NA-HUM
1. DẪN NHẬP (Na 1:1)
Câu 1 cho biết toàn bộ sách là một khải tượng hoặc “gánh nặng”. Xem bình giải Xa 9:1. Sách của sự hiện thấy hàm ý là ông Na-hum có nhìn thấy, dù gì đi nữa tối thiểu ông Na-hum cũng có nhìn thấy một cảnh tượng nào đó, mà mắt trần không thể thấy. Xin xem phần dẫn nhập ở trên về Ni-ni-ve và Ên-cốt.
2. MỘT BÀI CA VỀ ĐỨC GIÊ-HÔ-VA (Na 1:2-8)
(Na 1:2-3) Các câu này cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là Đấng báo trả nhưng báo trả một cách hợp lẽ chính đáng. Ngài là Đấng kiên nhẫn và bất đắc dĩ lắm Ngài mới hình phạt, nhưng Ngài cũng không để cho kẻ ác trốn thoát khỏi sự hình phạt, buộc lòng Ngài phải xử lý thôi (xem phần sứ điệp của sách trong bài dẫn nhập). Đức Chúa Trời nổi ghen vì danh thánh của Ngài. Kinh Thánh Tân Ước cũng xác chứng cho lẽ thật của những điểm này (thí dụ Mat 7:21-27 Mac 11:15-17 Ro 1:18-32 Kh 2:1-3:22).
(Na 1:3-6) Các câu này viết về quyền lực của Đức Chúa Trời trên khắp cõi địa cầu này. Có thể gộp vào sách Thi Thiên dưới dạng một bài thi thiên ca ngợi Đức Giê-hô-va. Dầu vậy, các câu này nhằm bộc lộ mối quan tâm của ông Na-hum. Qua sách Ê-sai chúng ta biết quân A-si-ri cho rằng chiến công của họ trên các quốc gia là nhờ sức mạnh và tài cán của họ cùng các thần của họ (Es 10:12-18 so sánh So 2:13-15). Ông Na-hum mô tả quyền năng của Đức Chúa Trời thông qua một số những hiện tượng hùng vĩ và đáng sợ trong thiên nhiên. So sánh với những việc đó, quân A-si-ri và thần của họ hoàn toàn không vô nghĩa.
Câu 6 Có bốn từ chỉ về cơn giận (nghĩa đen của tức giận là đốt cháy cơn giận của cơn giận!). Vấn đề được lặp lại bốn lần nhằm đặt nặng vấn đề như trong câu 2-3a.
Dân cư trong thời của ông Na-hum (trừ những trường hợp khá giàu có và giữ địa vị quan trọng) xây nhà bằng gạch làm bằng bùn phơi khô ngoài nắng, mái nhà thì làm bằng đà gỗ hoặc cành cây rồi phủ lên một lớp đất sét và quét vôi trắng. Khi bão kéo đến, ai nấy đều nhận thấy là mình hết sức nhỏ nhoi vô nghĩa trước sức mạnh của thiên nhiên. Dầu vậy, ông Na-hum nói rằng: Đường lối của Đức Giê-hô-va ở trong gió lốc và bão tố. Ông cảm thấy yên ổn ở trong nơi đó, đó là nơi ông đi lại thong dong. Những đám mây có vẻ đồ sộ đối với chúng ta chẳng qua chỉ là bụi dưới chân Ngài. Dân Y-sơ-ra-ên không phải là dân đi biển nên biển gieo vào lòng họ nhiều ấn tượng. Dù ngày nay chúng ta có nhiều hiểu biết và kỹ thuật cao nhưng tàu bè vẫn chìm hoặc mất tích ngoài biển. Trong khi đó, Đức Chúa Trời quở trách biển, làm cho nó khô.
Câu này nói bóng gió đến ít nhất là hai việc. Thứ nhất là nhắc lại chuyện Đức Chúa Trời rẽ nước Biển Đỏ cho phép dân Y-sơ-ra-ên đi qua lòng biển mà chạy thoát khỏi quân Ai Cập (còn quân Ai Cập thì bị chết chìm khi họ xuống lòng biển để đuổi theo. Thứ hai là chuyện Giô-suê dẫn dân Y-sơ-ra-ên vượt qua sông Giô-đanh để tiến vào xứ Ca-na-an. Trong cả hai trường hợp, Đức Chúa Trời chận đứng nước lại để dân sự có thể đi qua. Khi Chúa Giê-xu truyền cho nước trong hồ Ga-li-lê (nổi tiếng về những trận bão bất ngờ và cuồng nộ) phẳng lặng trở lại tức là Ngài gián tiếp chứng minh Ngài là Đức Chúa Trời (Mac 4:35-41). Phản ứng của các môn đồ là: “Người này là ai mà ngay cả gió và sóng cũng phải vâng lời!”. Còn là ai nữa ngoài ra là chính Giê-hô-va Đức Chúa Trời?
Ba-san và Cạt-mên (4) cùng với Li-ban là những vùng phủ rừng dày đặc nhất tại vùng Pa-lét-tin. Li-ban nổi tiếng với những loại cây to, cao, hùng vĩ. Nhưng trước mặt Đức Chúa Trời, rừng hoa Li-ban cháy khô (4). Những rặng núi đồ sộ bền vững rúng động trước mặt Ngài (5), tức là vừa run sợ vừa bị chấn động (so sánh Exe 12:18). Đất trở nên hoang vu trước mặt Ngài, thế giới và dân cư đều náo loạn. Có lẽ ông Na-hum liên tưởng đến hậu quả của những trận bão và chắc là cả những trận lụt mà ông từng chứng kiến hoặc nghe kể lại.
Na 1:7-8 Trình tự ý tứ trong hai câu này có vẻ tương tự như trong c.3: Phần xác định về đức nhân từ của Đức Chúa Trời, phần sau quay trở về với chủ đề Đức Giê-hô-va là tốt lành, là đồn lũy trong ngày hoạn nạn. Ngài quan tâm chăm sóc (nghĩa đen Ngài biết) những người tin cậy nơi Ngài. Trong Kinh Thánh Cựu Ước từ “biết” thường không phải chỉ có nghĩa là biết bằng trí não, mà là quan tâm săn sóc (Xu 33:12 Thi 103:13-14). Bản NIV nêu tên riêng Ni-ni-ve trong câu này (cũng như trong Na 1:11,14 2:1). Riêng tiên tri Na-hum thì cho tới 2:8 ông mới nhắc đến Ni-ni-ve có lẽ là để tạo băn khoăn thắc mắc cùng căng thẳng nơi thính giả và như vậy cuối cùng khi ông nói đến Ni-ni-ve thính giả sẽ bị tác động dữ dội hơn.
3. RAO BÁO SỰ HÌNH PHẠT DÀNH CHO A-SI-RI CÒN SỰ CỨU RỖI DÀNH CHO GIU ĐA (Na 1:9-15)
1. Hình phạt bọn âm mưu (Na 1:9-11)
9 Chúng ta bước vào một phần mới tại đây. Sau khi đã trình bày khá dài dòng về vấn đề đứng về phía Đức Chúa Trời là phải lẽ, ông Na-hum quay qua hỏi kẻ thù (theo lề bản NIV): “Các ngươi âm mưu gì nghịch cùng Đức Giê-hô-va? Ngài sẽ tận diệt tất cả các ngươi, rồi sẽ không xảy ra âm mưu gì nữa cả”. Chú ý là thính giả không dễ gì đoán được ông Na-hum đang nói về ai, vì ông chưa nêu danh Ni-ni-ve (mãi đến 2:8 lận) còn Giu-đa thì đến câu 15 mới được đề cập tới.
10 Rất khó chuyển ngữ câu này. Nếu bản NIV là chính xác thì chúng ta có ba cảnh khốn cùng: vướng mắc trong gai nhọn, không xoay sở được lạng quạng như say rượu, không thể tự kiểm soát hoặc tự vệ rồi còn lãnh đủ dư vị khó chịu nữa (so sánh Thi 107:27 Ch 23:29-35 Es 29:9) và sẽ bị thiêu huỷ hết như rơm khô. Cũng có thể chuyển ngữ một cách khác là: “Vì dù họ như gai rối chằng chịt, và như thể bị ướt sũng vì rượu, họ sẽ bị ăn trụi như gốc rạ khô”. Nói cách khác, dù họ có vẻ ướt dẫm và không thể cháy, nhưng chắc chắn khi gặp lửa của Đức Chúa Trời họ sẽ bị cháy rụi. 11 Có lẽ câu này chỉ về San-chê-ríp là một vị vua A-si-ri, chống nghịch Đức Giê-hô-va khi vua huỷ phá 46 thành của Giu-đa và vây thành Giê-ru-sa-lem năm 701 T.C..
2. So sánh tương lai của Giu-đa và của A-si-ri (Na 1:12-14)
Na 1:12-13 Lần thứ nhất ông Na-hum nhắc đến Giu-đa (Bản NIV thêm Hỡi Giu-đa cho rõ ràng thêm). Trong những bài tiên tri Hi Bá Lai thường có trường hợp vị tiên tri đang nói với đối tượng này bỗng nhiên quay qua nói về đối tượng kia. Đức Giê-hô-va phán rằng dù quân A-si-ri hùng hậu đến đâu đi nữa, họ sẽ bị đánh tan và sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn... nhưng Ta sẽ không làm khổ ngươi (Giu-đa) nữa. Ngài sẽ bẻ gãy gông cùm (dấu chứng về tình cảnh nô lệ) và xiềng xích (dấu chứng về tình cảnh lưu đày) của Giu-đa. 14 Tiên tri Na-hum lại quay qua nói với Ni-ni-ve/ A-si-ri rằng, Đức Giê-hô-va đã truyền lệnh về các ngươi. Câu này nhằm nhấn mạnh rằng đây là một quyết định chắc chắn của Đức Chúa Trời. Sẽ không có hậu duệ mang danh ngươi nữa nghĩa đen là “Danh của ngươi không còn được gieo ra nữa”. Xưa kia tuyệt tự, tuyệt nòi là một sự rủa sả nặng nề (so sánh Thi 37:22,28-38 Es 48:19) Đức Giê-hô-va sẽ tiêu diệt các tượng chạm (bằng gỗ) và các tượng đúc (bằng kim loại) khỏi đền miếu A-si-ri, rồi họ sẽ nhận biết rằng thần của họ chẳng là gì cả. Hèn mạt ở đây có nghĩa là “chẳng có giá trị gì cả, chẳng đáng kể đến”.
Cũng nên xem xét các thần của thời nay tương ứng với thần của A-si-ri, là những vị thần lẽ ra đem lại cho người ta những điều mong đợi, ưa chuộng như quyền lực, an ninh, của cải và phú quí. Đối với một số người, thần của họ có thể là công ty kinh doanh, là tập đoàn đem lại phần thưởng lớn lao cho những người phục tòng trọn vẹn, và còn hữu dụng nhưng gây tan nát cho những người không chịu khép mình vào hàng ngũ. Cho dù chúng ta đang đối diện với những vị thần giả nào chăng nữa, thì chúng ta cũng nên biết rằng khả năng của họ chỉ tạm thời, chóng qua và hão huyền, còn chỉ có một mình “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời trên tất cả”.
3. Người đưa tin vui (Na 1:15)
Câu này chuyển tiếp từ phần phác vẽ tổng quát về các mục đích của Đức Chúa Trời thông qua phần mô tả cụ thể số phận của Ni-ni-ve. Câu này cũng tương tự với câu quen thuộc hơn trong Es 52:7 (40:9 cũng có vài chi tiết tương tự). Trong Kinh Thánh Cựu Ước có Cong 10:36 và Ro 10:15 ám chỉ đến câu này. Câu này diễn tả theo thể thơ sự chiến thắng đã đạt được. Bàn chân của người đưa tin vui: chiến thắng vẻ vang rồi, mọi hình thức áp bức chấm dứt và giờ đây hoà bình ngự trị. Hỡi Giu-đa hãy giữ kỳ lễ, có nghĩa là tổ chức lễ mừng chiến thắng, dâng của lễ tạ ơn trong dịp lễ và sau đó những người đến thờ phượng tại buổi lễ sẽ cùng ăn thịt của của lễ. Làm trọn sự hứa nguyện nói về những lời mà binh sĩ thường hứa nguyện trước khi ra chiến trường. Có lẽ lời hứa nguyện nổi tiếng nhất, và chắc chắn cũng ngu dại nhất, là lời hứa nguyện của ông Giép-thê (Cac 11:30-31).
4. NI-NI-VE SỤP ĐỔ: CẢNH TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA (Na 2:1-3:19)
Là một cảnh tượng sôi động nhưng hỗn loạn khi dân Ni-ni-ve mãnh liệt chống trả một cuộc tấn công nhưng thất bại. Lòng họ đau đớn và tuyệt vọng khi quân thù cướp phá thành. Câu 13 nhắc lại hai hình ảnh đã được mô tả trong các câu trên: chiến mã xa, là những xe ngựa phóng tứ tán quanh thành trong nỗ lực cứu tường thành khỏi bị lửa thiêu rụi (4) và đám sư tử con đã từng nhận được mồi trong hang ổ của mình, nay sẽ bị tàn sát bằng gươm và số lương thực dự trữ mất hết (11-12).
Phần đầu câu 13 xác định nguyên nhân đưa đến kết cuộc này: “Này, ta chống nghịch ngươi ...”. Trong những câu kế tiếp, tác giả cũng theo một trình tự tương tự miêu tả cảnh tượng rồi trình bày ý nghĩa. Na 3:1-4 mô tả thành phố đẫm trong máu đến 3:5 Đức Giê-hô-va lại phán: “Nầy Ta nghịch cùng ngươi...” rồi Ngài nói trực tiếp với Ni-ni-ve cho đến hết chương này (tức là hết sách luôn). Chúng ta thường thấy văn phong này lặp lại nhiều lần trong văn chương Hi Bá Lai. Nhiều học giả công nhận văn phong này hữu hiệu trong nỗ lực làm nổi bật một vấn đề.
1. Ni-ni-ve quằn quại chết (Na 2:1-13)
Tác giả không trình bày các biến cố theo thứ tự thời gian, mà mô tả một loạt những cảnh tượng điển hình diễn ra trong ngày tận số của Ni-ni-ve.
(Na 1:1)Đức Chúa Trời truyền phán thẳng cho Ni-ni-ve (Bản NIV dựa vào nội dung mà nêu danh Ni-ni-ve xem c.8). Kẻ tàn phá (nghĩa đen, người gây phân tán) tiến công nghịch cùng ngươi chỉ về Ba-by-lôn, là nước đã chiến thắng và thôn tính Ba-by-lôn - xưa kia A-si-ri đã từng phân tán biết bao nhiêu dân tộc khác, nay đến phiên mình phải bị phân tán như vậy thôi. Hãy giữ đồn lũy nghĩa đen là “Canh phòng đồn lũy hoặc lũy vây thành”. Lũy là gioi đất đồ sộ mà quân thù đắp cao ở mặt ngoài tường thành trong nỗ lực đưa quân vượt lên bờ thành mà tiến vào trong. Như vậy, chúng ta có thể mường tượng cảnh quân thù đang rầm rộ đắp đất ở bên ngoài thành. Tuy nhiên cũng có thể những câu này nói về ụ đất đắp bên trong thành. Trong khi gioi đất ở bên ngoài càng ngày càng phình to và trồi lên cao, thì dân cư bị vây ở bên trong cũng đắp ụ phòng thủ. Rốt cuộc, quân vây thành thắng thế vì họ có nhiều vật liệu và đất cát hơn, có mặt bằng rộng rãi hơn nên họ có thể đắp gioi đất cao hơn. Dầu thế nào đi nữa thì theo hướng này chúng ta có thể mường tượng nỗ lực khẩn trương của đôi bên ở trong và ngoài thành. Quân xâm lược đắp lũy càng ngày càng cao, và canh chừng không cho ai từ mặt trên tường thành thông qua lũy này mà thoát ra khỏi thành trong khi họ chuẩn bị cho đợt tấn công cuối cùng đầy thắng lợi. Còn ở trong thành, quân phòng thủ suy nhược vì thiếu thức ăn nước uống, vét hết tàn lực để cố gắng trì hoãn giây phút bại trận đầy nhục nhã và khổ hình.
(Na 2:2) Câu này coi như nằm trong ngoặc đơn, cho biết nguyên nhân của cảnh tượng này: vì Đức Giê-hô-va sẽ khôi phục hào quang của Gia-cốp như hào quang của Y-sơ-ra-ên. Như thế thì kẻ áp bức họ phải bị hình phạt. Cũng có thể chuyển ngữ câu này như sau: “Đức Giê-hô-va đã đẩy xa sự kiêu ngạo của Y-sơ-ra-ên” tức là có thể hiểu rằng không còn cần hình phạt họ nữa, nên có thể loại bỏ Ni-ni-ve.
(Na 2:3-5) Giờ đây, tiên tri Na-hum quay về với phần mô tả cảnh vây thành. Có thể hiểu mấy câu này theo hai hướng. Theo hướng thứ nhất thì câu 3-4 mô tả quân Ba-by-lôn, một cảnh tượng gây hãi hùng. Có thể họ đã lọt vào bên trong Ni-ni-ve hoặc họ đang ngược xuôi trên các nẻo đường và các giao lộ ở vùng ngoại ô nằm bên ngoài tường thành. Câu 5b mô tả họ tiến đến gần tường thành núp sau những lá chắn di động (những cái thuẫn) trong nỗ lực đào móng tường thành lên. Có lẽ câu 5a nói về hành động của vị tư lệnh A-si-ri lúc ở bên trong thành Ni-ni-ve, hoặc cụm từ nhưng chúng nó bước đi vấp váp đơn thuần chỉ về quân vây thành vội vã xáp lại bên tường thành để mau chóng hoàn tất cuộc bao vây. Theo hướng thứ hai thì có thể câu 3-5 mô tả sự hỗn loạn của dân Ni-ni-ve trong thành, trong khi họ ào đến tiếp cứu điểm đang lâm nguy nhất. Câu 3-4 mô tả các chiến mã xa đầy ấn tượng, nhưng rơi vào tình trạng nhốn nháo hỗn độn cả rồi.
(Na 2:6-10) Các cửa sông đương nhiên là chỉ về những nơi sông đào từ bên ngoài chảy vào thành Ni-ni-ve. Chi tiết này có lẽ cũng nhằm nói về vai trò của con sông trong biến cố thành sụp đổ. Con sông vốn làm nhiệm vụ bảo vệ dân cư trong thành lại hoá ra kẻ thù. Tan mất tức là sập đổ và cũng có thể nghĩa là “ngẩn ngơ, hoảng sợ”. 7 Ý trong nguyên ngữ không rõ lắm nhưng ý chung của câu 7-12 thì rõ: dân cư trong thành bị đưa đi đày ngay cả các nô lệ nữ cũng than khóc cho số phận của mình của cải ở Ni-ni-ve bị cướp phá còn dân cư thì kinh hãi khi nghĩ đến những chuyện người Ba-by-lôn có thể làm với mình.
(Na 2:11-12) Ni-ni-ve được ví như hang ổ của con sư tử. Con sư tử (A-si-ri) tha vào hang những chiến lợi phẩm vơ vét được từ các nước. Gia đình của con sư tử cư ngụ trong một nơi an toàn, ăn uống no đủ trong hang ổ, nhưng giờ đây thì sao? Lý do khiến cho Ni-ni-ve sụp đổ là rất đơn giản: Đức Giê-hô-va vạn quân phán rằng “Nầy, Ta nghịch cùng ngươi...” (13). Rồi câu này nhắc lại hai hình ảnh chính trong phần mô tả ở trên: sự thất trận và sự diệt vong của đám sư tử. Có lẽ sứ giả là những phái đoàn được cử đi để kêu gọi đầu hàng và hoặc đòi các nước nộp cống (so sánh IIVua 18:19-35 19:8-14). Hẳn là câu Kinh Thánh này vẫn làm cho chúng ta run sợ: “Nếu Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta, thì còn ai chống nghịch lại chúng ta được?” (Ro 8:31). Nhưng nếu Đức Chúa Trời chống nghịch chúng ta, thì sao? Đồng minh có ích gì nữa không?
2. Khốn cho Ni-ni-ve (Na 3:1-4)
(Na 3:1) Khốn cho là lời kêu la mà tiên tri thường dùng khi rao sứ điệp chống nghịch những người sẽ bị hình phạt. Thoạt tiên, có lẽ người ta dùng lời này khi than khóc người chết và từ này luôn luôn chỉ về một tai hoạ trầm trọng nào đó. Thành đổ máu rõ ràng là Ni-ni-ve là thành đã gây ra biết bao cảnh máu đổ xương tan - chúng ta có thể hiểu vì sao tác giả ghép cướp bóc và nạn nhân chung với chiến trận và chém giết. Nhưng vì sao ông lại nói đến vấn đề nói dối nữa? Có lẽ vì nói dối là những đặc tính của những người chống nghịch Đức Chúa Trời, là Chúa của sự thật. Các tượng thần bị xem là giả mạo, lừa phỉnh và dối trá. Chi tiết này là một lời nhắc nhở và một lời cảnh báo độc giả ngày nay rằng nói dối là một tội nghiêm trọng hơn so với mức mà xã hội thời nay chấp nhận.
(Na 3:2-4) Tiên tri Na-hum tiếp tục mô tả một trận chiến rất sống động nhưng không rõ ý cho lắm (2-3). Có thể đây là cảnh quân A-si-ri tấn công các nước khác do lòng dâm đãng của mình (4). Trái lại, cũng có thể đây là cảnh hình phạt tội dâm đãng của A-si-ri bằng một cuộc tấn công. Dù sao thì câu 5 cũng tiếp tục viết về sự hình phạt dành cho A-si-ri. Từ dâm đãng (hoặc điếm đĩ) được dùng nhiều lần để chỉ về Y-sơ-ra-ên, lên án họ về tội bất trung đối với Đức Giê-hô-va. Khi dùng để nói về việc họ liên minh với các nước khác thì có nghĩa là họ tin tưởng nơi những cường quốc khác rồi không tin cậy Đức Chúa Trời nữa. Chính sách đối ngoại này dẫn đến tình trạng tha hoá trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời vì cớ áp lực của các nước liên minh dân Y-sơ-ra-ên tưởng đâu các dân khác có thần quyền năng hơn và có những tục lệ hấp dẫn hơn. Còn tà thuật ở đây có lẽ chỉ về ngành tà thuật đồng bóng theo nghĩa đen, mà cũng có thể là “nghệ thuật ngoại giao, tài lãnh đạo” tác động mạnh trên dân chúng như thể một bùa mê.
3. Đức Giê-hô-va truyền phán: “Nầy, Ta nghịch cùng ngươi...” (Na 3:5-19)
Cần ghi nhận nội dung rùng rợn này cũng có chép trong Mi 2:13. Câu này dẫn vào một bài giảng dài cho Ni-ni-ve, tổng hợp phần mô tả sự hình phạt và lý do của sự hình phạt.
(Na 3:6-7) Ta sẽ tốc váy ngươi lên phủ gương mặt trơ trẽn, các dân tộc sẽ thấy ngươi loã thể chỉ về sự hạ nhục và một sự hình phạt thích đáng đối với tánh kiêu ngạo - Khi điếm đĩ “để lộ sự trần truồng của mình” (một câu chỉ về hành vi quan hệ tình dục thí dụ: Le 18:6-23) trong lúc hành nghề như thế nào thì sự hình phạt trên Ni-ni-ve cũng bao gồm cả tình trạng “bị lột trần”. Có lẽ câu này có liên quan đến tục lệ hình phạt ngườilàm điếm hoặc người tà dâm bằng cách “lột trần đương sự” (Exe 16:37-41 cũng so sánh Es 20:2-4 Gie 13:22,26). Ta sẽ ném vật ô uế trên ngươi, khinh miệt ngươi, khiến ngươi làm trò cười cho thiên hạ (6), tất cả nhằm nhấn mạnh rằng vì cớ Ni-ni-ve không thương xót ai nên giờ đây chẳng ai thương xót Ni-ni-ve. Mấy câu hỏi theo lối hùng biện hàm ý là sẽ không có ai than khóc thương tiếc Ni-ni-ve hoặc an ủi Ni-ni-ve.
(Na 3:8-9) Hai câu này mô tả sự vinh hiển của Thebes (nghĩa đen là “Nô - của - A-môn”). Trước kia, đây là một thành phố lớn nhưng cũng đã bị huỷ diệt rồi. A-môn là tên riêng của một vị thần được dân cư tôn thờ. Thành Thebes được kể là thuộc về thần A-môn. Ngươi có trổi hơn Nô của A-môn không? Có nghĩa là “Có lý do nào mà ngươi muốn hơn?”. Thebes là một thành phố nổi tiếng nhất ở Ai Cập từ thời 1580-1205 T.C. với nhiều đền đài nguy nga tráng lệ đến nỗi ngày nay tàn tích của thành vẫn còn là kỳ quan. Phần thành phố nằm ở bờ phía đông sông Ni-lơ là khu dân cư còn phần bên kia sông , ở bờ phía tây là một khu mênh mông dành cho người chết, hoặc thành phố mồ mả và đài tưởng niệm người chết. Thành phố cũng có một cảng nhân tạo nữa. Dường như đến vùng này sông Ni-lơ phân ra làm bốn nhánh nhỏ ít nước. Nhờ đó có thể lý giải nghĩa đen của câu này: “Thebes ở giữa các sông nước bao bọc chung quanh”. Thebes vốn là trung tâm của một đế quốc rộng lớn trải từ bắc Sy-ri đến Nubia, nhưng đế quốc đó đã bị diệt vong (10). Ni-ni-ve cũng vậy thôi (11).
(Na 3:10-11) Con cái chúng nó bị nghiền nát. Biện pháp dã man có ghi trong IIVua 8:12 Es 13:16 Os 13:16. Người ta nắm đôi chân trẻ con và đập đầu nó vào tường hoặc tảng đá nhằm tuyệt diệt dân, việc mổ bụng phụ nữ mang thai cũng nhằm cùng một mục đích (so sánh Am 1:13). Ngươi sẽ mê man vì say (11). Người say rượu đi loạng choạng, mặt mày ngơ ngác, không thể tự lo, không thể tự vệ. Do không thể chống cự kẻ thù được nữa, người Ni-ni-ve tìm chỗ trốn và tìm được nơi trốn tránh ở một nơi khác.
(Na 3:12-18) Các câu này mô tả tiếp một số hình ảnh. Các đồn lũy như cây vả có trái chín đầu mùa (12). Hễ rung cây là trái vả chín sẽ rơi thẳng vào miệng người muốn ăn. Người Ni-ni-ve cũng bất lực như vậy. Lính tráng của họ trở nên như đàn bà con gái (13). Không phải như các nữ quân nhân trong thế giới văn minh thời nay, là những người khoẻ mạnh về phần xác và được tập luyện để đánh giặc, mà là như phụ nữ đương thời, không bao giờ phải tham gia vào chiến trận và cũng chẳng hề được huấn luyện nên hoàn toàn vô phương tự vệ.
Ni-ni-ve được ví với một thành có hệ thống phòng thủ hoàn hảo nhưng đang bị vây (14-15a). Dân thành có đủ nước dùng, hệ thống phòng thủ mạnh, đoạn tường thành bị thủng được vá kịp. Nhưng một cơn hoả hoạn sẽ thiêu rụi họ và gươm sẽ đánh hạ họ. Quân A-si-ri cùng các tướng lãnh đông như cào cào (15b-17). Tưởng như họ có mặt ở khắp mọi nơi, nhưng rồi thình lình họ không còn nữa. Ông Áp-ra-ham cũng nhận được một lời hứa về một hậu duệ đông đảo tương tự (Sa 15:5 22:17). Dù quân A-si-ri có vẻ thành công không thua gì hậu duệ của Áp-ra-ham nhưng chỉ có giao ước của Đức Chúa Trời mới bảo đảm cho sự thành công lâu dài bền vững. Những kẻ chăn của A-si-ri đều ngủ cả rồi (tức là thành phần lãnh đạo chết hết rồi). Vì vậy họ không có khả năng gom quân tản lạc của A-si-ri về.
(Na 3:19) Lời nói cuối là không giảm thiểu mức thiệt hại cho A-si-ri, không dành cho A-si-ri một mối thiện cảm nào. Trái lại, tất cả những ai nghe tin Ni-ni-ve thất thủ đều phấn khởi vui mừng vì ai nấy đều đã nếm trải tánh độc ác triền miên của Ni-ni-ve (xem Exe 25:6 về cử chỉ “vỗ tay” bộc lộ tâm địa hiểm ác khi chứng kiến nỗi đau thương của người khác). Khi chung cuộc sự gian ác xấu xa bị tiêu diệt thì chẳng có ai buồn bã thương tiếc cả. Sự phán xét của Đức Chúa Trời hoàn toàn chính xác và phải lẽ, không vương tiếc nuối, không sa vào thất bại. Chúng ta khó lòng hiểu thấu điều này. Làm sao mà không buồn khổ gì cả khi mà vô số người đi vào địa ngục như thế? Dĩ nhiên là có buồn bã - Kh 18:1-24 tả cảnh khóc than cho Ba-by-lôn (còn tiếp theo đó 19:1-21 tả cảnh vui mừng). Nhưng sau đó mọi ảnh hưởng của sự gian ác xấu xa đều biến hết.
Như vậy, sách Na-hum viết một cách rất thẳng thắn rằng tội lỗi sẽ bị hình phạt. Sách cảnh báo chúng ta về tội lỗi của chính chúng ta, còn khi chúng ta bị áp bức dưới những thế lực gian ác lớn lao thì sách củng cố tinh thần của chúng ta bằng các nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời là Đấng nắm quyền phán quyết chung cuộc. Chúng ta cần áp dụng sứ điệp này cho mình trong những lúc thành phần bức bách chúng ta “gia tăng đông như cào cào” hoặc mặt khác, trong những lúc chúng ta cho rằng mình vẫn thoát nhờ những việc làm không hoàn toàn làm vinh danh Đức Chúa Trời. Có thể sách khảo sát vấn đề trong một phạm vi nhỏ hẹp giới hạn nhưng sứ điệp chuyển đạt lại quan trọng hàng đầu.