PHI-LÍP
1. DẪN NHẬP (Phi 1:1-11)
Khuôn mẫu của một bức thư ở thời Tân Ước là tên người viết và người nhận thư sẽ được trình bày ngay đầu thư, tiếp theo là một lời chào thăm, kế đến thường là một lời cảm tạ và một lời cầu nguyện (xem bài viết Đọc các thư tín). Khuôn mẫu này thường được thực hiện theo qui ước, nhưng với Phao-lô, những điều cần viết về tác giả và độc giả và trong lời chào thăm thường được nâng cao hơn những gì đã được qui ước với suy nghĩ về đời sống của họ trong Chúa Cứu Thế. Sau đó, lời cảm tạ và cầu nguyện xuất phát từ đáy lòng vị sứ đồ, ngợi khen những công việc mà Đức Chúa Trời đã làm trong đời sống con dân Ngài, và cầu nguyện cho các Cơ Đốc nhân lúc ấy và bây giờ được những ơn phước mà họ hết sức cần đến.
Phi 1:1-2 Lời chào thăm 1 Đây quả thật là bức thư của Phao-lô, và từ câu 3 thì ngôi thứ nhất số ít được sử dụng, nhưng ở câu này vị sứ dồ đã ân cần gắn kết tên Ti-mô-thê với tên mình (như trong II Cô-rinh-tô, Cô-lô-se, I và II Tê-sa-lô-ni-ca và Phi-lê-môn). Ti-mô-thê đã ở cùng Phao-lô khi ông đến truyền giảng Phúc Âm lần đầu tại thành phố Phi-líp, và tiếp tục liên kết chặt chẽ với các Cơ Đốc nhân tại Phi-líp (Phi 2:19-23). Cả hai vị này đều tôi tớ của Đức Chúa Giê-xu Christ - từ ngữ này nguyên văn có nghĩa là “nô lệ”, vì cả hai đều thừa nhận là cả thân thể, tâm trí và tâm linh mình đều thuộc về Chúa Cứu Thế, và sẵn sàng đầu phục Ngài trong mọi sự. Những người nhận thư được gọi là các thánh đồ, nghĩa là những người được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời và được kêu gọi để sống thánh khiết (Ro 1:7), và sự sống đó là trong Đức Chúa Giê-xu Christ. Cụm từ này – hoặc cụm từ tương đương – xuất hiện nhiều lần trong bức thư này, chỉ ra rằng Chúa Cứu Thế chính là môi trường sống của Cơ Đốc nhân. Các tín hữu sống và vận động trong quỹ đạo của ý chỉ, ân điển và sự hiện diện của Ngài. Chúng ta tìm thấy sự sống khi hợp nhất với Ngài bởi đức tin và chúng ta không thể sống khi chúng ta tách khỏi Ngài (đối chiếu Gi 15:1-11). Phao-lô nhấn mạnh rằng ông viết thư này là cho toàn thể các Cơ Đốc nhân tại Phi-líp, và sự nhấn mạnh được lặp lại này (Phi 1:4,7-8,5 2:17,26 4:21) ám chỉ rằng giữa vòng họ đang có nguy cơ chia rẽ (đối chiếu 2:1-4). Đặt biệt, ông đề cập đến các giám mục và các chấp sư của họ, có lẽ vì họ đang gặp nguy cơ bị xem nhẹ (đối chiếu ITe 5:12-13), hoặc có thể vì họ đã tổ chức việc gởi quà cho Phao-lô (Phi 4:14-18). Giám mục (“những người coi sóc”) và “các trưởng lão” là các tên gọi đôi khi được dùng trong Kinh thánh Tân Ước để chỉ về cùng một người (Cong 20:17,28 Tit 1:5-7) trưởng lão là vị trí của họ trong cộng đồng, còn trách nhiệm của họ là coi sóc, giám sát. Chấp sư ít được nhắc đến (ITi 3:8,12-13), mặc dù từ diakonos trong tiếng Hi-lạp thường được dùng tổng quát hơn để chỉ “người phục vụ”hoặc “tôi tớ”. Có lẽ phải trở lại Cong 6:2 để tìm hiểu công tác của các chấp sự, phần này nói về việc có bảy người đã được bổ nhiệm để “phục vụ” (Hi văn diakonein), giống như cách của các chấp sự sau này vậy.
2 Cũng như ở nhiều bức thư khác (Ro 1:7 ICo 1:3), lời chào thăm là sự kết hợp giữa hai cách chào thăm truyền thống của người Hy Lạp và người Hê-bê-rơ, nhưng với chiều sâu ý nghĩa Cơ Đốc. Ân điển là đặc ân mà người nhận không xứng đáng nhận được, làm chúng ta được hòa lại với Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế Giê-xu (Eph 2:4-9), đáp ứng mọi nhu cần của chúng ta (IICo 12:9) và ban cho chúng ta đặc ân phục vụ (Eph 3:8). Sự bình an trong Thánh Kinh không chỉ là sự vắng bóng của xung đột. Đó là sự an vui trọn vẹn, bao hàm cả sự hoà thuận lại với Đức Chúa Trời và với người xung quanh (2:14-18) và phước hạnh của sự bình an nội tâm (Phi 4:7). Cũng như ân điển, sự bình an đến từ Đức Chúa Trời là Cha, và bởi Đức Chúa Giê-xu Christ.
Phi 1:3-7 Lời cảm tạ và niềm tin quyết
3-4 Phao lô thường kết hợp lời ngợi khen với lời cầu nguyện khi ông khích lệ người khác làm việc (đối chiếu 4:6). Ông nói đến “hết thảy” các Cơ Đốc nhân người Phi-líp và ông rất vui mừng trong khi cầu nguyện.
5 Sở dĩ ông có niềm vui lớn lao như thế là vì họ đã thông công (dự phần) trong sự tiến bộ của Phúc Âm kể từ thời điểm Phúc Âm được rao giảng lần đầu giữa vòng họ, lúc bà Ly-đi mở rộng cửa nhà bà tiếp đón ông và các đồng sự của ông (Cong 16:14-15). Thông công là từ thường dùng trong Kinh Thánh Tân Ước để chỉ tình bằng hữu, nhưng tình bằng hữu không chỉ là kinh nghiệm dễ chịu mà Cơ Đốc nhân có được khi họ có tình thân hữu với nhau. Mà đây chính là sự thông công trong nhiệm vụ truyền giảng Phúc Âm ra cho người khác ( đối chiếu Mac 8:35), như nó cũng được bày tỏ qua việc quyên trợ của Cơ Đốc nhân (Phi 4:10,14-18 IICo 8:4 9:13). Đó phải là một đặc tính của toàn thể chúng ta, những người đã biết tin mừng của Chúa Cứu Thế rằng chúng ta được dự phần trong mối thông công với những người đang rao giảng tin mừng ấy.
6 Phao-lô tin chắc khi cầu nguyện, một sự tin quyết không căn cứ vào khả năng hay những thành tựu quá khứ của người Phi-líp, nhưng dựa trên quyền năng và tình yêu của Đức Chúa Trời, và vì Đức Chúa Trời là Đấng chúng ta có thể tin tưởng, Ngài sẽ làm trọn hết những gì Ngài đã khởi sự làm. Khi chúng ta thấy Đức Chúa Trời bắt đầu một công việc tốt lành trong đời sống một người, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng chủ đích của Ngài là sẽ tiếp tục – đó là điều mà chúng ta có thể luôn tin chắc để cầu thay cho những người anh em Cơ Đốc của mình. Cũng hãy lưu ý là ở đây (cũng như trong các thư tín của ông) Phao-lô đã sống và làm việc căn cứ theo ngày của Đức Chúa Giê-xu Christ đến. Thời điểm chính xác của ngày này không được tiết lộ cho chúng ta, nhưng điều quan trọng với chúng ta và tất cả mọi người chính là cách sống và việc làm của chúng ta biểu hiện như thế nào khi chúng ta được nhìn thấy Chúa mặt đối mặt. Điều Phao-lô hằng quan tâm chính là làm sao để bản thân ông và các anh em Cơ Đốc nhân khác sẽ trình diện trước mặt Đức Chúa Trời trong ngày đó một cách vững vàng và không hổ thẹn (đối chiếu 1:14 5:9-10 Eph 5:27 Co 1:28).
7 Điều đã được đề cập trong câu 5 về sự thông công trong Phúc Âm lại được trình bày thêm ở đây. Đó là vấn đề chia sẻ ân điển của Đức Chúa Trời trong công tác rao giảng Phúc Âm, thông công với Phao-lô trong vòng xiềng xích vì cớ Phúc Âm, và vấn đề này bao gồm cả việc bênh vực và cũng cố Phúc Âm. Bênh vực là nhiệm vụ bắt buộc đối với tất cả các Cơ Đốc nhân, nghĩa là mọi người đều phải “sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em” (IPhi 3:15), và còn giúp mọi người chắc chắn hơn về chân lý và quyền năng của Phúc Âm (đối chiếu Lu 1:4 ICo 1:6).
Phi 1:8-11 Lời cầu nguyện. Chúng ta có thể học được rất nhiều điều từ những lời cầu nguyện của Phao-lô (đối chiếu Eph 1:17-23 3:14-21 Co 1:9-12). Từ những điều ông cầu xin, các Cơ Đốc nhân người Phi-líp (và cả chúng ta nữa) có thể biết được đâu là những ân tứ quan trọng nhất để cầu xin cho chính mình . Ở đây các ân tứ ấy là tình yêu thương, khả năng nhận thức, đời sống tinh sạch, và sự công chính.
8 Để nhấn mạnh tính chân thật của những lời mình đã nói, Phao-lô nói Đức Chúa Trời cũng (làm) chứng (đối chiếu Ro 1:9 IICo 1:23 ITe 2:5), và ông nói không phải bởi tình yêu thương của riêng ông, mà bởi lòng yêu dấu của Đức Chúa Giê-xu Christ trong ông.
9 Họ đã biết tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho họ và ở trong họ, nhưng Phao-lô cầu xin cho tình yêu của họ càng ngày càng chan chứa hơn (đối chiếu IICo 9:8 ITe 3:12). Tuy nhiên, tình yêu phải vượt trên thái độ nhiệt tình mù quáng. Nó cần được dẫn dắt bởi sự thông biết và suy hiểu (đối chiếu Co 1:9), “ân tứ để nhận thức chân lý”(bản NEV), một sự nhạy bén đối với chân lý của Đức Chúa Trời và các nhu cầu của người khác, và biết rõ tình trạng của mình.
10 Sự thông tuệ cần để có thể nhận biết những sự tốt lành hơn hoặc những từ này có thể được dịch là “kiểm nghiệm những điều khác biệt”. Dù sao thì nhận thức rõ là điều quan trọng, và sự khôn ngoan thật không chỉ là một vấn đề của tâm trí, mà những kết quả của nó còn tác động đến đời sống và tính cách. Lý tưởng và mục tiêu của đời sống Cơ Đốc nhân của chúng ta không thể thấp hơn tiêu chuẩn tinh sạch không chỗ trách được (đối chiếu Phi 2:15) và một lần nữa, ngày của Đấng Christ được đề cập. Tính từ đầu tiên trong hai tính từ được dùng ở đây được dùng để ám chỉ “sự chân thành” hay “tính cách trong sáng”, trong khi tính từ thứ hai có thể mang nghĩa là “không gây vấp phạm” (đối chiếu Cong 24:16a “không làm gương xấu” (đối chiếu ICo 10:32), hoặc có thể mang cả hai nghĩa.
11 Đời sống của Cơ Đốc nhân không chỉ nhằm đạt được kết quả trong hành động, mà còn cả trong tính cách nữa (đối chiếu Ga 5:22-23), và câu này nhắc nhở chúng ta rằng phương cách để đạt được điều này chính là Chúa Cứu Thế Giê-xu hằng sống, và mục tiêu của nó không gì khác hơn là làm sáng danh và khen ngợi Đức Chúa Trời (đối chiếu Eph 1:6,12,14).
2. HOÀN CẢNH CỦA PHAO-LÔ (Phi 1:12-26)
Phao-lô biết rằng các Cơ Đốc nhân người Phi-líp quan tâm đến ông, nên ông đã gởi các tin tức về chính mình cho họ. Ông nói được rằng việc ông bị cầm tù giúp cho Phúc Âm được tiến bộ ra sao, làm thế nào ngay trong nơi ông bị giam giữ mà Chúa Cứu Thế đã được truyền giảng (nếu từ những động cơ khác nhau), và ông quan niệm như thế nào về vấn đề có thể xảy ra như việc ông bị bắt, được trả tự do và tiếp tục phục vụ, hoặc phải chết. Với những gì đã diễn ra trong quá khứ, hiện tại và những điều có thể xảy ra trong tương lai, ông chỉ có thể nói rằng: Tôi đương mừng rơ.
1. Những kết quả của việc Phao-lô bị cầm tù (Phi 1:12-14)
Phi 1:12-13 Phía sau những từ điều (đã) xảy đến cho tôi là tất cả những gì có ý nghĩa đối với một con người đã từng tự do đi khắp nơi để giảng Phúc Âm, bị tù đày, và có lẽ là đang bị những người lính La Mã canh giữ cả ngày lẫn đêm. Ông không buồn bã vì những đau đớn mình phải chịu, nhưng vui mừng vì cớ sự tiến bộ của Phúc Âm. Từ ngữ chốn công đường”, đã được bản NIV dịch là “đội lính canh cung điện” hay “cung điện” nguyên là lều chỉ huy trong một trại quân. Sau đó, nó được dùng chỉ dinh quan tổng đốc của một tỉnh lỵ (như tại Giê-ru-sa-lem, Mat 27:27). (Có lẽ cũng từng có một công đường như thế tại Ê-phê-sô và Sê-sa-rê Cong 23:35, vì thế có lẽ bức thư này đã được viết tại một trong hai địa điểm này). Chúng ta có thể hình dung là những tên lính canh Phao-lô trở về kể lại cho những người khác rằng ông đã vì Đấng Christ mà chịu xiềng xích và chắc đã được cảm động bởi tinh thần vì Chúa mà chịu cảnh tù đày của ông.
14 Gương của Phao-lô cũng khiến cho những anh em Cơ Đốc nhân khác của ông được cảm động để truyền đạo Đức Chúa Trời chẳng sợ hãi gì.
2. Những động cơ khác nhau thúc đẩy việc truyền giảng về Chúa Cứu Thế (Phi 1:15-18)
15-17 Sau tất cả mọi sự ông chỉ biết dâng lên lời cảm tạ về sự tiến bộ của Phúc Âm bởi việc ông bị cầm tù, điều đáng buồn là Phao-lô phải chỉ ra rằng có nhiều người vì lòng ganh tị và cãi lẫy, vì những tham vọng ích kỷ mà rao truyền Đấng Christ, thậm chí với ý muốn cho ông phải đau khổ thêm trong khi bị giam cầm. Chúng ta không biết sự việc. Rõ ràng Phao-lô không bài bác nội dung đã được truyền giảng mà là động cơ của việc làm đó. Có lẽ đó là những người lãnh đạo của Hội Thánh cũng từng bị cầm tù như Phao-lô lúc ông chưa đến, nên bây giờ họ ghen tị vì ông đã được tiếng tốt bởi đã lao nhọc trong vai trò của một sứ đồ, và họ quyết định làm cho mình nổi trội hơn ông và sẵn sàng gây phiền não cho ông.
18 Phao-lô quyết định không để cho mình bị khiêu khích hay để vấn đề ấy làm ảnh hưởng đến nhân cách của mình – đối với ông, điều quan trọng nhất là Đấng Chrst được rao truyền.
3. Dù ông sống hay chết Chúa Cứu Thế phải được tôn cao (Phi 1:19-26)
19 Phao-lô đã phải đối diện với cảnh tù tội và mối đe doạ của sự chết, và sự thù hằn cũng như khiêu khích từ phía những người anh em Cơ Đốc nhân, thế nhưng ông tin rằng mọi sự đều sẽ trở nên ích lợi (đối chiếu Ro 8:28). Nói về phương diện con người, ông trông cậy vào lời cầu nguyện của các bạn mình và vào sự giúp đỡ không hề thất bại của Đức Thánh Linh đáp ứng những lời cầu nguyện ấy. Từ ngữ Hi lạp được dịch ra là giúp đỡ nói về cả sự chu cấp rộng rãi lẫn việc sức lực được củng cố. Lời xác quyết mình sẽ được giải thoát giống với điều được mô tả trong IITi 4:18: “Chúa sẽ giải thoát ta khỏi mọi điều ác và cứu vớt ta vào trong nước trên trời của Ngài”. Dường như ông đang nghĩ đến Giop 13:16 (và văn cảnh của nó). “Phao-lô không tin toà án trần gian sẽ xử ông trắng án. Cũng như Gióp, ông tin chắc vào Đức Chúa Trời sẽ trả lại cho ông sự công bằng khi vụ án của ông được trình trước toà án phúc thẩm ở thiên đàng” (Paul”s Letters from Prison của G. B. Caird, – OUP, 1976).
20 Từ ngữ được dịch là trông cậy có nghĩa là hướng về phía trước, còn tiền tố giới từ của nó hàm ý việc gạt qua một bên mọi mối quan tâm khác. Phao-lô chỉ có một nguyện vọng tha thiết: đó là Chúa Cứu Thế phải được tôn cao trong thân thể ông (được cả sáng trong mình tôi) dù ông sống hay chết nghĩa là Ngài phải được người khác nhìn thấy rõ ràng hơn với tất cả sự vĩ đại thật sự của Ngài.
21-23 Dù ở trường hợp nào trong hai trường hợp mà mình đang cân nhắc, thì Phao-lô cũng vẫn vui mừng. Nhưng ông viết: Tôi bị ép giữa hai bề – nó giống như hai nguồn lực bên ngoài có sức mạnh ngang nhau đang đè nén ông từ cả hai phía” (Philippians Word Books, 1983, của G.F. Hawthorn). Tiếp tục sống trên thế gian này tức là luôn từng trải được chính Chúa Cứu Thế và làm việc càng kết quả hơn trong việc phục vụ chủ mình. Chết đi hoàn toàn là ích lợi, vì với người tin Chúa thì chết tức là ngay lập tức nhận thức được sự hiện diện của Chúa Cứu Thế. Không nhất thiết phải có sự mâu thuẫn giữa suy nghĩ chết là “ngủ” (như trong ITe 4:13-15) và chết là sự ra đi để được ở với Chúa Cứu Thế. Có lẽ chính bởi sự giới hạn trong suy nghĩ của chúng ta về khái niệm không gian và thời gian khiến chúng ta không thể hiểu được trọn vẹn những điều ở bên kia cánh cửa sự chết. Từ ngữ Hi văn (ra) đi được dùng để chỉ việc một chiếc tàu nhổ neo hay để chỉ việc nhổ trại danh từ tương đương được dùng trong IITi 4:6.
24-26 Phao-lô suy nghĩ về cả hai trường hợp này, và tuy ông không nói ông biết Đức Chúa Trời sẽ ban cho trường hợp nào, nhưng ông bắt đầu cảm thấy rằng mình đang được kêu gọi tiếp tục ở lại thế gian này để phục vụ Chúa càng hơn. Với ông thì việc ra đi để được ở với Chúa là điều có lợi hơn đối với người khác thì việc ông tiếp tục sống là có lợi (thậm chí là cần thiết hơn). Tấn tới, tăng trưởng trong đức tin và tràn đầy niềm vui, là điều ông tìm cách giúp cho người khác có được (đối chiếu ITi 4:15), cũng như bản thân ông đã quyết định buộc mình vào sự kêu gọi lớn lao mà mình có được (đối chiếu Phi 3:12-14). Cuối cùng, ở đây Phao-lô nói ông muốn cho niềm vui của họ trong Chúa Cứu Thế Giê-xu (nguyên văn “cớ khoe mình”) cứ thêm nhiều lên. Vì tất cả chúng ta là Cơ Đốc nhân, nên niềm vui, niềm tự hào và sự khoe mình lớn lao nhất của chúng ta đều phải ở trong Chúa Cứu Thế Giê-xu (đối chiếu ICo 1:31).
3. NHỮNG LỜI GIÁO HUẤN LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH SỐNG VÀ MỐI THÔNG CÔNG CỦA CƠ ĐỐC NHÂN (Phi 1:27-2:18)
Phao-lô đã kể về những hoàn cảnh của chính mình. Bây giờ, ông có nhiều điều quan trọng cần phải nói liên quan đến đời sống của các Cơ Đốc nhân tại Phi-líp. Họ được kêu gọi để chịu khổ và cần phải xem đó như một đặc ân và vì thế họ cần phải can đảm chịu đựng. Trong thử thách cũng như trong mọi khía cạnh của đời sống thường ngày, họ phải sống hiệp một với nhau. Sự kiêu ngạo làm ngăn trở sự hiệp một và mối thông công, và phương thuốc duy nhất chữa thói vị kỷ và chia rẽ là cứ chăm xem chính Chúa Cứu Thế cho đến khi nào cách nghĩ cách làm của Ngài trở thành cách nghĩ cách làm của họ. Ngài là tấm gương và là Cứu Chúa của họ, nhưng sự cứu rỗi của Ngài phải được bày tỏ qua những đời sống vâng lời, là những đời sống sẽ chiếu sáng như đuốc trong thế gian, và sẽ là niềm vui của vị sứ đồ này trong ngày của Chúa Cứu Thế.
1. Kêu gọi phải sống xứng đáng với Phúc Âm (Phi 1:27-30)
27 Có thể Phao-lô sẽ trở lại Phi-líp, mà cũng có thể là Ông nhấn mạnh rằng điều quan trọng là họ phải ăn ở một cách xứng đáng với đạo Tin Lành của Đấng Christ. Trong mọi thời đại – mà ngày nay cũng thế – điều lớn nhất ngăn trở sự tiến bộ của Phúc Âm chính là cách sống bất nhất của Cơ Đốc nhân. Phúc Âm sẽ tạo ra những ảnh hưởng vĩ đại nhất khi đời sống của các Cơ Đốc nhân đề cao nó, và điều đó đòi hỏi nơi chúng ta phải có trách nhiệm đặc biệt của mình. Từ tiếng Hi Lạp được dịch ra là anh em phải ăn ở là cụm từ mà từ đó có từ ngữ “chính trị” xuất hiện, và từ này thường dùng để chuyển tải ý niệm làm tròn nghĩa vụ của một người công dân. Như chúng ta đã ghi nhận, tại thành Phi-líp quyền công dân La mã được đánh giá cao, nhưng các Cơ Đốc nhân tại Phi-líp còn phải có trách nhiệm sống với tư cách là cá nhân và tập thể những công dân thiên quốc (đối chiếu Phi 3:20). Phao-lô thường nói đến việc cần phải đứng vững trước sự chống đối và khó khăn (đối chiếu ICo 16:13 Ga 5:1 Eph 6:11-14 ITe 3:8 IITe 2:15).
28 Nương cậy vào quyền năng của Đức Chúa Trời là phương pháp để tránh bị kẻ thù ngăm doạ. Từ ngữ này thường được dùng để chỉ về những con ngựa hay nhát sợ cách dịch của Moffatt”s là “đừng bao giờ sợ hãi”. Hơn nữa, tinh thần can đảm của họ sẽ chứng minh cho kẻ thù của họ thấy rằng Cơ Đốc nhân không chỉ được củng cố bằng sự dũng cảm của con người, cho nên chống lại họ tức là chống lại Đức Chúa Trời (đối chiếu Cong 5:39) và là chọn lấy con đường dẫn đến chỗ bị tiêu diệt (đối chiếu IITe 1:4-8). Có lẽ trong khi viết, Phao-lô nhớ lại tiếng Đức Chúa Trời phán với chính lương tâm ông về điều này lúc ông bắt bớ bách hại các Cơ Đốc nhân (Cong 26:10-14). Đồng thời, việc Đức Chúa Trời hiện diện rõ ràng với họ sẽ bảo đảm với chính các Cơ Đốc nhân tại Phi-líp rằng họ thuộc Đức Chúa Trời và được chúc phước cùng với sự cứu rỗi của Ngài.
29 Ẩn sau chữ ban ơn cho là tư tưởng về sự ban cho ân điển, vì đối với Cơ Đốc nhân, thì đó là một đặc ân để được tin nhận Chúa nhưng đồng thời (vì thế trái ngược hoàn toàn với các chuẩn mực của đời này) cũng để chịu khổ vì Chúa Cứu Thế (đối chiếu Mat 5:11-12 Cong 5:41).
30 Chữ Hi Lạp được dịch ra là chống cự trong câu 27 là chữ mà từ đó được chúng ta có chữ “lực sĩ” ẩn sau cụm từ cuộc chiến tranh là chữ mà ý nghĩa của nó cho chúng ta từ “lao khổ chiến đấu” (đối chiếu Ro 15:30 Co 1:29 2:1 ITe 2:2). Sự kêu gọi mà người Phi-líp đã được, và cả chúng ta nữa, đòi hỏi người được kêu gọi phải chấp nhận rằng lao khổ và chiến đấu là những dấu hiệu của đời sống người sứ đồ.
2. Lời kêu gọi hiệp một qua sự tự hạ mình (Phi 2:1-4)
Những câu này mang lại cho chúng ta lời kêu gọi có thể xem là mạnh mẽ nhất về sự hiệp một của Cơ Đốc nhân, đây là lời kêu gọi mà có lẽ nhiều Cơ Đốc nhân ngày nay dễ dàng xem nhẹ. Trong câu 1 Phao-lô đưa ra bốn lý do cần phải có hiệp một như thế câu 2 đưa ra bốn cách để mô tả về sự hiệp một này câu 3 đề cập đến hai điều tiêu cực phải tránh và hai điều tích cực phải theo và câu 4 đề cập một điều tiêu cực và một tích cực.
1 Từ được dịch là yên ủi còn có thể có nghĩa là “ lời kêu gọi”, vì thế điều này có thể có nghĩa là sự yên ủi tìm được trong Chúa Cứu Thế cần phải được chia sẻ cho người khác, hoặc là chúng ta có lời kêu gọi của Ngài là phải hiệp một (Gi 15:1-11 17:20-23). Nếu chúng ta đã biết được phước hạnh của tình yêu Ngài, thì chúng ta nên bày tỏ điều đó cho người khác cách không hạn chế hay phân biệt (đối chiếu IGi 4:7-12). Cụm từ tiếp theo có thể mang nghĩa là sự thông công nơi Đức Thánh Linh hoặc là sự thông công mà Đức Thánh Linh ban cho chúng ta – cả hai nghĩa này đều là cơ sở vững chắc để chúng ta phải sống hiệp một. Khi ấy, nếu chúng ta biết trong Chúa Cứu Thế có lòng yêu mến và lòng thương xót, thì đó phải được dùng để biểu lộ tất cả những mối liên hệ của chúng ta đối với người khác.
2 Bốn cụm từ ở đây chẳng có gì khác nhau lắm, nhưng chúng ta cần lưu ý rằng có hai từ lần tâm trí hay tư tưởng được đề cập, và đây là cách nhấn mạnh được tìm thấy ở chỗ khác của bức thư này. Vị sứ đồ này biết rõ rằng tư tưởng và thái độ là cơ sở căn bản của lời nói và hành động, và vì thế chúng điều khiển toàn bộ đời sống của một người (đối chiếu Phi 2:5 3:15 4:8). Có lẽ đây là điều cần nhấn mạnh trong một thời đại mà người ta rất coi trọng cảm xúc và kinh nghiệm. Trong Ro 12:2 Phao-lô nói về sự biến chuyển của đời sống diễn ra “bởi vì sự đổi mới của tâm trí”.
3 Tranh cạnh (tham vọng ích kỷ) (từ này cũng được dùng trong Phi 1:17, có thể mang nghĩa là “tinh thần bè phái) và hư vinh vốn là những kẻ thù không đội trời chung với sự thông công và là những điều ngăn trở sự hiệp một. Có nhiều phương pháp thực tiễn để thắng hơn những điều này. Một trong số đó là thực hành đức tính khiêm nhường (đối chiếu Eph 4:1-3), xem người khác như tôn trọng hơn mình, nghĩa là thấy rõ các ưu điểm và ân tứ của người khác và nhận ra những nhược điểm và hạn chế của chính mình (đối chiếu Ro 12:10).
4 Cũng rất thực tế khi chúng ta tập được thói quen suy nghĩ và nói năng vì lợi ích của người khác thay vì làm phiền lòng họ bằng cách khư khư chăm về lợi riêng mình (đối chiếu Ro 15:2-3 ICo 10:24,33 Ga 6:2).
Là Cơ Đốc nhân, chúng ta thường bào chữa và hợp lý hoá cho những sự chia rẽ của mình. Grandfield có một nhận xét rất khôn ngoan về sự hiệp một mà Phao-lô đang trình bày ở đây và phương pháp để theo đuổi nó: “Một sự hiệp một như thế chỉ có thể có được khi Cơ Đốc nhân hạ mình và mạnh dạn đủ để bám chặt lấy sự hiệp một vốn đã được ban cho trong Chúa Cứu Thế, và xem nó quan trọng hơn chính bản thân mình, rồi biến những điểm khác biệt sâu xa về giáo lý vốn bắt nguồn từ sự hiểu biết phiến diện của chúng ta về Phúc Âm và là điều mà chúng ta không dám xem nhẹ, không phải thành một sự bào chữa cho việc chúng ta bỏ mặc nhau hay tách rời nhau, mà là thành một động lực để thúc đẩy việc tìm kiếm cách nhiệt thành hơn sự thông công lẫn nhau để lắng nghe và vâng theo tiếng phán của Chúa Cứu Thế” (The First Epistle of Peter -SCM, 1950, của C. E. B. Cranfield, trang 75-76).
3. Gương của Chúa Cứu Thế (Phi 2:5-11)
Cách tốt nhất Phao-lô có thể khích lệ các bạn của ông tại Phi-líp sống khiêm hạ, và nhờ đó có được mối thông công và sự hiệp một thật sự, là bởi sự nhắc nhở họ về gương mẫu của Chúa Cứu Thế. Khi nói về thái độ khiêm hạ mà Chúa Giê-xu đã chấp nhận để rồi Ngài được tôn cao là Chúa tể của muôn loài, có lẽ Phao-lô đã sử dụng một bài thánh ca của các Cơ Đốc nhân đầu tiên (xem phần Dẫn Nhập), nhờ đó mà chúng ta có được một lời tuyên bố quan trọng về những điều được tin ngay từ ngày bắt đầu của Hội Thánh, đó là về nhơn tánh và thần tánh đích thực của Chúa Cứu Thế. Muốn hiểu rõ câu này, chúng ta cần cẩn thận chú ý đến các từ ngữ cụ thể đã được sử dụng.
5 Tâm tình có thể mang nghĩa là thái độ cá nhân hay những gì được bộc lộ trong những mối liên hệ của chúng ta.
6 Những từ có tác dụng mạnh được dùng ở đây. Từ “có” bắt nguồn từ một động từ gốc trong tiếng Hi lạp có ý nghĩa mạnh hơn là động từ “có” bình thường theo sau động từ này là một danh từ đã được bản Việt văn dịch rất đúng, đó là vốn có bản thể. Chúa Giê-xu đích thực là Đức Chúa Trời trước khi Ngài hóa thân thành người. Vì vậy, trong khi không thể từ bỏ việc chính mình là Đức Chúa Trời, thì Ngài vẫn sẵn sàng gạt qua một bên sự vinh hiển của sự bình đẳng với Đức Chúa Trời. Đó không phải sự nên nắm giữ (xem phần chú thích dưới đây để biết nghĩa chính xác ở đây). Có lẽ ở đây hàm ý về sự tồn tại của một điều trái ngược với A-đam trong Sa 3:1-24 vì điều cám dỗ đã khiến ông sa ngã là đã sai lầm “nắm lấy” điều mà ông tưởng sẽ khiến ông “giống như Đức Chúa Trời”.
7-8 Vậy Ngài đã tự bỏ mình đi. Nghĩa đen là Ngài “tự làm cho mình trở thành trống không”, chẳng những về thần tánh, mà cả về vinh hiển của Ngài “Ngài tự khiến mình chẳng còn danh tiếng gì cả” (bản AV). Sau đó khi nói rằng Ngài trở nên giống như loài người và hiện ra như một người thì không có nghĩa là Ngài chỉ giống như loài người nhưng không có bản tính thật của loài người như chúng ta. Như Phao-lô nói trong Ro 8:3 và Ga 4:4, Ngài đích thực là một con người, nhưng nhóm từ này “bỏ ngỏ khiến cho người ta hiểu rằng việc Ngài trở nên giống như loài người không phải là toàn bộ vấn đề (The Epistle to the Philippians, F. W. Beare, -A. and C. Black, 1959). Ngài đã tự hạ mình thấp hơn nữa và vâng phục cho đến chết. Ngài đã sống một cuộc đời hoàn toàn vâng lời (đối chiếu Ro 5:19 He 5:8-9 10:5-14), “thậm chí cho đến mức chết” (bản Phillips). Hơn nữa, đó là cái chết trên cây thập tự, một cái chết đau đớn và nhục nhã không thể tưởng tượng nổi, một sự nguyền rủa trong cái nhìn của dân Do Thái vì những điều luật pháp đã dạy trong Phu 21:23 (Ga 3:13). Đối với người La Mã, ý nghĩa của cực hình bị đóng đinh vào thập tự giá được diễn tả bằng câu nói của Cicero: “Các công dân La Mã cố tìm cách để giữ không những thân thể họ mà cả đến tư tưởng, mắt, tai của họ thật cách xa chính cái tên của thập tự giá”.
9-11 Vì thế, sau khi đã hạ mình và tự nguyện hy sinh, Chúa Giê-xu đã được Đức Chúa Cha ban cho danh trên hết mọi danh. Điều đó không có nghĩa là một tên gọi hay một danh xưng cụ thể, tuy “Giê-xu là Chúa” là cách tuyên xưng đúng đắn và phải lẽ của Cơ Đốc nhân (đối chiếu Ro 10:9 ICo 12:3). Nó có nghĩa rằng Đức Chúa Trời đã tôn Ngài lên địa vị vinh dự cao nhất, và đó là điều quan trọng nhất – đặc biệt là khi có ai bảo rằng Chúa Cứu Thế của Tân Ước là kém hơn Đức Chúa Trời–thì người ấy nhận biết rằng trong câu 10-11, những từ ngữ đã được dùng trong Es 45:23 để nói về Đức Chúa Trời nay được dùng để chỉ về Chúa Giê-xu, để nói lên sự tôn trọng, quyền cai trị và uy quyền của Ngài trên muôn vật (đối chiếu Eph 1:20-22 4:8-10 Kh 5:13). Tuy nhiên, sau cùng chúng ta cần phải lưu ý rằng điều này để “tôn vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha”, tức là sự vinh hiển mà bởi đó Chúa Cứu Thế đã được tôn cao không thể tách rời Đức Chúa Cha (đối chiếu ICo 15:28). Chúng ta phải tự nhắc nhở mình rằng chủ đích thực tiễn nhất của tất cả những lời tuyên bố vĩ đại này, trong văn cảnh của chúng, chính là thuyết phục người Phi-líp gạt bỏ tất cả những sự không hiệp một, bất hoà và tham vọng cá nhân.
Chú thích. Người ta có nhiều cách hiểu khác nhau về những lời lẽ trong câu 6 (Ngài chẳng coi sự bình đẳng của mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ). Có hai cách hiểu chính: có thể sự bình đẳng với Đức Chúa Trời có ý nghĩa tương đương với có bản tính như Đức Chúa Trời, hoặc nó cũng có thể được hiểu là sự đề cập rõ hơn về sự vinh hiển và tôn trọng của một địa vị ngang hàng với Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha, là danh hiệu của Chúa Tể toàn cõi vũ trụ. Chúa Giê-xu “đã không nghĩ đến việc giành lấy sự vinh hiển này” (bản NEB). Thực sự cuối cùng đó chính là danh hiệu mà Đức Chúa Cha đã chỉ định cho Ngài, nhưng chỉ sau khi đã trải qua sự sinh tử của loài người, và sự phục sinh, và bởi vì Ngài đã vâng phục theo con đường mà Đức Chúa Cha đã chọn lựa bởi sự hạ mình mà được tôn cao. Nếu sự bình đẳng với Đức Chúa Trời về bản chất được hiểu như sự có bản tính như Đức Chúa Trời, nghĩa là không có gì khác nhau về bản tính của Đức Chúa Trời và bản tính của Ngài, thì chúng ta có thể hiểu hoặc là vị sứ đồ muốn nói rằng “Ngài đã không bám chặt lấy” “đặc quyền được ngang bằng với Đức Chúa Trời” (bản dịch của Phillips) hoặc là Ngài đã chẳng cần phải nắm giữ chúng – vì vấn đề không phải nằm ở chỗ nắm giữ chúng hoặc là sự bình đẳng với Đức Chúa Trời không phải là điều để lợi dụng. Có lẽ nghĩa cuối cùng trong những nghĩa trên là phù hợp nhất, cả vì nghĩa của những từ Hi lạp đã được dùng và vì nó phù hợp với lời dạy dỗ của cả phân đoạn. Con đường mà Đức Chúa Cha đã định là ban ra, hy sinh và hạ mình chứ không phải lợi dụng địa vị mình có. Đó là con đường mà Chúa Giê-xu đã đi và là con đường mà chúng ta được kêu gọi để theo Ngài.
4. Thể hiện sự cứu rỗi một cách thực tế (Phi 2:12-18)
12 Gương mẫu của Chúa Cứu Thế không chỉ là gương về sự hạ mình, mà còn về sự vâng phục (c.8). Dù Phao-lô có đến với họ hay không, thì người Phi-líp vẫn được kêu gọi về sự vâng phục ấy, (đối chiếu Phi 1:27). Làm nên ở đây có nghĩa là đưa đến chỗ hoàn thiện. Đây không phải là vấn đề làm việc để được cứu rỗi. Chúng ta không bao giờ làm nổi việc này. Chính từ ngữ cứu rỗi (nghĩa là “cứu vớt”) hàm ý rằng chúng ta không thể tự cứu mình (đối chiếu Gi 15:4-5 ICo 15:10 Eph 2:5,8), nhưng chúng ta có thể và phải sống một đời sống bày tỏ quyền năng cứu rỗi của Đức Chúa Trời mà chúng ta đã nhận lấy cho chính mình.
13 Chúng ta có phần việc phải làm của mình, nhưng điều đó chỉ thực hiện được khi Đức Chúa Trời làm việc trong chúng ta (chữ Hi lạp được dùng ở đây và thường được Phao-lô dùng để chỉ quyền năng của Đức Chúa Trời, là chữ mà từ đó chúng ta có danh từ “năng lực”). Ngài ban cho chúng ta cả ước muốn lẫn sức mạnh để làm điều đẹp lòng Ngài.
14 Hơn nữa, điều quan trọng không phải là điều được làm mà là tinh thần chúng ta làm điều đó, một tinh thần “không lằm bằm và lưỡng lự”. Điều này cần luôn được áp dụng trong đời sống và hành động của Cơ Đốc nhân.
15 Nếu Cơ Đốc nhân phải sống bày tỏ đức tin trong một xã hội mà luân lý đạo đức bị suy đồi và vấn đề tâm linh bị lệch lạc, thì các chuẩn mực cao nhất phải được đặt ra. Phần mô tả này được rút ra từ Phu 32:5 nhưng lại phù hợp một cách đáng buồn với xã hội phương Tây hiện nay. Mỗi một biểu hiện về cách sống của Cơ Đốc nhân ở đây đều đáng cho chúng ta suy gẫm. Không vít, không tì (trong sạch) có nghĩa là có tính cách hoàn toàn thuần khiết và chân thật. Không chỗ trách được có nghĩa là không có gì để chê bai chỉ trích. Các tín hữu được mô tả là con cái Đức Chúa Trời, đó không chỉ là đặc quyền của họ (Gi 1:12) mà còn là trách nhiệm đòi hỏi họ phải sống giữa thế gian này với tư cách là những người đã thuộc về Đức Chúa Trời và chứng tỏ mình giống như những thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời. Thành ngữ không vết được dùng để chỉ điều kiện bắt buộc đối với con vật được dùng làm sinh tế trong thời Cựu Ước. Nó cũng được dùng để chỉ chính Chúa Giê-xu cả về ý nghĩa luân lý đạo đức lẫn thuộc linh (He 9:14 IPhi 1:19), và đó cũng là chuẩn mực của Cơ Đốc nhân. Như đuốc (nguyên văn là “như những người cầm đuốc”, bản Anh văn dịch là “như những ngôi sao”) ngụ ý Chúa Cứu Thế là ánh sáng (Gi 1:8-9 8:12) và chúng ta phải phản chiếu ánh sáng ấy cho người khác.
16 Từ ngữ được dùng ở đây có thể mang nghĩa là “nắm vững” hoặc đưa ra. Chúng ta phải bám sát lấy Lời Chúa, nhưng trên hết phải ban phát nó với tư cách là “lời của sự sống” cho thế giới đang hư vong này (Gi 3:16 6:68 Cong 5:20 IICo 2:15-16). Phao-lô suy nghĩ cuộc đời mình giống như việc tham dự một cuộc chạy đua và đang gắng sức cho đến mức cùng kiệt, nhưng khải tượng thuộc linh mà ông có được đã gắn chặt vào Chúa là Đấng mà ông đang trông đợi để được gặp mặt đối mặt và nhận được sự hài lòng của Ngài.
17-18 Ý nghĩ về cái chết như kết quả tất nhiên của việc ông bị cầm tù lại đến với vị sứ đồ này. Sự chết đó có lẽ là một của lễ dâng lên cho Đức Chúa Trời, nhưng ông nghĩ về nó như một của “lễ quán” (của lễ bằng thức uống) được rưới lên một “sinh tế” quan trọng hơn nhiều – đó là đức tin của người Phi-líp cũng như phẩm chất và sự phục vụ của họ do đức tin ấy mang lại. (Về của lễ thứ nhất trong các của lễ này, tham khảo IITi 4:6, còn về của lễ thứ hai, xin xem Ro 12:1). Phao-lô đã có thể vui mừng dù phải ở trong hoàn cảnh nào, dù sống hay chết, và ông muốn các bạn của ông tại Phi-líp cũng có cùng một thái độ như thế.
4. NHỮNG KẾ HOẠCH CHO TƯƠNG LAI (Phi 2:19-30)
Trong phần này, Phao-lô chuyển sang trình bày về hai người bạn đồng công của mình là Ti-mô-thê và Ép-ba-phô-đích, về các kế hoạch ông đã sắp xếp cho họ và hy vọng của ông là sẽ có thể trở lại Phi-líp. Trong phần này, ông trình bày về hai nhân vật này bằng những lời lẽ chứa đựng sự trìu mến sâu sắc, và có những lời chứng tốt đẹp về sự phục vụ tận tuỵ và quên mình của họ.
1. Lời khen ngợi Ti-mô-thê (Phi 2:19-24)
Chúng ta đã biết rằng Ti-mô-thê ở với Phao-lô lúc người viết bức thư này (Phi 1:1) và ông đã dự phần với Phao-lô trong lần truyền giảng Phúc Âm đầu tiên tại thành Phi-líp (Cong 16:1-11). Hầu hết các bức thư của Phao-lô đều nhắc đến ông, thường là do ông giữ những trách nhiệm đặc biệt mà vị sứ đồ này uỷ thác.
19 Phao-lô đã lịch duyệt nói rằng mong ước đầu tiên của ông liên quan đến sứ mạng của Ti-mô-thê đó là ông có thể được khích lệ bởi những tin tức về các Cơ Đốc nhân tại Phi-líp. Tuy nhiên, chắc chắn ông cũng đã thấy trước về một chức vụ mà Ti-mô-thê sẽ thi hành tại Phi-líp, và để chuẩn bị cho điều đó, ông đã nói đến Ti-mô-thê bằng những lời khen ngợi cao đẹp nhất. Cũng cần lưu ý cách Phao-lô nói Tôi mong rằng nhờ ơn Đức Chúa Giê-xu và cách ông thường lặp lại cụm từ này hay một cụm từ tương đương “trong Đấng Christ”. Phao-lô nổ lực phó dâng mọi hy vọng và kế hoạch của mình về tương lai cho Chúa là Đấng mà sự sống của ông đã được hiệp làm một với Ngài (đối chiếu ICo 16:7 Gia 4:13-15).
20-21 Phao-lô nói ông chẳng có người nào khác giống như Ti-mô-thê, thật lòng lo lắng về vấn đề thuộc linh của các Cơ Đốc nhân tại Phi-líp, và vị sứ đồ buồn bã nói thêm rằng khi ông nghĩ đến những người khác chung quanh ông mà có thể ông đã sai phái, thì “ai nấy đều tìm lợi riêng mình, chớ không tìm lợi ích cho Chúa Cứu Thế Giê-xu. IITi 4:9-13 cũng phản ảnh tình trạng tương tự. Đó luôn là một thách thức đối với chúng ta, để xét xem chúng ta có “thật lòng quan tâm” đối với người khác, hay chúng ta muốn người khác phải phục vụ cho những mục đích của riêng mình.
22 Giá trị của Ti-mô-thê đã được chứng minh tại Phi-líp và bởi chính vị sứ đồ, là người hơn ai hết vốn biết rõ giá trị ấy, vì Ti-mô-thê đã giúp việc cho ông như con với Cha vậy (nguyên văn “làm nô lệ” –đối chiếu Phi 1:1) trong việc giúp cho sự tăng trưởng của Phúc Âm.
23-24 Phao-lô muốn qua Ti-mô-thê để biết được tin tức từ thành Phi-líp. Ti-mô-thê cũng đem tin tức của Phao-lô đến Phi-líp, cho nên ông cần phải chờ cho đến khi biết kết quả của cuộc xét xử Phao-lô, được tha ra hay phải chịu tử hình (đối chiếu 1:23-24). Dường như Phao-lô có một niềm hy vọng ngày càng mạnh mẽ rằng mình sẽ được tha ra, và nếu được như thế, không bao lâu nữa ông sẽ có thể đến thành Phi-líp.
2. Những lời giải thích về Ép-ba-phô-đích (Phi 2:25-30)
25 Chúng ta không được biết gì về Ép-ba-phô-đích ngoại trừ những điều chép ở phân đoạn này và trong 4:18, cho biết rằng người Phi-líp đã nhờ ông đem quà tặng của họ đến cho Phao-lô. Vì thế, ông là “sứ giả” của họ (từ ngữ được dùng ở đây là apostolos nhưng với một ý nghĩa khác với các vị sứ đồ chủ chốt của Chúa Cứu Thế đối chiếu IICo 8:23), nhưng ông cũng đã được phái đi với ý định là sẽ ở lại với Phao-lô để chăm lo cho các nhu cầu của người. Cần lưu ý đến tinh thần đồng công được hàm ý trong những từ anh em, bạn cùng làm việc và (bạn) cùng chiến trận. Nhiều Cơ Đốc nhân là những công nhân và chiến sĩ đáng nể vì cớ Chúa Cứu Thế, nhưng không phải tất cả đều có thể làm việc ăn ý với những người đồng sự khác của mình.
26-28 Một điều gì đó đã xảy ra khiến cho Phao-lô khôn ngoan gửi Ép-ba-phô-đích về lại Hội Thánh Phi-líp thay vì giữ ông lại bên mình. Ép-ba-phô-đích bị bệnh rất nặng, nhưng nhờ lòng thương xót của Đức Chúa Trời (cũng là lòng thương xót dành cho cả Phao-lô theo như ông nhận thấy), hiện ông đã bình phục. Tin báo về cơn bạo bệnh của ông đã đến Phi-líp và tin tức hồi âm cho thấy những nỗi lo lắng của các bạn ông ở đó. Điều này đã làm cho Ép-ba-phô-đích buồn rầu (một từ ngữ có nghĩa rất mạnh trong tiếng Hi Lạp, ngoài ra chỉ được Kinh thánh Tân Ước sử dụng một lần duy nhất để nói về sự đau buồn của Chúa chúng ta tại vườn Ghết-sê-ma-nê trong Mat 26:37 và Mac 14:33) và khiến ông cảm thấy nhớ những người đang ở tại quê nhà. Nên Phao-lô nhận thấy tốt nhất để ông trở về.
29-30 Tuy nhiên, Phao-lô nhạy bén trước tình hình ấy. Rất có khả năng người Phi-líp sẽ hiểu sai lý do của việc sứ giả của họ trở về. Cho nên ông kêu gọi họ hãy tiếp nhận Ép-ba-phô-đích bằng tấm lòng chào đón nồng ấm của Cơ Đốc nhân, không chỉ như đó chính là một người anh em của họ từ hải ngoại trở về, mà còn như là một người rất được tôn trọng vì đã sự trung tín và sự cao trọng trong công tác phục vụ của người. Chúng ta không biết người vì công việc của Đấng Christ mà người đã gần chết, liều sự sống mình như thế nào. Có lẽ đơn giản là ông cũng tự xem mình là tù nhân giống như Phao-lô. Rất có thể là “ông ta đã lâm bệnh trên đường đi và suýt phải chết do phải hoàn tất chuyến đi mà ông vốn không đủ sức để thực hiện” (Paul’s Letters from Prison của Caird). Từ ngữ liều có nghĩa đen là “trò cờ bạc”, và đây có lẽ là cách “chơi chữ” cố ý với cái tên Ép-ba-phô-đích (trường hợp tên của Ô-nê-sim trong thư Phi-lê-môn 11 cũng vậy). Aphrodite (Ép-ba-phô-đích) là nữ thần người Hi Lạp của những kẻ đánh bạc, nên một người đánh bạc muốn thắng thì phải gọi tên bà ta, là epaphroditus (Philippians của Hawthorne). Con người này đã liều sinh mạng mình để phục vụ Phao-lô, đây là một hành động liều lĩnh vì cớ Đức Chúa Trời, và ông đã thắng!
3. NHỮNG THAM VỌNG THUỘC LINH (Phi 3:1-21)
Có vẻ như Phao-lô đã sắp kết thúc bức thư của mình ở đây vì ông dùng một từ ngữ có thể dịch ra là “cuối cùng”. Vì vậy, dù lý do gì đi nữa (xin xem phần Dẫn nhập), ông cảm thấy phải đưa ra một lời cảnh báo về những kẻ muốn cho tất cả những người ngoại quốc trở lại đạo đều phải trở thành người Do Thái. Việc này dẫn ông đến chỗ nói về việc ông chỉ nhờ cậy Chúa Cứu Thế Giê-xu nên được Đức Chúa Trời chấp nhận và nói về những tham vọng lớn nhất trong đời sống thuộc linh của ông, cũng là những tham vọng trong đời sống của những Cơ Đốc nhân bạn tại Phi-líp.
1. Cảnh báo chống lại chủ trương cắt bì (Phi 3:1-3)
Để hiểu điều đang được nói đến ở đây và trong mấy câu tiếp theo, chúng ta cần quay trở lại một chút với sinh hoạt của Hội Thánh đầu tiên. Những người tin Chúa Giê-xu đầu tiên vốn là người Do Thái, và với tư cách là những người Do Thái trung thành, họ nhận thấy luật pháp có vai trò quan trọng sống còn và nhấn mạnh đến giao ước của dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời, mà dấu hiệu của giao ước đó chính là phép cắt bì. Những tín hữu đầu tiên này đã được sai đi truyền giáo với một sứ mạng toàn cầu (Cong 1:8), nhưng thật khó để họ có thể đến với những người không phải là dân Do Thái (chú ý 10:1-48), và điều này đã xảy ra một khoảng thời gian trước khi sứ mạng thật sự về việc truyền giáo cho người ngoại quốc bắt đầu (11:20). Với cương vị là sứ đồ của người ngoại quốc, Phao-lô tin rằng nếu những người không phải là dân Do Thái trở lại với Chúa, bằng lòng ăn năn và đức tin, thì họ sẽ được tiếp nhận làm con dân Đức Chúa Trời, không nhất thiết phải trở thành người Do Thái, và những người nam phải chịu phép cắt bì. Tuy nhiên, có nhiều Cơ Đốc nhân gốc Do Thái tại An-ti-ốt (15:1) và trong xứ Ga-la-ti khăng khăng rằng các Cơ Đốc nhân người ngoại quốc này đều phải trở thành người Do Thái. Cho nên Giáo hội nghị tại Giê-ru-sa-lem được ghi lại trong Công Vụ 15 đã được triệu tập, và để giải quyết cùng một vấn đề mà Phao-lô đã viết trong thư gởi cho người Ga-la-ti. Nhiều năm sau đó, điều này vẫn là một vấn đề nan giải, cho nên việc viết về vấn đề này là điều có ích cho người Phi-líp.
1-2 Phao-lô rất tức giận những kẻ đã ép các Cơ Đốc nhân người ngoại quốc phải trở thành người Do Thái đến mức ông đã gọi họ là loài chó, đây là tên gọi mà dân Do Thái dành để gọi người ngoại quốc. Tuy nhiên, những kẻ đó xứng đáng với cái tên này hơn bất cứ người ngoại quốc nào khác, vì cách họ thích “đi rình rập chung quanh các cộng đoàn Cơ Đốc, tìm cách để lôi kéo những người ngoại quốc ăn năn quy đạo về với Do Thái giáo” (Philippians, Beare), cho nên những người mới ăn năn quy đạo cần phải cảnh giác với những người này. Chúng là những “kẻ làm công gian ác” (NRSV), khiến người ta xây bỏ chân lý và sự tự do (Mat 23:15 IICo 11:13 Ga 1:7-9). Bởi vì phép cắt bì chẳng hề có giá trị thuộc linh, nên chúng chỉ là những kẻ cắt xẻo da thịt mà thôi.
3 Một khi giá trị thuộc linh của phép cắt bì không còn nữa, thì việc làm đó chỉ còn là một nghi lễ bề ngoài, một hành động tin cậy trong xác thịt mà thôi. Phao-lô nói chính chúng ta là kẻ chịu phép cắt bì thật. Trong khi có một số người tưởng rằng có lẽ ông chỉ nói về các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái, thì có bằng chứng cho thấy rằng Phao-lô và các trước giả Tân Ước nói chung đều lấy tất cả những danh hiệu và đặc quyền của dân sự Đức Chúa Trời trong thời Cựu Ước để áp dụng cho các Cơ Đốc nhân, dù họ là người Do Thái hay người ngoại quốc (Eph 2:11-22 IPhi 2:4-10).
2. Đời sống và những mục tiêu trước kia của Phao-lô (Phi 3:4-7)
4 Phao-lô lý luận rằng chính ông cũng từng có sự cậy mình tương tự, sự cậy mình trong xác thịt, như những người này là những người muốn khiến cho toàn thể các Cơ Đốc nhân đều trở thành người Do Thái. Ông có thể liệt kê từng điều một về những gì mà trước đây, với tư cách một người Do Thái ngoan đạo, ông vẫn tưởng là có thể kể công với Đức Chúa Trời.
5 Ông liệt kê bảy điều mà ông xem như những món lợi lớn trong đời sống tôn giáo sâu nhiệm mà ông từng có trước khi gặp Chúa Giê-xu: (1) Ông đã chịu phép cắt bì vào ngày thứ tám sau khi được sinh ra theo đúng yêu cầu của luật pháp (Sa 17:12). (2) Ông vốn thuộc dòng dõi Y-sơ-ra-ên, là một thành viên của dân tộc thuộc về Đức Chúa Trời. (3) Ông có thể xưng tên của chi phái mình là Bên-gia-min, chi phái của vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên, và là một người vẫn giữ lòng tận trung trong khi nhiều người khác đã không làm được điều đó. (4) Ông không những chỉ là một người Do Thái thật, mà còn là một người Hê-bơ-rơ, nói được ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng A-ram (Cong 6:1 22:2 IICo 11:22), con của người Hê-bê-rơ, và không giống như nhiều người khác đã không còn nói được tiếng mẹ đẻ của mình . (5) Do nghiêm khắc tuân thủ luật pháp, ông là một người Pha-ri-si sùng đạo (Cong 23:6 26:5 Ga 1:14). (6) Lòng sốt sắng nhiệt thành của ông đã được chứng minh bằng những gì ông đã làm để bắt bớ bách hại các Cơ Đốc nhân (Cong 8:3 9:1). (7) Ông nói rằng nếu xét theo những đòi hỏi bên ngoài của luật pháp, của luật Môi-se mà ông nổ lực để sống theo, thì ông không chỗ trách được. Tuy nhiên, đó chỉ là vấn đề công bình theo luật pháp, là vấn đề tìm cách để được công chính trước mặt Đức Chúa Trời dựa vào việc vâng giữ luật pháp.
7 Giờ đây ông thừa nhận rằng tất cả những điều lợi đó đều như một sự thua lỗ nặng. “Vì cớ Đấng Christ, tôi đã xoá sạch tất cả những điều được xem là lợi đó” (NEB). Ông nhận ra rằng chúng chỉ là một nền tảng sai lầm của niềm tin, thậm chí còn là một trở ngại đối với ông. Tiếp đến ông mô tả về con đường tốt đẹp hơn bội phần mà ông đã tìm thấy.
3. Từ bỏ con người cũ, những tham vọng mới của Phao-lô (Phi 3:8-14)
Vì đã gặp được Cứu Chúa Phục Sinh trên đường Đa-mách (Cong 9:1-43), và cũng nhờ bắt đầu nhận thức được rằng mình vẫn chưa thật sự vâng giữ luật pháp (Ro 7:1-25), Phao-lô đã được đưa đến chỗ “đánh giá lại tận gốc các giá trị” (Hawthorne, Philippians).
8 Tìm được cách thức để được Đức Chúa Trời chấp nhận trong Chúa Cứu Thế, Phao-lô xem mọi sự mà ông đã trông cậy trước kia đều là sự lỗ, ông quyết định rằng chỉ “ích lợi của việc nhận biết Đức Chúa Giê-xu Christ” là điều “trổi hơn hết”(NEB). Chẳng những ông chỉ kể những sự đó như là sự thua lỗ, mà ông còn nói rằng vì cớ Đấng Christ, tôi đã bỏ hết mọi sự – chỗ đứng của ông trong Do Thái giáo, giữa vòng người Pha-ri-si, có thể ngay cả chính gia đình của mình. Thế nhưng ông không hề buồn phiền, vì tất cả mọi điều khác đều là “rơm rác vô dụng so với việc ông đã có được Chúa Cứu Thế” (Phillips).
9 Bây giờ thì mong ước của ông là được chấp nhận dựa trên sự công bình vốn là quà tặng của Đức Chúa Trời, được ban tặng với điều kiện đơn giản là tin (đối chiếu Ro 3:21-4:25 Ga 2:15-3:29 Eph 2:4-9), bỏ sang một bên cái gọi là công chính do việc làm của ông mang lại điều mà trước đây ông đã từng nhờ cậy.
10 Hơn thế nữa, ông còn muốn sống trong sự nhận biết Chúa Cứu Thế, nghĩa là trong sự đồng chịu đóng đinh vào thập tự giá và đồng sống lại với Chúa Cứu Thế (theo ý nghĩa báp-tem của Cơ Đốc, Ro 6:1-4). Điều này có nghĩa là nhận biết quyền phép sự sống lại của Ngài trong kinh nghiệm hằng ngày (đối chiếu Ro 8:10-11 IICo 4:10-11 Eph 1:19-20 và thông công (chia sẻ) trong sự thương khó của Ngài bằng cách từ bỏ lối sống lấy mình làm trung tâm vốn là điều tự nhiên với chúng ta, và sẵn sàng đối diện với khó khăn gian khổ để Phúc Âm về sự cứu rỗi đến được với tất cả mọi người (đối chiếu IICo 4:7-12 Ga 6:17 Co 1:24-25). Cả hai sự thực này phải luôn song hành với nhau trong đời sống của mọi Cơ Đốc nhân chân chính.
11 Căn cứ vào tham vọng và ước muốn mới mẻ này của mình, Phao-lô hy vọng mong được đến sự sống lại từ trong kẻ chết. Mấy lời này nghe có vẻ khác lạ sau khi chúng ta đã đọc phần được viết ở trên. Há không phải việc đạt đến sự sống lại chỉ tuỳ thuộc vào đức tin thôi sao? Phải chăng vị sứ đồ này đang nghi ngờ về sự cứu rỗi mình có được vào ngày sau rốt? Ông chẳng bao giờ thiếu chắc chắn về việc mình là con cái của Đức Chúa Trời, đã được Đức Chúa Trời tiếp nhận (Ro 8:15-17 Ga 4:6-7), nhưng đồng thời ông cũng không bao giờ dám tự mãn hay kiêu ngạo. Đức tin phải tồn tại cho đến cuối cùng (Mac 13:13 He 3:14). Chúng ta phải đọc những lời lẽ ở đây của Phao-lô như một sự bộc lộ không phải về sự nghi ngờ, mà là về sự khiêm nhường.
12-13 Có vẻ như tại Phi-líp đang có nhiều kẻ tưởng rằng họ đã đạt được mục tiêu trọn vẹn của Cơ Đốc nhân rồi, rằng họ “đã đến nơi trọn lành”. Phao-lô thừa nhận rằng các Cơ Đốc nhân được kêu gọi để đạt đến những tiêu chuẩn cao nhất (đối chiếu với Phi 2:15 Eph 4:13-16), như chính Chúa Giê-xu từng phán: “...hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn” (Mat 5:48), nhưng ông hoàn toàn không tuyên bố rằng mình đã đạt đến sự trọn vẹn ấy rồi. Trái lại, ông vẫn bươn theo – động từ này có nghĩa đen là “theo đuổi” là động từ mà ông đã dùng để mô tả việc ông bắt bớ bách hại Hội Thánh nguyên thuỷ (c.6). Sở dĩ ông muốn giựt lấy cho kỳ được mục đích quan trọng ấy vì Chúa Cứu Thế đã giựt lấy chính ông lúc Ngài đối diện với ông trên con đường Đa-mách nhiều năm về trước. Có những điều khiến các Cơ Đốc nhân nhớ lại hành động của Đức Chúa Trời trong quá khứ, nhưng Phao-lô biết rằng ông không được sống dựa vào quá khứ. Những thất bại và tội lỗi trong quá khứ đã được tha thứ, còn những thành tựu quá khứ trong việc phục vụ Chúa Cứu Thế không cho phép ông thỏa mãn với những gì mình đã đạt được. Trái lại, ông muốn bươn theo những gì đang còn ở phía trước, và để diễn tả điều này, ông dùng một từ ngữ có nghĩa rất mạnh, thường được dùng trong bối cảnh một cuộc thi đấu điền kinh hay một cuộc đua xe ngựa tất cả sức lực của ông đều tập trung vào mục tiêu và chủ đích của đời sống Cơ Đốc của ông.
14 Có một giải thưởng cần phải dành cho được, tuy chúng ta không chắc rằng có phải Phao-lô xem giải thưởng đó là chính Chúa Cứu Thế (đối chiếu c.8), “sự kêu gọi của Đức Chúa Trời về sự sống trên cao kia” (bản NEB), hay là “mão triều thiên của sự sống” (Gia 1:12 ICo 9:25) – là món quà ân điển của Đức Chúa Trời dành cho những ai kiên trì theo đuổi điều họ được kêu gọi cách trung tín cho đến cuối cùng.
4. Một gương mẫu để noi theo (Phi 3:15-17)
15 Người trọn vẹn hay trưởng thành (về căn bản trong nguyên văn Hi Lạp thì chúng chỉ bắt nguồn từ một từ) là người có cách nghĩ như Phao-lô vừa trình bày. Ông tin rằng nếu các bạn người Phi-líp của ông suy nghĩ theo cách khác, thì Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ chỉ cho họ con đường đúng và họ sẽ sẵn sàng noi theo.
16 Điều tối quan trọng chính là chúng ta phải sống theo chân lý mà chúng ta đã nhận biết và tiếp nhận. Ở đây, câu được dịch chúng ta phải đồng đi không chỉ có nghĩa là đi theo một cách cá nhân, mà là đồng với người khác. “Khi chọn động từ này, một lần nữa Phao-lô nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hoà hợp và cùng cộng tác với nhau mặc dù bất đồng ý kiến có thể tồn tại” (Philippians của Hawthorne).
17 Ở đây, cũng như ở những chỗ khác trong các thư tín của mình (4:16 11:1 ITe 1:6 2:10 IITe 3:7,9), Phao-lô nói đến chính mình như một gương mẫu cần noi theo. Điều này nghe có vẻ tự mãn, nhưng chúng ta cần phải nhận ra rằng trước khi có bộ Tân Ước để Cơ Đốc nhân sử dụng, thì việc có những con người gương mẫu để noi theo là điều rất quan trọng. Phao-lô phải sống đời sống Cơ Đốc nhân để người khác có thể noi theo là điều hết sức cần thiết vì điều đó có thể khiến họ tin lời Phúc Âm trong sạch mà ông rao giảng. J. B. Phillips diễn ý câu này là “Hãy xem gương tôi như một tiêu chuẩn để qua đó anh em có thể nói ai là Cơ Đốc nhân thật sự xung quanh anh em”. Tình hình của chúng ta hiện nay không hoàn toàn giống như thế, khi mà Kinh Thánh Tân Ươc đã là kim chỉ nam căn bản cho nếp sống của Cơ Đốc nhân, nhưng (như Phao-lô viết trong IICo 3:1-3) điều này vẫn tồn tại vì Cơ Đốc nhân được kêu gọi để trở nên giống như một “bức thư của Đấng Christ” mà “mọi người đều nhận biết và đọc”, kể cả những người không đón nhận lời Kinh Thánh.
5. Kêu gọi làm một công dân trên trời (Phi 3:18-21)
Từ ý tưởng về các tham vọng của chính ông được tình yêu của Chúa Cứu Thế nung đốt, và suy nghĩ về những người đang có quan niệm sai lầm về sự hoàn thiện, Phao-lô chuyển sang suy nghĩ đến những người khác trong cộng đồng Hội Thánh Cơ Đốc, mà cách sống của họ chỉ khiến ông đau khổ và buồn phiền.
18-19 Thập tự giá là trung tâm của Cơ Đốc giáo theo hai phương diện. Thập tự giá là trung tâm bởi vì chúng ta tin rằng qua sự chết của Chúa Cứu Thế trên thập tự già mà chúng ta nhận được sự tha thứ và chấp nhận của Đức Chúa Trời và bởi đó mà được sự sống đời đời. Thập tự giá cũng là trung tâm giúp chúng ta thông hiểu tư cách làm môn đệ của Chúa. Chúa Giê-xu kêu gọi chúng ta hãy vác thập tự giá và theo Ngài (Mac 8:34 Lu 9:23), còn Phao-lô biết rằng ông phải chấp nhận thông công sự thương khó của Ngài, nên giống như Ngài trong sự chết Ngài (câu 10). Dường như rõ ràng là những người mà Phao-lô viết là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ liên quan đến phương diện thứ hai. Thay vì chấp nhận từ bỏ bản ngã của mình để làm môn đệ của Chúa, họ đã đặt dục vọng thuộc thể của họ làm chúa mình, khoe khoang về những điều thật ra phải lấy làm xấu hổ, và để tâm trí mình hướng vào các việc thế gian mà thôi. Câu này có nghĩa là thay vì tìm được nơi thập tự giá sự cứu rỗi lẫn con đường sự sống, họ lại đi theo con đường chỉ có thể đưa đến sự hư mất.
20 Suy nghĩ về những kẻ mà đời sống bị các dục vọng của các việc thế gian chế ngự, Phao-lô đã khẳng định các Cơ Đốc nhân chân chính biết rằng sự sống và quyền công dân của họ ngay lúc này đã thuộc về thiên đàng cùng với Chúa Cứu Thế (đối chiếu Eph 1:3 2:6 Co 3:1-4). Người Phi-líp có thể tự hào về quyền công dân của họ trong một thuộc địa của La Mã (xem phần Dẫn nhập), cũng như mọi người chúng ta đều có quyền công dân trên đất này, với quyền lợi và nghĩa vụ của nó. Nhưng họ, lẫn chúng ta đều phải coi trọng việc mình đã được ban cho sự sống và quyền công dân trên trời hơn cả, và chúng ta phải sống với niềm hy vọng trong tương lai chúng ta sẽ nhận được cách trọn vẹn những điều thuộc về mình. Như vậy chúng ta đang nóng lòng trông đợi Cứu Chúa mình là Đức Chúa Giê-xu Christ sớm từ trời hiện ra.
21 Khi Chúa Cứu Thế tái lâm, Ngài sẽ biến hoá thân thể hèn mạt chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển Ngài (đối chiếu IGi 3:2 IICo 4:16-5:4) bằng quyền năng của Đức Chúa Trời, là Đấng có quyền làm mọi việc mà không bị hạn chế, không có gì ngăn trở được. Ta không nên khinh dể thân thể mà mình hiện có, nó là dấu hiệu của tình trạng hèn mạt (từ ngữ tương tự được dùng trong bài ca của bà Ma-ri ở Lu 1:48) hiện tại của chúng ta. Thân thể của chúng ta hiện phải chịu đau đớn, họan nạn và sự yếu đuối nhưng đến chừng đó, thân thể chúng ta sẽ được khiến sống lại trở thành bất tử, và không thể bị huỷ diệt (ICo 15:35-54).
6. NHỮNG LỜI HƯỚNG DẪN, CẢM TẠ VÀ CHÀO THĂM (Phi 4:1-23)
Những phân đoạn cuối cùng của Phao-lô bao gồm những lời kêu gọi, những thông điệp cá nhân và lời cảm ơn về các món quà người Phi-líp đã gởi cho ông. Việc Phao-lô hồi tưởng với lòng tri ân về các món quà đó ấy dẫn đến điều ông nói về trông cậy của ông vào Chúa và về các phước hạnh thuộc linh đến từ sự dâng giúp rộng rãi. Ông nói tiếp rằng ông đã tập sống thoả lòng trong lúc túng thiếu cũng như dư dật, làm được mọi việc nhờ Chúa là Đấng chắc chắn cũng sẽ cung cấp đầy đủ cho tất cả những nhu cầu của họ.
1. Lời kêu gọi giữ tinh thần hiệp một (Phi 4:1-3)
Từ Vậy thì được dùng để bắt đầu phân đoạn này cho thấy lời kêu gọi của Phao-lô ở đây căn cứ trên những gì đã được trình bày phía trước – đó là mối nguy hiểm từ những kẻ muốn khiến toàn thể Cơ Đốc nhân đều trở thành người Do Thái, và nỗi thất vọng của ông về những người chỉ nghĩ đến các việc thế gian.
1 Lời lẽ ở đây cho thấy cảm xúc sâu xa của Phao-lô khi ông viết thư này cho những người bạn của ông tại Phi-líp. Trong câu này có đến hai lần ông dùng từ ngữ mà nghĩa đen của nó là “kẻ rất yêu dấu”. Ông vui mừng về họ. Ông xem họ như mão triều thiên được đội lên đầu mình vậy (đối chiếu ITe 2:19). Ông yêu mến họ và mong nhớ họ (đối chiếu Phi 1:8). Nhưng trên hết mọi sự, ông khích lệ họ hãy đứng vững trong Chúa (đối chiếu 1:27) như những chiến sĩ quyết tâm không để bị đẩy lùi dù cho các đội quân chống lại họ hùng mạnh đến mức nào.
2-3 Sau khi đã bàn tổng quát về tinh thần chia rẽ và bè phái trong Hội Thánh (2:1-5), Phao-lô thấy mình cần phải đặc biệt giải quyết một vụ cãi lẫy đang làm xáo trộn đời sống của họ. Chúng ta chẳng biết thêm điều gì khác về Ê-vô-đi và Sin-ty-cơ, nhưng Phao-lô đã nồng nhiệt khen ngợi họ là đã cùng tôi vì đạo Tin Lành mà chiến đấu, chắc họ vốn là những phụ nữ từng ở trong chức vụ. Thế nhưng ông cũng khuyên họ phải hiệp một ý trong Chúa và yêu cầu một trong các đồng sự tín cẩn của ông (không được nêu tên, trừ phi chúng ta xem mấy chữ bạn đồng liêu là tên riêng của một người, là Syzgus theo như phần ước chú của bản NIV) giúp họ hòa giải với nhau. Khi Phao-lô chê trách, thì đồn thời ông cũng tìm cách nhắc đến những công lao và khen ngợi. Ông nêu đích danh Cơ-lê-măn nhưng cũng biết rõ tất cả các bạn đồng công khác của mình nữa, và điều quan trọng hơn hết mà ông có thể nói về họ là tên những người đó được biên vào sách sự sống rồi. Về “sách sự sống” này, xin đối chiếu Xu 32:32 Thi 69:28 Da 12:1 Kh 21:27, và hãy ghi nhớ những lời Chúa Giê-xu đã phán dạy các môn đệ Ngài rằng họ đừng vui mừng quá vì những thành tựu mà họ đạt được trong sự phục vụ mà hãy vui mừng vì nhờ ân điển Đức Chúa Trời mà tên họ “đã ghi trên thiên đàng” (Lu 10:20).
2. Lời kêu gọi hãy vui mừng và cầu nguyện (Phi 4:4-7)
4 Một lần nữa, trong bức thư này, chủ đề về sự vui mừng lại xuất hiện khi vị sứ đồ này kêu gọi các độc giả của ông hãy vui mừng… luôn luôn, và ông nói là trong Chúa, cụm từ này được lặp lại: “hãy đứng vững trong Chúa” (c.1), “hiệp một ý trong Chúa” (c.2), và bây giờ là hãy vui mừng trong Chúa. Toàn bộ vấn đề về cách sống của một Cơ Đốc nhân chính là mối liên hệ của họ với Chúa Giê-xu hằng sống, trong bầu không khí có sự hiện diện và ân điển của Ngài khiến chúng ta có thể làm được mọi điều
5 Trong đời sống và trong các mối liên hệ của Cơ Đốc nhân, có một đức tính cần phải được bày tỏ cho mọi người. Từ ngữ Phao-lô dùng đã được dịch ra là “nết nhu mì”. Bản NIV dịch là đức hòa nhã (gentleness), còn bản NJB dịch là sự tốt bụng (good sense). Knox dịch từ này là sự nhã nhặn (courtesy) và bản RSV là tính kiên nhẫn (forbearance). Dựa vào tất cả những cách dịch trên, chúng ta có thể hiểu được điều Phao-lô muốn nói. Sự đến gần của Chúa đã khiến chúng ta có đức tính này, điều này có thể được hiểu là Ngài luôn gần gũi với chúng ta, ngày Ngài tái lâm đã gần rồi, hoặc là cả hai.
6 Lo phiền sẽ không có chỗ trong đời sống của Cơ Đốc nhân, bởi vì trong mọi sư, họ đều có thể cầu nguyện, bằng nhiều hình thức và cách thức khác nhau, khẩn nguyện, nài xin, và trên hết phải là sự tạ ơn. Sở dĩ như vậy là vì lời tôn ngợi bao giờ cũng thuộc về Đức Chúa Trời, và vì đức tin được tăng trưởng khi chúng ta nhớ cảm tạ Ngài về những gì Ngài đã làm cho chúng ta trong quá khứ. Đây là một điều nhắc nhớ lại lời dạy của Chúa Giê-xu (Mat 6:25-34 7:7-11). IPhi 5:7 cũng có ý tương tự khi có lời chép rằng: “lại hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em”, và như J. A. Bengel cũng có câu nói rất hay rằng: “Lo phiền và cầu nguyện xung khắc nhau như lửa với nước vậy” (New Testament Word Studies, vol. 2 Kregel Publications, 1978, trang 447).
7 Khi cầu nguyện thế chỗ cho sự lo lắng thì sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết sẽ đến, và sự bình an ấy sẽ hành động như một người lính canh , giữ cho tâm trí và cảm xúc Cơ Đốc nhân khỏi những đợt sợ hãi, âu lo hoặc sự cám dỗ thình lình tấn công, áp đảo. Các Cơ Đốc nhân phải kinh nghiệm thực tế này trong đời sống hằng ngày của mình.
3. Bám lấy điều chân thật và đáng yêu chuộng (Phi 4:8-9)
Người ta cho rằng các đức tính đề cập ở đây không riêng gì của Cơ Đốc giáo, mà những đức tính như thế vốn được nhiều nền văn hoá và xã hội đề cao. Có thể là đúng là như thế, nhưng Cơ Đốc nhân đặc biệt có trách nhiệm phải bày tỏ những đức tính ấy và được sự trợ giúp của Đức Thánh Linh để thực hiện điều đó.
8 Có tám từ ngữ đã được dùng để chỉ những điều cần có trong nếp suy nghĩ của Cơ Đốc nhân. Một khi những điều này đã “quan tâm đến” (như động từ được dịch là nghĩ đến, muốn nói), sẽ giúp định hướng thái độ, hướng dẫn lời nói và hành động của một người. Đó là những điều chân thật, đáng tôn (cao thượng) và có giá trị, công bằng và phải lẽ, trong sạch và thánh khiết, đáng yêu chuộng và đẹp đẽ, đáng ngưỡng mộ và có tiếng tốt. Từ ngữ được dịch ra là nhơn đức vốn là từ ngữ thích hợp nhất mà đạo đức học Hi Lạp cổ đã dùng để chỉ đức hạnh, và cuối cùng là suy nghĩ về điều chi đáng được khen ngợi và ca tụng.
9 Hãy làm đi hay nói cách khác, sống theo những gì họ biết và thừa nhận, thì điều đó sẽ khiến cho người Phi-líp có được khuôn mẫu sống mà Phao-lô đã từng làm gương cho họ (Phi 3:17). Như thế, chẳng những họ sẽ tìm được sự bình an của Đức Chúa Trời, mà còn có được sự hiện diện luôn luôn của Ngài (đối chiếu IICo 13:11 IITe 3:16).
4. Thái độ của Phao-lô đối với các tặng phẩm của người Phi-líp (Phi 4:10-20)
Trong phân đoạn này, Phao-lô thấy mình cần phải làm hai điều: bày tỏ lòng biết ơn người Phi-líp về những món quà họ gửi cho ông, nhưng đồng thời cũng tế nhị nhấn mạnh nguyên tắc thuộc linh, đó là trông cậy vào Chúa hơn là vào sự trợ giúp của con người. Ông đã thực hiện điều này tuyệt vời đến nỗi mấy câu này đã từng được gọi là “một trong những viên ngọc của văn chương” (Beare, Phillippians).
10 Phao-lô vui mừng về các quà tặng của họ. Họ đã thể hiện sự nhiệt tâm trong công tác – trong một thời gian dài họ đã không có dịp tiện để bày tỏ sự quan tâm của họ đến ông.
11-13 Những món quà của họ đã đem đến cho ông niềm vui và sự khích lệ, nhưng ông không muốn nương cậy vào họ, cũng không phải khi viết như thế, là ông có ý nài xin thêm quà của họ. Ông đã có thể nói một thành thật rằng ông đã học được bí quyết biết hài lòng với mọi cảnh ngộ, cho dù thiếu thốn hay dư dật. Ông biết rằng Chúa của ông không bao giờ từ chối cung cấp cho ông những điều cần thiết cũng như thêm sức cho ông để đương đầu với mọi hoàn cảnh. Khi viết mấy dòng này, Phao-lô sử dụng hai từ ngữ mang ý nghĩa tôn giáo và triết học mà người thời ông vẫn dùng. Từ ngữ được dịch ra là thoả lòng (tiếng Hi-lạp là autarkçs) có nghĩa là “tự túc”. Điều này được những người theo phái Khắc kỷ (Stoics) xem là một đức hạnh cao quí để giúp người ta có thể tự dứt mình ra khỏi ngoại cảnh và giúp người đó có được năng lực để đối phó với mọi hoàn cảnh. Phao-lô dùng từ ngữ này với ý nghĩa là ông hoàn toàn độc lập với hoàn cảnh, nhưng ông nói rằng ông đủ sức làm được mọi việc là nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi, là Chúa Giê-xu hằng sống. Chữ còn lại, được dịch là tôi biết (bản tiếng Anh là I have learned the secret: tôi đã học được bí quyết) được dùng trong các nghi lễ tôn giáo thần bí để mở đầu cho một sự bí mật. Bí mật của Pho-lô là một bí mật để ngỏ, sẵn dành cho tất cả những ai bằng lòng bước đi trên con đường của Chúa Cứu Thế. Đó là bí quyết của sự thỏa lòng, vì nhận biết Chúa Cứu Thế và được kêu gọi để phục vụ Ngài là “sự giàu có không dò được” (Eph 3:8). Những câu hỏi luôn thách thức Cơ Đốc nhân chúng ta là làm sao chúng ta biết được sự sâu rộng của bí quyết về sự thoả lòng, và chúng ta đang kinh nghiệm sự chu cấp đầy đủ của Chúa Cứu Thế cho tất cả những đòi hỏi của đời sống chúng ta ở mức độ nào.
14-16 Mặc dù Phao-lô trình bày về nguyên tắc thuộc linh căn bản là chỉ nhờ cậy vào Đức Chúa Trời, ông vẫn muốn khẳng định rằng ông rất cảm kích lòng tốt của người Phi-líp. Nó đã nâng đỡ ông trong hoạn nạn. Ông nói về lúc tôi khởi giảng Tin Lành – những từ ngữ đã được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng bản NIV đã dịch chính xác là những ngày đầu tiên anh em làm quen với Phúc Âm. Lúc bấy giờ, Phao-lô rời xứ Ma-xê-đoan, là tỉnh có thành phố Phi-líp tọa lạc, để đến Tê-sa-lô-ni-ca (Cong 17:1). Lúc ở đó, các Cơ Đốc nhân người Phi-líp đã nhiều lần trợ giúp ông. Xin cũng lưu ý cách ông nói về sự cộng tác giữa họ với nhau, đó là sự chia xẻ theo kiểu ban cho và nhận lãnh. Sự thông công đích thực là một tiến trình hai chiều.
17-18 Trong Cơ Đốc giáo, sự ban cho cũng đem lại phước hạnh cả cho người đã ban cho nữa. Phao-lô nói cầu mong bởi sự ban cho người Phi-líp sẽ được kềt quả dồi dào cho tài khoản của họ. Ông đã dùng ẩn dụ về những sự trao đổi mua bán để nói về điều này. Đó là đã chi ra thì sẽ được trả lại đầy đủ. Chúng ta có thể chắc chắn rằng với cách diễn đạt như vậy, Phao-lô đã bài bác tận gốc rễ mọi ý nghĩ cho rằng con người có thể kể công với Đức Chúa Trời về những việc mình đã làm. Tất cả những gì chúng ta nhận được, đều là do ân điển của Đức Chúa Trời ban cho. Tất cả những gì chúng ta làm cho Chúa hay cho người khác là để bày tỏ lòng yêu mến và biết ơn. Những gì chúng ta làm cho người khác đều được nhìn nhận như đã làm cho Chúa (Mat 25:40) và có thể được mô tả như một của lễ Đức Chúa Trời đáng nhận, một thứ hương có mùi thơm (đối chiếu Xu 29:18 Exe 20:41 Gi 12:3 IICo 2:16).
19 Chúa chẳng mắc nợ ai cả. Sự ban cho của Đức Chúa Trời lớn hơn vô cùng so với những gì con người ban ra. Đức Chúa Trời hứa rằng Ngài sẽ cung cấp cho chúng ta tất cả những gì Ngài thấy chúng ta cần, và không phải khác là với nhưng là y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Giê-xu Christ.
20 Sự ngợi khen và vinh hiển đều thuộc về Đức Chúa Trời là Cha chúng ta đời đời vô cùng.
5. Những lời chào thăm kết thúc (Phi 4:21-23)
21-22 Phao-lô mở đầu bức thư của ông theo tục lệ của người đương thời, nhưng làm phong phú thêm giá trị cho nó bằng sự nhận thức rõ về việc trước giả và độc giả là người như thế nào bởi sự kêu gọi Cơ Đốc mà họ đã nhận được, và ông kết thúc thư cũng tương tự như vậy. Một lần nữa các độc giả được gọi là thánh đồ (Phi 1:1). Họ được ở trong Đức Chúa Giê-xu Christ, và vì thế, họ đều là anh chị em thật sự của nhau. Do đó mà những lời chào thăm đã được gởi đi, và trong số những người gởi lời chào thăm đó có cả người (thuộc về) nhà Sê-sa. Số người này chính xác là ai thì phần nào tuỳ thuộc vào nơi bức thư này được viết ra (xem phần Dẫn nhập về thời gian và địa điểm viết bức thư này). Tuy nhiên, cho dù nơi bức thư được viết ra có phải là Rô-ma hay không, thì rất có khả năng họ không thật sự là những thành viên của gia đình Sê-sa, nhưng là “những người làm trong các tổ chức nội bộ và hành chính của của Đế chế này” (Philippians của Beare). Ngay cả như vậy, thì vào thời điểm bấy giờ, việc có các Cơ Đốc nhân trung tín đang phục vụ cho hoàng gia là điều rất ý nghĩa.
23 Bức thư kết thúc như đã được bắt đầu với lời cầu nguyện, bao gồm tất cả những lời cầu xin khác, để ân điển của Đức Chúa Giê-xu Christ hiện diện, ở cùng và làm tươi mới luôn tâm linh của con người.