1 CÔ-RINH-TÔ

MỤC LỤC

ICÔ-RINH-TÔ

1. TÁC GIẢ VÀ NGƯỜI NHẬN (ICo 1:1-3)

Trong thời Phao-lô, người viết thư thường mở đầu bằng cách đề cập đến tác giả và kế đến là người nhận thư.  Phao-lô đề cập chính mình và phong cách viết thư của mình – ông không phải là một người tự xưng làm thầy, cũng không phải là một Cơ Đốc nhân tự lập mình làm người hầu việc Chúa, mà là người đã được kêu gọi theo ý định của Đức Chúa Trời để làm người truyền giáo và người phát ngôn cho Chúa Cứu Thế.  Sốt-then (1) người được mô tả là “anh em chúng ta” là “đồng tác giả” của thư này.  Việc đề cập cả Sốt-then trong phần này cho thấy quan điểm cộng tác của Phao-lô trong công tác mục vụ.  Phao-lô không phải là “diễn viên chính” và không bao giờ gọi những người chia sẻ công tác với mình là “môn đệ”, trái lại ông gọi họ là đồng nghiệp – “bạn đồng công”.  Ông cũng không xem Hội Thánh là “của mình” dù ông là sứ đồ đã lập hội thánh – chính Đức Chúa Trời đã nhóm họp Hội Thánh, và Hội Thánh thuộc về Ngài (2).

Địa vị của Hội Thánh được xác định bởi công việc của Chúa Cứu Thế, Đấng đã làm cho các thành viên của hội nên thánh.  Kết quả là họ trở thành một lớp người đặc biệt, gọi là  là “thánh đồ”.  Thuật ngữ “lớp người” được dùng để mô tả họ.  Đó cũng  là thuật ngữ được dùng để mô tả những hạng người thế gian sống tại Cô-rinh-tô, một thành phố ý thức rõ về giai cấp.  Họ được ban cho địa vị làm “những người thánh” hay “thánh đồ” không phải vì những việc làm thánh khiết của họ – trong thực tế, một số người vẫn còn phạm vào những việc bất khiết (ICo 5:1 6:1,16 8:10  10:8 v.v..).  Chỉ  nhờ điều Chúa Cứu Thế đã làm mà họ nhận được địa vị này (đối chiếu 1:30).  Phao-lô không đơn thuần nhấn mạnh đến địa vị của họ – những người Cô-rinh-tô sống theo tinh thần thế gian luôn kiêu căng và tự cho mình cao hơn người khác vì họ sống tại thủ phủ xứ A-chai – nhưng còn nhấn mạnh rằng nguồn gốc thuộc linh của họ  giốg như mọi người trên thế gian, những người kêu cầu danh “Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta” để được cứu rỗi (Ro 10:13).  Chúa Cứu Thế vừa là “Chúa của những người ấy và của chúng ta”.  3 Bên cạnh những lời chào thăm bình an hay “sức khoẻ” thông thường của người đời, Phao-lô bổ sung lời chúc ân điển là điều được ban cho như một quà tặng chứ không phải do tìm kiếm (6:23).  Đây là những phước hạnh đích thực vì chúng đến từ Đức Chúa Trời Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu (đối chiếu ICo 8:6).

2. CÁCH GIẢI QUYẾT CỦA CƠ ĐỐC NHÂN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG HỘI THÁNH (ICo 1:4-4:21)

1. Cảm tạ về sự đầy trọn của Chúa Cứu Thế (ICo 1:4-9)

Trong phần cảm tạ, Phao-lô thường nêu ra các vấn đề mà ông cần giải quyết trong phần sau của bức thư.  Ông có thể luôn dâng lời cảm tạ vì thẩm quyền của Đức Chúa Trời có thể giải quyết mọi nhu cầu của chúng ta qua thân vị của Con Ngài.

Ở đây ông ám chỉ về vấn đề thấp kém mà người hạ đẳng thường cảm nhận khi sống trong thuộc địa của La Mã.  Có nhiều Cơ Đốc nhân cũng thuộc nhóm người này.  Ông đề cập cách cụ thể đến nghệ thuật nói chuyện hết sức lịch sự, tức là lối nói hoa mỹ (logos) và việc sở hữu tri thức.  Đây là những công cụ mà những người diễn thuyết và người giảng dạy có học sử dụng khi nói chuyện trước công chúng, nhưng liệu chúng có phải là nhân tố quyết định trong việc làm chứng của Cơ Đốc nhân và trong việc trở thành người dạy dỗ và thuyết giảng ở những nơi Cơ Đốc nhân tụ họp không? Truyền thống ưa chuộng nghệ thuật diễn thuyết của người Cô-rinh-tô (“ngay cả trong vòng phụ nữ và trẻ con”, Dio Chrysostom Or.  37) cũng giải thích lý do tại sao một số người trong Hội Thánh đã yêu cầu cho A-bô-lô trở lại với Hội Thánh hơn là Phao-lô.  A-bô-lô rõ ràng sử dụng những gì ông đã được đào tạo về thuật hùng biện để giảng dạy (ICo 16:12  Cong 18:24-28).  Đây là một trong những vấn đề quan trọng của bức thư này.  Trong mỗi câu của phân đoạn này, Phao-lô đều đề cập đến Chúa Cứu Thế Giê-xu.  Dân sự Đức Chúa Trời có giá trị vì mọi điều họ đang có và là kết quả của những điều Đức Chúa Trời đã làm cho họ qua thân vị của Con Ngài (đối chiếu ICo 1:30), chứ không phải là kết quả của địa vị, đặc quyền hay thành quả thế gian.

4  Lý do mà Phao-lô luôn cảm tạ Đức Chúa Trời là để bày tỏ lòng biết ơn Đức Chúa Trời về ân điển mà Ngài đã ban cho người Cô-rinh-tô trong Đức Chúa Giê-xu.  5  Điều này làm cho mọi khía cạnh trong đời sống của họ đều được phong phú, dư dật.  Phao-lô đơn cử một lĩnh vực có tính quyết định đối với công tác truyền giáo, rao giảng và dạy dỗ của Cơ Đốc nhân: trong cả lời nói lẫn sự hiểu biết.  Đây là những ân tứ mà Chúa Cứu Thế đã truyền lại cho họ.  7 Kết quả là họ không còn thiếu thốn bất kỳ  ân tứ cần thiết nào cho chức vụ mà họ đảm nhiệm, vì điều họ trông đợi, không phải là việc cuộc đời họ chấm dứt bởi một sự kiện không thể né tránh, mà làsự khải thị của Chúa Cứu Thế Giê-xu.  Thái độ trông mong ngày Chúa tái lâm này của họ thể hiện sự thay đổi căn bản về thế giới quan của họ, đó là thấy trước được lịch sử nhân loại sẽ mãi mãi tiếp diễn trong một thế giới không huỷ diệt.  8 Trong xã hội mà người hạ đẳng bị đánh giá là không có giá trị gì về mặt xã hội cũng như về chính trị, Phao-lô đã nhấn mạnh rằng lẽ thật Chúa Cứu Thế sẽ giữ cho họ mạnh mẽ để họ không bị hổ thẹn trong ngày của Chúa - một cách diễn tả của Kinh Thánh Cựu Ước về ngày phán xét.  9 Đối với họ, đây là điều không thể xảy ra, nhưng Đức Chúa Trời, Đấng đã gọi họ vào mối thông công với Con Ngài là hoàn toàn đáng tin cậy, vì Ngài không thể thất hứa.  Vì vậy, không một con dân nào của Đức Chúa Trời có thể dậm chân tại chỗ trong sự hầu việc Ngài vì mặc cảm tự ti hoặc cho rằng mình còn kém thiếu, nhưng phải chăm xem Chúa Cứu Thế, Đấng đáp ứng đầy đủ cho mọi nhu cầu của họ.

2. Sự chia rẽ do thần tượng hóa các giáo sư Cơ Đốc (ICo 1:10-17a)

Học trò hay “môn đệ” của một người thầy trần tục phải toàn tâm toàn ý trung thành với thầy mình.  Theo lệ thường, những người học trò hay vướng vào những cuộc tranh cãi với những học trò khác là đối thủ của họ về công lao của thầy họ – vốn cũng là những người hay ganh tị lẫn nhau.  Những người Cô-rinh-tô đã tiếp nhận đạo và chịu báp-tem qua chức vụ của Phao-lô, A-bô-lô và Phi-e-rơ cũng tự nhận thức theo cách ngoài đời, tức là họ xem mình như những môn đệ đặc biệt của những người này và tranh cãi với nhau về công lao của các giáo sư Cơ Đốc.  Phao-lô tuyên bố rằng lòng trung thành theo kiểu ấy mang tính sùng bái thần tượng.  Ông muốn họ theo Đấng Mê-si-a chứ không được theo tôi tớ của Đấng ấy.  Các giáo sư làm người ta thần tượng hoá mình hay những diễn giả “ân tứ” (“charismatic”), là những người muốn nhận được sự trung thành từ các môn đệ “của họ”, đã luôn gây chia rẽ và phá hoại trong cộng đồng tín hữu.

Trong lời kêu gọi của Phao-lô cho sự hiệp một chống lại quan niệm của họ về vai trò của các giáo sư Cơ Đốc – ông không bao giờ sử dụng thuật ngữ ngoài đời như “người lãnh đạo” , là từ vốn ám chỉ một sự ưu việt về tư cách – dựa vào danh Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta, Đấng mà họ kêu cầu để được cứu rỗi (1:2).  Đó không phải là lời kêu gọi tìm kiếm sự hiệp một như một mẫu số chung thấp nhất, mà là lời kêu gọi khẩn thiết anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau (10).  Việc nghiêm cấm bè phái và yêu cầu Cơ Đốc nhân phải hiệp một ý một lòng buộc các Cơ Đốc nhân phải hiểu ý muốn của Đức Chúa Trời về vấn đề này.  Phao-lô đã cẩn thận trình bày về điều này trong 1:10-4:21.

12 Phao-lô làm cho vấn đề rõ ràng một cách tuyệt đối, Tôi ý nói rằng “mỗi người phải nói như vầy” – “Ta là của…” nghĩa là “ta thuộc về…”.  Sau khi một số người tuyên bố sự trung thành của họ với một số người giảng dạy nổi bật trong Hội Thánh, những người còn lại dường như tự xem mình thuộc về phe Chúa Cứu Thế.  13 Chúa Cứu Thế không bao giờ có thể là tài sản của một nhóm người nào đó trong Hội Thánh (đối chiếu 1:2), vì Đấng Christ phải chịu phân rẽ sao? Hội Thánh là thân thể Chúa nên không thể bị phân rẽ.  Phao-lô xem những cách bày tỏ lòng trung thành như thế đối với ông cũng như với những người khác như sự chiếm đoạt vị trí của Chúa Cứu Thế.  Cũng giống như những đồ vật thờ cúng tại thành Cô-rinh-tô có khắc chữ, “Tôi thuộc về Aphrodite, “Tôi thuộc về Demeter”, vì thế những cách bày tỏ sai lạc này về lòng trung thành bị xem là mang tính chất sùng bái thần tượng – hàm ý rằng Phao-lô là người trung gian cho sự cứu rỗi của họ.  Việc họ được vào Nước Trời, được bày tỏ qua phép báp-tem, không phải nhờ danh người truyền giáo cho họ.  Việc họ bày tỏ lòng trung thành  với những người giảng dạy thay thế sự cam kết và lòng trung thành mà Cơ Đốc nhân phải dành cho Chúa Cứu Thế.  Không thể nói rằng phép báp-tem của Cơ Đốc nhân giúp một người có tư cách thành viên của “phe Phao-lô” hay bất kỳ một người nào có mối quan hệ đặc biệt với ông vì ông chỉ làm phép báp-tem cho rất ít người trong số họ (14-16).  17a Ông giải thích rằng ông được kêu gọi trở thành sứ đồ không phải để làm báp-tem mà để rao giảng, và kế đến ở phần sau ông nêu ra những lý do tại sao ông sử dụng những phương pháp của người chuyên nói chuyện trước đám đông.

3. Khoe mình về Chúa chứ không khoe mình về sự hiểu biết uyên bác (ICo 1:17b-2:5)

(ICo 1:17b-31)  Ở thế kỷ thứ nhất, điều người ta trông đợi ở một nhà hùng biện hay một người diễn thuyết trước công chúng là sẽ giới thiệu những bài giảng đã được chuẩn bị kỹ lưỡng và tập trung  sử dụng nhuần nhuyễn các qui ước hùng biện.  Nghệ thuật hùng biện được gọi là “phép màu” vì người ta cho rằng nó làm cho người nghe say mê.  Nội dung của bài giảng  không quan trọng, người ta chỉ chú trọng đến việc trình bày.  Họ nói chỉ để chiếm được lòng người nghe.  17b Phao-lô không sử dụng bất kỳ một mánh khoé nào của một nhà diễn thuyết, vì ông không rao giảng bằng những lời lẽ khôn khéo của con người, nghĩa đen là “bằng những thủ thuật khôn khéo của phép hùng biện.  Nếu áp dụng quy ước ngoài đời thì phần trình bày của người giảng sẽ được nâng lên và người nghe có quyền phán xét.  Điều này chi phối sự chú ý của họ khỏi thập tự giá mà chỉ tập trung vào chính Phao-lô, vì thế tước mất của người nghe cơ hội nghe về sự kiện kỳ diệu mà qua đó Đức Chúa Trời giải cứu con người.  Sứ điệp đầy thẩm quyền này được gọi là Phúc Âm và có nội dung là thập tự giá của Đấng Christ.  Chúa Cứu Thế sai ông rao giảng Phúc Âm chớ không phải để tìm những người ủng hộ cá nhân ông.

18  Bằng lối chơi chữ đã được sử dụng, Phao-lô gọi Phúc Âm là sứ điệp, nghĩa đen là “nghệ thuật hùng biện của thập tự giá”.  Ông lý luận rằng lời giảng này sẽ nhận được hai kiểu đáp ứng khác nhau.  Với một số người thì lời giảng này bị cho là sự rồ dại (đối chiếu Cong 26:24), nhưng với một số khác thì nó là một phương  pháp có năng quyền để khiến họ trở thành dân sự của Đức Chúa Trời.  Trong câu 18-31 ông mở đầu và kết thúc phần lập luận của mình bằng những câu trích dẫn (Es 29:14  Gie 9:24).  Câu trích thứ nhất (19) là lời hứa Đức Chúa Trời sẽ hủy phá và không kể gì sự khôn ngoan thông sáng của người khôn ngoan, câu trích thứ hai (31) phản đối sự khoe mình của những người địa vị cao, người có học thức, người giàu có và người quyền thế, và yêu cầu nếu ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa.

Phao-lô tuyên bố rằng nghệ thuật hùng biện mà người ta ngưỡng mộ và sự phản ánh thần học trong thời ông đã thất bại vì nó không thể đưa người ta đến chỗ nhận biết Đức Chúa Trời (20-25).  20 Vả những người thông thái, tức là các nhà triết học, lẫn các học giả (Do Thái) hay thầy thông giáo, kể cả “người biện luận thời nay”, tức là nhà hùng biện, đều không dạy về sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trong thời của mình.  Trái lại, sự khôn ngoan của họ chỉ là ngu dại.  21 Mặc dù những người theo chủ nghĩa Stoics và theo thuyết Ê-pi-cua đã có những cuộc tranh luận phức tạp về “bản chất của các thần” trong khuôn khổ triết học tự nhiên, giới trí thức vẫn không nhận biết Đức Chúa Trời.  Đức Chúa Trời đã thực hiện  được mục đích của mình qua những điều mà người đời xem là ngu dại, tức là điều mà Phao-lô rao giảng, để cứu rỗi những ai đặt lòng tin cậy nơi sứ điệp ấy.  23 Một Đấng Mê-si-a đã bị đóng đinh bất chấp những sự trông mong của người Do Thái, và bị thế giới ngoại bang gạt bỏ như một sự rồ dại.  24 Cả sự khôn ngoan lẫn quyền năng của Đức Chúa Trời đều ở trong Chúa Cứu Thế.  25 Có thể con người xem điều này như một phương cách ngu dại và yếu đuối, nhưng Đức Chúa Trời vốn khôn ngoan và mạnh mẽ hơn con người.

26-31 Phao-lô kêu gọi người Cô-rinh-tô suy nghĩ về thân phận hay giai cấp của những người mà Đức Chúa Trời đã chọn lựa để minh chứng bản chất khôn ngoan của Đức Chúa Trời.  Người cao quí của thế kỷ thứ nhất được mô tả là người khôn ngoan, có quyền thế và thuộc dòng dõi danh giá.  Trong số này, không có nhiều người được Chúa kêu gọi (26).  Đức Chúa Trời đã chọn kẻ ngu dại trái ngược với người khôn ngoan, kẻ yếu hơn là kẻ mạnh, và những người mà xã hội xem như “người vô giá trị” thay vì những người được xem là quan trọng (27-28).  Đức Chúa Trời làm điều này với mục đích ngăn chặn bất kỳ sự khoe khoang nào về thân thế trần tục của con người (29-30).  Chính là nhờ ân huệ của Đức Chúa Trời (nhờ Ngài) mà chúng ta sẽ tìm gặp tất cả những điều mình cần trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, như Phao-lô đã từng nhấn mạnh trong lời tạ ơn của ông (ICo 1:4-7).  Đối với Phao-lô và với tất cả các Cơ Đốc nhân thì sự khôn ngoan, sự công bình, thánh khiết và sự chuộc tội đều ở trong Chúa Cứu Thế.  Vì vậy, trong Gie 9:24 lời huấn thị chống lại những kẻ khôn ngoan của thời ông đã được trích dẫn một cách thích hợp ở đây vì kẻ khôn ngoan, người quyền thế lẫn người thuộc dòng dõi cao quí đều không thể khoe mình về bất kỳ điều gì khác ngoài việc khoe mình trong Chúa (31).

(ICo 2:1-5) Chức vụ ban đầu của Phao-  Đây là phần tác giả minh hoạ về sự thiếu kém của lời nói và sự khôn ngoan thế gian.  Trong nguyên bản, cụm từ “Và tôi” đã kết nối phân đoạn Kinh Thánh này với câu cuối nói về sự khoe mình trong Chúa (ICo 1:31).  Câu 1-2 và 3-4 đều bắt đầu với cụm từ “về phần tôi” để mô tả các hoạt động của Phao-lô, trong trường hợp này, là việc đến thành Cô-rinh-tô lần đầu của ông.  Các nhà diễn thuyết tuân thủ một số quy ước rõ ràng khi vào một thành phố.  Mọi người mong đợi được nghe những lời hoa mỹ ca ngợi thành phố và những thành quả cá nhân của họ.  Họ làm điều này để tạo tiếng tăm và nhận được những món tiền thưởng như những nhà diễn thuyết chính trị và người giảng dạy của người giàu có.  Phao-lô đã nói rõ trong câu 1-2 rằng ông không dùng những quy ước dạo đầu phô diễn tài hùng biện hay sự khôn ngoan theo kiểu cổ trong lúc rao giảng chứng cớ của Đức Chúa Trời về Đức Chúa Giê-xu Christ về việc Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá.  Ông quyết định nội dung sứ điệp sẽ nói  trước khi đến thành phố.  3-4 Ông đã dùng những từ ngữ có tính tiêu cực để mô tả cái mà các nhà diễn thuyết gọi là “sự hiện diện”.  Ông không ở trong một diện mạo lôi cuốn vì ông ở đó trong bộ yếu đuối, sợ hãi, run rẩylời nói cũng như sự giảng của ông không phải được trình bày bằng những kỹ thuật mang tính thuyết phục của nhà hùng biện qua một phần diễn xuất, đánh vào cảm xúc của người nghe và bằng những công thức cổ điển được nêu trong các sách hướng dẫn hùng biện.  Thay vì tuân thủ nghệ thuật hùng biện A-ri-xtốt đã giới thiệu, sứ điệp của ông được đi kèm với quyền năng của Đức Thánh Linh.  5  Vì ông muốn đức tin của người Cô-rinh-tô phải nương dựa nơi quyền năng của Đức Chúa Trời chứ không phải nơi tài hùng biện của người diễn thuyết.  Phao-lô không phải là một nhà diễn thuyết ngon ngọt, thuyết phục người Cô-rinh-tô trở thành Cơ Đốc nhân.  Ông khác với các nhà diễn thuyết “đại chúng” ở chỗ ông không điều chỉnh nội dung sứ điệp của mình để phù hợp với các phương pháp thuyết phục đang rất thịnh hành tại Cô-rinh-tô, vì Đức Chúa Trời đã loại bỏ các nhà tranh luận của thời ấy (ICo 1:20).

4. Sự khôn ngoan được tỏ ra bởi Đức Thánh Linh (ICo 2:6-16)

Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời tương phản với sự khôn ngoan mà người ta thường ngưỡng mộ nơi giai cấp cai trị.  Đức Chúa Trời bằng lòng tỏ sự khôn ngoan của Ngài cho các sứ đồ cho chúng ta qua Đức Thánh Linh (c.10).  Chữ chúng ta được nói đến trong c.6,7,13 và 16 không phải đề cập đến các tín hữu Cô-rinh-tô, những người mà qua cách cư xử của mình, như được ghi trong bức thư này, đã chứng tỏ họ không phải là những người có tâm tình của Đấng Christ (c.16 đối chiếu 5:1  6:1  11:1).  Điều này cũng không đề cập đến tín hữu nói chung mà đề cập đến nhóm người duy nhất là các sứ đồ.

6-8 Phao-lô nhấn mạnh rằng ông không chỉ nói về Phúc Âm mà còn nói về sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.  Điều này đang được giảng cho những người trưởng thành.  Các nhà diễn thuyết có tài được những  người trong thời Phao-lô khâm phục, cũng dùng khái niệm này để chỉ về mình và tuyên bố rằng họ làm cho học trò mình được như vậy.  Họ sẽ là những nhà cai trị tương lai cho các thành phố và các xứ sở.  Có thể Phao-lô hiểu rõ điều này khi ông nói sự khôn ngoan ông rao giảng chẳng phải là sự khôn ngoan của thời đại ông, cũng không phải là sự khôn ngoan của các nhà cai trị một thế giới chóng qua.  Sau đó ông định nghĩa sự khôn ngoan là gì (7).  Đó chính là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trước vốn bị giấu kín mà nay đã được bày tỏ và đã được định sẵn cho sự vinh hiển của chúng ta từ trước vô cùng.  Mặc dù được giáo dục kỹ lưỡng, các nhà cai trị thời bấy giờ vẫn không thể nào hiểu hết được điều này, nếu hiểu thì họ đã không tham dự vào việc đóng đinh Chúa Giê-xu, Đấng được gọi là Chúa vinh hiển (đối chiếu Cong 13:27).

9 Es 64:4 được trích dẫn vì nó giúp người đọc chú ý đến ân điển hoàn toàn bất ngờ mà Đức Chúa Trời ban cho những kẻ yêu mến Ngài.  10a Không phải câu Kinh Thánh Ê-sai này muốn đề cập đến những điều chúng ta sẽ khám phá trong tương lai qua mục đích cá nhân của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài, hay những món quà bất ngờ, vì Phao-lô dùng thì quá khứ khi ông tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đã dùng Đức Thánh Linh để bày tỏ điều đó cho chúng ta, là các sứ đồ (đối chiếu IPhi 1:12).  10b-11 Cũng giống như chỉ mỗi người mới biết mình thực sự nghĩ gì, chỉ Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời mới biết được ý nghĩ của Đức Chúa Trời.  12 Các sứ đồ không suy nghĩ theo cách của người đời, vì họ đã nhận được cùng một Đức Thánh Linh để có thể hiểu được những gì Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một cách rộng rãi trong Con Ngài.  13 Các sứ đồ không sử dụng sự khôn ngoan của thế gian để truyền đạt chân lý, nhưng trái lại họ đã cậy sự khôn ngoan Đức Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giãi bày sự thiêng liêng.  Họ không áp dụng các phương pháp hùng biện mà các nhà diễn thuyết đã dùng.

14-15 Người không có Đức Thánh Linh, nguyên văn là “con người thiên nhiên”, luôn khước từ những gì Đức Thánh Linh chỉ dạy vì những điều này đòi hỏi sự thẩm định thiêng liêng.  Mặc khác người thiêng liêng xem xét mọi sự, tức là điều Đức Thánh Linh dạy.  Nếu đề cập đến các sứ đồ, thì rõ ràng đó là lý do vì sao Phao-lô nói rằng người thiêng liêng “không bị ai xử đoán”.  Nếu điều này đề cập đến các Cơ Đốc nhân có tâm trí thiêng liêng, thì nó có thể hàm ý rằng con người không thể xét đoán họ đúng hay sai, mà chỉ lời Đức Chúa Trời mới có thể thẩm định họ được.  16 Phao-lô trích dẫn Es 40:13 với nội dung thắc mắc liệu có ai hiểu được ý Chúa để có thể chỉ dẫn chính Ngài.  Ông khẳng định rằng các sứ đồ biết ý muốn của Đấng Cứu Thế, Ngài chính là Chúa.  Phải chăng điều này có nghĩa là Phao-lô không xem việc những người Cô-rinh-tô xem xét và xử đoán ông là quan trọng (đối chiếu ICo 4:3).

Khúc Kinh Thánh đề cập đến một thực tế là Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời “đang phán”(đối chiếu Phu 4:33-36), Đấng đã chọn các tôi tớ Ngài, là các sứ đồ, để tỏ bày tấm lòng và ý muốn của Ngài.  Việc gán cho lời của các sứ đồ “chúng tôi giảng”, “chúng ta nói” (cả hai cụm từ đều ở thì hiện tại, c.6,13) chính là nói về sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ và nhấn mạnh đến một thực tế là các sứ đồ đã giảng lời của Đức Chúa Trời – lý do tại sao về phương diện lịch sử, Hội Thánh đã có quan điểm rằng những điều các sứ đồ nói chính là điều Đức Chúa Trời phán.

5. Những vấn đề mà các tín hữu tại thành Cô-rinh-tô đang đối diện (ICo 3:1-22)

Phao-lô đề cập việc ông đến thành Cô-rinh-tô để minh hoạ những điều ông bàn luận trong ICo 1:10-31 về sự khoe mình trong Chúa, và trong 3:1-23 cũng vậy.  Ông bàn đến các vấn đề có tính căn nguyên và vẫn đang tiếp diễn của các tín hữu Cô-rinh-tô liên quan đến sự chia rẽ (c.1-9), vai trò của vị sứ đồ thành lập Hội Thánh và mối quan tâm hiện tại cần có để xây dựng Hội Thánh vì sự xử đoán hầu đến trong tương lai (c.10-17), và kết luận bằng việc đính chính cách hiểu sai lầm về mối quan hệ giữa người giảng dạy đối với dân sự Đức Chúa Trời (c.18-23).

1 Như trong 2:1 và 2:3 Phao-lô mở đầu bằng một cụm từ “về phần tôi” khác để bàn thêm về những từng trải của mình tại thành Cô-rinh-tô.  Khi đến đây lần đầu tiên, ông không thể xem họ như người thiêng liêng mà chỉ là người xác thịt và “con đỏ”.  2 Tình trạng của họ được xác định qua việc chế độ ăn uống của họ từ ban đầu cho đến lúc ông đến vẫn không thay đổi.  3 Việc họ vẫn còn là mang tính xác thịt được thể hiện rõ qua việc họ ghen ghét và cãi vã nhau về những người giảng dạy.  Anh em chẳng ăn như người thế gian sao? có nghĩa là họ vẫn sống theo cách của người đời.  4 Khi họ trung thành thái quá với người lãnh đạo của mình, có thể là Phao-lô hay A-bô-lô, ông lại hỏi: Anh em chẳng phải người cũng như kẻ khác sao? Tính chất thế gian trong thí dụ này bắt nguồn từ cách nghĩ thế gian về chức vụ hầu việc của Cơ Đốc nhân.  5 Công dân của thành Cô-rinh-tô phản ánh lối sống trần tục của họ qua việc đánh giá người khác dựa trên đặc quyền, địa vị và của cải của họ – Phao-lô thắc mắc rằng đây há không phải cũng là cách của các tín hữu tại thành Cô-rinh-tô đang áp dụng sao.  Ông dùng những thuật ngữ chỉ về thân phận thấp hèn để mô tả A-bô-lô và chính mình như tôi tớ, bởi kẻ đó anh em đã tin cậy.  Họ không thể kể đến ảnh hưởng cá nhân của họ bởi Chúa đã giao trách nhiệm cho mỗi người.  6 Trong xã hội thuộc địa La Mã giàu có, tinh hoa và hayxem thường những người lao động tay chân, Phao-lô đã nhận xét cả A-bô-lô lẫn chính mình như  những người làm vườn nhưng với những trách nhiệm khác nhau.  8 Người trồng và kẻ tưới có chung một mục đích giản đơn giản, họ không cạnh tranh với nhau và mỗi người sẽ được thưởng tuỳ theo công việc mình.  9 Họ là những người đồng công của Đức Chúa Trời, cũng như người Cô-rinh-tô là ruộng và nhà của Đức Chúa Trời.  Tương tự những toà nhà nguy nga của thành phố Cô-rinh-tô, nơi tên của các ân nhân được khắc lên, người Cô-rinh-tô là những toà nhà của Đức Chúa Trời.  Không thế nào có những điều như “tín đồ của tôi” hoặc tôi là tín đồ “của” mục sư này hay nhà truyền giáo nọ Cơ Đốc nào đó.

10 Bởi ơn của Đức Chúa Trời mà Phao-lô trở thành vị sứ đồ thành lập Hội Thánh hay nhà kiến trúc Hội Thánh.  Các giáo sư khác tiếp tục xây cất toà nhà này và cần phải thực hiện việc đó một cách hết sức cẩn thận.  11-12 Chúa Cứu Thế Giê-xu là cái nền duy nhất.  Vật liệu xây dựng có thể chỉ là loại tạm thời hoặc bền lâu (dù người ta không thường sử dụng vàng, bạc, đá quí, ngoại trừ để trang hoàng toà nhà).  13 Ở thế kỷ I, đã có những người thợ xây không chân thật tồn tại, nhưng sẽ có ngày phán xét khi mọi việc sẽ được đưa ra ánh sáng và vật liệu ấy sẽ được thử lửa.  15 Những người thợ xây không chân thật sẽ chứng kiến mọi việc họ làm bị ném vào ngọn lửa, và chính họ sẽ bị thiêu cháy.  Sự cứu rỗi họ nhận không bị bàn cãi, nhưng nhiệm vụ trong Hội Thánh mà Đức Chúa Trời giao cho họ đã bị nghi ngờ bởi chính các hành động của họ.  16 Bên cạnh lập luận đã được dùng trong câu 9, ông mô tả dân sự Đức Chúa Trời là đền thờ nơi có Đức Thánh Linh ngự.

18 Người Cô-rinh-tô kiêu hãnh về sự khôn ngoan của mình.  Phao-lô kêu gọi những người được xem là “khôn ngoan” hay “cao quý” trong vòng các tín hữu phải nhận ra sự dại dột của mình để họ có thể trở nên khôn ngoan.  19-20 Lý do của điều này được trình bày và được hậu thuẫn của những câu trích từ Giop 5:13 và Thi 94:11.  21 Từ Vậy tóm tắt lại điều ông muốn nói với người Cô-rinh-tô về những gì ông đã bàn luận cho đến điểm này: không nên khoe khoang về con người.  Mọi thứ thuộc về họ, nếu Chúa Cứu Thế đã ban ơn dư dật cho họ bằng mọi cách (đối chiếu ICo 1:4-7).  22 Cộng đồng Cơ Đốc không thuộc về cá nhân người giảng dạy, nhưng người giảng dạy thuộc về cộng đồng.  Mỗi người họ đã nói “tôi thuộc về …” nhưng Phao-lô nói “Phao-lô, A-bô-lô và Phi-e-rơ tất cả đều là của anh em”.  Mọi sự trong đời sống đều thuộc về họ, kể cả hiện tại lẫn tương lai.  23 Họ không thuộc về người giảng dạy, mà thuộc về Đấng Mê-si-a, Đấng thuộc về Đức Chúa Trời.  Phao-lô không bao giờ nói đây là “Hội thánh của tôi” mặc dù ông là vị sứ đồ đã sáng lập Hội Thánh.

6. Sự hầu việc và xét đoán (ICo 4:1-5)

1 Phao-lô sử dụng hai khái niệm rất thích hợp để mô tả vai trò của người giảng dạy trong Hội Thánh – đầy tớ nghĩa đen là “người được tuyển dụng”, và kẻ quản trị, nghĩa đen là “người quản gia”.  Chữ “đầy tớ” mang ý nghĩa về sự đáp ứng của cá nhân với Chúa Cứu Thế trong công tác mà Ngài giao cho người ấy làm.  Cụm từ “kẻ quản trị” đề cập đến hoạt động tại chỗ của người đầy tớ chủ chốt trong một gia đình, nhiệm vụ của người này là chuyển giao các tài sản của chủ cho các thành viên trong gia đình theo nhu cầu của họ.  Điều Phao-lô được giao phó chính là sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời, nghĩa là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời đã được đề cập trong chương trước.  Ông là người truyền đạt lẽ thật.  2 Những người quản gia đời này thường có một số phẩm chất nào đó.  Trong phạm vi Cơ Đốc giáo thì trung thành là phẩm chất cần phải có – những bằng chứng về sự bất trung của đời này thì rất nhiều.  3a Phao-lô không bận tâm gì về lời đoán xét của người khác, dù chúng đến từ cộng đồng tín hữu hay từ bất kỳ toà án nào của con người (đối chiếu 2:1-5  Cong 17:19-34, cho biết những lời đoán xét này nhắm vào những người giảng dạy giữa công chúng).  3b-5 Tuy biết rằng trong chức vụ của mình không có những sự hướng dẫn sai sót, Phao-lô vẫn nhấn mạnh rằng chính Chúa là Đấng đoán xét ông, và kết luận bằng một mệnh lệnh rằng họ chớ nên xét đoán trước thời điểm, tức là Ngày của Chúa.  Chính Chúa Cứu Thế là Đấng sẽ làm tỏ bày những việc làm xấu xa và sẽ đoán xét không chỉ hành động mà cả động cơ của những hành động ấy nữa.  Đó chính là lúc mỗi người sẽ nhận lấy lời khen ngợi mình từ Đức Chúa Trời.  Như IICo 10:10-13 cho biết, các tín đồ tại Cô-rinh-tô khó lòng học thuộc được bài học này kết quả là Hội Thánh vẫnh không có chuyển biến gì tốt hơn.

7. Sự hầu việc và địa vị (ICo 4:6-13)

Phân đoạn này có một mối liên kết rất rõ ràng với ICo 4:1-5.  Những sự so sánh của hội chúng tại Cô-rinh-tô về Phao-lô và A-bô-lô (một sự đoán xét hấp tấp) đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai hầu việc Chúa của hai vị này tại thành Cô-rinh-tô (xem phần trình bày trong 16:12, cho thấy rằng Hội Thánh đã viết thư đặc biệt mời A-bô-lô về lại Cô-rinh-tô).  6a Cụm từ Tôi đã dùng những lẽ thật này liên quan đến một biện pháp văn chương thường được gọi là “phép tu từ ”, được dùng để đề cập đến một cá nhân hay tình huống gián tiếp, và là một hình thức mỉa mai.  Phao-lô sử dụng phép tu từ, và hình thức châm biếm này để đạt được hiệu quả tối đa, mặc dù như nội dung bàn luận cho thấy thực tế ông không hề giấu giếm ý định của mình.  Ông dùng phép tu từ này để Hội Thánh học biết được ý nghĩa của câu nói chớ vượt qua lời đã chép.  Câu này muốn ám chỉ về Kinh Thánh Cựu Ước, là những câu mà Phao-lô đã đề cập trong chương1-4.  Cách ăn ở của Hội Thánh Cơ-Đốc được ràng buộc bởi lời Kinh Thánh.  Chắc chắn đây là vấn đề mà Phao-lô đề cập trong bản cáo trạng về người Cô-rinh-tô, vì Kinh Thánh đóng vai trò quyết định trong cách đánh giá của Phao-lô đối với các tín hữu đã thần tượng sự khôn ngoan và tài hùng biện của người đời.  Phao-lô đang sửa lại cách ăn ở của họ bằng cách hướng nhận thức của họ đến sự thay đổi tư tưởng và cách sống.  6b Trong câu này, tất cả điều gì họ làm đều được giải thích rõ ràng, là vì mỗi người tự hào về người thầy này mà làm mất lòng một người thầy khác.  7 Với ba câu hỏi khiến người nghe sợ hãi, ông đã dạy họ phải loại bỏ cách ăn ở trái với Kinh Thánh.  Câu hỏi thứ nhất liên quan đến 1:30, cho biết công tác của Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế đã khiến họ có được giá trị thật sự như hiện tại.  Câu thứ hai liên quan đến phần cảm tạ trong 1:4-9, ở phần này họ được nhắc nhở rằng họ được làm cho giàu có về mọi mặt trong Chúa Cứu Thế, và đặc biệt là sự dư dật về ân tứ mà họ đã được ban cho.  Câu hỏi thứ ba giải thích lý do vì sao sự khoe khoang của họ hoàn toàn không thích hợp, vì các ân tứ họ có không phải do họ tự tạo, cũng không phải xuất phát từ đặc quyền hay địa vị của họ, cho dù sự khoe khoang của họ cho thấy rằng những ân tứ này thật sự có nguồn gốc từ những điều ấy.

Sau khi đã đưa ra các câu hỏi loại trừ được một cách có hiệu quả mọi sự khoe khoang của tín hữu, Phao-lô đã dùng ngay cách nói mỉa mai trong câu 8-13. Phao-lô nêu lên sự tương phản giữa các tín hữu Cô-rinh-tô và các sứ đồ.  8 Các nhà hùng biện và những kẻ thuộc tầng lớp cao trong xã hội đã khoe mình rằng sự đầy đủ của cá nhân được đảm bảo nhờ sự giàu có và quyền lực chính trị của họ, đó là những điều giúp họ sống như những người được tự do (xem The Worse overcomes the Better 32-34 của Philo).  Phao-lô tuyên bố một cách mỉa mai rằng các tín hữu cũng đang ăn ở như thế và chẳng nhờ chúng tôi.  Ông ước gì họ là vua để ông cũng có thể làm vua như họ.  9 Đó  không phải là điều quan trọng vì Đức Chúa Trời đã đặt các sứ đồ ở một vị trí thấp hèn – như những nô lệ bị bắt làm phu tù đã nhập vào cuối của đám rước những đoàn duyệt binh chiến thắng của Đế quốc La Mã trước khi đem đi giết.  Các sứ đồ không chỉ bị xem là một cảnh tượng lố lăng bày ra trước mắt loài người mà trước mắt cả một thế giới vô hình.  10 Đến đây, Phao-lô so sánh cách mô tả về thân phận về mặt “xã hội” của không nhiều người được đề cập trong 1:26 và của các tín hữu Cô-rinh-tô, và so sánh thân phận về mặt xã hội của những người được Chúa chọn (1:27-28) với thân phận các sứ đồ.  11 Thậm chí cho đến mức này họ vẫn bị đối xử như những tù nhân chiến tranh.  12-13 Trong khi tầng lớp xã hội khoe khoang rằng họ chưa hề làm việc tay chân thì Phao-lô đã trải qua điều này (đối chiếu 9:6).  Cách đáp ứng của các sứ đồ trước những sự hèn hạ chồng chất trên họ là thái độ nhẫn nại, và thậm chí họ đã đáp lại bằng sự chúc phước cả khi bị sỉ nhục.

8. Sứ đồ Phao-lô như người cha (ICo 4:14-17)

Tương tự các nhà cầm quyền thuộc địa Cô-rinh-tô của La Mã đã khắc trên các bia ký rằng Juliut Caesar là người cha đẻ của thuộc địa này, và thừa nhận quyền lực pháp lý của vị hoàng đế hiện tại bằng cách gán cho ông ta danh hiệu ấy, Phao-lô đã dùng hình ảnh người cha đẻ của cộng đồng Cơ Đốc để khuyên họ noi gương chính mình.  14 Trong một nền văn hoá như thế, việc bị phê bình thật là điều xấu hổ.  Phao-lô khẳng định với người Cô-rinh-tô rằng mục tiêu của ông không phải để làm họ xấu hổ, nhưng trái lại để khuyên bảo họ như con cái yêu dấu của tôi.  15 Những người giàu có tại thành Cô-rinh-tô luôn có những tôi tớ, người bảo vệ, là những người đưa con trẻ của họ đến trường và coi sóc chúng (bản tiếng Việt dịch là thầy giáo).  Phao-lô xác định với các tín hữu Cô-rinh-tô rằng họ cũng có nhiều người bảo vệ như thế, nhưng điều đó không có nghĩa là họ có nhiều cha.  Phao-lô tuyên bố rằng chính ông có mối quan hệ cha con với họ vì trong Đấng Christ ông đã dùng Tin Lành mà sanh họ ra.  16 Trên cơ sở này, ông khuyến khích họ nên bắt chước ông.  Việc bắt chước này không giống như môn đồ bắt chước thầy từ cách ăn mặc, đi đứng và cách dạy dỗ, nhưng trái lại phải giống ở việc đón nhận sự nhục nhã vì cớ thập tự giá.  17 Ti-mô-thê, người đồng lao trung thành và là con yêu dấu của Phao-lô, sẽ đến để nhắc họ về cách sống của Phao-lô trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, là cách sống mà ông giảng dạy trong Hội Thánh khắp nơi.  Phao-lô không chỉ giảng dạy về bản chất của môn đồ thật, nhưng đã đưa giáo lý vào cuộc sống và mong muốn mọi tín hữu bắt chước ông.

9. Tín đồ Cô-rinh-tô trước những chọn lựa (ICo 4:18-21)

Nước Đức Chúa Trời không phải là triết lý xa rời cuộc sống, mà là quyền năng – quyền năng biến cải (đối chiếu 6:9-11).  Quyền lựa chọn thuộc về họ (c.21).  Một là họ ăn năn cách ăn ở của mình để Phao-lô có thể đến với họ trong tinh thần yêu thương và nhẹ nhàng, hai là ông sẽ đến như một người cai trị của đời này cùng với các vệ sĩ  tay cầm roi như là dấu hiệu thể hiện quyền hành phạt của họ.

Trong phần Kinh Thánh từ 1:4 đến 4:21, Phao-lô đã giải quyết vấn đề tranh cãi về thái độ đúng đắn của Cơ Đốc nhân đối với sự hầu việc Chúa.  Điều này phải được đón nhận như là sự hầu việc nhằm định hướng Phúc Âm, chứ không phải một kiểu lãnh đạo nào đó của Cơ Đốc nhân, đơn thuần được mô phỏng từ những kiểu mẫu ngoài đời và gởi gắm cho Cơ Đốc nhân có ý thức văn hoá ở thành Cô-rinh-tô.  Phao-lô không dùng từ “người lãnh đạo” vì những hàm ý về sự ưu tú và về chính trị của từ này hoàn toàn không phù hợp với chức vụ hầu việc của Cơ Đốc nhân.  Ông không có khách hàng hay môn đệ như những người bảo trợ ngoài đời.  Hội Thánh đã không nhận thức và không mang lại kết quả cho chức vụ mà Chúa Cứu Thế đã giao cho Hội Thánh và nhân loại, và kết quả là đời sống Cơ Đốc cộng đồng của họ đã bị sa sút.  Vì những lý do tối quan trọng trên mà điều này trở thành điều ưu tiên một trong những việc mà ông dự định sẽ giải quyết.  Nhiều điều phụ thuộc vào sự trưởng thành ngày càng hơn của họ trong vấn đề này, nhưng họ đã không tích cực trong việc thực hiện.  Xuyên suốt lịch sử Hội Thánh, các vấn đề này vẫn xảy ra thường xuyên.

3. CÁC VẤN ĐỀ LUÂN LÝ (ICo 5:1-6:20)

1. Sự vô luân và mức độ kỷ luật chính đáng của Hội Thánh (ICo 5:1-8)

Phần báo cáo thứ nhất đề cập về sự chia rẽ (1:11), phần thứ hai liên quan đến tội loạn luân (5:1).  Đôi khi người ta cho rằng việc làm đồi bại của thành viên này trong Hội Thánh đã được các tín hữu khác chấp nhận.  Tuy nhiên, đó chỉ là một sự suy diễn.  Nguyên văn của phân đoạn Kinh Thánh này không cho thấy rằng các tín hữu đó khoe khoang về sự phóng đãng của thành viên này.  Dường như người phạm tội là một nhân vật có địa vị cao và các tín hữu khác đã tán thưởng chính cái địa vị cao này chứ không phải sự phóng đãng của anh ta.  Theo luật La Mã, nếu bị đưa ra toà vì hành vi như thế thì người này có khả năng bị trục xuất khỏi thuộc địa danh tiếng này của La Mã.  Vì không tồn tại sự khởi tố công khai nên cần phải có một sự khởi tố riêng tư.  Chỉ một người có địa vị ngang hàng với anh ta hoặc cao hơn mới có thể đảm nhiệm các trình tự pháp lý như thế.  Xã hội và Hội Thánh thường làm ngơ với “những việc làm sai trái” của những tín đồ có quyền thế trong xã hội, nhưng với Hội Thánh thì điều này cũng đồng nghĩa với sự mất mát lớn về mặt thuộc linh.

1 Kẻ phạm tội đã loạn luân với vợ của cha mình.  Từ là một uyển ngữ thường được dùng để chỉ sự giao hợp (đối chiếu 7:2).  Người phụ nữ này có thể là mẹ của kẻ ấy mà cũng có thể không phải – có thể đó là người mẹ kế.  Luật La Mã không tha thứ hành vi ấy và các bộ luật khác cũng như vậy (đối chiếu Phu 22:30).  2 Đáng ra Hội Thánh phải dứt phép thông công của người này thay vì tự hào về địa vị xã hội của anh ta.  3 Với tư cách là vị sứ đồ thành lập Hội Thánh, Phao-lô đã xét xử hành vi này như thể là ông thực tế đang có mặt, về phần tôi, thân dầu xa cách lòng tại đó.  4 Ông yêu cầu phải dùng cách xét xử nghiêm khắc nhất, kêu gọi Hội thánh họp lại trong danh (nghĩa là trong bản tính và quyền năng của) Chúa Giê-xu và ý thức rằng Phao-lô như một quan án đang hiện diện.  Quyền năng của Chúa Giê-xu, rõ ràng được viện dẫn qua sự cầu nguyện, sẽ hiện diện để phó người này cho quỉ Sa-tan (5), nghĩa là loại người này khỏi cộng đồng tín hữu trên đất này để huỷ diệt bản tính tội lỗi (phần xác thịt) -đối chiếu Ga 6:8  ICo 11:30-32.  Người này vẫn được xem là Cơ Đốc nhân.  Cộng đồng Cơ Đốc làm điều này chỉ với mục đích giúp linh hồn anh được giải cứu trong ngày phán xét.  6 Sự khoe khoang của người Cô-rinh-tô với sự ngưỡng mộ dành cho  người này là điều đáng bị lên án như đã từng thực hiện ở những chỗ khác (đối chiếu các chương 1-4).  7 Lý do của việc dứt phép thông công này căn cứ một phần vào việc làm bánh không men trong ngày lễ Vượt Qua ở Cựu Ước (đối chiếu Xu 12:15-20), khi men làm bánh có khả năng làm dậy bột sẽ không được dùng để làm bánh cho Lễ Vượt Qua.  Thay vào đó, thứ men làm dậy bột này phải bị vứt bỏ, điều này ngụ ý rằng kẻ nào vi phạm luật phải bị loại ra khỏi cộng đồng.  Chính vì lý do này mà Đấng Christ, con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã chịu giết rồi.  8 Trong tinh thần hy sinh của Chúa Cứu Thế, chắc chắn kỳ lễ của sự vui mừng này phải được kỷ niệm không phải với những ảnh hưởng của điều xấu và gian ác đang xâm nhập, mà với sự chân thành và lẽ thật.

2. Phạm vi xét đoán của Hội Thánh (ICo 5:9-13)

9 Một bức thư mà Phao-lô viết trước bức thư này đã bị hiểu sai (đối chiếu IICo 6:14-7:1, đã từng bị sử dụng sai ý nghĩa khi yêu cầu Cơ Đốc nhân phải phân rẽ khỏi xã hội loài người).  Bức thư này đã chi phối việc kết giao với những người luân lý suy đồi.  10 Phao-lô đã chấn chỉnh lại sự hiểu lầm cho rằng ông đã lên án sự tiếp xúc về phương diện đời này với những người luân lý suy đồi, là những kẻ tham lam, kẻ lường gạt và những kẻ thờ hình tượng.  Nếu đúng là như thế thì Cơ Đốc nhân có lẽ phải sống tách rời với thế giới theo cách của một số giáo phái thuộc Do Thái giáo, như Therapeutae và Essenes.  11 Ở đây, Phao-lô làm rõ những điều đã bị hiểu lầm trước đó – Cơ Đốc nhân phải rút lui khỏi bất kỳ tín hữu nào sống phóng đãng trong tình dục, tham tiền (nghĩa là tham lam), thờ hình tượng, say rượu (khách ăn uống thời cổ đại nổi tiếng về việc uống rượu và dâm loạn, đối chiếu phần bàn luận ở ICo 10:7), hoặc những người kinh doanh không trung thực.  Thông công bàn tiệc bị cấm.  12 Điều lý thú là Phao-lô không xem mình như quan án xét xử cách ăn ở của xã hội đời này.  Với câu hỏi yêu cầu một câu trả lời khẳng định, Phao-lô nhấn mạnh rằng cộng đồng Cơ Đốc phải có trách nhiệm phân xử nội bộ, nghĩa là các thành viên của mình.  13 Việc đoán xét cách ăn ở không thích hợp của người ngoài là việc của Đức Chúa Trời, còn Hội Thánh phải trục xuất kẻ phóng đãng ra khỏi cộng đồng của mình, là một điểm mà Phao-lô muốn nhấn mạnh khi trích dẫn Phu 17:7.  Hội Thánh ngày nay dễ phê phán những sai trật về đạo đức hay cơ cấu của cộng đồng bên ngoài nhưng lại miễn cưỡng sửa sai hành vi đạo đức của tín hữu. Chúng ta đã làm đảo ngược thứ tự  ưu tiên mà Phao-lô đã đưa ra.

3. Việc kiện cáo trong vòng các tín hữu (ICo 6:1-8)

Trong giới những người tài hoa của xã hội ở vào thế kỷ I, việc đưa ra toà những kiện tụng dân sự về các vấn đề nhỏ nhặt nhằm giúp một người tạo được vị thế xã hội và chính trị vượt trội hơn những người khác từng là hành động được hoan nghênh.  Trong những trường hợp như vậy, để có thể đưa ra quyết định, người thẩm phán phải xét đến thân thế và quyền lực của bên nguyên cáo, và quan toà phải tùy theo đó mà ra mức phạt.  Ngoài ra, có một số trường hợp mà người này không được phép kiện tụng người khác chẳng hạn con trai kiện cha, nô lệ kiện chủ, người được tự do kiện người bảo lãnh mình, công dân kiện quan toà, và người có địa vị xã hội thấp kiện người có địa vị xã hội cao.  Quan toà và thẩm phán thường được những người tham gia vụ kiện hối lộ.  Tại các toà án Do Thái và toà án Hi-La, người ta thường sử dụng phương thức điều đình hơn là tranh chấp.  Đây cũng là cách chọn lựa của một số người bởi vì các công dân làm công tác lãnh đạo lo ngại rằng việc tranh cãi sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến chỗ đứng trong xã hội và những công việc trước công chúng của họ.  Sự thù hằn cũng xuất hiện, vì những ai bỏ phiếu chống bị cáo thì lập tức trở thành kẻ thù của bị cáo.  Đối với người có giai cấp cao, kiện tụng dân sự đơn giản được xem như một sự phát triển bè phái và sự bất hoà trong đời sống chính trị.

Điều nổi bật là Phao-lô mở đầu vấn đề bằng một loạt câu hỏi với mục đích để hỏi lẫn để dạy dỗ (đối chiếu chương 9, trong đó ông đặt ra mười chín câu hỏi).  1 Theo cách thức hoạt động của các toà án địa phương, không có gì ngạc nhiên khi Phao-lô lấy làm kinh sợ khi biết một số tín hữu dám đưa những vấn đề dân sự ra nhờ các quan toà được bầu cử hàng năm và những người đồng hương giàu có xét xử.  Họ hành động như thẩm phán, quan toà hết sức thiên vị và có thể cũng sẽ nhận hối lộ.  2 Nếu các thánh đồ phải đoán xét thế gian (đối chiếu Da 7:22) thì họ chắc chắn sẽ có đủ khả năng để làm người hoà giải trong các vụ kiện dân sự mà Phao-lô gọi là việc nhỏ mọn.  Từ ngữ được dùng cho thấy rằng việc giải quyết những vấn đề dân sự mà họ kiện tụng chắc chắn sẽ rắc rối hơn việc giải quyết các vấn đề chính đáng.  3 Một lần nữa Phao-lô sử dụng hình thức lý luận mà ông hay dùng, anh em chẳng biết... sao? (đối chiếu câu 2), cho thấy rằng nếu các thiên sứ sẽ phải chịu sự xét đoán của các thánh đồ, thì chắc chắn họ sẽ giải quyết được những tranh chấp này.  4 Về những sự bất đồng, Phao-lô hỏi: “Sao lấy những kẻ không kể ra chi trong Hội Thánh làm người xét đoán?”.  Cách chuyển dịch này của bản NIV thích hợp hơn.  Trong khi các quan án đời này là những người có địa vị cao trong cộng đồng, thì đối với cộng đồng Cơ Đốc địa vị đời này không phải là điều quyết định. Ở đây, Phao-lô sử dụng từ ngữ tương tự với từ ông đã sử dụng trong ICo 1:28 chỉ về những người mà xã hội đời này khinh rẻ.

5 Một số người khôn ngoan (đối chiếu 3:18) có thể đã đảm nhận vai trò hoà giải, vốn là cách thức người ta chấp nhận để giải quyết các vấn đề ở toà án đời này.  Vào thế kỷ I, giai đoạn thứ ba của bậc giáo dục là đào tạo sinh viên các vấn đề về luật pháp, vì vậy có lẽ một số người trong Hội Thánh có thẩm quyền pháp lý để giải quyết các rắc rối một cách công bằng, hợp lý.  6 Phao-lô bày tỏ sự khiếp sợ của ông trước những hành động của họ bằng những từ anh emkiện anh em (khác) – vốn là từ thể hiện mối thông công của các tín hữu – và lại đem đến trước mặt kẻ chẳng tin!.  7 Thực tế của việc không giải quyết được vấn đề một anh em này kiện cáo với một anh em tín hữu khác là dấu hiệu thất bại của cộng đồng Cơ Đốc.  8 Nên nhận sai sót của mình hơn là để ra toà.  Vấn đề không chỉ là vạch áo cho người xem lưng mà còn là một án phạt về “sự lừa dối” sẽ giáng trên kẻ thua kiện – vì vậy, ông lên án chính anh em làm ra sự trái lẽ, chính anh em gian lận. 

Trong Ro 13:1-7 Phao-lô bàn đến vai trò của nhà cầm quyền  được Đức Chúa Trời ban trong các vụ kiện hình sự, nhưng ông không dành chỗ cho các thẩm phán và quan án của địa phương được bầu lên , những người dùng các vụ kiện dân sự như một lĩnh vực hoạt động chính trị.  Các tín hữu đã được huấn luyện về pháp luật và đóng vai trò người hoà giải nên giải quyết vấn đề theo cách công bằng trong xã hội, nơi mà những qui ước bất công đang thống trị.

4. Phản đối chủ nghĩa tự do trong Cơ Đốc nhân (ICo 6:9-20)

Trong 1:18-32 bảng liệt kê của Phao-lô về những tội phải lãnh sự đoán phạt của Đức Chúa Trời không chỉ có những tội về tình dục (c.29-31).  Ở đây cũng vậy, những tội này làm cho người phạm tội bị truất khỏi cộng đồng những người tin Chúa, cũng khiến họ không nhận được cơ nghiệp Đức Chúa Trời (9b-10).  Xã hội đời này đã phát triển một loại lý lẽ triết học phức tạp vốn tán thành lối sống phóng đãng của tầng lớp quí phái.  Các hành động sai trật của họ có lẽ đã vượt ngoài ngoài giới hạn của luật pháp đời này, nhưng chúng không nằm ngoài phạm vi xét xử của Đức Chúa Trời.  Về phần Cơ Đốc nhân, rõ ràng trước đây đã từng tồn tại một giới hạn cho sự tự dối mình giống như ngày nay.  Sự phóng đãng tình dục (pornoi bao gồm những người gian dâm, nghĩa là các tín hữu chưa lập gia đình sống chung như vợ chồng), thờ thần tượng, những kẻ lường gạt vợ mình tuy nhiều bà vợ bỏ qua điều này, những kẻ tham gia vào hành vi đồng tính luyến ái, kẻ trộm cắp, kẻ tham lam vốn không thoả mãn với những điều tốt lành của Đức Chúa Trời ban cho, những kẻ say sưa (những kẻ ăn uống say sưa hoan lạc trong những bữa ăn tối), và những kẻ không trung thực trong việc làm ăn – tất cả những người này không được hưởng phần trong Nước Đức Chúa Trời.  Không có tội nào trong số này có thể khiến  cho mối quan hệ của một người với Đức Chúa Trời và với người khác được vững mạnh hơn như trong Mười Điều Răn, các tội ấy bị cấm phạm vì chúng mang tính huỷ diệt, không ích lợi cho các mối quan hệ, và gây ra đau buồn và khổ sở.  11 Đó chính là những việc làm sai trật của người Cô-rinh-tô.  Họ phóng đãng không thua gì những người khác trong xã hội.  Trước kia và bây giờ cũng vậy.  Nhưng công việc của Chúa Cứu Thế là tẩy  sạch quá khứ của họ, khiến họ trở nên thánh đồ, được xưng công bình, nghĩa là giúp họ được miễn trừ sự phán xét công bình nhờ danh Chúa Cứu Thế Giê-xu. Việc này thông qua hành động của Thánh Linh của Đức Chúa Trời.  Tin mừng của Phúc Âm có ý nghĩa là những việc làm tội lỗi trước đây của con người không còn quyết định số phận đời đời của con người nữa.

12 Phao-lô trích những câu khẩu hiệu tự do phổ biến mà ông đã dùng những câu nói súc tích tương tự để chống lại.  Những người khôn ngoan lý luận rằng sự thành công của họ cho phép họ làm được mọi điều họ muốn, vì mọi việc đều hợp pháp.  Nhưng Phao-lô đưa ra nguyên tắc đạo đức làm lợi chớ không lợi dụng, chẳng phải mọi việc đều ích, tức nguyên tắc ban phước cho người khác.  Họ lý luận rằng mọi việc đều được phép làm – không hạn chế gì cả.  Phao-lô nhấn mạnh rằng đừng bao giờ làm nô lệ cho hành động 13 Họ lý luận rằng thức ăn được làm ra để dùng và dạ dày được tạo ra là vì thức ăn.  Nghiên cứu kỹ các sách hướng dẫn nấu ăn của thế kỷ I, ta mới thấy tội tham ăn phức tạp làm sao.  Trong các buỗi lễ của dân ngoại, sự gian dâm và thói phàm ăn thường đi đôi với nhau.  Phao-lô phản bác lại rằng cả đồ ăn lẫn sự ngon miệng đều không phải là không thể huỷ diệt được.  Ngoại trừ hôn nhân, người ta không nghĩ rằng thân thể không được dính líu đến tình dục, nhưng với Cơ Đốc nhân thân thể không thuộc về họ, họ không thể dùng thân để làm điều mình muốn, vì thân thể họ được dựng nên cho Chúa.  14 Phao-lô bác bỏ lý luận của Plato cho rằng các giác quan của con người phải được thoả mãn trong hiện tại vì chúng không thể được thoả mãn khi sự chết đến.  Tuy nhiên, Đức Chúa Trời sẽ khiến thân thể, không phải linh hồn, sống lại, vì Ngài đã khiến Chúa sống lại.  15 Không một Cơ Đốc nhân nào có thể nói “thân thể của tôi” vì khi trở lại tin nhận Chúa, không chỉ có linh hồn mà là toàn bộ con người được liên hiệp với Chúa Cứu Thế.  Cơ Đốc nhân, những người được gọi là chi thể của Chúa Cứu Thế, không bao giờ có thể hiệp một với một gái mãi dâm trong quan hệ tình dục được.  16 Mặc dù được chấp nhận như tiêu chuẩn của nam giới trong thế giới La Mã, nhưng cách ăn ở như vậy vẫn luôn bị ngăn cấm trong Hội Thánh vì có sự hiệp một về tình dục trong mối quan hệ giữa hai người.  Phao-lô thường trích dẫn sự trở nên một trong tình dục mà Sa 2:24 đã đề cập - trong Kinh Thánh không có trường hợp nào bào chữa cho tội tà dâm.  20 Không có Cơ Đốc nhân nào có thể nói “thân thể của tôi” vì họ đã được mua bằng một giá, đó là được chuộc bằng sự chết của Chúa Cứu Thế.  Điều này rõ ràng ngụ ý rằng trách nhiệm của họ là phải tôn vinh, nghĩa đen là làm Đức Chúa Trời được “vinh hiển” trong thân thể mình, và điều này được thực hiện qua việc liên kết với người khác cả về phương diện xã hội lẫn phương diện tình dục trong phạm vi những mối liên hệ mà Kinh Thánh cho phép.

4. CÁC VẤN ĐỀ VỀ HÔN NHÂN (ICo 7:1-40)

Đây là phần dài nhất thảo luận về tình dục và các vấn đề liên quan trong tất cả các thư tín của Phao-lô.  Nó chứa đựng những thông tin hết sức quan trọng về các vấn đề chưa được nêu ra ở những phần khác.  Nếu không hiểu được những hoàn cảnh đã đưa đến các vấn đề được chép trong ICo 7:1 và 7:25 có ý nghĩa gì thì không thể nào hiểu được lời giáo huấn giá trị của Phao-lô về việc sống độc thân và lập gia đình.

Về hoàn cảnh: một gợi ý nằm ngay trong bức thư này, vì Phao-lô đề cập đến tai vạ hầu đến trong 7:26 khiến các Cơ Đốc nhân phải nghĩ lại tính thích đáng của những cặp đính hôn sắp làm đám cưới (7:25).  Bằng chứng khảo cổ và văn chương cho thấy trong giai đoạn này thành Cô-rinh-tô đối diện với vấn đề thiếu hụt lương thực.  Điều này chắc chắn làm người ta lo tích trữ và xảy ra những cuộc nổi loạn vì xã hội bất ổn và tương lai thì bấp bênh.  Người ta phát hiện thấy mười một bia ký thuộc giai đoạn này viết về một người đã ba lần phụ trách việc cung cấp gạo tại Cô-rinh-tô.  Chức vụ này chỉ được bầu lên trong thời gian có nạn đói, vì thế có lý do chính đáng để liên kết “tai vạ” với mối đe doạ về nạn đói.  Tacitus cũng ghi lại những lần động đất và đói kém.  Nhiều người tin rằng đây là những điềm báo của Đức Chúa Trời.  Chúng ta biết Cơ Đốc nhân tin rằng những dấu chỉ của ngày tận thế là đói kém và động đất, và người ta xưng rằng thật phước cho những người không mang thai (Mat 24:7,19  Mac 13:17).  Ở đây Phao-lô không chỉ trả lời cho những câu hỏi cấp thời mà còn cung cấp một nguyên tắc cho vấn đề hôn nhân Cơ Đốc.

1. Đối với người đã lập gia đình (ICo 7:1-6)

1 Câu đầu tiên có thể dịch là “sẽ là một điều tốt nếu người nam không lấy vợ” theo bản NIV hay “sẽ là một điều tốt nếu người nam không có quan hệ tình dục với người nữ”(phần ghi chú của bản NIV).  Một lý do khiến việc dịch phân đoạn này thiếu sự chắc chắn là vì trong tiếng Hi Lạp từ dùng để chỉ “người nữ” và “vợ” thường giống nhau.  Thường thì trong tiếng Hi Lạp người ta không dùng đại từ khi đề cập đến người phối ngẫu của một người, vì thế câu này có thể được dịch theo nghĩa đen – “sẽ là điều tốt nếu người nam không đụng đến vợ (của anh ta)”.  Lý do để có cách dịch câu thứ hai chính là ở cách dùng động từ có nghĩa “chạm đến” trong câu.  Đó chính là cách nói trại về sự giao hợp của ngôn ngữ Hi Lạp và La-tinh, cũng như một số ngôn ngữ đương thời.  2 Vì tính cám dỗ của tình dục, nên mỗi người đàn ông phải vợ (đó là mệnh lệnh) và mỗi người đàn phải chồng.  Động từ “có” là một từ đồng nghĩa với việc có quan hệ tình dục.  3 Người chồng phải làm tròn bổn phận trong quan hệ tình dục với vợ mình và người vợ cũng phải có kết ước tương tự.

4 Thân thể của người vợ không còn là “tài sản riêng” của mình, và người nam cũng vậy.  Một khi đã lập gia đình, anh ta không được quan hệ tình dục với người đàn bà khác.  Trong kho tàng văn chương của thế giới cổ đại, chúng ta không thể tìm thấy một tài liệu nào khác dạy rằng người chồng đặc biệt chỉ dành thân thể mình cho người vợ đã cưới của mình.  Thực tế ngoài đời cho thấy một điều đã trở thành truyền thống ấy là vào ngày cưới, người ta tuyên bố với cô dâu rằng khi chồng cô ta gian dâm với một kỵ nữ hay với một người đàn bà lẳng lơ thì điều đó không phải là dấu hiệu chứng tỏ rằng anh ta không yêu cô, mà đó chỉ là một cách thoả mãn sự đam mê của anh ta.  5 Trong hôn nhân, việc người này không chịu quan hệ tình dục đồng nghĩa với việc khước từ người kia.  Phao-lô cấm sự tiết chế đó, ngoại trừ trường hợp cả hai bên đều đồng ý một lý do là dành thì giờ cầu nguyện, có lẽ điều này có liên quan đến “tai vạ hầu đến”.  Ông cảnh cáo rằng Sa-tan là một kẻ khiêu dâm có thể cám dỗ người vợ/chồng về mặt tình dục và vì lý do này họ phải trở lại hiệp cùng nhau (một động từ khác để chỉ quan hệ tình dục) vì sự cám dỗ sẽ đưa đến sự không chung thuỷ.

Chính ngoại lệ này cho thấy Kinh Thánh nhấn mạnh đến tầm quan trọng thuộc linh của quan hệ tình dục, xem nó như một phần của cơ cấu hôn nhân.  Điều này được ban cho con người không đơn giản chỉ vì mục đích sinh con đẻ cái, cũng không phải nó là một điều đáng hổ thẹn (đối chiếu He 13:4).  Phải chăng một số cặp vợ chồng Cơ Đốc, nhận thấy các dấu hiệu đói kém và động đất, nên đã quyết định kiêng cữ, quan hệ tình dục vợ chồng? Việc kiêng cữ này có lẽ duy nhất được chấp nhận nhằm mục đích tránh thai.  Kinh Thánh đã tiên hứa rằng phước cho phụ nữ không có thai vào thời điểm tận thế (Mac 13:17).

2. Ơn tứ sống độc thân và lập gia đình (ICo 7:6-7)

Trong câu phát biểu Ấy đó sự tôi thuận cho phép, chớ chẳng phải sự tôi truyền biểu (Điều tôi nói đây là thuận phép chứ không phải mạng lệnh), “điều tôi nói đây” đề cập đến câu 6-7 chứ không phải từ câu 1-5.  Trong câu 2-3,5, ông đưa ra sáu mạng lệnh – động từ “nên” - bản NIV dịch thành động từ nói về mạng lịnh.  7 Ông muốn mọi người nam đều như ông, tức là sống độc thân.  Song (“Nhưng”), là hình thức nhấn mạnh của tiếng Hi Lạp, ông thừa nhận rằng mỗi người được Đức Chúa Trời ban cho một ân tứ riêng, charisma, nghĩa là người này thì ở độc thân còn kẻ khác thì cưới vợ.  Đối với một số xã hội thì sống độc thân là chủ đề cho những lời cạnh khoé hiểm ác.  Trong Hội Thánh, điều này lúc thì được đánh giá quá cao, khi thì đánh giá quá thấp, cả hai đều trái với Lời Đức Chúa Trời.  Giống như các ân tứ khác, đây là ân tứ cá nhân mà Đức Chúa Trời ban riêng cho mỗi người.

3. Những người chưa cưới gả hoặc goá bụa (ICo 7:8-9)

Tôi nói với những kẻ chưa cưới gả, kẻ goá bụa rằng: họ nên duy trì tình trạng hiện tại của mình.  Tuy nhiên, Phao-lô thừa nhận rằng điều này có thể không thực hiện được và chú thích rằng có những trường hợp một người phải lập gia đình, vì thà lập gia đình hơn là lòng đầy những ham muốn tình dục không kiểm soát được.  Người như vậy nên nhận lấy ân tứ, charisma, mà Đức Chúa Trời cho họ là hôn nhân.

4. Đối với người đã lập gia đình (ICo 7:10-11)

Ở đây Phao-lô phân biệt giữa câu nói của Chúa Giê-xu, tức là Cứu Chúa (c.10,12) khác hẳn với câu nói của ông.  Mặc dù phải nhớ rằng Phao-lô đưa ra những mạng lệnh rõ ràng trong phần này.  Người vợ Cơ Đốc không được tự do lìa bỏ chồng.  Phao-lô thừa nhận rằng đôi khi có những trường hợp cần phải làm như vậy.  Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh như thế, cô ta chỉ có hai chọn lựa, hoặc vẫn ở trong tình trạng không hôn nhân (nghĩa đen là ly thân), hoặc phải làm hoà lại với chồng.  Người chồng cũng chịu sự ràng buộc nghiêm khắc tương tự mà Phao-lô trình bày rõ là cấm ly dị.  Trừ một ngoại lệ là gian dâm nhưng không ăn năn (Mat 19:9).  Việc cả hai người đều là Cơ Đốc nhân không bảo đảm rằng họ sẽ hạnh phúc, nhưng hạnh phúc chỉ có khi cả hai người đều yêu thương và sự tôn trọng lẫn nhau.  Tất cả những hành động thiếu thận trọng và không ăn năn đều đưa đến những hậu quả lâu dài.

5. Những chọn lựa đối với một người phối ngẫu chưa tin Chúa (ICo 7:12-16)

Phao-lô nói đến các cuộc hôn nhân đã được kết hợp trước khi một trong hai người trở thành Cơ Đốc nhân.  Yêu cầu một tín hữu goá chồng chỉ được phép tái hôn với một tín hữu khác cho thấy Cơ Đốc nhân không được tự do cưới người không cùng đức tin (ICo 7:39).  Hơn nữa, vợ các sứ đồ, những người được gọi là “chị em”, tức là người tin Chúa (9:5).  12 Việc vợ là người chưa tin Chúa không phải là cơ sở để người chồng tin Chúa ly thân hay li dị.  Có thể một số tín hữu buộc phải làm điều này do hiểu sai Kinh Thánh Cựu Ước, đó là những người Do Thái biết rõ điều cấm của Kinh Thánh Cựu Ước mà vẫn kết hiệp với người vợ không phải là người Do Thái thì  phải bỏ người vợ ấy.  Nếu người chưa tin ấy muốn ở lại, thì người chồng không được ly dị nàng.  Luật hôn nhân là điều Đức Chúa Trời ban cho toàn thể nhân loại (Sa 2:21-24) chứ không chỉ dành riêng cho Cơ Đốc nhân.  Người vợ là tín hữu cũng áp dụng cách tương tự (c.13).

14 Không có điều gì là bất khiết trong mối quan hệ này.  Trái lại, có ảnh hưởng thánh khiết nơi những ơn phước từ Chúa Cứu Thế tuôn tràn ra cho người khác.  Nếu đây là mối quan hệ bất khiết, thì con cái cũng là bị ô uế, nhưng sự thật là chúng vẫn “thánh khiết”.  Đây là ví dụ mà Kinh Thánh tuyên bố về địa vị của con cái trong gia đình có cha hoặc mẹ hay cả hai đều là Cơ Đốc nhân.  Với những Cơ Đốc nhân sống trong xã hội nhấn mạnh đến tính đoàn thể, đặc biệt là trong gia đình, họ sẽ có khuynh hướng xem đây như một sự tuyên xưng địa vị Cơ Đốc của con cái họ.  Còn những người sống ở Tây phương thì có quan điểm khác, đôi lúc tuỳ thuộc vào những khác biệt về giáo phái, và có thể phản ánh điều gì đó về niềm tin thầm kín trong một thời đại cụ thể mà họ được hình thành.

trong cơn đó... chẳng phải cầm buộc , nghĩa là không bị ràng buộc với hôn nhân ấy và vì thế điều này hàm ý rằng Cơ Đốc nhân đó được tự do để tái hôn, nhưng phải “theo ý Chúa” (đối chiếu câu 39).  Việc li dị được cho phép khi một trong hai người rời bỏ cuộc hôn nhân với lý do người phối ngẫu của mình trở thành Cơ Đốc nhân.  16 Dù với hy vọng rằng người phối ngẫu của mình sẽ trở lại tin Chúa, dù người còn lại đã tìm mọi cách để giữ lấy cuộc hôn nhân ấy, thì vẫn không có gì bảo đảm tuyệt đối rằng hy vọng này sẽ thành hiện thực.

6. Sự kêu gọi mang tính cá nhân của Đức Chúa Trời (ICo 7:17-24)

Từ câu 15 Phao-lô đề cập đến chủ đề sự kêu gọi của Đức Chúa Trời và tóm tắt những giáo lý mà ông đã trình bày trong tất cả  Hội Thánh.

17 Từ ơn (“chỗ đứng trong cuộc sống”) nghĩa đen là “sự kêu gọi” hay “cương vị”. Nghĩa thứ hai được các nhà văn đời này sử dụng.  Vào thế kỷ I, người trong xã hội được phân chia giai cấp cả về chủng tộc lẫn về xã hội với những đặc quyền cho từng giai cấp cụ thể.  Phao-lô nêu ra một nguyên tắc tổng quát là họ phải giữ địa vị hiện tại mà Chúa đặt để mỗi người và như mỗi người đã được gọi.  18 Thanh niên Do Thái đã tìm cách thoát khỏi bản chất Do Thái của mình bằng cách phẫu thuật để che đậy phép cắt bì. Họ làm điều này với hy vọng có được sự thăng tiến về học vị trong trường cũng như trong xã hội với tư cách là công dân.  Nhưng Cơ Đốc nhân người Do Thái bị cấm từ bỏ bản chất Do Thái của mình để leo lên bậc thang xã hội.  Đây là giai đoạn bài trừ Do Thái, như được chú thích trong Cong 18:1-2.  Cơ Đốc nhân ngoại quốc không được tự do chịu phép cắt bì – lý do muốn làm việc này được đề cập trong thư Ga-la-ti.  19 Mong ước làm vừa lòng Chúa không phải ở tại việc chịu cắt bì hay không chịu cắt bì, mà điều quan trọng là vâng theo mạnh lệnh của Đức Chúa Trời.

20 Phao-lô lặp lại lời dạy dỗ của mình về việc chấp nhận thứ bậc về chủng tộc và phép cắt bì mà Chúa đã sắp đặt cho mỗi người.  21 Nô lệ trong các gia đình, trừ các gia đình Hoàng tộc, sẽ được phóng thích sau 7 năm phục vụ.  Các nô lệ tin Chúa không được thất vọng về địa vị của mình.  Ở đây, Phao-lô không đòi hỏi rằng người nô lệ này vẫn phải duy trì vị trí mình đã được kêu gọi ngay cả khi anh ta đủ tư cách được phóng thích – nghĩa đen là “Nhưng nếu có thể được tự do thì hãy nắm lấy cơ hội đó”.  Anh ta có thể trở thành người tự do.  Việc trả tự do cho nô lệ là điều đáng khích lệ, mặc dù việc này đi kèm với những nghĩa vụ ràng buộc người chủ, lúc bấy giờ trở thành người bảo trợ cho họ.  22 Phao-lô phát triển chủ đề này bằng cách giải thích rằng khi được Chúa kêu gọi đến sự cứu rỗi, người nô lệ được trả tự do và trở thành người tự do của Chúa.  Trái lại, công dân được tự do từ lúc mới sinh, khi tin Chúa thì trở thành nô lệ của Chúa.  23 Người nô lệ được giải phóng nhờ có người trả tiền chuộc họ và Phao-lô ngụ ý nói về giá mà Chúa Cứu Thế đã trả để mang lại sự tự do cho họ.  Ông truyền rằng người tự do đừng làm nô lệ cho loài người.  Vào ở thế kỷ I, có vẻ bất thường khi một người Hi Lạp tự do tự bán mình vào nhà của công dân La Mã, thường giữ vị trí có thể sinh lợi cho chủ là làm quản gia.  Họ có thể đầu tư tiền của chủ mình và điều hành công việc của người chủ đó, làm giàu hợp pháp.  Họ có thể dùng tiền để mua chuộc chính mình ra khỏi tình trạng nô lệ tự nguyện và bằng cách đó có được quyền công dân La Mã như những người tự do và hậu tự của họ có quyền công dân La Mã từ lúc mới sinh.  Trong đế quốc La Mã, điều quan trọng không chỉ là sự giàu có, đặc biệt là tại các thuộc địa của La Mã như thành Cô-rinh-tô, mà còn là sự kêu gọi, tức là giai cấp hay thân thế.  24 Một lần nữa ông lặp lại rằng họ phải ở trong vị thế mà Đức Chúa Trời đã đặt để cho họ – nghĩa đen là “ hãy giữ mình trong vị thế mà mình được gọi trước mặt Đức Chúa Trời”.  Trong khi giới trẻ tìm kiếm sự thay đổi để được sự giàu có và thân thế, thì những người trong Hội Thánh cần phải vui mừng trong thứ bậc mà Đức Chúa Trời đã định sẵn cho đời sống của mỗi Cơ Đốc nhân.  Việc thèm muốn, tìm kiếm sự thay đổi là điều hoàn toàn cấm kỵ.

7. Nên lập gia đình ngay hay phải chờ đợi (ICo 7:25-38)

Vào thế kỷ thứ nhất, những người đã hứa hôn với nhau thì được xem là đã cam kết, và ly dị là cách duy nhất để loại bỏ được điều đó (Mat 1:19).  Vấn đề mà một số người trẻ đã hứa hôn đặt ra, liệu có nên lập gia đình ngay hay không, đã tạo những hoàn cảnh đáng lo ngại tại Cô-rinh-tô lúc bấy giờ.  25 Phao-lô không nhận được mệnh lệnh nào từ Chúa, tức là Chúa Giê-xu về vấn đề này (đối chiếu câu 10), ít nhất không tìm thấy một lời dạy khi Ngài hầu việc trên đất, đây là vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh tôn giáo bất thường này.  Bằng cách đưa ra câu giải đáp như  một người được làm người đáng tin nhờ ơn thương xót của Chúa, ông  cung cấp những sự chỉ dẫn mang tính thuộc linh và tính mục vụ quan trọng, và đã trình bày điều đó trong khuôn khổ thần học uyên bác về bản chất của cuộc sống hôn nhân.  26 Vì cớ “tai vạ hầu đến” tại Cô-rinh-tô (xem phần giới thiệu chương 7), tốt hơn “những cặp đã hứa hôn” nên duy trì tình trạng như vậy, đừng tiến tới hôn nhân và tuyệt đích của nó, mặc dù nếu họ quyết định kết hôn thì không phạm tội gì.

(ICo 7:29-35) sở thần học  Phao-lô giải thích rằng thì giờ thì “ngắn ngủi”, theo nghĩa đen.  Điều này thường được dùng với ý nghĩa là sự cuối cùng đã gần.  Quan điểm của người đời về tình trạng bất diệt và tương lai không biến đổi của thế giới là đề tài bàn luận của thế kỷ I.  Với Cơ Đốc nhân, khái niệm thời gian, kairos, đã thay đổi một cách căn bản.  Khi đã có cách nhìn nhận mới về cuộc đời, thì hôn nhân, sự đau buồn và kiếm tiền cũng không ngoại lệ.  Tất cả những điều này sẽ khác đi với chiếc đồng hồ mới của Cơ Đốc nhân, vì thế gian với tình trạng hiện tại dần trôi đi, nó không phải là bất diệt.  Trong khuôn khổ thần học, Phao-lô diễn tả sự quan tâm rằng những người nêu lên vấn đề nên tách khỏi những gánh nặng về sự buồn khổ của cuộc sống hiện tại.  Nhiệm vụ của mỗi tín hữu nam chưa lập gia đình là tìm xem làm thế nào cho được đẹp lòng Chúa – không có khái niệm làm vừa lòng chính mình.  33 Trách nhiệm của người đàn ông đã lập gia đình là xem thử làm cách nào để có thể làm vui lòng vợ mình – hôn nhân Cơ Đốc không có chỗ cho thái độ lấy mình làm trung tâm.  34 Rõ ràng thì  giờ của người đàn ông được phân chia giữa việc vừa lòng Chúa và làm vui lòng vợ – hôn nhân đặt thêm nghĩa vụ trên anh ta.  Người nữ chưa lập gia đình cũng được kêu gọi tương tự, mặc dù điều này được diễn tả khác – cô ta phải tận hiến cho Chúa cả con người lẫn tâm linh mình (đối chiếu ICo 6:19-20).  Người phụ nữ có chồng cũng có nghĩa vụ tương tự là không được làm cho vừa lòng mình, nhưng phải làm cho đẹp lòng chồng mình.  35 Động cơ thúc đẩy Phao-lô có lời khuyên này là do ông quan tâm đến sức khoẻ của chính họ, không phải để hạn chế họ, nhưng để giúp họ không phân tâm hầu việc Chúa.

(ICo 7:36-38) Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định  36 Có một số yếu tố chi phối quyết định đi đến việc lập gia đình: (i) Nếu ai tưởng chẳng nên cho con gái đồng trinh mình lỡ thì (bản NIV: “Nếu có ai cho rằng mình đang đối xử không thích hợp với người nữ đồng trinh mà mình đã đính hôn”).  Có lẽ gia đình của cô gái cảm thấy người nam đã hứa hôn với cô phải giữ lời hứa cũ mình mà cưới cô.  (ii) Trong xã hội thời đó cũng như bây giờ, nếu quan hệ của họ đã đạt đến độ chín muồi, những đôi trai gái đã đính hôn thường bị thu hút ngày càng nhiều hơn về mặt thể xác của nhau khi hôn nhân đến gần.  Cách dịch của bản NIV về mệnh đề Lỡ thì không hẳn chứng tỏ rằng luật La Mã qui định người nữ chỉ được phép lập gia đình cho đến thời điểm năm mươi tuổi. Từ ngữ này chứa đựng ý tưởng về sự “sung mãn” của cảm xúc tình dục, cũng đối chiếu câu kế tiếp nói về việc người nam tự chủ ước muốn của mình, tức là ham muốn tình dục, và (iii) Nếu người nam nghĩ rằng mình phải bước tới hôn nhân, thì anh ta nên thực hiện điều này.  Việc anh ta đang làm không có gì sai.

37 Quyết định không tiến đến hôn nhân cũng chịu sự chi phối của một số yếu tố: (i)  anh ta đã làm công tác tư tưởng với chính mình, (ii) anh ta không bị gia đình hoặc bà con họ hàng bắt ép, (iii) anh ta có thể tự chủ được, tức là tự chủ được cảm giác tình dục, (iv) và quyết định không cưới vợ, thì người này cũng đã làm điều hợp lẽ.  38 Mặc dù thành Cô-rinh-tô lúc bấy giờ đang gặp phải khó khăn, việc người nam lập gia đình vẫn là một việc làm đúng (đối chiếu c.7b).  Phao-lô không phản đối việc kết hôn (đối chiếu c.7b).  Người nam không cưới vợ đã làm điều tốt hơn, đưa ra những sự phức tạp hiện tại.  Quyết định cưới vợ tùy thuộc hoàn toàn vào người nam đã đính hôn, là người phải xem xét chính mình và hoàn cảnh của mình.  Phao-lô đặt ra những giới hạn cho quyết định của họ.

8. Đàn bà góa (ICo 7:39-40)

Một lần nữa Phao-lô lặp lại tính chất ràng buộc của hôn nhân Cơ Đốc.  Người vợ phải  gắn bó với chồng  mình, và có một số ngoại lệ đặc biệt trong c.13,15.  Họ được tự do tái giá nếu chồng qua đời, nhưng người chồng mới của họ phải là tín hữu.  Luật La Mã qui định một người vợ goá dưới 60 tuổi có thể tái giá sau khi chồng chết 18 tháng.  Theo nhận định của Phao-lô và với những khó khăn hiện tại, người phụ nữ này sẽ hạnh phúc hơn nếu cứ ở vậy.  Cha và con cả của họ sẽ là “chủ” món của hồi môn họ có và cung cấp sự cần dùng cho họ.  Phao-lô tin rằng ông có Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời ở cùng khi viết điều này.

5. CÁC NGHĨA VỤ PHÚC ÂM TRONG MỘT THẾ GIỚI ĐA THẦN (ICo 8:1-11:1)

1. Thịt đã cúng tế cho thần tượng (ICo 8:1-13)

Đây là vấn đề tiếp theo được người Cô-rinh-tô nêu lên.  Đối với các Cơ Đốc nhân sống trong một xã hôi mà thực phẩm được dâng cho thần tượng, cả trong gia đình không tin Chúa, tại các bữa ăn hay trong đền thờ, thì đây rõ ràng là một vấn đề cấp bách cần bàn luận đến.  Tuy nhiên, trong các chương này, có những nghĩa vụ về Phúc Âm ràng buộc tất cả Cơ Đốc nhân.  Vị sứ đồ kết luận với mạng lệnh là tất cả mọi người hãy bắt chước ông như ông đã bắt chước Chúa Cứu Thế vậy.

Cũng như trong ICo 7:1 những từ mở đầu luận đến cho thấy phần này bắt đầu bằng sự trích dẫn bức thư mà người Cô-rinh-tô đã gởi cho Phao-lô.  Trong câu này, người Cô-rinh-tô đã viết: “Chúng ta biết mình đều có sự hay biết cả”, nghĩa là những hiểu biết về của cúng tế và hình tượng.  Trong câu 4 Phao-lô lặp lại cụm từ luận đến và từ liên kết vậy, giải thích sự hiểu biết này.  Vì thế chúng ta có thể thừa nhận rằng sự hiểu biết được đề cập trong câu 1 là chúng ta biết thần tượng trong thế gian thật không, chỉ một Đức Chúa Trời, chớ không thần nào khác, (4).  Có thể rằng toàn bộ câu 4-6 là phần trích và phản ảnh sự dạy dỗ, tiêu chuẩn của Phao-lô về thần tượng và các thần và về Đức Chúa Trời chân thật, sống động mà người Cô-rinh-tô đã trở lại tin nhận Ngài để trở thành Cơ Đốc nhân (ITe 1:9-10).  Rõ ràng có một số tín hữu đã đến đền thờ trong đó có thần tượng và dùng những thức ăn đã được dâng tại đó.  Họ cũng khuyến khích các tín hữu khác làm điều tương tự, hoặc ít nhất cũng có xu hướng làm điều ấy (10).  Có lẽ những kẻ làm việc này đã lý luận dựa theo nền tảng thần học: Việc Cơ Đốc nhân tham dự vào một cuộc lễ hội không có vấn đề gì vì chính Phao-lô dạy rằng chỉ có một Đức Chúa Trời và một Chúa, và dạy rằng thần tượng chỉ là hư không.  Dường như một số người đang bảo vệ quyền được ăn uống tại đền thờ thần tượng, trong khi một số người khác thì không biết chắc và Hội Thánh cần có lời giải đáp rõ ràng trong vấn đề này.  Phao-lô trình bày cách ông sử dụng quyền mình có như một gương mẫu để các Cơ Đốc nhân noi theo.

1 Phao-lô xử trí vấn đề bằng cách tuyên bố điều nguy hiểm của sự hiểu biết là khiến người ta kiêu căng trong khi đức tin Cơ Đốc thể hiện qua mối liên hệ với người khác theo cách yêu thương.  Tình yêu thương xây dựng con người, vì yêu thương là tìm cách mang lại phước hạnh cho người khác.  2 Ông cảnh cáo các tín hữu cho rằng mình biết mọi khía cạnh của vấn đề này và giải quyết vấn đề vì sự thoả mãn chính mình (vì thế họ quyết định ăn trong đền thờ thần tượng).  Nhưng thật ra họ chưa biết như họ đáng phải biết, “chưa biết như mình nên biết”.  3 Một số bản chép tay tiếng Hi Lạp lượt bỏ hai phần đề cập đến Đức Chúa Trời trong khúc Kinh Thánh này.  Tuy nhiên, điều gì là chân lý trong mối quan hệ của Đức Chúa Trời với chúng ta cũng là chân lý trong mối quan hệ của Cơ Đốc nhân với người khác.  Người nào yêu thương thì người ấy thật sự hiểu biết, còn người nói tôi “biết” chưa hẳn đã hành động theo cách ích lợi cho người khác.  Đây là vấn đề thực tế bởi vì một số người Cô-rinh-tô không cư xử vì tình thương mà đơn giản chỉ là  thực hiện những quyền lợi của mình.

4-6 Là một lời tuyên bố quan trọng được đưa ra trong bối cảnh tồn tại chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo và mang tính quyết định ngay trong hiện tại cũng như về sau.  Chỉ có một Đức Chúa Trời hằng sống và chân thât, còn thần tượng chỉ là hư không (đối chiếu Phu 6:4  Es 40:25-26).  5 Thế nhưng Phao-lô và một số người khác đang chứng kiến sự bành trướng của chủ nghĩa thần tượng tại Cô-rinh-tô nơi có nhiều thần được người ta thờ lạy.  Phao-lô không gán tính thần tánh cho các thần này như thể họ là những biểu hiện chính thức của Đức Chúa Trời.  Trái lại, ông nói rằng các thần này được người ta xưng như vậy.  Cụm từ này được dùng để mô tả một điều gì đó được chấp nhận cách rộng rãi nhưng lại là điều sai lầm.  Trong ngôn ngữ ngoại giáo, từ Thần và từ Chúa  đồng nghĩa với nhau.  Phao-lô sử dụng những từ này ở đây để cân xứng với những gì ông trình bày trong câu 6, “nhưng” (một lời phủ định mạnh mẽ) về phần chúng ta, chỉ một Đức Chúa Trời thôi Đức Chúa Cha là Đấng sáng tạo của mọi vật và vì cớ Ngài mà Cơ Đốc nhân tồn tại.  Mục đích của cuộc đời chúng ta là phục vụ Ngài, chứ không đơn giản là để nhờ Ngài đáp ứng nhu cầu của chúng ta hầu cho chúng ta có thể mưu cầu quyền lợi của chính mình (đối chiếu Cong 27:23).  Đơn giản, Cơ Đốc nhân không phải là người theo thuyết hữu thần.  Đối với Cơ Đốc nhân, chỉ có một Chúa, là Chúa Cứu Thế Giê-xu, và tất cả mọi điều đã được dựng nên đều bởi Ngài (đối chiếu Gi 1:3) và chính qua Ngài mà chúng ta sống.  7 Nhưng không phải mọi tín hữu đều tin chắc rằng hình tượng không có quyền lực.  Có lẽ những người thờ cúng ở thế kỷ I nói về một thần tượng: “đó là Athena”, và tin rằng nữ thần này thực sự tồn tại.  Lúc bấy giờ, Cơ Đốc nhân được gọi là những người vô thần vì họ không sử dụng hình tượng để thờ .  Việc dâng thức ăn làm của lễ cho một thần tượng không phải là một tập tục vô hại đối với Cơ Đốc nhân yếu đuối, là những người nếu ăn đồ ăn ấy sẽ cảm thấy bị ô uế– một quan điểm vẫn còn tồn tại trong vòng một số tín hữu ở phương Đông ngày nay.

8 Các tín hữu mạnh mẽ ở thành Cô-rinh-tô chắc hẳn sẽ đồng ý với nguyên tắc liên quan đến đồ ăn đã được nêu lên.  9 Tuy nhiên, họ được cảnh báo rằng việc sử dụng sự tự do của mình, rõ hơn là “quyền” – là từ tương tự được dùng trong ICo 9:4,5,12,15 - có thể gây hại đến những người yếu đuối hơn họ.  Đây có thể là quyền tham dự các buổi lễ hội thi đấu thể thao, hoặc những kỳ lễ quan trọng của thành phố, một trong những đặc quyền dành cho những người thuộc tầng lớp trên.  Có lẽ đó là quyền tham dự các lễ hội thể thao vì khi Phao-lô ở tại Cô-rinh-tô thì các cuộc thi đấu của dân cư sống ở vùng eo đất gần đó không diễn ra, và vì vậy mà ông không thấy vấn đề này nảy sinh trong khoảng thời gian ông ở đó.  Chúng ta biết rằng tất cả những nhân vật quan trọng của thành Cô-rinh-tô đều được chủ tịch lễ hội mời đến dự.  10 Phao-lô sợ rằng một tín hữu vì thấy một tín hữu khác ăn uống trong đền thờ thần tượng mà bắt chước theo, để rồi bị vấp phạm.  11 Người ấy bị hư mất vì rơi vào việc thờ thần tượng như trước kia.  Đây là hậu quả của những tín hữu muốn ăn trong đền thờ thần tượng để tuyên bố rằng thần tượng là hư không.  12 Đó không phải là cách thực hành quyền của họ, mà trái lại đó là tội mà họ đã phạm với anh em mình và cũng chính là tội mà họ phạm với Chúa Cứu Thế.  Phao-lô nêu lên điều ông khám phá được khi trở lại tin nhận Chúa: do mối quan hệ gần gũi giữa Chúa và con cái Ngài nên khi làm điều có hại cho các Cơ Đốc nhân cũng chính là đang làm điều có hại cho Chúa Cứu Thế (Cong 9:1-4).  13 Yêu cầu đầu tiên Phao-lô đặt ra liên quan đến việc bắt chước chính mình ông và bắt chước Chúa Cứu Thế (ICo 11:1).  Nếu việc thực hành một quyền nào đó khiến cho anh em mình phạm tội, thì bằng mọi giá phải tránh nó đi.

2. Quyền và chức vụ (ICo 9:1-14)

Phao-lô tiếp tục chứng minh lần nữa một chân lý được rút ra từ chức vụ của chính ông (đối chiếu 2:1,3).  Đây cũng là cơ hội để Phao-lô bảo vệ chức vụ mình trước những kẻ đoán xét, bằng cách giải thích lý do tại sao ông không tuyên bố những đặc quyền của mình với tư cách là một sứ đồ (9:3).  Ông trình bày phần lý luận này của mình  chủ yếu bằng một loạt câu hỏi mà tất cả câu trả lời đều là “đúng”.

Hiệu quả chức sứ đồ của ông tại Cô-rinh-tô đã rõ ràng, mặc dù một số người lúc bấy giờ phân vân có nên để ông trở lại để thực hiện một giai đoạn khác của chức vụ hay không (đối chiếu 16:12).  Ông là một sứ đồ, tức là một người đã thấy Chúa (đối chiếu Cong 9:17).  Chính sự tồn tại của Hội Thánh Cô-rinh-tô là bằng chứng cho việc Phao-lô nhận biết Chúa trong chức vụ của mình, tức là chức sứ đồ tôi trong Chúa (2).  3 Vì chức vụ của Phao-lô chịu sự tra xét của một số người chỉ trích, bênh vực giá trị chức sứ đồ của ông mình, ông  tuyên bố bằng những từ ngữ tổng quát trong câu 1-2 đã được giải thích chi tiết bằng một loạt những câu hỏi.

4 Phao-lô nêu ra những đặc quyền của một sứ đồ – quyền được ăn uống.  5 Quyền được cưới vợ (cưới một nữ tín hữu) và quyền có vợ đi cùng (một nguyên tắc do một số anh hùng truyền giáo thế kỷ trước phá vỡ, đối chiếu ICo 7:3-5), giống như vợ của các sứ đồ khác và anh em của Chúa đã làm (những quyền này có lần đã bị hoài nghi, Mac 3:31  Gi 7:2-3, nhưng nay được thừa nhận, Cong 1:14 và rõ ràng là một lời chứng quan trọng đối với Chúa Giê-xu).  6 Quyền được hỗ trợ đầy đủ, như Phao-lô hỏi: Hay chỉ một tôi với Ba-na-ba không phép được khỏi làm việc? 7 Các quyền này cũng hiển nhiên như quyền của người lính nhận, quyền của chủ vườn nho đối với vụ mùa mình, và quyền của các mục đồng về sữa của súc vật mình chăn.

8-9 Các quyền được đề cập trong câu 7 không đơn thuần là những quy ước đời này nhưng chúng được sự xác nhận của Cựu Ước, trích dẫn Phu 25:4 cho biết rằng thậm chí cũng không được bịt miệng bò.  Các nhà giải kinh Cựu Ước xem bò là hình ảnh đại diện cho tất cả các loại lao động, người và vật, và cho rằng luật pháp được đặt ra để con người tuân thủ.  Đó là lý do tại sao luật pháp được viết ra cho chúng ta, vì cớ quyền của người trồng và kẻ thu hoạch hoa màu.  Họ làm việc với hy vọng được lợi từ mùa thu hoạch.  11 Người gieo giống thuộc linh (đối chiếu ICo 3:6), trong trường hợp này là Phao-lô tại Cô-rinh-tô, cũng có quyền đối với mùa thu hoạch ấy.  12 Nhưng ông không thi hành các đặc quyền của ông với họ.  Trái lại, ông tự làm cho mình chịu thiệt và chịu đựng mọi sự, nghĩa là chịu khó làm việc ngày và đêm (đối chiếu Cong 20:35).  Ông làm như vậy để không làm đá vấp chơn cho người nghe Phúc Âm ông trình bày.  Đây là nguyên tắc thứ hai của Phao-lô, vốn mở rộng quan điểm của ông trong ICo 8:13 và gia tăng việc làm ích lợi cho người chưa tin.

Mặc dù các nhà diễn thuyết đến các thành phố, hứa hẹn đem đến những lợi ích về dân sự và giáo dục, (đối chiếu phần giải nghĩa 2:1-5), những người nghe họ giảng đều nhận biết đằng sau đó là những nguồn lợi tài chính tiềm tàng cho người diễn thuyết.  Người nghe chỉ quan tâm đến năng lực khác thường của người diễn thuyết trong việc chứng minh tài hùng biện sáng chói của mình, chứ không quan tâm đến đề tài của bài diễn thuyết mà chính họ đã chọn lựa từ ban đầu.  So với họ, mối quan tâm trên hết của Phao-lô là nội dung sứ điệp của ông về tin mừng.  Vì vậy, ông tìm cách tách mình khỏi bất kỳ sự đồng nhất nào có thể có với các nhà diễn thuyết đời này, để người nghe có thể tập trung chỉ duy vào sứ điệp có một không hai của ông.

13 Sau khi đã bàn về các quy ước đời này mà Phao-lô đã từ bỏ vì sợ rằng họ sẽ hiểu sai, ông cũng trích dẫn những điều mà các thầy tế lễ thời Cựu Ước được phép làm, và 14 mạng lệnh của Chúa Giê-xu là người truyền bá Phúc Âm có quyền nhận sự chu cấp, “được nuôi bởi Tin Lành” (đối chiếu Mat 10:10). Quyền mà Chúa Giê-xu ban cho bị gác sang một bên, vì trong bối cảnh không phải là Do Thái, Phao-lô thấy rằng việc đòi quyền lợi sẽ trở thành cớ ngăn trở cho chính những người mà vì họ Phúc Âm được ban ra.

3. Phúc Âm miễn phí của Phao-lô (ICo 9:15-23)

15 Sự bàn đến tiền bạc trong đời này là dấu hiệu cho thấy người ta đang đòi hỏi tiền bạc, vì thế Phao-lô bày tỏ rõ ràng rằng không phải đòi hỏi họ trả lương.  Trái lại ông thà chết còn hơn là bị cướp mất quyền khoe về một Phúc Âm miễn phí.  16 Ông vội làm rõ điều này qua việc tiết lộ rằng ông làm theo sự giao phó của Đức Chúa Trời (IICo 5:14) và thậm chí tuyên bố rằng mình sẽ phạm tội nếu ông không thực hiện trách nhiệm đã được phó cho.  17 Nếu ông rao giảng Phúc Âm vì ông muốn, thì ông sẽ được phần thưởng.  Nếu rao giảng Phúc Âm vì bắt buộc, ông chỉ đang thực hiện vai trò của mình như một người quản lý Phúc Âm (đối chiếu ICo 4:1).  18 Phần thưởng của Phao-lô trong việc ham muốn truyền giảng Phúc Âm là gì? Đó chính là sự thoả lòng khi ông có thể ban phát Phúc Âm cách miễn phí.  Trong một xã hội mà các quyền lợi cá nhân, thậm chí với các quyền lợi công dân, luôn được xem là những yếu tố thúc đẩy, thì “quyền lợi” của Phao-lô chính là chứng kiến Phúc Âm duy nhất này từ ân điển nhưng không của Đức Chúa Trời đang được ban phát cho người nghe mà không đòi tiền bạc.  Hành động của ông chứng minh tính chất sứ điệp ông giảng.  Ông không đòi quyền lợi của mình.

19 Những người sử dụng các người giảng dạy đời này cho rằng mình “sở hữu” họ, đặc biệt là nếu họ làm công việc như các gia sư trong gia đình.  Dù có một vài công tác của Phao-lô được thực hiện trong phạm vi rộng của một số hộ gia đình lớn, có Hội Thánh nhóm tại nhà họ, thì ông cũng chứng tỏ một thực tế ông là người tự do.  Thế nhưng, dù có quyền tự do này (đối chiếu 9:1, câu hỏi mở đầu của ông), ông vẫn không dùng đến.  Cũng như Chúa của ông (Phi 2:7-8), ông chọn làm tôi tớ cho mọi người để có thể chinh phục được một số người cho Chúa Cứu Thế.  Phao-lô là một nhà truyền giáo xuyên văn hoá ưu tú và không lệ thuộc vào các quy ước truyền giáo.  Sự thích ứng của Phao-lô được thể hiện qua sự nhạy bén của ông khi giảng cho người Do Thái, thậm chí dù ông không ở dưới luật pháp (20) đối với những người không phải là dân Do Thái, ông cũng tạo được những sự thích ứng cần thiết về văn hoá trong những nỗ lực truyền giáo cả về lãnh vực giảng dạy (đối chiếu Cong 17:22-31) lẫn về những sự tiếp xúc để truyền giảng (c.21  ICo 10:30) và đối với những kẻ mê tín, cũng như Chúa, ông không dập tắt những kẻ đang ở trong tình trạng yếu đuối (22).

Bây giờ, Phao-lô trình bày nguyên tắc thứ ba của ông – nhạy bén với bối cảnh văn hoá.  Cụm từ Tôi đã trở nên cho thấy rằng vào đúng thởi điểm ông đã thực hiện quyết định này như là một nhà truyền giáo chiến lược.  Ông là người xuyên văn hoá trong việc trình bày Phúc Âm và trong lối sống, và cụm từ không cứ cách nào cho thấy ông là người luôn có sáng kiến trong phương pháp tiếp cận của mình.  23 Những hành động của ông đơn thuần là vì lợi ích của Phúc Âm, và động cơ của ông là để chia sẻ những phước lành của Phúc Âm này. Không nghi ngờ gì nữa, Phao-lô chính là một vị sứ dồ tự do.  Những người định hướng cuộc đời mình để chia sẻ Phúc Âm chính là những người kinh nghiệm được sự tự do nhiều nhất vì họ nhận biết sự tự do đó làm người khác được giải phóng.

4. Chạy mà không thua cuộc (ICo 9:24-10:13)

(ICo 9:24-27). Đến phần này, Phao-lô bắt đầu bàn đến những hiểm họa của hành vi  tình dục sai lầm vốn là đặc trưng của các lễ hội tại đền thờ.  Trước hết ông nêu lên gương sống của chính ông về sự tự kỷ luật và sau đó đối chiếu với những gì xảy ra cho dân sự của Đức Chúa Trời khi họ đặt lòng mình vào những điều ác.  Mục tiêu của ông là nhằm ngăn chặn người Cô-rinh-tô làm những điều tương tự (ICo 10:6).  24 Phao-lô phát họa nên bức tranh dựa vào những cuộc tranh tài nổi tiếng của người Isthmian được tổ chức gần Cô-rinh-tô.  Ông khuyến khích họ trở thành những vận động viên chạy đua hăm hở bươn về phía trước để đạt đến đích.  25 Ông nhắc nhở họ về sự kiêng cử nghiêm ngặt và kỷ luật tập luyện mà các vận động viên phải chịu để có thể đoạt mão miện, mà trong thời của ông, mão miện này được làm bằng rau cần tây.  Trái lại, cuộc đua của Cơ Đốc nhân là cuộc đua mang lại phần thưởng không bao giờ hư nát.  26 Phao-lô so sánh chức vụ mình với công việc của một người chạy đua mà biết mình đang chạy đến đâu.  Ông cũng giống như một võ sĩ, nhưng không phải là một võ sĩ đánh gió (những nhà diễn thuyết chứng minh sự khéo léo về tài ăn nói trước đám đông, chớ không phải trong những cuộc tranh luận thực sự thường bị chế nhạo là những võ sĩ đánh gió).  27 Đối thủ của ông là chính thân thể ông và những ham muốn của nó.  Đó là những gì Phao-lô chế ngự, không như các nhà diễn thuyết, những người khoe khoang rằng thu nhập của họ cho phép họ có quyền chiều theo các giác quan mình với cách sống thác loạn tại các kỳ lễ, và bị phê phán là giảng dạy đạo đức nhưng sống theo cách hoàn toàn ngược lại.  Phao-lô ý thức sâu sắc vai trò của việc chế ngự được những ham muốn hầu cho ông có thể hoàn thành chức vụ giảng dạy của mình, mà không khuất phục trước những cám dỗ của tình dục và của những điều khác.  Lúc bấy giờ đây là một vấn đề thường trực và cũng đang là một mối đe dọa giữa vòng các nhà truyền giáo và các nhà lãnh đạo Hội Thánh ngày nay.  Ở đây Phao-lô đang chỉ ra nguy cơ bị sa ngã do không từ bỏ lối sống tội lỗi (đối chiếu He 12:1).

(ICo 10:1-13) Lời khuyến cáo rút ra từ lịch sử dân Y--ra-ên. Việc tách rời chương theo cách truyền thống mà các Cơ Đốc nhân sau này đã làm không mang lại lợi ích gì.  Chương này bắt đầu bằng từ vả, liên kết phần bàn luận về khả năng mất tư cách của Phao-lô trong sự hầu việc Chúa với những người bị Đức Chúa Trời trừng phạt trong Cựu Ước. ICo 10:1-13 minh hoạ rằng Đức Chúa Trời của Chúa Giê-xu đã hành phạt Y-sơ-ra-ên vì cách sống thờ lạy thần tượng của họ.  Đức Chúa Trời cũng sẽ làm điều tương tự đối với dân Cô-rinh-tô là những người vốn khăng khăng thi hành quyền ăn uống trong đền thờ, trừ phi họ xây bỏ thần tượng 10:14-22.

1-4 nêu ra những bằng chứng thuộc linh không thể nhầm lẫn mà dân sự của Đức Chúa Trời  có được khi ở trong đồng vắng.  Họ  kinh nghiệm bàn tay dẫn dắt rõ ràng của Đức Chúa Trời và chứng kiến sự giải cứu kỳ diệu qua biển Đỏ (Xu 13:21  14:22).  Dân Y-sơ-ra-ên đã từng kinh nghiệm Môi-se như người đại diện cho sự giải cứu của Y-sơ-ra-ên tương tự, Cơ Đốc nhân kinh nghiệm Chúa Cứu Thế là Đấng giải cứu họ (2).  Họ được nuôi dưỡng chung một loại thực phẩm thiêng liêng (16:15,35) và được duy trì bằng thứ nước uống thiêng liêng ra từ vầng đá (Thi 78:15), đá ấy chính là Chúa Cứu Thế, Đấng đã đáp ứng nhu cầu của họ theo cách mà Ngài hiện đáp ứng nhu cầu của người Cô-rinh-tô (ICo 1:4-7,30).  Đấng hiện diện từ ban đầu, Đấng sáng tạo (Gi 1:2-4), và là Đấng giữ mọi vật đứng vững (Col 1:17), có liên hệ một cách mật thiết đến đời sống của dân sự Đức Chúa Trời trong thời Cựu Ước cũng như có liên hệ đến đời sống của Cơ Đốc nhân ngày nay.  Ngôi Hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời không phải đột ngột xuất hiện lần đầu khi nhập thể.  5 Thế nhưng kết cục của việc người Y-sơ-ra-ên bị loại khỏi dân sự Đức Chúa Trời là họ đã bị chết trong đồng vắng.  Họ giống như một ví dụ để cảnh cáo người Cô-rinh-tô đừng lặp lại lỗi lầm chết người tương tự.

Phao-lô nêu ra cho người Cô-rinh-tô bốn điều cấm kỵ vốn phát xuất từ sự trừng phạt nghiêm khắc của Đức Chúa Trời trên con cái Ngài trong đồng vắng.  (i) Cấm thờ hình tượng, Phao-lô đã trích dẫn Xu 32:6, là điều có thể mô tả cách thích hợp cách ăn ở thác loạn vào những bữa tiệc đêm tại một đền thờ thần tượng ở thành Cô-rinh-tô (c.7).  (ii) Cấm hành vi gian dâm (c.8), vốn là điều được chấp nhận trong các bữa tiệc như vậy vào thế kỷ I.  Đối với dân Y-sơ-ra-ên, hậu quả của những hành vi như thế là lập tức bị trục xuất khỏi cộng đồng những người tin Chúa (Dan 25:1-9).  (iii)  Thử hoặc khích Đức Chúa Trời hành động (c.9) cũng đưa đến sự trừng phạt ghê gớm (21:5-6).  Có lẽ có một số người Cô-rinh-tô đã hợp lý hoá việc thực hành quyền ăn uống trong đền thờ trên những lý luận cho rằng trước đến giờ vẫn chưa có chuyện gì xảy ra cho họ khi họ ăn uống, và vì vậy sẽ chẳng bao giờ có chuyện gì xảy ra.  (iv)  Họ được yêu cầu chớ lằm bằm (c.10  14:2).  Có lẽ một số người đã đã phàn nàn với Chúa vì cớ những khó khăn họ gặp phải khi sống trong một xã hội tán thành chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo bởi đó họ bị dẫn đến chỗ trượt mất sự tốt lành của Đức Chúa Trời và trật tự hoàn cảnh mà Ngài đã dự bị cho họ giống như những điều dân Y-sơ-ra-ên đã làm đối với Đức Giê-hô-va và Môi-se.

11 Hình phạt đã xảy ra cho họ và những điều được Kinh Thánh Cựu Ước ghi lại có ý  nghĩa rằng những kẻ đang gần cuối cùng của các đời phải lưu ý đến những lời cảnh cáo của Kinh Thánh, tức là kỳ hoàn thành lời hứa với Áp-ra-ham, lời hứa ban phước cho mọi dân, không chỉ cho dân Y-sơ-ra-ên (Sa 12:2-3).  12 Phao-lô viết cho những ai tưởng mình đứng, là những người lý luận rằng vì thần tượng là hư không (ICo 8:4) nên việc ăn uống trong đền thờ thần tượng là hoàn toàn chấp nhận được (8:10).  Họ có được lời cảnh báo rõ ràng để lưu ý, vì rất có khả năng là họ sẽ ngã, và họ cũng được cho biết cách chắc chắn rằng Đức Chúa Trời là Đấng xét đoán Y-sơ-ra-ên và Hội Thánh.  13 Các tín hữu tự tin này đã được khuyến cáo rằng mọi người đều phải đối diện với sự cám dỗ nhằm thoả hiệp và phạm tội gian dâm – và họ cũng không được miễn trừ.

5. Những bữa tiệc cúng tế thần tượng va bữa ăn thân ái trong Chúa (10:14-11:1)

(ICo 10:14-33). 14 Những tín hữu yêu dấu của Phao-lô phải tránh việc ăn uống trong đền thờ vì nguy cơ của việc thờ thần tượng.  15 Ông kêu gọi họ hãy suy nghĩ thêm về vấn đề ông đềcập, và Phao-lô dùng hai hình ảnh tương tự nhau.  Điều thứ nhất liên quan đến Bữa ăn tối của Chúa, và điều thứ hai liên quan đến việc ăn của lễ vào thời Cựu Ước. 16 Chén tạ ơn là chén thứ ba trong lễ Vượt Qua.  Vào đêm trước lúc hy sinh, Chúa Giê-xu đã giải thích lại ý nghĩa của chén này chỉ về sự đổ huyết của Ngài trên thập tự giá và là phương tiện để thiết lập một sự dự phần vào trong những lợi ích của sự chết Ngài.  Ngài cũng làm tương tự với bánh, được bẻ ra để bày tỏ sự dự phần tương tự.  17 Cũng vậy, việc Cơ Đốc nhân chia nhau một ổ bánh tại bữa ăn tối của Chúa chỉ về một sự thật là họ  thuộc về Chúa Cứu Thế, họ là một thân thể trong Chúa Cứu Thế.  18 Sự thông công của thầy tế lễ với bàn thờ trong thời Cựu Ước được trích dẫn làm nền tảng cho sự thiết lập mối quan hệ trong câu 19-20 (Le 3:3  7:15).  19-20 Phao-lô giải thích rằng của lễ của những người ngoại giáo là đã dâng cho ma quỉ (Phu 32:17), và ông cũng giải thích rằng không thể vừa uống chén của Chúa lại vừa uống chén của ma quỉ được.  Thật thú vị khi trong ngữ cảnh nay chúng ta biết rằng một số bình và chén mà các nhà khảo cổ tìm thấy tại Cô-rinh-tô có khắc tên cụ thể của các vị thần.  22 Cao điểm của lý luận là người Cô-rinh-tô sẽ khiến cho Chúa ghen.  Liệu họ có mạnh hơn Ngài để chịu được sự đối đầu như thế hay không?

Sau khi đã trình bày điều đang xảy ra tại các bữa tiệc cúng tế của người ngoại giáo mà một số người Cô-rinh-tô biện hộ cho việc họ tham dự vào, Phao-lô dùng chính lý lẽ của họ để vạch trần đặc tính phi Cơ Đốc của việc làm này (c.23-24.  Như trong ICo 6:12-13, lý lẽ cho rằng con người được phép làm mọi sự đã được dùng như một lời bào chữa cho hành động của những người nghĩ rằng mình đúng.  23 Họ lý luận “Mọi sự đều phép làm”nhưng hành động của Cơ Đốc nhân phải đặt căn bản trên lợi ích của người liên quan.  Trên cơ sở này, những lời kết luận trong 10:19-22 cho thấy rằng những điều họ làm đã khiến cho Chúa ghen và không ban cho họ bất kỳ một ân phước nào.  Nếu mọi việc được thực hiện mà không gây dựng kẻ khác, thì họ đã thất bại, do đó họ ở trong mối nguy là làm hư mất người anh em yếu đức tin của mình (đối chiếu 8:10-12).  Hành vi của một Cơ Đốc nhân phải có tính chất xây dựng người khác tính chất “gây dựng” này là đặc tính có một không hai của Cơ Đốc giáo và yêu cầu của đặc tính này là nhu cầu của người khác quyết định cách ăn ở của mình.  Tương tự như vậy, những hành động mà Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế đã thực hiện cho chúng ta là với mục đích đáp ứng nhu cầu của chúng ta.  24 Những quyền lợi cá nhân cũng như tập thể đáng ngưỡng mộ và hệ thống bảo vệ của thành Cô-rinh-tô trần tục không xem việc đáp ứng nhu cầu người khác là mục tiêu ưu tiên quyền lợi cá nhân được đặt lên hàng đầu, còn lợi ích của người khác chỉ là thứ yếu.  Đạo đức học căn bản của Cơ Đốc nhân được nêu ra trong khuôn khổ mang lại điều tốt cho người khác chứ không phải mang lại quyền lợi cho cá nhân.  Những người Cô-rinh-tô khăng khăng bảo vệ quyền được ăn uống trong đền thờ thần tượng bất kể nhu cầu của các Cơ Đốc nhân khác, đã không yêu thương người lân cận mình vì đã đặt nhu cầu của chính mình lên hàng đầu.

25-30 Phao-lô giải thích xử sự cách nào giữa một cộng đồng theo chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo.  Thực phẩm bán ở chợ thịt của thành Cô-rinh-tô thì Cơ Đốc nhân có thể dùng (c.25).  Sự việc thịt này đã được dâng ở đền thờ trước khi đem bán được bỏ qua dựa theo câu Kinh Thánh Thi 24:1, là câu mà trước khi ăn tất cả những người Do Thái ngoan đạo đều đọc (c.26).  Nếu được một người chưa tin mời đến dự bữa ăn tối và đồng ý đến dự, thì nguyên tắc là cứ ăn uống những gì mà chủ tiệc dọn như đã quy ước.  Không phải do dự, vì lý do tương tự đã được nêu ra ở câu trước (c.27).  Ngoại lệ của quy tắc này là ở chỗ nếu bất kỳ một người nào hiện diện tại đó quan tâm đến việc thịt đã được mua ngoài chợ.  Nếu người ấy tin rằng Cơ Đốc nhân không được ăn thịt ấy, thì không nên ăn, tất cả là vì cớ ích lợi và vì lương tâm của người ấy (c.28).  Phao-lô giải thích rõ rằng ông đang giảng về lương tâm của người khác (c.24), và vì thế ông nhấn mạnh rằng hành vi của Cơ Đốc nhân là vì cớ lương tâm và nhu cầu của người lân cận.

Toàn bộ những điều Phao-lô bàn luận được gồm tóm trong ICo 10:31-11:1, cung cấp những chuẩn mực linh hoạt để Cơ Đốc nhân có thể xử thế trong xã hội.  31 Thứ nhất, bất cứ điều gì Cơ Đốc nhân làm, dù là ăn, uống hay bất cứ hành động gì khác, phải vì vinh hiển của Đức Chúa Trời mà làm.  32 Thứ hai, không để cho bất cứ người Do Thái hay người Hi Lạp nào, tức là người tin Chúa hay người chưa tin vì cớ hành động của Cơ Đốc nhân mà bị vấp phạm.  33 Một lần nữa Phao-lô tập trung vào những hành động của ông để hỗ trợ cho điều này, vì ông tìm cách làm đẹp lòng mọi người, chẳng tìm ích lợi riêng cho mình, nhưng cho nhiều người, hầu cho họ thể được cứu

(ICo 11:1) Ông kết luận bằng mạng lệnh người Cô-rinh-tô phải noi gương ông, như ông đã phác hoạ trong phần bàn luận, là gương mẫu mà ông đã học được từ Đấng Christ.  Thái độ đặt ích lợi của người khác lên trên vì cớ nhu cầu cần đến Phúc Âm của họ và những quan tâm dành cho người anh em yếu đuối hơn là tiêu chí quyết định những hành động của một Cơ Đốc nhân.

6. TRẬT TỰ SINH HOẠT TRONG HỘI THÁNH (ICo 11:2-14:40)

1. Việc trùm đầu trong khi thờ phượng (ICo 11:2-16)

2 Phao-lô khen ngợi Hội Thánh vì đã giữ những truyền thống mà ông đã trình bày cho họ trước đây.  Điều lý thú là những vấn đề nảy sinh là vấn đề mà Phao-lô không giải quyết khi ông còn ở tại đó.  Điều này không phản ảnh khả năng giải quyết vấn đề của ông, mà trái lại nó phản ảnh những thay đổi phát sinh sau khi ông rời khỏi đó.  Điều Phao-lô truyền là một phần truyền thống sứ đồ vốn đang ràng buộc trên Hội Thánh (c.16).  3 Phao-lô muốn người Cô-rinh-tô hiểu rằng Chúa Cứu Thế là đầu của mọi người (đúng hơn là “chồng”) và “chồng” là đầu của người phụ nữ (đúng hơn là vợ” cho thấy sự mờ nghĩa của những từ này trong ngôn ngữ Hi Lạp).  Theo phong tục của người ngoại đạo, những thầy cúng tế thuộc tầng lớp cao trong xã hội tự phân biệt mình với những người thờ phượng khác bằng cách trùm đầu khi cầu nguyện và dâng của lễ.  Phải chăng có một vài Cơ Đốc nhân trong thiểu số các Cơ Đốc nhân thuộc tầng lớp trên hy vọng sẽ khiến người khác chú ý đến thân thế của mình bằng việc trùm đầu khi cầu nguyện và nói tiên tri? Người ấy làm nhục đầu mình, tức là làm nhục Chúa Cứu Thế, Đấng làm đầu của người ấy (đối chiếu c.3).  Sự làm nhục này có lẽ là do người đó tập trung vào thân thế đời này của mình trong khi Chúa Cứu Thế chính là Đấng mà người ấy cần phải hướng lòng đến khi cầu nguyện.

5 Tất cả những người phụ nữ không trùm đầu khi cầu nguyện hoặc nói tiên tri là đã làm nhục đầu mình, tức là chồng mình.  Điều đó cũng giống như cô ta đã bị cạo đầu.  Người phụ nữ phạm tội ngoại tình làm chồng mình bị xấu hổ phải bị cạo đầu là hình phạt chiếu theo luật La Mã áp dụng cho thuộc địa Cô-rinh-tô.  6 Nếu một người vợ không trùm đầu, điều đó hàm ý rằng người ấy bị xem là người không thừa nhận mối liên hệ của mình với chồng, tức là phủ nhận tình trạng hôn nhân của mình vì việc người vợ không trùm đầu mình ở nơi công cộng là một điều hổ thẹn.  7 Người đàn ông không được trùm đầu bởi vì họ là hình ảnh và là vinh quang của Đức Chúa Trời (Sa 1:27a).  Người vợ được xem là vinh quang của chồng mình (Ch 12:4).  8 Theo Sáng Thế Ký, thì đây chính là thứ tự mà theo đó người nam và người nữ được dựng nên.  9 Trong Sa 2:20b-23 người vợ được tạo dựng là vì người chồng, chứ không phải người chồng được tạo dựng vì người vợ.  10 Chính vì lý do này và cũng bởi vì các thiên sứ (đối chiếu Mat 18:10), trên đầu người vợ phải có dấu chỉ về uy quyền mình nương cậy.  11 Trong Chúa, Phao-lô dạy về sự phụ thuộc lẫn nhau như trong ICo 7:4,12 Phao-lô diễn giải điều này trên phương diện người nữ ra từ người nam, và người nam cũng ra từ người nữ.  Nhưng Phao-lô nhấn mạnh rằng mọi sự đều ra từ Đức Chúa Trời.  13 Cũng như trong 10:15 Phao-lô kêu gọi Hội Thánh phải tự xét lấy mình.  Trong trường hợp này phụ nữ không trùm đầu khi cầu nguyện liệu có hợp lẽ không? 14 Ở vào thế kỷ I, người ta tin rằng lẽ thường là yếu tố quyết định các vấn đề về văn hoá.  Không nghi ngờ gì nữa, Phao-lô cũng lý luận vấn đề này dựa trên quan niệm khác biệt giới tính được nhấn mạnh trong những lời dạy của Kinh Thánh Cựu ước.  Đôi khi người ta cũng lý luận rằng có những bức tượng cổ tạc hình người nam với mái tóc dài, nhưng đây là những bức tượng miêu tả các vị thần chớ không phải con người.  15 Mái tóc dài của người phụ nữ được xem là vinh quang của họ và các tác giả xưa thường nhắc đến sự hấp dẫn của mái tóc người phụ nữ như vinh quang trời dành cho họ.  16 Phao-lô kết luận rằng nếu có ai muốn tranh cãi gì về truyền thống mang tính sứ đồ này, thì họ cần lưu ý rằng cả Phao-lô lẫn Hội Thánh Đức Chúa Trời đều không có cách thực hành nào khác.

Chú thích.  Một vấn đề đặt biệt cần ghi nhớ đó là buổi nhóm họp của Cơ Đốc nhân, ekklesia, có một cơ chế tương tự như buổi họp của cơ quan chính quyền của thành phố.  Cuộc họp đó thường được tổ chức trong nhà hát.  Điều gì sẽ xảy ra khi buổi nhóm họp của Cơ Đốc nhân, ekklesia, được tổ chức tại nhà riêng, nơi mà một phụ nữ có quyền không trùm đầu? Trong khi đây vẫn là một điểm gây tranh cãi giữa các nhà chú giải, thì dường như thực chất vấn đề không phải đề cập về người đàn ông và đàn bà, mà là về người chồng và người vợ – đây là một cách dịch phù hợp cho cả hai khái niệm.  Điều này cũng giúp cho lời tuyên bố về “tư cách làm đầu” trở nên có nghĩa (đối chiếu Eph 5:22-23, nơi có sử dụng những từ ngữ tương tự).  Cũng cần lưu ý rằng không phải chỉ có đàn ông mới cầu nguyện và nói tiên tri trong Hội Thánh.  Phụ nữ cũng giữ một vai trò thực sự trong sự thờ phượng.  Luận về những lời tiên tri trong Hội Thánh, xin xem phần ICo 14:1-25).

2. Các vấn đề trong Bữa Tiệc Thân Ái (ICo 11:17-34)

17 Nếu ở phần trước Phao-lô đã khen ngợi người Cô-rinh-tô vì đã giữ các truyền thống sứ đồ (c.2), thì nay ông không thể làm như thế khi phải nêu ra những mệnh lệnh để sữa lại những điều đã bị lạm dụng trong bữa ăn thân ái của Chúa (c.34).  Khi họ đến với nhau, dường như không làm cho họ tốt hơn mà là tệ hơn.  Sự chia rẽ giữa các thành viên (đối chiếu 1:10-12) cũng được phản ánh qua các buổi nhóm họp.  Tại các buổi ekklçsia ở ngoài đời, tức là các cuộc nhóm họp của công dân vì các mục đích chính trị, họ không giấu giếm sự chia rẽ của mình, và tín hữu Cô-rinh-tô cũng cư xử như vậy trong một số vấn đề khi họ phải đối diện trong các ekklesia của hội thánh.  Câu nói khó hiểu tôi cũng hơi tin điều đó là cách dịch của bản NIV và của một số nhà biên dịch khác.  Điều đáng ngạc nhiên là Phao-lô, người được người của nhà Cơ-lô-ê thông báo đầy đủ các vấn đề, lại chỉ biết được một phần về vấn đề mà vì đó ông  nhìn thấy sự đoán xét giáng trên một số người trong Hội Thánh.  Mệnh đề này có thể dịch bằng tiếng Hi Lạp là “và tôi tin vào bản tường trình rõ ràng”, có lẽ cách dịch này làm cho câu rõ nghĩa hơn.  Từ này được dịch trong các bản tiếng Anh khác là “một phần”, là trạng từ, còn trong tiếng Hi Lạp lại là một danh từ có nghĩa là “một bản tường trình”.  19 Không phải đến lúc sự chia rẽ nảy sinh thì mới có thể nhận biết được ai là người được Đức Chúa Trời chấp nhận, tức là những người chân chính, nghĩa đen là “những người đã được vượt qua sự thử thách” (đối chiếu IICo 2:9 cho biết người chân chính là người đã lưu tâm đến lời chỉ dạy của các sứ đồ).  Sự chia rẽ tách những người thành tín với lời Đức Chúa Trời ra khỏi số còn lại.

20 Lý do thứ hai mà Phao-lô không thể chấp nhận cách cư xử của họ là vì họ nhóm lại với nhau không phải để dùng tiệc thân ái của Chúa.  Rõ ràng nhận định này của Phao-lô khiến họ ngạc nhiên, nhưng Phao-lô giải thích lý do tại sao lại như vậy.  21 Mỗi người hành động mà không để ý gì đến người khác.  Không rõ là  hành vi đang bị lên án là không chờ đợi người khác hay chỉ đơn giản là ăn lấy ăn để những thức ăn trong bàn tiệc.  Từ được dịch nôn nả có thể mang ý nghĩa là thực hiện điều gì trước người khác hay là ăn lấy ăn để thức ăn cho mình trong suốt bữa tiệc .  22 Những hành động như thế đưa đến tình trạng đáng hổ thẹn  là một số người thì đói còn một số khác thì quá no say.  Phao-lô đặt ra ba câu hỏi nhằm giúp họ nhận ra lỗi mà họ đã phạm khi có cách cư xử bất nhã này.  Thứ nhất là những người ăn uống nhiều như thế không có nhà để mà ăn uống hay sao.  Thứ nhì là phải chăng họ khinh bỉ Hội Thánh, nghĩa đen là “sự gặp gỡ” Đức Chúa Trời chứ không phải ai khác vì đó chính là Hội Thánh của Ngài (đối chiếu ICo 1:2).  Câu hỏi thứ ba là phải chăng họ muốn làm hổ thẹn những kẻ không có gì, nghĩa đen là những kẻ không có nhà cửa đầy đủ để có thể chu cấp cho họ trong lúc thời điểm khủng hoảng như trong nạn đói hiện tại (đối chiếu phần chú giải ở 7:26).  Chắc chắn Phao-lô không thể tán đồng hay khen ngợi cách cư xử này.  Không thể tìm được lý do nào để bào chữa cho những sai lầm này của họ.

23-25 Phao-lô mở đầu bằng một lời nhắc nhở rằng ông đang nhắc lại truyền thống nhận được từ Chúa, là điều mà ông đã truyền cho người Cô-rinh-tô lúc ông còn ở với họ.  Điều này thuật lại chi tiết những hành động và lời phán của Chúa Giê-xu trong đêm Ngài bị nộp.  Họ phải bẻ bánh để nhớ đến sự chết của Chúa Giê-xu.  Họ cũng phải uống chén để kỷ niệm giao ước mới mà Chúa Giê-xu đã thông qua bằng chính huyết Ngài (đối chiếu sự thông qua giao ước cũ bằng huyết trong Xuất Ê-díp-tô ký và lời hứa về một giao ước mới trong Gie 31:31, một giao ước nhằm mang lại phước hạnh cho mọi dân tộc Sa 12:3).  26 Bữa tiệc thân ái của Chúa rao báo sự chết của Chúa cho đến lúc Ngài trở lại.  Phao-lô lặp lại và thay đổi thứ  tự của những từ Chúa Giê-xu đã phán để nhấn mạnh những hành động của Ngài.  Ông làm điều này để làm nổi bật việc Chúa đã hy sinh sự sống của Ngài cho họ vì  những hành động trung tâm của họ đã đưa đến sự chia rẽ trong thân Ngài, là Hội Thánh (đối chiếu ICo 10:17).  Ông tập trung vào việc họ không chia sẻ thức ăn mình có tại bữa tiệc để bày tỏ hành động hy sinh lớn lao của Chúa Giê-xu trên thập tự giá cho mỗi cá nhân là lớn lao dường nào.  Họ vẫn cư xử theo cách ích kỷ này tại bữa tiệc tưởng nhớ sự chết của Chúa Giê-xu mà Ngài đã lập trong đêm Ngài bị phản bội. Không phải chính hành vi của họ tại bữa tiệc kỷ niệm này là một sự phản bội lại Đấng mà họ đang tổ chức tiệc để tưởng nhớ bữa tiệc tưởng nhớ của chính Ngài hay sao?

27 Trong ngữ cảnh cụ thể này, việc ăn bánh và uống chén không xứng đáng phải được giải quyết bằng thái độ hướng đến người khác, đặc biệt là đến những người thiếu thốn vốn đã phải đối diện với nhiều bối rối.  Trong bữa ăn, điều quan tâm chính là tư cách và hoàn cảnh của họ. Trong một cộng đồng, sự phân chia mang tính xã hội này phải bị hủy bỏ trong Chúa Cứu Thế (đối chiếu 1:30).  Vì vậy, họ đã phạm tội đối với, hay trên nền tảng của thân và huyết của Chúa.  28 Mọi người phải tự xét mình trước khi dự tiệc.  Trong ngữ cảnh này, sự tự xét mình này phải đối diện và giải quyết quan niệm bè phái và thái độ thiếu cảm thông đối với người không có gì.  29 Không nhận ra thân Chúa, tức là tập hợp của các tín hữu (đối chiếu 10:16), chỉ có thể đem đến sự xét đoán cho mình.  30 Sự xét đoán đã xảy ra rồi.  Một số trở nên yếu đuối tâm linh vì cớ những hành động của họ, một số khác thì đau ốm và một số đã qua đời.  Điều này cho thấy tầm quan trọng to lớn mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho Hội Thánh Ngài và phản ánh hành động tương tự mà Ngài đã thực hiện trong Cựu Ước qua việc trừng phạt và cất đi những kẻ coi thường cam kết của họ với sự hiệp một và nhu cầu của cộng đồng tín hữu.  31 Việc biết tự xét đoán hành vi của mình có lẽ sẽ giúp họ tránh được sự trừng phạt của Đức Chúa Trời.  32 Vì sợ người Cô-rinh-tô tin rằng sự sửa phạt của Đức Chúa Trời cũng không có lòng trắc ẩn giống như cách của các vị thần ngoại giáo, ông nhắc nhở họ rằng sự sửa phạt của Chúa nhằm giúp sửa chữa những sai trật trong đời này, hầu cho dân sự của Ngài khỏi bị định tội chung với thế gian.

33 Cụm từ vậy thì báo hiệu bản chất của những điều mà người Cô-rinh-tô đang được kêu gọi thực hiện.  Khi họ nhóm nhau lại, họ phải chờ nhau hoặc phải chia sẻ bữa ăn của mình, vì động từ dùng trong câu này có thể mang một trong hai nghĩa này.  34 Còn những người đói đến nỗi không thể chờ người khác được, thì nên ăn ở nhà.  Điều này có nghĩa họ nhóm nhau lại không phải để làm cho mối tương giao giữa các tín hữu trở nên tệ hơn mà để được gây dựng tốt hơn (đối chiếu c.7).  Dường như đây là một biện pháp tạm thời bởi vì Phao-lô hứa sẽ giải quyết tiếp về vấn đề này khi ông đến.

Đôi khi người ta cho rằng câu này có nghĩa là Phao-lô đã buộc chấm dứt vĩnh viễn việc tổ chức ăn tiệc và cho áp dụng lễ Tiệc Thánh như chúng ta thường kỷ niện ngày nay.  Rất có thể ý định của ông là nhằm loại trừ những vấn đề và các thái độ tiềm ẩn có thể nảy sinh đối với họ.  Điều cần ghi nhớ là người dân đang trải qua một thời kỳ đói kém (7:26) mà trong đó “người không có gì” đang phải sống rất tệ hại.  Cũng cần phải suy nghĩ đến việc rằng Bữa Tiệc Thân Ái của Chúa chỉ có thể thật sự có ý nghĩa khi những người dùng dự tiệc phải tham dự với thái độ và hành động vì người khác tương tự như thái độ và hành động hy sinh chính mình của Chúa Giê-xu (đối chiếu 11:20).

3. Chỉ có một Đức Thánh Linh (ICo 12:1-13)

Những cư xử trong Bữa Tiệc Thân Ái đã sai trật thế nào, thì cách thức hầu việc trong Hội Thánh cũng giống như vậy.  Trong khi người Cô-rinh-tô viết thư để hỏi Phao-lô về qui định của các sứ đồ về các vấn đề cụ thể liên quan đến ân tứ thuộc linh, thì không có lý do gì để tách rời các vấn đề được đề cập trong chương 11 với các vấn đề ở chương 12-14.  Khi kết hợp các đoạn lại xem xét, chúng ta nhận ra rằng những buổi nhóm họp của Cơ Đốc nhân đang diễn ra trong sự lộn xộn.  Dù người đọc có dùng cách nào để xây dựng lại các vấn đề mà Phao-lô đã yêu cầu làm rõ và cũng giống như ta sắp xếp lại một cuộc điện đàm bằng cách nghe  người ở đầu dây bên này nói thì chúng cũng phải liên quan đến phần tóm tắt gồm những lời chỉ dẫn cuối thư của Phao-lô trong 14:39-40.  Ông cũng sử dụng phương pháp này ở những chỗ khác (đối chiếu 11:33  15:58).  Họ phải trông mong ơn nói tiên tri, đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ, làm mọi sự trong Hội Thánh phải cho phải phép theo thứ tự.  Các vấn đề ở đây dường như liên quan chủ yếu đến quyền ưu tiên hàng đầu của việc nói tiên tri và việc thực hành ơn tứ nói tiếng lạ trong các buổi nhóm của Cơ Đốc nhân.  Những việc này phải được tiến hành theo một cách thức nhằm phản ảnh bản tính Đức Chúa Trời, Đấng mà vì Ngài họ nhóm nhau lại.

1 Người Cô-rinh-tô viết thư đề cập các sự ban cho thiêng liêng – tiếng Hi Lạp mơ hồ nên có thể dịch là “những người thiêng liêng”.  Có lẽ phần mở đầu cho thấy rằng thắc mắc của người Cô-rinh-tô được đề cập ở trong câu 1 liên quan đến cách thức mà những người có Đức Thánh Linh thi hành chức vụ của mình trong buổi nhóm Hội Thánh.  Điều Phao-lô quan tâm trước hết là xoá bỏ sự thiếu hiểu biết của họ.  2 Ông nhắc họ rằng khi còn là người ngoại đạo, họ đã bị khuyên dỗ hướng về các thần tượng câm, nghĩa đen là “bị dẫn đi sai lạc như anh em đã liên tục bị dẫn dụ”.  Việc họ khước từ sự mạc khải tổng quát của Đức Chúa Trời trong đời sống họ đã dẫn họ đến chỗ sùng bái hình tượng và ngày càng lầm lạc trong các tập tục thờ lạy hình tượng (Ro 1:21-23).  Câm cũng là từ mà các tác giả Cựu Ước đã dùng để chỉ cho người Y-sơ-ra-ên thấy việc cúi lạy hình tượng do con người làm ra là ngu dại và vô ích (Ha 2:18-19).  3 Người ngoại giáo tin rằng các thần có thể chi phối những mục tiêu chống lại người khác của họ trong các lĩnh vực của đời sống như tranh tài thể thao, các nan đề liên quan đến tình cảm, việc làm ăn và chính trị.  Việc này được thực hiện trong các cuộc thờ cúng của người ngoại qua việc dùng lời nguyền chống lại đối thủ của mình.  Đôi khi chúng được viết trên chì, rồi được đặt trong đền thờ và trong những cái giếng và được thề nhân danh một vị thần.  Người ta tìm thấy ở đền thờ Đê-mê-tê tại Cô-rinh-tô một tấm bảng ghi lời nguyền, “Thần Hermes của thế giới âm phủ nguyền rủa nặng nề”.  Cụm từ Chúa Giê-xu bị nguyền rủa có thể được dịch là “Chúa Cứu Thế Giê-xu đáng nguyền rủa” vì cả hai cụm từ này có nghĩa đen là “a-na-them Giê-xu”.  Đối chiếu câu “thì (họ) phải bị a-na-them” trong ICo 16:22, động từ được dùng ở thì hiện tại.  Phải chăng tín hữu Cô-rinh-tô dùng danh của Chúa Giê-xu như là một lời nguyền dành cho đối thủ của mình như cách dân ngoại đã làm với các thần của họ? Phải chăng Phao-lô đang nói rằng không người nào đang nói bằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời lại dùng từ “a-na-them Giê-xu”để nguyền rủa và làm thiệt hại người khác? Chỉ có những người được hướng dẫn bởi Đức Thánh Linh mới xác quyết Giê-xu Chúa.  Cơ Đốc nhân phải sử dụng các ân tứ mình để đem lại phước hạnh và ích lợi cho kẻ khác (đối chiếu c.7).

Phao-lô tiến đến việc luận về một sự thật là nhiều ân tứ khác nhau này đều đến từ Đức Chúa Trời, Đấng khiến họ sẵn sàng cho lợi ích chung (4-11).  4-6 Các ân tứ khác nhau, sự phục vụ khác nhau và các hoạt động khác nhau đều bắt nguồn từ cùng một Đức Thánh Linh, một Chúa và một Đức Chúa Trời – Hội Thánh phải cẩn thận theo gương Phao-lô trong việc thực hiện cả ba khái niệm này.  7 Mỗi người nhận được sự bày tỏ của Đức Thánh Linh không phải cho chính mình mà là vì sự ích chung.  “Ích lợi” của người khác trong cuộc sống đời này là mục tiêu của các ân tứ, và ở đây Phao-lô sử dụng từ ngữ tương tự để nhấn mạnh rằng điều mà mỗi người được ban cho là vì kẻ khác.  Tại thành Cô-rinh-tô, người cao trọng ngoài đời phô trương các năng khiếu và khả năng của họ, và tin rằng chính những ân tứ và khả năng này đã mang lại cho họ thân thế và giá trị.  Ở một vài trường hợp, có vẻ quan niệm sai lầm này vẫn còn tồn tại sau khi họ đã tiếp nhận Chúa và cả trong sự hầu việc Chúa.  8-10 Phao-lô liệt kê các ân tứ, những công việc và các hoạt động khác nhau của Đức Thánh Linh – sự khôn ngoan, tri thức, đức tin, sự chữa lành, khả năng làm phép lạ, phân biệt các thần, và nói tiếng lạ hay nói các thứ tiếng (cả hai đều có thể, đối chiếu ICo 13:1) và khả năng thông giải các thứ tiếng ấy.  11 Tất cả các ân tứ này đều là do Đức Thánh Linh, và tuyên bố rằng việc phân phát cho mỗi người thuộc quyền quyết định tối thượng của Đức Thánh Linh (đối chiếu 4:7b).

12 Các ân tứ thảy đều khác nhau nhưng thảy đều bắt nguồn từ một Đức Thánh Linh (4-11) cho nên Đấng Christ khác nào như vậy, nghĩa là thân của Đấng Christ (c.27).  13 Báp-tem bằng Đức Thánh Linh là hiệp trong một thân, nơi không còn sự khác nhau về chủng tộc hay địa vị đời này.  Sự sống thuộc linh của họ bắt nguồn từ Đức Thánh Linh (đối chiếu nguồn gốc của dân Chúa trong Kinh Thánh Cựu Ước, 10:4).

4. Chỉ có một thân thể các tín hữu (ICo 12:14-31)

Không thể tuyên bố rằng mình không thuộc một thân thể các tín hữu chỉ vì cá nhân mình không vui với những ân tứ đặc biệt nào đó mà Đức Thánh Linh ban cho (15-20) hoặc với các ân tứ của người khác, và chính vì vậy mà họ tuyên bố rằng không cần đến một số chức vụ cụ thể nào đó (21-26).  Tất cả các tín hữu đều là chi thể của một thân và Đức Chúa Trời đã sắp đặt sự đa dạng này.

15-21 Một tín hữu khi không hài lòng với vai trò của mình không có nghĩa là người này chấm dứt việc làm một chi thể trong thân.  Nếu như cả thân thể chỉ có được một ân tứ, thì phải làm thế nào? Đức Chúa Trời đã sắp đặt tất cả các chi thể tùy theo ý Ngài thấy là thích hợp.  Nếu tất cả chỉ là một chi thể thì sẽ không có thân.  Chân lý ở đây là có nhiều chi thể, nhưng chỉ có một thân.  Người có ơn tứ về nhận thức và tư duy không thể xem thường người có những ơn tứ thực hành.  22-24 So với các chi thể không cần đến sự quan tâm đặc biệt, thì các chi thể yếu đuối và không thể phô bày ra cần phải được đối xử tôn trọng và nhã nhặn cách đặc biệt.  Đức Chúa Trời đã hợp nhất các thành viên của thân và  ban thêm sự tôn trọng cho các phần thiếu thốn.  25 Điều cốt lõi của vấn đề là Đức Chúa Trời không muốn có sự phân rẽ tồn tại, nhưng muốn mọi người đều được quan tâm bằng nhau (đối chiếu 1:10  3:3  11:18).

27 Hội thánh Cô-rinh-tô là thân thể của Chúa Cứu Thế và mỗi người trong số họ là một phần của thân ấy.  Một số người cảm thấy mình đáng trọng hơn và kết quả điều này khiến một số người khác cảm thấy mình thấp bé hơn trong sự phục vụ.  Họ bị cám dỗ rút lui, hoặc thực tế rút lui khỏi mọi vai trò tích cực trong các buổi nhóm họp của tín hữu.  Vì một số tín hữu Cô-rinh-tô không nhận thức được thân Chúa trong 11:29, nên  họ hầu việc Chúa theo cách gây ra những ảnh hưởng tiêu cực trên các thành viên khác.  Họ bày tỏ sự thiên vị trong cách đối xử với người khác – là điều rõ ràng đã diễn ra trong xã hội đời này.  28-30 Cả việc phân bổ các ân tứ cho các Cơ Đốc nhân lẫn việc sắp đặt thứ tự ưu tiên cho họ đều thuộc quyền của Đức Chúa Trời.  Các vai trò của sứ đồ, chức vụ nói tiên tri, công việc giảng dạy, phép lạ, chữa bệnh, giúp đỡ người thiếu thốn, các ân tứ về quản trị và ơn nói các thứ tiếng được nêu ra ở đây (28), cùng với sự thông giải tiếng lạ (30).  Rõ ràng không phải là tất cả mọi người đều chỉ có một trong các ơn tứ này.  31 Người Cô-rinh-tô phải ước ao các ơn tứ lớn lao hơn.  Đó là những ơn tứ nào? Có lẽ là ơn nói tiên tri và ơn dạy dỗ, như đã được liệt kê theo thứ tự quan trọng trong câu 27.  Điều này được chứng minh trong 14:1,39.

Vì sợ rằng người Cô-rinh-tô tìm kiếm các ân tứ với tinh thần kiêu ngạo vốn đã được phản ánh qua thái độ của họ trong 12:1, Phao-lô đã đề ra con đường tốt lành hơn cho họ hầu cho họ có thể  cùng nhau phục vụ.

5. Những ân tứ được áp dụng trong phạm vi các mối quan hệ (ICo 13:1-13)

1 Nếu thiếu tình yêu thương trong việc sử dụng các ân tứ, thì việc một người nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ cũng trở thành vô nghĩa.  Tôi chỉ như, nghĩa đen là “Tôi đã trở thành”, âm thanh trống rỗng của cái chiêng hay cái chập choả.  2 Ơn nói tiên tri mà nhờ đó con người có thể hiểu được mọi lẽ thật và kiến thức Đức Chúa Trời mặc khải, và đức tin có thể làm chuyển dời những nan đề lớn lao, sẽ không còn giá trị nếu thiếu tình yêu thương.  3 Nếu một người có lòng hào hiệp đến độ hy sinh thân mình để chịu đốt, nhưng không có tình yêu thương thì cũng chẳng ích lợi gì.  Thiếu vắng tình yêu thương trong sự phục vụ mang ý nghĩa là tôi chịu thay đổi vì những điều tệ hơn – “tôi đã trở nên trống rỗng”, “tôi không có ý nghĩa gì cả” và “tôi chẳng mang lại được điều gì từ những nỗ lực hết sức của mình”, làm sâu sắc hơn động cơ của sự phục vụ.  Tình yêu thương là điều không thể thiếu.

4-7 Sự hiện diện của tình yêu thương khẳng định sự tồn tại của các phẩm hạnh khác: tính kiên nhẫn, nhân từ , lẽ thật và giúp chúng ta khắc phục những khía cạnh tiêu cực có trong tính cách chúng ta, việc  tránh những tội trong Bản Mười Điều Răn giải quyết các mối quan hệ khác của con người, tình yêu thương cũng vậy, tránh được tính ghen tị, khoe khoang, lên mình kiêu ngạo, nóng giận và độc ác.  Tình yêu thương cung cấp cả sự ổn định và bền vững, giúp cho đời sống phong phú.

8-13 Tình yêu thương sẽ còn lại mãi 9 Trong sự tồn tại ngắn ngủi này, hiểu biết chưa đầy đủ của chúng ta được phản ánh qua việc nói tiên tri của chúng ta.  10 Khi sự trọn lành được tỏ ra bởi sự đến của thiên đàng, thì sự không trọn lành sẽ biến mất.  12 Những sự phản ánh không trọn vẹn sẽ được thay thế bằng sự nhận thức thật sự –những chiếc gương không hoàn thiện làm gương mặt được phản chiếu trên gương bị mó méo.  Sự hiểu biết chưa đầy đủ sẽ nhường đường cho sự hiểu biết đầy đủ, cũng như Đức Chúa Trời biết đủ mọi điều về chúng ta vậy.  13 Những điều còn lại mãi mãi chỉ gồm đức tin, hy vọng – tương lai đến với chúng ta trong sự kiểm soát của một Đức Chúa Trời, Đấng sẽ không thất hứa với chúng ta – và tình yêu thương.  Tình yêu thương chiếm vị trí cao nhất, vì những lý do được trình bày rõ trong câu 1-7.

6. Lời tiên tri, tiếng lạ và Hội Thánh (ICo 14:1-19)

Tìm kiếm tình yêu thương phải là điều ưu tiên trong buổi nhóm họp của Hội Thánh.  Qua việc lặp lại câu nói trong 12:31 và tóm tắt sự dạy dỗ hãy nôn nả khao khát những ân tứ lớn hơn, Phao-lô  muốn nói đến ân tứ nói tiên tri.  2 Ông giải thích vì sao lại như vậy.  Tiếng lạ không phải là để nói với người ta mà là để nói với Đức Chúa Trời.  3 Trái lại, lời tiên tri được dùng để nói với dân Đức Chúa Trời và đáp ứng ba nhu cầu của lòng người – làm vững mạnh, khích lệ và an ủi.  Đức tin Cơ Đốc là quý báu trong việc  dùng những lời lẽ xây dựng trong hoạt động của mình để củng cố, khích lệ và an ủi các thành viên.  5 Ước muốn của Phao-lô là mọi người đều nói được tiếng lạ, nhưng ông nói thêm rằng, nếu được lựa chọn thì ông ao ước họ sẽ nói tiên tri hơn.  Người nói lời tiên tri quan trọng hơn người nói tiếng lạ trừ khi người nói tiếng lạ giải thích điều mình nói để Hội Thánh có thể được gây dựng.  Ông lặp lại mục đích học hỏi trong việc nhóm họp của Cơ Đốc nhân.

6 Phao-lô dùng chính mình làm ví dụ để lý luận với những người dường như quá nhấn mạnh đến tiếng lạ.  Nếu ông không tỏ sự kín nhiệm, không mang lại tri thức, lời tiên tri hay sự dạy dỗ, thì chức vụ ông có ích lợi gì? Ông nêu ra hai ví dụ.  7 Tính dễ hiểu là yếu tố rất quan trọng trong việc thổi sáo hay gảy đàn hạc (harp) – ở thế kỷ I người ta rất yêu thích đàn hạc (harp) và các nhà hát luôn đầy ắp những người trình diễn loại nhạc cụ này cùng với các chương trình biểu diễn qui mô.  8 Kèn cần phải cung cấp những hiệu lệnh chính xác hầu cho binh lính có thể chuẩn bị sẵn sàng cho việc ra trận.  9 Phao-lô áp dụng minh hoạ này: anh em cũng vậy.  Không ai có thể phân biệt được âm điệu hay nhận ra được tín hiệu nếu ngôn ngữ không rõ ràng.  10-12 Từ thời tháp Ba-bên đã có rất nhiều thứ tiếng, những thứ tiếng mà người nghe không hiểu được sẽ khiến họ trở thành người ngoại quốc, và người nói thứ tiếng ấy cũng là người ngoại quốc.  Phao-lô lặp lại, anh em cũng vậy  (c.12).  Phao-lô khen họ có lòng khao khát những ân tứ thiêng liêng, và ông khuyến khích họ tìm kiếm các ân tứ mà giúp cho Hội Thánh được gây dựng.

Từ câu 1-19, Phao-lô lý luận tại sao phải nôn nả tìm kiếm ơn nói tiên tri hơn là ơn nói tiếng lạ.  Ơn khuyên dạy hay nâng đỡ, khích lệ và an ủi Hội Thánh là những yếu tố căn bản của sự hội hiệp nhau lại với tư cách là dân sự của Đức Chúa Trời, và điều này được bày tỏ qua ơn nói tiên tri.

7. Lời tiên tri, tiếng lạ và người chưa tin Chúa (ICo 14:20-25)

20-22 Phao-lô yêu cầu người Cô-rinh-tô chấm dứt những lối suy nghĩ như con trẻ của họ (đối chiếu 13:11).  Thái độ ngây thơ với điều ác là điều phải lẽ, nhưng về suy nghĩ thì họ phải nên như người trưởng thành.  Điều này liên quan đến việc hiểu biết những điều được chép trong luật pháp (Es 28:11-12  Phu 28:49) mà Phao-lô đã dùng để suy luận rằng tiếng lạ là một dấu cho người chưa tin (nhưng là một dấu tiêu cực, khẳng định sự không tin của họ) và lời tiên tri là một dấu cho tín hữu.  23 Nếu người chưa tin hoặc một người đang tìm hiểu bước vào nhà thờ, và thấy mọi người đang nói tiếng lạ, họ sẽ cho rằng nhóm người này điên cuồng.  24 Tuy nhiên, khi mọi người nói tiên tri thì kẻ chưa tin hoặc người đang tìm hiểu sẽ chịu bắt phục.  Họ sẽ chịu mọi người bắt phục và xét đoán, 25 lòng họ sẽ được cởi mở, họ sẽ hạ mình xống thờ phượng, và nhìn nhận sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

8. Theo cách thích hợp và có trật tự (ICo 14:26-36)

26 Người thì có một bài ca, người thì có một sứ điệp dạy dỗ, một sự bày tỏ, nói tiếng lạ, hoặc thông giải tiếng lạ.  Tất cả những điều này phải được tiến hành với mục đích gây dựng Hội Thánh.  32 Phải kiểm soát được điều này, vì Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời của sự hoà bình.

33-36 Giải quyết một khía cạnh về vai trò người vợ tại Hội Thánh.  Một số nhà giải kinh lẩn tránh vấn đề này bằng cách tuyên bố rằng phần này được bổ sung sau chứ không phải do chính Phao-lô viết.  Tuy nhiên, trong tất cả các bản chép tay đều cả có phần này.  Để hiểu phân đoạn Kinh Thánh này cần lưu ý ba điểm, (i) Những người vợ đã cầu nguyện và nói tiên tri trong các buổi nhóm lại (ICo 11:5).  Đây là hoạt động bình thường ở tất cả các Hội Thánh thời các sứ đồ (c.33b).  Lời văn rất quan trọng, nói cách khác là việc lượng giá lời tiên tri (c.35).  (ii) Luật pháp qui định việc nhìn nhận những vai trò khác nhau của đàn ông và đàn bà (c.34), tham khảo Sa 2:20-24 hay 3:16.  Phao-lô đã trích dẫn 2:20-24 trong ICo 11:8-9.  (iii)  Người vợ phải tìm cách làm sáng tỏ những thắc mắc của mình tại nhà, có thể hiểu rõ là chính chồng của người phụ nữ này là người đã nói tiên tri (c.35).  Trong khi không có sự chắc chắn tuyệt đối, tác giả lấy quan điểm rằng trong buổi nhóm chung, người vợ không được phép tham dự vào việc xem xét lời tiên tri trước Hội Thánh, là điều liên quan đến những thắc mắc đến nội dung của lời tiên tri đó.

9. Những lời cảnh cáo và kết luận (ICo 14:37-40)

37 Quy định của các sứ đồ mà người Cô-rinh-tô tìm kiếm “đề cập về người hoặc các ân tứ thiêng liêng” được kết luận bằng một lời tuyên bố rõ ràng là mọi điều Phao-lô viết đều là từ Chúa. Người nói tiên tri và người thiêng liêng sẽ biết được “điều Phao-lô nói là điều Đức Chúa Trời phán” (Augustine). Không có cơ sở nào để xem các chương này hoặc bất kỳ chương nào khác là một tình huống tại một địa điểm hoặc thời điểm đặc biệt.  38 Ai bỏ qua điều đó, kể cả người nói tiên tri hay người thực hành các ơn tứ thiêng liêng, đều phải hay sẽ bị bỏ qua.  39 Phải nôn nả tìm kiếm ơn nói tiên tri vì nó ích lợi cho Hội Thánh.  Ơn nói tiếng lạ không bị ngăn cấm nhưng cần phải được điều chỉnh như đã trình bày trong chương này. 40 Phao-lô đưa ra những nguyên tắc để mang lại sự trật tự trong buổi nhóm. Một khía cạnh trong bản tính Đức Chúa Trời là Ngài là Đức Chúa Trời trật tự (đối chiếu c.33), và để phản ánh điều này, trong hội thánh của Ngài mọi sự phải được tiến hành một cách thích hợp và có trật tự. Sự khai triển này không chỉ bao gồm các vấn đề được đề cập trong những chương này mà còn những vấn đề có trong chương 11.

Chú thích.  Các chương 11-14 phản ánh sự quả quyết mang tính thần học rằng đây không phải là Hội Thánh “của tôi” hay “của chúng tôi” mà là Hội Thánh của Đức Chúa Trời, rằng hành động hay sự phó mình của Chúa Cứu Thế phải được thể hiện trong các mối quan hệ và trong cách đáp ứng các nhu cầu phải có sự tham gia của nam giới và nữ giới và việc gây dựng những người nhóm lại một cách có thứ tự là mối quan tâm hàng đầu.  Không nên đọc các chương này với mục đích chỉ ra những thất bại hay thiếu sót trong truyền thống của các Hội Thánh khác.  Chúng ta dễ dàng đọc những chương này mà không nhận ra những thách thức của chúng đối với chính mình.  Sự quan tâm đến các nhu cầu thuộc thể và thuộc linh tại các buổi nhóm hằng tuần của Cơ Đốc nhân mà Phao-lô đòi hỏi lớn hơn nhiều so với những gì mà hầu hết các buổi nhóm của Hội Thánh ngày nay chấp nhận.  Chúng phải nâng đỡ những người đến dự nhóm.  Trong Hội Thánh thời các sứ đồ không có cảnh Hội chúng gần gũi với những người chưa tin.  Một thách thức vẫn còn tồn tại đó là các buổi nhóm của Cơ Đốc nhân phải là những buổi mà người ngoài có thể đến để thờ phượng và biết rằng Đức Chúa Trời đang hiện diện giữa vòng dân sự Ngài.

7. SỰ SỐNG LẠI CỦA THÂN THỂ TÍN ĐỒ (ICo 15:1-58)

Đây không phải là vấn đề mà người Cô-rinh-tô thắc mắc.  Phao-lô nghe tin một số người nói rằng không có sự sống lại của kẻ chết (c.12).  Ông đoán trước rằng một số người sẽ đặt ra những câu hỏi liên quan đến người chết được sống lại bằng cách nào và bản chất thân thể sống lại của Cơ Đốc nhân (c.35).  Rõ ràng vấn đề này liên quan đến cách ăn ở của họ, vì ông yêu cầu họ đừng để bị dẫn dắt lầm lạc và đừng phạm tội nữa (c.34).  Như trong ICo 11:33-34  14:39-40, chương này kết thúc bằng một mệnh lệnh.  Câu 58: Hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dật luôn và lý do được đưa ra là biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải ích.

Sự sống lại của thân thể của Cơ Đốc nhân sau khi chết có liên quan gì đến những công tác đã làm trong Chúa ở đời này? Tại sao họ cần được bảo đảm rằng các công việc ấy không vô ích? Không phải người ta chối bỏ sự sống lại của Chúa Cứu Thế, mà họ bác bỏ sự sống lại của thân thể Cơ Đốc nhân, điều trái ngược với giáo lý ngoại giáo về sự bất tử của linh hồn.

Theo ý nghĩ của người sống ở thế kỷ I, sự bất tử của linh hồn là một chân lý không thể bác bỏ được đối với hầu hết những người ngoại giáo.  Với họ, sự sống lại của thân thể là một điều vô lý (đối chiếu Cong 17:32).  Một số tín hữu có vẻ nhìn nhận sự sống đời đời theo cách hiểu về sự bất tử của linh hồn.  Dường như họ cùng tán thành những điều ngụ ý mà người ngoại giáo đúc kết lại.  Chủ thuyết ngoại giáo phổ biến thời ấy lý luận rằng các giác quan xung quanh linh hồn bất tử do tự nhiên ban tặng nhưng con người sẽ không tận hưởng được chúng khi đã bên kia nấm mồ.  Vì thế nếu họ có tiền thì “hãy ăn, hãy uống và vui chơi, vì ngày mai chúng ta chết” (c.32).  Làm sao người tín dồ có thể sống trong đời này mà không cảm thấy bị ảnh hưởng, ngoại trừ khẳng định sự bất tử là điều cốt lõi của Phúc Âm và tất cả những điều mang tính chất quan trọng.  Quan điểm về sự sống của Cơ Đốc nhân vẫn tiếp tục tồn tại và không phải là không có sự đồng tình cả từ phía toà giảng lẫn từ các hàng ghế nhà thờ.  Phao-lô đã kiên quyết bác bỏ quan điểm sai lạc cho rằng Cơ Đốc nhân sẽ tiếp tục sống tách khỏi thân thể mình, bằng cách trình bày rằng sự sống lại của Chúa Cứu Thế là trọng tâm của Phúc Âm và sự sống lại của thân thể Cơ Đốc nhân là hệ quả chắc chắn của điều này, và ông kết luận bằng những lời ngụ ý mang tính luân lý của sự sống lại này.  Sau đó ông giải thích về bản chất sự sống lại của thân thể đối với Cơ Đốc nhân (35-37).

1. Phúc Âm và tính chắc chắn về sự sống lại của Chúa Cứu Thế (ICo 15:1-11)

1 Phao-lô nhắc nhở họ về Phúc Âm mà ông đã rao giảng và họ đã tin, (đối chiếu c.11).  2 Điều này đã giải cứu họ và nếu họ không giữ lấy điều mà Phao-lô đã rao giảng thì niềm tin của họ sẽ là vô ích, tức là không có ý nghĩa.  3 Phao-lô không tự sáng tạo ra Phúc Âm nhưng ông là người truyền cho họ điều mà ông đã nhận được (đối chiếu ICo 4:1).  Điều quan trọng trước nhất là sự chết của Chúa Cứu Thế vì tội lỗi chúng ta là sự thật vì Cựu Ước đã đề cập đến công việc của Đấng Mê-si-a (Es 53:1-12).  4 Sự chôn và sự sống lại vào ngày thứ ba của Đấng Mê-si-a cũng từng là chủ đề của Kinh Thánh Cựu Ước (Thi 16:8-11 được Phi-e-rơ trích dẫn trong dịp lễ Ngũ Tuần, Cong 2:24-28).   5-8 Phân đoạn Kinh Thánh Cựu Ước này được chứng minh một cách tự nhiên bằng sự phục sinh của Chúa Cứu Thế, mà một số đông những người lúc bấy giờ còn sống có thể xác nhận được.  Phi-e-rơ, rồi mười hai sứ đồ, năm trăm Cơ Đốc nhân mà Ngài hiện ra cùng lúc cho họ, Gia-cơ em của Chúa, sau đó là tất cả các sứ đồ, và cuối cùng là Phao-lô như một người đến muộn trên đường đến thành Đa-mách, tất cả đã gặp Ngài (Cong 9:3-5).   10  Sự can thiệp của ân điển Đức Chúa Trời đã khiến Phao-lô trở thành một sứ đồ và ông tuyên bố đã làm việc nhiều hơn các sứ đồ khác, hay đúng hơn là ân điển của Đức Chúa Trời đã đưa đến điều này.   11 Tuy nhiên, đó là không phải là điều quan trọng, vì Phúc Âm này mà Phao-lô vừa trình bày chính là điều chúng tôi (các sứ đồ) giảng dạy và đây là điều mà người Cô-rinh-tô đã tin.

2. Sự sống lại của Chúa Cứu Thế và sự sống lại của chúng ta (ICo 15:12-34)

(ICo 15:12-19) Nếu Chúa Cứu Thế không sống lại  Với cách dùng sáu lần từ “nếu”, Phao-lô đã khảo sát những kết quả của niềm tin có ở một số tín hữu Cô-rinh-tô, những người nói rằng thân thể không sống lại.   12 Ông bắt đầu bằng cách đề cập điều trái ngược với sự sống lại của Chúa Cứu Thế.  Làm thế nào một số người có thể nhấn mạnh rằng chẳng có sự sống lại như thế?  13 Theo như những người thành lập phái Arepagus tại A-thên tin, thì thực chất không thể có sự sống lại của thân thể, nên cũng không thể có sự sống lại của Chúa Cứu Thế.   14 Nếu Chúa Cứu Thế không sống lại, thì Phúc Âm không có ích lợi gì và đức tin của họ đã đặt không đúng chỗ.   15 Hơn nữa, việc các sứ đồ làm chứng rằng Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Cứu Thế sống lại là một sự lừa gạt.  Nhưng Đức Chúa Trời không thể làm điều mà trong thực tế điều đó lại không xảy ra, tức là sự sống lại của những kẻ chết.   16 Không có sự sống lại có nghĩa là không có Chúa Cứu Thế sống lại.   17  Không có Chúa Cứu Thế sống lại có nghĩa là đức tin của họ đặt không đúng chỗ và tội lỗi họ không được tha thứ (đối chiếu câu 3).   18 Hơn nữa, những Cơ Đốc nhân hiện nay đã chết, là những người đã được thuyết phục để từ bỏ những tội lỗi trước đó của mình, cũng bị hư mất – tuy nhiên Phao-lô tin chắc rằng chỉ những kẻ chết ngoài Chúa Cứu Thế mới bị hư mất.   19 Nếu đức tin Cơ Đốc nhân chỉ là một thứ thuốc chữa bách bệnh trong cuộc đời này mà thôi, để rồi phải trả giá để được làm Cơ Đốc nhân trong thế giới đa thần của thành Cô-rinh-tô, thì trên trần gian này Cơ Đốc nhân sẽ là những kẻ đáng thương hơn hết.  Phao-lô đã đưa quan điểm sai lầm này đến một kết luận lô-gíc.  Nếu quả thật không có sự sống lại của thân thể, họ nên từ bỏ việc tuyên xưng đức tin của mình.

(ICo 15:20-28) Chúa Cứu Thế đã sống lại:  Trong phần này, Phao-lô giải thích rõ những hệ quả của việc Chúa Cứu Thế sống lại.  20 Ông khẳng định rằng điều này là thật và sự sống lại của Chúa Cứu Thế chính là sự bảo đảm cho sự sống lại của những người đã chết (đối chiếu ICo 11:30, ở đây sự chết được đề cập như là một giấc ngủ chứ không phải là một sự xấu xa ghê gớm như cách hiểu của người ngoại đạo).  Từ Trái đầu mùa báo trước rằng mùa hoa lợi sẽ còn thêm nữa.  21 Con người đã gây ra sự chết (Sa 2:17), và sự sống lại của kẻ chết cũng bắt nguồn từ một người.  23 Đây là một tiến trình có thứ tự.  Chúa Cứu Thế trước nhất, sau đó là Cơ Đốc nhân.  24 Rồi đến ngày sau rốt, sự kiện cuối cùng trong lịch sử của vũ trụ này, là lúc Chúa Cứu Thế trao vương quốc vào tay Đức Chúa Cha, khi đã chinh phục tất cả.  25 Ngài sẽ cầm quyền cai trị với tư cách là Chúa tể của trời đất cho đến khi mọi vật đều phục dưới chơn Ngài.  27 Phao-lô giải thích bằng cách trích dẫn lời tiên tri về Đấng Cứu thế trong Thi 8:6, vốn đề cập đến sự suy phục của muôn vật.  Ông giải nghĩa khúc Kinh Thánh này bằng cách dựa vào ý nghĩa của từ muôn vật.  Lẽ tự nhiên là từ này không bao gồm chính mình Đức Chúa Trời, Đấng đặt muôn vật dưới chân Chúa Cứu Thế.  28 Khi điều này đã hoàn tất, Chúa Cứu Thế sẽ phục Đức Chúa Cha, hầu cho Đức Chúa Trời là muôn sự trong muôn sự.  Trong một phân đoạn ngắn như thế, Phao-lô đã phác hoạ hình ảnh thiên đàng bị đánh mất và được lấy lại, và việc khôi phục tình trạng muôn vật đầu phục Đức Chúa Trời như từ buổi sáng thế.  Và chính sự sống lại của Chúa Cứu Thế bảo đảm cho điều này.

(ICo 15:29-34) Sự sống lại, sự báp-tem của Đốc nhân chức vụ  Phao-lô tiếp tục đưa ra những lý luận chống lại những người chối bỏ sự sống lại của thân thể và hệ quả hiện tại đối với hoạt động của Cơ Đốc nhân.  Ông kết luận bằng lời khiển trách nặng đối với những người đang sống với niềm tin sai lạc của họ.  Nếu không có sự sống lại của thân thể thì cả phép báp-tem họ chịu và chức vụ của ông đều vô ích.  29 Đây là một câu Kinh Thánh khó.  Một số người cho rằng câu này hỗ trợ cho quan điểm các tín hữu Cô-rinh-tô đang chịu phép báp-tem thay cho những người đã chết, có lẽ là những thành viên đã chết của gia đình họ.  Họ cũng lý luận thêm rằng Phao-lô không bỏ qua cho điều này, mà chỉ trích dẫn điều họ làm như là một lập luận để chống lại niềm tin của họ.  Phao-lô không phải là người theo chủ nghĩa thực dụng.  Cách nhận định này không đúng với ông trong vai trò là một người chăn bầy, cũng như với cách phê bình gay gắt về lối sống của họ mà ông đã trình bày trong cả bức thư này.  Chắc hẳn đó là một việc làm mâu thuẩn với Phúc Âm của ông.

Trong Ro 6:3-5, Phao-lô giảng rằng Cơ Đốc nhân được chôn với Chúa Cứu Thế qua phép báp-tem và được sống lại để bước đi trong một cuộc đời mới, và họ được liên hiệp với Ngài trong sự chết và sự sống lại của Ngài.  Kinh nghiệm thuộc linh được đánh dấu qua phép báp-tem bằng nước không chỉ liên quan đến “linh hồn” mà là cả con người, kể cả thân thể của họ.  Các giáo phụ Hi Lạp đầu tiên kết luận về câu này rằng Phao-lô đang thắc mắc việc chịu phép báp-tem thay cho các thân thể của người đã chết liệu có ý nghĩa gì – cụm từ kẻ chết theo nghĩa đen là “cho thân thể chết” được lặp lại hai lần – nếu như là thân thể rồi cũng sẽ tiêu biến.

30 Lý luận thứ hai của Phao-lô liên quan đến chức vụ của ông.  Những điều ông đang thực hiện luôn khiến ông luôn ở trong sự nguy hiểm (đối chiếu IICo 11:23-28).  31 Ông nhận rằng mình đang chết mỗi ngày.  Ông đang chết vì điều gì? Người ngoại giáo lý luận rằng các giác quan của con người chỉ được thoả mãn trong cuộc đời này.  Họ cũng tố cáo những ai không đồng ý rằng họ đang tự khước từ sự thoả mãn chính mình và những lạc thú của cuộc đời này.  Dường như Phao-lô dựa theo quan điểm này để chỉ ra rằng hàng ngày ông đã khước từ chính mình một cách có ý thức.  32 Ông nói về chức vụ của mình, thậm chí ông đã tham gia vào việc chiến đấu cùng các loài thú dữ ở thành Ê-phê-sô – có thể là một cách ám chỉ đến lễ nghi tôn giáo tôn thờ các hoàng đế mà tỉnh này đã tiến hành, mà Phao-lô với tư cách là một công dân La Mã dường như bằng cách này hay cách khác đã bị lôi kéo vào. Nghi lễ này luôn luôn đi kèm với những cuộc trình diễn thú dữ.  Trong IICo 1:8-11, ông đề cập về những khó khăn mình đã trải qua tại Ê-phê-sô.  Theo cách nghĩ của người Cô-rinh-tô, có lẽ Phao-lô đang lãng phí thời gian.  Vậy đáng ra ông nên sống như những người ngoại giáo, là những người lý luận rằng hãy ăn, uống và thoả mãn xác thịt mình bởi vì việc theo đuổi những lạc thú ấy cũng sẽ kết thúc cùng với sự chết.  Ông trích dẫn Es 22:13.

33 Ông khuyên họ đừng để bị dẫn dụ vào con đường sai lạc và trích dẫn một câu nói phổ biến được rút từ Thais của Menander, “Bạn bè xấu làm hư thói nết tốt”.  Điều này có can hệ gì đến việc phủ nhận sự sống lại của thân thể? Những kẻ dạy về sự bất tử của linh hồn và kết quả tất nhiên của việc nuông chiều các giác quan cho rằng lối sống theo chủ nghĩa khoái lạc là bằng chứng cho sự thành công của họ.  Đó là luân lý của người giàu.  Họ khoe khoang về đời sống trụy lạc của mình. Phao-lô quan tâm đến việc kết bạn với những người xấu như thế sẽ làm ảnh hưởng đến tính cách của Cơ Đốc nhân.  34 Khi Phao-lô truyền lệnh cho một số người Cô-rinh-tô phải tỉnh táo trở lại và đừng phạm tội nữa, ý thức được lối sống tự chiều theo bản ngã này.  Lối sống này được nhiều tín hữu chấp nhận và biện luận trên dựa trên quan điểm cho rằng không có sự sống lại của thân thể.  Một đời sống lấy lạc thú làm trung tâm như thế đồng nghĩa với việc họ không dành chỗ cho việc bày tỏ những lẽ đạo về Đức Chúa Trời cho người khác, là điều mà Phao-lô xem là bổn phận của tất cả các Cơ Đốc nhân (đối chiếu ICo 10:32-11:1).  Phao-lô tin rằng mọi người sẽ phải ứng hầu trước ngôi phán xét của Chúa Cứu Thế và nhận lấy phần thưởng cho những hành động mình đã thực hiện khi còn sống trong thân thể dù hành động đó là tốt hay xấu (IICo 5:10 đối chiếu Kh 14:13).  Đó chính là cơ sở ông định tội cách ăn ở sai lạc của một số người tại Cô-rinh-tô, những người phủ nhận sự sống lại của thân thể để biện hộ cho những điều họ làm.  Sự sa ngã trong cách ăn ở của một Cơ Đốc nhân đưa đến việc phủ nhận rằng việc thân thể họ sẽ được sống lại và trách nhiệm giải trình trước Chúa tất cả những gì họ đã làm.

3. Sự tương tự giữa hạt giống và thân thể (ICo 15:35-44)

35 Phao-lô trả lời bằng cách gọi những người đặt ra những câu hỏi này (tức là câu “Người chết làm sao sống lại?”) là “kẻ dại”.  Suy nghĩ kỹ, những câu trả lời này được thể hiện rõ ràng qua cách ông trình bày điều tương tự.  Hạt lúa mì có hai dạng tồn tại và dạng thứ hai của nó chỉ xuất hiện khi nó chết đi trong lòng đất.  Chính Đức Chúa Trời là Đấng quyết định hình thể tương lai của mỗi loại hạt giống, nghĩa là Ngài đã ban cho nó một “thân thể” riêng biệt.  Đức Chúa Trời cũng đã sáng tạo loài động vật với những xác thịt khác nhau.  Tương tự, điều này cũng đúng với thân thể thuộc về đất và thân thể thuộc về trời.  Vinh quang của những loại thân thể này cũng khác nhau.  Thân thể thuộc về đất đã minh chứng cho điều này.  Sự sống lại của kẻ chết không có gì khác biệt.  Nó giống như hạt giống được gieo xuống là hư nát và mọc lên là bất tử.  Điều này ám chỉ một sự biến hoá mầu nhiệm.  Được gieo trong sự hèn hạ và yếu ớt, nó sẽ mọc lên trong vinh quang và mạnh mẽ.  44 Phao-lô kết luận rằng nếu đã có một thân thể xác thịt, thì cũng sẽ có một thân thể thiêng liêng.

4. Điều tương tự giữa A-đam và Chúa Cứu Thế (ICo 15:45-49)

45 Người đầu tiên trở nên linh hồn sống theo Sa 2:7 và A-đam cuối cùng, là Chúa Cứu Thế, trở nên thần ban sự sống (đối chiếu c.22-23).  48 Hậu tự của A-đam mang bản tính của người, còn những kẻ thuộc về thiên đàng thì mang bản tính của Chúa Cứu Thế.  49 Như Cơ Đốc nhân đã mang bản tính của A-đam thể nào, thì họ sẽ mang bản tính của Chúa Cứu Thế thể ấy.  Với Cơ Đốc nhân, họ có sự bảo đảm được tiếp tục tồn tại bằng thân thể sống lại của mình và thân thể này sẽ biến hoá trở nên giống như Chúa Cứu Thế (đối chiếu Phi 3:21).

5. Sự bảo đảm chiến thắng (ICo 15:50-57)

50 Sự biến hoá là điều cần thiết vì thịt máu, tức là thân thể thuộc về đất không thể hưởng nước Đức Chúa Trời được, cũng không hưởng được sự không hay nát.  51 Phao-lô tiết lộ cho họ một bí quyết, một sự mầu nhiệm, tức là điều mà trước đây trong lịch sử loài người chưa từng được biết đến, nhưng đã được bày tỏ cho tôi tớ Đức Chúa Trời (đối chiếu ICo 4:1).  Không phải tất cả dân sự của Đức Chúa Trời sẽ ngủ, tức là chết, nhưng tất cả sẽ được biến hoá là điều hoàn toàn chắc chắn.  52 Sự tái lâm của Chúa sẽ xảy đến trong nháy mắt, sự cuối cùng sẽ được báo hiệu bằng tiếng kèn (đối chiếu Xa 9:14).  Lúc ấy những kẻ chết sẽ được sống lại và dân sự của Đức Chúa Trời sẽ được biến hoá.  54 Khi điều này xảy ra, thì điều đã được tiên tri trước sẽ ứng nghiệm – sự chết bị nuốt mất trong chiến thắng (Es 25:8).  55 Một lần nữa có thể Phao-lô trích dẫn lời tiên tri trong Os 13:14 mà ở phần đầu của chính lời tiên tri này là lời hứa Chúa sẽ cứu dân sự Ngài khỏi Âm phủ.  Trong hai câu hỏi được đặt ra trong câu 55, câu thứ hai được trả lời trong câu 56 và câu thứ nhất được trả lời trong câu 57.  56 Tội lỗi là nguyên nhân của sự chết (Sa 2:17).  Qua luật pháp mà người ta nhận ra được sức mạnh bao trùm của tội lỗi (đối chiếu Ro 7:7-14, trong đoạn này Phao-lô đã giải thích chi tiết về câu nói mà ông phát biểu ngắn gọn ở đây).  57 Chúa Cứu Thế tấn công vào lãnh địa của sự chết và phá bỏ nọc độc của nó.  Đây là chiến thắng vĩ đại mà bởi đó Đức Chúa Trời phải được cảm tạ.

6. Những lời khuyên bảo đúc kết (ICo 15:58)

Đúc kết của toàn bộ phần bàn luận này là mệnh lệnh phải đứng vững và không được dời chuyển khỏi vầng đá sự sống lại thân thể của dân sự Đức Chúa Trời.  Điều họ phải làm bây giờ trong thân thể này, thân thể sẽ được sống lại, là không để bị dẫn dụ vào tội lỗi (33-34a).  Hơn thế nữa, họ phải làm công việc Chúa cách dật luôn, phần nào điều này có nghĩa là giúp đỡ những người không biết về Đức Chúa Trời (c.34b).  Đây là tiếng gọi kéo dài suốt cuộc đời của mọi Cơ Đốc nhân.  Công việc ấy sẽ không vô ích và sẽ có nghĩa là vào ngày phán xét của Chúa Cứu Thế, họ sẽ nhận phần thưởng của Chúa về những việc tốt mà họ đã làm lúc còn ở trong xác thịt (IICo 5:10).  Những người chết trong Chúa được tuyên bố là thật sự có phước, vì họ được nghỉ ngơi những công việc mình đã làm trong Chúa và công khó của họ sẽ theo sau họ (Kh 14:13).  Trong Cộng đồng Cơ Đốc giáo thời bấy giờ có một mối nguy hiểm đang tồn tại là khái niệm “sự sống đời đời,” được hiểu theo quan niệm về sự bất tử của linh hồn của người Hi Lạp ngoại đạo, và xem những giờ phút hiện tại trong cuộc sống Cơ Đốc nhân là cơ hội để thăng tiến và nâng cao địa vị cá nhân.

8. NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC (ICo 16:1-24)

1. Về việc quyên góp tiền (ICo 16:1-4)

Đây là vấn đề thứ 5 mà người Cô-rinh-tô viết thư hỏi Phao-lô (ICo 7:1,25  8:1  12:1).  Phao-lô xem số tiền được quyên góp cho các tín hữu thiếu thốn tại Giê-ru-sa-lem là rất quan trọng.  Điều này không chỉ xuất phát từ lòng nhân ái, mà nó còn thể hiện hành động đoàn kết một lòng của các tín hữu thuộc dân ngoại dành cho người Do Thái.  Bình thường, người Do Thái tản lạc gởi quà về cho các tín hữu Do Thái tại Giê-ru-sa-lem, nhưng việc các Hội Thánh của dân ngoại quyên góp tiền cho tín hữu Do Thái đã chứng tỏ bản chất của Phúc Âm có thể phá vỡ hàng rào chủng tộc mang tính quyết định.  2 Việc dâng tiền phải được tiến hành một cách hệ thống, vào ngày đầu tuần lễ họ sẽ để riêng ra một số tiền tùy theo thu nhập của mình, nghĩa đen là “người đã được Chúa cho thạnh vượng”.  Việc dâng tiền có hệ thống được đề nghị vì Phao-lô không muốn khi ông đến thì việc quyên góp mới được thực hiện.  3 Khi đến, Phao-lô sẽ nhờ những người mà hội thánh Cô-rinh-tô đã chọn để số tiền quyên góp được đến thành Giê-ru-sa-lem, và viết thư giới thiệu cho họ.  Việc này đòi hỏi phải có trách nhiệm.  Sự lạm dụng những khỏan tiền “tín thác” quá phổ biến trong vòng người Do Thái đến nỗi các nhà chức trách La Mã phải phái một đội hộ tống để bảo vệ số tiền gởi cho Giê-ru-sa-lem.  4 Phao-lô sẽ đi với người cầm thư và số tiền này nếu ông thấy điều đó là cần thiết.  Ông không nói về việc chính ông sẽ đi cùng họ nhưng là họ sẽ đi cùng ông.  Rõ ràng ông xem chính mình là vị sứ đồ của dân ngoại đi đến Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem cùng với số quà của các tín hữu thuộc dân ngoại.  Cuối cùng thì số quà biếu này đã được nhận (Ro 15:26), mặc dù như IICo 8:1-9:15 cho thấy, người Cô-rinh-tô dường như đã không làm theo điều ông dạy về việc dâng hiến một cách có hệ thống trong câu 1-4.  Giá như dân sự Đức Chúa Trời chỉ cần tuân theo nguyên tắc thường xuyên đếm những điều tốt lành mà Đức Chúa Trời ban cho và để riêng ra những thứ để chia sẻ cho những Cơ Đốc nhân khác, thì công tác của họ sẽ tiết kiệm được biết bao nhiêu thời gian và công sức.  Cũng lưu ý đến sự cẩn thận trong cách Phao-lô giao tiền để tránh được những lời viện dẫn không thích hợp, và việc ông khích lệ các tín hữu nên làm tương tự.

2. Những sắp xếp trong chuyến đi của Phao-lô (ICo 16:5-9)

5 Ở đây Phao-lô giải thích những điều ông đang nghĩ khi ông nói rằng mình hy vọng sẽ “chóng đến” (ICo 4:19).  6 Ông hy vọng sẽ ở với họ vào mùa đông với ao ước  họ sẽ giúp đỡ ông trong chuyến đi, tức là taọ cho họ có cơ hội dự phần với ông trong công tác sắp đến của ông.  Ở chỗ khác Phao-lô nói đến sự hỗ trợ tự nguyện của một Hội Thánh trong vai trò đồng công với ông trong việc rao giảng Phúc Âm (Phi 1:5 4:15).  Ông muốn đến thăm Rô-ma và cũng ao ước mang số tiền quyên góp đến Giê-ru-sa-lem – do đó không có yếu tố chắc chắn.  7 Việc Phao-lô không quay trở lại Cô-rinh-tô ngay đã dẫn đến việc một số người Cô-rinh-tô trở nên kiêu ngạo (ICo 4:18).  Điều đó phản ảnh quan niệm thế gian trong họ, trong khi về phần mình khi phải chọn lựa, ông đã làm như thế với sự ràng buộc rõ ràng là nếu Chúa cho phép.  8-9 Hiện ông đang ở tại Ê-phê-sô và sẽ lưu lại đó cho đến lễ Ngũ Tuần, là kỳ lễ của người Do Thái được kỷ niệm cách lễ Vượt Qua khoảng năm mươi ngày.  Lý do ông lưu lại đó là vì những cơ hội lớn cho việc truyền giáo cùng với nhiều sự chống đối (đối chiếu 15:32 và IICo 1:8-11).  Ông không phải là một nhà truyền giáo nhát gan.

3. Chuyến viếng thăm đã được dự tính của Ti-mô-thê (ICo 16:10-11)

10 Phao-lô cũng nhắc rằng nếu Ti-mô-thê, người đồng công đáng tin cậy của ông (Phi 2:19-23) đến, thì phải được tiếp đón người cách phải lẽ.  Biết rằng có một số người trong Hội Thánh ghét mình, Phao-lô lo là có thể họ sẽ dùng cách xử sự của người đời để bày tỏ sự  thù ghét và trả thù người sứ đồ bằng cách ngược đãi bạn của người ấy.  11 Ông kêu gọi họ có cách cư xử hợp lẽ.  Việc đưa người đi về bình an có lẽ liên quan đến một phong tục chúc “đi bình an” (shalom) của người Do Thái, bao gồm một lời chúc mang tính thuộc linh cũng như việc chu cấp những sự cần dùng cho họ như một lữ khách.

4. Sự trở lại của A-bô-lô (ICo 16:12-14)

Đây là vấn đề cuối cùng người Cô-rinh-tô viết trong thư.  Họ xin cho A-bô-lô trở lại.  Rõ ràng là những câu Kinh Thánh trong ICo 1:12  3:4  4:6 cho thấy khi nài ép việc này, động cơ của một số người thật rất đáng nghi ngờ – đó chính là sự lựa chọn khiến Phao-lô chậm trở lại.  Mặc cho tất cả những điều này, Phao-lô khuyên giục A-bô-lô trở lại Cô-rinh-tô để hầu việc.  Theo nghĩa đen, cách đáp ứng của A-bô-lô ngụ ý rằng “việc ông ấy đến lúc này hoàn toàn không đúng theo ý định”.  Ông sẽ đến khi dịp tiện, nghĩa đen là “vào đúng thời điểm”.  Điều này cho thấy A-bô-lô đã xét thấy việc chấp nhận lời mời vào lúc này không phải là lo tưởng đến Hội Thánh, mà chỉ làm cho mối quan hệ giữa Phao-lô và Hội Thánh căng thẳng.  Điều thú vị là A-bô-lô bằng lòng để Phao-lô trả lời thay mình.  Rõ ràng là giữa Phao-lô và A-bô-lô hoàn toàn không có sự tranh cạnh và A-bô-lô cũng không vì sự tâng bốc của Hội Thánh Cô-rinh-tô mà đi đến đó, cho thấy động cơ của họ.  Sau này Phao-lô đã ghi lại thái độ của các nhân sự tại hội thánh Cô-rinh-tô, là nhữngngười đã từng bị tinh thần tranh cạnh ngoài đời ảnh hưởng (IICo 10:12).

13-14 Mặc dù có thể những câu này không liên quan đến vấn đề A-bô-lô, nhưng nó có ý nghĩa khi  nhìn nhận những mệnh lệnh được nêu ở đây, dưới ánh sáng của thái độ sai lầm của người Cô-rinh-tô đối với chức vụ Phúc Âm.  Họ được kêu gọi hãy tỉnh thức.  Rõ ràng họ đã nhượng bộ cho những cách nghĩ thế gian trong họ về A-bô-lô và Phao-lô (đối chiếu ICo 3:3-4). Đứng vững trong đức tin về Chúa Cứu Thế đã chịu đóng đinh là điều tối cần thiết của tín hữu Cô-rinh-tô cũng như của những sứ giả rao giảng Phúc Âm (đối chiếu 1:17b-2:5).  Lời kêu gọi hãy làm người can đảm và mạnh mẽ liên quan đến sự chống lại áp lực của việc rập khuôn chức vụ theo những kiểu hùng biện trau chuốt và bóng bẩy của đời này (đối chiếu gương của chính Phao-lô, 4:8-16).  Lời kêu gọi làm mọi sự bằng tình thương có lẽ là một lời quở trách về sự chia rẽ và lòng ganh tị của họ về những người giảng dạy trước đây và  những động cơ đằng sau việc gởi lời mời A-bô-lô trở lại (đối chiếu 1:10  3:3  4:6).

5. Gương sốt sắng của gia đình Sê-pha-na (ICo 16:15-18)

Trong thời Phao-lô, một gia đình lớn là một định chế xã hội.  Nó có một khả năng to lớn trong việc thúc đẩy sự hầu việc Chúa của Cơ Đốc nhân.  15 Như đã được đề cập trong câu 1:16, nhà Sê-pha-na vốn là trái đầu tiên trong chức vụ của Phao-lô, họ đã dùng những điều mình có để hỗ trợ cho dân sự của Đức Chúa Trời, tức là cho các thánh đồ (đối chiếu 1:2). Nếu người Cô-rinh-tô đang đối diện với nạn thiếu hụt lúa gạo (xem phần luận ở chương 7 và ý nghĩa của 7:26), thì đây chính là một gia đình phục vụ từng ngày cho những người không có gì cả (đối chiếu 11:22).  Công việc phục vụ của họ có lẽ gồm cả việc tiếp đãi các tín hữu đi đường.

16 Phao-lô kêu gọi phải kính phục họ và tất cả những người làm công việc Chúa.  Mạng lệnh kính phục có nghĩa là gì không ai biết rõ, trừ phi những vị này là các trưởng lão người cai trị nhà riêng mình và có thành tích đã được thử thách qua việc dùng của cải mình có để giúp cho kẻ khác.  17 Rõ ràng việc phục vụ những người thiếu thốn là điều then chốt, vì Phao-lô đã từng trải việc điều này tại Ê-phê-sô qua những gì mà Sô-ha-na cũng như Phốt-ta-na và A-chai-cơ đã làm.  Việc họ đến Ê-phê-sô đã làm Phao-lô vui mừng và họ có thể lấp đầy sự thiếu vắng mà ông đang cảm nhận, vì phải chia cách với Hội Thánh Cô-rinh-tô.  18 Ông giải thích rằng họ làm tươi mới tâm thần ông và họ cũng đã làm như thế với hội thánh Cô-rinh-tô.  Sự phục vụ có phẩm chất cao quý này phải được thừa nhận, nghĩa đen là “vì thế phải quý trọng những người như vậy”.

Tôi tớ Đức Chúa Trời phải giống như Đức Chúa Trời, Đấng luôn ban sự tươi mới cho tấm lòng và tâm trí của người thuộc về Ngài.  Hội Thánh ngày nay cần những con người như thế, những người phục vụ những nhu cầu của người khác bằng các ân tứ họ  được ban cho để thực hiện mục đích này.  Hội Thánh không được kêu gọi để uỷ quyền lại chức vụ đó mà để thừa nhận sự tồn tại của nó.

6. Những lời chào thăm cuối thư (ICo 16:19-22)

19 Phao-lô chấm dứt bức thư bằng lời chào thăm từ những Hội Thánh thuộc tỉnh A-si mà thủ phủ là Ê-phê-sô.  Điều này cho thấy  chức vụ của Phao-lô đã phát triển ra ngoài phạm vi thành phố này.  Những người trước đây là thành viên của Hội Thánh tại Cô-rinh-tô (Cong 18:2-3), là A-qui-la và Bê-rít-sin, gởi lời chào thăm thân mến nhất đến hội thánh, nghĩa đen là “nhiều”.  Những người nhóm họp tại nhà hai người cũng gửi lời chào thăm.  20 Hết thảy anh em có thể là nói đến một nhóm người cụ thể, có lẽ là những người bạn đồng công mà chính Phao-lô đã làm việc để có tài chính hỗ trợ cho họ (20:34).  Vì Hội Thánh tại A-si đã gởi lời chào thăm, nên ông kêu gọi các tín hữu Cô-rinh-tô hãy chào thăm lẫn nhau như những thành viên của một cộng đồng huynh đệ thánh.  21 Một thư ký đã viết bức thư này cho Phao-lô – trong thời Phao-lô cách viết tốc ký rất thông dụng, và việc thuê thư ký để viết thư cũng thông dụng. Đến phần này, Phao-lô cầm bút và viết xuống lời chào thăm của cá nhân mình.  22 Dĩ nhiên những lời chào thăm như thế không gởi cho người không có lòng yêu mến Chúa không có lý do gì để biện hộ cho việc không đáp ứng lại bằng tình yêu  đối với tình thương vô lượng của Chúa Cứu Thế.  Trái với một lời chào thăm hay chúc phước là lời nguyền rủa hay anathema.  Ở chỗ  khác, ông  đưa ra lời nguyền rủa những người giảng một Phúc Âm khác (Ga 1:8-9) và đó cũng là điều dành cho những kẻ không kính mến Chúa, là Đấng mà Phúc Âm đã làm chứng về Ngài.  Trong ngôn ngữ A-ram, tiếng kêu cầu” Ôi Chúa, hãy đến!” là một lời kêu cầu Chúa Cứu Thế trở lại, (đối chiếu ICo 15:51-54). 23 Bức thư mở đầu bằng lời chào ân điển (1:3) và cũng kết thúc một cách thích hợp bằng lời chào này, điều này cũng giống như tất cả những cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-xu và dân Ngài. Phao-lô đã bày tỏ nhiều hơn tình yêu trong Chúa Cứu Thế Giê-xu của mình với Hội Thánh, một lần nữa đây là một lời chứng nổi bật về ân điển của Đức Chúa Trời, đó là mặc dù có những thái độ không đúng với mình, nhưng tình yêu thương của Phao-lô, cũng giống như tình yêu thương của Chúa Cứu Thế, vẫn không thay đổi vì ông nhìn xem họ qua Chúa Cứu thế Giê-xu.

Lên đầu trang