MI-CHÊ
1. DẪN NHẬP (Mi 1:1)
Xem lại những nhận định chi tiết về ông Mi-chê với sứ điệp của ông, và bối cảnh lịch sử đương thời trong phần dẫn nhập.
2. LOẠT BÀI TIÊN TRI THỨ NHẤT: ĐỨC CHÚA TRỜI GOM TÀN TUYỂN DÂN VỀ GIÊ-RU-SA-LEM (Mi 1:2-2:13)
1. Đức Chúa Trời hình phạt Sa-ma-ri và Giu-đa (Mi 1:2-16)
Ở đây tổng hợp hai bài tiên tri về tai hoạ trên Sa-ma-ri (2-7) và trên Giu-đa (8-16). Chú ý từ Vậy nên trong câu 8 hàm ý là sự sụp đổ của Sa-ma-ri báo trước sự sụp đổ của Giu-đa. Tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng tặng phẩm của sự công nghĩa là sự sống Ro 6:23 Ga 6:7-10).
(Mi 1:2-7) Từ Thiên đàng, Đức Chúa Trời ngự xuống địa cầu để san bằng Sa-ma-ri Bài tiên tri gồm có 4 phần: Lời kêu gọi dân hãy nghe Đức Chúa Trời làm chứng chống nghịch họ (2) từ thiên đàng (3) Đức Chúa Trời ngự đến địa cầu đang chấn động (4) Sa-ma-ri và Giu-đa bị cáo buộc là đã vi phạm giao ước của Đức Chúa Trời (5) và Đức Chúa Trời kết án triệt tiêu Sa-ma-ri (6-7).
2 Ông Mi-chê giảng bài này nghịch lại Sa-ma-ri và Giu-đa trước năm 722 T.C. là năm Sa-ma-ri thất thủ. Ông kêu gọi dân cư trên đất, tất cả mọi người đến dự một phiên toà trong vai bị cáo (còn Đức Chúa Trời làm chứng nghịch cùng các ngươi).
3-4 Dưới cái nhìn của ông Mi-chê thì đằng sau đạo quân A-si-ri là Đức Chúa Trời. Ngài đến từ nơi ngự Ngài ở trên trời. Dưới sức nóng của cơn thạnh nộ của Ngài và bước chân vĩ đại mạnh mẽ của Ngài, núi non tan chảy như sáp nóng. Đồi núi của Y-sơ-ra-ên là những chốt chiến lược trong cuộc bảo vệ lãnh thổ. Lực lượng nào kiểm soát những đỉnh đồi núi thì lực lượng đó kiểm soát toàn bộ lãnh thổ. Các thung lũng màu mỡ nứt ra và chảy như nước ầm ầm đổ xuống khe núi. Sự hình phạt mà Đức Chúa Trời thi hành khi Ngài ngự xuống (4) được liên hệ với sự kiện Sa-ma-ri bị san bằng (6-7) bởi một từ trong nguyên ngữ Hi Bá Lai, được chuyển ngữ là ầm ầm đổ xuống (4) và đổ xuống (6) và bằng từ lửa (4,7). 5 Đức Chúa Trời phải thăm phạt như vậy vì tội lỗi của Gia-cốp (vương quốc phía bắc) và tội lỗi của nhà Y-sơ-ra-ên (vương quốc phía nam). Ở đây gọi vương quốc phía nam là “nhà Y-sơ-ra-ên” vì Giê-ru-sa-lem, chớ không phải Sa-ma-ri là hiện thân của dân tộc. Giới lãnh đạo của hai thủ đô Sa-ma-ri và Giê-ru-sa-lem chịu trách nhiệm chính trong việc vi phạm giao ước.
6-7 Vậy nên, chứng tỏ rằng bản án do chính Đức Chúa Trời đưa ra là thích đáng với lời cáo buộc. Ngài sẽ khiến cho Sa-ma-ri trở nên như một đống đổ nát ngoài đồng. Ngài sẽ đổ đá tảng to lớn xuống sườn thành phòng vệ của thủ đô (c.4). Các hình tượng mà Sa-ma-ri tin cậy sẽ khiến cho Sa-ma-ri bị huỷ diệt. Bạc và vàng của những pho tượng đó do tiền công của gái điếm (của đền miếu) cung ứng sẽ bị quân chiến thắng A-si-ri dùng để trả công cho gái điếm trong đền thờ ở Ni-ni-ve là thủ đô của họ. Hành vi ghê tởm như thế của một dân tộc sa đoạ như thế cần phải được thanh tẩy bằng lửa của Đức Chúa Trời.
(Mi 1:8-16) Ông Mi-chê than khóc về sự lưu đày của Giu-đa 8-9 Vậy nên, liên hệ sự hình phạt trên Sa-ma-ri với sự hình phạt trên Giu-đa. Cả hai đều phạm tội (5), nên phải hình phạt cả hai. Ông Mi-chê chuyển vào phần tiên tri về sự hình phạt trên Giu-đa bằng cách tự đặt mình vào vai người bị đưa đi đày với chân trần, mình trần và khóc lóc thở than (so sánh Es 20:2-4). Đằng sau vết thương không thể chữa lành được, ông Mi-chê cũng cho rằng có bàn tay của Đức Chúa Trời. Nó (hoặc Ngài) kịp đến cửa dân ta, tức là đến Giê-ru-sa-lem, nhưng chính thủ đô thì được bình yên vô sự.
10-15 Ông Mi-chê tiên tri về sự thất thủ của các thành ở Giu-đa bằng lối chơi chữ trên tên riêng của thành, chính những tên riêng này là điềm gở báo trước sự tàn phá của thành. Tất cả những thành có thể định vị được đều nằm cách thành của ông Mi-chê khoảng mười bốn cây số (chín dặm). Nhưng ngày nay chúng ta không thể định vị được đa số trong các thành này. Bên lề bản NIV có cho biết ý nghĩa của mỗi tên riêng. Thí dụ ông giục Bết-lê-Áp-ra (10), nghĩa là “nhà của bụi đất”, là hãy lăn lóc trong bụi đất, một hành vi biểu thị sự thất bại nhục nhã và khốn khổ của thành (Sa 3:14 Thi 44:25 Gie 6:26 Exe 27:30). Lối chơi chữ và cấu trúc đối xứng trong cách hành văn của chương này tương ứng với luật đạo đức của Đức Chúa Trời dành cho mọi thời đại. Trong luật đó, tội lỗi đem lại sự hình phạt, và tình trạng lơi là, buông thả sẽ dẫn đến sự mất mát chắc chắn. Một dân tộc sống vì lạc thú sẽ chết vì những chứng bệnh giang mai và ma túy, còn một dân tộc tôn sùng tiền bạc vật chất thì sẽ rơi vào chỗ phá sản.
2. Tai ương khốn đốn cho giới áp bức người khác (Mi 2:1-11)
Những bài giảng chống lại giới địa chủ tham lam tại Giê-ru-sa-lem là những người hám tiền bạc (1-5) cùng các vị tiên tri giả tham tiền cũng không kém (6-11) kết chùm với nhau bằng những lời cáo buộc họ đã tham lam và cưỡng đoạt tài sản của giới trung lưu (2,8-9).
(Mi 2:1-5) Tai ương khốn đốn cho những địa chủ tham lam Giới giàu có đã tước đoạt đất đai ruộng vườn của giới bình dân tại Giu-đa (1-2), vì vậy, Đức Giê-hô-va sẽ sai quân thù đến chiếm đoạt xứ thánh khỏi tay họ (3-5). Bị cáo, là người mưu sự gian ác đối diện với tiên cáo là Đấng toan tính một tai vạ từ đất đai ruộng vườn được lặp đi lặp lại (2,4) nối kết hai vấn đề này.
1 Ông Mi-chê mở đầu bài giảng về án phạt với lời tiên tri vang rền như sấm: Khốn thay cho. Trên giường của họ về đêm, họ mưu toan những chuyện đen tối và làm ra vừa lúc sáng (khi toà họp để xét xử). Họ như những con cá mập hợp pháp thực hiện mưu đồ có lẽ bằng cách mua chuộc quan toà (so sánh Mi 7:3) rồi cưỡng ép nạn nhân phải rời khỏi ruộng đất của họ. Mỉa mai một điều là khi giới trung lưu bị áp bức như vậy (2:8-9) tìm đến công lý thì họ lại vấp phải những âm mưu xảo trá và những vụ tịch thu tài sản do các viên chức và sĩ quan cao cấp là thành phần có đủ thế lực để làm mọi chuyện đó (có quyền về sự đó ở trong tay). 2 Những con người có thế lực này tham đất đai. Trong bảng Mười Điều Răn “ngươi chớ tham lam” là điều răn duy nhất được lặp lại hai lần (Xu 20:17) trong số mười điều răn, và là cội rễ của những việc sai quấy khác mà người ta có thể gây ra đối với người láng giềng của mình. Luật pháp thận trọng bảo vệ ruộng đất của con người, vì đó là gia sản thừa kế của họ, vì trong một xã hội nông nghiệp cuộc sống và sự tự do của con người tuỳthuộc vào ruộng đất.
3-4 Trong khi thành phần cao cấp đầy thế lực mưu đồ hãm hại nạn nhân, cưỡng đoạt ruộng đất (2a) và nhà cửa (2b) của họ, thì Đức Chúa Trời toan tính một tai vạ nghịch cùng dân này (3) và ruộng đất của họ (4). 3 Như ông chủ bắt phục con vật với cái ách, cũng vậy, Đức Chúa Trời cũng dùng quân A-si-ri chinh phục họ, chế ngự giới thượng lưu tham lam đến mức họ không thể nào tự cứu mình nữa. 4 Mức độ hình phạt mà họ phải chịu được mô tả trong một bài ai ca với ý châm biếm mỉa mai do miệng kẻ thù thốt ra: “Chúng ta (tức là các địa chủ) bị huỷ diệt hoàn toàn rồi!” Vì họ phá hoại người ta bằng cách cưỡng đoạt ruộng đất của người ta, thì cũng có những người khác vận dụng cùng một chủ trương đạo đức nhằm sửa sai họ, bằng cách cưỡng đoạt đất đai của họ (so sánh Mat 26:52). Họ nói về đất đai với giọng giả hình là sản nghiệp của dân ta (tức là dân của Đức Chúa Trời). Họ đã từng chia chác phân phối lại đất đai cho nhau cho bè lũ của mình, thì giờ đây ruộng đất của họ bị chia cho kẻ thù (so sánh Am 7:17). Nên chuyển ngữ câu 4b là: “Làm sao họ (quân thù) lấy đi hết (mọi thứ) thuộc về tôi (địa chủ giàu có) thế này! Họ chia ruộng đất của chúng tôi cho bọn phản trắc (quân A-si-ri)”. Đức Chúa Trời đã giao cho dân Y-sơ-ra-ên đất đai làm của tin (Le 25:23) để họ vui hưởng miễn là họ sử dụng đất đai đúng theo quy định của bản giao ước. Dầu vậy, Ngài vẫn giữ quyền hạn lấy lại đất đai trong trường hợp họ không tuân thủ giao ước và Ngài có quyền đem đất đai cho kẻ thù của họ (Le 26:33 Phu 28:49-68).
5 Vậy nên liên hệ vụ mất đất đai gần đây của địa chủ (4) với tương lai của họ và sự mất mát đất đai đời đời. Đó mới là sự hình phạt nặng nề hơn hết. Khi Đức Chúa Trời gom tàn dân về đất nước trở lại (Mi 4:7) thành phần tham lam phản bội đó sẽ không có một người nào trong hội chúng của Đức Giê-hô-va để đại diện cho họ lãnh đất mà Ngài sẽ phân phối trở lại theo hình thức bốc thăm linh thiêng như Ngài đã từng áp dụng qua các thầy tế lễ (Dan 26:55).
(Mi 2:6-11) Tiên tri giả hậu thuẫn cho giới địa chủ tham lam 6 Đừng nói tiên tri ở dạng số nhiều. Các tiên tri giả tức là các nhà thần đạo cấp tiến đương thời bảo ông Mi-chê và các vị tiên tri chân chính khác là hãy thôi đừng tiên báo mãi về những vụ đó, tức là sự hình phạt được báo trước trong 3-5.
7 Đức Giê-hô-va khiển trách nhà Gia-cốp bằng cách trưng dẫn quan điểm thần đạo sai trật nặng nề của họ về Đức Chúa Trời. Họ nói rằng “Đức Giê-hô-va chẳng bao giờ mất kiên nhẫn” (bản NIV, nổi giận) và Ngài chẳng bao giờ làm những chuyện như vậy (tức là giáng sự hình phạt). Trái lại, lời của Đức Chúa Trời chỉ mưu ích cho những người bước theo sự ngay thẳng mà thôi.
8-9 Đức Chúa Trời triển khai lời cáo buộc của ông Mi-chê trong câu 2. Lẽ ra nông dân Y-sơ-ra-ên tự do phải cảm thấy an toàn ổn định như binh sĩ từ chiến trường trở về. Thế nhưng, Đức Giê-hô-va nói rằng các nông dân không có khả năng tự vệ đó phát hiện rằng dân ta (một lối nói mỉa mai chỉ thành phần có thế lực như nội dung câu này cho thấy) dấy lên như kẻ thù hãm hại họ. Các ngươi, chắc hẳn chỉ về giới địa chủ giàu với các tiên tri giả làm hậu thuẫn, phá tan gia đình những người Y-sơ-ra-ên xưa kia sống sung túc thịnh vượng, cùng hãm hại toàn gia bất kể nam phụ lão ấu. Các ngươi lột áo ngoài đẹp đẽ của họ trong khi họ không ngờ (8), các ngươi đuổi phụ nữ ra khỏi ngôi nhà ấm cúng của họ và cướp đi những phước lành phong phú mà Đức Chúa Trời ban cho con cái của họ (9). Trước kia, của cải của Đức Giê-hô-va được chia đều cho mọi người trong nước, còn nay thì tập trung trong tay đám hám lợi giàu sụ.
10 Giờ đây Đức Chúa Trời đưa ra án phạt dành cho giới địa chủ giàu sụ, có lẽ Ngài dùng đúng lối nói mà họ đã nói khi đuổi kẻ ngây thơ vô tội ra khỏi đất đai của mình: Hãy đứng dậy! Đi! Đi! Họ phải rời khỏi nơi an nghỉ của mình, là nơi đem lại cho họ sự khoan khoái về mặt thể xác và sự thanh thản về mặt thuộc linh với lý do như sau: Vì cớ cuộc sống phóng đãng đồi bại và sự thờ hình tượng của họ mà đất đai bị ô uế vì vậy đất đai nhả họ ra (so sánh Le 18:25). Đất đai rơi vào cảnh kiệt quệ hoang tàn vô phương cứu chữa. 11 Tiếp nối án lệnh của Đức Chúa Trời, ông Mi-chê chế nhạo giới địa chủ với giọng gay gắt và mỉa mai. Họ sẵn lòng công nhận chức vụ tiên tri của bất cứ người nào cấu kết với họ để trục lợi. Các tiên tri giả này chẳng những chỉ là những người bị lừa mà chính mình họ là người nói dối, là kẻ lừa gạt. Rượu và bia (rượu) và rượu mạnh là thức uống ưa thích của giới cầm quyền phàm ăn háu uống đó, là những người chiều theo cái đói của bao tử càng ngày càng tăng bị các tiên tri chân chính lên án (Es 5:11-12 28:7-8 so sánh Am 4:1) và bị người khôn ngoan sáng suốt cảnh báo (Ch 20:1 23:20-21 31:4-7). Một tiên tri giả, giảng phúc âm “về của cải và sự thạnh vượng” chớ không giảng về sự thánh khiết, thì đúng là hạng tiên tri cho dân này. Thật là đích đáng cho họ!
3. Đức Chúa Trời bảo toàn một nhóm tàn dân tại Si-ôn (Mi 2:12-13)
Phần thứ nhất của sách kết thúc với một bài giảng về niềm hi vọng. Bài giảng này gồm có hai phần: Lời hứa của Đức Chúa Trời (12) và lời tiên tri của ông Mi-chê (13). 12 Vị vua chăn chiên sẽ gom lại... tàn dân của Y-sơ-ra-ên là số người sống sót sau cuộc xâm lăng của A-si-ri (Mi 1:8-16) vào chuồng chiên (minh hoạ về sự an toàn tại Si-ôn). Thực tế, đằng sau hình ảnh này là vua San-chê-ríp vây Giê-ru-sa-lem năm 701 T.C.. Lẽ ra nên chuyển ngữ bản văn khó hiểu trong nguyên ngữ Hi Bá Lai của phân nửa sau là: “Như một bầy trong đồng cỏ của mình, họ (tàn dân) sẽ rơi vào cảnh rối loạn mà không có ai (tức là vua) bảo vệ họ” 13 Ông Mi-chê mô tả tàn dân được giải cứu qua ba giai đoạn. Thứ nhất, Đấng mở đường (danh hiệu của Vị Vua Chăn Chiên của Y-sơ-ra-ên) đi lên trước đánh trận cho họ. Thứ hai, họ sẽ xông đến cửa thành mà ra khỏi Giê-ru-sa-lem (1:9,12). Thứ ba, vua của họ (đúng ra là “Vua”) sẽ đi qua trước mặt họ, giữ đúng vị trí của Ngài là đi đầu họ. Hai giai đoạn đầu được thành tựu khi Giê-ru-sa-lem được Đức Chúa Trời giải cứu cách lạ lùng khỏi quân xâm lăng A-si-ri (xem phần dẫn nhập). Giai đoạn thứ ba, sẽ hiển thị cách rõ ràng hơn trong phần tiếp theo của sách này (5:1-6) lần qua nội dung được khải thị trong Kinh Thánh Tân Ước (Co 1:18-20) được thành tựu trong Chúa Cứu Thế và Hội thánh của Ngài.
3. LOẠT BÀI TIÊN TRI THỨ HAI: ĐỨC CHÚA TRỜI PHỤC HỒI QUYỀN THẾ NGÀY XƯA CỦA GIÊ-RU-SA-LEM CHO TÀN DÂN SAU KHI ĐƯỢC THANH TẨY (Mi 3:1-5:15)
1. Giê-ru-sa-lem cũ và cấp lãnh đạo tha hoá bị sụp đổ (Mi 3:1-12)
Ba bài giảng về sự hình phạt cùng bàn về một chủ đề chung (công lý xem c.1,8,9) có chiều dài như nhau (bốn câu) và có cùng một hình thức tức là nêu cụ thể thành phần bị cáo buộc (1,5,9-10). Trong mỗi bài, sau phần nêu thành phần bị cáo thì đến nội dung cáo buộc, với đại danh từ các ngươi dẫn đầu (2-3,5,9,11) rồi đến án phạt mở đầu bằng từ bấy giờ (4) hoặc từ vì cớ đó (6-7,12). Hai bài giảng đầu chuyển ý dần lên cao điểm trong bài giảng thứ ba. Thành phần bị cáo buộc bắt đầu từ các quan cai trị bất công (1) đến các tiên tri bất nghĩa (5), rồi đến các thầy tế lễ thủ lợi (11). Bản án phát xuất từ sự im lặng, không trả lời của Đức Chúa Trời (4), kèm theo sự im lặng là bóng tối tăm (6-7) rồi đến tình trạng Đức Chúa Trời không còn hiện diện với họ nữa, thế là kết cuộc đền thờ bị phá huỷ (12). Giê-ru-sa-lem sụp đổ bị tàn phá chỉ về giới lãnh đạo bị tha hoá.
(Mi 3:1-4) Người chăn chiên sinh tật ăn thịt người 1 Với động từ truyền lệnh nhấn mạnh Hãy nghe, ông Mi-chê đưa ra vành móng ngựa nhóm người thứ nhất là các quan trưởng, giới cầm quyền cai trị (cả hai từ này đều có nghĩa là người xét xử) trên Gia-cốp và Y-sơ-ra-ên (có nghĩa là toàn thể đất nước). Họ có trách nhiệm phải am tường công lý cả bằng tâm trí lẫn bằng tâm hồn. Nền công lý này đặt cơ sở trên các điều luật điển hình tập trung trong bộ luật của Môi-se (Xu 21:1-23:19 so sánh Phu 17:8-11) rồi căn cứ vào đó họ phải bổ sung luật mới và xét xử mọi vụ kiện một cách công bằng (so sánh IVua 3:28 7:7). 2 Tuy nhiên, vì tấm lòng không được tái tạo nên thành phần quan toà bị tha hoá. Trong thực tế họ ghét điều lành và ưa điều ác (so sánh Es 1:17,21-23,26 5:7 Thi 1:2 19:7-11). Ông Mi-chê dùng một hình ảnh táo bạo và đầy ấn tượng để mô tả họ: bọn ăn thịt người. Khi họ đẩy dân đến chỗ nghèo đói triền miên, khi họ xây dựng cuộc sống của mình trên ruộng đất và sức lao động của dân (2:1-2,8-9) thì hoá ra họ đang đẩy dân vào tình trạng trụi lũi, chẳng khác gì những bộ xương khô xuống mồ sớm. 3 Đức Chúa Trời lặp lại hình ảnh ví sánh ghê rợn trên để nhấn mạnh ý nghĩa thích đáng gói ghém trong đó. 4 Vì các quan có quyền hành mà lại bất nhân, cương quyết không chịu thay đổi khi dân kêu nài xin ơn thương xót, nên cũng vậy, đến thời điểm hình phạt (Mi 2:3-5), họ sẽ kêu la cùng Đức Giê-hô-va, nhưng Ngài sẽ không trả lời trái lại, Ngài còn giấu mặt Ngài khỏi họ tỏ ý là không có ơn thương xót nào dành cho họ nữa cả. Biện pháp hình phạt nặng nề hơn hết không phải là sự đau đớn khốn khổ mà là không có sự diện diện của Đức Chúa Trời trong lúc bị hình phạt (so sánh He 12:15-17).
(Mi 3:5-8) Các tiên tri tham lam Thay vì lên tiếng chống giới quan quyền tham lam chụp giựt, các tiên tri (đáng lẽ phải làm người canh chừng duy trì mức đạo đức tốt trong dân của Đức Chúa Trời) lại khua lưỡi hùa theo, và tham gia với bọn ăn thịt người để thoả mãn sự thèm khát sôi sục trong mình (so sánh Gie 2:26 Exe 22:25-29 So 3:3-4). “Ăn” chỉ về lòng tham tiền bạc của cả hai thành phần.
5 Nầy là lời Đức Giê-hô-va phán ra: quyền hạn của ông Mi-chê nằm trong Đức Chúa Trời, chớ không phải trong cá nhân ông (so sánh c.8). Hàng giáo phẩm chuyên nghiệp dẫn dân ta đi lầm lạc xa khỏi giao ước của Đức Chúa Trời bằng những vụ tưởng thưởng người gian ác và hình phạt người tốt (so sánh Phu 13:1-5), đảo ngược trật tự của nền đạo đức. Kẻ cắn bằng răng mình được chuyển ngữ từ nguyên văn Hi Bá Lai câu “kẻ cắn như một con rắn có răng”. Tương tự như những con rắn độc, họ giết nạn nhân để có thực phẩm nuôi thân. Thoả lòng thèm khát rồi thì họ sẽ long trọng rao truyền “sự bình an” (so sánh Mi 2:11). Nếu ai không cho vật gì vào miệng chúng nó (nghĩa đen là “nếu người ta không thoả mãn điều họ yêu sách”) thì họ chuẩn bị (nghĩa đen là: “biệt riêng”) tuyên chiến chống lại người đó. Giới cầm quyền đến với tiên tri để nhận được sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời dù là duy trì hoà khí hoặc tuyên chiến (IVua 22:1-29). Nhưng với các tiên tri giả này thì tiền bạc có tiếng nói to hơn tiếng nói của Đức Chúa Trời.
6 Vì cớ đó Đức Chúa Trời sẽ thu hồi sự sáng suốt của họ, là điều kiện cho phép họ mưu lợi cách tội lỗi. Họ sẽ từng trải bóng tối và đêm tối thay vì thấy khải tượng (sự khải thị và bói toán so sánh Phu 18:10 Exe 21:21-22). Mặt trời lặn và ban ngày trở nên tối tăm là cách nói diễn tả tình trạng các tiên tri mất ân tứ thấy khải tượng. 7 Vì không còn nhận được sự khải thị của Đức Chúa Trời nữa nên họ sẽ phải xấu hổ, bị nhuốc nhơ và bị kể là ô uế (Ca 4:13-15). Tương tự như người mắc bệnh phung, tất cả đều che môi lại (nghĩa đen “râu mép” = miệng so sánh Le 13:45 Exe 24:17-22), tức là cơ quan đã sử dụng sai ân tứ của Đức Chúa Trời ban cho. Ở đây, ông Mi-chê không dùng danh Đức Giê-hô-va mà dùng Đức Chúa Trời vì không muốn liên hệ danh thánh của Đức Chúa Trời với những hoạt động bất khiết của họ.
8 Trái ngược với các đối thủ thất bại của mình, ông Mi-chê nói rằng: Nhưng ta, ta được đầy dẫy (tức là được phú cho) sức mạnh (tức là năng lực từ Thần của Đức Giê-hô-va so sánh Exe 2:2 3:12,14,24) sự xét đoán và lòng bạo dạn (tức là dũng khí chiến thắng) cho phép ông đối đầu với các đối thủ của mình là những người tuyên chiến luôn cả với ông (so sánh Mi 2:6) trong khi ông dấn thân hết lòng vì công lý.
(Mi 3:9-12) Giê-ru-sa-lem bị san bằng 9 Một lần nữa ông Mi-chê nêu cụ thể thành phần quan trưởng, và giới cầm quyền cai trị (3:1) và cáo buộc rằng họ khinh thường (tức là gớm, coi như là đáng gớm ghét) công lý và làm méo mó điều ngay lẽ phải trong khi xét xử. 10 Họ dùng huyết xây dựng Si-ôn (tức là nạn nhân vô phương tự vệ bị họ cướp luôn cả mạng sống bằng lối xử án nhập nhằng). 11 Dừng lại nơi đây,ông Mi-chê triển khai chi tiết hơn lời cáo buộc của mình. Các quan trưởng (quan toà, thẩm phán là những người thi hành luật pháp), các thầy tế lễ (lẽ ra là những người dạy luật pháp, Phu 17:8-10 33:10 Os 4:6) và các tiên tri (lẽ ra là những người ứng dụng luật pháp qua sự khải thị) lẽ ra đều là những tấm lưới an toàn chống lại sự bất công, nhưng họ đã gãy đổ, những tấm lưới đó đã rách dưới áp lực nặng nề khốc liệt của tình yêu tiền bạc (so sánh ITi 6:3-10) và của nền thần đạo giả dối vì họ dám phạm thượng xưng rằng họ nương cậy Đức Giê-hô-va nên họ được an toàn (so sánh Mi 2:7). Trong khi đó, giao ước của Đức Chúa Trời đặt cơ sở trên đạo đức và chân lý. 12 Vậy nên: Đức Chúa Trời đưa ra án phạt xứng đáng với tội trạng (so sánh Gie 26:18). Vì cớ các ngươi (các vị quan toà, thẩm phán so sánh 9-10), các toà nhà kiêu kỳ và ô uế của họ sẽ trở nên đống đổ nát và núi của nhà (không còn là núi của Đức Giê-hô-va) sẽ trở nên một cái gò, một ngọn đồi với cây cỏ rậm rạp làm nơi ở cho thú rừng.
2. Giê-ru-sa-lem mới được tôn cao trên các dân tộc (Mi 4:1-8)
Bốn bài giảng kế tiếp bàn về Si-ôn được tái tạo (so sánh 2,7,8,10-11). Trong khi Giê-ru-sa-lem cũ sụp đổ vì cớ lãnh đạo tha hoá, thì Giê-ru-sa-lem mới sẽ thắng lợi hoan hỉ vì Đấng Mê-si sẽ cai trị trên tàn dân được cứu.
(Mi 4:1-5) Giê-ru-sa-lem được tôn vinh trên các dân tộc trở lại đạo (so sánh Es 2:2-4). 1 Những lời hứa trong chương 4-5 sẽ được thành tựu trong những ngày sau rốt (chuyển ngữ là “những ngày tương lai” thì hơn) khởi sự với sự phục hồi tàn dân hồi hương từ Ba-by-lôn (6-7) và thành tựu trong Hội thánh ngày nay (Cong 2:17 He 1:2) và hoàn tất trong trời mới đất mới trong thời kỳ cuối cùng (IIPhi 3:12 Kh 21:1-22:21). Cảnh trí chuyển đổi cách ngoạn mục và ông Mi-chê bất chợt chuyển từ cảnh tàn phá “đồi núi của đền thờ” (Hi Bá Lai hr) (Mi 3:12) đến cảnh núi vinh quang (Hi Bá Lai, hr) của đền thờ của Đức Chúa Trời, bản sao của chính thiên đàng (so sánh Xu 25:9 He 9:23-24) được tôn làm đầu (cùng một từ ngữ Hi Bá Lai chỉ về “lãnh đạo” trong Mi 3:1,9) giữa vòng các ngọn núi (các trung tâm chính trị và tôn giáo của ngoại giáo). Bị giới hạn trong ngôn từ và xã hội của thời đại, ông Mi-chê dùng lối văn cường điệu theo trí tưởng tượng của các tác giả trong Cựu Ước để nói tiên tri về một tương lai huy hoàng khi tất cả mọi dân tộc sẽ tôn thờ Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem trên trời qua Chúa Giê-xu Cứu Thế (He 12:22). Xưa kia dòng người ông đảo kéo nhau đi dọc bờ sông Ơ-phơ-rát để thờ thần Bên ở Ba-by-lôn (so sánh Gie 51:44), nay họ sẽ chảy dồn về Giê-ru-sa-lem ở thiên đàng. 2 Xưa kia chỉ có Y-sơ-ra-ên về Giê-ru-sa-lem thờ phượng, nay trong vương quốc huy hoàng của Đấng Mê-si, nhiều dân tộc sẽ đi đến Giê-ru-sa-lem ở trên trời để thờ phượng bằng tâm thần và lẽ thật (Gi 4:21-24). Họ sẽ đến đó để Đức Chúa Trời dùng “các thầy tế lễ” chân chính dạy họ đường lối của Ngài (Mat 5:17 28:18-20 IPhi 2:9). Khi luật pháp và lời tiên tri của Đức Chúa Trời được truyền dạy từ Giê-ru-sa-lem ở thiên đàng, những lợi ích trong câu 3-4 sẽ thành tựu.
3 Đức Chúa Trời sẽ phân xử (Mi 3:11) qua những cá nhân có ân tứ dạy dỗ lời của Ngài và như vậy họ sẽ đưa ra những phán quyết đối với các cường quốc. Vì không cần đến vũ khí nữa nên các dân tộc ưa chuộng hoà bình sẽ rèn gươm thành lưỡi cày (đúng ra là “lưỡi cuốc). 4 Vì lòng không còn chứa đầy sự tham lam (2:2) cũng không còn mưu sinh bằng gươm giáo (so sánh Mat 26:52) con người được tái tạo (so sánh Gie 31:31-34) sẽ không còn sống trong nỗi lo bị trả đũa nên họ sẽ yên tâm thoả lòng ngồi dưới cây nho của mình. Mẫu câu kết thúc, vì miệng Đức Giê-hô-va vạn quân đã phán, bảo đảm rằng khải tượng này sẽ được thành tựu. Ngày nay Hội thánh bao gồm tín hữu chân chính trong các dân tộc nhận biết rằng ban cho có phước hơn nhận lãnh (Cong 20:35). Họ có luật pháp ghi khắc trong lòng họ và được kinh nghiệm ân sủng và sự bình an đã hứa ở đây từ nơi Đức Chúa Trời là Cha và Cứu Chúa Giê-xu.
5 Trong khi trông đợi Đức Chúa Trời làm trọn lời hứa này, tàn dân trung tín hứa nguyện bước theo danh của Đức Giê-hô-va (tức là phù hợp với giao ước của Ngài) đời đời vô cùng (so sánh Es 40:31). Họ là những người báo trước về sự hoà bình trong tương lai.
(Mi 4:6-7) Tàn dân què quặt sẽ trở nên mạnh mẽ 6 Trong ngày đó chỉ về những ngày cuối cùng trong câu 1. Đức Giê-hô-va phán bảo đảm rằng lời tiên tri được chính Đức Chúa Trời hà hơi thôi thúc, và như vậy cũng bảo đảm rằng lời Đức Chúa Trời là chân thật và có thẩm quyền. Vị Vua Chăn Chiên sẽ gom người què, và sẽ tập hợp người bị lưu đày (đúng ra là “người bị tản lạc”). Đây là một lời tiên tri hướng đến những người chịu khổ sẽ được giải phóng khỏi Ba-by-lôn.
7 Sau khi tập hợp họ về Ba-by-lôn, Đức Chúa Trời biến họ thành tàn dân. Tàn dân này trở nên mục đích trong lịch sử thuộc linh của Ngài. Các dân tộc khác trong thế giới thời của ông Mi-chê không sống sót qua cuộc bể dâu trong lịch sử vì Đức Chúa Trời không duy trì cho họ một tàn dân (so sánh Am 1:8 Ro 11:1-35). Những người bị đuổi đi xa vì cớ tội lỗi của họ, nay được phục hồi và thanh tẩy, sẽ trở nên một dân tộc hùng cường (IPhi 2:9). Kế đó, ông Mi-chê triển khai tiếp lời giảng hình bóng này. Khi Đức Giê-hô-va thiết lập quyền hành của Ngài thông qua Đấng Mê-si cai trị từ ngôi thiên thượng của Ngài tại Núi Si-ôn (so sánh Mi 5:2-4 Cong 2:32-36), thì vương quốc của họ sẽ tồn tại từ nay cho đến đời đời (so sánh Es 9:6-7).
(Mi 4:8) Quyền thống trị của Giê-ru-sa-lem được phục hồi Đức Chúa Trời truyền phán với Si-ôn qua lời tiên tri thứ ba về Si-ôn. Ngài xác định thủ đô được phục hồi là một tháp canh (tức là một cái tháp kiên cố trong vườn nho được củng cố để canh chừng thú rừng và dân trộm cắp) của (“vì sự an ninh của”) bầy (dân cư trong vương quốc của Ngài so sánh 6-7). Giới cầm quyền cũ bóc lột cướp phá họ (chương 3), còn trong kỷ nguyên mới Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ họ thông qua Đấng Mê-si (Mi 5:1-6). Ngài cũng xác định thủ đô được phục hồi này là đồn lũy (so sánh IIVua 5:24, “gò”), đồn lũy này nằm trên đồi (trước kia có tên là Ô-phên) phía đông Giê-ru-sa-lem, là một chốt phòng thủ kiên cố. Nói về Giê-ru-sa-lem bằng từ đồn lũy mà lại liên hệ với sự vĩ đại của vua Đa-vít khiến cho tàn dân mường tượng được hào quang tương lai của Giê-ru-sa-lem khi quyền hành sẽ được phục hồi cho Giê-ru-sa-lem, “một vương quốc của con gái Giê-ru-sa-lem”.
3. Nỗi đau đớn của Si-ôn hiện nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới (Mi 4:9-13)
Tiên tri tiếp tục nói về sự phục hồi của Si-ôn. Bài giảng gồm hai phần (9-10,11-13) có hình thức tương tự với ý nghĩa mạch lạc. Cả hai đều khởi đầu với từ bây giờ (tức là tình cảnh đau thương hiện tại trong thời của ông Mi-chê c.9,11) chuyển đến tương lai huy hoàng với một tiếng kêu thảng thốt: Hỡi con gái Si-ôn (tức là Giê-ru-sa-lem và cư dân) với một lệnh truyền, hãy đau đớn khó nhọc (10) và hãy chổi dậy và chà đạp (13), nối tiếp bằng từ vì và phần mô tả tương lai.
9 Mấy câu hỏi theo lối hùng biện Làm sao ngươi kêu la như vậy? có ý trách Si-ôn về lòng vô tín khi tàn dân (là những người Đức Chúa Trời để dành cho lịch sử trong tương lai) bị đưa đi đày ở Ba-by-lôn. Câu hỏi Giữa ngươi há không có vua sao? (đúng ra là “Vua”) giải thích câu hỏi thứ nhất. Vị “Vua” ở đây là Đức Chúa Trời, như những câu tương ứng là câu 12 và Gie 8:19 cho thấy. Mưu sĩ của họ (đúng hơn, Mưu Sĩ) là Đấng đang đẩy họ vào chốn lưu đày có một kế hoạch trong việc họ đau đớn như đau đẻ: thông qua nỗi đau đớn này sẽ mở ra một kỷ nguyên mới. 10 Tàn dân sống sót sau khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ được lệnh hãy đau đớn khó nhọc như phụ nữ trong lúc sinh đẻ. Nỗi đau quặn thắt hiện nay là tàn dân phải đi ra khỏi thành (so sánh IIVua 25:2-7 Gie 52:7) tạm trú trong đồng ruộng (6:25 14:18), và đi đến Ba-by-lôn, một thí dụ điển hình về sự tối tăm thuộc linh. Nhưng ở đó, tại đó (lặp lại hai lần nhằm nhấn mạnh) Đức Giê-hô-va sẽ chuộc họ khỏi tay của kẻ thù nghịch họ đó là tia sáng đầu tiên báo hiệu rạng đông của kỷ nguyên mới (xem Mi 4:1). Năm 705 T.C. ông Ê-sai báo trước cuộc lưu đày qua Ba-by-lôn vào dịp phái bộ của Mê-rô-đác-Ba-la-đan, vua Ba-by-lôn đến viếng thăm Giê-ru-sa-lem (IIVua 20:12-19 Es 39:1-8). Lời tiên tri về tàn dân được bảo toàn sẽ trở về Giê-ru-sa-lem được thành tựu vào thời Xô-rô-ba-bên và Giê-hô-sua trong năm 538 T.C..
11 Trong khi từ bây giờ câu 9-10 chỉ về cuộc lưu đày qua Ba-by-lôn, thì từ bây giờ trong câu 11 chỉ về cuộc vây hãm thành Giê-ru-sa-lem bởi quân A-si-ri (xem dẫn nhập). Quân đội của đế quốc A-si-ri gồm lính đánh thuê thuộc nhiều dân tộc (Es 29:7). Tiền lương trả cho họ là tiền cống mà các nước bị đô hộ đã phải đóng một cách miễn cưỡng tức tối. Các đạo quân kiêu hãnh bất cần này (mỗi cánh quân có cờ riêng) tập hợp lại để chống nghịch Si-ôn với kết quả là thành thánh sẽ bị ô uế bởi vì họ triệt hạ tường thành bảo vệ khuôn viên đã biệt riêng ra thánh, nhất là Nơi Chí Thánh. Họ cũng sẽ cười chê thành phố vốn tự xưng là thành đại diện đích thực của thiên đàng trên trần gian và đã từng lên án họ. 12 Nhưng họ không biết chương trình của Chúa cho chiến trận, tức là Ngài tập hợp họ về tường thành Si-ôn như thể người ta gom các bó lúa vào sân đạp lúa (một hình ảnh quen thuộc minh hoạ về sự hình phạt, Es 21:10 Gie 51:33 Os 13:3). Vô tình họ lại là công cụ gây ra thất bại cho chính mình cũng như khi Đức Chúa Trời thắng mưu của Sa-tan thông qua thập tự giá của Cứu Chúa Giê-xu (ICo 2:7-8). 13 Thế là ông Mi-chê truyền cho tàn dân tập hợp lại với mình trong thành Giê-ru-sa-lem đang bị vây hãm để tiến ra khỏi thành (so sánh Mi 2:13), Hãy vùng dậy và đạp lúa, vì Đức Chúa Trời đã ban cho họ sừng bằng sắt để húc kẻ thù và vó bằng đồng để đập tan (như bó lúa bị dẫm nát, hạt lúa đi đằng hạt, rơm nát đằng rơm) các dân tộc đông đảo đó. Tàn dân sẽ đem chiến lợi phẩm mà quân A-si-ri đã chiếm cách bất hợp pháp (những của cải của Giu-đa bị quân A-si-ri cướp nhưng chưa kịp chuyển về A-si-ri) dâng cho Giê-hô-va trong đền thờ được bảo toàn của Ngài (so sánh số phận của Sa-ma-ri trong 1:6-7). Chiến lược bí mật bắt đầu thành tựu năm 701 T.C. (IIVua 19:1-35) tiếp tục được thành tựu trong lịch sử của Chúa (Gie 51:33 ICo 2:7-8).
4. Đấng Mê-si chào đời và được tôn vinh (Mi 5:1-6)
Giờ đây, tác giả chuyển trọng tâm chú ý từ Si-ôn được tái tạo qua nhà Đa-vít. Bài giảng mở đầu với ông Mi-chê và tàn dân (chúng ta, đại danh từ ngôi thứ nhất số nhiều) đang đối đầu với cuộc xâm lăng của quân A-si-ri.
(Mi 5:1) “Bây giờ” (tiếc là bản NIV, bản diễn ý không giữ lại từ này) liên hệ bài giảng này với bài trước (9,11) tất cả mọi người lúc đó bắt đầu chịu cảnh đau buồn (1) để rồi được giải cứu (2-6). Nhằm củng cố phần tâm linh của dân cư trong thành đang bị bao vây ông Mi-chê truyền rao rằng: Bây giờ hãy nhóm đội ngũ ngươi! (bản Kinh Thánh tiếng Việt cũ Mi 4:14), Người đã vây hãm chúng ta! Người ở đây là vua San-chê-ríp vây thành Giê-ru-sa-lem năm 701 T.C. (so sánh 1:9,12 2:12-13 4:11). Người ta (quân A-si-ri) lấy roi (cây phủ việt) đánh trên má quan xét (vua Ê-xê-chia) của Y-sơ-ra-ên. Câu này chứng tỏ vua không có phương cách nào để tự vệ, cũng như sau này kẻ thù đánh Đấng Con vua Đa-vít, Đấng vĩ đại hơn hết, để hạ nhục Ngài (Mat 26:67 27:26,30).
(Mi 5:2) Từ Nhưng chuyển từ cảnh tượng Giê-ru-sa-lem bị vây hãm đến Bết-lê-hem, tương lai hi vọng của Y-sơ-ra-ên. Câu này cũng nhân cách hoá Bết-lê-hem như Giê-ru-sa-lem được nhân cách hoá trong Mi 4:8 rồi Đức Chúa Trời truyền phán trực tiếp với Bết-lê-hem. Các tên riêng Bết-lê-hem Ép-ra-ta và Giu-đa gợi nhớ thời của Giê-sê, thân sinh của vua Đa-vít (so sánh ISa 17:12). Đức Chúa Trời sắp sửa bắt đầu trở lại từ đầu. Dòng họ Đa-vít bị tha hoá nên sẽ bị đốn như cây khô, nhưng như ông Ê-sai đã mô tả, “một chồi (Đấng Mê-si) sẽ nứt lên từ gốc Giê-sê” (Es 11:1). Bết-lê-hem thời xa xưa rất nhỏ bé (“nhỏ bé nhất”, so sánh Cac 6:15 ISa 9:21) giữa hàng ngàn thôn xã Giu-đa (đến nỗi bản liệt kê dài về các thôn xã Giu-đa trong Gios 15:33-60 cũng không nhắc đến Bết-lê-hem). Ngày nay, nhờ Chúa Cứu Thế ra đời tại đây mà Bết-lê-hem được ca ngợi, trong khi sự chào đời của Chúa Cứu Thế thoạt đầu cũng lặng lẽ, không mấy ai biết đến y như Bết-lê-hem khi xưa trong thời Chúa Cứu Thế chưa chào đời (so sánh ISa 16:1-13). Ông Ma-thi-ơ (Mat 2:6) hiểu câu này trong ý nhấn mạnh Chúa Giê-xu là Đấng lãnh đạo cai trị chớ không phải hậu duệ của Giê-sê. Ông bỏ tên riêng “Ép-ra-ta” dùng từ “những kẻ cai trị” thay cho từ “hàng ngàn thôn xóm” nhờ đó tạo một hình ảnh ứng với từ “Đấng cai trị Y-sơ-ra-ên” và lột tả được chủ ý của bản văn bằng cách thêm cụm từ “chẳng phải kém gì” và dùng IISa 5:2 thay thế cho phần cuối câu.
Trái ngược với thành phần lãnh đạo thủ lợi (Mi 3:1-4) Đấng Mê-si sẽ chào đời cho ta (tức là vì lợi ích của Đức Chúa Trời, chớ không phải mưu lợi cho chính mình Ngài). Nếu ở đầu câu thông qua những tên riêng ám chỉ về Giê-sê lý lịch của Đấng Mê-si có vẻ mơ hồ thì ở cuối câu mọi sự đều rõ ràng: gốc tích của Ngài là từ đời xưa, từ trước vô cùng, chỉ về thời kỳ của Giê-sê. Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai từ từ đời xưa có nghĩa là “từ thời xa xưa nhất”, “từ ngàn xưa” (“thuở xưa” trong Gios 24:2, “xưa kia” trong Gie 2:20) khi được dùng để chỉ về một biến cố lịch sử, còn khi dùng để chỉ về Đức Chúa Trời, Đấng Thực Hữu trước sáng tạo, thì dùng từ “đời đời” mà chuyển ngữ là chính xác (thí dụ Thi 90:2). Tác giả dùng thêm từ thời gian, thời kỳ (nghĩa đen là “những ngày”) cho thấy câu này nói về một chuyện trong lịch sử. Cụm từ này được chuyển ngữ đầy đủ là “như trong những ngày xưa”, (Mi 7:14,20).
(Mi 5:3) Căn cứ vào lời hứa là kỷ nguyên mới của Si-ôn sẽ mở màn với sự chào đời của Đấng Mê-si tại Bết-lê-hem, ông Mi-chê kết luận rằng Y-sơ-ra-ên sẽ bị bỏ mặc, không có một người nào làm vua cho đến chừng người đàn bà đau đẻ đã sinh sản (4:9-10) Đấng Mê-si. Lời tiên tri này được thành tựu khoảng 700 năm sau thông qua ông Xa-cha-ri và bà Ê-li-sa-bét, Cụ Si-mê-ôn và bà An-ne. Ông Giô-sép và nhất là bà Ma-ri (Lu 1:5-2:40 so sánh Es 7:14). Một nhóm ít người làm nhân cho vương quốc Si-ôn mới tập hợp chung quanh Đấng Mê-si, là những kẻ còn sót lại trong các anh em của Ngài, là những người liên hệ với Ngài không phải chỉ bởi huyết thống và lịch sử mà thôi nhưng còn bởi phần thuộc linh nữa. Họ sẽ trở về (một từ có nghĩa là ăn năn quay lại tin nhận) từ chốn lưu đày trong tội lỗi và hình phạt để hoà nhập với con cái Y-sơ-ra-ên (một từ có ý nghĩa trong lãnh vực tôn giáo) đích thực. Sau khi tập hợp tàn dân được tuyển, Chúa Cứu Thế khai lập vương quốc của Ngài từ Si-ôn thiên thượng khi Ngài sai phái Đức Thánh Linh đến với anh em của Ngài đang hội họp trong một phòng cao để rồi sau đó họ làm đảo lộn thế giới (Lu 3:16 Cong 2:1-47).
(Mi 5:4) Đấng Mê-si lên ngôi trị vì sẽ đứng vững (tức là sẽ tồn tại đời đời so sánh Thi 33:11 Es 14:24) và sẽ chăn bằy của mình, cung ứng mọi như cầu cho họ, kể cả nhu cầu thuộc linh và bảo vệ họ (Gi 10:1-42 He 13:20 IPhi 5:4). Bởi đức tin Ngài sẽ cai trị trong sức mạnh của Đức Giê-hô-va chớ không phải thông qua những thủ đoạn và mánh khoé của con người (so sánh 5:10-15). Dân sự của Ngài sẽ sống an ổn vì nhờ chiến thắng Sa-tan (Mat 12:22-29 Ro 16:20). Ngài sẽ bành trướng vương quốc của mình đến đầu cùng đất (Mi 4:3-4 Mat 28:18-20 Gi 17:2). Chúa Cứu Thế ban sự sống đời đời cho tuyển dân của Ngài và chẳng ai có thể cướp họ khỏi tay Ngài (Gi 10:28).
(Mi 5:5-6) Giờ đây tác giả viết thêm chi tiết về vấn đề quyền hạn cai trị của Chúa Cứu Thế trên toàn thế giới sẽ bảo đảm hoà bình cho vương quốc của Ngài. Ông Mi-chê dùng đại danh từ chúng ta (xem phần trên) để gắn liền thành phần trung thành và chính mình ông với vương quốc khải hoàn đó (Mi 5:1). Ông gói ghém kết luận này trong những lời hứa là Đấng mê-si sẽ làm sự bình an cho chúng ta (5a) và Ngài sẽ giải cứu chúng ta (6b). Đấng Mê-si sẽ vừa bảo vệ vương quốc của Ngài khỏi sự tấn công của kẻ thù (5b) và áp đặt quyền cai trị trên kẻ thù (6a).
5 Ông Mi-chê nói về những cuộc tấn công trong tương lai vào vương quốc của Đấng Mê-si là do quân A-si-ri thực hiện. Họ bị tiêu diệt trong năm 612 T.C., nhiều thế kỷ trước khi Chúa Giê-xu giáng sinh. Các tiên tri nhìn vào tương lai không thấy khoảng thời gian nhiều thế kỷ dài đằng đẳng sẽ trôi qua giữa họ và sự thành tựu của lời tiên tri nhưng họ thấy những sự việc tương lai là những việc sắp sửa xảy ra như trên cùng một mặt phẳng của bức tranh. Hơn nữa, họ mô tả tương lai bằng vốn từ tích lũy trong kinh nghiệm của chính mình (4:1 Es 25:10 Am 9:12). Dưới quyền cai trị của Đấng Mê-si, cộng đồng những người trung tín sẽ dấy lên bảy (con số trọn vẹn) người chăn (hình ảnh minh hoạ về người bảo vệ) và tám (tức là hơn số cần thiết, quá mức cầu) quan trưởng (một từ hiếm được dùng nhưng có xuất hiện trong các bộ sử biên niên của Sargon, để chỉ về hàng tướng lãnh của vua). 6 Họ, tức là những người dưới quyền Đấng chăn chiên (so sánh IPhi 5:1-4) sẽ cai trị đất nước A-si-ri, là đất nước tiêu biểu cho tất cả mọi lực lượng thù địch, nhất là lực lượng trong cõi vô hình do Sa-tan tung ra chống lại vương quốc của Đức Chúa Trời (Eph 4:7-12 6:10-18). Đất của Nim-rốt là Ba-by-lôn (Sa 10:8-12) chẳng khác gì La-mã và Mecca trong thế giới ngoại đạo đương thời với ông Mi-chê. Ba-by-lôn được nêu ra sau A-si-ri củng cố cho niên đại được nêu trong câu dẫn nhập của sách (Mi 1:1). Trong thời của ông Mi-chê Ba-by-lôn lệ thuộc A-si-ri. Tàn đế quốc Ba-by-lôn thứ hai tiêu diệt A-si-ri năm 612 T.C. để rồi cũng bị tiêu diệt năm 539 T.C.. Theo ý nghĩa của Tân Ước, gươm tiêu biểu cho lời của Đức Chúa Trời do Đức Thánh Linh truyền dạy.
5. Tàn dân cai trị trên các dân tộc (Mi 5:7-9)
Mi 5:7-8 Sẽ dẫn vào một lời tiên tri nữa trong loạt bài tiên tri về những ngày sau rốt (so sánh Mi 4:1) và gợi ý rằng sự thành tựu sẽ diễn ra sau khi Đấng Mê-si đến thế gian. Tàn dân (phần sót lại, xem 4:7) của Gia-cốp, ông Mi-chê dùng từ này để chỉ về tàn dân Y-sơ-ra-ên (1:5), nay trở thành một dân tộc hùng cường giữa nhiều dân (4:2-3), đem sự sống đến cho những người tin và sự chết đến cho những người không tin. Cấu trúc tương tự của hai câu 7 và 8 nhằm tạo sự trái ngược giữa các dân tộc. 7 Một mặt, tàn dân tựa như sương và như mưa (luôn luôn là dấu hiệu về sự sống và phước hạnh) lan toả và thấm đẫm khắp nơi phát xuất cách bí ẩn từ Đức Giê-hô-va ở thiên đàng, chẳng đợi người ta (đúng ra là “chẳng trông mong gì nơi người”) cũng chẳng trông cậy vào con người. 8 Mặt khác, tàn dân ở giữa các dân tộc tựa như một con sư tử tìm mồi giữa bầy chiên (tức là nó sẽ dày xéo và cắn xé, không ai cứu được hết). Lời tiên tri này được thành tựu qua Hội thánh. Giữa vòng những người được cứu dân sự của Đức Chúa Trời là hương thơm của sự sống nhưng giữa vòng những người hư mất, họ có mùi của sự chết (IICo 2:14-16). 9 Ông Mi-chê và/ hoặc tàn dân đáp ứng khải tượng này bằng lời cầu nguyện : “Nguyện” tay (số ít) Chúa vung lên đắc thắng trên mọi kẻ cừu địch của Ngài (so sánh Es 26:11). Chẳng ai được miễn trừ khi quyền cai trị của Ngài được thiết lập trên toàn cõi thọ tạo của Ngài (so sánh Mi 5:4).
6. Đức Chúa Trời bảo vệ vương quốc được thanh tẩy của Ngài (Mi 5:10-15)
Lời tiên tri quan trọng thứ bảy về niềm hi vọng trong chương 4-5 cũng nói về ngày đó (4:1,6) là ngày tàn dân dưới quyền lãnh đạo của Đấng Mê-si đi ra chinh phục các dân tộc. Đức Giê-hô-va phán (Mi 4:6) bảo đảm rằng lời tiên tri sẽ thành tựu. Lời tiên tri nói về vì Y-sơ-ra-ên được bảo vệ qua phương cách Y-sơ-ra-ên được thanh tẩy trong nội tâm (10-14), còn bên ngoài các dân tộc bất phục tòng sẽ bị hình phạt (15).
(Mi 5:10-14) Lời tiên tri Ta sẽ trừ diệt hết (10-13) là câu trả lời của Đức Chúa Trời đối với lời cầu nguyện trong câu 9. Nguyên ngữ của từ “diệt trừ” là một động từ Hi Bá Lai thường chỉ về việc khai trừ những người vi phạm luật thánh khiết của Y-sơ-ra-ên (thí dụ “truất” trong Le 17:10 20:3-6). Đó là một biện pháp bảo tồn Y-sơ-ra-ên trước cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đối với sự bất khiết. Những đối tượng, sản phẩm của chính tay họ là mối đe doạ đức tin của Y-sơ-ra-ên nơi Đức Chúa Trời đều bị liệt vào loại phải tiêu huỷ khỏi giữa họ (10,13,14): sức mạnh quân sự (10-11 so sánh Phu 17:16-17), đồng bóng, phù thuỷ (12 so sánh 18:9-13) và hình tượng (13-14 so sánh 7:5). Ông Ê-sai (Es 2:6-8) cáo buộc Y-sơ-ra-ên về việc họ tin cậy những thứ đó. Lực lượng quân sự bao gồm cả những xe ngựa chiến đấu (10), những thành trì phòng thủ, tất cả những đồn lũy (11). 12 Bản NIV bỏ qua cụm từ khỏi tay ngươi đi kế vấn đề đồng bóng phù thuỷ. Nhưng cụm từ này nhấn mạnh sự kiện là những điều đó do con người bịa đặt ra. 13 Cùng một nhận xét như trên đối với cụm từ khỏi giữa ngươi đi kế sau những tượng chạm và trụ tượng là những biểu tượng về nam thần Ba-anh.
(Mi 5:15) Trong Kinh Thánh báo thù là một từ luật pháp có nghĩa là người cai trị giữ gìn an ninh cho vương quốc bằng cách bảo vệ dân và hình phạt những người áp bức hành hạ họ. Các dân tộc ngoại đạo vô tín có thái độ bất kính đối với vương quốc thánh của Ngài sẽ chuốc lấy cơn thạnh nộ và tức giận của Ngài. Trong suốt lịch sử Đức Chúa Trời đã bảo vệ quyền cai trị của Ngài đối với những nước không vâng theo Ngài, nhưng chung cuộc Ngài sẽ thi hành quyền lực bảo vệ của Ngài khi Chúa Cứu Thế tái lâm (Lu 18:7-8 21:22 IITe 1:8 Kh 6:10).
4. LOẠT BÀI TIÊN TRI THỨ BA: ĐỨC CHÚA TRỜI THA THỨ CHO TÀN TUYỂN DÂN TỘI LỖI (Mi 6:1-7:20)
Hãy nghe (số nhiều) là động từ hướng đến thính giả, chuyển vào loạt bài tiên tri thứ ba. Lời Đức Giê-hô-va phán khiến cho phần này có thẩm quyền của Chúa. Về cấu trúc tổng thể của phần này trong sách xin xem Dẫn nhập.
1. Y-sơ-ra-ên bị cáo buộc là đã vi phạm giao ước (Mi 6:1-8)
Bài giảng này triển khai nội dung khá phức tạp dưới dạng một vụ kiện, Đức Chúa Trời kiện dân Y-sơ-ra-ên. Ngài truyền cho sứ giả là ông Mi-chê kêu gọi núi đồi đến làm chứng tại phiên toà (1). Ông Mi-chê vâng lời (2a) rồi trình bày nội dung tiếp theo dưới hình thức đối thoại đầy kịch tính với từ ngữ chủ chốt là điều gì, làm gì, vật gì (3,6,8).
(Mi 6:1-2) Hãy chổi dậy (số ít, “hãy đứng ra”, bản Diễn ý) cho ông Mi-chê thẩm quyền và biểu thị tính cách cấp bách của sứ điệp. Nguyên từ được chuyển ngữ là đối nại (khiếu nại) trong Hi Bá Lai có nghĩa là “cáo buộc”. Vì đây là vụ kiện của Đức Chúa Trời chớ không phải của ông Mi-chê (2b) nên lẽ ra trong câu 1 phải dùng đại danh từ “Ta” chớ không phải ngươi. Như ông Gia-cốp và ông La-ban đã từng dựng đá tảng và chất đá cục thành đống để làm chứng (Sa 31:43-47) và cũng như hai chi phái rưỡi người Y-sơ-ra-ên ở vùng lãnh thổ phía đông sông Giô-đanh đã chất đá thành bàn thờ để làm chứng tích cho giao ước của họ với Đức Chúa Trời (Gios 22:21-28), Đức Chúa Trời kêu gọi “trời và đất” làm chứng cho giao ước của Ngài với Y-sơ-ra-ên (so sánh Phu 4:26). Giờ đây, khoảng 700 năm sau, Ngài kêu gọi núi (1-2) và các nền hằng vững chắc của đất (2) hội lại làm chứng cho những lời đối nại chính đáng của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên, dân sự của Ngài. Nhân đây xin nói thêm rằng sự làm chứng không nói thành lời của các đối tượng đó chỉ có sức thuyết phục khi mà đôi bên công nhận rằng từ thế hệ này đến thế hệ khác giao ước đã được truyền chuyển nguyên vẹn đầy đủ.
(Mi 6:3-5) Bên tiên cáo bắt đầu nói trước. 3 Xưa nay Ngài không chồng chất lên họ một gánh nặng nào như họ ngầm phàn nàn, trái lại Ngài đã đối xử rất nhân hậu từ thuở mới hình thành nên phản ứng xứng hợp duy nhất từ phía họ là thành tâm gắn bó với Ngài. Rồi vì họ im lặng khi Ngài thôi thúc họ, hãy làm chứng nghịch cùng Ta (so sánh Ro 3:19), nên Ngài mở đầu bằng lời kêu than Hỡi dân ta (3-5). 4 Phần thứ nhất nói đến việc giải cứu họ trong trang sử đầu tiên của họ, tức là đã đem họ lên khỏi đất Ê-díp-tô và đã chuộc (giải phóng) họ khỏi nhà tôi mọi. Ngài cũng ban cho họ những vị lãnh tụ siêu phàm, đầy lòng kính sợ Đức Chúa Trời, tức là ông Môi-se, người lập quốc, ông A-rôn, thầy tế lễ thượng phẩm, và bà Mi-ri-am, nữ tiên tri và nữ thi sĩ (Xu 15:20-21). Về sau Y-sơ-ra-ên thiếu người lãnh đạo thì không phải do Đức Chúa Trời thiếu lòng ưu ái và bất lực nhưng do lòng cứng cỏi bướng bỉnh của họ. 5 Phần thứ hai nói đến những việc làm đầy quyền năng của Đức Chúa Trời vào cuối thời kỳ lập quốc của họ, tức là Ngài bảo vệ họ khỏi những lãnh tụ chính trị và tôn giáo bị ma quỷ dẫn dụ, tức là Ba-lác vua của Mô-áp và Ba-la-am con trai Bê-ô, và cuộc hành trình lạ lùng của họ từ Si-tim, bên tả ngạn sông Giô-đanh vượt qua con sông đang hồi nước lũ đến Ghinh-ganh là nơi họ hạ trại lần đầu tiên tại đất hứa. Những trở lực đó minh chứng cho những việc công bình (giải cứu) của Đức Chúa Trời đã làm cho họ từ thuở ban đầu. Nếu Đức Chúa Trời đã giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi sự hãm hại của Ai Cập và Mô-áp thì há Ngài chẳng có thể giải thoát hậu duệ của họ khỏi gông cùm của Sa-tan sao, cho dù nó hoành hành dưới hình thức nào đi nữa? Và há Ngài chẳng có khả năng thực hiện những việc tương tự cho dân của Ngài suốt qua các thời đại sao?
(Mi 6:6-7) Có lẽ hai câu này nói về một trong các vua Y-sơ-ra-ên đã đáp ứng những của lễ to tát trong tinh thần không xứng hợp gây tai hại cho chính mình. Thay vì tỏ lòng ăn năn về lòng vô ơn và bất trung của mình, vua lại tìm cách đến trước sự hiện diện cao quý của Đức Chúa Trời bằng công đức và nghi thức, biến giao ước thuộc linh (so sánh Phu 6:4-5) thành một hợp đồng thương mại. 6 Vua hi vọng đến chầu trước mặt Đức Giê-hô-va thông qua những của lễ đắt tiền. Tìm kiếm ân sủng của Đức Chúa Trời trong tinh thần vô tín thì lương tâm chẳng bao giờ an ổn, cho nên vua cứ phải dâng của lễ càng đáng giá hơn về phẩm lẫn lượng: của lễ thiêu, những con bê con giáp niên (tiêu biểu cho sinh tế hoàn hảo nhất),hàng ngàn chiên đực (so sánh IVua 3:4 Phu 8:63), hàng vạn sông dầu (ô-li-ve) là loại người ta thường chỉ tính ở mức thập phân của lít. Vua còn muốn dâng con đầu lòng của mình nữa, một thói tục gớm ghiếc của người ngoại đạo (Le 18:21). 8 Thật ra điều Đức Chúa Trời đòi hỏi là trung tín giữ giao ước, là giao ước xây dựng trên niềm tin nơi Ngài. Giao ước thể hiện một lối sống tốt đẹp lấy đạo đức làm căn bản còn nghi thức chỉ là phụ (Xu 201-24:18 ISa 15:22 Mat 5:24). Vua không biết Đức Chúa Trời hài lòng về những điều gì thì vua đã thiếu sót nặng nề, không thể vin vào lý do nào để bào chữa, vì trong bản giao ước Đức Chúa Trời có tỏ cho con người biết điều gì là thiện. Đây là một từ tóm gọn những yêu cầu của luật pháp: làm sự công bình (chương 3), ưa sự nhân từ (tức là thiết tha, thành tâm bảo vệ người yếu thế), và bước đi cách khiêm nhường (hoặc “bước đi có ý tứ” theo sự hướng chỉ định của những yêu cầu trong giao ước) với Đức Chúa Trời ngươi.
2. Những lời rủa sả của giao ước được thành tựu trên Giê-ru-sa-lem (Mi 6:9-16)
Bài giảng về án phạt này gồm có phần diễn giảng (9), cáo buộc (10-12) và lên án (13-15). Câu 16 lặp lại phần cáo buộc (16a) và lên án (16b).
(Mi 6:9) Phần diễn giảng gồm hai ý: Thứ nhất, ông Mi-chê kêu gọi Hãy nghe tiếng của Đức Giê-hô-va nghịch cùng thành này (Giê-ru-sa-lem). Rồi riêng với Đức Chúa Trời ông Mi-chê thêm: kính sợ Danh Ngài là khôn ngoan (“phán đoán chí lý”). Thứ hai, Đức Chúa Trời nói với dân sự. Có thể chuyển ngữ câu 9b là: “Hãy nghe, hỡi chi phái và hội chúng của thành”.
(Mi 6:10-12) Lời cáo buộc về sự gian lận trong lãnh vực thương mại cũng gồm có hai phần: Phần thứ nhất, Đức Chúa Trời dùng đại danh từ ngôi thứ nhất trực tiếp cáo buộc dân cư trong thành về việc dùng lường non (10) và cân non (11), rồi Ngài dùng đại danh từ ngôi thứ ba để nói về thành phần cao cấp trong thành, cáo buộc họ về lời nói gian, tráo trở trong chốn công đường (12). 10 Thật ra phần đầu câu này có ý nói là “làm sao mà ta có thể dung thứ các lường non?”. Cái lường là vật dụng lường chất lỏng tương ứng với cái ê-pha (lường chất rắn) bằng một phần mười cái hô-me (một hô-me bằng hai mươi hai lít). Nếu Đức Chúa Trời dung tha bọn nói dối và lừa gạt thì hoá ra Ngài là đồng phạm với họ sao. Ngài chủ trương cân đúng và lường đủ (Le 19:35-36 Phu 25:13-16 Exe 45:10), và rủa sả cái ê-pha non, thiếu (tức là nó sẽ dẫn đến sự hình phạt của Đức Chúa Trời chớ không phải phước hạnh). 11 Ngài cũng không dung tha người có bàn cân gian và trái cân non. Tình trạng bất chính, không lương thiện của thành phần cao cấp trong dân Y-sơ-ra-ên (Mi 2:1-2 3:1-4) đã thấm sâu vào toàn dân đến nỗi nay Ngài phải xử lý toàn dân. 12 Vì những người giàu trong thành này đầy sự cường bạo và là những người nói dối (tức là họ dùng những lời cáo gian dối và xét xử bất công để hãm hại người cô thế trong các vụ xét xử tại toà án xem 2:1-2 so sánh Thi 27:12 55:11 58:1-2).
(Mi 6:13-15) Do đó (vậy nên) Đức Chúa Trời đưa ra một án phạt tương xứng với tội danh. 13 Nguyên bản câu này là “Về phần ta, ta sẽ làm cho ngươi (số ít, tức là bản thân tội nhân) bịnh” chớ không phải ta đã bắt đầu đánh ngươi. Hoang vu có nghĩa là “bị tàn phá về mặt thể xác”. 14 Đến đây Đức Chúa Trời nói cụ thể về chứng bịnh tàn phá thể xác: Ngươi sẽ ăn, nhưng không được no. Ngươi sẽ lao động nhưng không có kết quả, và cho dù ngươi sinh được một người con ta cũng phó nó cho gươm “Những thảm hoạ mà lời rủa sả trong giao ước đã báo trước nay đều xảy ra (so sánh Le 26:26 Phu 28:15,18). 15 Ngoài ra, họ bị mất mùa, đúng theo lời rủa sả của giao ước (Le 26:16 Phu 28:40,51). Những lời rủa sả được lặp đi lặp lại đó đóng vai trò như những điều luật cho phép dân Y-sơ-ra-ên hiểu rằng những điều kinh khiếp đó đến từ Đức Chúa Trời là Đấng đã cảnh báo họ trước về hậu quả của hành động từ bỏ giao ước.
(Mi 6:16) Trong phần tóm tắt, Đức Chúa Trời cáo buộc Giê-ru-sa-lem là đi theo tội lỗi của Ôm-ri (IVua 16:25) và con của vua là A-háp, một ông vua nổi tiếng về bóc lột và lừa đảo (21:1-36). Vì vậy Đức Chúa Trời khiến cho họ bị tàn phá hoang vu, và bị người ta chê cười (so sánh Phu 28:25).
3. Cơ cấu xã hội của Giê-ru-sa-lem tan rã (Mi 7:1-7)
Ông Mi-chê mở đầu phần than khóc với dấu hiệu buồn rầu rất lộ liễu, Khốn nạn cho ta! Nguyên nhân, mà cũng là một lời cáo buộc, là không có người lãnh đạo nào ngay thẳng, chân chính (1b-4). Trong một câu chuyện ẩn dụ, vị tiên tri, đại diện cho Đức Chúa Trời đến vườn nho vào mùa hè (khoảng tháng 6) tìm những chùm nho chín đầu mùa và những trái vả chín sớm trên cây trồng lác đác trong vườn nhưng chẳng tìm được trái nào vì người ta đã hái trộm sạch cả rồi. 2 Vườn nho tức là nhà Y-sơ-ra-ên (so sánh Es 5:1-7 Thi 80:8-16) còn trái cây là những người tin kính (tức là những người giữ giao ước). Chuyện ẩn dụ (1) và lời giải (2) liên quan với nhau qua từ không có, không còn, do cùng một từ trong Hi Bá Lai. Giờ đây ông Mi-chê nói cụ thể về tội ác của toàn thể các bậc lãnh đạo (tức là các quan trưởng tha hoá trong câu 3 chuyên lo áp bức bóc lột nạn nhân vô tội). Ông Mi-chê ví họ như những tay săn bắn rình rập (âm thầm sử dụng những mánh lới) và dùng lưới mà săn (vừa hiệu quả cao vừa thâm độc so sánh Mi 2:1-2 3:1-3,9-11). 3 Rồi ông đi vào chi tiết về vấn đề này. Cả hai tay (các quan trưởng và vua) đều chăm làm sự dữ (tức là chuyên chú giăng mắc những cái lưới nham hiểm). Quan trưởng và quan xét có lẽ là thành phần thừa hành luật pháp, còn người lớn nghĩa đen (người có thế lực lớn) là vị vua suy đồi cai trị trên họ. Chẳng những họ không từ chối của hối lộ (Xu 23:8 Phu 10:17) mà họ còn cùng nhau đan dệt, toa rập với nhau để buộc người ta phải hối lộ cho mình. 4a Người lành hơn hết trong chúng nó giống như chà chuôm... xấu hơn hàng rào gai góc. Bằng cách bưng bít công lý, giới thừa hành luật pháp phây phây tự mãn và vô tâm tột độ, làm chuyện gây phiền nhiễu và tổn thương cho những người đi tìm công lý. Gọi họ là những người rất ngay thẳng là một cách gọi hết sức mỉa mai làm sao! 4b Thình lình giọng than van chuyển thành cáo buộc và kết án. Kẻ canh giữ (tức là những toán lính đóng ở những chốt canh phòng trên tường thành nhằm báo động khi mối đe doạ xuất hiện, Es 21:6) là các vị tiên tri chân chính trong dân Y-sơ-ra-ên, là những người cảnh báo về ngày phán xét (Mi 2:6 3:8 Am 5:18-20). Vì quốc dân không quan tâm chú ý đến sứ điệp của những người lính canh trung tín này (Mi 2:6-11 3:5-6 Es 30:10 Os 9:7-8 Am 2:12) nên nay ngày thăm phạt của Đức Chúa Trời đã đến rồi (Es 10:3 Os 9:7). Cuộc xâm lăng của quân A-si-ri sẽ gây ra cuộc bể dâu, dân chúng kinh hoảng và bối rối (so sánh Es 22:5). 5-6 Giờ đây tác giả đưa ra những nét cụ thể về tình trạng hỗn loạn, rối reng trong thành khi bị vây hãm (so sánh Es 3:4-7). 5 Trước áp lực của cuộc bao vây, những mối liên hệ chặt chẽ nhất trong xã hội giữa láng giềng, giữa bạn bè (5a), giữa vợ yêu dấu (5b, ngủ trong lòng ngươi) và chồng đều tan rã. Không ai có thể thổ lộ cho người thân tín nhất của mình kế hoạch đối phó với cuộc chiến vì biết đâu người thân tín này chẳng lạm dụng kế hoạch đó duy trì mạng sống của chính họ. 6 Thật vậy, thành viên gần gũi nhất trong chính gia đình sẽ trở mặt xử sự như kẻ thù chống nghịch gia đình để cứu mạng sống của mình. Khi Chúa Giê-xu tái lâm, tình trạng chia rẽ trầm trọng cũng diễn ra như vậy (Mat 10:35-39 Lu 12:53).
7 Tác giả chuyển bài ai ca từ tình trạng tuyệt vọng sang niềm hi vọng tươi sáng với câu Nhưng ta, ta sẽ... Trước kia ông canh chừng để cảnh báo sự hình phạt (4) nay ông canh chừng để loan báo niềm hi vọng nơi Đức Giê-hô-va, trông cậy Ngài giải cứu chính mình ông và tàn dân còn trung tín với Ngài. Vững chãi dựa vào những lời hứa của giao ước đã dành cho Áp-ra-ham (20, Sa 17:7,19 so sánh Phu 30:1-10) ông Mi-chê yên lòng chờ đợi Đức Chúa Trời là Đấng Cứu Chuộc, Ngài sẽ nghe ông.
4. Khải hoàn ca: Nào có ai như Đức Chúa Trời của tàn dân là Đấng sẵn lòng tha thứ (Mi 7:8-20)
Bài ca này kết thúc loạt bài tiên tri thứ ba và kết thúc cả sách. Bài ca gồm bốn khúc thơ khá cân phân: lời xưng nhận trung thành của Si-ôn (8-10). Ông Mi-chê hứa rằng mọi dân tộc sẽ tìm được sự cứu rỗi trong Si-ôn đã được tái thiết (11-12) sau khi toàn vùng đã trở nên hoang vu bình địa (13), ông cầu xin rằng Đức Chúa Trời sẽ lại làm người chăn dân sự (14), kèm theo là lời đáp của Đức Chúa Trời (15), rồi ông Mi-chê ngẫm nghĩ tiếp về sự cứu rỗi dành cho thế giới (16-17) cuối cùng là bài ca của dân sự tỏ lòng hoan hỉ về ơn thương xót vô song và lòng thành tín của Ngài đối với họ (18-20).
(Mi 7:8-10) 8 Giê-ru-sa-lem được nhân cách hoá, bảo kẻ thù nghịch của mình (có lẽ là Ni-ni-ve xem câu 12) đừng vội vui mừng (tức là vui vì chiến thắng) vô cớ dù nay Giê-ru-sa-lem đang ngồi trong nơi tối tăm (tình cảnh đen tối của cuộc lưu đày, Es 42:6-7 49:9), Đức Giê-hô-va tỏ ra gắn bó với Giê-ru-sa-lem đời đời (c.7,20) sẽ là ánh sáng cho Giê-ru-sa-lem (tức là giải thoát Giê-ru-sa-lem khỏi chốn lưu đày tựa như một nhà tù. 9 Vì cớ tội lỗi mà Giê-ru-sa-lem bị sụp đổ chớ không phải vì Đức Chúa Trời bất lực hoặc vì kẻ thù có thừa năng lực. Giê-ru-sa-lem bằng lòng hứng chịu cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va vì cơn giận Ngài là công bình chính đáng và chỉ kéo dài một thời gian ngắn hạn định thôi. Sau khi Giê-ru-sa-lem đã đền tội đầy đủ (so sánh Es 40:2) thì Đức Chúa Trời sẽ bênh vực trường hợp của Giê-ru-sa-lem trong vai một biện hộ chứ không phải trong vai công tố viên nữa (Mi 6:1) vì Giê-ru-sa-lem không có hành động sai phạm đối với kẻ thù. Rồi Si-ôn sẽ nhìn thấy (hoặc “chiêm ngưỡng”) sự công bình của Đức Chúa Trời khi Ngài làm trọn những nghĩa vụ trong giao ước đối với Giê-ru-sa-lem. 10 Si-ôn cầu nguyện rằng: “Xin cho kẻ thù của tôi nhìn thấy sự công bình của Ngài khiến họ phải xấu hổ”. Mắt của Si-ôn sẽ nhìn thấy (hoặc “thoả thích ngắm xem” cùng một động từ như câu 9 trong nguyên ngữ Hi Bá Lai) sự sụp đổ của họ (Ni-ni-ve).
(Mi 7:11-13) Ngày, lặp lại ba lần để chỉ cùng một thời gian, là một tình trạng cũng như một thời điểm mà Đức Chúa Trời đã định trong tương lai gần. Đó là thời điểm Si-ôn sẽ tái thiết tường thành của mình (là những tường thành của chuồng chiên, chớ không phải tường thành phòng vệ so sánh Mi 5:10). Đó cũng là thời điểm mở rộng biên cương để có đủ đất cho mọi dân tộc (13) khi họ tập hợp dưới sự bảo vệ của vị vua chăn bầy của Si-ôn. 12 Trong ngày đó, người ta sẽ ùn ùn kéo đến, họ đến từ khắp nơi trên thế giới, từ những kẻ thù xưa của Si-ôn, là A-si-ri ở phía bắc và từ Ai Cập ở phía nam (so sánh Thi 87:1-7 He 12:22). 13 Rồi thế giới sẽ bị hoang vu. Sau khi thành phần được kêu gọi (gồm cả người Do Thái lẫn người ngoại bang) tìm được sự cứu rỗi tại Si-ôn, thì sự hoang vu tàn lụi sẽ diễn ra trên thế giới và trên dân cư của thế giới vì cớ hậu quả của tội ác của họ. Lời tiên tri này được thành tựu trong kỳ phán xét chung cuộc (IITe 1:6-9 IIPhi 3:12 Kh 20:11-15).
14 Vì vậy, ông Mi-chê cầu xin Đức Chúa Trời chăn dân của Ngài, cả người ngoại bang lẫn người Do Thái (Cong 15:16-18 Eph 1:3-4). Cảnh tượng này bao gồm cả phần cuối câu: sự bảo vệ an toàn (gậy) và lương thực dư dật (cho ăn). Sản nghiệp chỉ về đất đai từ thời xa xưa đã vĩnh viễn giao cho từng gia đình để họ mưu sinh (Mi 2:2 so sánh Dan 26:56). Ngày nay, Đức Chúa Trời cho dân sự của Ngài sự sống từ nguồn vĩnh cửu là Chúa Cứu Thế Giê-xu (Gi 10:28). Dân sự được chọn của Ngài sẽ sống mãi mãi trong tự do cách tự lập (ở một mình). Câu trong rừng giữa Cạt-mên có nghĩa là “một khu vườn tương tự như một cánh rừng”. Ba-san và Ga-la-át là những vùng đất đầu tiên do ông Môi-se đánh chiếm được bởi năng lực phi thường (Dan 21:33). Ba-san nổi tiếng về những cây cối hùng vĩ (Es 2:13 Xa 11:2) và bầy gia súc mập mạp (Phu 32:14) Ga-la-át nổi tiếng về đồng cỏ chăn nuôi tươi tốt (Dan 32:1,26). Ông Mi-chê cầu nguyện xin Đức Chúa Trời phục hồi những phước hạnh của thuở ban đầu cho Y-sơ-ra-ên. 15 Đức Chúa Trời hứa là sẽ đáp ứng nội dung của lời cầu xin này theo ý muốn của Ngài.
(Mi 7:16-17) Ông Mi-chê ngẫm nghĩ về những lời hứa trên đây nên ông nhận thấy là tất cả mọi dân tộc sẽ thấy việc lạ lùng của Đức Chúa Trời (15) và họ sẽ xấu hổ vì đã đánh liều trông cậy vào các thần giả bất lực. Lấy tay che miệng nghĩa là “họ sẽ câm miệng im lặng”. Còn tai chúng nó sẽ điếc nghĩa là “họ sẽ giả bộ điếc, làm như không nghe thấy gì cả”. Khi Đức Chúa Trời thực hiện những việc lạ lùng đó thì các dân tộc thôi không còn chế giễu Y-sơ-ra-ên nữa và không để tai nghe những lời khoe khoang khoác lác vô ích của những người khác và cả những lập luận trống rỗng không có giá trị của họ. 17 Các nước cũng từ bỏ quyền lực của mình. Các vua thất trận sẽ liếm bụi đất trong khi họ phủ phục trước mặt Đức Giê-hô-va. Khi phải đối diện với năng lực của Ngài, họ sẽ run rẩy bò ra khỏi hang (thành lũy xưa) để thờ lạy Ngài.
(Mi 7:18-20) Ông Mi-chê khéo léo lồng tên của mình “Ai như Gia-vê” vào phần đầu bài ca của dân sự: Nào có ai là Đức Chúa Trời như Ngài...?, chẳng có ai có thể ví sánh với Ngài là Đấng tha thứ tội ác và bỏ qua sự vi phạm (Mi 1:5). Y-sơ-ra-ên vi phạm giao ước quá nặng nề đến nỗi ngoài Đức Chúa Trời ra, chẳng ai chịu tha thứ đâu (so sánh ITi 1:15-17). Dầu vậy, nếu không có sự tha thứ này thì chức vụ của ông Mi-chê chẳng có nghĩa lý gì cả. Có thể ông được hài lòng thoả chí vì trút bỏ được nỗi lòng của mình, nhưng có thể dân chúng lại ương bướng cứng cỏi trong tội lỗi (so sánh Thi 130:3-4). Giờ đây ông tới tấp liệt kê những nét đặc biệt rộng lượng của Ngài. Ngài không phẫn nộ lâu, Ngài bày tỏ lòng thương xót (hai lần), Ngài vui thích làm ơn và Ngài tỏ lòng thành tín. Đức Chúa Trời biểu thị sự rộng lượng qua những sắc nét đặc biệt tương tự khi dân Y-sơ-ra-ên phạm tội đúc tượng con bò bằng vàng và ông Môi-se đã cầu xin Đức Chúa Trời biểu thị sự vinh hiển của Ngài (Xu 34:6). 19 Vì cớ lòng thương xót của Ngài, nên Ngài sẽ ném tất cả mọi vi phạm của dân sự vào đáy biển để những tội ác đó không còn đe doạ sự tồn tại của Y-sơ-ra-ên, như Ngài đã ném đạo quân của Pha-ra-ôn vào biển cả. 20 Bản tánh ưu việt đó cũng bảo đảm rằng Ngài luôn luôn thành tín, giữ đúng theo giao ước mà Ngài đã thề hứa với tổ tiên họ trong thời xa xưa. Tất cả những việc này đều khả thi vì cớ Chúa Cứu Thế Giê-xu đã vì dân sự của Ngài mà đền tội, và là tiếng “A-men” của Đức Chúa Trời đối với lời hứa của Ngài trong giao ước.