GA-LA-TI

MỤC LỤC

GA-LA-TI

Dẫn Nhập

Ý nghĩa của bức thư

Thư gởi cho người Ga-la-ti trực tiếp đề cập đến vấn đề thần học căn bản nhất mà thế hệ Cơ Đốc nhân đầu tiên phải đối diện. Phúc Âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu ảnh hưởng như thế nào đến sự chia rẽ giữa dân Do Thái với người ngoại quốc? Các Cơ Đốc nhân đầu tiên là người Do Thái, nên ngay từ đầu, họ đã cho rằng đó là đặc tính của dân mình; và do đó, việc tuân thủ nghi lễ liên quan đến dân mình, phải được duy trì. Khi người ngoại quốc bắt đầu tin nhận Phúc Âm lên đến con số có ý nghĩa, thì những khẳng định đó bị thách thức, cần phải qua một giai đoạn suy tư, điều chỉnh và tranh đấu khá dài để có thể thông hiểu các chủ đích của Đức Chúa Trời đối với cả người Do Thái lẫn người ngoại quốc.

Không có tài liệu nào quan trọng hơn bức thư của Phao-lô gởi cho các Hội Thánh trong xứ Ga-la-ti trong việc bày tỏ các nỗ lực ấy. Các Cơ Đốc nhân trong khu vực này từng là đối tượng của lòng nhiệt thành truyền giáo của “những người theo phong tục Do Thái”, những người tin rằng Phúc Âm không dẹp bỏ các nghi lễ Do Thái giáo và do đó, họ tin rằng các Cơ Đốc nhân người ngoại quốc phải trở thành người Do Thái nếu họ muốn tiếp nhận lời hứa mà Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham (Từ ngữ Hi văn “Judaizer” nguyên được dùng để mô tả những người ngoại quốc cải theo Do Thái giáo). Do bị thúc đẩy bởi lý luận của số người đã cải theo Do Thái giáo, những người Ga-la-ti trước đây được Phao-lô truyền giảng Phúc Âm cũng bắt đầu tuân thủ các nghi lễ Do Thái giáo. Vị sứ đồ nhận ra rằng sự xoay chuyển của sự kiện như thế đã phá hoại ngầm tính thiết yếu của Phúc Âm ân điển. Bức thư Phao-lô gởi cho họ bày tỏ những điều tin quyết sâu nhiệm nhất của ông.

Description: Description: C:\Users\Dinh Phuc\Desktop\Hinh Scan\New folder\298_Tap6.jpg

Trong khi khai triển những luận điểm nhằm trả lời cho giáo thuyết của những người ngoại quốc theo Do Thái giáo kia, vị sứ đồ đã bàn đến nhiều vấn đề cơ bản khác nhau, như bản tính của uy quyền của chức sứ đồ, sự xưng công bình bởi đức tin, lời hứa cho Áp-ra-ham, tư cách làm con, vai trò của luật pháp Môi-se, quyền tự do, công tác của Đức Thánh Linh và sự thánh hoá. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi bức thư này đã đóng một vai trò chính yếu xuyên suốt lịch sử Hội Thánh, mà đáng kể nhất là vào thời cải chánh vào thế kỷ thứ mười sáu, khi Martin Luther dựa một phần lớn vào thư Ga-la-ti để công kích giáo lý về sự cứu rỗi của Công giáo La Mã. Nếu tiêu điểm chính xác của cuộc tranh luận giữa Phao-lô và các đối thủ của ông – người ngoại quốc có phải chịu phép cắt bì hay không? – có vẻ chỉ là một mối quan tâm mờ nhạt đối với đa số các Cơ Đốc nhân sau thế kỷ thứ nhất, thì vấn đề trọng tâm chẳng phải điều gì khác hơn là cơ sở của mối liên hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Ngoài mặt thì câu trả lời của những người đã cải theo Do Thái giáo kêu gọi phải chú ý đến các nghi lễ Do Thái giáo, nhưng cam kết sâu nhiệm hơn của họ – việc trông cậy vào “xác thịt” hơn là vào Thánh Linh – có thể được bộc lộ bằng nhiều cách khác nhau.

Một số học giả hiện đại cho rằng điều vốn được gọi là cách hiểu thư Ga-la-ti của Giáo hội Tin Lành (Protestant) là không đúng. Tuy nhiên, dù Martin Luther và những nhà Cải chánh khác có thể bỏ sót một vài sắc thái, nhưng họ đã không sai lầm khi thấy trong bức thư này có lời đáp của Đức Chúa Trời cho các vấn đề của thời kỳ đó. Cho dù thư Ga-la-ti có dạy điều gì khác nữa, thì điều chắc chắn là nó cho chúng ta thấy bằng ngôn ngữ rõ ràng và mạnh mẽ rằng chỗ đứng phải lẽ của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời chỉ có thể là một hành động của ân điển được tiếp nhân bởi đức tin vào Chúa Cứu Thế mà thôi. Chẳng có nghi lễ nào của Hội Thánh hay nỗ lực nào của loài người có thể thiết lập được sự xưng công bình của chúng ta, mà trái lại: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin” (3:11).

Bối cảnh lịch sử

Về một số vấn đề lịch sử chung quanh thư Ga-la-ti thì có rất ít nghi ngờ. Chẳng hạn, một vài học giả nghiêm túc thắc mắc rằng Phao-lô có phải là tác giả hay không. Một lần nữa, văn bản đã cho thấy rất rõ rằng có một số cá nhân đã gây ra cuộc nổi loạn thuộc linh trong cộng đồng người Ga-la-ti bằng cách truyền dạy một Phúc Âm giả dối, thúc ép các tín hữu người ngoại quốc phải tuân thủ các nghi lễ của Do Thái giáo, nhất là phép cắt bì (1:7-9; 5:2-3, 7-12; 6:12-13). Mặt khác, đã có sự tranh luận đáng kể liên quan đến niên đại, những người nhận thư, và cơ hội chính xác cho việc viết bức thư quan trọng này.

Nhiều học giả hiện nay cho rằng người nhận bức thư này là các Hội Thánh do Phao-lô và Ba-na-ba thiết lập tại Y-cô-ni, Lít-trơ và Đẹt-bơ (Cong 14:1-23). Các thị trấn này toạ lạc tại phần cực Nam của tỉnh Ga-la-ti thuộc La Mã, trung bộ Tiểu Á Châu (Thổ Nhĩ kỳ ngày nay). Tên của tỉnh này xuất xứ từ vùng phía Bắc, nơi chủng tộc người Ga-la-ti (nguyên đến từ xứ Gaul) đã định cư; còn ý kiến của một thiểu số khác thì cho rằng các Hội Thánh liên hệ đều toạ lạc trong khu vực này – một ý kiến gây ảnh hưởng đến niên đại của bức thư. Người ta căn cứ vào Cong 16:6 để hậu thuẫn cho quan điểm rằng Phao-lô đã thiết lập một số Hội Thánh tại đó, nhưng văn bản này có phần mơ hồ, mà chứng cứ kia thì cũng chẳng mạnh mẽ gì.

Một vấn đề phức tạp hơn nhưng có liên quan với niên đại của bức thư này. Điểm cơ bản của cuộc tranh luận là liệu Phao-lô đã viết bức thư này trước hay sau cái gọi là Giáo hội nghị của các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem. Biến cố đã được ghi lại trong Công vụ các sứ đồ đoạn 15 này đã được phần đông các học giả định niên đại là năm 49 S.C. (chắc chắn là không thể sớm hơn năm 48). Dường như Phao-lô có đề cập giáo hội nghị này trong Ga 2:1-10 nhưng nhiều người tranh cãi rằng cách mô tả của ông mâu thuẫn với phần thuật sự trong sách Công vụ, nhất là vì ông không đề cập quyết nghị được ghi lại trong Cong 15:22-29.

Một số học giả né tránh vấn đề này bằng cách lý luận rằng thư Ga-la-ti được viết trước giáo hội nghị ấy. Lý luận này thừa nhận là bức thư được viết cho các Hội Thánh tại phần phía Nam của Tỉnh ấy. Có quan điểm cho rằng các Hội Thánh liên hệ toạ lạc tại miền Bắc đã cản trở cách định niên đại này, vì Phao-lô vẫn chưa truyền giảng Phúc Âm cho miền Bắc, mà phải đợi cho đến sau hội nghị ấy). Theo cách định niên đại sớm này thì Ga 2 không hề mâu thuẫn với Công vụ vì lý do đơn giản là vào lúc viết bức thư này, hội nghị ấy chưa diễn ra. Do đó, các câu bình luận của Phao-lô chắc phải ám chỉ một cuộc họp mặt khác (có thể là cuộc họp được mô tả trong Cong 11:29-30). Với nhiều học giả khác, thì giải pháp này có vẻ quá dễ dãi, nhất là vì những điểm tương đồng khá rõ ràng giữa Cong 15 và Ga 2. Có thể lý luận rằng cả hai khúc sách này đều đề cập đến cùng một biến cố, và các điểm dị biệt là do cách nhận định các viễn cảnh rất khác nhau giữa hai trước giả. Theo quan điểm này, thì chắc thư Ga-la-ti phải được viết sau năm 49 S.C. mà niên đại được đưa ra là vào giữa những năm năm mươi lúc Phao-lô đang ở Ê-phê-sô trong hành trình truyền giáo thứ ba của ông.

Cuộc tranh luận về niên đại của thư Ga-la-ti không phải chỉ là trò chơi suông của các học giả. Những điểm tế nhị về ý nghĩa của bức thư – không kể đến các vấn đề lớn hơn liên quan đến lịch sử của Hội Thánh nguyên thuỷ – thật sự đều bị ảnh hưởng của quan điểm về mối liên hệ của nó với giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem. Quyển sách bình giải này cho rằng thư Ga-la-ti được viết vào giữa thập niên năm mươi. Tuy nhiên, do không thể nói chắc về vấn đề này, thiết tưởng rằng nếu bức thư này được lý giải ệ thuộc nhiều vào cách định niên đại cho nó, thì không phải là khôn ngoan. Đặc biệt là phải cố gắng đừng đưa những cách lý giải chủ chốt nào có thể sẽ bị cho là vô giá trị do chấp nhận một trong số các bối cảnh lịch sử vẫn còn bị tranh cãi. May thay mũi nhọn chủ yếu trong luận cứ của Phao-lô là rõ ràng, đầy đủ mà không xoay quanh khả năng định vị chính xác bối cảnh ấy.

Chủ đích và cấu trúc

Thế thì luận cứ của Phao-lô là gì? Vị sứ đồ đã nói rất rõ khi ông nhấn mạnh rằng sở dĩ ông được thúc giục viết thư này là vì người Ga-la-ti đang ở trong tiến trình muốn chối bỏ Phúc Âm (1:6-7). Thật vậy, họ đã quay trở lại với những nghi lễ hành đạo làm sống lại từng trải thời họ hãy còn theo ngoại giáo trước kia (4:9-10).

Vì những kẻ đang tạo ra các vấn đề tại Ga-la-ti có vẻ như muốn phá hoại ngầm uy quyền của Phao-lô, nên vị sứ đồ đã dành cả phần chính của thư tín này để biện hộ cho nguồn gốc Phúc Âm của ông đến từ Đức Chúa Trời (chương 1-2, đặc biệt xem 1:1, 11-12; 2:6-9). Trong hai chương tiếp theo, bằng cách viện dẫn chính Cựu Ước kinh, ông chứng minh rằng Áp-ra-ham đã nhận được lời hứa của Đức Chúa Trời không phải là nhờ việc làm của luật pháp, nhưng là bởi đức tin (tham khảo 3:6-14). Cuối cùng, ông nhận thấy cần phải nói rõ các hàm ý thực tiễn của Phúc Âm về quyền tự do này trong hai chương 5-6 (xem đặc biệt 5:13-26). Tuy nhiên, cả ba mối quan tâm này đều nhằm phục vụ cho một chủ đích lớn của ông: ngăn trở không cho người Ga-la-ti từ bỏ Phúc Âm của chân lý mà trở thành những kẻ bội đạo.

Cấu trúc gồm ba phương diện vừa phác hoạ trên đây phản ảnh một phương pháp thông thường và mang tính truyền thống của việc đọc thư Ga-la-ti. Các công trình nghiên cứu gần đây, tuy không nhất thiết là xa lìa viễn cảnh cơ bản này, đã cố gắng định nghĩa một cách chính xác hơn đặc tính văn chương của bức thư bằng cách khảo sát các kỹ thuật tu từ học của thời cổ đại. Một số học giả xem thư Ga-la-ti là một bài thuyết giảng “biện giải “ (đại khái như lối bào chữa trước toà án), trong khi những người khác lại xem nó như một bài thuyết giảng “biểu quyết”(nhằm thuyết phục cử toạ thực hiện một điều gì đó). Còn một cách nhìn khác nữa, chú trọng vào cách cấu trúc của các bức thư nhiều hơn là vào lời giảng, lại xem thư Ga-la-ti gồm có hai phần chính, một phần khiển trách (1:6-4:11) và một phần yêu cầu (4:12-6:10).

Các gợi ý bổ sung đã được nhiều chuyên gia thuộc lãnh vực này đề xuất, và những cách nhìn xuyên suốt (insights) của các công trình nghiên cứu xã hội học và chủng tộc học đã đóng góp thêm cho sự hiểu biết của chúng ta về phương pháp mà Phao-lô đã xây dựng các luận cứ của ông. Vì các vấn đề như thế vẫn chưa đạt được sự nhất trí, nên quyển sách bình giải này sử dụng một bố cục rất truyền thống để cho thấy cấu trúc lô-gic của vị sứ đồ. Cho dù là mô hình văn chương chính xác nào có thể đã ảnh hưởng đến văn phẩm này của Phao-lô đi nữa, điều tối quan trọng là phải lý giải mỗi câu, hay mỗi khúc sách trong văn cảnh của lô-gic đó (xin cũng xem bài viết về Cách đọc các bức thư).

Đọc Thêm

J. R. W. The Message of Galatians, BST (IVP, 1968)

G. W. Hansen, Galatians, IVPNTC (IVP, 1994)

R. A. Cole, Galatians, TNTC (IVP/UK/Eerdmans, 1989)

D. Guthrie, Galatians, NCB (Marshalls/Eerdmans, 1973)

R. N. Longenecker, Galatians, WBC (Word, 1990)

F. F. Bruce, Commentary on Galatians, NIGTC (Eerdmans, 1982)

Bố Cục

1:1-10         Dẫn nhập

                    1:1-5        Khai đề

                    1:6-10      Cơ hội

1:11-2:21    Chức sứ đồ của Phao-lô

                    1:11-12    Đề xướng chủ yếu

                    1:13-24    Chứng cứ hậu thuẫn

                    2:1-21      Hai trường hợp đặc biệt

3:1-4:31      Phúc Âm của Phao-lô

                    3:1-5        Lời kêu gọi đầu tiên

                    3:6-4:7     Các luận cứ cơ bản

                    4:8-31      Các viện dẫn khác

5:1-6:10      Các lệnh truyền của Phao-lô

                    5:1-12      Về phép cắt bì

                    5:13-26    Về tình yêu thương

                    6:1-10      Về các gánh nặng

6:11-18       Phần kết

1. DẪN NHẬP (Ga 1:1-10)

Trong tất cả các bức thư của mình, vị sứ đồ đều bắt đầu bằng một đoạn dẫn nhập, thường gồm có một phần chào thăm mở đầu và một lời cầu nguyện cảm tạ.  Các đoạn dẫn nhập này gồm nhiều đầu mối mà Phao-lô quan tâm theo nhiều mức độ khác nhau.  Chắc chắn đó cũng là trường hợp của thư Ga-la-ti, cho nên chúng ta cần đặc biệt chú ý đến các điểm phân biệt của nó.  Xin cũng xem bài viết “Đọc các thư tín”.

Ga 1:1-5 Khai đề Nếu chỉ đọc lướt qua mấy câu khai đề này, chúng có thể gợi ý cho chúng ta rằng ở đây, chúng ta lại có thêm một thí dụ nữa về lời chào thăm tiêu chuẩn của Phao-lô, tuy có lẽ có vài điểm thêm vào và có thay đổi chút ít.  Phần khuôn khổ cơ bản vốn quen thuộc, nó bắt đầu bằng việc nêu tên trước giả trong câu 1 (Phao-, làm sứ đồ), sau đó đối tượng nhận thư được xác định trong câu 2 (gởi cho các Hội Thánh xứ Ga-la-ti) cuối cùng, lời chào thăm đặc trưng của Phao-lô được tìm thấy trong câu 3 (ân điển sự bình an).

Tuy nhiên, khi nhìn lại một lần nữa, thì rõ ràng là phần khai đề này khá bất thường, và nó được dùng làm một đầu mối quan trọng cho đặc điểm khác biệt của thư Ga-la-ti.  Trước hết, những người nhận thư được mô tả bằng lời lẽ rất chung chung trong các bức thư khác, Phao-lô ngỏ lời với độc giả của mình với tư cách là “các thánh đồ” hay sử dụng một nhóm từ tương đương.  Ý nghĩa của sự bỏ sót tế nhị này sẽ trở nên rõ ràng trong câu 6.

Ta cũng có thể lưu ý phần khai đề này quan trọng như thế nào khi so sánh với các bức thư khác.  (Chỉ trong thư Rô-ma, nơi mà Phao-lô giải thích bức thông điệp của ông với một Hội Thánh chưa quen biết ông, chúng ta mới thấy có một phần khai đề dài).  Điều có ý nghĩa đặc biệt là câu 4 chứa đầy các ý niệm thần học.  Ở đây, Phao-lô nhấn mạnh vào sự tự nguyện hy sinh của Chúa Cứu Thế, một chủ đề báo trước nhiều khúc sách đầy năng lực (thí dụ như Ga 2:20-21).  Ông cũng đánh lên tín hiệu giải phóng, vốn phản ảnh mối quan tâm lớn lao của mình đến sự tương phản giữa nô lệ và tự do.  Sự giải thoát này mang màu sắc đậm tính chất “thế mạt luận(nghĩa là liên quan với những ngày sau rốt).  Bằng cách chú trọng vào vấn đề đời ác này, Phao-lô nhắc nhở độc giả của ông rằng sự cứu chuộc của Chúa Cứu Thế đem đến một kỷ nguyên mới làm ứng nghiệm các lời hứa của Đức Chúa Trời.  Cuối cùng, vị sứ đồ khẳng định rằng ẩn sau các biến cố đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời.  Người Ga-la-ti phải nhận thức được rằng bức thông điệp này không phải là sáng tác của Phao-lô: với họ, chối bỏ nó tức là chối bỏ kế hoạch của Đức Chúa Trời.  Dù sao, công tác vĩ đại của Chúa Cứu Thế cũng dẫn đến một bài tán ca (một sự bộc lộ lời ngợi khen) trong câu 5, điều vốn không thấy có trong phần khai đề của tất cả các bức thư khác.

Tuy nhiên, nét đặc trưng phân biệt quan trọng nhất của phần khai đề này được tìm thấy trong c.1, nơi mà Phao-lô ngắt ngang dòng chào thăm để đưa ra một lời phủ nhận cố ý được nhấn mạnh: chức sứ đồ của ông không có nguồn gốc từ loài người nhưng là từ Đức Chúa Trời.  Rõ ràng là có một vài cá nhân đang thách thức quyền giảng dạy của Phao-lô với tư cách là một sứ đồ của Chúa Cứu Thế.  Tính chất chính xác của những lời tố cáo này là vấn đề của cuộc tranh luận nào đó giữa các học giả, nhưng rất có thể rằng ông đã bị tố cáo là đang truyền giảng một sứ điệp đặc biệt, mâu thuẫn với sự dạy dỗ của Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem.  Phao-lô sẽ đề cập vấn đề này trực tiếp hơn bắt đầu ở câu 11.

Ga 1:6-10 Cơ hội Bất cứ ai quen thuộc với các bức thư mà Phao-lô gởi cho các Hội Thánh, cũng mong được thấy một lời cảm tạ ngay sau lời chào thăm (trong trường hợp của II Cô-rinh-tô và Ê-phê-sô, là “Cảm tạ Đức Chúa Trời…”).  Chẳng những chỉ có lời cảm tạ như thế bị bỏ sót ở đây, mà thật sự, Phao-lô còn thay thế nó bằng một lời quở trách nữa, tôi lấy làm lạ cho anh em đã vội bỏ (6).  Nét đặc trưng này là một đầu mối hết sức quan trọng để nhận định đặc điểm của thư Ga-la-ti.  Phần khai đề đã báo cho chúng ta về một điều bất thường nào đó trong bức thư này, nhưng bây giờ thì chúng ta mới nhận ra tình trạng mà Phao-lô cần đề cập nghiêm túc và cấp bách như thế nào.

Khi mô tả sự sai lầm của người Ga-la-ti, vị sứ đồ đã dùng ngôn ngữ quân sự là đào ngũ (6) và danh từ chính trị là tranh giành, mấy kẻ làm rối trí anh em (7, động từ tương tự cũng được dùng trong 5:10  Cong 15:24  17:8,13).  Tiêu điểm của ông thật cụ thể là người Ga-la-ti đang từ bỏ sự dạy dỗ của Phúc Âm về ơn (“ân điển”).  Tuy nhiên, khi nói như thế, ông không ngụ ý chỉ đề cập một sự thay đổi của tâm trí mà thôi.  Hành động của họ có tính cách cá nhân mạnh mẽ: Sự thật là họ đang từ bỏ Đấng đã lấy ân điển kêu gọi họ đến với chính Ngài.  Ý niệm hai mặt nầy về sự phân rẽ khỏi ân điển lẫn khỏi một người xảy ra một cách công nhiên trong Ga 5:4, “Anh em thảy đều muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình, thì đã lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển rồi”.  Về những lời này, chắc chắn việc chúng ta đọc sách Ga-la-ti phải vượt hẳn một bài tập lịch sử hoặc tri thức.  Tất cả những ai đọc bức thư này đều phải trực diện với các vấn đề ảnh hưởng đến số phận đời đời của mình.

Tuy nhiên, điều phức tạp đối với Phao-lô là sự sai lầm mà người Ga-la-ti đang sa vào không phải chỉ là hậu quả của sự yếu đuối giữa vòng các tín hữu.  Nó có nguồn gốc từ bên ngoài.  Một số Cơ Đốc nhân gốc Do Thái do không vui về cách Phao-lô mời gọi người ngoại quốc tự do đến với Đức Chúa Trời, đã bắt đầu đến với Hội Thánh mà ông đã thiết lập.  Mục đích của họ là “Do Thái hóa” những số tín hữu người ngoại quốc này, thuyết phục họ rằng sau khi tin Chúa Cứu Thế, họ còn phải tiến thêm một bước nữa là trở thành người Do Thái bằng cách chịu phép cắt bì (xem phần Dẫn nhập).

Vị sứ đồ xem những người đã cải theo Do Thái giáo này không những chỉ là các Cơ Đốc nhân bị lầm lạc, mà còn là những giáo sư giả nguy hiểm nữa.  Sứ điệp của họ chẳng phải là Phúc Âm dù là theo ý nghĩa nào, mà còn là đối lập với Phúc Âm nữa.  Thật vậy, cách truyền giáo đó của họ tai hại đến mức Phao-lô phải dùng những lời lẽ nặng nề nhất mà người ta tìm thấy trong các bức thư của ông, tức là dán một chữ a-na-them lên bất cứ kẻ nào truyền giảng một Phúc Âm nào khác hơn Phúc Âm mà người Ga-la-ti đã nghe và tiếp nhận từ nơi ông.  Chữ a-na-them (cũng được dùng trong ICo 12:3  16:22 và nhất là Ro 9:3 là từ ngữ nhắc lại Xu 32:32) ám chỉ lời nguyền rủa của Đức Chúa Trời, cho nên bản NIV đã dịch rất đúng là thì kẻ ấy đáng bị định tội đời đời (8-9).

Những lời lẽ nặng nề như thế chắc đã gây chấn động mạnh cho các độc giả của ông, cho nên trong câu 10, Phao-lô đã biện minh cho phản ứng đó của ông bằng cách kêu gọi mọi người hãy lưu ý đến các động cơ đã thúc đẩy ông.  Rõ ràng là những người ngoại quốc cải giáo theo Do Thái giáo kia tố cáo ông là đã truyền giảng phép cắt bì khi có lợi cho ông, để được thiên hạ tán thưởng (Ga 5:11).  Phao-lô cực lực phủ nhận rằng ông không có động cơ nào khác hơn là muốn làm đẹp lòng Đức Chúa Trời nếu có, thì ông không thể còn được xem là tôi tớ của Chúa Cứu Thế nữa.  Dù sao thì việc ông đặt lời nguyền rủa trên các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái kia phải thuyết phục được người Ga-la-ti rằng hành động của ông không thể bị thúc đẩy bởi ước muốn không xúc phạm đến người ta.  Lightfoot đã diễn ý câu 10 như sau: “Anh em tố cáo tôi là đã theo một chính sách hoà giải.  Phải, tôi hoà giải với Đức Chúa Trời” (J.  B.  Lightfoot, Saint Paul Epistle to the Galatians, 10th edn.  -Macmillan, 1898, p.  79).

2. CHỨC VỤ SỨ ĐỒ CỦA PHAO-LÔ (Ga 1:11-2:21)

Người ta lưu ý rằng trong bức thư này, Phao-lô cần bảo vệ mình trước khi bảo vệ cho Phúc Âm của ông.  Trong sự phân tích này có một phần sự thật.  Những công kích nhằm vào thông điệp của ông về sự tự do đối với người ngoại quốc có liên hệ chặt chẽ với các vấn đề đã được đặt ra đối với uy quyền sứ đồ của ông.  Tại sao người Ga-la-ti lại phải nghe theo ông? Mặt khác, sẽ là sai lầm nếu xem chương 1-2 như là một lời biện hộ cá nhân.  Các nhận xét mang tính tự sự của ông bao giờ cũng đứng hàng thứ yếu so với mục đích hàng đầu của ông là thiết lập “lẽ thật của Tin Lành” (Ga 2:5,14).

1. Đề xướng chủ yếu (Ga 1:11-12)

Ở đây, cũng như trong ICo 15:1 và IICo 8:1, sứ đồ Phao-lô đều bắt đầu một phần mới và quan trọng bằng cách dùng động từ “nói cho biết” (gnơrizơ)  khiến cho lời truyên bố của ông mang vẻ trang trọng, hầu như long trọng.  Điều khá lý thú là câu viết tương tự trong ICo 15:1-58 nêu ra nhận xét rằng ông đã “nhận lãnh” các chân lý cơ bản của Phúc Âm (3), trong khi ở thư Ga-la-ti này, ông đưa ra luận điểm trái ngược , cho thấy tiêu điểm của ông có phần hơi khác.  Nhóm từ Tin Lành tôi đã truyền (11) có lẽ rất có ý nghĩa, vì cớ chức vụ có một không hai của Phao-lô giữa người ngoại quốc, nên lời tuyền giảng của ông cũng có một điểm khác biệt (xin chú ý “Tin lành tôi” trong Ro 2:16) vốn tạo nên sự chống đối đặc biệt mạnh mẽ từ phía những người ngoại quốc chịu ảnh hưởng Do Thái giáo.

Những gì tiếp theo đó là ba lần phủ nhận, rồi xác nhận nếu có chút nghi ngờ gì về vấn đề ấy rằng Phao-lô đang đáp lại lời tố cáo nào đó về tính chất thông điệp của ông.  Lần phủ nhận thứ nhất, theo đúng nguyên văn là “chẳng phải đến từ loài người đâu”.  Đây là một câu phủ nhận tổng quát, được giải thích rõ ràng bằng hai phủ nhận kế tiếp: vì chẳng có người nào ban cho hay dạy ông Phúc Âm này, nên rõ ràng là nó không có nguồn gốc từ loài người.  Luận điểm được làm sáng tỏ hơn bằng một vế tương phản “nhưng đã nhận lấy bởi sự tỏ ra của Đức Chúa Giê-xu Christ”, có thể có nghĩa hoặc là Chúa Cứu Thế là nguồn của sự bày tỏ, hoặc hợp lý hơn, là chính Chúa Cứu Thế đã được bày tỏ cho ông (cũng như trong c.16).

2. Chứng cứ hậu thuẫn (Ga 1:13-24)

Bây giờ, Phao-lô tiếp tục chứng minh cho lời tuyên bố của mình.  Việc chứng minh dường như gồm hai phần chính.  Trước hết, ông cần đưa ra chứng cứ cho chính lời tuyên bố đó (Ga 1:13-24) ông phải chứng minh rằng suốt những năm chuẩn bị cho chức vụ của mình, ông đã không hề nhận được sự đào tạo huấn luyện từ các sứ đồ.  Thứ hai, ông phải đối phó với hai biến cố tiếp theo, có lẽ đã được các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái lợi dụng để làm chứng cứ chống lại ông (2:1-21).

Ga 1:13-14 Trước khi ông trở lại đạo  Ở đây, vị sứ đồ vạch rõ rằng kinh nghiệm tiền Cơ Đốc nhân của ông gồm hai điểm đặc trưng không thể cùng tồn tại với chức vụ hiện nay của ông.  Thứ nhất, ông đã tận hiến trọn vẹn cho công việc bắt bớ, bách hại các Cơ Đốc nhân và tận diệt Hội Thánh (một điểm đã được kể lại chi tiết cho chúng ta trong Công Vụ 9).  Thứ hai, ông tận hiến trọn vẹn cho giai cấp Pha-ri-si.  Những lời cựu truyền của tổ phụ tôi có lẽ ám chỉ chẳng những đến những lời truyền dạy tổng quát của Do Thái giáo, mà cụ thể hơn đến những gì mà mọi người đều biết là luật lệ truyền khẩu, một bộ quy tắc mở rộng phân biệt giai cấp Pha-ri-si với các nhóm Do Thái giáo khác (Mac 7:1-13  Phi 3:4-6).

Tại sao Phao-lô đề cập những điều này? Có một cách trả lời phổ biến, là chúng chứng minh rằng Phao-lô đã không hề tiếp thu Phúc Âm từ các giáo sư Do Thái.  Nhưng ai có thể nói đây là điều đã xảy ra? Chắc chắn không phải là những Cơ Đốc nhân gốc Do Thái! Về một phương diện, thông tin này hậu thuẫn cho lời tuyên bố của Phao-lô để ông nói cách có quyền về bản chất của Do Thái giáo.  Tuy nhiên, có vẻ như mấy câu này ít được xem là một chứng cứ độc lập hơn là một sự chuẩn bị cho những gì ông sắp nói.  Nói khác đi, cuộc đời trước đây của ông chứng minh cho sự cần thiết ông phải có một sự ăn năn quy đạo dứt khoát.  Chỉ có sự can thiệp đầy ân điển của Đức Chúa Trời mới có thể giải thích sự thay đổi đã xảy ra cho ông. 

Ga 1:15-16  Sự mặc khải  Trong phần mô tả đầy quyền năng về cách Đức Chúa Trời đã làm việc trong đời sống mình, Phao-lô viện dẫn những lời phán của chính Đức Chúa Trời với Giê-rê-mi: “Trước khi ngươi sanh ra, ta đã biệt riêng ngươi, lập ngươi làm kẻ tiên tri cho các nước” (Gie 1:5  Es 49:1-6).  Chẳng có gì để nghi ngờ là Phao-lô thấy chức vụ của ông chẳng những có thể so sánh với chức vụ của Giê-rê-mi mà hơn thế nữa, nó còn thật sự có liên hệ với công tác của các nhà tiên tri Cựu Ước, và theo một ý nghĩa, còn là tuyệt đỉnh của công tác ấy nữa.  Bây giờ thì rút cục, bức thông điệp cứu rỗi đang phá vỡ mọi hàng rào ngăn trở về dân tộc.  Ánh sáng đã chiếu rọi trên đất của người ngoại quốc, mà người Ga-la-ti là một bộ phận.

Tuy nhiên, điều đặc biệt có ý nghĩa là các từ ngữ được tích lũy một cách đầy ấn tượng trong hai câu 15.16, khiến chúng ta phải chú ý đến quyền tể trị và sự khởi đầu ân điển của Đức Chúa Trời.  Vui lòng (động từ đầu tiên trong bản Hi văn) để riêng tôi ra, gọi, ân điển, bày tỏ.  Điểm nhấn mạnh nầy trên ý chỉ tiền định của Đức Chúa Trời ngụ ý không còn nghi ngờ gì về nguồn gốc từ Đức Chúa Trời của Phúc Âm mà Phao-lô truyền giảng.  Đặc biệt, đây không phải là những nỗ lực của riêng ông, nhưng Đức Chúa Trời mới là nhân tố duy nhất chịu trách nhiệm cho chức vị sứ đồ của ông.

Ga 1:16b-24 Sau khi ông trở lại đạo  Ý chính của phân đoạn này là rõ ràng.  Phao-lô muốn khẳng định rằng trong những năm đầu tiên ông thi hành chức vụ, là thời gian hình thành sự phân biệt trong công tác truyền giảng của ông, ông đã không chịu ảnh hưởng lâu dài nào của các vị sứ đồ khác.  Ông bảo rằng lập tức ngay sau khi trở lại đạo, ông đã đi qua xứ A-ra-bi và ở đó ba năm – thay vì đi cầu học với một người nào (nguyên văn “thịt và máu” một nhóm từ lưu ý đến tính cách mong manh của con người).  Khu vực do dân Nabateans cai trị này vào thời đó có lẽ bao gồm thành phố Đa-mách thời đó (Cong 9:19-22).  Dù sao thì ý chính của Phao-lô là ông đã không hề trải qua một giai đoạn thụ huấn với các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem.  Cuối cùng, khi ông quay trở lại Giê-ru-sa-lem, thì việc tiếp xúc giữa ông với Phi-e-rơ rất hạn chế, và nhân vật quan trọng duy nhất mà ông gặp là Gia-cơ, em trai của Chúa.  Mức độ hạn chế của việc ông tỏ mình với Hội Thánh Cơ Đốc giáo đầu tiên trong xứ Giu-đê đã được xác nhận bằng sự kiện hầu như chẳng có ai biết ông cách riêng tư cả – tuy họ đều biết rõ việc ông trở lại đạo, một việc khiến cho Đức Chúa Trời được tôn vinh.

Điều quan trọng là cần lưu ý đến tính nghiêm túc trong lý luận của Phao-lô.  Trong câu 20.  ông đi xa đến mức thề (trước mặt Đức Chúa Trời) rằng lời chứng của ông là thật.  Đây là một dấu chỉ rõ ràng cho thấy Phao-lô đang đáp lại những lời tố cáo cụ thể nào đó.  Chắc chắn là các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái kia đã loan truyền nhiều câu chuyện về việc ông đã từng thụ huấn dưới chân các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem, như một môn đồ thường thụ huấn với một ra-bi.  cũng quan trọng để lưu ý rằng đến câu 24 thì Phao-lô đã hoàn tất lý luận của ông.  Suốt mười bốn (có lẽ là mười bảy) năm đầu tiên trong chức vụ của mình, khi đặc tính của công tác truyền giảng của Phao-lô đã được xác lập, ông không có cơ hội nào để được huấn luyện bởi một người nào.

3. Hai trường hợp đặc biệt (Ga 2:1-21)

Sau khi đã xác lập rằng những lần tiếp xúc đầu tiên của ông với các môn đệ không thể giải thích chức sứ đồ của mình, Phao-lô nêu ra hai vấn đề cụ thể mà các đối thủ của ông có thể đặt ra.

Ga 2:1-10 Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem  Vì khúc sách này rất quan trọng để xây dựng lại lịch sử nguyên thuỷ của Hội Thánh Cơ đốc, các học giả Tân Ước kinh đã rất chú ý đến nó.  Nhiều lý lẽ chi tiết và mang tính chuyên môn đã được phát triển đặc biệt nhằm mục tiêu xác định có phải cơ hội mà Phao-lô đề cập là chuyến viếng thăm được ghi lại trong 11:29-30 hay đó là cái gọi là Giáo hội nghị của các sứ đồ trong 15:1-41 (xem phần dẫn nhập).

Giữa cuộc tranh luận này, người ta rất dễ quên đi vấn đề chủ yếu: điểm chính của câu chuyện kể này là gì? Có lý do chính đáng để tin rằng Phao-lô đang đáp lại một lời tố cáo của các Cơ Đốc nhân người Do Thái mà đại loại là như thế này: “Vào một thời điểm nào đó trong chức vụ của mình, Phao-lô đã được yêu cầu đến dự một cuộc họp tại Giê-ru-sa-lem, đã gặp riêng Ba vị đại sứ đồ (Gia-cơ, Phi-e-rơ và Giăng) và đồng ý vâng theo lời chỉ giáo của các vị ấy, như đã được chứng minh bằng việc ông sẵn sàng thành lập quỹ cứu trợ cho các Cơ Đốc nhân trong xứ Giu-đê”.  Nếu quả đúng như thế chắc Phao-lô có thể đang giải quyết sự việc này, không phải vì ông cảm thấy bị bắt buộc phải ghi lại tất cả những lần tiếp xúc của mình với các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem (yếu tố này trong lý luận của ông được hoàn tất ở cuối chương 1), nhưng đúng hơn là vì các địch thủ của ông đã nêu nó ra và đã sử dụng nó một cách sai lầm.  Nói khác đi, Phao-lô cần phải làm cho minh bạch những gì đã được ghi lại.

Điểm đầu tiên cần chú ý là Phao-lô nhấn mạnh đến nguyên nhân và mục đích cuộc thăm viếng của ông (2).  Nguyên nhân là lời tỏ ra, không phải là vâng theo lệnh truyền của một người nào, nhưng là vâng theo lời chỉ dạy của Đức Chúa Trời.  Mục đích là thông báo cho các nhà lãnh đạo về chức vụ của ông, và làm như thế là để bảo đảm rằng các nỗ lực lớn lao trong công tác làm sứ đồ của ông đã không hoá ra ích.  Đây là một lời nhận xét đáng chú ý (Phi 2:16  ITe 3:5, có lẽ ám chỉ Es 49:4) và nó cho chúng ta biết một điều gì đó về các mối căng thẳng mà người ta ắt đã cảm thấy tại hội nghị ấy.  Ít nhất là theo cách nhìn của con người, thì dường như Phao-lô nghĩ rằng Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem hoàn toàn có thể sẽ đưa ra một quyết định sai lầm và có thể đã phá hoại chức vụ giảng đạo cho người ngoại quốc.  Niềm tin của vị sứ đồ nơi ý chỉ của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ trở nên sự tự kiêu.  Ông hiểu rõ thực tại của tội lỗi và điều ác, cũng như sự quan trọng trong trách nhiệm của mình.  Tuy ông tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành các lời hứa, và kiện toàn công việc của Ngài (Ro 8:28  Phi 1:6), nhưng sự kiện ấy không thể trở thành lý do để thụ động “giao cho Đức Chúa Trời” lo liệu vấn đề ấy.  Phao-lô sẽ vận dụng mọi nỗ lực để tiếp tục cuộc đua của ông (3:12-14) trong khi vẫn trông cậy việc làm của Đức Chúa Trời (2:12-13).

Thứ hai, cần chú ý rằng vị sứ đồ rất thẳng thắn về cuộc tranh đấu mà được mô tả là cuộc hội nghị (3-5).  Trong Hội Thánh có một “đảng chủ trương làm phép cắt bì” – những kẻ mà các sứ đồ xem là anh em giả, những người có động cơ thật sự là muốn phá hoại ngầm sự tự do thuộc linh mà Phúc Âm đem đến.  Rõ ràng là do muốn đưa Tít là người ngoại quốc ra để làm một trường hợp thử nghiệm, họ hẳn đã khăng khăng rằng Tít phải chịu cắt bì.  Phao-lô không nói rõ cho chúng ta biết phản ứng đầu tiên của Gia-cơ, Phi-e-rơ, và Giăng là gì, nhưng có lý do chính đáng để nghĩ rằng ba nhà lãnh đạo ấy, có lẽ lo lắng cho sự hợp nhất của Hội Thánh, nên có thể đã xét đến việc nhượng bộ đảng chủ trương phải làm phép cắt bì.  Tuy nhiên, vì được kêu gọi đặc biệt, Phao-lô hiểu rõ cách sâu xa các hàm ý của điều đang được thảo luận.  Chắc những cơn xúc động đã dâng lên cao, như cú pháp Hi văn đứt quãng của mấy câu này gợi ý.  Bằng mọi giá, vị sứ đồ đã không chịu nhượng bộ các anh em giả kia dù chỉ là trong một giây phút nào, hầu cho lẽ thật của Tin Lành được vững bền trong anh em (là những người ngoại quốc).  Tóm lại, các nhà lãnh đạo đã không buộc Tít phải chịu phép cắt bì.

Thứ ba, Phao-lô dành phân nửa phần thuật sự của ông liên quan đến Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem để giải thích kết quả của hội nghị, được diễn tả một cách tiêu cực (6,10) lẫn tích cực (7-9).  Trái với lời rêu rao của những Cơ Đốc nhân gốc Do Thái, sự thật là ba vị sứ đồ nầy đã không áp đặt những thay đổi trên chức vụ và sứ điệp của ông.  Quả thật, các nhà lãnh đạo này muốn Phao-lô quan tâm đến người nghèo trong xứ Giu-đê, nhưng yêu cầu đó chẳng có gì là trái với chức vụ đặc biệt của ông, cho nên ông đã vui vẻ chấp nhận (Rất có thể đã có một mối liên hệ nào đó giữa lời yêu cầu này với việc quyên góp tiền cứu trợ mà Phao-lô thảo luận trong Ro 15:25-27 và IICo 8:1-9:15.  Một việc tình cờ cũng đáng ghi nhận, là Phao-lô không thấy có mâu thuẫn nào giữa chức vụ truyền đạo, với các nỗ lực của ông nhằm đáp ứng các nhu cầu thuộc thể của người nghèo).

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là kết quả tích cực.  Gia-cơ, Phi-e-rơ và Giăng đều tỏ ra tôn trọng và bình đẳng với ông.  Cụ thể là họ “nhận biết” rằng Đức Chúa Trời đã ban cho Phao-lô một ân tứ đặc biệt của chức sứ đồ để hoạt động giữa người ngoại quốc.  Trong sự kiện này, có một điều hơi mỉa mai.  Bản thân Phao-lô đã không nhờ đến ba vị đại sứ đồ như thể ông phải lệ thuộc uy quyền của họ (vốn chẳng làm cho tính cách hợp pháp của chức vụ của ông trở nên khác đi).  Tuy nhiên các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái kia thực sự đã nhờ đến uy quyền ấy, lại trở thành những kẻ vi phạm thoả ước Giê-ru-sa-lem bằng việc đòi hỏi người ngoại quốc phải chịu phép cắt bì!

Ga 2:11-21 Tranh chấp tại An-ti-ốt  Cũng như các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái kia có lẽ đã nhờ đến (một cách sai lầm) giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem để làm hậu thuẫn cho những lời tố cáo của họ thế nào, thì cũng có thể là họ tìm cách phá hoại thanh danh của Phao-lô bằng cách phóng đại cuộc tranh cãi đã xảy ra trong thành phố dân ngoại An-ti-ốt.  Cuối cùng, nếu Phao-lô đã có can đảm công khai khiển trách vị đại sứ đồ Phi-e-rơ, thì phải chăng hành vi đó không chứng tỏ rằng Phao-lô đã ly khai với Hội Thánh ở tại Giê-ru-sa-lem? Đây không phải là chứng cứ rõ ràng nhất cho thấy ông là một kẻ bội đạo bất kính, không nên tin cậy sao?

Để đáp lại, Phao-lô trước hết nêu ra một tóm tắt ngắn gọn về sự việc (11-14).  Ông không phủ nhận là mình đã từng phản đối Phi-e-rơ nhưng cũng cho biết tại sao đó là một điều đáng phải làm.  Thoả ước Giê-ru-sa-lem quả thật đã thừa nhận có một sự phân biệt giữa chức vụ cho người Do Thái, là những người có thể tiếp tục thực hành Do Thái giáo sau khi đã trở thành Cơ Đốc nhân, với chức vụ cho người ngoại quốc, là những người không bị buộc phải trở thành người Do Thái.  Nhưng thoả ước ấy không nêu rõ điều phải làm nếu hai nguyên tắc ấy xung khắc với nhau.  (Cần lưu ý rằng cái gọi là quyết nghị được đề cập trong Cong 15:23-29 cũng làm cho vấn đề này trở nên mơ hồ.  Nếu đó cũng chính là hội nghị mà Phao-lô đề cập trong khúc sách này của thư Ga-la-ti, thì vấn đề tại An-ti-ốt vẫn có thể được hiểu dễ dàng cùng với những điều đã được gợi ý ở đây).

Chính việc thông công bàn ăn đã gây nên một cuộc xung đột như thế.  Nếu các Cơ Đốc nhân người Do Thái ngồi lại để cùng ăn với người ngoại quốc, thì có nguy cơ là họ đang vi phạm các luật lệ theo nghi lễ về vấn đề ăn uống.  Mặt khác, nếu họ từ chối ăn uống với người ngoại quốc, thái độ của họ sẽ phá hoại ngầm cái nguyên tắc định rằng người ngoại quốc phải được tiếp nhận trọn vẹn với tư cách là Cơ Đốc nhân mà không cần phải trở thành người Do Thái.  Bằng cách không đề cập đến vấn đề này, các sứ đồ đã để lại nó cho lương tâm của mỗi cá nhân.  Rõ ràng là các Cơ Đốc nhân người Do Thái tại An-ti-ốt nói chung đã chọn thông công với người ngoại quốc, và như thế đã mở rộng ý nghĩa của những gì các vị sứ đồ đã làm tại Giê-ru-sa-lem.  Lúc đến thăm thành phố ấy.  Phi-e-rơ đã vui vẻ hoà nhập với cách thu xếp ấy, nhưng khi có mấy kẻ của Gia- saiđến (12) thì một vấn đề nghiêm trọng đã được đặt ra cho ông.

Không rõ là những người này có quan hệ như thế nào đối với Gia-cơ: có thật là họ được Gia-cơ sai phái, hay đó chỉ là lời tự xưng của họ? Dù sao thì họ cũng là những Cơ Đốc nhân xứ Giu-đê không phải đối phó hằng ngày với sự có mặt đông đảo của người ngoại quốc, nên không hiểu rõ tình hình tại An-ti-ốt, Theo lẽ tự nhiên, họ đã lý giải cách cư xử của Phi-e-rơ là đã chối bỏ lai lịch Do Thái của mình, và thậm chí có thể còn cho đó là một hình thức bội đạo nữa.  Do sợ sự phê phán của họ và những hậu quả có thể có, Phi-e-rơ bắt đầu giữ một khoảng cách với người ngoại quốc.  Lẽ tự nhiên, các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái cũng làm theo ông.  Nếu việc tránh mặt người ngoại quốc ngay từ đầu đã là đặc điểm trong thái độ cư xử của Phi-e-rơ, như một vấn đề của lương tâm, thì có thể hiểu rằng Phao-lô đã không phản đối.  Tuy nhiên, vì trước đó Phi-e-rơ từng chứng tỏ rằng ông không hề e ngại việc phải cùng ăn chung với người ngoại quốc nên việc rút lui sau đó của ông gợi ý rằng người ngoại quốc không thể được tiếp nhận trọn vẹn như là một thành phần của dân sự Đức Chúa Trời.  Trong một ý nghĩa nào đó, ông đang ép buộc họ phải trở thành người Do Thái (14).

“Một cơn khủng hoảng nghiêm trọng đã nảy sinh.  Nhưng Đức Chúa Trời đã không bỏ rơi Hội Thánh Ngài.  Hội Thánh được cứu qua công cụ Phao-lô… Ông đã được bày tỏ các hàm ý trọn vẹn của Phúc Âm, với ông, sự tự do của người ngoại quốc là một vấn đề về nguyên tắc, nên khi nguyên tắc ấy bị đe doạ, ông chẳng bao giờ im lặng” (J.  Gresham Machen, The Origin of Paul Religion -Macmillan, 1921, p.  102).  Do đó, Phao-lô đã có các biện pháp cực đoan cần thiết trong tình hình ấy.  Vấn đề không phải là Phi-e-rơ và Phao-lô đã bất đồng ý kiến về giáo lý như có thể các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái đã gợi ý (cũng như nhiều học giả hiện đại khẳng định) vấn đề là cách cư xử của Phi-e-rơ đã không phù hợp với các nguyên tắc của ông, như Phao-lô tiếp tục giải thích trong mấy câu 15-21.

Thứ nhất, Phao-lô vạch rõ rằng cả ông lẫn Phi-e-rơ cũng như toàn thể các Cơ Đốc nhân người Do Thái khác, bằng việc đặt đức tin vào Chúa Cứu Thế Giê-xu, đã thừa nhận rằng luật pháp Do Thái không đủ khả năng giúp họ trở thành công chính trước mặt Đức Chúa Trời (15-16).  Nếu đúng là như thế, thì hệ quả là người Do Thái cũng là tội nhân chẳng kém chi người ngoại quốc, chẳng có gì trong họ khiến cho Đức Chúa Trời khen ngợi cả.  Vì Phi-e-rơ nhận ra một cách đầy đủ điều đó, nên ông không còn phản đối việc nới lỏng một vài luật lệ theo nghi lễ và do đó, người ta có thể nói rằng ông ta đã có hành động giống như “một tội nhân người ngoại quốc” liên quan với các luật lệ về kiêng ăn và thông công tại bàn ăn (17a).

Thứ hai, Phao-lô phủ nhận ý kiến cho rằng việc xóa bỏ các nghi lễ Do Thái giáo sẽ khiến cho Phúc Âm của Chúa Cứu Thế trở thành một công cụ của tội lỗi.  Hoàn toàn trái lại, nếu Phao-lô, là người sau khi đã nhờ Phúc Âm mà gạt qua một bên các luật lệ ấy lại phải theo gương Phi-e-rơ để tái lập chúng, là ông đã phạm tội nghiêm trọng (17b-18).

Thứ ba, trong những câu phát biểu sâu nhiệm nhất trong các bức thư của ông, Phao-lô khẳng định rằng có điều nghịch lý là chính luật pháp đã dẫn ông đến chỗ có hành động như thế: Vả, bởi luật pháp, tôi đã chết cho luật pháp, để sống cho Đức Chúa Trời (19).  Phao-lô muốn nhấn mạnh, rằng nếu tôi tự gỡ mình ra khỏi luật pháp, tức là tôi tuân thủ luật pháp đó! Chính luật pháp đã dạy tôi phải xé bỏ nó đi.  Luật pháp đã làm việc ấy như thế nào? Có lẽ Phao-lô đang nghĩ đến việc Christ đã chịu sự rủasả của luật pháp tại thập tự giá và Cơ Đốc nhân đã cùng chết với Ngài (c.20  Ga 3:13  Ro 6:1-4).  Đúng hơn  là ông đang báo trước luận cứ mà ông sẽ đưa ra trong Ga 3:19-25.  Bởi chức năng hạn chế và buộc tội của nó, luật pháp đã dẫn chúng ta đến với đức tin nơi Chúa Cứu Thế, là Đấng giải phóng chúng ta khỏi sự nguyền rủa và quyền lực của luật pháp.

Thứ tư, vị sứ đồ đã làm sáng tỏ như pha lê điều đã thúc đẩy ông nói mạnh như thế (20-21).  Đó chính là giá trị của sự chết của Chúa Cứu Thế, và do đó, nguyên tắc của ân điển đang bị đe doạ.  Nếu chúng ta sống cho Đức Chúa Trời, thì đó là nhờ chúng ta hợp nhất với Chúa Cứu Thế đã chịu đóng đinh vào thập tự giá mà thôi (6:14).  Ngài đã tự phó mình cho chúng ta, và khiến chúng ta có thể sống bằng đức tin.  Nếu các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái là đúng – nếu chúng ta có thể nhờ giữ luật pháp mà được xưng công chính – thì không cần phải có ân điển nữa, và sự phó mình của Chúa Cứu Thế sẽ là một sự lãng phí.

3. PHÚC ÂM CỦA PHAO-LÔ (Ga 3:1-4:31)

Đã có tranh luận là liệu đoạn cuối của chương trước (2:15-21) có phải là một sự tóm tắt lời của Phao-lô nói với Phi-e-rơ, hay vị sứ đồ đã rời khỏi tiêu điểm của mình, và bắt đầu ngỏ lời trực tiếp với người Ga-la-ti.  Dường như rất có thể là phần sách này phản ánh đến một mức độ nào đó bài giảng của Phao-lô tại An-ti-ốt.  Nhưng ngay cả khi đây là đoạn trích dẫn gần như nguyên văn, thì chắc chắn là Phao-lô đang nghĩ đến các nhu cầu của người Ga-la-ti, cho nên phân đoạn này được dùng như một nhịp cầu bắc sang phần trung tâm của bức thư.  Trong hai chương 3 và 4, vị sứ đồ phải thuyết phục họ rằng sự công chính không phải là nhờ giữ luật pháp, nhưng là nhờ đức tin, mới xác định được họ có phải là con cháu thật của Áp-ra-ham hay không.

Luận cứ thần học này chủ yếu bao gồm một đoạn dài bắt đầu từ 3:6 (hay 3:7) và kết thúc ở 4:7.  Cả đoạn dẫn nhập (3:1-5 hay 3:1-6) và đoạn tiếp theo (4:8-20) dường như đều nói đến từng trải của người Ga-la-ti, tuy chúng ta phải tránh một sự phân biệt quá rõ rệt giữa các phương diện tri thức và kinh nghiệm (thí dụ 3:1-5 không phải là không có nội dung thần học, trong khi 3:26-29 chú trọng vào điều mà người Ga-la-ti đã từng trải trong Chúa Cứu Thế).  Đoạn kết (4:21-31) viện đến sự dạy dỗ của Kinh Thánh, tuy luận cứ của Phao-lô ở đây khác hẳn với phương pháp ông sử dụng Cựu Ước trong 3:6-14.

1. Sự kêu gọi đầu tiên (Ga 3:1-5)

Tính cá nhân mạnh mẽ của sự kêu gọi trong những câu này thật rõ ràng qua câu nói Tôi chỉ hỏi anh em một câu này (2).  Việc Phao-lô phản ánh về sự chết của Chúa Cứu Thế, đặc biệt là về việc cách cư xử của người Ga-la-ti là phủ nhận giá trị của sự chết ấy (2:21) khiến ông đưa ra một loạt các câu hỏi tạo thành một âm hưởng đầy xúc động (1,2,3a,3b,4a,5).  Ông đã hai lần gọi người Ga-la-ti là ngu muội, gợi ý rằng họ đã bị thôi miên và đang từ bỏ Thánh Linh.  Tóm lại, kinh nghiệm của họ có nguy cơ trở nên vô ích dù cho qua công tác truyền bá Phúc Âm, họ đã nhìn thấy Chúa Cứu Thế Giê-xu bị đóng đinh vào thập tự giá ngay trước mắt họ (động từ được dịch là chịu sự khốn khó trong câu 4 có nghĩa rộng hơn, là “từng trải kinh nghiệm” do đó, ám chỉ những sự bày tỏ đầy quyền năng của Đức Thánh Linh).

Thật thú vị khi chú ý những điểm tương phản mà Phao-lô đã tạo ra trong khúc sách này.  Trong câu 2 và câu 5, ông phân biệt giữa làm bởi các việc luật pháp với nghe tin.  Nhóm từ sau có thể được dịch ra nhiều cách khác nhau, như “sự nghe từ đức tin mà đến”, “việc nghe có đức tin kèm theo” hay đúng nhất là “bức thông điệp tạo ra (hay kêu gọi người ta phải có) đức tin” (xem nhóm từ tương tự trong Ro 10:17).  Tuy những cách dịch trên  có vẻ như có phần nhấn mạnh vào những điểm khác nhau, nhưng tất cả đều truyền đạt một ý chính: có một sự tương phản rõ rệt giữa một đời sống tuân giữ luật pháp Do Thái giáo với hành động tin nơi thông điệp của Phúc Âm.

Một nét tương phản như thế cũng được Phao-lô diễn tả cách khác trong câu 3 khởi sự nhờ Đức Thánh Linh đối lại với cậy xác thịt làm cho trọn.  Bản NIV đã dịch vế sau là cố tìm cách đạt được mục tiêu của anh em bằng nỗ lực của con người.  Cách dịch này lột tả được ý tưởng một cách chính xác, nhưng lại làm mờ đi nét tương phản giữa hai từ, “xác thịt” và “Đức Thánh Linh” vốn là chủ đề tái hiện luôn trong bức thư này (xem các chú thích trong Ga 4:23,29  5:13,16-26  6:8,12).  Điểm cần chú ý ở đây là Phao-lô phân chia nhiều từ thành hai hệ thống phân biệt và luôn luôn mâu thuẫn nhau.  Hệ thống này là công việc của luật pháp, xác thịt, tôi mọi, tội lỗi, sự chết  Hệ thống kia là đức tin, Đức Thánh Linh, sự thừa kế và lời hứa, sự tự do và quyền làm con, sự công chính và sự sống. Nhóm thứ nhất là các đặc điểm của đời này (1:4), nhóm thứ hai phản ảnh đời mới hầu đến, là Giê-ru-sa-lem ở trên trời (4:26).

Do đã nghe Phúc Âm giả của những Cơ Đốc nhân gốc Do Thái, người Ga-la-ti chối bỏ từng trải có thật về việc họ đã nhận được Đức Thánh Linh với toàn thể quyền năng và những việc lạ lùng của Ngài.  Họ phải hiểu rằng việc làm đó cho thấy họ đang thối lui.  Thay vì sống như các con cái của đời hầu đến, họ lại trở về với những điều sơ đẳng của thế gian này (tham khảo 4:8-10).

2. Các luận cứ cơ bản (Ga 3:6-29  4:1-7)

(Ga 3:6-29). Vị sứ đồ tiếp tục đưa ra một loạt các lý luận kỹ lưỡng, tập trung vào mối quan hệ giữa lời hứa cho Áp-ra-ham với việc ban bố luật pháp.  Câu 6 có thể được xem là phần kết thúc cho phân đoạn dẫn nhập, hay là phần bắt đầu cho một phân đoạn mới.  Dù là trường hợp nào thì nó cũng được dùng làm một nhịp cầu bình luận, làm nổi bật vấn đề thực tế trước người Ga-la-ti, ấy là làm thế nào để trở thành con cháu Áp-ra-ham.  Khi Phao-lô chứng minh rằng câu trả lời không thể là nhờ giữ luật pháp mà là bởi đức tin (3:4-14), thì một câu hỏi khác không thể tránh né đã nảy sinh: Thế thì luật pháp có chức năng gì (3:15-25)?

Ga 3:6-14 Lời hứa cho Áp-ra-ham  Câu trích dẫn từ Sa 15:6 trở thành yếu tố then chốt cho Phao-lô, để ông sẽ dùng văn bản này một lần nữa trong Ro 4:1-25, chỗ ông bàn rộng ra về ý nghĩa quan trọng của Áp-ra-ham.  Luận điểm thật đơn giản: nếu Đức Chúa Trời kể Áp-ra-ham là công chính vì ông tin Ngài, thì chắc chắn con cháu thật của Áp-ra-ham cũng phải là những người có đức tin giống như ông vậy (4:11-12).  Thêm vào đó, Phao-lô còn trích dẫn thêm một câu nữa từ Sáng Thế ký, chú trọng vào ý nghĩa của đời sống của Áp-ra-ham đối với người ngoại quốc.  Các dân tộc trên thế gian sẽ nhờ ngươi được phước (Sa 18:18  22:18  12:3  26:4  28:14).  Có vẻ như Phúc Âm của Phao-lô về sự tự do đã được truyền giảng từ rất lâu trước khi Chúa Cứu Thế giáng lâm vậy.

Sau khi nhận dạng tính cách của mối quan hệ của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham (6-9), vị sứ đồ chuyển sang khai triển một định đề có tính cách tiêu cực trong câu 10-14: sự công chính phải đến qua đức tin chớ không phải qua luật pháp, bởi vì luật pháp không thể xưng công bình cho ai.  Luận cứ trung tâm là ở hai câu 11-12, được hậu thuẫn bằng hai câu trích dẫn, một là từ sách Ha-ba-cúc, câu kia từ Lê-vi ký.  Ha 2:4 thường được dịch là người công chính (sẽ) sống bởi đức tin.  (Hi văn mà Phao-lô viết, chớ không phải là câu tương ứng trong văn bản Hi Bá lai của Cựu Ước kinh, cũng có thể được dịch là “người công chính nhờ đức tin sẽ sống”).  Khúc sách này là căn bản cho giáo huấn của Phao-lô.  Thật vậy, câu trích dẫn này được dùng làm chủ đề để căn cứ vào đó mà thư Rô-ma được khai triển (Ro 1:6-17).

Vì văn bản Hi Bá lai phải được dịch một cách tự nhiên nhất, là “người công chính sẽ sống nhờ sự trung tín mình”, cho nên một số người lý luận rằng Phao-lô đã sử dụng sai Cựu Ước, vì câu ấy thoạt nghe có vẻ như khuyến giục người ta phải vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời.  Tuy nhiên, bản thân Ha 2:4 là một câu rõ ràng đề cập Sa 15:6 (cả hai khúc sách đều dùng cùng những ngữ căn chủ chốt trong Hi Bá lai văn để chỉ sự công chính và đức tin, sự trung tín).  Có lẽ nhà tiên tri đang đặt trước mặt mình cuộc đời “đầy đức tin” của Áp-ra-ham, kể cả việc vị tộc trưởng đã sẵn sàng dâng Y-sác lên cho Đức Chúa Trời, nhưng chắc chắn là đời sống ấy phải được xem như là kết quả của hành động đầu tiên của đức tin.  Tuy rằng trong chương 3 Phao-lô khôngkhai triển các hàm ý đạo đức của đức tin, nhưng rõ ràng là căn cứ vào Ga 5:13-6:10  Ro 6:1-8:39, thì ông đã xem một đời sống vâng lời ( sự trung tín) là không thể tách rời với đức tin vốn xưng công bình cho con người.  Vị sứ đồ không dùng Ha 2:4 với chủ đích nói ngược lại văn bản gốc.  Thậm chí người ta còn có thể lý luận rằng giáo lý của ông về đức tin và sự công chính đã nảy sinh từ việc câu của Ha-ba-cúc phụ thuộc vào khuôn mẫu Áp-ra-ham.

Một vấn đề khác cũng được đặt ra là dường như Phao-lô đã đặt 2:4 đối lập với Le 18:5 “Người nào làm theo (luật pháp và mạng lệnh ta), thì sẽ nhờ đó mà sống” để suy diễn rằng “luật pháp không căn cứ trên đức tin” (nguyên văn “luật pháp không từ đức tin mà ra”).  Chẳng có gì thắc mắc trong việc vị sứ đồ thừa nhận một sự tương phản cơ bản giữa việc quản trị bằng luật pháp Môi-se với việc phục vụ bằng Phúc Âm (IICo 3:6-18).  Nhưng phải chăng điều đó có nghĩa rằng ông xem bản thân luật pháp là đối lập với nguyên tắc của đức tin? Chắc chắn là không, như chính văn cảnh của chương 3 – đặc biệt là câu 21 – đã làm sáng tỏ.  Tiêu điểm của cả khúc sách này là vai trò của luật pháp để được thừa hưởng di sản của Áp-ra-ham, sự công chính và sự sống (đặc biệt c.18).  Thật vậy, luật pháp sẽ mâu thuẫn với nguyên tắc của đức tin nếu mục đích của luât pháp là để xưng công bình người ta.  Nói cách khác đi, chính những Cơ Đốc nhân gốc Do Thái (rất có thể là đã viện vào Le 18:5 để hậu thuẫn cho lập trường của họ) đã đặt luật pháp và lời hứa vào vị trí đối lập với nhau khi bảo rằng nếu người ngoại quốc muốn nhận được lời hứa của Áp-ra-ham thì phải giữ luật pháp.

Dù ở trường hợp nào, Phao-lô cũng sử dụng nét tương phản giữa hai văn bản này (Ha 2:4 và Le 18:5) như là bằng cớ chứng minh rằng luật pháp không thể nào cung cấp sự công chính.  Tuy nhiên, luận cứ này còn được “tinh luyện” thêm bằng hai câu trích dẫn khác, một ở trong câu 10 còn câu kia là ở trong câu 13.  Câu trước trích dẫn Phu 27:26 là câu đặt sự nguyền rủa trên mọi người không làm trọn các công việc của luật pháp (nói khác đi luật pháp nguyền rủa hơn là xưng công bình).  Câu thứ hai trích dẫn 21:23 mà Phao-lô hiểu là một câu dự báo về công tác mà Chúa Cứu Thế gánh thay sự nguyền rủa.  Chúng ta không cần phải thất vọng về sự bất lực của luật pháp trong việc xưng công bình cho người ta và quyền rủa sả của nó.  Bởi sự chết của Ngài, Chúa Cứu Thế đã giải cứu (cứu chuộc) chúng ta khỏi sự nguyền rủa, và bởi đó, khiến cho lời hứa cho Áp-ra-ham được thực hiện qua Đức Thánh Linh (14).

Ga 3:15-25 Địa vị của luật pháp  Sau khi đã diễn giải một cách khá tiêu cực về luật pháp như thế rồi, có lẽ Phao-lô cảm thấy sự cần thiết phải mở rộng thêm về vấn đề luật pháp phù hợp ra sao với các chủ đích của Đức Chúa Trời.  Đâu là mối liên hệ giữa luật pháp với lời hứa cho Áp-ra-ham? Câu trả lời của ông chú trọng vào việc luật pháp vừa có sau việc ban lời hứa (15-18) vừa có trước lúc lời hứa được ứng nghiệm (19-25).

Thứ nhất, vị sứ đồ chỉ ra rằng giao ước bằng luật pháp đã được Đức Chúa Trời ban bố hơn bốn trăm năm sau khi Ngài lập giao ước với Áp-ra-ham (từ ngữ được dịch là giao ước thường có nghĩa là “di chúc” , nhưng đã được Bản Bảy mươi dùng để dịch từ Hê-bơ-rơ chuẩn chỉ về “giao ước.” Thật khó xác định có phải Phao-lô có ý muốn nói đến cả hai nghĩa ở đây hay không.  Luận điểm của ông thật rõ ràng: người ta không thể nào quan niệm được rằng giao ước sau lại huỷ bỏ giao ước trước.  Nhưng đó thật sự là việc mà luật pháp sẽ làm nếu nó có thể ban di sản căn cứ vào một điều gì khác hơn là lời hứa của ân điển.  Thật ra thì chính giáo huấn của các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái đã tạo ra một sự xung khắc một mất một còn giữa hai giao ước (17).  Di sản được ban cho, hoặc là nhờ ân điển, hoặc là nhờ các công việc của luật pháp và vì nó đã được ban cho nhờ cái trước rồi, thì nó không thể có được nhờ cái sau (18,  Ro 4:5).  Trong tiến trình lý luận, Phao-lô nhắc nhở người Ga-la-ti về một điều mà họ (và có thể là cả các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái nữa) đã tiếp nhận rồi, tức là lời hứa cho con cháu Áp-ra-ham đã được ứng nghiệm trong Chúa Cứu Thế (16).  Điểm này sẽ trở thành quan trọng trong luận cứ tiếp theo đây.

Thứ hai, Phao-lô nhấn mạnh rằng luật pháp đến sớm hơn, và theo một ý nghĩa nào đó, nó dọn đường cho sự ứng nghiệm lời hứa ấy (19-25).  Điểm chính ở đây là tính cách tạm thời của luật pháp Môi-se.  Nó được ban bố trong một giai đoạn, cho đến khi “người dòng dõi” là Chúa Cứu Thế đến (19).  Một khi thực tại của đức tin đã đến trong thân vị của Chúa Cứu Thế, thì chức năng giám sát của luật pháp cũng chấm dứt (25).  Thay vì mâu thuẫn với lời hứa, luật pháp đã phục vụ cho các mục đích của Đức Chúa Trời bằng cách “cầm tù” các thần dân tội lỗi của nó, canh giữ và hạn chế họ trong nhiều việc như trong thế giới của người La Mã, người “thầy giáo” (paidagơgos, một nô lệ được giao trách nhiệm coi sóc trẻ em) sửa trị những kẻ ở dưới quyền mình vậy (từ ngữ paidagơgos xuất hiện trong hai câu 24 và 25, nhưng không được bản NIV dịch đúng nguyên văn).  Nói khác đi, công tác quản trị của luật pháp Môi-se ở dưới quyền của giao ước Áp-ra-ham nên thực sự đã chuẩn bị cho các thần dân của nó về sự bày tỏ của Phúc Âm .  Ý niệm này còn được bàn kỹ thêm trong Ga 4:1-7.

Đặc tính phụ thuộc của chức năng luật pháp được nêu ra theo nhiều cách khác nhau trong câu 19.  Một là, nó được thêm vào, nghĩa là nó không phải là giao ước nguyên thuỷ.  Hai là, sở dĩ nó được ban bố là cớ những sự phạm phép, có thể có nghĩa là luật pháp vốn có ý định hạn chế tội lỗi, hay càng có lý hơn là đưa những vi phạm ra ánh sáng (Ro 3:19-20  4:13-15  5:13) và thậm chí còn khiến cho chúng gia tăng nữa (theo nghĩa của 5:20  7:7-11).  Ba là, nó được ban ra bởi mấy thiên sứ truyền ra bởi một người trung bảo vốn gợi ý nó có phần nào thấp kém hơn giao ước với Áp-ra-ham (nghĩa chính xác của câu 20 không được rõ ràng, ngay cả sau nhiều cuộc tranh luận của nhiều học giả và  bản dịch khác nhau).  Tóm lại, luật pháp không thể truyền đạt sự sống, cũng không thể xưng công bình.  Đã không huỷ bỏ đặc tính ân điển của lời hứa, luật pháp còn đề cao các chủ đích của Đức Chúa Trời, và dạy chúng ta phải chết đi đối với luật pháp ấy (Ga 2:19) để có thể được kể là công chính bởi đức tin.

Ga 3:26-29 Kết luận: quyền làm con thật (3:26-4:7)  Từ ngữ “con trai” (Hi văn huioi) trong câu 26 là từ then chốt  được đưa vào ngay từ đầu phần của sách quan trọng này (c.7, được bản NIV dịch ra là “con cái hay con cháu”).  Đây là một đầu mối quan trọng để hiểu lô-gíc trong lý luận của Phao-lô.  Chúng ta có thể nghĩ về câu 26-29 như là phần tóm tắt của lý luận ấy.  Nhưng cũng như một nhà soạn nhạc không chỉ nhắc lại một chủ đề vào cuối mỗi phần của giao hưởng, ở đây Phao-lô cũng không thể hài lòng mà nói về quyền làm con của Áp-ra-ham.  Trái lại, ông đã mở rộng ý này thêm một bước xa hơn.  Anh em hết thảy đều con trai của Đức Chúa Trời (một ý niệm sẽ được ông khai triển trong 4:1-7).  Các chủ đề nổi bật khác trong chương này được đan xen vào nhau để tạo nên khúc sách này: lời hứa (14), quyền thừa kế ( 18), và đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu (22).  Như một nhà giải kinh đầu tiên đã chú giải về câu 29: “Lời tuyên bố trong câu 7 bây giờ còn được tiếp tục hậu thuẫn và khai triển bởi 22 câu mang lý luận sâu nhiệm, đa dạng và toàn diện nhất từng được thấy trong toàn thể phạm vi của các văn phẩm của vị đại sứ đồ này” (C.  J.  Ellicott, A Critical and Grammatical Commentary on StPauls Epistle to the Galatians – J.  W.  Parker and Son, 1854, p.72).

Ngoài ra, hai điểm quan trọng khác lần đầu tiên được đưa vào đây.  Trước hết, là sự nên một trong Chúa Cứu Thế.  Lẽ dĩ nhiên, sự lưu ý rằng Phúc Âm đã phá bỏ mọi chia rẽ giữa dân Do Thái và người ngoại quốc (tham khảo Eph 2:11-18) ẩn phía sau những gì Phao-lô nói trong bức thư này.  Tuy nhiên, trong câu 28, vị sứ đồ diễn tả chân lý một cách đầy quyền năng, nhấn mạnh rằng nhiều trường hợp chia rẽ khác nữa (nô lệ/người tự do, nam/nữ) đều chẳng có dính dáng gì với địa vị của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời.  Nếu câu này đã được sử dụng và lạm dụng trong một nỗ lực nhằm phát triển một nền đạo đức học Cơ Đốc, chúng ta sẽ không thể bỏ qua tầm quan trọng lớn lao của nó đối với đề tài trước mắt.  Và nhất là trong thời đại của chúng ta, khi chúng ta trở nên rất ý thức về năng lực phá hoại của thành kiến – dù là trên cơ sở lai lịch chủng tộc, địa vị xã hội, hay phái tính – chúng ta phải vui mừng trong Phúc Âm này, vì Phúc âm không ủng hộ sự thiên vị nào về phương diện thuộc linh, và học tập cách ăn ở cư xử sao cho chân lý được bày tỏ trước một thế gian hỗn loạn.

Chủ đề thứ hai được nêu rõ ở đây là sự hiệp một với Chúa Cứu Thế.  Ý niệm này đã được Phao-lô gợi ý khi ông ông nhấn mạnh đức tin nơi Chúa Cứu thế Giê-xu, nhưng còn được nâng cao bằng sự đề cập đến việc chịu phép báp-tem trong Đấng Christ, và mặc lấy Đấng Christ (27, tham khảo Ro 6:1-4  13:14  Eph 4:24  Co 3:10) bằng lời tuyên bố rằng chúng ta được làm một trong Đấng Christ (28), và một nhận xét tóm tắt rằng chúng ta đều thuộc về Đấng Christ (29).  Thật khó có thể phóng đại tầm quan trọng của giáo lý này đối với giáo huấn của Phao-lô, đây chính là điều giúp cho tất cả những gì ông nói về sự cứu rỗi trở thành liên hệ mạch lạc với nhau.  Chúng ta bắt đầu hiểu rõ ràng hơn tại sao Phao-lô lại nói về Chúa Cứu Thế là “người dòng dõi”: chúng ta là dòng dõi Áp-ra-ham chỉ khi nào chúng ta được hưởng sự hiệp một và sự liên kết với “người dòng dõi” mà thôi. 

Đọc lướt qua Ga 4:1-7, chúng ta có thể thấy rằng ở đây, vị sứ đồ đang bắt đầu một phần mới của bức thư.  Thật vậy, đây là một phần kết luận cho lý luận mang tính giáo lý của ông.  Nó là sự minh hoạ làm sáng tỏ những gì đã được nói trước đó về chức năng giám sát của luật pháp.  Điều quan trọng hơn, khúc sách này được dùng để đưa giáo lý về địa vị làm con đến một tuyệt đỉnh mạnh mẽ.

Hình ảnh người thầy giáo (paidogơgos, được dùng trong bản Hi văn của Ga 3:24-25) nhường chỗ cho hình ảnh kẻ bảo hộ kẻ coi giữ trong 4:2.  Vì họ là những người thật sự phụ trách, đứa con trai trong nhà cũng chẳng khác bao nhiêu với một tên nô lệ về một phương diện quan trọng: Sự hưởng gia tài hay quyền thừa kế.  Đứa con trai phải chờ đợi sự sắp xếp tối thượng của người cha vào ngày ấn định.  Ở đây, người Y-sơ-ra-ên vẫn còn sơ đẳng trong cách nhìn (những kẻ dưới luật pháp, c.5), nhưng Phao-lô giới thiệu một thuật ngữ mới là stoicheia (lề thói hay các nguyên tắc cơ bản, câu 3 cũng xem câu 9) cho phép ông mở rộng sự đề cập đến cả người ngoại quốc nữa.  Điểm chính có vẻ là nếu người ngoại đạo phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản về nghi lễ nào đó, thì trong một ý nghĩa, dân Do Thái cũng thế (một số học giả lại hiểu khác đi, rằng có lẽ thuật ngữ này đề cập đến các thế lực của thiên sứ hoặc của ma quỉ, tham khảo Co 2:18,20).

Dù sao thì tình trạng giống như nô lệ này vẫn tồn tại cho đến thời kỳ của sự ứng nghiệm, khi Con Đức Chúa Trời trở thành người và tự đặt mình dưới cùng một luật pháp ấy để có thể giải phóng chúng ta và khiến chúng ta trở thành những người con (4-5).  Đến đây, vị sứ đồ lại giới thiệu chủ đề về Đức Thánh Linh mà ông đã nêu ra với người Ga-la-ti từ ban đầu (Ga 3:3 cũng đối chiếu 3:14 và có lẽ tham khảo phép báp-tem ở 3:27 nữa).  Chỉ đến phần này, ý nghĩa của Đức Thánh Linh mới trực tiếp liên hệ với với giáo lý về quyền làm con.  Vì chúng ta đã tiếp nhận Thánh Linh của Con Đức Chúa Trời, lòng chúng ta ý thức rằng Đức Chúa Trời là Cha chúng ta và chúng ta là những người được trọn quyền kế tự.  Cần lưu ý sự mở rộng các ý niệm này trong Ro 8:14-17,26-27).

Ga 4:1-7; xem giải nghĩa Ga 3:26-29

3. Các viện dẫn khác (Ga 4:8-31)

Nói một cách chính xác, mặc dù đến đây Phao-lô đã kết thúc phần lý luận liên quan đến giáo lý, nhưng ông còn muốn tăng cường sự dạy dỗ của mình bằng việc viện dẫn đến cả kinh nghiệm của người Ga-la-ti (8-20) lẫn lời chứng của luật pháp (21-31).

Ga 4:8-20 Một lời kêu gọi đến từng trải của người Ga-la-ti  Mấy câu 8-11 nhắc nhở người Ga-la-ti về đời sống của họ hồi còn theo ngoại giáo.  Khúc sách này là cầu nối với khúc sách kế tiếp (12-20), nhưng sẽ là sai lầm nếu ta xem nó chỉ là phần chen giữa mà không thừa nhận rằng đó là phần tiếp theo của một câu phát biểu mạnh mẽ (7).  Ý chính của đoạn này là sự kiện đáng run sợ rằng người Ga-la-ti, vốn đã nếm được đời hầu đến (4), lại đang quay trở lại với địa vị nô lệ.  Sự tương phản được làm nổi bật nhất bởi khái niệm “nhận biết Đức Chúa Trời”: các tập tục trước kia của họ có thể được giải thích do việc họ không biết Đức Chúa Trời, nhưng cách cư xử như thế là không thể hiểu được, vì họ đã biết Ngài. Phao-lô nói rõ hơn bằng cách vạch ra rằng thay vì nói người Ga-la-ti biết Đức Chúa Trời, thì đúng hơn là phải nói rằng họ được Đức Chúa Trời biết lúc Ngài chủ động thiết lập mối quan hệ với họ.  Phân đoạn ngắn ngủi này kết thúc bằng một câu phát biểu thật cảm động (11) nhắc lại 2:2 và 3:4 và tự nhiên đưa đến phần có tính cách riêng tư hơn sau đó.

Câu 12-20 không phải là dễ hiểu.  Khúc sách bị làm cho tối nghĩa bởi những câu nói bóng gió về các sự kiện vốn quen thuộc với người Ga-la-ti mà chúng ta chẳng biết gì cả.  Ngoài ra, ngôn ngữ của Phao-lô thì đầy xúc động và vắn tắt.  Câu 16 dường như gợi ý rằng đã có một sự thông tin liên lạc nào đó giữa Phao-lô với người Ga-la-ti sau khi họ cảm thấy mối đe doạ của các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái.  Hơn nữa, câu: Anh em không làm hại cho tôi (12) được hiểu một cách tự nhiên nhất như là một câu trả lời cho một điều gì đó mà người Ga-la-ti có thể đã nói.  Mặt khác, việc được đề cập trong câu 13-15 hàm ý rằng Phao-lô cũng đang nghĩ đến việc họ nhận Phúc Âm trước đây.  “Lúc ấy tuy tôi không phải là một Cơ Đốc nhân gốc Do Thái mà đúng hơn là tôi đã trở thành người giống như anh em và anh em thay vì đối xử sai trái với tôi, đã tiếp rước tôi thật chu đáo”.

Tuy thật khó mà sắp xếp các chi tiết của khúc sách này, nhưng mũi nhọn cơ bản của nó khá rõ ràng.  Thái độ của người Ga-la-ti đối với Phao-lô đã thay đổi đáng kể.  Chỉ cần họ nhớ lại những lần ông đã tiếp xúc với họ trước đây – cả sự đau ốm của ông lẫn thái độ tử tế của họ đối với ông – chắc chắn họ sẽ phải xét lại cách cư xử hiện tại của họ.  Trên một phương diện nào đó, cách cư xử ấy là kết quả của việc một vài cá nhân muốn cho người Ga-la-ti quan tâm đặc biệt đến họ và vì vậy ngăn chận ảnh hưởng của Phao-lô (17).  Người Ga-la-ti cần cẩn thận xét lại động cơ của những người này (cho nên c.18 là một câu khó hiểu, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau).

Phao-lô kết thúc phần này bằng một nhận xét cảm động (19-20).  Nỗi khốn khổ đầy xúc động của ông khi đối phó với người Ga-la-ti chỉ có thể ví sánh với những cơn đau chuyển dạ. Sau đó, bằng cách cố ý phối hợp những ẩn dụ, vị sứ đồ chỉ ra nhu cầu căn bản nhất của họ ấy là Chúa Cứu Thế phải thành hình trong họ.  Nói khác đi, họ phải được biến đổi để trở thành hình ảnh của Chúa Cứu Thế (Ro 8:29). Tấm lòng chăn bầy của Phao-lô được biểu hiện trong những lời này, và trong ước mong tha thiết của ông được đến thăm họ để ông có thể nói chuyện với họ mặt đối mặt.

Ga 4:21-31 Một việc dẫn đến lời chứng của chính Thánh Kinh (Kinh Torah)  Việc xem khúc sách này như một lời kêu gọi khác – và vì vậy không phải là một phần của luận cứ cơ bản – có thể gợi ý rằng phân đoạn này không quan trọng.  Thật vậy, một số người xem sự mỉa mai trong câu 21 như một bằng chứng rằng Phao-lô không thật sự có ý muốn nói như ông đã nói.  Tuy nhiên, sự thật là truyện tích về A-ga và Sa-ra thủ một vai trò quan trọng trong nỗ lực của Phao-lô nhằm thuyết phục người Ga-la-ti.  Hơn nữa sự phân biệt rõ ràng giữa Ích-ma-ên và Y-sác sẽ trở thành tối quan trọng khi vị sứ đồ trau chuốt giáo lý này của ông trong thư Rô-ma (chương 9, đặc biệt là c.6-12).  Nhưng vẫn đúng nếu ta thừa nhận rằng truyện tích này trong Sáng Thế ký không phải là cơ sở cho quan điểm của ông về sự xưng công bình, một giáo lý đã được giải thích rõ ràng trong chương trước đây.  Thậm chí cũng có thể rằng câu chuyện đã được nêu ra bởi chính các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái và vì thế Phao-lô phản ứng lại câu chuyện ấy (tuy nhiên gợi ý này không thể được chứng minh).

Đã có nhiều tranh luận xoay quanh ý nghĩa của câu 24, cả điều đó một nghĩa bóng.  Phao-lô dùng thuật ngữ Hi văn allçgoroumena, vì thế, cách dịch đúng nguyên văn hơn có thể là “Những điều đó đã được viết theo nghĩa bóng” hoặc “những điều đó có thể được lý giải theo nghĩa bóng”.  Chắc chắn không phải là Phao-lô đang sử dụng phương pháp nói theo nghĩa bóng mà Philo người A-léc-xan-tri đã làm cho nổi tiếng, nghĩa là đánh giá thật thấp (hoặc thậm chí phủ nhận) tính cách lịch sử của phần thuật sự trong Cựu Ước và dùng làm phương tiện để hình thành các hệ thống triết học phức tạp.  Xét về ý nghĩa, có phần nào chuyên biệt mànghĩa bóng của từ đã in vào tâm trí của nhiều người ngày nay (thuật ngữ tương ứng trong Hi văn có thể được dùng theo nhiều cách tổng quát hơn), có thể sai lầm nếu dùng nó để mô tả điều mà Phao-lô đang làm trong khúc sách này. 

Mặt khác, chẳng có gì để thắc mắc gì rằng ở đây vị sứ đồ nhìn thấy điều gì đó không thuộc về điều mà chúng ta thường gọi là “ý nghĩa lịch sử” của một khúc sách.  Trong chừng mực mà bất cứ người nào cũng có thể nói, tác giả của chuyện kể trong Sáng Thế ký không tìm cách phân biệt giữa hai giao ước, cũng như không tìm cách mô tả mối liên hệ giữa Cơ Đốc nhân gốc Do Thái với người ngoại quốc.  Thế thì phải chăng Phao-lô đã không nghiên cứu kỹ Cựu Ước?

Điều quan trọng cần nhớ là xuyên suốt lịch sử của sự cứu chuộc, người ta có thể thấy các khuôn mẫu rõ ràng theo cách thức mà các biến cố dần dần bày tỏ ra.  Có lẽ rõ ràng nhất là khuôn mẫu “thử nghiệm dẫn đến sự không vâng lời” được thấy rõ ràng nơi A-đam và dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng, nhưng rồi đã bị Chúa Giê-xu phá vỡ khi Ngài chịu cám dỗ.  Đặc biệt quan trọng là sự phân biệt giữa cái tự nhiên với cái siêu nhiên, nghĩa là những gì mà con người cố gắng để tự sức mình làm lấy, đối lại với những gì họ nhờ cậy vào quyền năng của Đức Chúa Trời để hoàn tất.  Nguyên tắc này đã được truyền dạy nhiều lần trong lịch sử Thánh Kinh và câu chuyện về Ích-ma-ên và Y-sác là một thí dụ rất rõ ràng.  Chắc chắn rằng Đức Chúa Trời đang dạy dỗ dân Ngài phải nhờ cậy nơi Ngài để được cứu rỗi.  Còn gì thích hợp hơn là đưa nguyên tắc ấy ra áp dụng cho cuộc tranh luận tại Ga-la-ti?

Một số học giả thích dùng thuật ngữ “ý nghĩa hình bóng” (typology) hơn là “nghĩa bóng” (allegory) để mô tả phương pháp của Phao-lô ở đây.  Điểm chính là lịch sử, vốn không bị thu hẹp trong những mối quan tâm về thần học, được xem là hàm chứa cả nền thần học ấy nữa, và như thế báo trước các biến cố sau này như là các biểu hiện đầy đủ hơn về nguyên tắc đang xem xét.  Hơn nữa, có người còn gợi ý rằng dù người viết Sáng Thế Ký không có trong trí điều Phao-lô nghĩ trong với khúc sách này, thì trước giả Đức Chúa Trời có nghĩ đến.  Phương pháp này có thể rất dễ bị lạm dụng để biện minh cho mọi cách hiểu sai, nhưng điều chắc chắn đúng là một Đức Chúa Trời toàn tri ( không nói đến khả năng biết trước của Ngài) thấy rõ ràng các hàm ý của các biến cố theo cách mà những người đương thời thậm chí không thể tưởng tượng ra.  Với Phao-lô, không thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên rằng câu chuyện trong Sáng Thế ký lại có những điểm tương đồng quan trọng như thế với vấn đề của các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái.  Những điểm tương đồng như thế đã được trình bày bằng hình thức tương phản như sau: A-ga/Sa-ra nô lệ/tự do giao ước tại Si-na-i/giao ước (mới) Giê-ru-sa-lem hiện tại/Giê-ru-sa-lem trên trời Ích-ma-ên/Y-sác sự ra đời bình thường (xác thịt)/sự ra đời do lời hứa/Đức Thánh Linh kẻ bắt bớ bách hại/người bị bắt bớ bách hại bị từ bỏ/được thừa kế cơ nghiệp.

Từ nhiều ý niệm lý thú hàm chứa trong những tương phản này, ít ra có hai ý niệm đòi hỏi chúng ta phải đặc biệt chú ý.  Một là, cần lưu ý đến sự đề cập đến Giê-ru-sa-lem hiện tại tương phản với Giê-ru-sa-lem ở trên trời (25-26).  Rõ ràng là tư tưởng của Phao-lô đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của một quan điểm về lịch sử theo Thánh kinh mang tính “thế mạt luận” hay “ những ngày sau rốt” , theo đó thì sự đến của Chúa Cứu Thế được xem là đem tới thời đại hầu đến.  Luận điểm này được trình bày trên bề mặt của Ga 1:4 và được củng cố thêm trong những khúc sách đề cập đến sự “ứng nghiệm” như 3:23-25 và 4:4 (ICo 10:11).

Hai là, xin chú ý đến sự tương phản giữa xác thịt với lời hứa/Đức Thánh Linh trong mấy câu 23,29 (Bản NIV dịch từ “xác thịt” trong tiếng Hy lạp là được sanh ra theo cách bình thườngnhưng gặp phải sự tương phản về thần học).  Sự tương phản này đã được đưa ra trước trong 3:4 (xin xem phần bình giải ở đấy), cho nên thật ý nghĩa khi phần trung tâm này của bức thư vừa bắt đầu vừa kết thúc cũng bằng một câu như thế.  Các khái niệm này đều có liên hệ chặt chẽ với cách hiểu về “những ngày sau rốt” của Phúc Âm.  Xác thịt – nghĩa là bản chất sa ngã của loài người hành động trong sức mạnh tự nhiên của nó – là đặc điểm khác biệt của thời đại hiện nay.  Mặt khác, Đức Thánh Linh mở đầu đời hầu đến, cho nên thậm chí có thể nói rằng các cơ Đốc nhân đang được ngồi trong các nơi trên trời (Eph 2:6  Phi 3:20  Co 3:1-4).  Ý nghĩa đạo đức của sự tương phản này được khai triển trong Ga 5:13-16.

4. CÁC LỆNH TRUYỀN CỦA PHAO-LÔ (Ga 5:1-6:10)

Như lệ thường trong các bức thư của ông, Phao-lô viết một loạt những lời kêu gọi hành động tiếp theo phần viết về giáo lý.  Đã có sự tranh luận rằng phải chăng đoạn này bắt đầu từ 5:1-2 hay 5:13.  Chắc chắn là câu 1-12 bao gồm một phần lớn nội dung về giáo lý, và việc vấn đề trọng tâm trong mấy câu này là phép cắt bì cũng không nên bỏ qua.  Tuy nhiên, cũng có một sự đổi giọng đáng lưu ý ở câu 2 (câu 1 có chức năng của một nhịp cầu nối và có thể dễ dàng được xem là đoạn kết cho chương 4).  Việc này không quan trọng lắm.

Quan trọng hơn là quyết định để mô tả đoạn này như là “các lệnh truyền của Phao-lô”.  Một tiêu đề như thế nêu bật  những vấn đề lý thú hơn nảy sinh ở đây.  Làm thế nào để Phao-lô hoà giải tất cả những tuyên bố tiêu cực của ông về luật pháp với nhiều mệnh lệnh trong bức thư này? Phải chăng đã có một sự bất nhất cơ bản trong giáo lý của Phao-lô khi dường như ông khích lệ người Ga-la-ti làm trọn luật pháp (5:14) hay khi bảo chúng ta phải làm những việc mà chẳng có luật pháp nào cấm (5:23)? Vấn đề này cần được ghi nhớ khi chúng ta cố gắng tìm hiểu sự dạy dỗ của Phao-lô.

1. Về phép cắt bì (Ga 5:1-12)

Tuyên bố nghiêm túc trong câu 2 (tham khảo 2:21) kết hợp với ngôn ngữ đáng sợ của câu 4 (tham khảo 1:6) cho thấy chẳng những phép cắt bì không có giá trị tích cực, mà đối với người Ga-la-ti, nó còn thật sự có hại nữa.  Theo một quan điểm, thì đó là một vấn đề vô thưởng vô phạt, dù người ta có chịu phép cắt bì hay không (chú ý câu 6 và những câu tương tự trong 6:15 và ICo 7:19).  Tuy nhiên, đối với một người ngoại quốc, chịu phép cắt bì như một dấu hiệu vâng phục luật pháp sẽ là một việc “nguy hiểm và tại hại” (Lightfoot).

Phao-lô hậu thuẫn cho các tuyên bố mạnh mẽ của ông theo hai cách.  Một là, trong câu 3 ông lý luận rằng hành động cắt bì đầu tiên hàm ý một sự tận hiến để làm mọi điều mà luật pháp dạy (Gia 2:10-11).  Bất cứ người nào đặt lòng tin vào các việc mình làm cần phải hiểu rằng Đức Chúa Trời đòi hỏi sự hoàn thiện (Mat 5:48).  Do Thái giáo vào thời Phao-lô, nói chung không hiểu đầy đủ quan niệm ấy. Phần lớn sự giải thích của các ra-bi đều là những nỗ lực nhằm nới lỏng các đòi hỏi triệt để của các điều răn trong Thánh Kinh, kết quả không thể tránh khỏi là người ta cho rằng họ thật sự có thể thoả mãn các yêu cầu của Đức Chúa Trời bằng nỗ lực của mình.

Hai là, trong hai câu 5-6, Phao-lô tuyên bố rằng kinh nghiệm thật của Cơ Đốc nhân có đặc điểm là đức tin.  Đây là một đức tin có sự mong đợi vững chắc: nó nóng lòng chờ đợi sự bày tỏ cuối cùng của Đức Chúa Trời về sự công chính, khi chân lý của Ngài sẽ được chứng minh và con dân Ngài sẽ nhận được án lệnh cuối cùng là “trắng án”.  Đó cũng là một đức tin được khái quát hoá và

 được nâng đỡ bởi sự hiện diện của Đức Thánh Linh, một lần nữa, Phao-lô nhấn mạnh vai trò tối quan trọng của Đức Thánh Linh trong đời sống Cơ Đốc nhân.  Cuối cùng, đức tin này hoạt động rất mạnh qua chức vụ của tình yêu (động từ Hi văn “làm” trong câu 6 là energeơ vốn có nghĩa rất mạnh).  “ Để khám phá cái ý niệm cơ bản của vị sứ đồ về tính chất của tôn giáo, thì chẳng có câu nào là quan trọng hơn trong toàn bộ thư tín này, nếu không nói là trong bất kỳ thư tín nào của Phao-lô” (E.  de Witt Burton, A Critical and Exegetical Commetary on the Epistle to the Galatians T.  & T.  Clark, 1921, p.279).  Ta không nên nghĩ rằng Phao-lô đặt đức tin đối lập với việc làm theo luật pháp là có ý muốn nói rằng đức tin là thụ động.  Trái lại, đức tin khiến người ta làm được công việc chân chính của mình.  Nguyên tắc này dọn đường cho các mệnh lệnh trong câu 13-26.

Tuy nhiên, trước khi chuyển sang các mệnh lệnh này, sứ đồ Phao-lô phải đưa ra một lời kêu gọi cá nhân khác nữa.  Theo một phạm vi rộng lớn, câu 7-12 là lời công kích phe đối lập.  Các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái đang gây vấp phạm cho người Ga-la-ti.  Sự dạy dỗ của họ giống như chất men, vốn không thể cùng tồn tại với tiếng gọi của Đức Chúa Trời.  Phao-lô tin quyết rằng rồi đây họ sẽ phải bị đoán phạt và thậm chí còn có lời mong rằng họ phải bị tùng xẻo (có lẽ ám chỉ các tập quán tùng xẻo của các dân ngoại đạo tại Tiểu Á Châu, nhưng rất có thể là đề cập đến việc thiến là việc vô tình khiến cho người (nam) Do Thái không đủ tư cách để làm thầy tế lễ).  Trong câu 11 ông cũng tự biện minh trước lời tố cáo rằng rõ ràng ông là một người không nhất quán, và khi muốn được êm đẹp cho mình, thì ông cũng ủng hộ phép cắt bì (có lẽ ám chỉ việc ông làm phép cắt bì cho Ti-mô-thê, Cong 16:1-3).

Ta không nên để cho “tiêu cực chủ nghĩa” của mấy câu này che mờ đều vốn là chủ đích hàng đầu của Phao-lô.  Ông muốn bày tỏ lòng tin tưởng của mình vào người Ga-la-ti.  Việc họ đáp lại với Phúc Âm trước kia (Anh em chạy giỏi, câu 7 tham khảo Ga 4:13-16) khích lệ ông tin rằng anh em chắc không ý khác (10).  Lý do duy nhất khiến họ dao động là ảnh hưởng từ bên ngoài của các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái kia, cho nên vị sứ đồ được an ủi bởi việc đã có chứng cứ tốt cho tính cách chân thật trong đức tin của người Ga-la-ti (cũng tham khảo sự khích lệ ở He 6:9-12 sau những lời lẽ nặng nề ở đầu chương sách ấy).

2. Về tình yêu thương (Ga 5:13-26)

Đấng kêu gọi người Ga-la-ti bằng ân điển (8 Ga 1:6) cũng kêu gọi họ thực hiện các quyền và vui hưởng các phước hạnh của sự tự do (13a).  Tuy nhiên, Phao-lô biết rằng sự tự do có thể bị biến thành phóng túng, cho nên ông cũng phải làm sáng tỏ như pha lê đâu là nghĩa vụ cao cả của những người đã được tự do.  Trong khúc sách này, vị sứ đồ đi vào chi tiết nào đó khi mô tả cả sự lạm dụng quyền tự do lẫn việc sử dụng nó một cách phải lẽ.

Quyền tự do bị lạm dụng khi nó trở thành lý do để dung dưỡng bản tính tội lỗi (ăn theo tánh xác thịt, c.13b).  Phao-lô đề cập rất cụ thể về cách ăn ở mà ông đang nghĩ đến.  Trong câu 19-21, ông thậm chí còn liệt kê các hành động của bản tính tội lỗi (nguyên văn các việc làm của xác thịt) ấy nữa.  Những hành động ấy dường như được xếp thành bốn nhóm: gian dâm, thờ thần tượng, bất hoà và không tiết độ.  Phần lớn các tội lỗi mà Phao-lô liệt kê là thuộc vào nhóm thứ ba, điều đó gợi ý rằng người Ga-la-ti đặc biệt rất dễ phạm vào những tội liên quan đến các mối liên hệ cá nhân.  Gợi ý này được xác nhận bằng sự nhấn mạnh mà vị sứ đồ dành cho vấn đề này.  Trong câu 15 ông đề cập cái nguy cơ họ có thể phá hoại nhau bằng việc cắn nuốt nhau.  Rồi đến cuối phân đoạn, ông thêm một lời cảnh cáo cuối cùng chống lại tội kiêu ngạo và ghen tị (26).

Những hàm ý của cách ăn ở cư xử như thế chắc chắn người Ga-la-ti đều biết rõ: vị sứ đồ đã từng cảnh cáo họ trước đây, rằng hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng Nước Đức Chúa Trời (21).  Thật là mỉa mai khi các Cơ Đốc nhân này vốn bị quyến rũ bởi lời dạy về việc giữ luật pháp , lại sa vào cách ăn ở cư xử rõ ràng là mâu thuẫn với đức tin của họ.  Việc họ chú trọng vào xác thịt – nghĩa đen là qua phép cắt bì, nhưng quan trọng hơn là cậy vào chính nỗ lực của mình – đã đưa họ tới chỗ làm nhiều việc của xác thịt theo một ý nghĩa khác hẳn.  Những nỗ lực của chúng ta nhằm làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng sức riêng của mình chỉ dẫn đến cách ăn ở tội lỗi mà thôi (Ga 3:4).

Phao-lô cũng vạch rõ đâu là cách sử dụng đúng quyền tự do: lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau cả luật pháp chỉ tóm lại trong một lời này: ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình (13c-14).  Nguyên tắc của một đức tin hành động (c.6) giờ đây được ông khai triển.  Cũng như ông đã liệt kê các công việc của bản tính tội lỗi, ông cũng kể ra cách ăn ở nảy sinh từ mối tương giao với Đức Thánh Linh (22-23).  Cần lưu ý rằng trái của Thánh Linh ở đây trước hết bao gồm các thái độ và hành động có thể làm phát triển các mối liên hệ cá nhân, mà đó lại là nhược điểm lớn của người Ga-la-ti.  Các đức tính vui mừng, và bình an có lẽ không ám chỉ các cảm giác chủ quan, mà là cung cách chúng ta đối xử với nhau.  Ngay cả từ ngữ trung tín cũng có thể được hiểu là tính cách đáng tin cậy trong các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau.  Lại cũng có sự nhấn mạnh về nhân nhịn nhục.

Nhưng chúng ta làm thế nào để thực hiện các mục tiêu ấy? Là Cơ Đốc nhân, chúng ta thường muốn có được những công thức nhanh chóng để lo cho các vấn đề thuộc linh của mình. Tài liệu trong Thánh Kinh chống lại một thái độ như thế.  Thế nhưng nếu có khúc sách nào nghe ra giống như một công thức cho sự thánh hoá của chúng ta, thì đó là 5:16 Vậy tôi nói rằng: Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt.  Như Phao-lô tiếp tục giải thích trong câu tiếp theo, thì Thánh Linh và bản tính tội lỗi (xác thịt) loại trừ lẫn nhau.  Cho nên, nếu chúng ta lo làm đẹp lòng bên này, thì sẽ không thể nào làm đẹp lòng bên kia.

Hơn nữa cần lưu ý rằng các mệnh lệnh này của Phao-lô bắt nguồn từ các sự kiện trong kinh nghiệm Cơ Đốc của chúng ta.  Lý do có thể khuyến khích chúng ta trong đời sống thuộc linh là khi chúng ta đặt đức tin vào Chúa Cứu Thế, chúng ta đã giáng một đòn trí mạng trên quyền lực của xác thịt (24  Ro 6:1-4).  Cho nên, nếu đời sống chúng ta bắt nguồn từ Thánh Linh thì chỉ có điều đó là thích hợp thật vậy, nó hướng chúng ta theo sự dẫn dắt của Ngài.

Cuối cùng, cần lưu ý đến cách thức mà khúc sách này giúp chúng ta một phần nào hiểu rõ hơn sự dạy dỗ của Phao-lô về luật pháp.  Tuy trước đây ông nói rất mạnh mẽ chống lại việc dùng luật pháp làm phương tiện để được hưởng quyền thừa kế, nhưng ông không thắc mắc gì về giá trị của luật pháp với tư cách là một sự bày tỏ về ý chỉ của Đức Chúa Trời cho chúng ta.  Nếu đời sống chúng ta được Đức Thánh Linh cai trị, chúng ta sẽ không phải chịu đầu phục năng lực định tội của luật pháp, và vì thế chúng ta không cần phải sợ nó.  Do đó, chúng ta “làm trọn” luật pháp (14) và làm những việc mà luật pháp không lên án (23) là điều phải lẽ.  Đây thật sự là quyền tự do.

3. Về các gánh nặng (Ga 6:1-10)

Sau khi trình bày bức tranh cao quý của đời sống Cơ Đốc nhân, bây giờ Phao-lô đề cập khả năng thật của tội lỗi (1).  Tuy nguyên tắc sống bằng Đức Thánh Linh không chỉ là “chủ nghĩa lý tưởng” đơn thuần, vị sứ đồ biết rất rõ rằng các tín hữu sẽ bị va vấp, và có lẽ ông sợ rằng người Ga-la-ti sẽ phản ứng thô bạo với một người nào trong vòng họ nếu người ấy không đáp ứng được các tiêu chuẩn cao vừa được mô tả.  Cho nên ông chỉ ra rằng nếu họ là người thuộc linh (nghĩa là được Đức Thánh Linh hướng dẫn), thì họ phải đáp ứng một cách nhơn từ (nguyên văn: “bằng một tinh thần mềm mại”) luôn ý thức rằng mọi người đều có thể bị cám dỗ.

Trong câu 2-3, Phao-lô tiếp tục nói về tư tưởng ấy, nhưng có phần khái quát hoá một chút.  Phục hồi địa vị cho một tín hữu đã phạm tội chỉ là một thí dụ về một nghĩa vụ khác lớn hơn rằng chúng ta phải gánh các gánh nặng cho nhau.  Người nào né tránh nghĩa vụ đó mà tưởng rằng mình ở trên các sự yếu đuối như thế, thì chỉ là tự lừa dối mình.  Bằng một câu nói bóng gió gây ấn tượng và đầy mỉa mai về mối bận tâm của người Ga-la-ti liên quan đến luật pháp Do Thái, Phao-lô mô tả việc mang gánh nặng chính là sự làm trọn luật pháp của Chúa Cứu Thế.  Rất có thể rằng khái niệm này có liên hệ với Ga 5:14 là điều răn về tình yêu thương.  Rõ ràng là sự tự do kỳ diệu mà Phao-lô đã từng vì nó mà chiến đấu suốt thời gian thi hành chức vụ của ông và nhất là trong bức thư này, không kết thúc bằng việc bãi bỏ các nghĩa vụ về mặt đạo đức.

Tuy nhiên, việc Phao-lô quan tâm rằng người Ga-la-ti phải ý thức được các gánh nặng và sự yếu đuối của người khác có thể dẫn tới một ý thức tự tôn, và do đó dẫn đến một thái độ khoe khoang đầy tội lỗi.  Cho nên trong câu 4-5, ông nêu lên sự cần thiết và tính cách phải lẽ của việc phải tự xét mình để đánh giá, nghĩa là một người khi nhìn vào các khuyết điểm của người khác thì chỉ nhằm mục đích cảm thương chớ không phải là để so sánh (IICo 10:12-18).  Theo nghĩa này, mỗi người phải tự gánh lấy gánh nặng của riêng mình.  Chúng ta có thể diễn ý câu này là “Nếu anh em muốn khoe khoang thì chỉ cần tự xét mình mà xem.  Đừng như người Pha-ri-si, tự đưa mình ra để so sánh với người thu thuế, nhưng trái lại, hãy dùng chuẩn mực của Đức Chúa Trời, thì anh em sẽ nhận ra rằng chúng ta chỉ có thể khoe mình trong Đức Chúa Trời mà thôi” (c.14  ICo 1:26-31). 

Với câu 6, vị sứ đồ chuyển sang một đề mục mới (tuy có lẽ nó chẳng có liên quan gì đến việc mang lấy gánh nặng), tức là trách nhiệm phải đáp ứng các nhu cầu của những người làm việc.  Mặc dù có thể Phao-lô đang nghĩ về những điều khác hơn là vấn đề tài chính (hết thảy của cải mình), nhưng động từ chia (Hi văn koinơneơ) được Phao-lô dùng ở chỗ khác để nói về sự đóng góp tài chính (Ro 12:13  15:27  Phi 4:15 danh từ này được dùng tương tự trong Ro 15:26  IICo 8:4  9:13).  Bủn xỉn trong việc ban phát, về tài chính hoặc về các mặt khác là chẳng khác chi nhạo báng Đức Chúa Trời.  Nhưng thật sự Đức Chúa Trời không hề bị khinh dể (7), mà nếu chúng ta tận hiến những gì mình có để thoả mãn bản tính tội lỗi (nguyên văn: “gieo cho xác thịt”) chớ không phải để thoả mãn Đức Thánh Linh, thì chúng ta sẽ phải gặt lấy những gì xứng đáng cho mình (c.8  9:6).

Vị sứ đồ kết thúc phần này của bức thư bằng lời tóm tắt rằng ông kỳ vọng người Ga-la-ti sẽ hành động như thế nào (9-10).  Chúng ta phải lợi dụng mọi cơ hội để làm điều lành, và phải đặc biệt quan tâm đáp ứng các nhu cầu của cộng đồng Cơ Đốc.  Trong khi có thể có nhiều thất vọng trong công việc, chúng ta phải can đảm vì tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ dân của Ngài.  Đến đúng kỳ, chắc chắn chúng ta sẽ gặt hái được đầy đủ mọi điều tốt lành của Đức Chúa Trời.

5. PHẦN KẾT (Ga 6:11-18)

Phân đoạn cuối cùng này chuyển tải cảm xúc mạnh, được nêu rõ cả ở phần đầu (11) lẫn phần kết thúc (17).  Phao-lô vốn có thói quen tự tay viết thêm một lời dặn dò (tham khảo IITe 3:17 có thể ông làm như thế là để chống lại sự giả mạo, Ga 2:2).  Tuy nhiên việc chỉ ra những chữ thật lớn mà ông viết – một nhận xét mà ông không nêu ra ở một chỗ nào khác – đã thêm phần cảm động đáng kể cho khúc sách này.  Chẳng ích lợi gì khi suy đoán rằng nhận xét này cho chúng ta biết một điều gì đó về tình trạng thị lực hoặc về địa vị xã hội của ông lúc ấy.  Đúng hơn, nhận xét đó mang mục đích tình cảm: “Nét chữ viết tay nầy nói lên sức mạnh của những điều tin quyết của vị sứ đồ.  Độ lớn của chữ viết sẽ lưu ý những người đọc thư ngoài ý muốn của họ” (Lightfoot).

Tương tự, Phao-lô đánh vào tình cảm của người Ga-la-ti khi ông viện dẫn các “vết hằn của Đức Chúa Giê-xu” (17, đốt dấu vết).  Có lẽ muốn ám chỉ một lần nữa những lời tố cáo rằng ông thiếu thành thật (1:10  5:11). Ông nhắc nhở các độc giả và đối thủ của ông rằng những gì ông tuyên bố chẳng phải là vô ích.  Các vết thương mà ông đã nhận chịu vì tận trung với Chúa Cứu Thế là chứng cứ rõ ràng nhất để người Ga-la-ti chẳng cần phải nghi ngờ những động cơ của ông.  Như một số nhà giải kinh nêu rõ, cuộc chiến đấu với các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái vẫn tiếp diễn cho đến điểm kết thúc của bức thư.

Tuy nhiên, cuộc chiến tranh ấy đang xảy ra tại một khúc quanh mới trong câu 12-14 vì ở đây, Phao-lô đã nói rõ ra điều mà

ông chỉ nói đến ngoài bề mặt từ trước cho đến đây (đặc biệt tham khảo Ga 4:17-18).  Tóm lại, vị sứ đồ đi đến trọng tâm của vấn đề bằng cách lột mặt nạ động cơ của những Cơ Đốc nhân gốc Do Thái.  Lý do đích thực để họ muốn cho người Ga-la-ti phải chịu phép cắt bì là do họ sợ bị bắt bớ bách hại, họ cần tạo ra ấn tượng tốt ở mặt ngoài (nguyên văn: “theo phần xác”).  Bằng cách áp dụng phép chơi chữ thật hay, Phao-lô kêu gọi mọi người chú ý đến sự kiện là nghi lễ cắt bì được thực thi trên phần xác, mà đó là một dấu chỉ rõ ràng rằng các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái này đang sống trong lãnh địa của xác thịt (như từ ngữ này đã được dùng trong 3:3  4:23,29  5:13,16-26  6:8 nói khác đi là trái với Đức Thánh Linh).  Dù cho họ có rêu rao, việc họ giữ luật pháp có giỏi lắm cũng chỉ có tính cách chọn lọc – mục đích thật sự của họ là để khoe khoang việc họ đã đặt một dấu vết trên xác thịt của các Cơ Đốc nhân người Ga-la-ti.

Đến phần này, vị sứ đồ nói đến một trong các chủ đề quan trọng nhất được được tái hiện trong các bức thư của ông: khoe mình trong Chúa Cứu Thế.  Dấu hiệu rõ ràng nhất của lòng vô tín là xu hướng  khoe khoang về chính mình, trong khi cơ sở hợp lệ duy nhất để khoe khoang là chính Đức Chúa Trời (đặc biệt xem Ro 5:11  ICo 1:29-31  IICo 10:17  Eph 2:9  Phi 3:3).  Ở đây Phao-lô đã nói cụ thể hơn.  Ông sẽ chỉ khoe khoang về thập tự giá, là công cụ bởi đó mà Phao-lô với thế gian đã bị phân rẽ nhau.  Như Co 2:20 đã gợi ý, thế gian ám chỉ các nghi lễ bề ngoài (Ga 4:9-10) nhưng dĩ nhiên nó bao gồm tội lỗi (5:24) và con người cũ (2:20  Ro 6:6).  Những ai bởi đức tin được hợp nhất với Chúa Cứu Thế đều dự phần vào sự chết của Ngài trên thập tự giá, do đó, được cắt khỏi quyền lực của tội lỗi.

Sự xưng nhận này ở câu 14 dẫn tới việc nhắc lại nguyên tắc của Ga 5:6 trong câu tiếp theo đây, nhưng bây giờ thì đoạn kết lại gây kinh ngạc.  Trong cả hai khúc sách, chịu phép cắt bì hay không chịu phép cắt bì đều bị cho là chẳng có giá trị gì.  Theo 5:6 thì điều có giá trị là đức tin hành động qua tình yêu thương, còn ở đây, trong câu 15 thì đó là công trình sáng tạo (trở nên người) mới, một ý niệm đã được khai triển trong IICo 5:17).  Một lần nữa Phao-lô nhắc nhở chúng ta về tính cách thế mạt luận (hoàn thiện) trong sứ điệp của Phúc Âm (Ga 4:25-26).  Đáng chú ý hơn là nguyên tắc tương tự cũng được nhắc lại trong ICo 7:19 nhưng ở đó, thay vì đức tin hay sự sáng tạo mới, yếu tố có giá trị được cho là “giữ các điều răn của Đức Chúa Trời”, một câu giúp chúng ta nhận rõ các nhận xét “tiêu cực” của Phao-lô về luật pháp trong thư Ga-la-ti.

Trong mọi trường hợp, nguyên tắc về sự sáng tạo mới (hay đức tin hành động qua tình yêu thương) là quy luật đích thực mà chúng ta phải noi theo (16).  Động từ được dịch noi theo ở đây cũng chính là động từ đã được dịch là “bước theo” trong Ga 5:25.  Rõ ràng Phao-lô muốn chúng ta hiểu quy luật mà chúng ta phải theo là cách ăn ở được Đức Thánh Linh dẫn dắt đã được mô tả trước đây.  Và điều đó chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì Đức Thánh Linh là sự biểu hiện rõ ràng nhất của sự sáng tạo mới. 

Những ai bước đi như thế thì nhận được một lời chúc phước hết sức đặc biệt, là sự bình an sự thương xót (16), Phao-lô còn thêm vào lại giáng trên dân Y--ra-ên của Đức Chúa Trời nữa.  Từ ngữ được dịch là lại trong nguyên văn là “và”.  Theo một số người, Phao-lô không những chỉ muốn lưu ý Hội Thánh mà cả dân tộc theo dòng giống Y-sơ-ra-ên với tư cách là những người được nhận lời chúc phước kia.  Nhưng nếu cả dân tộc ấy, gồm cả những kẻ tin và không tin có thể thật sự được hưởng sự bình an sự thương xót, thì dường như Phao-lô đã mâu thuẫn với trọng tâm của thông điệp của ông: những hậu duệ thật của Áp-ra-ham là những người tin Chúa Cứu Thế và đã được giải phóng khỏi luật pháp.  Do đó, bản NIV có lẽ đã đúng khi dịch chữ này là “lại” (even: thậm chí), hoặc “nghĩa là” (namely nghĩa này không phải là không thông dụng).  Nếu quả là như thế, thì ta có thể thừa nhận sức mạnh của tuyên bố này như là môt luận cứ chống lại các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái: dân Y-sơ-ra-ên thật thì sống theo một nguyên tắc khác hẳn với nguyên tắc phải vâng phục luật pháp Môi-se.

Lời chúc phước của câu 18 có vẻ như chỉ là một biến thể của phần kết thúc cho một bức thư bình thường.  Tuy nhiên, cũng có một khác biệt đáng chú ý: việc thêm vào từ anh em là một lập trường được nhấn mạnh, vào chính điểm kết thúc.  Điều này hoàn toàn bất ngờ và cho thấy tấm lòng chăn bầy đầy nhiệt huyết của vị sứ đồ. Thật vậy, từ này làm dịu đi tính nghiêm khắc của cả bức thư bằng cách nhấn mạnh vào niềm tin của Phao-lô rằng người Ga-la-ti là con dân thật của Đức Chúa Trời, và do đó, họ sẽ đáp ứng lại với chân lý như là điều họ nên làm (3:4 5:10).

Mong rằng toàn thể quý độc giả của bức thư này đều thừa nhận ân điển của Chúa Cứu Thế, sự tự do của Phúc Âm, và quyền năng của Đức Thánh Linh.  Ước mong mọi người chúng ta đều chấp nhận các hoàn cảnh mà Đức Chúa Trời đã đặt chúng ta vào, để đức tin chúng ta sẽ thật sự hành động qua tình yêu thương trong đời sống của những người chung quanh ta.

Lên đầu trang