2 CÔ-RINH-TÔ

MỤC LỤC

IICÔ-RINH-TÔ

1. PHẦN MỞ ĐẦU (IICo 1:1-11)

1. Lời chào thăm (IICo 1:1-2)

1 Trong lời chào thăm đầu thư gửi cho một Hội Thánh, nơi mà quyền  sứ đồ của ông đã bị đưa ra chất vấn, Phao-lô mô tả mình là sứ đồ Đức Chúa Giê-xu Christ.  Đối với Phao-lô, sứ đồ là người đã thấy Chúa Phục Sinh (ICo 15:3-10  Ga 1:15-16), đã được Ngài giao phó trách nhiệm giảng Phúc Âm (1:11-12  2:7) và qua chức vụ rao truyền Phúc Âm của người ấy, ân điển của Đức Chúa Trời được bày tỏ (Ro 1:5  15:17-19  Ga 2:8-9).  Chính trên đường Đa-mách, Chúa Cứu Thế đã uỷ thác Phao-lô làm sứ đồ, và sự uỷ thác ấy được ý muốn Đức Chúa Trời hậu thuẫn.  Những người Phao-lô gửi lời chào thăm được mô tả là Hội Thánh của Đức Chúa Trời thành -rinh-, điều này phản ánh các Hội Thánh không phải chỉ là  tập hợp gồm những cá nhân có cùng tư tưởng với một khuynh hướng tôn giáo, mà là những cộng đồng thuộc về Đức Chúa Trời và có mối quan hệ đặc biệt với Ngài.  Những người được chào thăm bao gồm hết thảy thánh đồ khắp xứ A-chai.  Ở đây từ thánh đồ không mang ý nghĩa của việc phong thánh ở thế kỷ 20, mà  tất cả các tín đồ đều là tài sản đặc biệt của Đức Chúa Trời.  2 Trên tất cả những điều này, Phao-lô cầu xin họ có được ân điển sự bình an.  Với từ ân điển, ông muốn nói đến sự chăm sóc hay giúp đỡ của Đức Chúa Trời sự giúp đỡ được thể hiện qua việc sai Con Ngài đến thế gian để cứu rỗi chúng ta (đối chiếu IICo 8:9  Ro 5:8) và qua những hành động thể hiện tình yêu thương, sự giúp đỡ và tiếp trợ không ngừng (đối chiếu 3:32).  Sự bình an ở đây chính là sự bình an khách quan mà Đức Chúa Trời đã tạo ra qua sự chết của Chúa Cứu Thế (đối chiếu Eph 2:13-18), việc nhận ra điều này sẽ làm nảy sinh trong chúng ta nhận thức về sự phước hạnh.

2. Sự cảm tạ (IICo 1:3-11)

3 Theo phong tục của thời ông, Phao-lô thường nói lời cảm tạ sau lời chào thăm mở đầu của mình.  Có điều hơi khác ở đây là lời cảm tạ này không nhằm vào một tính cách đáng khen nào đó của độc giả, mà tập trung vào Cha hay thương xót Đức Chúa Trời ban mọi sự yên ủi, Đấng đã an ủi Phao-lô trong mọi sự khốn nạn ông gặp phải (những sự chật vật, nguy hiểm, bắt bớ và lo lắng, đối chiếu IICo 1:8-10  4:7-12  11:23-29).  Sự yên ủi mà ông nhận được có lúc là sự giải cứu khỏi sự phiền não hay lo âu và có khi là sự khích lệ ngay trong những phiền não lo âu ấy.  4-7 Ở đây Phao-lô đề cập sự an ủi giống như một thứ ân điển mang đến sự khích lệ và làm tăng thêm sức mạnh giữa cơn hoạn nạn.  Ông nói rằng chúng tôi đã được yên ủi nên thể yên ủi kẻ khác trong bất kỳ sự khốn nạn nào họ gặp bằng sự yên ủi chính chúng tôi đã nhận được từ Đức Chúa Trời.  Một người không thể giải cứu một người khác khỏi sự đau buồn một cách siêu nhiên, nhưng họ có thể chia sẻ với người khác sự khích lệ mà họ đã nhận được trong những hoạn nạn mình đã trải qua.  (Khi Phao-lô nói về hoạn nạn của tín hữu như là sự đau đớn của Đấng Christ chan chứa trong chúng tôi, có lẽ ông muốn nói về sự chịu khổ đã trải qua vì cớ Đấng Christ và đã kinh nghiệm như là một phần của điều mà người Do Thái gọi là “sự đau đớn trong khi sinh nở của Đấng Mê-si-a”, tức là giai đoạn khó khăn được xem là dấu hiệu khởi đầu thời đại của Đấng Mê-si-a).  Phao-lô khuyến khích độc giả của mình bằng cách chỉ ra rằng khi chức vụ ông phải trải qua nhiều hoạn nạn, ấy là để cho họ có thể nhận được phần trong sự yên ủi của Đức Chúa Trời.  8-11 Ở đây Phao-lô đề cập rằng sự yên ủi chính là được giải cứu khỏi hoạn nạn.  Trong suốt thời gian hầu việc Chúa tại A-si (Châu Á), có lúc ông đã mất lòng trông cậy giữ sự sống.  Đôi khi Đức Chúa Trời cho phép điều này xảy đến để chúng tôi không cậy mình, nhưng trông cậy nơi Ngài.  Nương cậy nơi Đức Chúa Trời hơn là nơi khả năng của mình là một điều quan trọng cơ bản trong đời sống Cơ Đốc, thế nhưng thái độ sống như thế không phải tự nhiên mà có được.  Thông thường hoạn nạn là điều cần thiết khiến chúng ta biết nương cậy Đức Chúa Trời.  Phao-lô làm chứng rằng khi Đức Chúa Trời dùng sự đau khổ để dạy ông bài học này, thì cũng chính trong cơ hội này Ngài đã giải cứu ông thoát khỏi sự chết lớn dường ấy.

2. PHẢN ỨNG CỦA PHAO-LÔ KHI CƠN KHỦNG HOẢNG ĐÃ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT (IICo 1:12-7:16)

Sau phần chào thăm và cảm tạ, Phao-lô đi thẳng vào việc trả lời tin tức mà Tít đem đến cho ông.  Trước khi bày tỏ niềm vui mừng và sự khuây khỏa của mình khi nghe được rằng người Cô-rinh-tô đã chứng tỏ lòng trung thành và tình yêu thương của họ dành cho ông, ông giải quyết các lời chỉ trích vốn có thể khiến  mối quan hệ của họ xấu đi.

1. Phao-lô bênh vực cho những sự thay đổi liên tục trong kế hoạch đi đường của ông (IICo 1:12-2:4)

(IICo 1:12-24) 12 Phao-lô bắt đầu bằng việc biện minh một cách tổng quát cho sự ngay thẳng của mình.  Trong mọi dịp tiếp xúc với người Cô-rinh-tô, ông đã cư xử với lòng thánh sạch thật thà, không cậy sự khôn ngoan theo tánh xác thịt, nhưng cậy ơn của Đức Chúa Trời.  Sự tương phản mà Phao-lô trình bày ở đây được mô tả đầy đủ hơn trong 2:17 chúng tôi chẳng giả mạo lời của Đức Chúa Trời như nhiều kẻ khác để kiếm lợi).  Nhưng chúng tôi lấy lòng chân thật, theo như đạo đến từ Đức Chúa Trời thể nào, thì giảng ra thể ấy trước mặt Đức Chúa Trời, trong Đấng ChristSự khôn ngoan theo tánh xác thịt là sự khôn ngoan cần đến mưu mẹo (đối chiếu 4:2) hoặc sự khéo léo trong lời nói (đối chiếu ICo 2:1) để tạo ấn tượng nơi người nghe.  Một chức vụ theo ơn của Đức Chúa Trời là một chức vụ mà hiệu quả của nó tùy thuộc nơi quyền năng Đức Chúa Trời (đối chiếu 2:2-5).  13 Tính ngay thẳng của Phao-lô cũng được thể hiện qua cách viết thư ông: chúng tôi chẳng viết cho anh em điều anh em không thể đọc hay không thể hiểu được.  Ông không viết điều này nhưng lại ám chỉ một điều khác.  14 Ông kết luận bằng cách bày tỏ niềm hy vọng người Cô-rinh-tô sẽ nhận ra rằng ông và những người đồng công với ông là những con người chính trực mà họ có thể khoe ra như cách chúng tôi sẽ khoe về anh em trong ngày Đức Chúa Giê-xu.  Phao-lô trông mong được chia vui trong ngày cuối cùng về những điều mà Đức Chúa Trời đã làm trong đời sống của những người ông đem trở lại đạo, và ông hy vọng trong hiện tại họ cảm nhận được rằng họ có thể khoe về những gì Đức Chúa Trời đang làm trong ông.

15-16 Sau khi đã biện minh cho sự ngay thẳng của mình, Phao-lô tiếp tục giải thích cho các thay đổi trong kế hoạch đi đường của mình.  Chính do trong lòng Phao-lô có sự tin tưởng vào sự tốt đẹp của người Cô-rinh-tô mà ông thay đổi kế hoạch từng được thông báo trong 16:5-7.  Ông thay đổi hầu giúp anh em được ơn bội phần – từ những cuộc viếng thăm mà ông sẽ thực hiện trên đường đến và trở về từ xứ Ma-xê-đoan.  17 Lòng tin tưởng mà Phao-lô dành cho người Cô-rinh-tô đưa đến việc thay đổi kế hoạch đi đường của mình rõ ràng đã bị đặt sai chỗ.  Họ lên án những sự thay đổi này của ông, nên ông đã phải hỏi: Hay tôi theo xác thịt quyết định, đến nỗi nơi tôi khi thì phải khi thì chăng sao? Lên kế hoạch theo xác thịt ám chỉ việc sẵn sàng vi phạm cam kết mà không cần quan tâm gì đến các bên liên quan, chuyển từ “Có” sang “Không” mà không chút ân hận.  Câu hỏi của Phao-lô nhằm gợi lại trong độc giả ông sự nhấn mạnh rằng không phải vị sứ đồ của họ đã hành động theo cách đó.

18-20 Để biện minh cho sự thay đổi kế hoạch đi đường của mình, Phao-lô tập trung sự chú ý của độc giả mình vào nội dung chính của thông điệp mà ông đã giảng cho họ: Thật như Đức Chúa Trời thành tín, lời chúng tôi nói với anh em cũng chẳng phải khi thì phải khi thì chăng vậy (c.18) ông nói thêm rằng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều phảitrong Ngài  (c.20).  Với Đức Chúa Trời, không bao giờ có việc thất hứa cách tuỳ hứng.  Và Phao-lô muốn ngụ ý rằng như Đức Chúa Trời thành tín trong việc hoàn thành những lời hứa về Phúc Âm thì cũng vậy, Phao-lô với tư cách là người rao truyền Phúc Âm chắc chắn không phải là người nói về kế hoạch đi đường của mình như thế này rồi lại thực hiện theo cách khác mà không có lý do rõ ràng.  21-22 Lý do của việc này là bởi vì chính Đức Chúa Trời Đấng làm cho bền vững chúng tôi với anh em trong Đấng Christ.  Vì chính Đức Chúa Trời là Đấng đã khiến Phao-lô đứng vững, nên người Cô-rinh-tô cũng có thể nhận biết rằng Phao-lô sẽ hành động cách chính trực.  Phao-lô cũng bổ sung thêm rằng Ngài đã xức dầu cho chúng tôi, lấy ấn mình đóng cho chúng tôi ban của tin Đức Thánh Linh trong lòng chúng tôi.  Đây là tất cả những cách đề cập về việc Đức Chúa Trời ban Đức Thánh Linh cho Phao-lô vừa như “một của tin, bảo đảm về mọi điều Ngài hứa ban cho chúng tôi” (việc Phao-lô được dự phần trong sự vinh hiển hầu đến của Đức Chúa Trời) vừa là phương tiện mà Chúa đã dùng để khiến Phao-lô đứng vững như một người chính trực trong hiện tại.  23-24 Phao-lô tiếp tục bày tỏ rằng ông đã hành động cách chính trực ngay cả khi ông không thể trở lại thăm Hội Thánh Cô-rinh-tô như đã hứa.  Nguyên do của việc thay đổi kế hoạch này là vì nể anh em.  Vì sợ rằng lời nói bóng gió về một hành động có tính rèn tập này có thể bị hiểu lầm là Phao-lô đã áp đặt sự chuyên chế thuộc linh trên các tín hữu tại thành Cô-rinh-tô,  ông vội nói thêm rằng không phải chúng tôi muốn cai trị đức tin anh em, muốn giúp thêm sự vui của anh em.  Bởi đức tin của mình mà họ có một chỗ đứng trước mặt Đức Chúa Trời chứ không phải do chịu phục bất cứ ai cả.

(IICo 2:1-4). 1-2 Trong hai chuyến viếng thăm theo như lời hứa của Phao-lô, chuyến đầu tiên đã mang đến cho Phao-lô nhiều sự đau đớn vì những sự  công kích, phản đối mà ông đã phải chịu.  Nếu như ông thực hiện một chuyến viếng thăm kế tiếp, thì chắc ông cũng phải chịu những sự đau đớn nhưng vì một lý do khác, ông chắc phải dùng những hình thức kỷ luật đối với các tín đồ tại Cô-rinh-tô làm cho họ đau buồn, và chắc chắn điều này cũng không mang lại cho ông chút vui mừng nào.  3-4 Vì thế, thay vì viếng thăm họ một lần nữa như đã hứa, Phao-lô đã viết cho họ một “bức thư nghiêm khắc” hầu cho khi tôi đến nơi, sẽ không buồn bởi kẻ đáng làm cho tôi vui.  Bức thư được viết đương trong cơn khốn nạn lớn, tấm lòng quặn thắt, nước mắt dầm dề và chắc hẳn phải có cả những lời khiển trách các tín hữu tại Cô-rinh-tô (đối chiếu IICo 7:8-9).  Tuy nhiên, mục đích của ông khi viết thư không phải để cho anh em âu sầu, nhưng để làm cho anh em biết tình yêu dấu riêng của tôi đối với anh em vậy.  Một tấm lòng yêu thương thật sự là điều cần có để đương dầu với một tình huống khó khăn, dù phải chịu một vài đau đớn  còn hơn là né tránh nó.  Phao-lô đã không đề cao chính mình, nhưng sẵn sàng chịu thiệt thòi để làm việc này hầu lập lại được sự chuẩn mực.  Nếu chúng ta phải giải quyết xung đột, chúng ta rất cần chuẩn bị một tinh thần như vậy, phải tránh việc chỉ bào chữa cho chính mình.  Trong  cuộc xung đột của những người dân Đức Chúa Trời với nhau,  có những vấn đề hệ trọng hơn cả tiếng tăm của chính cá nhân chúng ta.  Nếu các xung đột như thế không được giải quyết một cách thỏa đáng thì chỉ có Sa-tan được lợi mà thôi (đối chiếu 2:11).

Chú thích.  Trong các bức thư của Phao-lô, số lần từ lương tâm được tìm thấy nhiều hơn số lần xuất hiện của từ này trong tất cả các sách Tân Ước khác gộp lại.  Khác với những người theo chủ nghĩa khắc kỷ, Phao-lô không xem lương tâm như tiếng nói của Đức Chúa Trời ở trong lòng người, mà cũng không cho rằng chức năng của nó chỉ giới hạn ở việc đoán xét hành vi quá khứ của một người (thường là những hành vi xấu) như cách nhìn nhận của thế giới Hi Lạp trong thời ông.  Theo Phao-lô, lương tâm là một khả năng của con người mà nhờ đó một người có thể đoán xét những hành vi của mình (dù là đã thực hiện hay chỉ mới dự định) và của kẻ khác.  Lương tâm đoán xét hành vi con người theo tiêu chuẩn cao nhất mà một người nhận biết được.  Sự thật là toàn bộ bản chất của con người đã bị ảnh hưởng bởi tội lỗi, cả nhận thức của một người về tiêu chuẩn hành vi cần có lẫn chức năng của chính lương tâm (như một phần của bản chất con người) cũng bị ảnh hưởng bởi tội lỗi.  Vì lý do này, lương tâm không bao giờ có thể là vị quan tòa trọn vẹn cho hành vi của một người.  Có thể là lương tâm bào chữa cho một người điều mà Đức Chúa Trời sẽ không bào chữa và ngược lại, có thể lương tâm lại định tội một người về điều mà Đức Chúa Trời cho phép.  Vì vậy, việc phán xét cuối cùng chỉ thuộc về Đức Chúa Trời (đối chiếu ICo 4:2-5).  Tuy nhiên, khước từ tiếng nói của lương tâm là chuốc lấy tai hoa cho tâm linh mình (đối chiếu 8:1-24  ITi 1:19), nhưng chúng ta có thể thay thế tiêu chuẩn cao nhất mà lương tâm đề cập bằng cách thu thập sự hiểu biết nhiều hơn về lẽ thật.

2. Tha thứ cho kẻ phạm tội (IICo 2:5-11)

5 Trước khi kêu gọi người Cô-rinh-tô tha thứ và phục hồi người đã chống đối ông, Phao-lô nhắc nhở họ rằng sự phạm tội ấy đã không chỉ gây buồn phiền cho bản thân ông mà còn cho toàn thể Hội Thánh tại Cô-rinh-tô.  6 Tuy vậy, kẻ đó đã bị phần nhiều người trong anh em quở trách, ấy đủ rồi.  Ở đây chúng ta biết được rằng cuối cùng Hội Thánh đã thực hiện theo sự chỉ dạy của Phao-lô và kỷ luật kẻ phạm tội ấy (đối chiếu IICo 7:11-12).  7-8 Phao-lô quan tâm đến chính kẻ phạm tội, sợ rằng qua hình thức kỷ luật phải chịu, anh ta bị sa ngã sự buồn rầu quá lớn.  Vì thế, ông khuyên người Cô-rinh-tô tái khẳng định lòng yêu thương của họ đối với kẻ phạm tội đã ăn năn này.  9-10 Ông cho biết rằng ông viết thư không phải chỉ để yêu cầu kỷ luật người phạm tội mà còn để kiểm tra sự vâng lời của họ.  Họ đã chứng minh rằng mình vâng theo những gì ông chỉ dạy và bây giờ ông khuyên họ hãy tha thứ cho kẻ phạm tội, xác quyết với họ rằng ông cũng tha thứ cho anh ta.  11 Việc tha thứ và phục hồi kẻ phạm tội là điều cần thiết hầu cho Sa-tan không thắng chúng ta, tức là được lợi từ Hội Thánh qua việc tước đoạt vĩnh viễn khỏi hội thánh một thành viên và qua việc moi móc sự thất bại về phương diện đạo đức nhằm khiến cho những người phạm tội xa rời Hội Thánh.  Cách giải quyết trọn vẹn của Phao-lô đối với kẻ phạm tội nhắc chúng ta rằng không nên bỏ qua hoặc dung túng tội lỗi công khai hay rõ ràng của những thành viên trong hội thánh.  Vì ích lợi của chính Hội Thánh và vì tôn trọng Danh của Đức Chúa Trời, những hành động kỷ luật phải được áp dụng.  Cách giải quyết của Phao-lô cũng nhắc nhở chúng ta rằng mục đích tối hậu của hành động kỷ luật ấy là để phục hồi người phạm tội một cách trọn vẹn.  Những người giảng dạy về sự hoà giải cũng phải thực hành sự hoà giải.  Họ không được tự thỏa mãn với việc kỷ luật những người phạm tội nhưng phải sẵn sàng tái khẳng định lòng yêu thương của họ đối với những người này một khi họ đã ăn năn.

3. Chờ đợi Tít (IICo 2:12-13)

Một thời gian sau khi Phao-lô trở về Ê-phê-sô sau chuyến viếng thăm “đau buồn” và sau khi ông gởi bức thư “nghiêm khắc”, ông đã đến thành Trô-ách, ông mong sẽ gặp đựơc Tít tại đây và nhận từ người tin tức liên quan đến tình hình tại thành Cô-rinh-tô.  Khi đến nơi, ông nhận thấy rằng Chúa đã mở cửa cho tôi đó để giảng Phúc Âm.  Nhưng vì không gặp được Tít tại đó nên ông chẳng được yên lòng, ông đi tiếp đến xứ Ma-xê-đoan, nơi ông hy vọng sẽ đón gặp được Tít.  Việc Phao-lô bỏ qua một cánh cửa đang mở rộng cho việc truyền giáo đã làm nổi rõ sự lo lắng của ông trong lúc chờ đợi tin tức từ Tít.  Sự nhẹ nhõm khi sau cùng cũng gặp Tít tại xứ Ma-xê-đoan mà Phao-lô kinh nghiệm được mô tả trong 7:5-16, nhưng trước khi nói với độc giả về điều này, ông đã dành một phần dài để trình bày một vấn đề khác (2:14-7:4), trong phần này ông nói về bản chất chức vụ của ông và ông đã được nâng đỡ khích lệ như thế nào trong những lúc tuyệt vọng nhất.

4. Được dẫn dắt trong chiến thắng (IICo 2:14-17)

Những gì Phao-lô vần còn đang nói trong thư cho đến phần này có thể được xem như một câu chuyện khá buồn lòng trong chức vụ của ông.  Ông nói đến những khó nhọc mình phải gánh chịu tại A-si, những lời chỉ trích về tính liêm chính của ông, sự đau đớn ông đã trải qua tại Cô-rinh-tô và việc ông không thể tiến hành việc giảng Phúc Âm tại thành Trô-ách.  Như thể để làm quân bình câu chuyện có phần buồn lòng này, ông nhắc đến một điểm tích cực, mô tả Đức Chúa Trời đã mọi lúc mọi nơi giúp ông có thể thực hiện chức vụ cách kết quả như thế nào. 14 Dù khó khăn, Phao-lô vẫn có thể nói: Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn.  (Bản tiếng Anh ghi: “Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Đấng luôn dẫn chúng tôi vào cuộc diễn hành chiến thắng trong Đấng Christ”).  Có lẽ đây là hình ảnh về cuộc diễn binh chiến thắng của người La-mã, và Phao-lô hình dung chính mình là một người lính được Đức Chúa Trời dẫn đưa đến chiến thắng.  Trong ngữ cảnh này, hình ảnh như thế không hỗ trợ cho một cách thức “chiến thắng” đối với chức vụ, bởi vì Phao-lô đang nghĩ về cuộc chiến thắng trong sự lao khổ. Trong cuộc diễn hành chiến thắng người ta sẽ dâng hương cho các vị thần và Phao-lô nói rằng qua chúng ta, Đức Chúa Trời rải mùi thơm về sự nhận biết Ngài (Chúa Cứu Thế) khắp chốn.  15-16 Đối với Đức Chúa Trời, những người rao ra Phúc Âm giống như một thứ hương thơm.  Với những người vâng theo Phúc Âm thì họ là mùi của sự sống, còn đối với người không vâng phục thì họ là mùi của sự chết.  Nhận thức được việc rao giảng Phúc Âm có những ảnh hưởng quan trọng như thế đối với người nghe Phúc Âm, và ý thức được trách nhiệm nặng nề của người rao giảng Phúc Âm, Phao-lô mới đặt câu hỏi: Ai xứng đáng cho những sự này? (cho đến 3:5 chúng ta mới có câu trả lời của ông: Không phải tự mình chúng tôi tài năngnhưng tài năng của chúng tôi đến từ Đức Chúa Trời).  17 Phao-lô cảm thấy gánh nặng của trách nhiệm này vì chúng tôi chẳng giả mạo lời của Đức Chúa Trời như nhiều kẻ khác.  Ông không giả mạo Lời Đức Chúa Trời (đối chiếu 4:2) và vi phạm lời ấy để rồi bán đứng lời ấy vì lợi lộc riêng.  Trái lại, ông nói với lòng chân thật và với ý thức về trách nhiệm của mình trước mặt Đức Chúa Trời.

5. Những bức thư gởi gắm (IICo 3:1-3)

Phao-lô trả lời cho những người chỉ trích rằng ông không có thư gởi gắm khi đến Cô-rinh-tô.  Có lẽ những lời chỉ trích này là của các sứ đồ giả và được nói ra nhằm công kích Phao-lô.  1-2 Phao-lô đáp lại bằng cách nói rằng thật là vô lý khi cần phải thơ gởi gắm việc ông đến thành -rinh-, bởi vì chính anh em thơ gởi gắm của chúng tôi.  Chính sự hiện hữu của Hội Thánh tại Cô-rinh-tô là bằng chứng cho tính hợp lệ của chức vụ ông.  3 Hội Thánh là bức thư của Đấng Christ.  Phao-lô đã được Chúa Cứu Thế uỷ thác để viết một “bức thư sống” trên tấm lòng của các tín hữu tại Cô-rinh-tô và Phao-lô đã được uỷ thác thực hiện  chức vụ này bằng mực của Đức Thánh Linh và bởi ơn của Đức Chúa Trời, bức thư giới thiệu chức vụ đã được viết ra.  Tuy có vài hoàn cảnh mà trong đó một chức vụ trung tín không mang lại những kết quả rõ ràng, nhưng không nên dùng những nhận xét này để bào chữa cho chức vụ thiếu hiệu quả trong những hoàn cảnh khác. Thông thường, đánh giá chức vụ một người dựa vào kết quả của nó là điều thoả đáng.

6. Chức vụ của giao ước mới (IICo 3:4-6)

4-5 Ở đây Phao-lô trả lời câu hỏi mà ông đã đặt ra trong 2:16 bằng cách chứng minh rằng khả năng của ông đến từ Đức Chúa Trời.  Điều này không phản ánh một sự khiêm nhường quá mức, mà đúng hơn, đó là một sự thừa nhận nghiêm chỉnh rằng công tác thuộc linh chỉ có thể được hoàn tất bằng quyền năng mà Đức Chúa Trời ban cho qua Thánh Linh Ngài.  6 Chức vụ của Phao-lô dưới giao ước mới chẳng phải giao ước về chữ, bèn giao ước về Thánh Linh.  Sự tương phản ở đây là giữa luật pháp Môi-se và Đức Thánh Linh, tương ứng với những đặc trưng căn bản giữa giao ước cũ và giao ước mới.  Chữ làm cho chết là vì nó tuyên bố án phạt với những người vi phạm luật pháp.  Thánh Linh làm cho sống vì dưới giao ước mới, tội lỗi được tha thứ và không còn được nhắc đến nữa, và Đức Thánh Linh đã làm cho con người quyền sống cho Đức Chúa Trời.

7. Hai chức vụ tương phản nhau (IICo 3:7-18)

Trong phần này Phao-lô dùng Xu 34:29-32 (c.7-11) và 34:33-35 (c.12-18) để làm nổi rõ thêm chức vụ của giao ước mới và giao ước cũ, qua đó chứng minh tính ưu việt của chức vụ giao ước mới.  Mục đích chủ yếu của Phao-lô là nêu bật được đặc tính vinh hiển của chức vụ mà ông  được uỷ thác và vì thế, điều này giải thích lý do tại sao ông không ngã lòng dù phải đối diện với rất nhiều khó khăn (đối chiếu IICo 4:1).

7-11 Xu 34:29-32 nói về sự vinh quang khi bảng luật pháp được ban bố, một sự vinh quang phản chiếu trên gương mặt ngời sáng của Môi-se, khiến cho dân Y-sơ-ra-ên sợ hãi.  Phao-lô nhận thức rằng đi kèm với giao ước cũ là sự rực rỡ uy nghi, nhưng ông cũng lý luận rằng sự rực rỡ uy nghi đi kèm với giao ước mới còn lớn hơn nhiều.  Tính ưu việt của giao ước mới được lập luận dựa trên ba điểm nổi bật: Chức vụ của Thánh Linh vinh hiển hơn chức vụ về sự chết (7-8), chức vụ về sự công bình vinh hiển hơn chức vụ về sự định tội (9), và chức vụ còn lại thì vinh hiển hơn chức vụ qua đi (11).  Chức vụ của giao ước cũ, trong đó luật pháp định tội kẻ phạm luật pháp, bị qua đi khi Chúa Cứu Thế trở lại.  Chức vụ của giao ước mới được thực hiện trong năng quyền của Đức Thánh Linh, mang lại cho con người quyền được đứng trước mặt Đức Chúa Trời, và chức vụ này sẽ còn lại vì nó  không bị một chức vụ khác thế chỗ. 

12-18 34:33-35 kể về việc Môi-se lấy mạng che mặt mình thể nào sau khi truyền đạt luật pháp Đức Chúa Trời cho dân Y-sơ-ra-ên, để họ không phải nhìn vào vẻ rực rỡ của nó.  Phao-lô giải thích rằng việc này giống như một nỗ lực để che giấu người Y-sơ-ra-ên về bản chất chóng tàn của vẻ rực rỡ đi kèm với giao ước cũ, và ông bày tỏ sự tương phản giữa sự thiếu mạnh dạn của Môi-se với sự mạnh dạn mà ông có với tư cách là người làm chức vụ của giao ước mới (c.12-13).  Ông cũng thấy trong việc lấy lúp che mặt của Môi-se có điều gì đó tương tự với tấm “màn” che phủ tâm trí của nhiều người Do Thái cùng thời với ông, là những người không thể hiểu được đúng đắn luật pháp Môi-se khi chúng được đọc lên trong các nhà hội của họ (c.14-15).  Những tín hữu, là những người đã quay về cùng Chúa, đã được cất tấm mạng khỏi tâm trí mình (16), và vì thế với gương mặt trần họ phản ảnh (hay có lẽ là ngắm nhìn) vinh quang của Chúa, và chính khi làm việc này họ đã được hoá nên cũng một ảnh tượng Ngài (18).

Khi nêu bật sự rực rỡ ưu việt của chức vụ của giao ước mới, mục đích chính của Phao-lô là nhằm giải thích tại sao ông rất mạnh dạn và không ngã lòng (12 đối chiếu IICo 4:1).  Có lẽ ông cũng muốn sử dụng lập luận này để phản đối lời dạy của những kẻ chống đối ông tại Cô-rinh-tô, là những người đặc biệt nhấn mạnh vào nguồn gốc Do Thái của họ (đối chiếu 11:21b-22).

8. Đường lối của chức vụ Phao-lô (IICo 4:1-6)

1-2 Vì được uỷ thác một chức vụ lớn lao như thế, Phao-lô nói, chúng tôi chẳng ngã lòng.  Cũng vì lý do đó mà ông từ bỏ mọi điều hổ thẹn giấu kín.  Về mặt tiêu cực, điều này bao gồm việc khước từ sự dối gạt hay giả mạo Lời Đức Chúa Trời, (nghĩa là pha trộn các tư tưởng bên ngoài, xem trong 2:17).  Về mặt tích cực, nó liên quan đến việc tỏ bày lẽ thật.  Trong khi chúng ta phải cố gắng để giải thích rõ ràng chân lý của Lời Đức Chúa Trời cho mọi người trong những tình huống họ gặp phải, chúng ta không cần thiết phải làm những điều khác với những gì Phao-lô đã làm để khiến Lời Đức Chúa Trời trở nên hiệu quả.  Trình bày một cách rõ ràng với lòng nương cậy nơi Đức Thánh Linh, Lời Đức Chúa Trời sẽ đạt được những kết quả mà Đức Chúa Trời muốn có khi ban phát Lời Ngài ra. (Es 55:10-11).

3-4 Phúc Âm của Phao-lô bị che khuất trước nhất là với những người Do Thái đương thời của ông, những người không hiểu được rằng chính lời Kinh Thánh của họ đang chỉ về Chúa Cứu Thế (ICo 3:14-15), và những kẻ mà Chúa đời này đã làm mù lòng họ.  Tuy nhiên, khi đối chiếu với những chỗ khác trong II Cô-rinh-tô thì rõ ràng là Phao-lô không hề cho rằng chúa đời này (Sa-tan) sẽ không  can thiệp gì đến với người Do Thái (2:11  11:3,14).  Những người mà tâm trí họ bị che khuất thì không thể thấy được ánh sáng của Phúc Âm, và tất cả Phúc Âm đều nói về sự vinh hiển của Đấng Christ, ảnh tượng của Đức Chúa Trời.  Khi Phao-lô nói Chúa Cứu Thế (Christ) là ảnh tượng của Đức Chúa Trời, có lẽ ông đang đề cập đến nhân tính của Ngài (Sa 1:26 “chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và tượng ta”) hoặc đến sự khôn ngoan (transgression) của Ngài (sự khôn ngoan đôi khi được nhân cách hoá là ảnh tượng của Đức Chúa Trời, (Ch 8:22-31  Co 1:15-20).  5-6 Nếu Phúc Âm nói về sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế, thì Phao-lô không rao giảng về bản thân mình (như những kẻ khác có thể đã làm) mà rao giảng Giê-xu Christ Chúa và ông tự xem mình là tôi tớ của những người nào mình rao giảng Phúc Âm cho.  Nền tảng của chức vụ Phao-lô chính là đặc quyền được xem thấy sự vinh hiển Đức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Đức Chúa Giê-xu Christ (lúc ban đầu trên đường Đa-mách).  Chúng ta chỉ có thể rao giảng cho người khác về Chúa Cứu Thế mà chính mình đã gặp được.

9. Của báu trong những chiếc bình bằng đất (IICo 4:7-12)

7 Những người mang ánh sáng vinh quang của Phúc Âm được so sánh với những cái chậu bằng đất, không đắt tiền và dễ vỡ, và hình ảnh này được dùng để cho thấy rằng quyền năng được bày tỏ qua việc rao giảng Phúc Âm là bởi Đức Chúa Trời ra, chớ chẳng phải bởi chúng tôi.  8-12 Nguyên tắc này được minh chứng bằng một loạt những câu giải bày (bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng…) và được dùng để bày tỏ rằng quyền năng Đức Chúa Trời không chỉ giữ vững Phao-lô mà còn hành động qua ông để mang sự sống đến nhiều người (sự chết làm - việc - trong chúng tôi, còn sự sống - làm việc - trong anh em). Sự chếtsự sống được nhắc đến ở đây hoàn toàn không phải là điều mơ hồ, mà rất cụ thể, tức là trong quá trình thi hành chức vụ của mình, Phao-lô liên tục đối mặt với sự chết (IICo 1:8-10  Ro 8:36) nhưng cùng lúc đó ông cũng kinh nghiệm được quyền năng sự sống của Chúa Cứu Thế đang làm việc trong ông và qua ông.

10. Tinh thần của đức tin (IICo 4:13-15)

Giống như tác giả Thi Thiên người vẫn giữ được đức tin mình giữa những hoạn nạn và đã nói rằng : “Tôi tin, nên mới nói” (Thi 116:10), Phao-lô cũng nói như vậy, chúng tôi tin, cho nên mới nói.  Chính lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, Đấng khiến kẻ chết sống lại, đã giúp Phao-lô có thể tiếp tục truyền giảng vì biết rằng nó sẽ đem lại ích lợi cho người nghe và những lời tạ ơn cho Đức Chúa Trời.

11. Hy vọng sau cùng của Phao-lô (IICo 4:16-5:10)

(IICo 4:16-18). Mặc dù Phao-lô bề ngoài nát (c.7-12), nhưng ông không ngã lòng, bởi vì bề trong của ông được đổi mới càng ngày càng hơn.  Và dù ở trong hoàn cảnh nào, những hoạn nạn bên ngoài chỉ là nhẹ tạm so với tầm quan trọng và tính chất vĩnh cửu của sự vinh hiển mà ông sắp kinh nghiệm như một kết quả.  Phao-lô chịu đựng những sự đau khổ trong thế giới hữu hình hiện tại này bằng cách đặt trước mặt mình những vinh quang của thế giới vô hình chưa đến.

(IICo 5:1-10) Chính dựa vào điều này mà Phao-lô tiếp tục giải thích về những điều ông đang trông đợi khi ngôi nhà tạm của chúng ta dưới đất đổ nát.  1 Cách một người giải thích câu này sẽ quyết định hầu như toàn bộ cách hiểu của người ấy về cả phân đoạn IICo 5:1-10.  Trong ngữ cảnh tổng quát của 4:16-5:10, sự đổ nát của nhà tạm của chúng ta dưới đất nói đến sự hư nát của thân xác trong sự chết.  Có lẽ Phao-lô đã đương đầu với hoạn nạn quá lớn đến nỗi những điều này có thể sẽ khiến người phải chết.  Ý thức rằng nhà tạm có thể dễ dàng bị đổ nát, ông nhắc nhở người đọc rằng chúng ta lại nhà đời đời tại trên trời, bởi Đức Chúa Trời.  Một yếu tố quan trọng để xác định ý nghĩa mà Phao-lô muốn nói đến ở đây là tính tương đương trong câu này.  Điều gì là tạm và bị đe doạ đổ nát (câu 1a) được thay thế bằng những điều đời đời tương xứng (c.1b).  Nếu như điều thứ nhất chỉ về thân thể thuộc về đất của tín hữu, thì dường như điều thứ hai đề cập đến một thân thể khác, tức là thân thể sống lại của người tín hữu (Ro 8:18-23).  2-5 Phao-lô nói về việc ông mong ước được giải thoát khỏi gánh nặng mà thân thể thuộc về đất này của ông đang phải trải qua.  Không phải ông mong ước một sự tồn tại siêu thoát, giống như những người theo phái triết học thần bí mong mỏi, mà trái lại ông mong chờ một sự sống trong thân thể sống lại.  Đây là điều ông ngụ ý khi nói: chúng ta không cầu cho bị lột trần, song cầu cho được mặc lại.  Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta vì mục đích này và ban Thánh Linh Ngài cho tín hữu như một sự bảo đảm rằng mục đích của Ngài sẽ được thành tựu.  6-8 Cho đến điểm này, Phao-lô nói về sự đổ nát của thân thể thuộc về đất sẽ được bù lại bằng một thân thể phục sinh, nhưng không có lời nào ám chỉ rằng sự kiện thân thể thuộc về đất hư nát phải xảy ra trước khi có sự kiện thân thể được sống lại. Ở đây, có lẽ vì ý thức ngày càng rõ rằng có thể ông phải kinh nghiệm sự chết trước khi có sự sống lại toàn thể, nên ông chuyển sang tập trung vào vấn đề này.  Thứ nhất, ông khẳng định lại lòng tin của mình nơi Đức Chúa Trời, điều đã giúp ông không bị ngã lòng (đối chiếu IICo 2:14  3:4,12  4:1,16) và sau đó ông thừa nhận cách rõ ràng rằng hoàn cảnh hiện tại của ông để lại cho ông những ước ao: biết rằng khi chúng ta đang trong thân thể này thì cách xa Chúa.  Chúng ta có thể khám phá ý nghĩa của điều này từ câu 7, lúc Phao-lô nói thêm rằng,  chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải mắt thấy.  Điều này gợi ý rằng trong thân thể này có nghĩa là chúng ta không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời bằng mắt thường (và trong ý nghĩa đó chúng ta bị cách xa Chúa), nhưng chúng ta có thể thấy được Ngài bởi đức tin.  Ông tiếp tục nói rằng ông muốn lìa bỏ thân thể này đặng cùng Chúa thì hơn, vì trong tình trạng ấy, mắt chúng ta có thể thấy được Chúa, chứ không còn phải nhìn bằng đức tin nữa.  Do đó, dường như Phao-lô nhận ra rằng ông sẽ phải kinh nghiệm một tình trạng tồn tại siêu thoát nếu như ông chết trước khi Chúa Cứu Thế trở lại lần thứ hai.  Ông không cung cấp một chi tiết nào cho biết theo ông tình trạng siêu thoát sẽ như thế nào.  Những gì ông làm trong câu 9-10 là nhấn mạnh rằng có một điều khác quan trọng hơn điều đó.

9-10 Kết lại, điều quan trọng không phải là sự suy diễn về tình trạng tương lai của chúng ta, mà là một quyết tâm làm hài lòng Đức Chúa Trời dù cho chúng ta ở trong tình trạng nào đi nữa.  Chúng ta thảy đều ứng hầu trước toà án Đấng Christ, và khi đó chúng ta sẽ nhận lãnh tuỳ theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt.  Trong văn cảnh này, điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt có thể chỉ đề cập đến những việc mà một người làm trong đời này.  Chúng ta phải chịu trách nhiệm trước Chúa về những hành động của mình, và tuỳ thuộc vào đó mà chúng ta sẽ được khen thưởng hay chịu sự hư mất.

12. Chức vụ về sự giảng hoà (IICo 5:11-7:4)

(IICo 5:11-21). Trong phần chính này của bức thư, sứ đồ Phao-lô kêu gọi người Cô-rinh-tô phải làm hoà cùng Đức Chúa Trời và mở lòng họ đối với ông, là sứ đồ của họ.  Ông đã dọn đường cho những lời kêu gọi này của mình bằng cách trước tiên đáp lại những lời chỉ trích về cách thi hành chức vụ của ông (5:11-15) và sau đó tuyên bố cơ sở thần học của việc giải hoà (5:16-21).  Kế đến, ông mới trình bày những lời kêu gọi của mình (6:1-13  7:2-4) và đan xen vào đó lời kêu gọi về một đời sống nên thánh (6:14-7:1).

11 Phao-lô tuyên bố mình đã hành động cách ngay thẳng trong mọi nỗ lực thuyết phục người khác về lẽ thật của Phúc Âm.  Ông được thúc đẩy bởi lòng kính sợ Chúa, và mọi điều về con người của ông đã được phơi bày trước mặt Đức Chúa Trời.  12 Đoán trước được rằng những người chống đối ông có thể sẽ nói rằng ông lại bắt đầu tự khen mình, ông cho biết mục đích của việc ông giải thích những động cơ của mình là nhằm người đọc thư ông có thể tự trả lời những lời chỉ trích của họ.  13 Thêm vào đó, ông khẳng định rằng nếu như ông có tỏ ra bị cuồng trí, thì đó là việc giữa ông và Đức Chúa Trời, nhưng khi ông dùng cách nói rõ ràng dễ hiểu, ấy là vì lợi ích của người nghe.  14-15 Ông lý luận rằng ông không thể làm điều gì khác hơn là phục vụ Chúa Cứu Thế, cố sức làm điều đó với tất cả lòng ngay thẳng chân thật của mình, vì tình yêu rất lớn của Chúa Cứu Thế giục giã ông.  Ông tin rằng Chúa Cứu Thế chết thay cho ông, và nay ông muốn sống cho Ngài.  Tại đây chúng ta thấy có hai khía cạnh được phản ánh trong động cơ hầu việc của Phao-lô, mỗi khía cạnh đó phải được phản ánh trong chính động cơ của chúng ta khi phục vụ Chúa.  Một mặt, Phao-lô ý thức được trách nhiệm phải giải trình trước Chúa việc mình làm nên hết lòng kính sợ (11) và mặt khác, ông nhận biết được tình yêu lớn lao của Chúa Cứu Thế nên không thể làm gì khác hơn là sống cho Đấng đã chết và sống lại cho mình (14-15).

16-17 Một kết quả từ sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế là Phao-lô có được một quan điểm mới: từ rày về sau, chúng tôi không theo xác thịt nhận biết ai nữa.  Những bản tính tự nhiên và những thành tích mà trước đây ông đã thâu chứa được, nay đều bị ông xem là không quan trọng (đối chiếu Phi 3:4-8).  Điều đó cũng có nghĩa là ông nhìn xem Chúa Cứu Thế theo một cách mới.  Lúc trước khi trở lại đạo, ông cho rằng Chúa Cứu Thế đã dùng tiêu chuẩn của trần gian và đưa ra kết luận sai lầm, nhưng hiện nay điều đó không còn nữa.  Một điều khác có ý nghĩa lớn lao từ Chúa Cứu Thế đã được khám phá, đó là nếu ai trong Đấng Christ, thì nấy người dựng nên mới, nên có thể nói rằng, những sự đã qua đi, này mọi sự đều trở nên mới! Được ở trong Chúa Cứu Thế là được dự phần vào cuộc sáng tạo mới.  Đúng là những sự cũ vẫn còn tồn tại và những sự mới vẫn chưa đến trọn vẹn (đối chiếu Ro 8:18-25  Ga 5:16-26).  Tuy nhiên, trong phân đoạn Kinh Thánh này, một đời sống mới trong Chúa Cứu Thế trong hiện tại là điều được nhấn mạnh, chứ không phải là sự căng thẳng liên quan đến việc dự phần vào cuộc sáng tạo mới trong khi chúng ta vẫn phải sống như một phần của sự cũ.

18-20 Về công trình sáng tạo mới mà các tín hữu đã dự phần vào, Phao-lô nói: Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, bởi vì chính Đức Chúa Trời là Đấng qua Chúa Cứu Thế chủ động làm hoà với chúng ta, không kể đến tội lỗi chúng ta nữa.  Khi đã làm hoà với chúng ta, Đức Chúa Trời còn giao chức vụ giảng hoà cho chúng ta, để qua chúng ta với tư cách là đại sứ của Ngài, Ngài kêu gọi người khác được giảng hoà với Ngài.  Họ cần phải đáp ứng lại sự kêu gọi ấy để cũng có thể thật sự kinh nghiệm được sự hoà giải.  Đây là ngôn ngữ truyền giảng tin mừng, nhưng thật ngạc nhiên khi Phao-lô lại viết điều này cho những người đã trở lại đạo (chúng tôi nài xin anh em), điều này trở nên rõ ràng hơn trong IICo 6:1-2,11-13  7:2-4.

21 Trước khi tiếp tục kêu gọi người Cô-rinh-tô, Phao-lô đưa ra một lời tuyên bố mang tính dồn nén cao nhưng hết sức sâu sắc về công việc của Chúa Cứu Thế: Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi chúng ta.  Người ta đã đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau về vấn đề này: Chúa Cứu Thế bị khiến trở thành một người có tội, một của lễ chuộc tội, và phải mang lấy những hậu quả tội lỗi của chúng ta.  Gợi ý thứ nhất bị bác bỏ ngay từ đầu.  Gợi ý thứ hai có thể được hỗ trợ bởi cách dùng thuật ngữ về sự dâng của lễ của Phao-lô ở những chỗ khác (đối chiếu Ro 3:25  ICo 5:7) và qua Le 4:24  5:12 theo bản Hi Lạp,  từ được dùng để dịch chữ tội lỗi ở đây có nghĩa là của lễ chuộc tội.  Cách giải thích thứ ba được hỗ trợ bởi Ga 3:13, Phao-lô nói về sự chết của Chúa Cứu Thế qua cách Ngài đã mang lấy những hậu quả của tội lỗi chúng ta: “Chúa Cứu Thế đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã trở nên sự rủa sả vì chúng ta – vì có lời chép rằng : “Đáng rủa sả thay là kẻ bị treo trên cây gỗ”.  Cách giải thích này được hỗ trợ thêm bởi thực tế là lời tuyên bố Đức Chúa Trời đã làm Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi chúng ta cân bằng với câu đối lập hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời.  Nếu trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời có nghĩa là Đức Chúa Trời tuyên bố sự hình phạt thay cho chúng ta và đặt chúng ta trong mối quan hệ phải lẽ với Ngài, thì trái lại với điều này, trở nên tội lỗi có nghĩa là Đức Chúa Trời tuyên bố sự đoán phạt trên Chúa Cứu Thế (bởi vì Ngài mang trên mình gánh nặng tội lỗi của chúng ta đối chiếu Es 53:4-6,12) với kết quả là vì cớ chúng ta mối quan hệ của Ngài với Đức Chúa Trời tạm thời bị chia lìa, nhưng hoàn toàn vượt quá mọi sự hiểu biết của con người (Mat 27:46) và thật kinh khủng đối với chúng ta.  Thế nên không ngạc nhiên gì khi chính tình yêu của Chúa Cứu Thế là động lực thúc đẩy mạnh mẽ trong đời sống Phao-lô cũng vậy, một khi chúng ta hiểu rõ được ý nghĩa của tình yêu mà Chúa Cứu Thế dành cho chúng ta, thì nó cũng sẽ là động lực thúc đẩy mạnh mẽ trong đời sống chúng ta.

(IICo 6:1-18)  1-2 Phao-lô kêu gọi người đọc thư ông chớ chịu ơn Đức Chúa Trời luống không, tức là đừng để cho cách đáp ứng của họ với Phúc Âm bị phá hoại qua việc nuôi dưỡng những lời chỉ trích về Phúc Âm  hoặc về người đã rao giảng Phúc Âm ấy cho họ.  Để nhấn mạnh tính nghiêm túc trong lời kêu gọi của mình, Phao-lô nhắc họ rằng hiện  giờ chính là kỳ ân điển của Đức Chúa Trời và ám chỉ rằng họ không nên nhận ân điển này của Đức Chúa Trời một cách vô ích.

3-10 Phao-lô khẳng định rằng cách ông thực hiện chức vụ mình không gây nên cớ vấp phạm khiến có thể ngăn trở họ nhận lãnh ân điển của Đức Chúa Trời một cách thích hợp.  Trái lại, trong mọi cách ông đã luôn xem mình là tôi tớ của Đức Chúa Trời, qua việc chịu đựng sự khổ nhọc (c.4b-5) và hành động cách ngay thẳng (c.6-7), cho dù những điều ông kinh nghiệm trong chức vụ khiến ông thoả lòng hay đau đớn (c.8-10).  Trong tất cả những thăng trầm của cuộc sống và chức vụ mình, với tư cách là một Cơ Đốc nhân chúng ta cần hành động một cách ngay thẳng.  Nếu không,  đời sống của chính chúng ta sẽ là hòn đá vấp phạm cho những người mà chúng ta tìm cách để chia sẻ Phúc Âm.

14-18 Phao-lô đi ra ngoài đề để khuyên độc giả của mình đừng dính líu đến việc thờ lạy của người ngoại đạo mà phải sống đời sống thánh khiết xuất phát từ lòng kính sợ Đức Chúa Trời.  Lời kêu gọi chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin ở đây có nghĩa là đừng tham dự vào sự thờ phượng của người ngoại đạo.  Điều này được làm rõ bởi một loạt các câu hỏi tu từ tiếp theo trong những câu 14b-16, đặc biệt là câu hỏi cuối cùng: thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng thần? (c.16a).  Tín hữu không thể tham dự vào sự thờ lạy hình tượng vì họ là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống và Đức Chúa Trời đã phán “Ta sẽ đi lại giữa họ”.  Vì một người không thể vừa bước đi với Đức Chúa Trời lại vừa tham dự vào việc thờ lạy thần tượng, nên người tín hữu phải tách mình ra khỏi sự sùng bái hình tượng.  Phao-lô nhấn mạnh điều này bằng cách dẫn ra  lời kêu gọi trong Cựu Ước là chớ động đến đồ ô uế và lời hứa của Đức Chúa Trời  rằng Ngài sẽ như người cha tiếp nhận những kẻ xây bỏ thần tượng (17-18).  Căn cứ vào các lời hứa này, Phao-lô khuyên độc giả của ông bỏ lại đàng sau mọi điều ô uế mà tập trung vào việc lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời làm cho trọn việc nên thánh (IICo 7:1).  Khúc Kinh Thánh này khiến người đọc khó hiểu vì sự liên hệ của nó với phần trước và phần sau của nó không được rõ ràng, và thật khó có thể hiểu được tại sao Phao-lô lại chen nó vào vị trí này của bức thư.  Có thể vì quan tâm sâu sắc đến việc thiết lập lại mối thông công với người Cô-rinh-tô nên Phao-lô đã nhắc nhở họ rằng việc này chỉ có thể đạt được nếu họ chấm dứt mọi liên hệ với sự thờ phượng ngoại giáo.  Có thể ông đang luân phiên cảnh cáo độc giả của mình rằng nếu họ tham gia vào việc chống đối ông và Phúc Âm ông rao giảng thì điều này tương đương với việc đứng về phe của Sa-tan/Bê-li-an.  Dường như Phao-lô đã chuyển từ đề tài này sang đề tài khác, và thư không sự liên kết lô-gíc.  Đa số những người viết thư thỉnh thoảng cũng làm như thế, và chúng ta nên thừa nhận rằng có lẽ ở đây Phao-lô đã làm như vậy.

(IICo 7:1-4)  1 xem giải nghĩa IICo 6:14-18  2-4 Sau khi đi ra ngoài đề ở 6:14-7:1, Phao-lô đưa ra lời kêu gọi mới về sự phục hoà hoàn toàn giữa ông và người Cô-rinh-tô, khuyên họ hãy mở lòng anh em cho chúng tôi.  Khi làm việc đó ông nhấn mạnh rằng có điều gì trong cách ăn ở của ông với họ gây trở ngại cho sự phục hoà ấy: chúng tôi chẳng làm hại ai, lừa dối ai, thủ lợi ai.  Hơn nữa, để hỗ trợ cho lời kêu gọi phục hoà hoàn toàn, ông bảo đảm với họ rằng ông dành lòng mình cho họ, rằng ông rất tin tưởng và hãnh diện về họ (câu 3-4a) và khi được Tít báo tin tốt lành liên quan đến việc họ đáp ứng bức thư “nghiêm khắc” của mình, thì ông vui mừng quá bội.  Tại đây, chúng ta thấy Phao-lô đã áp dụng sự phục hoà mà ông đã giảng cho kẻ khác vào mối quan hệ của ông với người Cô-rinh-tô.  Hiệu quả của chúng ta với tư cách là sứ giả của việc giảng hoà tuỳ thuộc một phần vào việc chúng ta có phải là người mang lại sự giải hoà trong quan hệ của mình với người khác hay không.

13. Niềm vui của Phao-lô sau khi một khủng hoảng đã được giải quyết (IICo 7:5-16)

Trong phần này Phao-lô trở lại mạch văn trong 2:13.  Sau khi không thể xúc tiến được việc giảng Tin lành tại thành Trô-ách vì thiếu Tít, Phao-lô đã đi qua xứ Ma-xê-đoan, hy vọng gặp được bạn mình ở đó.  5-7 Tại Ma-xê-đoan Phao-lô gặp cảnh khốn đốn đủ mọi cách: ngoài thì sự chiến trận, trong thì sự lo sợChiến trận rất có thể là những tranh luận gay gắt với những người chưa tin (đối chiếu Cong 17:5-14) hoặc với các tín hữu chống đối (đối chiếu Phi 3:2), trong khi sự lo sợ có thể là sự bắt bớ (đối chiếu Cong 18:9) hoặc những sự mất mát về tinh thần có thể sẽ xảy ra nếu người Cô-rinh-tô không phản ứng một cách tích cực với bức thư trước đó của ông.  Tuy nhiên, Đức Chúa Trời ban cho Phao-lô sự an ủi lớn lao khi cuối cùng Tít đã đến.  Cùng với sự an ủi do có sự hiện diện của Tít là tin tức tốt lành từ một người đưa đến về việc người Cô-rinh-tô trở lại bày tỏ lòng khao khát và quan tâm đối với Phao-lô.

8-11 Phao-lô nói rằng ông cảm thấy nặng lòng về việc viết bức thư “nghiêm khắc”, nhưng khi biết được những kết quả của nó thì ông không còn nặng lòng nữa (c.8).  Ông vui mừng vì bức thư đã đưa đến sự ăn năn thật lòng của người Cô-rinh-tô, sinh ra sự ân cần lớn, sự sốt sắng làm sạch lòng mình (khỏi sự đồng loã với kẻ phạm tội tấn công Phao-lô), buồn giận (kẻ phạm tội), răn sợ (sau khi đã nhận thức được điều đã xảy ra), khát khao và quan tâm (để phục hồi lại mối quan hệ của họ với Phao-lô đối chiếu c.7) và sự sẵn sàng để chứng kiến công lý được tỏ bày (qua việc thi hành kỷ luật đối với kẻ phạm tội).  Phao-lô nói kết quả của sự đáp ứng mạnh mẽ này chính là, Anh em đã tỏ ra cho ai nấy đều biết rằng mình vốn thanh sạch trong việc đó.

12-13a Dựa vào sự đáp ứng này, Phao-lô có thể nói với độc giả của mình rằng mục đích chính của ông khi viết bức thư “nghiêm khắc” không phải cớ kẻ làm sự trái nghịch (nghĩa là không phải chỉ để khiến họ có hành động chống lại kẻ phạm tội), cũng không phải cớ kẻ chịu sự trái nghịch (tức là không phải để mình được bào chữa), nhưng hầu cho lòng anh em yêu chuộng chúng tôi được tỏ ra.  Vì vậy, Phao-lô kết luận: Ấy điều đã an ủi chúng tôi.  Kết quả này đã làm nổi bật tầm quan trọng của việc giải quyết các tình huống xung đột theo cách thuộc linh, hơn là làm ngơ và hy vọng rằng tình trạng ấy sẽ chấm dứt. 

13b Phao-lô giải thích thêm những lý do khiến ông vui mừng khi gặp Tít.  Ông được sự vui mừng càng lớn hơn nữa khi thấy sự vui mừng của Tít, tâm thần của Tít đã được người Cô-rinh-tô làm tươi mới ra sao.  14 Trước khi sai Tít đến Cô-rinh-tô, Phao-lô đã khoe với  Tít về Hội Thánh Cô-rinh-tô  (có lẽ là về thái độ thật sự của một Hội Thánh, dù trước đó họ đã không bảo vệ vị sứ đồ của mình khi ông bị kẻ phạm tội gièm pha), và tất cả những gì Phao-lô đã nói với Tít đều đã tỏ ra là sự thật.  15-16 Kết quả là tình yêu thương của Tít dành cho người Cô-rinh-tô được tăng lên, và Phao-lô đã có thể nói rằng tôi vui mừng thể tin cậy anh em trong mọi sự.

3. VẤN ĐỀ QUYÊN GÓP (IICo 8:1-9:15)

Sau khi đã nói về sự vui mừng và sự khuây khỏa lớn lao của mình khi nghe được tin tức Tít đưa đến về cách đáp ứng của người Cô-rinh-tô đối với bức thư của mình, Phao-lô tiếp tục bàn với họ về vấn đề quyên góp tiền, vốn do các Hội Thánh ngoại quốc thực hiện để giúp đỡ các tín hữu Do Thái nghèo khó ở xứ Giu-đê.  Những người này đang lâm vào tính trạng khó khăn do gặp phải những trận đói kém trong suốt giai đoạn Hoàng đế Claudius cai trị (41-54 S.C.) và hầu hết Hội Thánh ngoại quốc tại An-ti-ốt (Sy-ri) đã nhanh chóng đáp ứng bằng cách gởi đồ cứu trợ qua Ba-na-ba và Phao-lô (11:27-30).  Trong Ga 2:10 Phao-lô nói về việc những người lãnh đạo của hội thánh tại Giê-ru-sa-lem, sau khi đã thừa nhận vai trò làm sứ đồ của ông với người ngoại quốc, đã khuyên ông tiếp tục nhớ đến những người nghèo khó, là việc ông rất sẵn lòng làm.  Cho đến lúc Phao-lô viết I Cô-rinh-tô (khoảng 56 S.C.) ông bắt đầu việc vận động cứu trợ ở các Hội Thánh tại Ga-la-ti, người Cô-rinh-tô đã được nghe về điều này nên xin được dự phần vào công việc này (ICo 16:1-4).  Và cho đến lúc bức thư II Cô-rinh-tô được viết xong (khoảng 56 S.C.) Phao-lô  liên hệ với các Hội Thánh tại xứ Ma-xê-đoan và họ liền nài xin ông cho họ phần vào sự giùm giúp các thánh đồ, và họ đã vô cùng rộng rãi trong công việc này (IICo 8:1-5).

1. Gương của người Ma-xê-đoan (IICo 8:1-6)

1-2 Phao-lô lấy gương của người Ma-xê-đoan về cách đáp ứng rộng rãi đáng kể của họ đối với lời kêu gọi quyên tiền để thúc đẩy người Cô-rinh-tô hoàn thành điều mà trước đó họ đã bày tỏ mình sẵn sàng để làm (đối chiếu 9:1-2).  Dù chính mình đang phải chịu nhiều hoàn nạn thử thách và đang trải qua cơn rất nghèo khó, người Ma-xê-đoan vẫn bày tỏ niềm vui qua lòng rộng rãi mình.  3-5 Họ không những quyên tiền theo sức mình, mà còn quá sức nữa, và điều này không chỉ do tính chất khẩn cấp của lời kêu gọi, mà trước hết (họ) đã dâng chính mình cho Chúa.  6 Căn cứ vào sự đáp ứng của người Ma-xê-đoan, Phao-lô sai Tít đến để một lần nêu lên vấn đề quyên góp tiền với người Cô-rinh-tô.

2. Khuyên người Cô-rinh-tô phải trổi hơn (IICo 8:7-15)

7-8 Thừa nhận rằng người Cô-rinh-tô trổi hơn trong các ơn tứ khác, Phao-lô khuyên họ phải trổi hơn về ân tứ ban cho.  Tuy nhiên, lời khuyên này không phải là một mệnh lệnh phải tuân hành – vì lòng rộng rãi không thể bị thúc ép bởi một mệnh lệnh – trái lại ông sử dụng cơ hội kêu gọi quyên tiền để thử tính chân thật trong tình yêu của người Cô-rinh-tô.

9 Để hỗ trợ cho lời kêu gọi thể hiện lòng yêu thương qua hành động này, Phao-lô dẫn chứng gương Chúa Giê-xu, Đấng vốn giàu, anh em tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu.  Ở đây không phải Phao-lô đang nghĩ về sự nghèo thiếu về kinh tế (có thể phạm vi nghèo thiếu cụ thể của Chúa Giê-xu đã được cường điệu hóa), mà trái lại là cái giá mà Chúa chúng ta phải trả cho vai trò của mình trong toàn bộ câu chuyện cứu chuộc.  Điều này bao gồm hoàn cảnh tương đối nghèo thiếu về kinh tế trong cuộc sống hằng ngày của Ngài, nhưng đó chỉ là sự khởi đầu.  Còn có sự từ khước, chế giễu, bắt bớ, phản bội và sự khổ hình, tột đỉnh của tất cả những điều đó là sự thống khổ tại vườn Ghết-sê-ma-nê và trên thập tự giá.  Những điều này hợp lại tạo nên cái giá trọn vẹn cho sự cứu chuộc chúng ta.  Như sự nghèo khó của Chúa Giê-xu ở đây không được hiểu theo khái niệm kinh tế, thì sự giàu có mà Ngài sẵn ban cho người tiếp nhận Ngài cũng không  thể được hiểu là sự giàu có về vật chất ở hiện tại.  Chính sự giải cứu khỏi tội lỗi và những phước hạnh của thời đại mới tạo thành sự giàu có mà Chúa Cứu Thế, bởi sự nghèo khó của Ngài, đã khiến người tin Ngài được hưởng.  10-12 Về việc quyên tiền, Phao-lô khuyên độc giả của mình nên hoàn tất ngay công việc mà họ không chỉ đã khởi sự làm từ năm trước, mà sau đó còn nóng lòng muốn được làm.  Ông giải thích rằng nếu mình lấy lòng tốt làm và họ ban cho theo điều mình có thì sẽ được đẹp ý Đức Chúa Trời họ không cần phải ban cho quá sức mình.  13-15 Phao-lô tìm cách ngăn chặn bất kỳ sự hiểu lầm nào về việc quyên tiền.  Người Cô-rinh-tô không phải chịu túng thiếu để những người khác có thể sống thoải mái nhờ tiền của họ.  Với sự sung túc hiện tại của mình, người Cô-rinh-tô nên giúp đỡ cho nhu cần của các tín hữu nghèo tại Giu-đê.  Và nếu lúc nào đó hoàn cảnh thay đổi, thì họ cũng lại lúc túng thiếu cho anh em.  Ông đưa ra một dẫn chứng minh hoạ về sự như nhau mà ông đang nghĩ đến qua kinh nghiệm của cộng đồng dân sự khi ra khỏi Ai Cập.  Khi Đức Chúa Trời ban bánh ma-na từ trời, “Ai lượm được nhiều chẳng được trội, ai lượm ít cũng chẳng thiếu” (Xu 16:18).  Nhu cầu của mọi người đều được đáp ứng, không ai bị thiếu, không ai có quá nhiều.  Việc Phao-lô mong những người Cô-rinh-tô sung túc phải giúp đỡ nhu cần của các tín hữu nghèo tại Giê-ru-sa-lem cũng khiến chúng ta lưu ý đến cách chúng ta áp dụng lời dạy của ông về việc ban phát ngày nay.  Chúng ta không được áp dụng phân đoạn Kinh Thánh này với người dư giả và với người thiếu thốn như nhau.

3. Lời khen ngợi những người giữ trách nhiệm nhận tiền quyên góp (IICo 8:16-24)

Trong phân đoạn này, Phao-lô khen ngợi ba người sẽ đến Cô-rinh-tô để lo việc quyên tiền.  16-17 Thứ nhất, ông khen Tít, nêu bật sự quan tâm sốt sắng của người đối với tín hữu tại Cô-rinh-tô và sự sẵn lòng tiếp nhận nhiệm vụ của người.  18-19 Thứ hai, ông khen ngợi người tiếng khen đồn khắp trong các Hội Thánh, tại những điều người đã làm đạo Tin Lành và là người được Hội Thánh chọn làm người đại diện để mang số tiền đã quyên góp được đến Giê-ru-sa-lem.  20-21 Trước khi khen ngợi người anh em thứ ba, Phao-lô ra ngoài đề một chút để nói lý do vì sao ông dồn tâm trí vào vấn đề quyên tiền.  Đó là nhằm tránh khỏi tiếng trách móc về sự dùng tiền góp nhiều như vậy, để cho mọi việc được thực hiện sẽ phải lẽ chẳng những trước mặt Chúa, cũng trước mặt người ta nữa.  22 Cuối cùng, ông khen ngợi một người trong anh em chúng tôi, người lòng sốt sắng đòi phen chúng tôi đã thử thách trong nhiều dịp. 23-24 Khúc Kinh Thánh kết thúc bằng lời khen ngợi ngắn gọn về ba người và lời kêu gọi người Cô-rinh-tô chứng minh lòng yêu thương của họ (đối với Phao-lô) và những điều ông đã khoe về họ (với người Ma-xê-đoan) là chân thật khi ba người này đến. Đáng lưu ý là đối với vị sứ đồ này, lòng sốt sắng là điều hết sức quan trọng, cả trong khi khen ngợi các nhân sự cũng như trong khi khích lệ các tín hữu nói chung. Có thể trong danh sách của mình về những phẩm chất ưu tiên hàng đầu, chúng ta sẽ đặt các phẩm chất khác ở vị trí cao hơn, nhưng với Phao-lô, lòng sốt sắng là một trong những phẩm chất quan trọng nhất (IICo 7:11-12  8:7-8,16-17  Ro 12:11  IITi 1:16-17).

4. Hãy sẵn sàng và đừng hổ thẹn (IICo 9:1-5)

1-2 Phao-lô nhìn nhận rằng xét về một mặt nào đó ông đã làm điều dư thừa khi viết thư cho người Cô-rinh-tô về việc tham gia vào sự quyên góp vì chính họ đã chủ động nêu vấn đề này với ông từ ban đầu (ông đã đề cập đến việc họ hỏi thăm về vấn đề này trong ICo 16:1-4).  Hơn thế nữa, ông cũng đã khoe với người Ma-xê-đoan về sự sẵn sàng của họ để khuyến khích người Ma-xê-đoan cùng tham gia.  3-5 Nhưng nay cơn khủng hoảng do kẻ phạm tội gây ra đã xen vào và Phao-lô lo rằng khi ông đến cùng với những người đại diện của hội thánh Ma-xê-đoan để nhận tiền đóng góp của người Cô-rinh-tô, thì có thể họ không có sẵn.  Vì lý do này mà ông viết: Tôi đã sai các anh em kia đến cùng anh em, hầu cho lời tôi khen anh em khỏi ra ích, ông nói thêm rằng nếu điều đó xảy ra, không phải chỉ mỗi mình ông xấu hổ, mà chính người Cô-rinh-tô cũng sẽ cảm thấy xấu hổ nữa.  Vì thế ông sai các anh em sắm sẵn hầu cho số tiền đóng góp của họ sẽ sẵn sàng như một việc bởi lòng thành, và chẳng phải bởi ý gắng gượng, có lẽ việc này sẽ như thế nếu khi Phao-lô đến nơi thì việc  quyên tiền mới được thực hiện cách vội vã.

5. Kêu gọi phải có lòng rộng rãi (IICo 9:6-15)

6 Phao-lô khuyến khích độc giả của mình hãy bố thí cách rộng rãi như đã được đề cập ở câu 5, bằng cách nhắc họ về một chân lý hiển nhiên trong nông nghiệp: Hễ ai gieo nhiều thì gặt nhiều.  “Gieo” và “gặt” trong ngữ cảnh này đề cập đến sự đóng góp mà người Cô-rinh-tô sẽ thực hiện và kết quả tương ứng của sự đóng góp ấy.  Kết quả mong đợi được mô tả trong những câu 12-14).  7-11 Họ không nên bố thí cách miễn cưỡng, phải nhớ rằng Đức Chúa Trời yêu mến kẻ ban cho cách vui lòng và như Đấng phát hột giống cho kẻ gieo giống, Ngài có thể làm cho sanh hoá ra nhiều để họ có thể gieo ra một cách rộng rãi, nghĩa là để họ có thể làm đủ mọi cách bố thí.  Ý này được dùng để nói với những người Cô-rinh-tô tương đối khá giả và thật không thích hợp nếu điều tương tự này cũng được dùng để nói với người Giu-đê đang lâm vào cảnh nghèo đói mà việc quyên góp tiền được thực hiện là nhằm để giúp họ.  12-14 Phao-lô mô tả những kết quả của việc đóng góp đã được chuẩn bị trước của người Cô-rinh-tô rằng chẳng những đỡ ngặt cho các thánh đồ thôi, lại xui nhiều người càng thêm lòng tạ ơn Đức Chúa Trời.  Hơn nữa, những người được nhận sẽ biết lòng rộng rãi của anh em, thì ngợi khen Đức Chúa Trờihọ lại yêu anh em cách âu yếm.  Tất cả những điều này phản ánh mục đích của việc quyên góp: thứ nhất, lời ngợi khen và cảm tạ sẽ dâng tràn lên Đức Chúa Trời vì việc làm ân điển Ngài giữa vòng người ngoại quốc thứ hai, tình yêu thương và sự hiệp một giữa người Do Thái và người ngoại quốc trong Hội Thánh sẽ được phát triển.  15 Phao-lô kết luận cách xử lý của ông về tiền quyên góp bằng lời cảm tạ Đức Chúa Trời về sự ban cho của Ngài không xiết kể, cùng với lưu ý đã được trình bày ở IICo 8:9.

4. PHAO-LÔ ĐỐI DIỆN VỚI CƠN KHỦNG HOẢNG MỚI (IICo 10:1-13:13)

Có một sự thay đổi rõ rệt trong âm điệu khi chuyển từ các chương 1-9 sang các chương 10-13.  Ở phần chương 1-9,  âm điệu cơ bản chính là ân điệu của sự khuây khỏa và an ủi, của lòng tin cậy vào Đức Chúa Trời và vào người Cô-rinh-tô, mặc dù Phao-lô cảm thấy cần phải giải thích về sự thay đổi trong kế hoạch đi đường của mình và nhấn mạnh đến sự ngay thẳng trong chức vụ ông.  Âm điệu của phần sau được đánh dấu bằng sự mỉa mai chua cay và châm biếm, sự biện hộ mạnh mẽ cho cá nhân, lời khiển trách hướng thẳng vào người Cô-rinh-tô và sự công kích cay đắng chĩa vào những kẻ chống đối, những kẻ đã xâm nhập vào Hội Thánh (xem phần luận về diện mạo của những kẻ chống đối Phao-lô được trình bày ở Phần giới thiệu).  Dường như sau việc kỷ luật và phục hồi kẻ phạm tội, những kẻ chống đối Phao-lô, các sứ đồ giả bắt đầu trực tiếp ảnh hưởng đến Hội Thánh và đầu độc tâm trí của các tín hữu chống lại ông.  Nhận thấy thẩm quyền của mình đang bị chiếm đoạt và chức sứ đồ của ông bị nghi ngờ, Phao-lô không thể dùng cách xử lý khác mà buộc phải đưa ra lời binh vực mạnh mẽ cho chính mình và thực hiện một cuộc tấn công mãnh liệt để chống lại những kẻ chống đối mình.  Trong tất cả các mối quan hệ của Phao-lô với người Cô-rinh-tô, cuộc khủng hoảng ông đang phải đối diện trong hoàn cảnh này là cuộc khủng hoảng lớn nhất, và sự kiện này tô điểm cho cả âm điệu lẫn nội dung của các chương 10-13 mà trong đó Phao-lô đưa ra những lời đối đáp của mình.

1. Một lời nài xin tha thiết (IICo 10:1-6)

1-2 Phao-lô khởi đầu việc đối đáp của mình bằng cách đưa ra lời kêu gọi với tư cách là người “hèn hạ(rụt ) khi gặp mặt giữa anh em, nhưng lúc vắng mặttỏ ra biết bao dạn .  Đây là lời ám chỉ đến những lời mà những kẻ chống đối đã tố cáo ông một mặt thì ra đi trong sự “hèn hạ” khi kết thúc “chuyến thăm đau đớn”, nhưng khi ở xa thì lại “dạn dĩ” viết ra một bức thư nghiêm khắc.  Ông kêu gọi người Cô-rinh-tô hành động như thế để ông khỏi phải dùng sự dạn đối với họ như ông định dùng cho mấy kẻ kia (những địch thủ của ông) khi ông đến đó lần thứ ba.  Ông bác bỏ lời cáo buộc của những kẻ chống đối cho rằng ông sống theo xác thịt (sống theo tiêu chuẩn của đời này).

3-6 Phao-lô dùng một ẩn dụ về quân sự để đáp lại lời cáo buộc này, nhấn mạnh rằng khi ông sống trong xác thịt (tức là trong sự tồn tại như bao người khác với tất cả những hạn chế của nó), ông không tranh chiến theo xác thịt (tức là sử dụng những cách thức mang tính xác thịt và không rõ ràng).  Trái lại, ông nói: những khí giới chúng tôi dùng để chiến tranh bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, sức mạnh để đạp đổ các đồn luỹĐồn luỹ ám chỉ những cái tháp hoặc những thành lũy được xây dựng và sử dụng trong các cuộc chiến ngày xưa, nhưng ở đây nó tiêu biểu  cho những luận, mọi sự tự cao nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời.  Chính bởi sự công bố Phúc Âm (gồm việc dùng lẽ phải và lý luận trong một nỗ lực dở bỏ những rào cản sai lạc ngăn trở lẽ thật) mà Phao-lô đã tìm cách để thắng hơn sự chống đối của con người và cũng để bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ.  Ở đây, hình ảnh này nói về một đồn luỹ bị phá vỡ và những người ẩn núp phía sau những đồn lũy ấy thì bị bắt.  Mục đích của Phao-lô không phải chỉ để đánh đổ các lý luận sai trật mà còn để đưa tư tưởng của con người phục dưới quyền tể trị của Chúa Cứu Thế.  Cuối cùng, ông nói ông sẽ sẵn sàng phạt mọi kẻ chẳng phục (của những kẻ chống nghịch đối với Phúc Âm), khi anh em đã chịu luỵ trọn rồi (tức là một khi người Cô-rinh-tô thừa nhận lại quyền hạn của Phao-lô và lẽ thật của Phúc Âm mà ông rao giảng). Khúc Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta rằng chức vụ của Cơ Đốc nhân có liên quan đến một trận chiến tâm trí.  Các lý luận sai lạc cần phải bị đánh đổ, hầu cho con người có thể sinh trưởng trong lẽ thật của Phúc Âm và tìm thấy sự sống dưới quyền tể trị của Chúa Cứu Thế.

2. Phao-lô đáp lại những lời chỉ trích (IICo 10:7-11)

7 Nhắc đến những kẻ chống đối mình, Phao-lô nhấn mạnh rằng chính ông chỉ là một tôi tớ của Chúa Cứu Thế cũng như họ tuyên bố mình là tôi tớ của Chúa Cứu Thế (vì để tốt cho lý luận của mình, sau này ông đã chối bỏ những điều ông thừa nhận ở đây, tức là những kẻ chống đối ông thực sự là các tôi tớ của Chúa Cứu Thế,  11:13-15).  8-11 Phao-lô trả lời những người nói rằng ông khoe mình thái quá về quyền phép Chúa đã ban cho ông, rằng khi ông có mặt thì những biểu hiện thực tế của ông không đúng với những gì ông đã khoe ra.  Họ nói rằng khi vắng mặt và ở xa thì ông hù doạ người ta bằng những bức thư nặng lời mạnh bạo, nhưng khi có mặt thì ông lại yếu đuối và lời nói của ông chẳng có giá trị gì.  Ở đây lời chỉ trích này một mặt chỉ về bức thư với những lời lẽ mạnh mẽ của ông và mặt khác nó ám chỉ vẻ bề ngoài không gây ấn tượng gì của ông khi có mặt tại thành Cô-rinh-tô.  Với những người đưa ra lời chỉ trích này, Phao-lô nói: Khi chúng tôi vắng mặt, lời trong thơ thể nào, thì khi mặt, việc làm cũng thể ấy.  Đây không chỉ là lời bênh vực, mà còn là một lời cảnh cáo rằng trong chuyến thăm sắp tới của mình, ông sẽ hành động mạnh mẽ đối với những người nói xấu ông (đối chiếu 10:6  13:1-4).

3. Khoe mình trong những chừng mực thích hợp (IICo 10:12-18)

12-15a Phao-lô châm biếm những người chống đối ông là những người tự khen mình bằng cách so sánh những người trong bọn họ với nhau! Vì về phần chính mình, ông nói ông sẽ chẳng muốn khoe mình quá mực, tức là về năng lực mà Chúa đã uỷ quyền cho ông để làm sứ đồ của dân ngoại và về công việc mà ông đã làm tại Cô-rinh-tô.  15b-18 Chính hy vọng của Phao-lô rằng khi đức tin của anh em (người -rinh-) thêm lên (đặc biệt là khi cơn khủng hoảng hiện tại được giải quyết) thì công việc ông làm giữa vòng họ sẽ được mở mang hầu cho ông cũng sẽ lập một cơ sở cho việc truyền giáo đến các xứ xa hơn xứ anh em.  Ông cũng hy vọng sẽ tiếp tục công việc của mình ở những nơi mà Chúa Cứu Thế chưa được biết đến (Ro 15:20) bởi vì ông không muốn khoe mình về việc đã làm trong địa phận của người khác.  Phao-lô kết thúc bằng lời nhắc nhở rằng những điều người ta nói như thể để tự khen mình thì không có gì quan trọng.  Điều quan trọng hơn cả là sự khen ngợi của chính Chúa trong ngày cuối cùng (ICo 4:1-5).  Chính bằng ý thức này mà ông thực hiện chức vụ của mình và dường như ông muốn ám chỉ rằng những người chống đối ông không như vậy.  Về phần mình, chúng ta không được khoe khoang về công tác mà mình làm cho Chúa Cứu Thế.

4. Sự rồ dại của người Cô-rinh-tô (IICo 11:1-6)

1-2a Báo trước về bài giảng của mình trong IICo 11:16-12:13, Phao-lô nói chớ chi anh em dung chịu sự rồ dại của tôi một ít, ông giải thích rằng chính sự sốt sắng như sự sốt sắng của Đức Chúa Trời mà ông dành cho độc giả của mình đã khiến ông làm như vậy.  2b-3 Với cách dùng hình ảnh hứa hôn và hôn nhân, ông xem mình là người đại diện của Đức Chúa Trời mà qua Ngài những người ông đem trở lại đạo được hứa gả cho Chúa Cứu Thế, và ông cảm thấy có nghĩa vụ phải bảo đảm họ phải như một trinh nữ trong trắng khi đưa đến cho Ngài, tức là bảo đảm rằng họ một lòng tận hiến cho Chúa Cứu Thế cho đến khi Ngài trở lại.  Nhưng Phao-lô sợ rằng xưa Ê-va bị cám dỗ bởi mưu chước con rắn kia, thì ý tưởng anh em cũng đi, dời đổi lòng thật thà tinh sạch đối với Đấng Christ.  Sự cám dỗ của con rắn đối với Ê-va không phải là sự cám dỗ về tình dục như một số bản văn của một số thầy giáo luật Do Thái gợi ý, nhưng đúng hơn là một hành động đánh lừa tâm trí bằng cách phủ nhận tính chân thật của những điều Đức Chúa Trời đã phán.  Câu chuyện về Ê-va khéo léo miêu tả mối nguy mà người Cô-rinh-tô phải đối mặt, đó là ý tưởng của họ có thể bị dẫn dụ sai lạc.  4 Phao-lô nêu ra chính xác bản chất  của sự cám dỗ mà ông sợ: việc người Cô-rinh-tô dễ dàng chấp nhận một Giê-xu khác, một Thánh Linh khác và một Phúc Âm khác với những gì mà họ đã nhận qua sự giảng dạy của ông.  Phao-lô không nói cho chúng ta biết chúng khác nhau như thế nào.  Tuy nhiên, chúng ta biết rằng những kẻ chống nghịch Phao-lô đánh giá cao những bằng chứng thể hiện quyền phép và uy quyền, vì thế có thể là họ đã xui người Cô-rinh-tô chấp nhận một Giê-xu, một Thánh Linh và một Phúc Âm mà trong đó không có chỗ cho sự yếu đuối, sự nhục nhã, hoạn nạn và sự chết.  Phao-lô đã rao giảng rằng Chúa Cứu Thế chịu đóng đinh là Chúa, và một Phúc Âm khác biệt cơ bản  với Phúc Âm này.  5-6 Phao-lô đã chuyển từ sự quan tâm về người Cô-rinh-tô sang sự bênh vực cá nhân mình, ông lý luận rằng ông không phải thua kém với những sứ đồ tôn trọng (một sự đề cập mang tính châm biếm những kẻ đối nghịch ông).  Mặc dù nếu như ông, không phải là một nhà diễn thuyết được đào tạo như họ, thì cũng có sự hiểu biết (về lẽ mầu nhiệm của Phúc Âm mà những kẻ đối nghịch ông không thể hiểu biết một cách đúng đắn),và ông tìm cách tỏ ra hoàn toàn ràng điều này cho độc giả của mình (có lẽ đề cập về chức vụ giảng dạy của ông ở vòng họ trong suốt chuyến viếng thăm đầu tiên đến Cô-rinh-tô của mình , cũng như là lời giáo huấn đã được trình bày trong các bức thư).

5. Tại sao Phao-lô từ chối sự giúp đỡ (IICo 11:7-15)

7-12 Phao-lô đáp lại những sự chỉ trích thói quen làm việc để tự lo cho mình của ông và việc nhận những sự hỗ trợ của Hội thánh bên cạnh những gì ông kiếm được theo cách này.  Tất cả những điều này đã giúp ông có thể phục vụ người Cô-rinh-tô mà khỏi luỵ đến anh em.  Nhưng điều này lại dẫn đến sự chỉ trích vì hai điểm.  Thứ nhất, người Cô-rinh-tô cho rằng làm công việc dành cho tôi tớ là không hợp với phẩm cách của một sứ đồ, và thứ hai, có lẽ họ cảm thấy mất thể diện vì ông đã từ chối nhận sự giúp đỡ từ phía họ, đặc biệt là khi ông nhận sự giúp đỡ từ các Hội Thánh thuộc xứ Ma-xê-đoan đang khi hầu việc tại Cô-rinh-tô.  Những đối thủ của Phao-lô chắc hằn đã có thể xem điều này như bằng chứng cho thấy rằng ông không yêu mến họ.  Phao-lô nói rằng có Đức Chúa Trời làm chứng cho việc ông thật lòng yêu mến người Cô-rinh-tô.  Tuy vậy, ông sẽ tiếp tục giữ để mình không làm một gánh nặng vì ông muốn cất mọi mưu của kẻ tìm mưu, hầu cho trong những sự họ lấy khoe mình, chẳng một sự nào trổi hơn chúng tôi được.  Những kẻ chống đối Phao-lô muốn củng cố chỗ đứng họ tại Cô-rinh-tô bằng cách nói rằng họ cũng đã thi hành sứ mạng theo phương cách giống như Phao-lô.  Tuy nhiên, có một lĩnh vực chủ yếu mà trong đó của họ có cách xử sự khác hẳn – họ muốn được trả công bằng tiền bạc.  Nếu là các sứ đồ “có thiện ý” thì chắc hẳn họ không cần phải quan tâm đến vấn đề này, vì đa số các sứ đồ khác đều có nhận thù lao (ICo 9:7-14).  Dường như các đối thủ của Phao-lô không chỉ nhận thù lao mà còn tham lam bòn rút tiền thù lao (IICo 11:20), và có lẽ điều này đã khiến họ trở nên đặc biệt nhạy cảm với những so sánh đáng sợ được rút ra từ cách cư xử của họ và của Phao-lô.  Ngày nay, nếu chức vụ chúng ta đang hầu việc với tư cách là Cơ Đốc nhân cần có sự tín nhiệm, thì chúng ta cũng cần phải hành động một cách ngay thẳng trong các vấn đề tài chính.  Phúc Âm sẽ bị mang tiếng xấu khi người rao giảng nó tham tiền bạc.

13-15 Bây giờ Phao-lô lột trần đặc tính thật của các đối thủ ông là sứ đồ giả, kẻ làm công lừa dối, mạo chức sứ đồ của Đấng Christ.  Ông thêm rằng không có gì đáng ngạc nhiên về sự lừa dối của họ, vì nếu quỉ Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng, thì những kẻ giúp việc mạo làm kẻ giúp việc công bình cũng chẳng lạ .  Sa-tan hiếm khi thực hiện những cuộc tấn công trực tiếp trên Hội Thánh.  Những cuộc tấn công này thường mang tính phá hoại, được tiến hành bởi những người trong Hội Thánh bị dẫn dụ sai lạc nhằm phục vụ các mục đích của nó.  Đây chính là điều Phao-lô lo sợ có thể sẽ xảy ra tại Cô-rinh-tô  11:3-4).  Với những người có trách nhiệm, Phao-lô nói: sự cuối cùng họ sẽ y theo việc (họ) làm (tức là vào ngày phán xét của Chúa Cứu Thế, họ sẽ nhận được điều xứng đáng với việc họ đã làm, đối chiếu 5:10).

6. “Bài giảng của kẻ dại dột” (IICo 11:16-12:13)

IICo 11:16-33. Trong đoạn này,  Phao-lô khoe về nguồn gốc Do Thái của mình, về những thử thách trong chức vụ sứ đồ, về những kinh nghiệm hiện thấy của mình, cùng những việc lớn lao mà ông đã thực hiện.  Ông biết rằng sự khoe khoang theo cách đời này như thế là ngu dại, nhưng trong hoàn cảnh mà những người ông đem trở lại đạo đã bị chao đảo bởi những lời khoe khoang của kẻ khác, ông thấy buộc phải khoe mình một chút.

16-19 Trong phần mở đầu, Phao-lô đề nghị độc giả của ông hãy tiếp nhận lấy ông dù chỉ xem ông như là một người dại dột, để ông có thể khoe mình một chút.  Trong sự khoe mình quả quyết này, ông hoàn toàn ý thức rằng ông chẳng phải nói theo Chúa, song như kẻ dại dột.  Tuy vậy, ông mong người Cô-rinh-tô chiều theo ông trong sự dại dột này, Phao-lô nói một cách mỉa mai anh em kẻ khôn ngoan lại vui mừng dung chịu kẻ dại dột! (một sự ám chỉ cả đến việc họ đã nghe theo lời khoe khoang của các đối thủ Phao-lô lẫn việc họ tự hào về sự khôn ngoan của mình).  20 Để nhấn mạnh sự kiên nhẫn dại dột quá mức của họ với tất cả những vấn đề liên quan đến các sứ đồ giả, Phao-lô bổ sung: Anh em hay chịu người ta bắt mình làm tôi tớ, hay nuốt sống, hay cướp bóc, hay tự cao khinh dể anh em, vả trên mặt anh em.  21a Phao-lô kết thúc phân đoạn Kinh thánh này bằng một câu mỉa mai hết sức gay gắt: Tôi làm hổ thẹn cho chúng tôi nói lời này, chúng tôi đã tỏ mình ra yếu đuối! Người Cô-rinh-tô đã chỉ trích Phao-lô về vẻ yếu đuối của ông (10:10 11:21).  Nay ông chỉ trích ngược lại họ và báo cho họ biết rằng ông yếu đuối quá đến nỗi không thể thực hiện một chủ nghĩa độc đoán hèn hạ như các sứ đồ giả đã thực hiện.  21b-22 Nói như kẻ dại dột, Phao-lô khẳng định rằng nguồn gốc Do Thái của ông cũng giống y như của các sứ đồ giả.  23-29  Ông tuyên bố rằng mình thật là một tôi tớ của Chúa Cứu Thế còn hơn cả họ bởi vì ông đã chịu khổ nhiều hơn họ.  Để hỗ trợ cho lời tuyên bố này, Phao-lô liệt kê một loạt những thử thách trong chức vụ sứ đồ mà ông đã phải trải qua, và có thể chia chúng làm bốn phần: bị lao tù, bị đánh đập và gần phải bị chết, và bao gồm một phần giải thích chi tiết về những gì liên quan đến những điều này (c.23b-25) các cuộc hành trình thường xuyên, cùng với việc mô tả những mối nguy trên đường đi (c.26), công việc khó nhọc và gian khổ, với sự thiếu thốn kèm theo (c.27) sự lo lắng cho tất cả các Hội Thánh, với một ví dụ về điều đã gây ra sự lo lắng ấy (c.28-29).

30-33 Như một ví dụ cho việc khoe mình về sự yếu đuối tôi, Phao-lô kể lại câu chuyện ông trốn thoát khỏi thành Đa-mách, đây là lần đầu tiên ông nếm trải sự bắt bớ và dường như điều này đã để lại trong ông một dấu ấn không thể xoá nhoà.  Không giống như những thử thách được liệt kê ở câu 23b-29, vốn được phân tích với tư cách là một người chiến thắng (Tất cả những khó khăn này tôi đã vượt qua để hoàn thành sứ mạng mình”), về cuộc tẩu thoát khỏi thành Đa-mách, Phao-lô cảm thấy không có chút gì khiến mình có thể tự hào về điều này .  Bằng cách làm nổi bật tất cả những điều có thể tỏ bày sự yếu đuối và thấp hèn chứ không phải sự mạnh mẽ của mình, Phao-lô tỏ bày chính mình là một tôi tớ thật của Chúa Cứu Thế.  Chúa Giê-xu phán rằng ai theo Ngài sẽ phải chịu khổ và bắt bớ như Ngài đã chịu, và Phao-lô chứng tỏ rằng đây là kinh nghiệm của ông với tư cách là một sứ đồ.  Bằng cách đưa ý tưởng này vào sự tranh luận đang tiếp diễn tại Cô-rinh-tô bàn về vấn đề ai là sứ đồ thật, Phao-lô không những hỗ trợ cho sự tuyên bố của mình mà còn bác bỏ được những lời tuyên bố của các đối thủ ông .

(IICo 12:1-13)  1 Ở phần này, Phao-lô tiếp tục khoe mình về các sự hiện thấy sự Chúa đã tỏ ra.  Ông ý thức rằng làm như thế là chẳng ích nhưng nếu không làm thì ông sẽ mất rất nhiều.  Rõ ràng là các đối thủ của Phao-lô đã chỉ trích lời tuyên bố mình là một sứ đồ của ông, họ nói rằng ông chưa từng kinh nghiệm về sự hiện thấy và sự mạc khải.  Phao-lô đã đính chính lại điều này. 2-4 Trong số nhiều sự hiện thấy và mạc khải mà mình đã kinh nghiệm (Cong 9:4-6  16:9-10  18:9-11  Ga 1:15-16), Phao-lô đơn cử một sự hiện thấy xảy ra mười bốn năm trước, và xảy ra vài năm sau khi ông trở lại đạo.  Phao-lô thấy mình được đem lên đến từng trời thứ balên đến chốn Ba-ra-đi, nơi ông nghe những lời không phép cho người nào nói ra.  Ông không rõ kinh nghiệm này là trong thân thể người, hoặc ngoài thân thể người và vì thế chúng ta cũng không biết rõ.  Trong văn chương của người Do Thái lẫn của người ngoại quốc, có những điều tương tự với kinh nghiệm ngất trí của vị sứ đồ này, và từ những sự tương đồng này, chúng ta có thể biết được ba điều về kinh nghiệm của Phao-lô.  Thứ nhất, những người cùng thời với ông có thể hiểu được kinh nghiệm mà ông đang trình bày.  Thứ hai, người ta cho rằng một kinh nghiệm như thế có thể gây kinh hoàng, và điều này giải thích phần nào việc Phao-lô ít khi mô tả nó.  Thứ ba, việc từng trải một kinh nghiệm như thế có lẽ đã đưa ông lên một tầm mức ngang bằng với các anh hùng đức tin vĩ đại, và qua việc tuyên bố một kinh nghiệm như thế, có thể Phao-lô đã hoàn toàn đánh vào hông của các đối thủ ông.

5-6 Điều đáng chú ý là Phao-lô không lợi dụng tối đa kinh nghiệm của mình.  Trái lại, ông tìm cách tách chính mình khỏi con người của một Phao-lô đã từng trải kinh nghiệm ấy mười bốn năm trước đây.  Sau khi đã phơi bày sự thật trần trụi để đáp lại sự chỉ trích của các đối thủ, ông nhanh chóng tập trung vào sự yếu đuối của mình như nền tảng an toàn duy nhất để ông khoe mình.  Mặc dù ông có nói thêm để chặn đứng những lời chỉ trích, rằng nếu ông có chọn khoe mình thì ông sẽ nói sự thật trong thực tế, ông đã kìm chế vì ông muốn những điều người khác đánh giá về ông phải dựa trên những gì họ thấy và nghe về ông trong hiện tại, chứ không phải dựa vào kinh nghiệm mà ông đã từng trải mười bốn năm trước đây.  7 Thay vì lợi dụng kinh nghiệm của mình, Phao-lô lập tức giải thích làm cách nào ông có thể tránh được việc quá hãnh diện về điều đó.  Thật quan trọng khi nhận ra rằng trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, Sa-tan không có quyền hạn gì trừ phi được Đức Chúa Trời cho phép,  và ngay cả những mưu ác của Sa-tan cũng được dùng để phục vụ các mục đích của Đức Chúa Trời.  Trong trường hợp này, sứ giả của Sa-tan được Đức Chúa Trời sử dụng để làm cho tôi đừng kiêu ngạo, rõ ràng đây không phải là điều Sa-tan dự định.  Người ta đã đưa ra nhiều suy đoán về bản chất cái dằm trong thân thể Phao-lô, nhưng đơn giản  vẫn chưa đủ dữ kiện để có thể giải thích về sự đau đớn mà ông đã phải chịu.

8-10 Phao-lô ba lần cầu nguyện xin Chúa cho cái dằm bị lấy đi.  Lời cầu nguyện của ông không được nhậm nhưng ông nhận được lời phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, sức mạnh ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối.  Nói cách khác, Đức Chúa Trời đã hứa với Phao-lô rằng chính trong sự yếu đuối và thất vọng do cái dằm này gây ra, ông lại càng nhận thấy quyền năng của Đức Chúa Trời hiện diện.  Sau khi nghe những lời như thế từ Đức Chúa Trời, Phao-lô có thể khoe mình về sự yếu đuối, không phải vì ông thích thú nó nhưng vì ông biết rằng quyền năng của Chúa Cứu Thế ở cùng ông trong những sự yếu đuối mà ông phải trải qua.  Sau đó ông tiếp tục để áp dụng lời phán này của Đức Chúa Trời trong những lĩnh vực khác của đời sống mình mà ông phải đối diện với sự yếu đuối và hoạn nạn, vì khi tôi yếu đuối, ấy lúc tôi mạnh mẽ.  Mục đích Phao-lô khi nói như vầy không phải chỉ để giúp độc giả của mình hiểu hơn về sự yếu đuối của con người và quyền năng của Đức Chúa Trời.  Các đối thủ của ông đã từng chỉ trích lời ông tuyên bố về chức sứ đồ của mình với lý do về sự yếu đuối (IICo 10:10  11:21), và có lẽ họ cho là những cuộc bắt bớ và sự nhục mạ mà Phao-lô đã phải chịu mâu thuẫn với lời tuyên bố là sứ đồ của ông.  Qua việc trình bày nguyên tắc quyền năng của Đức Chúa Trời bày tỏ trong sự yếu đuối, Phao-lô đã lập tức bảo vệ được lời tuyên bố của mình và vô hiệu hoá những lời chỉ trích của các đối thủ.  11-12 Phao-lô đã ý thức rằng điều ông vừa mới nói là dại dột, nhưng chính người Cô-rinh-tô đã đưa ông đến chỗ phải nói ra những điều ấy.  Ông nói: bởi anh em ép uổng tôi, và nếu như điều ấy có xảy ra thì cũng không phải ông đã khen ngợi chính mình.  Người ta không cần phải buông mình vào hành động khó ưa khi tự khen mình, một khi bạn bè của họ hoặc những người mà họ phục vụ tích cực bênh vực cho sự ngay thẳng của họ khi điều này bị đánh giá không đúng.  Phao-lô nhắc nhở độc giả mình rằng ông dầu không ra , cũng chẳng kém các sứ đồ rất lớn kia về những bằng chứng về chức sứ đồ bởi các dấu lạ, các sự khác thường các phép lạ đã được ông thực hiện giữa vòng người Cô-rinh-tô.  Về khía cạnh này thì họ được ưu đãi không thua gì những Hội Thánh khác mà chính ông đã thành lập.  13 Chỉ duy một khía cạnh mà họ bị xem là kém hơn mà Phao-lô thường nói cách mỉa mai, ấy là: sự chính tôi không làm luỵ cho anh em (tức là không bao giờ nhận lấy sự giúp đỡ tài chính của họ).  Ý nghĩa của việc này đã bị xuyên tạc và bị dùng như là một bằng chứng để tố giác vị sứ đồ này rằng ông không yêu mến tín hữu Cô-rinh-tô (đối chiếu 11:7-11).  Phao-lô nghiêm khắc phủ nhận những sự chỉ trích như thế và đáp lại bằng một giọng rất mỉa mai rằng : xin tha thứ cho tôi sự không công bình đó! Ông ngụ ý rằng thật là lạ lùng khi họ lại phản đối việc “không được” ông luỵ đến hay lợi dụng (đối chiếu 11:20).

7. Phao-lô khước từ mánh khoé (IICo 12:14-18)

14-15 Báo trước về chuyến viếng thăm lần thứ ba của mình đến Cô-rinh-tô, Phao-lô nói độc giả của ông rằng ông sẽ không tạo gánh nặng cho họ, không phải tôi tìm của cải anh em bèn tìm chính anh em vậy.  Với quan niệm chức vụ của mình đối với họ như là công việc của cha mẹ làm cho con nhỏ mình, ông nói thêm rằng chẳng phải con cái nên chứa của quí cho cha mẹ, nhưng thà cha mẹ chứa cho con cái thì hơn.  Vì lý do này ông không những sẵn lòng hy sinh mọi thứ ông có (tài chính của mình) mà còn dùng cả chính thân mình (hy sinh chính sự sống mình) cho họ.  Sau lời tuyên bố như thế về tình yêu thương và sự dấn thân của mình đối với người Cô-rinh-tô, ông hỏi liệu có phải tình yêu dư dật mà ông dành cho họ đồng nghĩa với việc ông sẽ được họ yêu mến ít hơn không.

16-18 Ở đây, Phao-lô nêu lên lý do tại sao lòng yêu mến của ông đối với người Cô-rinh-tô không thể trao đổi qua lại được.  Chính vì việc ông từ chối không luỵ đến họ về mặt tài chính đã bị đối thủ của ông hiểu sai lệch ghê gớm.  Vì thế ông đối diện với độc giả về lời buộc tội chống lại ông.  Các đối thủ của Phao-lô đã cho rằng ông từ chối nhận sự trợ giúp chỉ vì ông có ý định dùng cơ hội quyên góp tiền cho tín hữu nghèo ở xứ Giu-đê như là một dịp để trục lợi cho mình nữa.  Vì thế Phao-lô hỏi người Cô-rinh-tô rằng có phải ông đã lợi dụng họ qua một người nào đó mà ông đã sai đến để sắp xếp việc quyên tiền hay không (đối chiếu 8:16-24  9:3-5), chẳng hạn như Tít hoặc những anh em được sai đi với ông.  Ông kết luận bằng câu hỏi: chúng tôi chẳng bước đi bởi một Thánh Linh, theo cùng một dấu chân saoCâu hỏi này hướng đến một câu trả lời tích cực.  Cả Phao-lô lẫn những người ông sai đến Cô-rinh-tô đều hành động theo cùng một cách, với tấm lòng ngay thẳng hoàn toàn.

8. Mục đích “bài giảng của kẻ dại dột (IICo 12:19-21)

19 Phao-lô cảm thấy buộc phải nói theo cách này là bởi vì người Cô-rinh-tô đã bị ảnh hưởng bởi sự khoe khoang của các đối thủ ông, và ông phải chứng tỏ rằng mình hoàn toàn không thấp kém hơn những người đó.  Nhưng như lời ông nói, mục đích thực sự của ông là sự gây dựng cho anh em chứ không nên hiểu nhầm rằng đó chỉ là một hành động bênh vực chính mình.  Để gây dựng đức tin họ, ông phải vạch trần mặt nạ của các sứ đồ giả và khiến người Cô-rinh-tô trở lại trung thành với ông như với vị sứ đồ chân chính của họ và trung thành với Phúc Âm mà ông đã rao giảng.

20-21 Ông tìm cách gây dựng họ trong đức tin vì ông sợ rằng nếu không thì khi ông đến thăm họ lần thứ ba, cả ông và họ đều sẽ không tìm được điều mà cả hai bên đều mong ước.  Có thể ông nhận thấy họ vẫn mắc phải những tội lỗi họ đã từng dung dưỡng trước kia và họ vẫn không ăn năn (đặc biệt là sự ô uế, gian dâm truỵ lạcCó lẽ họ cũng sẽ thấy ông vẫn dùng hành động cứng rắn để hình phạt họ vì những tội lỗi họ đã phạm.

9. Phao-lô răn đe sẽ dùng hành động cứng rắn (IICo 13:1-10)

1 Phao-lô cảnh cáo người Cô-rinh-tô rằng khi ông đến thăm lần thứ ba, nếu họ có ý định buộc tội ông về bất kỳ hành vi sai trái nào, thì mọi việc sẽ định cứ lời khai của hai hoặc ba người làm chứng.  Việc  buộc tội đòi hỏi phải có hai hoặc ba người làm chứng là yêu cầu được tìm thấy trong Phu 19:15 và được Chúa Giê-xu kết hợp vào những điều Ngài dạy cho các môn đồ về kỷ luật của Hội Thánh (Mat 18:16  Gi 8:17  ITi 5:19  He 10:28  IGi 5:8).

2-4 Phao-lô cũng cảnh cáo họ rằng, vì họ đòi hỏi bằng chứng về việc Chúa Cứu Thế phán qua ông, nên khi ông đến họ sẽ có được bằng chứng đó.  Đó sẽ không phải là loại bằng chứng mà họ mong chờ (sự hiện thấy và sự mạc khải, dấu lạ v.v..) trái lại, đó sẽ là sự thể hiện của quyền năng Chúa Cứu Thế để sửa phạt kẻ phạm tội.  Ông nhắc nhở họ rằng dầu Chúa Cứu Thế nhân sự yếu đuối đã bị đóng đinh vào thập tự giá, nhưng Ngài sống bởi quyền phép Đức Chúa Trời, và cũng vậy ông dù yếu đuối sẽ đối phó với họ bằng quyền năng của Đức Chúa Trời.

5-6 Có lẽ người Cô-rinh-tô có ý định sẽ kiện cáo chống lại ông, và sẽ kiểm tra lời tuyên bố là một sứ đồ thật của ông, nhưng Phao-lô bảo họ hãy kiểm tra “chính mình” để bảo đảm rằng họ đức tin.  Ông nhắc họ rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu ngự trong họ (với tất cả những nguyên tắc đạo đức của sự kiện ấy đối chiếu ICo 3:16  6:19-20), đúng như vậy trừ phi họ không kiểm tra! Sau đó Phao-lô nói: Song tôi mong rằng anh em nhận biết rằng chúng tôi chẳng đáng bị bỏ.  Điều này có vẻ gây ngạc nhiên, vì ngữ cảnh đưa chúng ta đến chỗ nghĩ rằng Phao-lô hy vọng là người Cô-rinh-tô sẽ qua được sự kiểm tra (“không bị bỏ”).  Có thể giải thích rằng qua việc kiểm tra chính mình và đi đến kết luận rằng họ vẫn giữ đức tin, người Cô-rinh-tô đồng thời sẽ ý thức được rằng Phao-lô cũng qua được sự kiểm tra.  Nếu họ vẫn giữ đức tin và Chúa Cứu Thế có ngự trong họ, thì với những gì họ đã nhận được qua chức vụ của Phao-lô, lần lượt chúng sẽ chứng minh rằng ông là một sứ đồ thật, là người đã qua được sự kiểm tra.

7-9 Phao-lô cầu nguyện cho người Cô-rinh-tô đừng làm việc ác nào.  Điều ông quan tâm là người Cô-rinh-tô được trở nên tốt đẹp, chứ không phải tiếng tốt của riêng mình.  Lời ông khẳng định rằng ông không thể làm điều gì nghịch cùng lẽ thật, nhưng chỉ thể thuận theo lẽ thật tốt nhất nên hiểu là ông không bao giờ hành động trái với Phúc Âm hay những nguyên tắc đạo đức của Phúc Âm.

10 Phao-lô tóm tắt mục đích bức thư của mình: vậy nên, khi vắng mặt, tôi viết những điều này, để khi tôi mặt không dùng thẳng phép.  Trong chương 10-13 Phao-lô nhiêu lần răn đe  là sẽ nghiêm khắc dùng thẩm quyền của mình (IICo 10:5-6,11  12:20  13:1-4), tuy nhiên, điều ông nói ở đây cho thấy lúc nào ông cũng hy vọng rằng sẽ không đến mức độ đó (10:2  12:19-21).  Vì thế, chúng ta có thể nói rằng mục đích của chương 10-13 là để nhắc cho người Cô-rinh-tô nhớ đến lòng trung thành của họ đối với ông và với Phúc Âm ông rao giảng, hầu ngăn không để xảy ra việc ông nghiêm khắc dùng thẩm quyền của mình để hình phạt họ.

10. Lời kêu gọi và chào thăm cuối cùng (IICo 13:11-12)

Sự khích lệ cuối cùng của Phao-lô dành cho độc giả là họ khá theo đến sự trọn lành, hãy yên ủi mình, hiệp một tâm tình, cho hoà thuận.  Trong văn cảnh, điều này có nghĩa là họ phải loại bỏ thứ Phúc Âm khác do các đối thủ của ông đem đến (11:4), thừa nhận tuyên bố đúng đắn của ông về việc là sứ đồ của họ (10:13-18  11:21-23  12:11-13), phải chắc chắn rằng không có cách sống bê tha nào được cho phép ở giữa họ (12:19-21) và phải sống chan hoà với nhau.

11. Lời chúc phước (IICo 13:13)

Ở phần kết thúc này, lời cầu xin ơn phước của Đức Chúa Trời đặc biệt có ý nghĩa bởi vì đây là chỗ duy nhất trong Kinh Thánh Tân Ước mà Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh cùng được nhắc đến cách rõ ràng trong một lời chúc phước như thế.  Phao-lô nêu bật ơn của Đức Chúa Giê-xu Christ (8:9), sự yêu thương của Đức Chúa Trời (được bày tỏ một cách tối thượng qua việc chính Ngài qua Chúa Cứu Thế đã phục hoà với thế gian xem 5:18-21) và sự giao thông của Đức Thánh Linh (tức là sự dự phần trong Đức Thánh Linh qua việc làm đền thờ cho Ngài và dự phần trong mối thông công của các tín hữu mà Ngài tạo nên).

Lên đầu trang