuối sẽ giục giã toàn thể công trình sáng tạo ngợi khen Đấng Tạo Hoá.

2. Bản tường thuật của Phao-lô về sự cảm tạ và lời cầu nguyện cho độc giả của ông bắt đầu (Eph 1:15-2:10)

(Eph 1:15-23)

Eph 1:15-19a  Bản tường thuật về sự cảm tạ  Theo quy ước, các bức thư của người Hy Lạp phải bắt đầu bằng một câu tạ ơn các thần và bảo đảm sẽ có sự tiếp tục cầu khẩn.  Phao-lô thường dùng hình thức này, nhưng ông khai triển nó theo phương pháp Cơ đốc đặc biệt.  Bản thân lời cảm tạ (15-16) đặc biệt nói về những gì Đức Chúa Trời đã làm qua các độc giả, có một tiêu điểm khác với những mối quan tâm tổng quát về một lời tán dương, thì ngắn hơn so với các bức thư khác (tuy thư Ga-la-ti chẳng có lời cảm tạ nào) và đáng lưu ý là không có các chi tiết riêng (tham khảo Co 1:3-4 và Phi-lê-môn 4-5 mà theo đó lời cảm tạ được viết cách khác).  Tuy nhiên, bản tường thuật về lời cầu nguyện tiếp theo lại dài một cách bất thường, và được đan xen nhiều giáo lý hơn bình thường.  Nó kéo dài ít nhất đến tận câu 23 (thật ra thì mấy c.15-23 là một câu phức hợp trong Hi văn), cũng có thể là đến tận Eph 2:10 và được tóm tắt thêm trong 3:1,14-21.  Ta có thể giải thích các điểm bất thường này bằng mục đích tổng quát của bức thư, và bằng ý định rằng nó sẽ phải được đọc cho nhiều hội chúng không có liên hệ gì với nhau.

Theo cách tường trình thì sự cầu nguyện thường xuyên của Phao-lô cho các độc giả của ông là cho tâm linh họ được soi sáng (17) cho họ nhận biết Đức Chúa Trời càng sâu nhiệm hơn, và cho họ hiểu rõ tính chất niềm hy vọng của Cơ Đốc nhân (18) và tính chất quyền năng của Đức Chúa Trời đang vận hành trong các Cơ Đốc nhân (19a).  Ông minh họa cho vấn đề cuối cùng này theo hai cách khác nhau: ông cho biết nó đã được bày tỏ ra trong sự sống lại và được tôn cao của chính Chúa Cứu Thế (19b-23) và được biểu lộ trong chính đời sống chúng ta, được đưa từ “sự chết” đến “sự sống” thuộc linh trong sự hợp nhất với Chúa Cứu Thế.

15-16 Câu mở đầu Vậy nên nhìn lui về 1:14 và qua đó là về cả đoạn 1:3-14.  Phao-lô dâng lời tạ ơn thay cho độc giả của ông trong tỉnh A-si thuộc La Mã vì Đức Chúa Trời đã đưa họ đến để dự phần vào sự cứu rỗi.  Ông cũng dâng lời tạ ơn một cách ngắn gọn về những gì ông đã nghe về đức tin và tình yêu thương của họ (như trong thư Cô-lô-se và Phi-lê-môn), cho thấy ông xem những điều đó là kết quả của ân điển Đức Chúa Trời.  Mấy câu này là chứng cứ rõ ràng của việc Phao-lô không phải chủ yếu viết thư này cho thành phố Ê-phê-sô (nơi ông từng lưu lại đến hơn ba năm), Phao-lô đã thể hiện rằng mình biết nhiều chi tiết về các Hội Thánh người Cô-lô-se trong những lời cảm tạ trong các bức thư ông đã gởi cho họ (và ông cho chúng ta biết là ông chưa hề đích thân đến thăm họ, Co 2:1) hơn là những gì ông biểu lộ ở đây.

17-19 Ba câu này tập trung vào nội dung bài cầu nguyện của Phao-lô.  Lời cầu nguyện trong câu 17 xin thần trí của sự khôn sáng của sự tỏ ra tiêu biểu cho cách nói điển hình của người Do Thái, nó có nghĩa rằng Phao-lô cầu xin cho Đức Thánh Linh mà họ đã tiếp nhận sẽ được họ kinh nghiệm là Ngài đang ban cho họ những điều đó.  Xin lưu ý chủ đích của lời cầu xin không phải là để có được thông tin đặc biệt, nhưng là để họ nhận thức và hiểu biết chính Đức Chúa Trời một cách sâu nhiệm hơn (như ông được bày tỏ trong Chúa Cứu Thế vậy).  Sự khôn ngoan, sự soi sáng và sự bày tỏ thật sự là các ân tứ tiêu biểu nhất mà người Do Thái trông mong nhận được từ Đức Thánh Linh.  Quyền năng thì ít được đề cập hơn (Xu 31:3  Phu 34:9  Es 11:2   1Enoch 49:3  1QS 4:3-5).

Lời cầu nguyện trong câu 18 cũng là lời cầu xin sự hiểu biết thuộc linh, lòng ở đây là một từ ngữ đặc biệt đồng nghĩa với tâm trí, ý chí và tâm linh, và có nghĩa là trung tâm của tri giác và  quyết định.  Tuy là trên tất cả các trước giả Tân Ước, Phao-lô tìm cách giải thích và lý luận thuyết thần học của ông bằng trí hiểu thuần lý, ông rõ ràng đã thừa nhận rằng đó chỉ là một phần của công việc mà thôi.  Tấm lòng của một người không chỉ cần có thêm các khái niệm thần học tinh tế, mà còn cần có công tác của Đức Thánh Linh phối hợp những điều này với nhận thức của họ, để do đó, tái xây dựng ý chí và đời sống họ.  Phao-lô cầu xin cho các độc giả của ông có khả năng nhận biết niềm hy vọng đang ở phía trước họ theo ý nghĩa đầy đủ hơn này.  Nếu như họ thực sự được hé mở để thấy rằng Đức Chúa Trời muốn khiến họ cùng với toàn thể các thánh đồ trở thành một nghiệp kỳ diệu cho chính Ngài, thì sự nhận biết ấy (“nhờ ân điển Ngài mà tôi được khiến trở thành một hoàng tử chớ không phải là thành một con cóc”) sẽ biến đổi họ thành những con người đầy lòng vui mừng và yêu thương.  Trong Cựu Ước, dân Y-sơ-ra-ên thường được mô tả là cơ nghiệp của Đức Chúa Trời: (Phu 4:20  Thi 33:12  Es 63:17  Gie 10:16.)  Ở đây, Phao-lô áp dụng điều đó cho Hội Thánh vinh hiển và lời cầu nguyện của ông là xin cho họ hiểu được niềm hy vọng đang chiếm thế áp đảo trong bài ca tụng mở đầu của ông (Eph 1:14,5-6,12).

Phần thứ ba trong bài cầu nguyện của Phao-lô (19a) là xin cho các độc giả của mình thông hiểu tính chất và sức mạnh của quyền năng Đức Chúa Trời đang hành động trong họ.  Nếu các tín hữu chỉ nhìn vào những gì Đức Chúa Trời hiện đang làm trong đời sống mình, họ sẽ rất dễ đánh giá thấp quyền năng của Ngài, vì nó chỉ được biểu hiện nơi tình yêu có hình thức là thập tự giá mà thôi.  Các độc giả người Ê-phê-sô, do xuất thân từ một bối cảnh có tín ngưỡng pháp thuật mãnh liệt, có thể đã nhận thấy rằng quyền lực của nữ thần Đi-anh là lớn lao và đáng sợ hơn quyền năng của Đức Chúa Trời.  (Nữ thần Đi-anh của người Ê-phê-sô được xem như nữ hoàng của cả các thế lực trên trời, kể cả quyền lực mạnh mẽ của các cung hoàng đạo, lẫn các thần của cõi âm nữa, xem Arnold).  Điều này có thể bào mòn niềm tin quyết của họ nơi Đức Chúa Trời và phá hoại ngầm quyết tâm trong cuộc chiến đấu thuộc linh mà họ dự phần.  Phao-lô biết rằng qui mô lớn lao của quyền năng của Đức Chúa Trời trong dân Ngài sẽ chỉ được bày tỏ đầy đủ vào giai đoạn cuối cùng của công trình sáng tạo mà thôi (như Eph 1:5-6,9-10,14), nhưng ông có thể chỉ cho họ thấy hiện nay họ phải nhìn vào đâu để thấy quyền năng ấy đang bày tỏ (1:19b-2:10).

Eph 1:19b-23 Quyền năng cứu rỗi của Đức Chúa Trời được bày tỏ ra trong Chúa Cứu Thế phục sinh và được tôn cao  Vì Ngài là đại diện thật sự của Con Người, sự sống lại và được tôn vinh của Ngài là một bức tranh về điều mà Đức Chúa Trời sẽ hoàn tất trong chúng ta (ICo 15:45-49  Phi 3:21).  Lẽ dĩ nhiên là có một điểm dị biệt: uy quyền đã mặc cho Chúa Giê-xu qua việc Ngài được tôn cao là độc nhất vô nhị, dù xét theo một nghĩa thì chúng ta cũng được dự phần vào đó (Eph 2:6).  Nhưng chính điểm khác biệt đó dẫn Phao-lô tới một cách khác bảo đảm với người Ê-phê-sô về quyền năng của Đức Chúa Trời trong họ, vì ông kết thúc bằng cách nói rằng Chúa Giê-xu là Đấng được ban cho mọi quyền phép, được Đức Chúa Trời ban cho Hội Thánh mà Ngài khiến nên đầy đủ hoàn thiện (22-23).  Lẽ dĩ nhiên, điều đó có nghĩa là uy quyền và quyền phép đầy đủ đã được ban cho Chúa Giê-xu hiện đang vận hành trong Hội Thánh.

Lời xác quyết về sự sống lại lẫn sự tôn cao của Chúa Giê-xu bên hữu Đức Chúa Trời (20) đều là truyền thống trong Hội Thánh, và sự tôn cao đã được viết theo ngôn ngữ của Thi 110:1 (Cong 2:34-36  Ro 8:34  Co 3:1  He 1:3,13).  Câu ấy đề cập việc Chúa Giê-xu đang ngự trên ngôi với cương vị Đấng Cai Trị cả vũ trụ, được ban cho địa vị danh dự trên thiên đàng (do đó mà có nhóm tư tại các nơi trên trời).  Không phải Chúa Giê-xu đã được cất lên để chẳng còn ảnh hưởng gì của thế gian này nữa, mà trái lại: Ngài đã được đưa vào địa vị có ảnh hưởng tối hậu trên các vấn đề thuộc về thế gian.  Như thế, chẳng còn có quyền năng hay tiềm năng nào trên thế gian hoặc ở các nơi trên trời, chẳng có điều ác lẫn điều thiện nào có thể so sánh với uy quyền của Ngài ở cương vị Đấng đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, là Đấng cao hơn hết (21).  Các độc giả đầu tiên chắc đã nhận thấy điểm này: chẳng có quyền năng, thế lực nào mà họ từng sợ hãi có thể so sánh được với Chúa Giê-xu.

Nếu trong Thi 110:1 Đức Chúa Trời truyền cho Chúa của cõi trời hãy ngồi bên hữu Ngài “cho đến chừng ta đặt kẻ thù nghịch ngươi làm bệ chơn cho ngươi”, thì câu 22 ở đây nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời đã đặt muôn vật phục dưới chơn Chúa Cứu Thế.  Đây không phải là một cách nhìn không thực tế về việc tội lỗi cứ tiếp tục hoành hành, mà là một cách chuyển ngôn ngữ của Thi Thiên 110 thành ngôn ngữ của 8:6 (Phao-lô làm tương tự trong ICo 15:25-27).  Ở đây, Chúa Giê-xu được mô tả là một A-đam thứ hai được giao nhiệm vụ thực thi quyền thống trị trên toàn cõi vũ trụ.  Với cương vị ấy, Ngài là “Đấng làm đầu muôn vật”  (22b) nghĩa là, vua cai trị hay chủ tể, một nghĩa của chữ “đầu” đã được Thánh Kinh Hi văn và nhiều bộ sách khác chứng thực.  Điểm chính của những gì tiếp theo trong câu 22b đã được dịch rất đúng là ban cho Đấng Christ làm đầu Hội Thánh.  Phao-lô khó có thể đưa ra được một bức tranh nào ngoạn mục hơn về một quyền năng đang vận hành trong Hội Thánh, nhưng để nhấn mạnh thêm, ông mô tả Hội Thánh theo hai cách khác nhau.

Một là, ông gọi Hội Thánh là thân thể của Chúa Cứu Thế (22a).  Trong I Cô-rinh-tô, Hội Thánh với tư cách là “thân thể” Chúa Cứu Thế bao gồm tai, mắt và đầu của Ngài (ICo 12:16-21) – Đó là cả một thân thể thuộc về Chúa Giê-xu và hợp nhất thiết thân với Ngài (ICo 6:15  12:12).  Có lẽ đó cũng là ý nghĩa ở đây, không phải Hội Thánh là một thân thể không có đầu, mà chính Chúa Giê-xu là cái đầu , vì câu 21 mô tả Chúa Giê-xu là “đầu” của toàn cõi vũ trụ chớ không phải của Hội Thánh, và dùng “đầu” theo nghĩa là “vua cai trị” chớ không phải như một phần thân thể theo nghĩa giải phẫu học.  Nhưng mô tả Hội Thánh là “thân thể” Chúa Jêsus ngay sau khi mô tả Ngài là “đầu” như thế, hầu như khó có thể tránh được việc đề cao ít nhất là ý nghĩa về sự hợp nhất giữa hai phần ấy (Eph 4:16  5:23,28 và thậm chí còn đáng chú ý hơn là “chính Ngài là đầu của thân thể, tức là Hội Thánh” ở Co 1:18).

23 Tiếp tục mô tả Chúa Giê-xu là Đấng gồm tóm mọi sự trong mọi loài (Eph 4:10).  Động từ “làm cho đầy dẫylà một phép ẩn ý chỉ về tình trạng “hiện diện, và hành động” hay “có ảnh hưởng sâu rộng” hoặc “cầm quyền trên”.  Với tư cách là “cái đầu” của mọi sự, Chúa Giê-xu làm đầy dẫy mọi sự, do đó Ngài làm ứng nghiệm sự mầu nhiệm được đề cập trong câu 9-10, Ngài bắt đầu nhiệm vụ chế phục những cuộc phản loạn để kéo mọi sự vào trong sự hợp nhất và hoà hợp với chính Ngài. Nhưng Phao-lô khẳng định rằng trên hết, chính Hội Thánh mới là sự đầy đủ của Ngài (nghĩa là cái được Ngài làm cho đầy đủ) – và ông sẽ giải thích điều đó đầy đủ hơn trong 2:1-22.

Tóm lại, Phao-lô cầu xin cho các độc giả của ông được thông hiểu rằng quyền năng đang vận hành trong Hội Thánh là sự hiện diện của cùng một quyền năng ấy vốn sẽ đem đến công trình sáng tạo mới, một vũ trụ mới hoàn toàn hài hoà được hợp thành dưới quyền của Chúa Cứu Thế.  Trong sự hợp nhất với Chúa Cứu Thế, Hội Thánh đã được nếm trước về cái kết cuộc ấy.

Eph 2:1-10 Quyền năng cứu rỗi của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong sự cứu rỗi Hội Thánh  Thật tiếc là một phần chương lại được đặt tại đây, vì có lý do chính đáng để tin rằng phần này cùng với 1:15-23 tạo nên một đoạn.  Trong đoạn đó, Phao-lô giải thích quyền năng của Đức Chúa Trời trong Hội Thánh được bày tỏ trong sự sống lại của Người đại diện là Chúa Giê-xu, và trong việc Đức Chúa Trời ban Ngài cho Hội Thánh, với tư cách là vua cai trị đáng tôn cao của toàn thể vũ trụ.  Ở đây ông muốn lưu ý đến cùng một quyền năng ấy của Đức Chúa Trời, nhưng là trong phạm vi nó được bày tỏ qua việc Đức Chúa Trời đưa chúng ta ra khỏi sự chết để đến với sự sống.  Ông bắt đầu câu 1 bằng liên từ trực tiếp “còn” (có trong đa số các bản dịch), có vẻ như là ông có ý muốn viết rằng “còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, thì đã được Ngài khiến cho cùng sống trong Chúa Cứu Thế…” (giống như trong Co 2:12-13  3:1-2 vậy).  Tuy nhiên, ông đã đi tẻ khỏi câu phát biểu rõ ràng này vì sự cần thiết phải giải thích câu đã chết lầm lỗi tội ác mình.  Rồi sau khi đã vẽ ra một bức tranh ảm đạm về địa vị xưa kia của các độc giả (2), ông lại  làm sáng tỏ trong câu 3 rằng không phải chỉ có anh em mà tất cả chúng ta đều từng gặp cái tai vạ ấy, và đã được Đức Chúa Trời nhủ lòng thương xót giải cứu cho.  Cuối cùng, trong câu 5-6, Phao-lô mới trở lại chỗ mà ông đã bắt đầu nhưng lại ở ngôi thứ nhất số nhiều “nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ…”.  Đây là một sự tiết lộ khác nữa về tính chất của quyền năng Đức Chúa Trời trong Hội Thánh rằng Phao-lô cầu xin cho các độc giả của ông sẽ hiểu, vì chắc chắn rằng điều đó sẽ đem đến ý nghĩa cho đời sống họ, niềm vui cho lòng họ, sự thờ phượng với lòng biết ơn trên môi miệng họ, và sức mạnh cho cuộc chiến đấu của họ.

1-3 Anh em đã chết lầm lỗi tội ác mình một lần nữa là một cách nói của người Do Thái, hiệu quả của nó đã được minh hoạ thật hay bằng một câu giải nghĩa Tr 9:5 của người Do Thái vốn nói về “kẻ ác ngay lúc hãy còn sống, cũng bị xem như là đã chết rồi”.  Những người bị tội lỗi trói buộc đều bị định phần cho sự chết, cho nên đã thuộc về cái thế giới ấy, điều họ tưởng là “sự sống” chỉ là sự nếm trước cái chết, vì sự sống đó không có Đức Chúa Trời (Gi 5:24  IGi 3:14 và 1QH 11:10-14).  Trong khi ở chỗ khác Phao-lô dạy rằng tình trạng ấy là hậu quả của tội lỗi, thì điều đó không phải là luận điểm ở đây đúng hơn, tình trạng “ở trong lầm lỗi tội ác mình là đặc điểm của đời sống trước kia của họ.  Những điều đó là kết quả khốc liệt của “sự chết” của họ.  Trong câu 2 Phao-lô gán cho cuộc đời mang vết hằn của tội lỗi chủ yếu là do hai yếu tố liên hệ – ảnh hưởng của đời này (nghĩa là công trình sáng tạo đã sa ngã trong hiện tại và các lực lượng mà nó tạo ra trong xã hội, được xem là đang chống nghich với Đức Chúa Trời, tương phản với “kỷ nguyên mới” hay “công trình sáng tạo mới” mà mọi người đang chờ đợi), và ảnh hưởng của Sa-tan được mô tả ở đây là vua cầm quyền chốn không trung.  “Chốn không trung” ám chỉ các tầng trời thấp hơn, gần nhất với địa cầu, thường được cho là nơi cư trú của những ác linh.  Ý niệm về Sa-tan hiện đương hành động trong các con bạn nghịch được tìm thấy ở nhiều chỗ khác nữa trong văn chương Do Thái.  Chẳng hạn như trong sách Sự Thăng Thiên Của Ê-sai viết rằng nó “vui mừng về Giê-ru-sa-lem vì cớ Ma-na-se và thêm sức mạnh cho nó bằng cách đưa nó tới chỗ bội đạo và bằng sự vô luật pháp vốn được loan truyền rộng rãi tại Giê-ru-sa-lem” (Eph 2:2-4  IIVua 21:1-26  IISu 33:1-25).  Điều này thoạt nghe có vẻ như là thuyết định mệnh về điều ác mà chúng ta không phải chịu trách nhiệm, nhưng câu 3 cũng buộc tội một cách ngang bằng đối với bản chất phản loạn của chính chúng ta với các ham muốn và tư tưởng hư hoại của nó.  Tất cả những điều đó đã khiến cho chúng ta trở thành điều mà Phao-lô gọi là “các con cái của sự thạnh nộ”, nghĩa là những kẻ đã bị định phải chịu cơn thịnh nộ thánh khiết của Đức Chúa Trời chống lại tội lỗi.

4-7 Vậy, những gì mà Đức Chúa Trời thật sự đã làm cho chúng ta bằng tình yêu và lòng thương xót của Ngài, diễn ra như một nét tương phản tuyệt đối và gây phấn khởi so với số phận mà câu 3 đã hình dung, và vì vậy bày tỏ đầy kịch tính bản chất của quyền năng Đức Chúa Trời đang vận hành trong chúng ta.  Câu 5 mô tả nó là quyền năng phục sinh, đem chúng ta từ “sự chết” sang “sự sống”.  Ta có thể hiểu một cách đơn giản điều này như một cách ví von về mối liên hệ được khôi phục (Lu 15:32), nhưng có lẽ nó còn có nghĩa nhiều hơn thế nữa.  Nói rằng chúng ta đã được làm cho sống (từ ngữ này nói lên sự sống lại) với Đấng Christ dường như là một cách nói tắt “chúng ta sẽ được khiến sống lại với Chúa Cứu Thế trong công trình sáng tạo mới, và chúng ta có thể nói về điều đó như thể nó là một sự kiện đã hoàn thành bởi vì trước hết biến cố phục sinh mang tính quyết định của Người đại diện Giê-xu đã thuộc về quá khứ, và sau nữa là chúng ta bắt đầu dự phần vào các phương diện của đời sống thuộc công trình sáng tạo mới ấy trong việc chúng ta hợp nhất với Ngài”.

Ta cũng có thể nói tương tự về câu 6, rằng chúng ta cũng đã được tôn cao và đồng ngồi với Chúa Cứu Thế trong các nơi trên trời (nghĩa là cùng ngự trên ngôi với Chúa Cứu Thế bên hữu Đức Chúa Trời: c.6 là theo mẫu Eph 1:20).  Trong khi Phao-lô dạy rằng các tín hữu sẽ tham gia cuộc phán xét và trị vì trên công trình sáng tạo mới (ICo 6:2  Kh 3:21), thì ông cũng khẳng định mạnh mẽ rằng chúng ta vẫn chưa làm việc ấy (ICo 4:8).  Thật ra thì mấy câu này không nói điều gì khác nhau mấy.

Một số các nhà giải kinh đã cho rằng tại đây thư Ê-phê-sô đã cắt đứt với Phao-lô thật, dạy rằng sự cứu rỗi đã hoàn tất, cuộc chiến đã chấm dứt, và các tín hữu đồng trị vì trong các nơi trên trời rồi.  Thế thì, trước giả (vốn được cho là một môn đệ của Phao-lô) đã bị tố cáo là một người theo chủ nghĩa chiến thắng khải hoàn.  Nhưng làm như thế là chưa hiểu một cách nghiêm chỉnh sự nhấn mạnh trên niềm hy vọng trong Eph 1:3-23 và xem nhẹ 4:20-5:15  6:10-18 và nhất là 6:12 là những chỗ chắc chắn mô tả đời sống hiện tại của Cơ Đốc nhân như đang phải chiến đấu với khuôn mẫu của nhơn tánh tội lỗi cũ của chúng ta và với các thế lực của thời đại này.  Hai câu 5-6 được hiểu đúng nhất là nhìn về điều họ nói là hoàn toàn thật đối với Chúa Cứu Thế, nhưng có thể khẳng định rằng theo một nghĩa thứ hai, thì chúng cũng hoàn toàn thật đối với chúng ta vì Ngài là đại diện của chúng ta và quyết định tương lai chúng ta, và rằng hiện chúng ta đang được hợp nhất với Ngài trong Thánh Linh.  Tương tự thì hoàn thành trong c.5 “anh em (đã) được cứu(và trong câu 8 nữa) không hề có nghĩa là trước giả nghĩ rằng sự cứu rỗi của chúng ta đã hoàn tất rồi, sự cứu rỗi hoàn toàn của chúng ta đã được bảo đảm và bày tỏ ra trong Chúa Cứu Thế, và nó đang được thực hiện trong chúng ta: chúng ta đã thật sự bắt đầu kinh nghiệm việc được chuyển từ lãnh địa của sự chết sang sự sống lại và sự sống.  Mấy câu này nên được hiểu như một cách làm sáng tỏ đầy đủ hơn về sự khẳng định mà Phao-lô đưa ra trong Co 1:13  3:1-4.  Câu 7 (là âm vang của Eph 1:6-7,18,21) cho thấy tương lai mới sẽ phơi bày sự cứu rỗi và ân điển mà hiện nay chỉ có đức tin mới biết được.

8-10 Phần tóm tắt này là âm vang một phần của ngôn ngữ tranh luận trong thư Ga-la-ti và thư Rô-ma về sự xưng công chính bởi đức tin mà không cần phải giữ luật pháp Môi-se.  Tuy nhiên, ý chính của Phao-lô ở đây có phần hơi khác, nó mang tính bổ sung.  Ông nói rằng sự cứu rỗi mà chúng ta đã kinh nghiệm khi được chuyển từ “chết” sang “sống” nhờ hợp nhất với Chúa Cứu Thế Giê-xu là một sự tiết lộ đầy kịch tính về quyền năng ân điển của Đức Chúa Trời, chính là vì nó hoàn toàn từ Ngài mà ra.  Nó không phải là một sản phẩm, cũng không phải là phần thưởng cho việc làm của chúng ta, nó là món quà mà Đức Chúa Trời dành cho đức tin (Hi văn của Phao-lô không gợi ý ông đang nói rằng đức tin cũng chỉ là ân điển của Đức Chúa Trời, tuy điều đó có thể được hàm ý bởi các xem xét khác).  Phao-lô vội vàng làm rõ rằng điều nầy không có nghĩa là việc làm không quan trọng.  Nhưng cuộc đời và việc làm trước kia của chúng ta chỉ đóng góp vào tình trạng khốn khó, nơi mà chúng ta cần phải được giải thoát ra khỏi.  Trái lại, câu 10 trau chuốt sự cứu rỗi của chúng ta theo khái niệm về công trình sáng tạo mới của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế (IICo 3:1-5:21  5:17  Ga 6:15).  Như thế, với Chúa Giê-xu, chúng ta là các trái đầu mùa của công trình sáng tạo mới và được tạo nên để có thể làm được những việc thật sự tốt lành.  Điều này sẽ được giải thích đầy đủ hơn trong Eph 4:17-6:20).

3. Một đoạn tẻ đề: Hội Thánh, sự hoà giải và sự hợp nhất phổ quát: ngôi đền thờ mới (Eph 2:11-22)

Đến đây, Phao-lô bỏ ngang lời tường trình về sự cầu nguyện của ông cho các độc giả, và vì vậy theo lời lẽ chính thức, những câu 11-22 là một đoạn tẻ đề.  Tuy nhiên, theo một nghĩa khác, chúng là trọng tâm thần học của bức thư, vì các chân lý hàm chứa trong đó củng cố và giải thích bài tán ca và bài cầu nguyện của Phao-lô cũng như tăng cường cho sứ điệp chứa trong đó.  Nếu thư Ê-phê-sô là tuyệt tác phẩm về thần học của Phao-lô, thì có lẽ 2:11-22 là viên ngọc trung tâm, nhưng cũng như một viên đá quý được mài giũa đẹp đẽ, nó có một chiều sâu và sự tinh tế không dễ tóm tắt.

Về mặt cấu trúc, nổi bật xuyên suốt đoạn này là nét tương phản “thuở đó, bây giờ” (vốn mở rộng sự tương phản tương tự trước đây trong c.1-7).  Nó bắt đầu tại câu 11-13 vốn nhấn mạnh chủ yếu trên yếu tố “thuở đó” (chú ý chữ lúc trước của c.11, thuở đó của câu 12 và yếu tố tương phản hiện naytrong Đức Chúa Giê-xu Christ của c.13) và nó được tóm tắt trong mấy c.19-22 vốn nhấn mạnh chủ yếu trên chữ “bây giờ – hiện nay”.  Câu 14-16 (với câu tóm tắt 17-18) cung cấp tâm điểm và sự hoán chuyển, và như thế phân chia toàn bộ câu 11-22 thành ra ba phần. 

Nét tương phản thuở đó – hiện nay của Phao-lô được nêu ra chủ yếu bằng ngôn ngữ của chủ đề lớn về sự xa lạ trong quá khứ (12-19), việc bị trục xuất (13) hay sự thù địch (16) với sự hoà giải (16) , sự hợp nhất (15-16), hay sự hoà bình hiện nay (17).  Tóm lại, khúc sách này cho chúng ta biết thế nào Đức Chúa Trời đã bắt đầu sự giải hoà phổ quát, vốn là kế hoạch đời đời của Ngài (1:9-10).  Trong khúc sách này có hai chiều kích quan trọng.  Câu 11-15 tập trung trước hết vào việc thế nào trong Chúa Cứu Thế, chiếc rào cản lớn giữa dân Do Thái và người ngoại quốc đã được dỡ bỏ, và người ngoại quốc được hợp nhất với dân Y--ra-ên tin kính.  Chúng ta có thể gọi đây là “sự hoà giải theo chiều ngang”.  Tuy nhiên câu 16-22 có một sự nhấn mạnh khác.  Đúng hơn, chúng giải thích thế nào cả dân Do Thái lẫn người ngoại quốc đều được đưa đến với Đức Chúa Trời (16-17) được đến gần Ngài (18) và được làm thành ngôi đền thờ trên trời nơi Ngài ngự vào (19-22).  Chúng ta có thể gọi đây là “sự hoà giải theo chiều đứng”.  Chúng ta phải chú ý một cách cẩn thận hai sự việc ấy có liên hệ với nhau như thế nào (và chúng được thành tựu ra sao) trong những phần bình giải chi tiết hơn cho từng đoạn riêng rẽ.

11-13 Phần thứ nhất kêu gọi các độc giả Cơ Đốc nhân người ngoại quốc chiếm đa số hãy nhớ lại địa vị trước kia của họ với tư cách là những người không thuộc dân sự của Đức Chúa Trời.  Họ vốn là những người bị người Do Thái gọi là “những kẻ không chịu phép cắt bì”.  Phép cắt bì là ấn chứng của giao ước với dân Y-sơ-ra-ên, cho nên đó là điểm để phân biệt dân Do Thái với phần còn lại của thế gian.  Như thế, Do Thái giáo có thể tự nói về mình là người chịu cắt , nghĩa là “dân giao ước của Đức Chúa Trời” để phủ nhận số người còn lại trên thế giới, là những người đứng ngoài giao ước, là “những kẻ không chịu cắt bì”.  Điểm chính không phải là chỉ có dân Do Thái mới thực hành việc cắt xén một chút da như thế (các dân tộc Semites cũng có làm như thế), nhưng là ý nghĩa của nó, với tư cách là một nghi lễ về sự bước vào giao ước Môi-se.

Phao-lô bắt đầu mô tả địa vị trước kia của người ngoại quốc bằng cách sử dụng ngôn ngữ mà bất kỳ một người Do Thái nào cũng có thể dùng để chỉ về địa vị “ngoại đạo” của họ.  Tuy nhiên,  rõ ràng là Phao-lô không thật sự vui vẻ với cách sắp xếp sự việc như thế, và thấy rằng ông cần phải đánh giá nó bằng cách làm sáng tỏ là dân Do Thái chỉ là những kẻ tự xưng là người chịu cắt mà thôi.  Theo Phao-lô thì phép cắt bì của họ chỉ do loài người thực hiện, vì theo ông, phép cắt bì của họ thường chẳng khác gì một hành động cắt xén bên ngoài, nên mối liên hệ được cho là với Đức Chúa Trời mà nó tượng trưng đã không trở thành một thực tế bên trong được hành động bởi Đức Chúa Trời.  Theo Phao-lô thì chỉ ở trong gia đình có đức tin , mối liên hệ của họ với Đức Chúa Trời mới thật sự làm trọn điều có liên quan với phép cắt bì (Ro 2:28-29), và điều đó được kinh nghiệm sâu nhiệm nhất là với các Cơ Đốc nhân (Phi 3:3  Co 2:11).

Phao-lô quay trở lại với chủ điểm của ông trong câu 12.  Thuở đó, với cương vị là những người ngoại quốc không tin, các độc giả đã chẳng có phần gì trong Chúa Cứu Thế cả, vì Đấng Mê-si-a, trước hết và sau cùng, là vua của dân Y-sơ-ra-ên (Ro 9:5).  Họ vốn xa lạ với “cộng đồng dân Y-sơ-ra-ên” – là dân của Đức Chúa Trời, nhận được phước hạnh của Ngài.  Danh từ mà Phao-lô chọn là quyền công dân (theo bản dịch Việt văn) gợi ý không phải ông đang nghĩ về dân tộc Y-sơ-ra-ên ở đây, mà cụ thể hơn là về những người Do Thái trung tín được xem như đang sống dưới chế độ thần quyền.  Việc loại bỏ người ngoại quốc ra khỏi cộng đồng dân sự Đức Chúa Trời có nghĩa là họ chẳng có phần gì trong các giao ước vốn hứa hẹn sự cứu rỗi của Đấng Mê-si-a.  (Ngôn ngữ ở đây là âm vang mạnh mẽ của 9:4).  “Sự trông cậy” và “các thần” có thể là họ có rất nhiều, nhưng những điều này tỏ ra vô ích, vì người ngoại quốc chẳng có Đức Chúa Trời chân thật và niềm hy vọng mà Ngài ban hiện đang trở thành sự thật.

Bây giờ, trong Đức Chúa Giê-xu Christ (13) hoàn cảnh của họ đã thay đổi rất nhiều, và Phao-lô chọn một cách ví von phổ biến trong Thánh Kinh để diễn tả sự tương phản này.  Hình ảnh về người ở gần và kẻ cách xa vốn có nguồn gốc trong Es 57:19 và nó chi phối sự mô tả của Phao-lô cho đến câu 17-18 (chỗ ông sử dụng cách diễn đạt của Ê-sai).  Tuy nhiên, trong câu 13, ông dùng ngôn ngữ phản ảnh thật sát cách mà nó được sử dụng đặc biệt trong Do Thái giáo đương thời.  Động từ “được (làm cho) gần” đã trở thành từ ngữ có nghĩa là “cải giáo một người không phải Do Thái” và làm như thế tức là đưa người ấy gia nhập cộng đồng Y-sơ-ra-ên.  Việc làm ấy đưa con người liên hệ “đến gần” theo hai nghĩa, cả hai đều được Do Thái giáo chứng thực.  Người ấy trở thành “gần gũi” với số người còn lại của dân sự Đức Chúa Trời và “gần gũi” cả với Đức Chúa Trời mà dân sự Ngài vốn “gần gũi”.  Họ được vào đền thờ (nơi đặc biệt có sự hiện diện của Đức Chúa Trời) và đến với Đức Chúa Trời là Đấng hiện diện nhiều hơn giữa dân Ngài nói chung.  Như chúng ta thấy, Phao-lô đang nghĩ đến một dân sự của Đức Chúa Trời đã được biến đổi và một ngôi đền thờ trên trời nhưng mặt khác, hình ảnh ông nhìn thấy trong câu 13 là hình ảnh tương tự.

14-18 Đoạn này đưa chúng ta vào đến tận tâm điểm của cách hiểu của Phao-lô về Phúc Âm của sự hoà giải.  Trong câu 14-15 ông bắt đầu với chiều ngang.  Trước hết, Chúa Giê-xu được xem là sự hoà hiệp của chúng ta theo nghĩa rằng Ngài nối liền hai thành phần lớn của nhân loại (người chịu cắt bì và kẻ không chịu cắt bì) trở thành một.  Ngài phá huỷ (trên nguyên tắc) sự thù nghịch giữa dân Do Thái và người ngoại quốc bằng cách dỡ bỏ bức tường ngăn cách lớn lao đã phân rẽ họ, trở thành cơ hội không thể tránh khỏi cho họ nghi kỵ và đối xử tàn ác với nhau.  Bức thường ở đây là luật pháp Môi-se với các luật lệ chi tiết về sự thánh khiết, vốn khiến cho những người Do Thái ngoan đạo không thể sống gần gũi với những người ngoại quốc .

Liên quan đến các quy tắc đó, bức thư của Aristeas (khoảng 100 T.C.) chủ trương “nhà lập pháp (Môi-se) bao bọc chúng ta bằng những hàng rào chông, và những bức tường sắt không thể phá vỡ để ngăn chúng ta bị pha tạp với bất kỳ dân tộc nào khác trong bất kỳ việc gì, và như thế giữ cho cả thân thể lẫn linh hồn được thanh khiết,….  thờ phượng Đức Chúa Trời Toàn Năng độc nhất mà thôi” (139) hoặc ở một chỗ khác “Nên bởi đó, để chúng ta không bị ô uế hay bị tiên nhiễm bởi một sự lệch lạc nào bằng việc giao du với những người không xứng đáng, ông đã xây lên ở mọi phía của chúng ta những quy định tẩy uế trong các vấn đề về ăn, uống, sờ nắn, nghe và nhìn” (149) .  Một bức tường theo nghĩa đen trong đền thờ, tự nó đã ngăn cấm người ngoại quốc, bằng sự đau đớn của cái chết, không cho họ bước vào các sân trong, nơi dân Y-sơ-ra-ên thờ phượng, mới chỉ là cách diễn tả bên ngoài về các qui định của luật pháp Môi-se mà thôi.

Chúng ta được nói cho biết rằng sự thù địch mà luật pháp Môi-se tạo ra giữa nhân loại tội lỗi đã bị phá bỏ trong thân Ngài (15) – một sự đề cập đến cái chết của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá mà thư Cô-lô-se đã mô tả là việc trút bỏ toàn thể “thân thể xác thịt” (Co 1:22  2:11-12 xem câu 16).  Nó bị tiêu diệt khi luật pháp Môi-se, với tư cách là một sự thống nhất và là một giao ước không thể tách rời với dân Y-sơ-ra-ên, đã bị bỏ qua và thay thế bằng các điều kiện của công trình sáng tạo mới và giao ước tương ứng do Chúa Cứu Thế khởi đầu (IICo 3:3-18).  Vấn đề không có nghĩa là Phao-lô chống lại luật pháp, là việc phải làm cho sáng tỏ đầy đủ trong phần còn lại của bức thư này (và xin lưu ý cách dùng đặc thù Kinh Torah trong Eph 5:31-6:3).  Nói đúng hơn, chủ đích tốt đẹp mà luật Môi-se thực hiện trong việc giữ cho dân Y-sơ-ra-ên khỏi bị ảnh hưởng bất kính vô đạo của các dân tộc khác, đã nhường chỗ cho một chủ đích cao hơn nữa được vạch rõ trong câu 15 phản ảnh kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời (1:9-10).  Đức Chúa Trời muốn tạo nên một nhân loại mới từ dân Do Thái và từ người ngoại quốc.  Về trọng tâm của điều này trong nền thần học của Phao-lô, (ICo 12:13  Ga 3:28  Co 3:11).

16 Chuyển sự chú ý sang chiều dọc.  Cho đến đây, hầu như chúng ta có ấn tượng rằng biến cố về Chúa Cứu Thế không làm thay đổi về căn bản địa vị của dân Y-sơ-ra-ên: người ngoại quốc chỉ được thêm vào với họ và như thế sẽ cùng được phước với họ (phản ảnh cách hiểu của Marcus Barth về cả khúc sách này).  Tuy nhiên, đó không phải là ý chính của Phao-lô, vì ông tiếp tục khẳng định rằng một thểđược tạo ra từ dân Do Thái và người ngoại quốc đó đã được hoà giải với Đức Chúa Trời tại thập tự giá.  Điều này bao hàm rằng cả dân Y-sơ-ra-ên cũng chịu tình trạng xa lạ với Đức Chúa Trời vì cớ tội lỗi (Eph 2:3) điều này phải được khắc phục tại thập tự giá và dân Y-sơ-ra-ên chỉ kinh nghiệm được sự hoà giải đó nếu họ tham gia vào nhân loại mới này, tức là thân thể duy nhất của Chúa Cứu Thế, là Hội Thánh bao gồm những người Do Thái và người ngoại quốc.  Lẽ dĩ nhiên, người ta không thể ép cho lời lẽ của Phao-lô để nó phải có nghĩa rằng  Hội Thánh phổ quát gồm cả dân Do Thái lẫn người ngoại quốc kia đã được tạo ra trước nhất, rồi sau đó mới được hoà giải tại thập tự giá.  Đúng hơn thì ý của ông là tại thập tự giá Chúa Giê-xu làm đại diện không chỉ cho dân Do Thái mà còn cho cả nhân loại là người ngoại quốc nữa, với tư cách là A-đam sau hết (Ro 5:12-21  ICo 15:45  Phi 2:5-11).  Trong trường hợp thứ nhất thì chỉ độc nhất trong Ngài (15), Ngài đã tạo ra một người mới từ hai người kia, rồi sau đó, chỉ nhờ hợp nhất với Ngài trong một thân thể mà có sự từng trải về công cuộc hoà giải phổ quát.  Với Phao-lô thì điều đó có nghĩa là Hội Thánh thực sự là một thực thể thứ ba – không phải là Do Thái, cũng chẳng phải là ngoại quốc – mà là nhân loại mới.

Đằng sau ngôn ngữ về sự tạo nên một nhân loại mới là niềm hy vọng của dân Do Thái rằng đến cuối cùng thì Đức Chúa Trời sẽ tái tạo thế gian này thậm chí còn kỳ diệu hơn cả sự sáng tạo đầu tiên trước khi loài người sa ngã.  Như là một phần của công trình sáng tạo mới, dân sự Đức Chúa Trời sẽ được biến đổi và được ban cho những thân thể phục sinh để phù hợp với thế giới mà họ sẽ đến ở, và như thế là một thứ nhân loại mới sẽ sống hoàn toàn hài hoà với Đức Chúa Trời và với nhau.  Với Phao-lô thì chính điều đó đã bắt đầu bằng sự phục sinh của Chúa Cứu Thế vốn là khuôn mẫu cho sự sống lại của chúng ta, và thậm chí đang bắt đầu trong chúng ta (Ro 8:1  ICo 15:45-49  IICo 3:1-5:21  Ga 6:15  Phi 3:21).  Nhưng cần lưu ý rằng mọi điều đó chỉ đúng trong chính Ngài, nghĩa là trong Chúa Cứu Thế mà thôi chỉ có Hội Thánh hợp nhất trong Chúa Cứu Thế mới thật sự bắt đầu kinh nghiệm được sự hợp nhất phổ quá này.

17-18 Đã tóm tắt lại ý này bằng một câu trích dẫn có sửa đổi của Es 57:19 và một lời giải thích thêm.  Câu Ngài lại đã đến rao truyền sự hoà bình không đề cập đến sự nhập thể và chức vụ của Chúa Giê-xu cũng không đề cập đến Chúa Cứu Thế đã thăng thiên qua sự rao giảng của các vị sứ đồ, nhưng nên hiểu đúng hơn là sự tóm tắt câu 14-16, nó đề cập cụ thể đến thập tự giá và sự phục sinh.  Nhóm từ rao truyền sự hoà bình là âm vang của 52:7 nhưng phần còn lại thì gần đúng với 57:19.  Trong nguyên văn, khúc sách này được ứng dụng cho phước hạnh mà Đức Chúa Trời ban cho người Do Thái tại Giê-ru-sa-lem (người gần) và người Do Thái bị tan lạc (kẻ xa), nhưng ở đây, nó lại được hiểu là đang đạt đến một mức độ mới về sự ứng nghiệm trong sự “hoà bình” của Đấng Mê-si-a về sự hoà giải mà Chúa Cứu Thế đem đến giữa các tín hữu Do Thái (người gần) và tín hữu ngoại quốc (kẻ xa) và do đó giữa nhân loại mới được sáng tạo và Đức Chúa Trời.  Câu 18 xét về việc này trong một ẩn dụ lấy từ điều luật liên quan đến đền thờ.  Trong Cựu Ước kinh, chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm với tư cách người đại diện cho dân Y-sơ-ra-ên mới được trực tiếp đến gần Đức Chúa Trời theo nghĩa là chỉ có vị ấy mới được vào Nơi Chí Thánh, và chỉ được vào trong ngày Đại lễ chuộc tội mà thôi.  Dân Y-sơ-ra-ên phải đứng cách một quãng xa, còn người ngoại quốc thì càng xa hơn nữa.  Nhưng qua sự chết và sống lại của Chúa Cứu Thế, cả hai nay đều được trực tiếp đến gần Đức Chúa Trời  thông qua quà tặng là Đức Thánh Linh, là Đấng đem đến ý thức về sự hiện diện của Đức Chúa Trời cho từng cá nhân.

Trong mọi điều này, Phao-lô không nhấn mạnh một cách rõ ràng thập tự giá ảnh hưởng như thể nào đến sự hoà giải giữa loài người với Đức Chúa Trời.  Chính cách dùng từ ngữ ấy hàm ý một sự cách xa hay thù địch giữa hai đàng nay đã được chữa lành.  Về phía loài người, sự thù địch với Đức Chúa Trời là do phản ứng chống nghịch của chúng ta trước sự đòi hỏi phải lẽ và đầy yêu thương của Ngài về sự vâng lời của chúng ta với tư cách làm con.  Về phía Đức Chúa Trời, ta cũng có thể nói đến một yếu tố về sự cách ly với nhân loại ấy là cơn thịnh nộ thánh khiết và đầy tình thương của Ngài chống lại tội lỗi chúng ta (Eph 2:3  4:17-18  5:3-6).  Như ở đây, chính điểm này khiến cho Phao-lô luôn tin rằng đó là vấn đề căn bản nhất của chúng ta, và nó đã được giải quyết tại thập tự giá (nghĩa là trước khi bất kỳ ai trong chúng ta tin và tiếp nhận sự hoà giải được đề xuất).  Chính vì thế mà ông luôn nhấn mạnh “lòng thương xót” (4) và “ân điển” dư dật (1:2,6-7) của Đức Chúa Trời.  Ông nói cho chúng ta biết Đức Chúa Trời đã hoàn thành việc đó như thế nào – ông không nói đó là bởi sự chuộc tội thay thế (về vấn đề này xin xem phần Giải nghĩa Ro 3:25  5:9-11  IICo 5:19-21  Ga 3:13).  Trái lại ông có vẻ như thừa nhận sự chuộc tội thay thế ấy (Eph 1:7  5:2,25-26) và dường như bức thư này quan tâm nhiều hơn đến việc đi vào chi tiết về các kết quả của nó – tức là việc vãn hồi mối liên hệ với Đức Chúa Trời, và đặc biệt là phạm vi phổ quát của sự hợp nhất, sự hài hoà và hoà bình mà Đức Chúa Trời có chủ đích trong Chúa Cứu Thế.

19-22 Một hình ảnh cuối cùng được dùng để nhấn mạnh vinh quang của điều mà Đức Chúa Trời đã hoàn tất trong Chúa Cứu Thế cho những kẻ trước kia vốn là các độc giả người ngoại quốc, là “người ngoài” (lấy lại từ c.13).  Họ được đặc ân trở thành người đồng quốc với “các thánh đồ”, nghĩa là không phải với đân Do Thái hay các Cơ Đốc nhân người Do Thái, mà là với số còn lại của dân sự Đức Chúa Trời và là thành viên trọn vẹn trong nhà của Đức Chúa Trời ở thành phố – đền thờ trên trời .  Trong Ga 4:26 Phao-lô chê trách những người còn nặng đầu óc Do Thái giáo bằng cách nói rằng các Cơ Đốc nhân không thuộc về thành Giê-ru-sa-lem dưới đất, mà thuộc về thành Giê-ru-sa-lem trên trời (Phi 3:20).  Sức mạnh thần học của sự khẳng định này xuất phát từ sự thừa nhận rằng đời hầu đến đã được thực hiện trên trời rồi, và thành phố Giê-ru-sa-lem như sẽ có trong công trình sáng taọ mới, đang chờ đợi để “xuống” (Kh 21:1-4 và 21:10-22:5).  Nói rằng chúng ta là công dân của thành phố đền thờ ấy tức là nói rằng chúng ta hiện đang được hợp nhất với Chúa Cứu Thế, thì cũng được dự phần vào thành phố trên thiên đàng sáng ngời vinh quang của Đức Chúa Trời đó, và đến cuối cùng, nó sẽ được bày tỏ ra và làm thay đổi tất cả những gì mà chúng ta được biết là thực tế trong đời này.  Về một quan điểm tương tự, nghĩa là Hội Thánh hiện đang tham dự và biểu lộ sự thờ phượng của hội các thánh đồ được tôn vinh trong thành phố trên trời trong ngày sau rốt, xin xem He 12:22-24.  Ý niệm về việc làm thành viên của thành phố – đền thờ ấy tiếp tục chủ đề về sự đến gần Đức Chúa Trời được giới thiệu trong câu 18, vì thành phố trên trời đầy dẫy sự hiện diện chói ngời của Đức Chúa Trời.  Thật vậy, theo Kh 22:5 Ngài chính là ánh sáng của nó, chiếu sáng cả ngày lẫn đêm.

Trong câu 20-22, về căn bản chúng ta có cùng một bức thông điệp như trên, nhưng có một chút thay đổi về hình ảnh. Các tín hữu được mô tả như chính những viên đá mà ngôi đền thờ trên trời dần được xây lên.  Phần lớn Do Thái giáo trông chờ một ngôi đền thờ mới trong thành phố Giê-ru-sa-lem của đời hầu đến, và một vài thành phần trong Do Thái giáo đã nghĩ rằng dân sự Đức Chúa Trời sẽ cấu thành một nơi ngự thánh khiết của Đức Chúa Trời (tham khảo lời dạy của Chúa Giê-xu trong Gi 2:19).  Đó là quan điểm được diễn tả ở đây, và được nói là đã ứng nghiệm rồi (ICo 3:16-17  ICo 6:16-17  IPhi 2:4-10).  Phao-lô nói các độc giả của ông hiện đang được xây trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri.  Cú pháp của Hi văn ở đây, với một mạo từ chi phối cả hai danh từ (như ở Eph 3:5) gợi ý về một nhóm người nền móng, các sứ đồ có chức năng như các nhà tiên tri (nghĩa là đem đến sự bày tỏ), hơn là hai nhóm người khác nhau, tuy ở 4:11 chúng ta cũng được cho biết là có một nhóm riêng biệt các nhà tiên tri.  Bản thân Chúa Giê-xu được nhận diện là đá góc nhà, là tảng đá mà từ đó phần còn lại của cái nền được xây tiếp dọc theo những bức tường dự kiến.  Thế thì, ý chính ở đây có vẻ như là ngôi đền được xây rộng ra và cao lên theo sự mặc khải được ban cho trong Chúa Cứu Thế, qua sự trau chuốt và bổ sung mang tính mặc khải của sự mầu nhiệm qua các nhân vật sứ đồ tiên tri ấy (xem 3:4-11, nhất là c.5).  Nhưng tất cả đều được xây trên Chúa Cứu Thế, được Chúa Cứu Thế hậu thuẫn, và địa thế và hình dáng của tòa nhà đang thi công được xác định bởi Chúa Cứu Thế – là tảng đá góc nhà.  Có một cách lý giải khác đặt Chúa Cứu Thế làm “tảng đá khoá ngôi nhà” (là viên đá đặt cuối cùng, giữ cho toàn bộ ngôi nhà vòm được kết chặt vào nhau), nhưng điều này tuỳ thuộc vào nghĩa cuối cùng của từ ngữ đã được dịch ra là “đá góc nhà”, mà nó lại không thật sự phù hợp với hình ảnh của một ngôi đền thờ đang được xây cất vì nó sẽ hàm ý rằng Chúa Cứu Thế vẫn chưa có chỗ nào trong đó.

Câu cuối cùng của chương này nhắc nhở độc giả về đặc quyền lớn lao của họ vì họ là một phần của toàn bộ công trình xây cất này.  Họ được hoà nhập vào ngôi nhà, là Hội Thánh phổ quát, mà Đức Chúa Trời ngự trong đó bởi Thánh Linh Ngài.  Họ được hoà nhập vào đó bởi Thánh Linh Ngài và nhờ hợp nhất với Chúa Cứu Thế, trong Ngài mọi sự đều được đưa vào tình trạng hài hoà và hoà bình trong vũ trụ, nhờ sự hoà giải được khai mạc tại thập tự giá.

4. Bản tường thuật về sự cầu nguyện được tiếp tục (Eph 3:1)

Sau đoạn tẻ đề quan trọng của Phao-lô (2:11-22), câu 1 một lần nữa xét đến lời tường thuật về sự cầu nguyện của ông cho các Hội Thánh người ngoại quốc (1:15-2:10).  Tuy nhiên, sau khi giới thiệu chính mình như chủ từ cho câu này, Phao-lô lại cắt ngang để đi vào một phần tẻ đề khác nữa ngay trước khi đưa ra động từ chính của câu.  Bản GNB không chấp nhận sự cắt ngang đó nên giải quyết nó bằng cách đưa vào vị ngữ “cầu nguyện với Đức Chúa Trời” để hoàn tất câu này (tương tự bản REB).  Nhưng Phao-lô vẫn không hoàn tất cho đến khi quay trở lại với nó và nhắc lại lời mở đầu của nó trong câu 14 (Đây là chứng cứ hiển nhiên cho thấy bức thư này là một bức thư thật, được viết ra trong lúc vội vàng, chớ không phải là một bức thư cập nhật của Phao-lô, mang tính thần học, được sắp đặt cẩn thận và được viết ra một thế hệ sau đó).

5. Một đoạn tẻ đề: kể rõ chức vụ sứ đồ của Phao-lô (Eph 3:2-13)

Sở dĩ Phao-lô phải đột ngột cắt ngang câu ông sắp viết là vì sau phần tự giới thiệu ngắn gọn trong câu 1, ông cảm thấy phải mở rộng phần dẫn nhập trước khi tiếp tục.  Ông tự xưng mình là kẻ của Đức Chúa Giê-xu Christ (không phải ông nói rằng Chúa Giê-xu là Người cai tù) anh em người ngoại – chính tư tưởng cuối cùng này đòi hỏi một sự đề cập chi tiết hơn.  Chính chức vụ sứ đồ cho người ngoại quốc của ông là điều chi phối câu 2-13 mà phần lớn là mở rộng và sắp xếp lại nội dung của Co 1:23-29.  Đoạn này gồm có ba câu trong Hi văn.  Câu 2-7 xét đến chủ đề về sự bày tỏ điều mầu nhiệm của sự tái hợp nhất phổ quát trong Chúa Cứu Thế đã được đưa vào ở Eph 1:9-10  2:20 - một sự bày tỏ nêu rõ việc người ngoại quốc sẽ được kể đến(6).  Câu văn thứ hai, câu 8-12, tập trung đặc biệt hơn vào vai trò của chính Phao-lô với cương vị sứ đồ cho người ngoại quốc, và vào ân điển lạ lùng đã khiến ông trở thành người được chọn để mang bức thông điệp của Phúc Âm về sự hoà giải phổ quát (tuy chỉ với tư cách là kẻ hèn mọn hơn hết trong tất cả con dân của Chúa).  Cuối cùng, trong câu 13 Phao-lô quay trở lại với những nỗi khốn khổ ông đã phải chịu vì cớ Phúc Am, là đề tài dẫn đến sự tẻ đề nầy.

2-4 Phần tẻ đề bắt đầu với việc Phao-lô chắc chắn rằng các độc giả của ông sẽ được nghe về việc Đức Chúa Trời đã sai phái ông.  Đó là điều có thể nói là vượt quá sự mong đợi của ông.  Bản thân ông đã đem Phúc Âm về việc người ngoại quốc được kể đến, từ Giê-ru-sa-lem đến cả khu vực chung quanh Địa Trung Hải và đến tận Nam Tư (xứ I-ly-ri ở Ro 15:19) và còn dự tính sẽ đi Rô-ma và Tây Ban nha nữa (15:14-24).  Hơn nữa, ông đã lập trụ sở trong ba năm (52-55 S.C.) tại Ê-phê-sô (Cong 20:31) để từ đó, những cộng sự của ông đã đưa Phúc Âm của ông đến ít nhất là về hướng đông, tận Cô-lô-se và Lao-đi-xê, và có lẽ còn đến những trung tâm khác của khu vực ấy nữa.  Tuy nhiên, việc ông nói như thế còn là dấu chỉ cho thấy ông đã viết một bức thư chung, gởi cho các Hội Thánh mà các tín hữu tại đấy chưa từng gặp ông, chớ không phải chỉ gởi riêng cho người Ê-phê-sô, là những người đã không phải chỉ được “nghe nói” về chức vụ của ông mà thôi.

Nếu nghĩa rộng của câu 2-3 là rõ ràng, thì ý nghĩa chính xác của chúng thật khó có thể khẳng định (đối chiếu các bản dịch!).  Phần lớn đều lệ thuộc vào câu đã được dịch là Đức Chúa Trời ban chức cho tôi, ân điển Ngài anh em phó cho tôi.  Bản NIV giữ lại một vài điểm mơ hồ trong bản Hi văn của Phao-lô nhưng câu này có nghĩa là (a) “cách thức mà theo đó Đức Chúa Trời đã giao phó cho tôi ân điển mà Ngài đã ban cho tôi vì cớ anh em”, nghĩa là “Ngài đã bày tỏ sự mầu nhiệm đó cho tôi được biết” (bản NJB) (b) việc mà ân điển Ngài đã ban cho tôi được biểu hiện cho mọi người (Caird) (c) “sự sai phái” (hay trách nhiệm) mà ân điển Đức Chúa Trời đã giao phó (bản NRSV, tham khảo GNB) hoặc (d) kế hoạch (hay sự sắp xếp) của ân điển mà Đức Chúa Trời đã ban cho tôi, nghĩa là nội dung mang tính ý niệm về sự mầu nhiệm (bản NIV).  Các luận cứ đã được phân chia thật hay, nhưng cú pháp và mối liên hệ với câu 3-4 có lẽ được cân nhắc để đưa ra phần ghi chú bên lề, có lợi cho nghĩa thứ nhất.  Thế thì, trong câu 2-4 dường như Phao-lô khẳng định rằng Đưc Chúa Trời đã giao phó cho ông ân điển của Phúc Âm cho người ngoại quốc, bằng cách bày tỏ điều mầu nhiệm đó cho ông mà về điều đó ông đã viết ra được một ít (tức là các chương 1-2), và rằng độc giả có thể bắt đầu lãnh hội được ý nghĩa của trọng tâm của Phúc Âm căn cứ vào những gì ông vừa nói.

5-6 Chuyển sự chú ý sang phần nội dung mới của chân lý đã được bày tỏ.  Cách diễn đạt của Phao-lô cho phép có những lời bóng gió liên quan đến Phúc Âm trong Cựu Ước, và Phao-lô đã lý luận về điều đó một cách trôi chảy, thí dụ như trong Ro 4:1-25  9:25-10:21.  Nhưng việc Đức Chúa Trời khiến người ngoại quốc trở thành những kẻ đồng kế tự, những chi thể của cùng một thân thể (Phao-lô tạo ra một từ ngữ mới để đưa ra luận điểm của ông) cho một dân mới của Đức Chúa Trời, và những người cùng được dự phần lời hứa về công trình sáng tạo mới trong Chúa Cứu Thế, đều dứt khoát là mới.  Cả ba danh từ Phao-lô dùng đều bắt đầu bằng cùng một tiền tố, có nghĩa là “với” (cùng, đồng) như ở đây.  Những khúc sách như Es 2:1-4 thường được hiểu là người ngoại quốc sẽ đầy lòng thán phục mà nhóm lại với dân Y-sơ-ra-ên đã được khôi phục và trở thành những người cải giáo, hay người Do Thái.  Sự bày tỏ có tính quyết định về lẽ mầu nhiệm rằng người ngoại quốc cũng sẽ được hưởng phước đầy đủ đến bây giờ mới được đưa ra, và nó được ban cho các sứ đồ các tiên tri của Đức Chúa Trời.  Trong phần giải nghĩa Eph 2:20 chúng tôi  lưu ý một lý do về cú pháp cho phép chúng ta nghĩ rằng câu này có thể có nghĩa là “các sứ đồ hoạt động như các nhà tiên tri” tuy cú pháp cũng có thể cho phép hiểu “các sứ đồ và các nhà tiên hoạt động như một thể thống nhất”.  Luận cứ mạnh mẽ nhất bênh vực cho cách hiểu sau là 4:11 nhưng thiết tưởng cần phải nói rằng chúng ta không biết nhà tiên tri nào trong Hội Thánh đầu tiên (ngoài các sứ đồ) đã được ban cho sự mặc khải quan trọng như thế, và trong văn cảnh này, đặc biệt là phần bình luận của Phao-lô về nhiệm mạng làm sứ đồ của ông.  Nếu chúng ta hỏi phần cốt lõi của sự bày tỏ này đã đến với Phao-lô khi nào, thì đó chắc chắn là trong từng trải của ông trên con đường Đa-mách (Cong 26:12-18  Ga 1:11-12,15-16), nhưng tiến trình mà theo đó nó được bày tỏ và được thiết lập cho một nhóm sứ đồ đông đảo hơn (5) thì mất thời gian dài hơn (Cong 15:1-41 Ga 2:1-21) và các nhà tiên tri có thể cũng đã tham gia vào tiến trình này.  Một số người nghĩ rằng Cong 15:28 gợi ý như thế.

6 Kết thúc bằng sự khẳng định rằng người ngoại quốc nhận được phước hạnh của họ trong Chúa Cứu Thế, thông qua Phúc Âm.  7 vẫn còn là một phần của cùng một câu Hi văn mà Phao-lô đã bắt đầu trong câu 2 chớ không phải là một phân đoạn mới (như trong các bản dịch NIV và NRSV), sẽ bổ sung cho cả phân đoạn bằng cách quay trở lại với tư tưởng về ân điển và quyền năng mà Đức Chúa Trời đã ban cho Phao-lô để trở thành một tôi tớ của Phúc Âm này.

Chú thích.  Phần mô tả các sứ đồ các nhà tiên trithánh đã tạo nên vấn đề.  Có người hiểu đây là một sự giới hạn của giáo hội Công giáo nguyên thuỷ đối với từ ngữ “các thánh đồ” mà Phao-lô thường dùng để chỉ toàn thể các Cơ Đốc nhân.  (Từ ngữ Hi văn hagios có thể là một hình dung từ có nghĩa là “thánh, được Đức Chúa Trời biệt riêng để dùng cho một công việc đặc biệt nào đó”, hoặc cũng có thể là một danh từ có nghĩa là “người thánh”, “người được biệt riêng ra”, do đó, là “vị thánh” hay “thánh đồ”).  Tuy nhiên, nói như thế vẫn chưa đủ thuyết phục, vì thư Ê-phê-sô dùng từ ngữ ấy theo một nghĩa rộng hơn xuyên suốt cả bức thư (Eph 1:1,4,15,18).  Cũng không có gì rõ ràng ở đây là Phao-lô đặc biệt kính trọng các sứ đồ so với các tín hữu khác, vì trong câu 8 ông tự mô tả mình là kẻ hèn mọn hơn hết trong mọi thánh đồ! Có lẽ phải tìm cách giải nghĩa trong ảnh hưởng của Co 1:26,27 nơi mà cách diễn đạt thì rất giống nhưng cho rằng sự mầu nhiệm đã được bày tỏ cho “các thánh đồ”.  Sau khi đã đọc lại khúc sách ấy trong Cô-lô-se, Phao-lô thay đổi tiêu điểm của nó để đề cập đến sự bày tỏ dành cho các sứ đồ, thì từ ngữ hagios  đơn giản được giữ lại, nhưng ở đây, có một sức mạnh khác hơn, nó đề cập “các sứ đồ và các nhà tiên tri như những người đã được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời” vì vai trò đặc biệt của họ với tư cách là những người nhận được sự bày tỏ trung tâm. 

8-12 đề cập và khai triển chủ đề về sự phục vụ Phúc Âm của Phao-lô.  Lời ông tự xưng là kẻ hèn hơn hết mọi thánh đồ, đi xa hơn lời tự xưng trước đó của ông là kẻ hèn kém hơn hết trong các sứ đồ vì đã chống đối Phúc âm và bắt bớ những người theo Chúa Giê-xu (ICo 15:9  ITi 1:15 là chỗ ông tự xưng là “kẻ đứng đầu các tội nhân”).  Đây là một sự cường điệu có chủ ý, nhằm đề cao ân điển kỳ diệu của Đức Chúa Trời đã khiến ông trở thành vị sứ đồ cho người ngoại quốc với Phúc Âm về kho báu không thể dò thấu của Chúa Cứu Thế, và với ý nghĩa theo chiều kích vũ trụ.  Cụ thể hơn, Phao-lô được giao nhiệm vụ đưa người ta đến chỗ nhìn thấy được sự mầu nhiệm phổ quát được bày tỏ sau cùng, và cách thức mà Đức Chúa Trời đã chọn để thực hiện ý chỉ đời đời của Ngài (9). Động từ được dùng có nghĩa là “soi sáng” và khẳng định rằng đám sương mù tối tăm thuộc linh sẽ bị xua tan.  Có lẽ ngôn ngữ ở đây ám chỉ chủ yếu đến việc trở lại đạo (tham khảo Eph 5:8-14  Cong 26:17-18  IICo 4:4-6  ITe 5:4-5), nhưng Phao-lô hình dung một nghĩa liên tục được thực hiện trong chức vụ dạy dỗ và cầu thay của ông cho các Hội Thánh (Eph 1:18  3:18).  Ý nghĩa của “sự soi sáng” tiếp tục này được nêu ra trong câu 10, toàn bộ mục đích của Đức Chúa Trời trong chức vụ truyền giảng, dạy dỗ và cầu nguyện của Phao-lô là để cho Hội Thánh được gây dựng và trở thành sự bày tỏ về sự khôn ngoan phong phú đa dạng của Đức Chúa Trời (từ ngữ được dùng nguyên có nghĩa là “muôn màu muôn sắc”) cho những kẻ làm đầu những kẻ cầm quyền trong các nơi trên trời.

Câu này có nghĩa gì? Những kẻ làm đầu ở đây có lẽ là toàn bộ những hữu thể trên trời, không phải chỉ có các thiên sứ của Đức Chúa Trời, cũng không phải chỉ gồm các thế lực gian ác ở 6:12 mà thôi, nhưng là cả hai.  Họ là những chứng nhân tập họp lại, và Đức Chúa Trời chứng minh sự khôn ngoan Ngài trước mặt họ.  Ngài làm việc ấy qua một Hội Thánh biểu hiện được sự khôn ngoan ấy.  Sự khôn ngoan đó là kế hoạch đời đời của Ngài trong Chúa Cứu Thế (11) rõ ràng nó không phải là điều gì khác hơn là ý định của Ngài để hợp nhất muôn vật lại trong Chúa Cứu Thế (1:9-10).  Điều đó được biểu hiện trong một Hội Thánh phổ quát trong đó cả người Do Thái lẫn ngoại quốc đều sống và thờ phượng như một thân thể, hài hoà với Đức Chúa Trời và với các anh chị em trong Chúa Cứu Thế (c.6  2:11-12).  Vì vậy, sự dạy dỗ và cầu nguyện của Phao-lô trong Eph 1:1-2:21  được dành để nhấn mạnh và khuyến khích một sự hợp nhất như thế, như lời khuyến giục của ông trong các chương 4-6.  Ông tin rằng đó là một trọng tâm, nếu không muốn nói đó chính là lời chứng trọng tâm của Phúc Âm.  Trong việc này, ông noi gương Chúa Giê-xu, Đấng mà toàn bộ bài cầu nguyện cuối cùng mang tính di chúc của Ngài trong Gi 17:1-26 tập trung vào sự khẩn xin Đức Chúa Trời giữ cho Hội Thánh được hợp nhất trong tình yêu, vốn xứng hợp và làm chứng cho sự hợp nhất của tình yêu giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.

13 Đưa chúng ta trở lại với lời tự xưng của Phao-lô ở câu 1 rằng ông đã “vì anh em là người ngoại” mà bị cầm tù.  Có lẽ các độc giả của ông đã ngã lòng khi Đức Chúa Trời cho phép một chuyện trái ngược như thế, nhưng Phao-lô lại cho họ thấy đó là điều vinh hiển của anh em.  Nói cho cùng thì tại sao ông bị bắt giam? Đó là vì ông bênh vực cho quyền bình đẳng của người ngoại quốc với các tín hữu người Do Thái trong một dân mới được Đức Chúa Trời sáng tạo, tức là thân thể của Chúa Cứu Thế.  Điều đó khiến cho người Do Thái tức giận (và tai hại thay, có một số lại là các tín hữu gốc Do Thái) vì nó đụng chạm đến ý thức về đặc quyền thuộc linh của họ.  Và chính sự chống đối dữ dội của họ đã tạo ra tình hình khiến cho Phao-lô bị bắt giữ, bị cầm tù và cuối cùng phải chịu tử đạo (Cong 21:1-28:31).  Còn gì nữa, Phao-lô đã đi Giê-ru-sa-lem trong ý thức đầy đủ về các hiểm nguy (Ro 15:30-31) và đem tặng phẩm cứu tế thu góp của các Hội Thánh người ngoại quốc cho Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, như một biểu hiện của tình yêu thương và sự mắc nợ của họ đối với Hội Thánh mẹ vì các phước hạnh thuộc linh của Phúc Âm mà họ đã nhận được (15:26-27).  Phao-lô hy vọng rằng điều đó sẽ giúp thắt chặt thêm sự hợp nhất giữa hai Hội Thánh, vốn thường xuyên công kích nhau.  Các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái thực sự đã gây phiền hà cho các Hội Thánh của ông suốt thời gian ông thi hành chức vụ (IICo 10:1-13:13  Ga 1:12,6  Phi 3:1-21) mà nếu là một người kém cỏi hơn, chắc là chỉ có cách rửa tay đối với họ mà thôi.  Tuy nhiên, Phao-lô đã đến Giê-ru-sa-lem với tư cách là sứ đồ rao Phúc Âm cho người ngoại quốc và rao phúc âm về cuộc hoà giải phổ quát.  Là người Do Thái, ông đã tận hiến cuộc đời mình để đem Phúc Âm ấy đến cho người ngoại quốc, và nghĩ rằng việc liều lĩnh để nuôi dưỡng một sự hợp nhất như thế với Hội Thánh của người Do Thái là việc đáng làm.  Chính vì thế mà các xiềng xích của ông là điều vinh hiển cho họ.  Thật vậy, nếu nhìn vào kết cuộc dành cho Phao-lô, thì “ không có gì là quá đáng để nói rằng Phao-lô đã tử đạo cho chính nghĩa hợp nhất Cơ Đốc giáo” (Findlay, The Acts of the Apostles, p.  32).  Tại đây, có một thách thức sâu nhiệm cho các Hội Thánh Tin Lành của chúng ta ngày nay, những người đã quá dễ dàng phân cách và chia rẽ nhau một lần nữa vì các vấn đề về “chân lý”, mà thường không ý thức được rằng làm như thế là chúng ta đang gây tổn thương cho chân lý trọng tâm về sự hoà giải của Phúc Âm, và cho sự khôi phục sự hợp nhất trong Chúa Cứu Thế.

6. Bài tường trình về lời cầu nguyện của Phao-lô được hoàn tất và một bài tán ca (Eph 3:14-21)

Trong phần này, Phao-lô trở lại và hoàn tất câu mà ông đã bỏ dở (1) để đi vào phần kết thúc cho bài tường thuật về lời cầu nguyện mà ông bắt đầu ở Eph 1:17.  Chủ đề ở đây bổ sung cho những gì ông đã nói từ trước cho đến điểm này.  Trong 1:17-23 lời cầu nguyện cơ bản là cho các độc giả có sự thông hiểu thuộc linh sâu sắc hơn về lẽ mầu nhiệm trung tâm của ý chỉ Đức Chúa Trời đặc biệt là cho họ có thể vui vẻ lãnh hội được niềm hy vọng của Cơ Đốc nhân, và tin quyết vào quyền năng phục hồi và cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong họ, là Đấng bắt đầu đưa muôn vật đến chỗ hợp nhất với nhau trong Chúa Cứu Thế.  Ở đây ông cầu xin cho họ có được quyền năng để thông hiểu (và biết rõ thực tại) sự đầy đủ của tình yêu của Chúa Cứu Thế.  Hội Thánh biết được điều đó càng sâu nhiệm thì sẽ phản ảnh càng mạnh mẽ hơn sự thống nhất, sự hài hoà và sự bình an đầy rung cảm của Đấng Mê-si-a, vốn cuối cùng sẽ được Đức Chúa Trời phục hồi trong công trình sáng tạo mới.

Phần cuối bài tường thuật về lời cầu nguyện này của Phao-lô tạo nên tuyệt đỉnh của nó.  14 Ở đây chúng ta thấy Phao-lô sấp mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời, ông quỳ gối, cúi đầu sát đất như một người vâng lệnh, trình lên vấn đề cấp bách nhất cho một nhà vua đầy thế lực (vị thế bình thường hơn để cầu nguyện là đứng).  Chắc Phao-lô muốn nói lên ấn tượng của mình về quyền năng của Đức Chúa Trời.  Nếu Ngài đã được gọi bằng Cha (xem các lời giải nghĩa về Mac 14:36  Lu 11:2  Ro 8:14-17), thì chúng ta phải nhớ rằng đây không phải chỉ là một từ ngữ để nói lên mối liên hệ mật thiết mà thôi.  Bên phương Đông, người cha là người cai trị cả gia đình là người có liên hệ với tất cả các vấn đề quan trọng và là người mà con cái (cho dù có lớn tuổi đến đâu) phải vâng lời.  Khi người Do Thái gọi Đức Chúa Trời là Cha, họ ngụ ý bảo rằng Ngài đang cai trị cái thế giới mà mọi người đều  buộc phải vâng lời Ngài.

15 Ý nghĩa này về quyền năng của Đức Chúa Trời còn được làm nổi bật bởi phần thêm vào “mà cả như trên trời và dưới đất đều được đặt tên”.  Cách dịch của bản NIV có ý ám chỉ đây là một gia đình duy nhất tức là Hội Thánh (kể cả các thánh đồ của quá khứ nữa) nhưng nó đòi hỏi phải có một mạo từ xác định trong Hi văn, mà câu này bị thiếu.  Cách dịch “từng gia đình” được chuộng hơn cách dịch “cả gia đình”(cả nhà), do đó, câu 15 về căn bản là một lời khẳng định rằng Đức Chúa Trời là “Đấng Tạo Hoá” của tất cả các nhóm sinh vật (3:9  ICo 8:6  Co 1:15-18), và với tư cách là Đấng có quyền tối cao để ban cho mỗi cá nhân một “vóc dáng” và một vai trò.  Theo truyền thống Hê-bơ-rơ, việc Đức Chúa Trời đặt tên cho tạo vật của Ngài không phải là dán lên người họ một nhãn hiệu, nhưng là xác định họ là gì.  Độc giả có lẽ sẽ ngạc nhiên tự hỏi tại sao Phao-lô lại dùng chữ “gia đình” ở đây (Hi văn: patia) nhưng độc giả bản Hi văn thấy rõ ràng có việc “chơi chữ” về từ ngữ pater (cha).  Từ ngữ này có nghĩa là tất cả những người do cùng một tổ tiên mà ra, hoặc (khi ứng dụng vào các thiên sứ) nó ám chỉ mọi hữu thể có liên quan.

16-19 Bài cầu nguyện của Phao-lô gồm hai (hoặc có lẽ là ba) lời cầu xin.  Một là, trong câu 16-17, xin Đức Chúa Trời bởi Đức Thánh Linh ban quyền năng mạnh mẽ cho “con người bề trong” (trong lòng của c.17  Eph 1:18 trên đây).  Lời cầu xin này được nói ra không phải bằng lời lẽ đề cập các ân tứ (cherismata) thuộc một loại này hoặc loại khác, mà về việc Chúa Cứu Thế ngự (đầy dẫy hơn) vào lòng các tín hữu, để họ được đâm rễ vững nền trong tình yêu thương.  Bằng cách đặt ở đầu câu 17 hai chữ đến nỗi, các bản dịch NIV và NJB tạo ra cái cảm tưởng Phao-lô có ý muốn nói rằng độc giả cần phải được Đức Thánh Linh ban sức mạnh để rồi (tiếp theo đó) Chúa Cứu Thế sẽ có thể ngự vào lòng họ – nhưng hiểu như thế là không đúng.  Đúng hơn là câu 17 giải thích lời cầu xin, “nghĩa là, để Chúa Cứu Thế có thể ngự vào lòng anh em”.  Đây không phải là một lời cầu xin để được sự từng trải thần bí – càng không phải là để cho bản ngã con người của chúng ta phải bị phá bỏ để chúng ta trở thành “chỉ như những ‘ống dẫn’ mà thôi”.  Điều Phao-lô cầu nguyện là xin Chúa Cứu Thế ngự vào lòng chúng ta bởi đức tin, nghĩa là chúng ta phải sống với lòng tin cậy kính mến Ngài nhiều hơn, cứ ngày càng được nặn đúc một cách sâu nhiệm hơn bởi biến cố về Chúa Cứu Thế (như trong Ga 2:20 chỗ mà phần đầu của câu ấy được giải thích trong phần sau).  Chính sự ngự trị này của Chúa Cứu Thế sẽ tăng thêm sức lực cho đời sống người tín hữu, và giữ người ấy trên một nền tảng vững chắc – nhất là trong những lúc bị thử thách (tham khảo Co 1:11  Phil 4:12, và nhất là trong IICo 11:21-12:10).

Lời cầu xin thứ hai là trong câu 18-19a.  Đây là một lời cầu xin cho được sự hiểu biết thuộc linh sâu nhiệm và một sự nhận biết thật sự tình yêu của Chúa Cứu Thế, mà nghịch lý thay, nó lại vượt xa bất kỳ sự nhận biết nào của con người.  Cần lưu ý rằng nhóm từ được hiệp cùng các thánh đồ rất có ý nghĩa – Phao-lô không chỉ tìm cách để một mình ông được nhận biết tình yêu của Chúa Cứu Thế mà thôi, nhưng là muốn cho tình yêu ấy được nhận biết một cách tập thể và nhất loạt.  Nói một cách chính xác thì cách diễn đạt của Phao-lô trong lời cầu nguyện ở câu 18 không hẳn là để chúng ta sẽ lãnh hội được cả bốn chiều kích của tình yêu của Chúa Cứu Thế.  Cuối cùng thì đó có thể là điều ông muốn nói, nhưng nó đơn giản hoá điều ông muốn nói, tức là “để hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào, và (hay “nghĩa là”) được biết sự yêu thương của Đấng Christ” (như bản dịch NRSB, xem bản NJB).  Trong câu 18 ông không nêu rõ bốn chiều kích đó là của cái gì.  Trong Do Thái giáo, các chiều kích này có thể được dùng để đề cập đến sự khôn ngoan không dò lường được của Đức Chúa Trời (thí dụ xem Giop 11:5-9 nói về cả bốn chiều kích, và  Ro 11:33-34 cũng có một bài tán ca như ở đây, Co 2:2-3), và đó có lẽ cũng là điều mà Phao-lô ngụ ý trong cau này (Eph 3:10).  Nhưng dù là như thế đi nữa, thì sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời cũng được chú trọng ở chỗ nó là tình yêu hợp nhất của Ngài trong Chúa Cứu Thế, do đó mà mối liên hệ mật thiết của nó với câu 19a được bảo đảm.  Cũng có thể (như bản NIV khẳng định) Phao-lô bỏ sót “tình yêu của Chúa Cứu Thế” trong câu 18 là vì nó sẽ được nói rõ ràng qua phần chi tiết trong câu 19a.

19b Hoặc là đưa ra một lời cầu xin thứ ba, hoặc là (đúng hơn) nó nêu ra kết quả của một sự hiểu biết đầy đủ về tình yêu của Chúa Cứu Thế.  Về nghĩa của “dư dật” ở đây xin xem ở 1:23.  Hễ ở đâu tình yêu của Chúa Cứu Thế được nhận biết sâu sắc, thì ở đó Ngài cũng đang thực hiện quyền cai trị của Ngài để hợp nhất cả vũ trụ lại trong chính Ngài trong công trình sáng tạo mới hài hoà với Đức Chúa Trời.

Bài tán ca chính thức kết thúc và chấm dứt nửa phần đầu của bức thư bằng lời mời thờ phượng với lòng biết ơn, như nó đã bắt đầu (1:13-14).  Nó chuyển từ phần cầu nguyện và dạy dỗ của Phao-lô sang những lời khuyến giục trực tiếp tiếp theo đó của ông (các chương 4-6  Ro 11:33-36 cũng có một chức năng tương tự).  Bài tán ca này có công dụng nhắc nhớ các độc giả một lần nữa về quyền năng đầy ân điển và vô hạn của Đức Chúa Trời đang vận hành trong họ (Eph 1:19-2:6) – không phải để khuyến khích những lời cầu xin vị kỷ, nhưng để phát triển niềm hy vọng đầy tin quyết trong công trình sáng tạo mới của Ngài và những lời cầu xin phù hợp với ý định của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh trong thời đại này.  Bài tán ca này hết sức khác thường khi tuyên bố rằng Đức Chúa Trời được vinh hiển qua Hội Thánh (21) nhưng đây là điều thích hợp căn cứ vào khải tượng của Hội Thánh trong kế hoạch phổ quát của Đức Chúa Trời mà Phao-lô đã nêu ra cho chúng ta.  Đó cũng là lời mời gọi ngầm các độc giả hãy tin chắc rằng Hội Thánh sẽ có được đặc tính như thế để phản chiếu vinh quang của Đức Chúa Trời (bao lâu vinh quang ấy vẫn có trong họ).

3. LỜI KHÍCH LỆ HÃY SỐNG THEO PHÚC ÂM VỀ SỰ HÒA GIẢI VÀ HỢP NHẤT PHỔ QUÁT TRONG CHÚA CỨU THẾ (Eph 4:1-6:20)

Phần thứ hai của bức thư thăm dò việc áp dụng Phúc Âm về sự hoà giải và hợp nhất vào sinh hoạt của Hội Thánh.  Phần lớn điều đó xảy ra dưới hình thức một lời kêu gọi trực tiếp, nhưng được xây trên nền tảng là những gì đã được đề cập trong các chương trước, còn nội dung thì luôn luôn được thông báo bằng những gì Phao-lô đã nói trong lời cảm tạ ở phần khai đề, lời tường trình về sự cầu nguyện và phần dạy dỗ.  Chủ đề tái hiện là làm thế nào để “sống” (Phao-lô sử dụng từ ví von trong Hi Bá Lai văn là “bước đi”) trong ánh sáng của Phúc Âm xuất hiện như một sợi chỉ điều chạy xuyên suốt từ Eph 4:1 trở đi (4:17  5:2,8,15).

1. Lời kêu gọi mở đầu: hãy sống một cuộc đời biểu hiện sự hài hoà của công trình sáng tạo mới (Eph 4:1-6)

Trong phân đoạn này, Phao-lô nói về việc chúng ta được hiệp làm một để sống theo cách thể hiện sự hợp nhất phổ quát mà Đức Chúa Trời đã mở đầu.  Do đó khúc sách này đặt âm điệu cho phần còn lại của bức thư, và cung cấp mắt xích nối liền nó với những gì đi trước nó.  Mắt xích ấy không phải chỉ gồm có chủ đề tóm tắt về sự hợp nhất trong mấy câu này, mà cụ thể là trong chữ “vậy” của câu 1, đặt cơ sở cho lời kêu gọi này trong sự dạy dỗ trước đó (cũng như trong Ro 12:1 vậy).  Khúc sách này gồm có hai phần: lời kêu gọi hợp nhất (c.1-3, phần nào khai triển Co 3:12-15) và một lời xưng nhận theo bảy phương diện nhấn mạnh lời kêu gọi ấy (4-6).

1-3 Một lần nữa, bằng việc giới thiệu mình là một kẻ trong Chúa, Phao-lô ngụ ý chỉ về mức độ tận hiến mà ông mong nơi chính ông và những người khác.  Các độc giả chắc chưa quên rằng ông đã chịu tù tội chính là vì lòng nhiệt thành cho sự hợp nhất mà giờ đây ông đòi hỏi nơi họ (Eph 3:13).  Nhưng trước hết, lời kêu gọi của ông là một lời kêu gọi tổng quát hơn phải sống sao cho xứng đáng với sự kêu gọi của Đức Chúa Trời (ITe 2:12  Ro 12:1  Co 1:10).  Sự kêu gọi ở đây là phải dự phần vào sự cai trị của Chúa Cứu Thế trên công trình sáng tạo mới (Eph 1:20-22  2:6), và trở thành một phần của đền thờ trên trời (2:19-22).  Một lời kêu gọi như thế hàm chứa các trách nhiệm của chính nó.  Barth tóm tắt nó như sau: “Các nhà giáo dục cư xử với các hoàng tử không phải là bằng gậy gộc, mà bằng một sự viện dẫn cấp bậc và địa vị của họ”.  Có lẽ ông ta nói đúng, nhưng sự viện dẫn ở đây không phải là các phẩm chất quý phái, khả năng cố thủ, và tính ương bướng và quyền uy.  Trái lại nó kêu gọi một sự khiêm hạ đối với nhau, sự mềm mại và tình yêu đầy nhẫn nại dung thứ vốn bày tỏ sự hoà giải (2  Co 3:12-13).  Như vậy, câu 3 (Co 3:14-15) nêu rõ đây là lời kêu gọi về một đời sống làm phát triển sự hiệp một.

Lời kêu gọi này được lồng trong những từ ngữ không phải là dễ dịch sang Anh văn .  “mệnh lệnh… phải từ bỏ thái độ thụ động, im lặng, thái độ chờ xem… thái độ của anh em phải là chủ động đi bước trước! Hãy làm ngay như thế đi! Phải quyết tâm làm như thế! Anh em phải làm như thế – đó là những âm điệu quá mạnh trong câu 3 (Barth).  Đây không phải là một lời kêu gọi những người nam người nữ hãy xây dựng Nước Trời, đó là một lời cảnh cáo phải “giữ gìn”, đứng bên trong (“duy trì”) sự hợp nhất mà Đức Chúa Trời đã khởi đầu trong Chúa Cứu Thế (bằng các sự kiện của Eph 2:11-22) và chúng ta được ở trong sự hợp nhất ấy nhờ Đức Thánh Linh là Đấng đem Chúa Cứu Thế và những lợi ích của Ngài đến cho chúng ta.  Thánh Linh là Đấng đem đến cho chúng ta nền hoà bình của Đấng Mê-si-a mang sự hài hoà được Đức Chúa Trời ban cho như một sợi dây đoàn kết.  Tuy nhiên, đó là một sợi dây mà tác giả biết rất rõ là rất dễ bị bứt đứt bởi thói kiêu căng, giả dối, kiêu ngạo và sự quyết đoán đầy ích kỷ mà ông sẽ đề cập trong 4:17-5:14.

4-6 nhắc nhở chúng ta về trọng tâm của lời kêu gọi hãy hiệp một bằng cách nhắc đi nhắc lại bảy lần từ ngữ “một”.  Câu 4 gợi lại Co 3:15b, nhưng được nói ra bằng những thuật ngữ trong các chủ đề lớn ở Eph 2:14-17 (một thân thể) 2:18-22 (một Thánh Linh) và 1:11-14,18-23 (một niềm hy vọng).  Bộ ba những điều hợp nhất này dường như tiến dần từ “thân thể” hữu hình (Hội Thánh phổ quát duy nhất hoà giải dân Do Thái với người ngoại quốc) đến Đức Thánh Linh vô hình là Đấng ban cho nó sự hài hoà và sự “bình an” trong Chúa Cứu Thế (3), và sau đó là đến niềm hy vọng tương lai về một sự hài hoà trọn vẹn của vũ trụ mà trong đó Đức Thánh Linh hiện nay được người ta tiếp nhận chỉ như một phần trả góp đầu tiên mà thôi (1:13-14).  Bộ ba thứ hai (5) rất có thể là một sự khẳng định về phép báp-tem truyền thống, được loé lên bởi tư tưởng cuối cùng.  Đức tin vào Chúa Giê-xu là Chúa duy nhất thường xuyên là tiêu điểm của sự tuyên xưng đức tin khi chịu phép báp-tem (Cong 2:34-39  19:5), tuy chẳng có lý do gì để khẳng định rằng nó được dành cho cơ hội ấy.  Với một người Do Thái thì xưng nhận Chúa Giê-xu là Chúa duy nhất cũng tương đương với xưng nhận rằng Ngài là một với Đức Chúa Cha, vì người Do Thái hằng ngày đều đọc kinh Shema (Phu 6:4  Ro 10:9-12  ICo 8:4-6).  Câu 6 đạt tới cao điểm với sự khẳng định của các Cơ Đốc nhân gốc  Giu-đê rằng Đức Chúa Trời duy nhất cầm quyền tể trị hoàn toàn bên trên và bên trong công trình sáng tạo.  Chính là trên giả định này mà mọi hy vọng về tính hợp nhất phổ quát cuối cùng được xây dựng (Ro 11:36  ICo 8:4b-6  Co 1:15-20) và nó chỉ ngược vào Đức Chúa Trời ở Eph 1:3-10.

Cầu lưu ý rằng tất cả những điều này đều đề cập sự hợp nhất cả bên trong chi hội địa phương và đặc biệt hơn, Hội Thánh phổ quát.  Nhiều Cơ Đốc nhân thường quan tâm lo đẩy mạnh sự hài hoà yêu thương của chỉ một hội chúng (thậm chí nhiều khi buồn thay, chỉ là những nhóm người nhỏ trong đó mà thôi!) hơn là giải quyết những chia rẽ giữa các Hội Thánh với nhau.

2. Các ân tứ đắc thắng của Chúa Cứu Thế và sự tăng trưởng trong Chúa Cứu Thế (Eph 4:7-16)

Trong đoạn sách rất hay này, lời kêu gọi là ý ngầm chớ không thể hiện rõ ràng.  Về căn bản nó đưa ra ba điểm.  Một là, Hội Thánh phổ quát được kêu gọi phải tăng trưởng như là một thân thể hợp nhất (15-16) từ chỗ hợp nhất đã được ban cho trong Chúa Cứu Thế (2:11-22) tiến đến sự hợp nhất trọn vẹn với Ngài trong sự hài hoà phổ quát, vốn sẽ là đặc điểm của thời đại sắp qua đi này và sự xuất hiện của công trình sáng tạo mới (13,15).  Hai là mỗi một Cơ Đốc nhân đều có vai trò quan trọng trong đó (7,16b) phù hợp với ân điển được ban cho bởi Chúa Cứu Thế đã thăng thiên và có quyền giải phóng (8-10).  Ba là, Chúa Cứu Thế đã ban các nhà lãnh đạo (về cơ bản là những người có các loạt ân tứ dạy dỗ khác nhau) để đẩy mạnh và hướng dẫn sự tăng trưởng ấy và bảo đảm cho sự hợp nhất liên tục (11-13,16a).  Dòng tư tưởng trong câu 11-16 (chỉ là một câu duy nhất trong Hi văn) là đặc biệt tế nhị.

7-10 Ngôn ngữ và tư tưởng ở đây giống như ngôn ngữ và từ tưởng ở ICo 12:1-31 và Ro 12:1-8 (c.7 đặc biệt giống với ICo 12:4-7 và Ro 12:6).  Khi Phao-lô nói về ân điển của Đức Chúa Trời được ban cho mỗi một người trong chúng ta (toàn thể các tín hữu, như những đại danh từ “chúng ta” ở những chỗ khác trong bức thư này) theo lượng khác nhau, ông đã không giới hạn phạm vi của những gì ông nói với các mục sư trong câu 11 mà thôi.  Điều này đưa ông tới chỗ mô tả về Chúa Cứu Thế là Đấng ban cho mọi ân điển như thế.  Ông trình bày sự phục sinh rồi được tôn cao của Chúa Giê-xu là đem đến sự ứng nghiệm mới mẻ và lớn hơn cho Thi 68:18.  Chúa Giê-xu đã cầm tù các thế lực đang trói buộc chúng ta (Co 2:15) và giờ đây hào phóng ban cho chúng ta các ân tứ của người chiến thắng (chớ không phải là “nhận” lễ vật như trong nguyên văn Thi 68:18).

9-10 Có thể được hiểu theo một trong ba cách sau đây.  Hoặc là Đấng đã lên cao cũng chính là Đấng đã xuống Âm phủ hoặc là Đấng đã lên cao là Đấng trước đây từng hạ cố để nhập thể rồi chịu nhục nhã trên thập tự giá hoặc là Đấng đã lên cao cũng đã trở xuống (trong Thánh Linh) để ban ân tứ cho nhân loại.  Chúng ta quyết định thế nào đây?

 Nhóm từ “các miền thấp ở dưới đất” có thể được lý giải đúng như bản dịch NIV và GNB, nhất là bản REB, có nghĩa là “cấp bậc thấp nhất (của vũ trụ này khi đứng trên trời nhìn xuống) xuống tận chính đia cầu”, và vì thế thì chúng ta sẽ loại trừ cách hiểu thứ nhất.  Cách hiểu thứ ba cũng có thể đúng, nhưng câu 10 gợi ý rằng Chúa Cứu Thế đã từ trời giáng xuống để làm đầy dẫy vũ trụ (về điều này,  Eph 1:23), chớ không phải là Ngài lại từ đó trở xuống để đem các ân tứ đến.  Có lẽ cách chọn thứ hai được chuộng nhất, điểm muốn nói là Đấng đã thăng thiên và hiện đang làm đầy dẫy thế gian này (và ban nhiều loại ân tứ khác nhau cho chúng ta) vốn chẳng phải ai khác hơn là Đấng đã từ trời giáng xuống trước hết trong sự khiêm nhường để hiện thân làm người và chịu chết vì chúng ta (2:14-17).  Việc bước đến thập tự giá (2:17) và sự sống lại của Ngài đã đem đến cho chúng ta bình an, phước hạnh và ân điển của Đấng Mê-si-a mà chúng ta đang hưởng. 

Chú thích.  8 Trong khi Thi 68:18 nói về Đấng đang lên cao nhận lễ vật, thì Phao-lô đổi lại thành “Ngài ban ân tứ cho loài người”.  Đã có nhiều cách lý giải khác nhau về lý do khiến ông làm như thế.  Phải chăng Phao-lô đã biết cách dịch theo truyền thống từ ngữ chalaq (chia sẻ, chia ra) thay vì laqach (nhận) – chỉ đổi một nguyên âm trong Hi Bá Lai văn? Phải chăng ông hiểu laqach theo nghĩa (hợp lý) là “nhận hay nhận cho một người nào đó”, hoặc là theo cách hiểu phổ biến hoặc vì ông tin rằng 68:18 là  cách nói ví von đề cập người Lê-vi được Đức Chúa Trời nhận từ tay dân sự dâng lên (Dan 18:6,19)? Hay Phao-lô chỉ phản ánh cách lý giải của các ra-bi và của kinh Targum về Thi 68:18 rằng Môi-se đã lên cao để học các lời lẽ của luật pháp để rồi “ban lại” cho loài người như các tặng phẩm? Chúng ta không biết chắc chắn, nhưng rõ ràng “ban cho” là một cách hiểu theo truyền thống, hoặc là theo nghĩa trong chính câu ấy hoặc ít nhất cũng là các hàm ý về việc “nhận” của Đấng được tôn cao mà câu này mô tả – và nghĩa sau là tất cả những gì đòi hỏi, vì chúng ta phải nhớ rằng tiêu điểm của Phao-lô chủ yếu không phải là sự trích dẫn lịch sử Thi Thiên, mà là sự ứng nghiệm trong Chúa Cứu Thế và các ân tứ mà Ngài ban cho Hội Thánh.

11-16 Câu 11 minh giải các ân tứ chiến thắng của Chúa Cứu Thế bằng cách chỉ vào một vài loại lãnh đạo trong Hội Thánh.  Phao-lô không giới hạn sự ứng nghiệm 68:18 chỉ ở các ân tứ này mà thôi (như bản NRSV đã ngụ ý): mấy chữ “Vậy nên có chép rằng” mở đầu cho phần trích dẫn chứng minh rằng Phao-lô đã xem tất cả các ân tứ khác nhau của câu 7 cũng là các ân tứ chiến thắng của Chúa Cứu Thế nữa.  Tuy nhiên, vị sứ đồ cố ý nhấn mạnh các ân tứ này theo cách mà chúng kiểm soát và tạo hình cho sự tăng trưởng được hợp nhất của Hội Thánh (12,16).

Việc tuyển chọn các cấp lãnh đạo này đặc biệt đề cao những người bày tỏ, công bố và dạy dỗ Phúc Âm.  Trước hết, sự đề cập cụ thể rằng Chúa Cứu Thế đã ban các sứ đồ và các nhà tiên tri là phù hợp với chức năng bày tỏ cơ bản của “các sứ đồ và các đấng tiên tri” trong Eph 2:20 và 3:5 (tham khảo ICo 12:28, cùng với “các giáo sư” như ở đây).  Phao-lô mong các độc giả của ông hiểu rằng việc họ bày tỏ Phúc Âm về sự hoà giải phổ quát là sự bày tỏ phải tiếp tục định hình và hợp nhất Hội Thánh với sự dạy dỗ của Hội Thánh.  Nhưng chúng ta không được tự do suy diễn rằng thư Ê-phê-sô dạy các sứ đồ và các nhà tiên tri sẽ luôn luôn được ban cho Hội Thánh (như các Hội Thánh phái vãn hồi) , cũng không nên suy diễn rằng trước giả xem họ chỉ là các nhân vật của quá khứ, được thay thế bởi các nhà truyền đạo và mục sư. (như nhiều nhà giải kinh hiện đại đã suy diễn).  Hai loại lãnh tụ sau cùng được đề cập vì họ là hình thức những cộng sự của Hội Thánh mà các độc giả thường gặp.  Phúc Âm vốn đã được truyền giảng cho các độc giả bên ngoài thành phố Ê-phê-sô chủ yếu là do các nhà truyền giáo đồng công với Phao-lô, chớ không phải do bản thân Phao-lo.  Và vào cuối chức vụ của Phao-lô, từ ngữ “mục sư ” đã được sử dụng song song với “kẻ coi sóc, giám mục” và “trưởng lão” như những từ tương đương đại khái với “người lãnh đạo Hội Thánh” (Cong 20:17,28 chỗ các “trưởng lão” được gọi là “kẻ coi sóc” thi hành công tác “chăn bầy” mục sư).  Ở đây “mục sư” và “giáo sư” có chung một định quán từ duy nhất trong Hi văn, và điều này có lẽ gợi ý rằng họ vốn thuộc về cùng một nhóm người (“mục sư cũng là giáo sư”), nhưng trong bảng liệt kê dài hơn về các chức vụ khác nhau, thì càng có lý hơn là hai nhóm người này có hai chức năng trùng lắp nhau (thí dụ như chức năng “dạy dỗ”), còn “ các giáo sư” lại là một nhóm phân biệt (ICo 12:28-29  Ga 6:6).  Chẳng bao lâu sau thời của Phao-lô, quyền lãnh đạo trong Hội Thánh được tập trung vào một chức vụ gồm ba phương diện là người chăm sóc/giám mục, trưởng lão và chấp sự.  Sự vắng mặt của những danh từ này trong Eph 4:11 vẫn là chứng cứ mạnh mẽ nhất rằng bức thư này được viết vào thời của Phao-lô chớ không phải là sau đó.

12 Các nhà lãnh đạo này được cho biết là đã được ban cho Hội Thánh nhằm ba chủ đích phối hợp.  Chúa Cứu Thế ban họ cho Hội Thánh là để trang bị hay hoàn thiện các thánh đồ, để phục vụ các nhu cầu của Hội Thánh, và để gây dựng thân thể của Chúa Cứu Thế.  Cách lý giải của Giáo hội Tin Lành truyền thống (hiện được phản ảnh trong tất cả các bản dịch hiện đại kể cả bản NJB) đã giới hạn chức năng của các nhà lãnh đạo ở chức năng thứ nhất  và lý luận rằng chính các thánh đồ đã được trang bị sau đó sẽ phục vụ và gây dựng Hội Thánh, chớ không phải là các lãnh đạo ấy.  Đề xuất rằng nhóm người sau là chủ từ của cả ba câu trên đây được cho là cách lý giải của “Công giáo” và của “giới tăng lữ”.  Nếu bất kỳ cách lý giải nào của “giới tăng lữ” đều rõ ràng là bị hai câu 7 và 16 loại trừ (những chỗ mà các thánh đồ dứt khoát được tham dự việc gây dựng Hội Thánh) thì càng có lý hơn là các chức năng của các cấp lãnh đão vẫn còn được đề cập trong cả câu 12.

Theo câu 13, các cấp lãnh đạo được giao hoàn tất nhiệm vụ đã được phác hoạ trong câu 12 “cho đến chừng chúng ta đều được hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời”.  Không phải Phao-lô đang mô tả một giai đoạn tương lai nào đó trong lịch sử, khi Hội Thánh dần dần đạt đến thống nhất về tín ngưỡng và tổ chức để trở thành một Hội Thánh trưởng thành, như  bản NIV đã gợi ý.  Đúng hơn là ông dự báo sự tái lâm của Chúa Cứu Thế, sẽ kết thúc sự hợp nhất phổ quát đã được bắt đầu tại thập tự giá (Eph 2:11-22).  Bởi đức tin và sự nhận biết Đức Chúa Con, chúng ta được dự phần vào sự hiệp nhất này rồi  (nó thật đã được ban cho chúng ta để duy trì 4:2), thế nhưng chúng ta vẫn phải chờ đợi để thấy nó được hoàn thiện.  Khi Chúa tái lâm, và chỉ khi ấy, chúng ta, nghĩa là Hội Thánh tập thể phổ quát, mới sẽ “thành Người Trọn Vẹn, hoàn toàn trưởng thành bằng sự đầy dẫy của chính Chúa Cứu Thế” (NJB) hay có lẽ đúng hơn là “nên Bậc Thành Nhơn, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ”.  Tư tưởng ở đây chủ yếu là tư tưởng ở Co 3:4 nhưng có sự nhấn mạnh về sự tồn tại chung của Hội Thánh phổ thông như một thân thể duy nhất.  Các nhà lãnh đạo được ban cho là nhằm hoàn tất các chức năng của câu 12 “cho đến chừng nào” sự tái lâm của Chúa Cứu Thế sẽ đưa Hội Thánh của Ngài đến mức trưởng thành trọn vẹn.  Nhưng từ “cho đến chừng nào” này cũng có các hàm ý là “hướng tới” nữa.  Điều mà đến cuối cùng Chúa Cứu Thế sẽ hoàn thiện, là mục tiêu mà các nhà lãnh đạo đã được giao cho để đạt tới, nhờ ân điển của Đức Chúa Trời.

Bằng cách đặt câu 14 thành một phân đoạn mới và bắt đầu phân đoạn này với từ “như thế” (then) (thay cho một từ ngữ Hi văn có nghĩa là “cho nên, thế thì” – “so that”), bản NIV lại gợi ý về một thời đại hoàng kim trong tương lai cho Hội Thánh lịch sử.  Vì câu 14-16 vẫn thuộc về một câu duy nhất đã bắt đầu ở câu 11, nên dòng tư tưởng đã trở nên tinh tế hơn. Trong khi ấy, Chính Chúa Cứu Thế đã ban các nhà lãnh đạo để cung cấp sự hướng dẫn mà Phúc Âm và niềm hy vọng của chúng ta đã chỉ rõ.  Sở dĩ Ngài ban các nhà lãnh đạo cho Hội Thánh là để cho chúng ta không còn bị kẹt trong tình trạng ấu trĩ ( nạn nhân của mọi áp lực), mà bắt đầu tăng trưởng, hướng tới mức trưởng thành đã được tiên liệu, nghĩa là trở thành giống hệt như Chúa Cứu Thế vậy.  Nếu đến đây, hình ảnh này hầu như có thể gợi ý rằng Hội Thánh đang tăng trưởng hướng về một nhân cách độc lập giống như Chúa Cứu Thế, thì việc chuyển hình ảnh ấy sang tình trạng ở cuối câu 15 nhắc nhở độc giả rằng Chúa Giê-xu chính là Chúa (đầu) của toàn thể diễn trình ấy và ý định cho Hội Thánh là phải tăng trưởng để được hợp nhất mật thiết hơn với Ngài. Phao-lô kết thúc phân đoạn này bằng hình thức hiệu đính lại Co 2:19, và tìm cách tóm tắt lại mọi điều đã được đề cập đến đây.  Rút cục thì sự tăng trưởng của cả thân thể đến từ Chúa Cứu Thế, nhưng thân thể chỉ tăng trưởng khi mỗi chi thể đều thực hiện công tác gây dựng từng phần của mình trong tình yêu thương (tái xác quyết câu 7 và làm sáng tỏ rằng không phải chỉ có các cấp lãnh đạo mới gây dựng Hội Thánh).  Từ đầu chí cuối, công tác gây dựng và tăng trưởng đó đều được giữ trong sự hợp nhất và liên hệ với nhau bằng tất cả những mối dây hỗ trợ, nói lên vai trò của các nhà lãnh đạo với chức năng dạy dỗ.  Tất cả những điều này đưa ra một thách thức cho chúng ta ngày nay: các nhà lãnh đạo của chúng ta có đang tìm cách đẩy mạnh loại tăng trưởng hợp nhất của toàn thể Hội Thánh Đức Chúa Trời và chúng ta có muốn làm theo như thế hay không?

3. Những lời kêu gọi từ bỏ nếp sống của con người cũ để sống theo con người mới được bày tỏ trong Chúa Cứu Thế (Eph 4:17-6:9)

(Eph 4:17-32)

Tài liệu tiếp theo đây xem xét những lời kêu gọi ở Co 3:5-4:2.  Trong thư Cô-lô-se, Phao-lô lồng phần mô tả của ông về đời sống của Cơ Đốc nhân chủ yếu bằng những thuật ngữ về sự tương phản giữa việc tìm kiếm những điều ở trên cao, với việc giết chết cái bản tính thuộc về đất (Eph 3:1-6 nhằm sửa lại mối quan tâm khác và không lành mạnh về những điều thuộc về trời).  Trong thư Ê-phê-sô, nét tương phản chiếm ưu thế là trong 2:1-22 tức là nét tương phản “trước kia –bây giờ” của sự phân rẽ trước kia với sự hợp nhất và hài hoà trong công trình sáng tạo mới hiện nay.  Tuy ngôn ngữ được dùng trong tiêu đề trên đây thật ra chỉ có ở 2:15 và 4:22-24 nhưng điều này đưa ra một cách ví von sâu sắc, thích hợp cho cả đoạn sách. Các phần nhỏ của nó lại làm nổi bật nhiều điểm nhấn mạnh khác nhau bên trong chủ đề về đời sống trong công trình sáng tạo mới: 4:25-5:2 đề cập trước nhất các tội như giận dữ và gian dối, có thể gây bất hoà và chia rẽ nhau trong Hội Thánh, 5:3-14 cảnh cáo các tín hữu đừng sa vào sự tối tăm của cái thế giới đang vây quanh (nhất là các tội gian dâm) đã có lần phủ trùm lấy họ 5:15-20 làm tương phản giữa sự dại dột của đời này với sự khôn ngoan của cuộc đời mới do Đức Chúa Trời định hướng còn 5:21-6:9 xem xét thế nào các mối liên hệ vợ chồng, cha con, và chủ tớ có thể phản ảnh sự hợp nhất phổ quát mà Đức Chúa Trời đã khởi đầu trong Chúa Cứu Thế.

Eph 4:17-24  Hãy vứt bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới  Lời khẩn nài đầu tiên rằng các độc giả hãy vứt lại sau lưng cách sống cũ của người ngoại quốc (17) phần này được vẽ bằng những màu tối (18-19  Co 1:21 3:7) nhằm đưa ra một sự tương phản rõ rệt với những gì họ được nghe về Chúa Cứu Thế trong Phúc Âm (20-21).  Ngài là mẫu mực cho nhơn tánh trong công trình sáng tạo mới (con người mới), nên Phao-lô nhắc nhở các độc giả của ông rằng, bởi đó trong Phúc Âm có lời truyền dạy về sự cần thiết phải vứt bỏ nhơn tánh tội lỗi cũ đi, để mặc vào nhơn tánh mới vào (22-24  Co 3:8-10).

17-19 Đối chiếu mấy câu này với những câu rất giống trong Ro 1:18-32 (nhất là Eph 1:21,24).  Bạn có thể thấy là ở đây, phù hợp với một lời kêu gọi, có một điểm được nhấn mạnh nhiều hơn trên trách nhiệm của mọi người là phải từ bỏ tội lỗi (Ro 1:24,26,28, “Đức Chúa Trời đã phó họ cho…” với c.19 họ đành bỏ mình trong).  Cũng như trong Rô-ma, vấn đề nầy được vạch rõ là do tư tưởng thích thờ thần tượng (từ “sự hư không” trong câu 17 đã gợi ý ngay điều này cho một tác giả người Do Thái), tội không nhận biết Đức Chúa Trời, và”sự cứng lòng”.  Trong Kinh Thánh, câu sau cùng này có nghĩa là sự phản nghịch hoàn toàn, chớ không phải chỉ là sự vô cảm xúc mà thôi (tham khảo lời hứa trong Exe 36:26-27).  Tình trạng này dẫn đến sự hiểu biết tối tăm hơn khi Đức Chúa Trời bị dời khỏi vị trí trung tâm mà lẽ ra đó là chỗ của Ngài.  Tội này lại dẫn đến việc lương tâm của con người bị sa bại và cứ tuột dốc để cứ ngày càng sa vào tội lỗi (19).  Tất cả đã được tóm tắt bằng một trong các từ ngữ then chốt của bức thư, là “xa cách” (18,  Eph 2:12  Co 1:21).

20-24 Đặt tương phản đời sống theo cách của người ngoại quốc trước kia của các độc giả với những gì họ đã được truyền dạy liên quan đến Chúa Cứu Thế, cả trong lời truyền giảng đầu tiên lẫn trong lời dạy dỗ sau đó.  Xin chú ý câu 20-21 là tấm gương phản chiếu Co 2:6-7 vốn cung cấp ý nghĩa cơ bản ở đây.  Điều họ đã học hỏi được về Chúa Cứu Thế, ấy là Ngài là hiện thân của lẽ thật (thần tính, sự sáng và sự sống) trái hẳn với sự giả dối (không có thần tính, bóng tối và hư không) là đặc điểm của đời sống trước đây của họ (21-22). Cách dùng từ Hi văn của Phao-lô ở đây không phải là dễ hiểu, và theo nghĩa đen là “anh em đã được dạy dỗ trong Ngài, như chân lý vốn ở trong Chúa Giê-xu, để vứt bỏ nhơn tánh/người cũ tương ứng với cách sống trước kia đi… và mặc lấy nhơn tánh/con người mới”.  Nói khác đi, các độc giả được dạy rằng Chúa Giê-xu là hiện thân của chân lý, và nếu họ muốn sống trong đó, thì cần phải vứt bỏ đời sống cũ của họ đi để mang lấy đời sống mới giống như cuộc đời của Ngài vậy.  Theo Barth, “người cũ” phải vứt bỏ là A-đam còn “người mới” phải mặc vào là Chúa Cứu Thế (Ro 6:6  13:14  Ga 3:27b).  Ở đây có một yếu tố quan trọng của chân lý, nhưng cả hai chỗ giống như thế trong Co 3:1-4,8-10  Eph 4:24b-32 đều gợi lên một sắc thái khác. Phao-lô không nghĩ đến những cái đại diện cho những con người cũ và những con người mới cho bằng ông nghĩ về hai loại bản tính khác nhau, vốn là đặc điểm của mỗi loại người. Phao-lô muốn khích lệ các độc giả của ông hãy đổi mới tâm trí (cho khác hẳn với tâm trí đã dẫn vào câu 17-19), để sống theo bản tính của con người mới mà Đức Chúa Trời đã tạo nên trong họ.  Theo câu 24 “bản tánh mới” đó “đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời”, điều mà Phao-lô cũng có thể nói về Chúa Cứu Thế! Đặc điểm của nó là sự công chính thánh khiết nảy sinh từ “chân lý” và chiếu ra “chân lý”.

Có lẽ lời truyền dạy này của Phao-lô nguyên được nói theo chỉ định cách – hợp nhất với Chúa Cứu Thế thì nhân tánh cũ tội lỗi của anh em đã bị đóng đinh vào thập tự giá rồi, và anh em đã được khiến sống lại với một đời sống mới (Ro 6:1-23  IICo 5:17  Co 2:11-12 mà rõ ràng nhất là với Co 3:9-10 là chỗ giống nhau trực tiếp), nhưng những động từ theo chỉ định cách như thế hàm ý tượng trưng với mệnh lệnh cách (như ở đây, tham khảo Ro 6:1-23) chúng ta có trách nhiệm phải thể hiện một nếp sống hết sức nghiêm túc và mạnh mẽ những gì Đức Chúa Trời đang thực hiện trong chúng ta (Phi 2:12-13).  Không làm như thế, tức là sống gian dối (22) theo con người cũ chớ không phải là sống trong “chân lý” của con người mới (24, tham khảo câu 21).

Eph 4:25-32 Sống theo chân lý mà Chúa Cứu Thế Giê-xu vốn là mẫu mực (4:25-5:2).  Nếu nhơn tánh của con người mới phản chiếu “chân lý” được bày tỏ trong Chúa Giê-xu (21,24) chớ không phải là của nhơn tánh cũ “giả dối” thì các Cơ Đốc nhân  phải nói thật chớ không thể nói dối.  Nhưng chân lý được bày tỏ tập trung vào sự hoà giải và hợp nhất phổ quát, nên Phao-lô thêm rằng chúng ta phải chừa sự nói dối chúng ta chi thể của nhau (thuộc về cùng một thân thể).  Nghĩa là chúng ta không còn là những con người riêng lẻ xa lạ phân cách nhau, độc lập với nhau nữa, nhưng là những con người  thuộc về nhau và hợp nhất với người khác nên chúng ta không thể giấu đi cái chân lý mà họ phải theo đó để quyết định và hành động.  Sự dạy dỗ còn lại của đoạn này đặc biệt chú trọng vào tội giận dữ với anh em mình (26) và các tội lỗi liên quan (29-31).  Thay vào đó, các tín hữu được kêu gọi hãy sống theo chân lý mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ ra trong Chúa Giê-xu (Eph 4:32-5:2).  Toàn bộ về căn bản là viết lại Co 3:8-12.

26 Nêu chủ đề chính của khúc sách: cơn giận.  Cách dịch “có giận thì chớ phạm tội” hoàn toàn không lột tả được cách nói mạnh của nguyên văn.  Đây không phải là một lời khuyến khích cho cơn giận đúng (rõ ràng là mọi cơn giận đều bị Eph 5:31 định tội).  Đây là một sự cảnh cáo “nếu anh em căm giận, thì hãy coi chừng! Anh em đang đứng tại ngưỡng cửa của tội lỗi đấy!” Nếu bên phương Tây, căm giận được xem là một dấu hiệu của cá tính, thì truyền thống Do Thái ý thức rõ ràng hơn về năng lực gây chia rẽ, phá hoại từ Sa-tan màđến của nó (xem phần chỉ trích sắc bén về cơn giận và mối nguy hiểm của nó trong sách Testament of Dan   1:18-5:2).  Căm giận, và các tội có liên quan trong câu 29 và 31, là bảng liệt kê tóm tắt các tội mang tính phá hoại về mặt xã hội và gây phân rẽ, nó là đặc điểm của con người cũ.  Trộm cắp (28) là một tội khác vì nó không phải chỉ là cướp bóc tài sản (gần như bị mất mát do tai nạn bất ngờ) nhưng là một sự tấn công một cách nhơ nhuốc vào khu vực riêng tư của một người và là tội tiêu diệt lòng tin cậy trong cộng đồng.  Những điều này và nhiều điều khác nữa cùng loại đều làm buồn Đức Thánh Linh (một câu nói ám chỉ Es 63:10), theo nghĩa là chúng đi ngược lại với chiều hướng hoà giải, hợp nhất công trình sáng tạo mới trong người tín hữu.  Thay vì các hoạt động phá hoại mang tính xã hội đó, Phao-lô bênh vực cho những hành động liên kết, gây dựng, và tạo khuôn mẫu của một cuộc đời mới được tóm tắt và thể hiện trong Chúa Cứu Thế: kẻ vốn trộm cắp xưa kia phải trở thành người lương thiện (28), không nên dùng lời nói để gây đau lòng hay làm đổ lệ mà phải nói lời lành (29), thay vì căm giận, người tín hữu phải chứng minh bản tính hay tha thứ của Đức Chúa Trời (32,  Eph 5:1) và tình yêu hy sinh thân mình của Chúa Cứu Thế, Đấng đã chịu chết để chuộc tội cho chúng ta (5:2).

(Eph 5:1-33)

Eph 5:1-2; xem giải nghĩa 4:25-32

Eph 5:3-14 Sống trong ánh sáng từ Chúa Cứu Thế Giê-xu! Đoạn này gồm hai phần: câu 3-7 cảnh cáo các tín hữu chớ nên dính dáng đến các tội gian dâm trong lòng, tội loạn dâm và tham dục của thế giới người ngoại, và câu 8-14 nêu ra đặc điểm của các tội lỗi ấy là thuộc về sự tối tăm trước kia mà họ đã từ bỏ để quy đạo, và giờ đây họ đã được ánh sáng chiếu rọi.  Chân lý của Đức Chúa Trời được đề cập trước đây là “đạo thật” hay “ánh sáng” tương phản với “sự tối tăm” (Thi 27:1  Es 9:2  42:6 60:1-3  IICo 6:14).  Một nhị nguyên luận tôn giáo đạo đức tương tự cũng đã được khai triển mạnh mẽ tại Qumran (và trong sách The Testaments of the Twelve Patriarchs).  Trong các thư tín của Phao-lô, “ánh sáng” thường đề cập sự cứu rỗi và các thực tại về con người mới đã được bắt đầu, thế nhưng vẫn chưa được bày tỏ đầy đủ (đặc biệt xem Ro 13:11-14  ITe 5:4-8 là những chỗ rất giống với khúc sách này xem IICo 4:6 Co 1:12).

3-7 Đoạn trước chủ yếu cảnh cáo đối với các tội lỗi bộc lộ trong lời nói, ở đây cũng thế, chuyện gian dâm, tục tỉu “thậm chí chớ nên nói đến” (các bản NJB, REB, NRSV đã dịch đúng), lại càng không nên đùa cợt về chúng (4).  Đây không phải là một lời kêu gọi dè dặt quá đáng, hay tránh né sự trung thực trong công tác mục vụ, nhưng là một lời cảnh cáo chống lại những cuộc trò chuyện dung dưỡng một sự mê đắm hầu như không thể tránh khỏi biến thành hành động.  Có lẽ chưa có thế hệ nào phải chịu ảnh hưởng tai hại lớn lao cho bằng nền văn hoá phương Tây hiện nay.  Và Phao-lô cảnh cáo rằng những việc đó vốn thuộc về nhơn tánh cũ bị đặt dưới cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời (6 tham khảo Co 3:6) và đã bị loại trừ khỏi công trình sáng tạo mới (5 tham khảo ICo 6:9).

8-14 Xin chú ý tính chất trôi chảy như nước mà ngôn ngữ biểu tượng đề cập “sự sáng láng” và “tối tăm” đã dùng ở đây: về bản chất nó lưu xuất từ Chúa Cứu Thế (14b) như sự sống của Đức Chúa Trời có tác dụng biến đổi – sự sống có thể nói là tạo ra trái của chân lý và sự thánh khiết (9  Ga 5:22-23).  Nhưng những người được nó biến đổi cũng có thể được gọi là người sáng láng (8) còn các hoạt động của họ (khi chúng thật sự phù hợp với nhơn tánh của công trình sáng tạo mới) cũng là sự sáng theo nghĩa là vạch trần các chuẩn mực của người ngoại quốc để cho thấy chúng vốn thuộc về sự tối tăm (11,13). Câu 14b có vẻ như là một bài thánh ca Cơ Đốc dùng cho phép báp-tem, rút ra từ Es 26:19 và 60:1-2. Nó được thêm vào, không phải là để biện minh cho câu 14a, nhưng là để tóm tắt toàn bộ lời kêu gọi (2-14) hãy bỏ lại sau lưng lãnh vực của sự tối tăm và sự chết.

Eph 5:15-32 Sống trong sự khôn ngoan mà Thánh Linh ban cho (5:15-6:9).  Cùng với tiếng gọi hãy từ bỏ điều gian dối để tiếp nhận chân lý trong Chúa Giê-xu (Eph 4:17-5:2) và từ bỏ bóng tối để tiếp nhận ánh sáng từ Ngài (5:3-14), Phao-lô thêm vào tiếng gọi hãy từ bỏ điều dại dột để tiếp nhận sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh ban cho.  Đặc biệt là sự khôn ngoan đó được biểu hiện trong cách sử dụng thì giờ một cách khôn ngoan, trong việc tận tâm thờ phượng và cảm tạ, và trong sự tôn trọng và đầu phục lẫn nhau (15-21).

18-24 Về văn phạm thì mấy câu này chỉ là một câu duy nhất (bị tất cả các bản dịch làm cho tối nghĩa).  Nó muốn nói rằng lời truyền dạy cho những người vợ và người chồng trong hai câu 22-23 (cùng với tài liệu tương tự tiếp theo đó trong 6:1-9) được trình bày như một thí dụ điển hình của sự khôn ngoan biết tôn trọng, đầu phục lẫn nhau và phải là đặc điểm của các tín hữu.  Lẽ dĩ nhiên, động từ “vâng phục” trong câu 22 của phần lớn các bản dịch đều không tương xứng với bản Hi văn của Phao-lô, mà phải được hiểu căn cứ vào cách xuất hiện của nó như một phân từ lệ thuộc trong vế “vâng phục nhau” của câu 21.

Tuy 5:22-6:9 bị “ép” vào một sự hợp nhất chặt chẽ với 5:15-21 nhưng nó vốn có một hình thức và nguồn gốc độc lập.  Luther đề cập đến số tài liệu này là “các quy tắc trong nhà”, và rõ ràng là chúng đã được lưu hành rộng rãi trong Hội Thánh (Co 3:18-4:1  IPhi 2:18-3:7).  Những “bản nội quy” tương tự cũng có thể tìm thấy trong Do Thái giáo và trong những cuộc tranh luận về đạo đức học của các triết gia Hi Lạp.  Lời lẽ và nội dung của một hình thức đơn giản hơn thế (được giữ gìn trong thư Cô-lô-se) gợi ý về một nguồn gốc từ cộng đồng Cơ Đốc nhân Do Thái nói tiếng Hi Lạp.  Trong khi các quy tắc của người Hi Lạp chỉ đề cập người đàn ông tự do về cách thức cai trị vợ, con và nô lệ, thì các quy tắc của người Do Thái cũng đề cập và bảo vệ những thành viên yếu đuối trong gia đình. Nội dung đặc biệt mang tính Cơ Đốc của bản nội quy trong bức thư Cô-lô-se chủ yếu nổi bật nhờ mấy chữ “theo Chúa” (Co 3:18), “đẹp lòng Chúa” (3:20) hoặc “vì kính sợ Chúa” (3:22) được nhắc đi nhắc lại (3:23-24).  Nó còn được trau chuốt đầy đủ hơn trong phần thư Ê-phê-sô vốn nhắc lại và khuếch đại lời truyền dạy trong 3:15-4:1.  Phần trau chuốt nhiều kịch tính nhất là lời khuyên những người làm chồng và làm vợ mà Phao-lô đã dùng để làm thí dụ cho sự hợp nhất giữa Chúa Cứu Thế với Hội Thánh.  Ở đây, 19 chữ của 3:18-19 đã được mở rộng thành ra 200!

Một số các nhà giải kinh đã lý luận rằng đạo đức của các nội quy này có tính cách về mặt xã hội, và điều đó được chứng minh trong lời yêu cầu hai bên phải vâng phục lẫn nhau (21), mà họ hiểu theo nghĩa là chồng phải vâng phục vợ, cha phải vâng phục con cái và chủ phải vâng phục nô lệ, cũng như ngược lại.  Tuy nhiên, dù gì đi nữa, các nội quy này được gọi là bảo thủ về phương diện xã hội là mang tính tộc trưởng, thì nó vốn được đưa ra là để xác nhận rằng các Cơ Đốc nhân không phải là đang phá hoại ngầm cách hiểu phổ biến hơn về trật tự xã hội (xem Lincoln).  Bảng nội quy trong thư Cô-lô-se (có lẽ chỉ được viết ra vào những ngày trước thư Ê-phê-sô) đòi hỏi đúng những kiểu vâng phục và vâng lời bề ngoài giống như thế, là điều có thể được tìm thấy hầu như ở bất cứ nơi nào trong thế giới cổ.  Ta không nên hiểu câu 21 là đã vượt qua điều đó, nhưng như một lời kêu gọi vâng phục lẫn nhau bên trong từng giai cấp, và là sự vâng phục của con cái đối với cha mẹ, của nô lệ đối với chủ (và vợ của chủ) và của vợ đối với chồng.  Giả sử Phao-lô thật sự muốn nói về một sự vâng phục lẫn nhau trọn vẹn (mà như thế thì sẽ là chuyện hoàn toàn bất ngờ trong thế giới cổ đại) chắc ông cần phải làm sáng tỏ điều đó bằng cách ít nhất là nói ra một lần và nói một cách rõ ràng rằng cha mẹ phải vâng phục con cái chẳng hạn.

Tuy nhiên, khẳng định rằng các bản nội quy này có tính cách thủ cựu hơn là có tính cách mạng về phương diện xã hội sẽ là điều sai. Trong trật tự xã hội có giai cấp thì các bản nội quy này tự đề cao là mang tính cấp tiến và có tính cách giải phóng sâu sắc.  Nô lệ, con cái và người làm vợ đã được xưng hô đặc biệt (một việc bất bình thường trong thế giới cổ): họ có được những lời kêu gọi riêng là phải sống trước mặt Chúa một cách có trách nhiệm, đáng trọng đáng kính, và quan trọng cũng như lời kêu gọi dành cho người chủ, người cha và người chồng vậy.  Điều này được bảo đảm bởi sự giáng lâm của Đức Chúa Con trong sự đầu phục trọn vẹn đối với Đức Chúa Cha, và để phục vụ Hội Thánh bằng cách phó mạng sống mình cho Hội Thánh.  Lẽ dĩ nhiên, chính các đẳng cấp xã hội mà các bản nội quy ấy hậu thuẫn cũng được thừa nhận là phù du và chỉ có ý nghĩa thứ yếu trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng chẳng tây vị (9), ở dưới quyền của Chúa, mọi sự đều được thực hiện là vì Ngài, và cả chủ lẫn tớ đều phải chịu trách nhiệm ngang nhau.  Như thế, các bản nội quy này cũng xác nhận Ga 3:28 và Co 3:11 - và bức thư Ê-phê-sô đã đưa đến một sự hiểu biết mới, đặc biệt cấp tiến của Cơ Đốc giáo về hôn nhân (Eph 5:22-23).

15-17 Lời kêu gọi hãy sống một cuộc đời phản chiếu sự khôn ngoan chớ không phải là sự dại dột, được nêu ra theo ba cách có liên hệ.  Cách thứ nhất đã được bản NJB lột tả rất đúng: “Hãy tận dụng thì giờ hiện tại, vì đây là thời kỳ gian ác” (16) và có lẽ nên hiểu câu này có nghĩa rằng các thế lực tà ác đang nắm chặt nhân loại của thời đại này (trong móng vuốt của chúng), dẫn họ vào sự không vâng lời tự dung dưỡng (2:1-3) nhưng các Cơ Đốc nhân  phải lập trật tự đời sống và các ưu tiên của họ vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.  Rồi câu 17 kể thêm một chi tiết có liên quan khác: ai tìm cách khám phá và sống theo ý chỉ Đức Chúa Trời thì phải từ bỏ cách sống dại dột.

18-21 Kể ra đặc điểm thứ ba, đặt tương phản một đời sống say sưa rượu chè với một đời sống đầy dẫy Thánh Linh.  Sự tương phản ở đây không phải là giữa hai cách say: say rượu chỉ là một sự biểu hiện thường xuyên, sự dại dột trong nền văn minh khôn ngoan Do Thái, tương phản với Thánh Linh vốn được xem như nguồn mạch của sự khôn ngoan và thông hiểu (như ở 1:17).  Không nên hiểu đầy dẫy Đức Thánh Linh ở đây theo nghĩa là ân tứ (charismatic) phân biệt của Đức Thánh Linh (tuy nghĩa ấy cũng có thể đưa vào đây) mà căn cứ vào ngôn ngữ đổ đầy, đầy dẫy ở nhiều chỗ khác nữa trong bức thư này (1:23  3:19  4:10), là sự hiện diện tích cực liên tục của Đức Thánh Linh làm trung gian giữa Chúa Cứu Thế và sự sống của công trình sáng tạo mới.  Từ câu 19 trở đi là một phần của cùng một câu như câu 18 và kể ra cái gì được đầy dẫy Đức Thánh Linh: nó đáng được bày tỏ trong sự thờ pượng tập thể (19a), hết lòng hát mừng (19b), cảm tạ Đức Chúa Trời (20  1:3-14,15-16 3:20-21) và vâng phục lẫn nhau (21).  Sách Ecclesiasticus (một thí dụ của nền văn học khôn ngoan từ thế kỷ thứ hai T.C.) nêu ra một điểm rất giống với tư tưởng của Phao-lô ở đây: “Nếu… Đức Giê-hô-va muốn cho người ấy (người học hỏi nghiên cứu luật pháp) được đầy dẫy Thần Linh của sự thông biết, người ấy sẽ nói ra những lời lẽ khôn ngoan và cảm tạ Đức Giê-hô-va trong lời cầu nguyện” (Ecclus 39:6).

22-24 Lời kêu gọi người làm vợ vâng phục chồng mình (và động từ ‘vâng phục” ở đây rất khó có nghĩa nào khác hơn là nghĩa trong văn cảnh,  IPhi 3:5-6) có vẻ như là một quy ước phổ quát về cái thế giới của Phao-lô.  Nhưng ông tái tăng cường cho quy ước đó bằng cách bảo rằng chồng là đầu vợ mà  IICo 11:1-33 đã đặt trên cơ sở là truyện tích của ông A-đam và bà Ê-va.  “Đầu” có nghĩa là Chủ (Eph 1:22) trái với cách hiểu phổ biến, từ ngữ này không hề có nghĩa là “nguồn” trong bộ Thánh Kinh Hi văn.  Lời kêu gọi khi ấy được hậu thuẫn thêm (và biến đổi qui ước) bằng sự so sánh mà Phao-lô khai triển giữa hôn nhân với mối liên hệ giữa Chúa Cứu Thế và Hội Thánh, với việc người vợ được yêu cầu phải vâng phục chồng theo như cách Hội Thánh phải vâng phục chủ của mình, là Chúa Cứu Thế (nghĩa là đáp lại một cách có trách nhiệm với tình yêu của Ngài với thái độ vui vẻ, bằng sự ước muốn tự đáy lòng, chớ không phải bằng thái độ cằn rằn hoặc vì bị ép buộc).

25-29 Trách nhiệm của người chồng phải yêu vợ cũng phản ảnh đúng các quy ước tối ưu của thời đại ấy, nhưng Phao-lô còn nêu ra một nội dung mới và cấp tiến qua việc so sánh điều này với Hội Thánh của Chúa Cứu Thế.  Ngài đã vì tình yêu phó mạng sống mình vì Hội Thánh, rồi cũng bằng tình yêu, đang kiện toàn Hội Thánh (lấy nước rửa dùng Đạo làm cho Hội Thánh tinh sạch) cho ngày Ngài sẽ được hợp nhất đầy đủ hơn với Hội Thánh (c.26 không đề cập đến phép báp-tem).  Phao-lô không nghĩ rằng sự so sánh này nói lên được tất cả các chi tiết, nhưng như cách Chúa Cứu Thế xem Hội Thánh hiện đã trở nên chính thân thể Ngài bằng sự tận hiến cho sự hợp nhất trong hôn nhân, và đang làm mọi sự bằng tình yêu khiến cho Hội Thánh được lợi ích cũng như chồng đối với vợ vậy (28).  Chồng phải thừa nhận khi yêu vợ mình, tức là họ yêu chính mình, vì vợ chồng đã được kết hợp với nhau để trở thành một thịt (28-29,31).

30-33 Phao-lô biết  rõ nghĩa đen của Sa 2:24 nhưng ông cũng thấy rõ sự mầu nhiệm về sự hợp nhất phổ quát trong Chúa Cứu Thế với thân thể Ngài, theo ý nghĩa được hình dung trước trong sự ràng buộc trong hôn nhân.  Với ông, có một mối quan hệ hình bóng giữa công trình sáng tạo vũ trụ này trong sự hợp nhất với Đức Chúa Trời và sự cứu chuộc để trở thành hợp nhất với Đức Chúa Trời.  Sự hợp nhất nguyên thuỷ này chẳng được chỗ nào chỉ ra rõ ràng hơn là trong việc A-đam hợp nhất với Ê-va trước khi loài người sa ngã, nên Phao-lô chủ trương rằng sự hợp nhất của Chúa Cứu Thế với Hội Thánh là sự cứu chuộc tương tác của biến cố kia.  Sự tương đương không phải là ngẫu nhiên như Lincoln nhận xét “Người ta đã nhìn thấy Chúa Cứu Thế trong ngôn ngữ đề cập A-đam trong Eph 1:22 do đó một văn bản đề cập sự hợp nhất về thân thể của A-đam giờ đây có thể được dùng chỉ sự hợp nhất của Chúa Cứu Thế với Hội Thánh” (Lincoln, p.  382).  Nhưng nếu Phao-lô xem hôn nhân là một thí dụ minh hoạ sự hợp nhất của công trình sáng tạo mới, thì phải lưu ý rằng ông cũng giải thích hôn nhân căn cứ vào sự hợp nhất giữa Chúa Cứu Thế và Hội Thánh – do đó đã làm biến đổi cái ý niệm về mối liên hệ trong hôn nhân, và ban cho thế gian này một lý tưởng cao siêu nhất về hôn nhân mà người ta được biết.

(Eph 6:1-9)

1-4 Những lời khuyên dạy về các mối quan hệ cha con rõ ràng là theo lời lẽ trong Co 3:20-21.  Phao-lô chỉ thêm vào mệnh lệnh ấy một hình thức đã được sửa đổi về lời hứa kèm theo (c.2  Xu 20:12)  lời dạy tích cực rằng những kẻ làm cha (chú ý trách nhiệm của nam giới) phải nuôi dạy con cái trong Chúa.

5-9 gần với Co 3:22-4:1 (xem phần chú giải ở đó).

6. Lời kêu gọi sau cùng: Cùng đánh trận thuộc linh! (Eph 6:10-20)

Thông thường người ta kết thúc bức thư bằng một lời kêu gọi nhắc lại bức thông điệp trung tâm của bức thư, và ép nó khuấy động lòng và ý chí của độc giả để họ hậu thuẫn cho trước giả.  Đó chính là điều phao-lô đang làm ở đây.  Đoạn này phải được đọc trong ánh sáng của toàn bộ bức thư Ê-phê-sô, như  lời kêu gọi phải sống Phúc Âm của sự hoà giải phổ quát, chớ không phải là phần phụ lục cho những người có quan tâm đặc biệt đến ma quỉ và cuộc chiến tranh thuộc linh.  Cần lưu ý rằng Phao-lô đã chọn đặt bức thông điệp của ông vào hình thức của một lời kêu gọi hãy tham gia một cuộc chiến tranh, nghĩa là ông kêu gọi toàn thể Hội Thánh hãy họp thành một đạo quân chớ không phải chỉ như những thánh đồ đơn lẻ mà thôi.  Các binh sĩ lẻ loi rất dễ bị bắn tỉa! Cũng phải lưu ý rằng Phao-lô đang nghĩ đến một loại chiến tranh đặc biệt nhằm đánh chiếm một chiến luỹ kiên cố.  Lời khuyên của ông không nhằm chuẩn bị cho các chiến sĩ để mở một cuộc tấn công chớp nhoáng (mà vũ khí tấn công chủ yếu của người chiến binh La Mã là một cặp lao bị mất), mà là phải đứng vững (11) được đứng vững vàng (13) và hãy đứng vững (14).  Họ đang giữ một ngọn đồi – như sự việc vốn luôn luôn là như thế – và kẻ thù của họ sẽ bị mòn mỏi kiệt quệ vì phải luôn luôn tấn công để tiến chiếm ngọn đồi ấy.  Cứ điểm kiên cố mà Phao-lô đang nghĩ đến chắc là rõ ràng đối với các độc giả của ông: đó là sự hợp nhất của chúng ta với Chúa Cứu Thế (Eph 2:5-6), là cái đầu trên muôn vật (1:22-23), trên hết mọi quyền, mọi phép, mọi thế lực, mọi quân chủ (1:21), và quyền năng của sự sống lại của Đức Chúa Trời đang vận hành trong chúng ta (1:19-2:7).  Ngay đến bộ binh giáp và các vũ khí cũng chuyển thành một sự hoà trộn giữa vũ khí và binh giáp của chính Đức Chúa Trời (Es 59:17) với các binh giáp và vũ khí của Đấng Mê-si-a (11:4-5).  Thế nhưng, Phao-lô đã không đề cao chủ nghĩa chiến thắng ở đây.  Chiến thắng quyết định của Chúa Cứu Thế trong quá khứ chính là sự kiện để các tín hữu chiến đấu bên cạnh Chúa Cứu Thế hôm nay, là lời chứng rõ ràng cho việc ấy (Eph 2:1-6), nhưng chiến thắng trọn vẹn hoàn toàn hãy còn trong tương lai.  Trong khi đó thì những ngày khốn nạn (13) đang diễn ra, áp đảo cả sân khấu.

Khúc sách này gồm ba đoạn: tiếng gọi hãy mặc lấy toàn bộ binh giáp của Đức Chúa Trời để sẵn sàng chiến đấu (10-13), chi tiết của bộ binh giáp (14-17) và sự cần thiết phải thức canh, cầu nguyện và cầu thay (18-20).

10-13 Phải làm mạnh dạn có lẽ không thể  lột  tả được sức mạnh của động từ ở dạng thụ động ở đây, cho nên bản REB đã dịch hay hơn là “Hãy tìm sức mạnh ở nơi Chúa”.  Chắc chắn rằng sự nhấn mạnh là trên quyền năng lớn lao của Đức Chúa Trời cho cuộc chiến đấu này, do đó, Phao-lô đã tìm cách giúp độc giả của ông hiểu rõ luận điểm trọng tâm này trong bài cầu nguyện của ông cho họ trước đây (1:19-2:10).  Thêm vào sức lực thiên thượng đó, họ còn cần có toàn bộ binh giáp (vừa phòng thủ vừa tấn công) mà Đức Chúa Trời cung cấp, nhưng bộ binh giáp này lại trở thành là của Đức Chúa Trời theo một ý nghĩa rộng hơn về sau này, là bộ binh giáp mà Ngài cũng mặc vào khi Ngài phán xét và cứu rỗi (Es 59:17).  Chỉ có loại binh giáo này mới có tác dụng trước bản chất của sự chống đối của ma quỉ và các thế lực của nó (11).

Vì Phao-lô đang viết thư cho một khu vực đang có những sự câu kết mạnh mẽ với tà thuật (xem phần Dẫn nhập và Eph 1:19a) và được biết là có vô số danh chỉ các quyền bính, thế lực, cho nên cần chú ý là ông đã không đi vào lãnh vực nghiên cứu về ma quỉ (demonology) chi tiết và suy lý.  Trái lại, ông chỉ dùng ba khái niệm tổng quát, mà một là “các vua chúa của thế gian mờ tối này” có lẽ có nguyên  nghĩa đặc biệt trong chiêm tinh học.  Hai khái niệm đầu được cố ý rút ra từ 1:21-22 nên độc giả được bảo đảm rằng Chúa Cứu Thế có uy quyền và thế lực lớn hơn nhiều.

Người đọc kỹ bức thư này sẽ không gặp khó khăn gì trong việc hiểu bản chất của cuộc chiến tranh chống lại các thế lực kia, hay nội dung của các mưu kế của ma quỉ (11). Nó tìm cách phân rẽ nhân loại khỏi Đức Chúa Trời bằng sự không vâng lời (2:1-3  4:18b-19), bằng sự dốt nát và tư tưởng hư hoại (4:17b-18).  Nó tìm cách phân rẽ loài người với nhau bằng những tội tham lam (4:22,23), sự giả dối (4:25), căm giận (đặc biệt liên quan đến ma quỉ trong 4:27), và nhiều tội lỗi có liên quan (4:25-31).  Bằng cách đề cập đến các vua chúa“của thế gian mờ tối này”, Phao-lô lui trở về 5:7-14 và chỉ ra các thế lực ấy như là sự ảnh hưởng trên các tội đã tạo nên đặc điểm của thời đại và công trình sáng tạo này, tương phản với “sự sáng” của công trình sáng tạo mới sẽ đến.  Ta có thể ngạc nhiên vì các thế lực ấy đang cư trú các nơi trên trời, nhưng câu này làm cho có nghĩa toàn bộ chiều kích thuộc linh mà 2:2 gọi là “chốn không trung” cho đến nơi có ngai của Đức Chúa Trời (và Chúa Cứu Thế), trên các từng trời “cao nhất”.

13 Nhắc lại sự cần thiết phải có toàn bộ binh giáp của Đức Chúa Trời nếu Cơ Đốc nhân muốn đứng vững trước các thế lực ấy trong ngày khốn nạn.  Bản NIV dịch là “khi ngày khổ nạn đến” có lẽ gợi ý đợt tấn công cuối cùng của điều ác và hoạn nạn mà các tác phẩm văn học khải huyền của người Do Thái trông mong là sẽ xảy ra ngay trước ngày của Chúa.  Tư tưởng này chắc chắn tô điểm màu sắc cho ngôn ngữ ở đây, nhưng với Phao-lô thì các ngày hiện đã là “xấu” rồi (5:16), trận đánh đã xảy ra, bộ binh giáp là cần thiết ngay, nếu người tín hữu muốn được đứng vững.  Cho nên ngày khốn nạn có thể gồm luôn cả hiện tại, nhưng cụ thể là các giai đoạn mà dường như chúng ta phải dự phần vào “những ngày khốn nạn (sau rốt)” vô cùng khủng khiếp ấy.

14-17 Câu được lặp lại “Hãy (cùng nhau) đứng vững” dẫn vào bức tranh vẽ chính bộ binh giáp ấy.  Các độc giả người ngoại quốc hẳn đã nghĩ ngay đến người lính La Mã, nhưng Phao-lô đã phác hoạ phần mô tả của ông (cũng như trong ITe 5:8) chủ yếu là về bộ binh giáp của Đức Chúa Trời trong Es 59:17 (và phần mô tả Đức Chúa Trời trong sách Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn -Wisdom of Salomon 5:17-20 thậm chí còn giống hơn nữa).  Tuy nhiên trong câu này, Đấng Mê-si-a lấy lẽ thật làm dây nịt lưng, mặc lấy giáp bằng sự công bình đã được thêm vào, cùng với Lời quyền năng của Ngài, rõ ràng là đề cập đến sự phán xét (Es 11:4-5).  Tất cả đều tăng cường cho câu khẳng định của Phao-lô rằng chính Chúa là Đấng ban cho bộ binh giáp cần thiết, đó là bộ binh giáp được tạo mẫu bằng ân điển Ngài trong chúng ta.  Cần lưu ý là những cách ví von ở đây không mang tính chất cứng nhắc: trong ITe 5:8 “áo giáp” là đức tin và tình yêu thương, trong khi ở đây, nó lại là sự công chính.

14 Bắt đầu bằng hai phần có tính đạo đức, “lấy lẽ thật làm dây nịt lưng, và mặc lấy giáp bằng sự công chính”.  Xét theo thứ tự mà các bộ phận của bộ binh giáp được mặc vào, thì phần trước của thiết bị có lẽ đề cập đến chiếc dây thắt lưng bằng da thuộc to bản nằm bên dưới chiếc áo giáp (để giữ cho lớp áo mặc bên trong được gọn gàng) chớ không phải là dây đai thuẫn hay dây đai gươm.  Lẽ thật và sự công chính thường được ám chỉ về Phúc Âm và việc nó ban cho tín đồ sự công chính bởi đức tin.  Nhưng các khái niệm ở đây (cũng như trong Es 11:5  59:17) nói lên một đức tính, và chúng đứng bên cạnh “sự thánh khiết” ở Eph 4:24-25 và “sự thánh thiện” ở Eph 5:8-9.  Phao-lô đang nói rằng trang bị căn bản của Hội Thánh cho việc đánh trận thuộc linh là đời sống trung thực và công chính mà sở dĩ chúng có hiệu quả là vì các đức hạnh này mang dấu ấn của Chúa Giê-xu và công trình sáng tạo mới của Ngài (4:17-24).

Nghĩa đen của câu 15 là “mang vào chân anh em bằng sự chuẩn bị sẵn sàng của Phúc Âm” (chú ý có đề cập bóng gió ở Es 52:7), đã được các bản NRSV, NJB, và GNB dịch là “với sự sẵn sàng để truyền bá Phúc Âm hoà bình”.  Nhưng đúng hơn, ý của Phao-lô dường như là đôi giày giúp cho chân sự chuẩn bị sẵn sàng cho trận đánh.  Điều mà các chiến sĩ cần trong một trận đánh để giữ vững trận địa là những đôi giày đinh giúp cho bàn chân bám chặt đế giúp cho các binh sĩ ở hàng đầu không bị loạng choạng hay trợt ngã khi bị kẻ thù tấn công.  Có điều nghịch lý là Phúc Âm từng được hiểu là Tin Lành bình an hay của hoà bình (Eph 2:14,17) lại giúp cho Hội Thánh bám chặt vị trí, tức là “chuẩn bị sẵn sàng” cho trận đánh mà Phao-lô đang nghĩ đến.  Cho nên bản REB mới dịch “đôi giày dưới chân anh em phải là Phúc Âm hoà bình để giúp anh em bám chặt lấy vị trí”.

16 Giới thiệu chiếc thuẫn có hình dạng của một cánh cửa bằng gỗ và da thuộc.  Trong chiến trận, chúng có thể được kết chặt vào nhau để tạo thành một bức tường che phía trước và một mái nhà che phía trên đầu.  Phần bằng da thuộc đã được ngâm nước trước trận đánh, và như thế, sẽ dập tắt được các tên lửa có thể làm cháy những chiếc thuẫn hoàn toàn bằng gỗ khiến kẻ mang nó kinh hoàng mà vứt nó đi.  Các mũi tên mà Phao-lô đang có trong tâm trí bao gồm bất cứ điều gì có liên quan trực tiếp đến sự tấn công bằng tà thuật để bắt bớ bách hại của ma quỉ, nhưng trên hết là những trận mưa cám dỗ người ta sợ hãi, cay đắng, căm giận và chia rẽ sẵn sàng đổ xuống, có thể phá vỡ sự hợp nhất của Hội Thánh.  Phải lấy đức tin để chống lại các mũi tên lửa ấy.  Trong bức thư này, đức tin là việc mở rộng lòng ra với Đức Chúa Trời, cho Chúa Cứu Thế ngự vào cách đầy dẫy, đem theo một sự lãnh hội sâu nhiệm hơn về tình yêu không thể dò lường được của Ngài (3:17).  Như thế, lấy đức tin làm thuẫn gợi ý về việc tự ý và tích cực bám chặt lấy Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Phúc Âm sự phụ thuộc hoàn toàn và chắc chắn vào Chúa sẽ dập tắt những cuộc tấn công dữ dội của kẻ thù nhằm gây tàn hại và gieo rắc hoang mang sợ hãi.

17 Trong văn cảnh của bức thư này, lấy sự cứu chuộc làm mão tru (Es 59:17) là bảo đảm cho lòng chúng ta về sự hợp nhất với Chúa Cứu Thế – rằng chúng ta được cùng ngồi với Ngài, do đó được bảo đảm an toàn trong Ngài (Eph 2:5-8).  Chúng ta phải bám chặt lấy vị trí, chúng ta chỉ được kêu gọi là phải “đứng vững” mà thôi.  Phần cuối cùng của bộ binh giáp được đề cập là gươm của Đức Thánh Linh lời Đức Chúa Trời.  Đây dường như cũng là một sự đề cập bóng gió đến Es 11:4 chỗ chép lời quyền năng của Đấng Mê-si-a ảnh hưởng đến sự phán xét (và Sách Sự Khôn Ngoan Của Sa-lô-môn 5:20 âm vang của Es 16:4-5 và 59:17) nói về “cơn thịnh nộ nghiêm khắc” là “gươm” của Đức Giê-hô-va).  Thế thì ở đây, Hội Thánh được ban cho một vũ khí không phải chỉ để phòng thủ mà còn là để đánh trả lại các thế lực tấn công mình.  Đánh trả bằng chân lý khi bản thân chúng ta bị cám dỗ phạm tội,  đánh trả bằng chân lý khi Hội Thánh bị tà giáo tấn công, đánh trả bằng chân lý khi các thế lực kia cố tìm cách xâm nhập thế giới chung quanh chúng ta bằng sự giảng dạy xa lạ của triết lý và luân lý học, và cuối cùng là giáng nhiều đòn mạnh mẽ cho sự tự do để không sợ hãi mà cứ truyền giảng chân lý của Cơ Đốc giáo như Phao-lô khích lệ trong câu 19-20.  Nhưng có một điều cần phải nhớ trên hết mọi sự liên quan đến loại “vũ khí tấn công” này: từ ngữ chỉ cơn thịnh nộ của 11:4 đã trở thành Phúc Âm hòa bình và tình yêu hợp nhất, trong Chúa Cứu Thế.  Và chúng ta đã đánh giặc với các thế lực thuộc linh, chớ không phải với những kẻ thù con người (12) Cách sử dụng thanh gươm của Đức Thánh Linh của chúng ta phải phản ảnh điều đó, nếu không thì trước sau nó cũng sẽ trở thành một vũ khí của bóng tối, thù địch và chia rẽ.

18-20 Về phương diện chuyên môn, thì đây không phải là câu riêng biệt, mà là một loạt mệnh đề được xây dựng chung quanh hai phân từ “cầu nguyện” và “tỉnh thức” với các mệnh đề có liên quan.  Toàn bộ cấu trúc này liên quan đến câu Vậy hãy đứng vững của câu 14.  Ta không nên hiểu cầu nguyện là một bộ phận thứ bảy của bộ binh giáp cũng không nên hiểu rằng sự cầu nguyện là phương tiện để mặc vào sau sáu bộ phận kia, mà (phải hiểu) sự cầu nguyện phải được kết hợp chặt chẽ với các bộ phận kia.  Lãnh hội Phúc Âm về phương diện thần học (14-17) mà không dẫn tới kết quả là sự cầu nguyện, như Phao-lô đã làm cho các độc giả của ông trong Eph 1:15-23 và 3:14-21, thì đó chỉ là một bộ xương khô mà thôi.  Các chiến sĩ cầu nguyện mà không lãnh hội được thật sự Phúc Âm là gì (Phúc Âm của sự hoà bình và của sự khôi phục toàn cõi vũ trụ này trong Chúa Cứu Thế), có thể là “thuộc linh” ở đây, nhưng chẳng ích lợi gì ngoài bãi chiến trường hơn một binh sĩ chẳng có vũ khí.  Thông hiểu cách thuộc linh về Phúc Âm, kết hợp với một sự tỉnh thức cầu nguyện là sự kết hợp mà Phao-lô đang tìm cầu.  Một lời cầu nguyện như thế sẽ được Đức Thánh Linh hướng dẫn để đến được với Đức Chúa Trời (tham khảo câu 18, nhớ lại 2:18) và người cầu nguyện như thế sẽ không phải chỉ cầu nguyện cho riêng mình, mà còn cầu nguyện cho các thánh đồ và cho sự tiến bộ mạnh mẽ của Phúc Âm nữa (19).

4. TÁI BÚT (Eph 6:21-24)

22-24 Dường như giống y như từng chữ từng tiếng với Co 4:7-8 (xem phần giải nghĩa ở đó).  Mấy lời cuối cùng là lời cầu nguyện bày tỏ nguyện vọng tập trung trở lại vào chủ đề của toàn thể bức thư này: vì “sự bình an” của Đấng Mê-si-a vốn phủ trùm trên cả cộng đồng được biểu hiện trong tình yêu và đức tin, và vì ân điển này càng được đào sâu thêm.

Lên đầu trang