GIÔ-ÊN
1. TỰA (Gio 1:1)
Tựa của một sách tiên tri có thể là một kho chứa đầy những thông tin lịch sử như trong trường hợp sách tiên tri Ô-sê (Os 1:1). Nhưng sách tiên tri Giô-ên thông tin quá ít, chỉ tập trung vào những sự kiện khải thị có tính cách tiên tri vượt qua con người hướng về chính Đức Chúa Trời. Giô-ên có nghĩa là “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời” bộc lộ ý của cha mẹ ông muốn xác định về niềm tin của họ nơi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Ở đây chỉ ghi lại danh tánh của cha ông mà không ghi nơi cư trú (so sánh Mi 1:1) gợi ý rằng ông cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem như tiên tri Ê-sai (Es 1:1). Cụm từ lời của Đức Giê-hô-va (Yaweh) phán cùng là mẫu câu căn bản dẫn nhập vào sứ điệp của Đức Chúa Trời phán với tiên tri, thí dụ như trong Gie 1:4. Ở đây cụm từ này dẫn nhập vào một tuyển tập các sứ điệp của Đức Chúa Trời truyền cho ông Giô-ên như trong Os 1:1.
2. KÊU GỌI GẦU NGUYỆN (Gio 1:2-2:17)
Phân nửa đầu của sách là một loạt những nỗ lực của tiên tri nhằm khuyến khích dân sự của Đức Chúa Trời phản ứng đối với dịch cào cào bằng cách cầu nguyện ăn năn. Trong bài cầu nguyện cua mình vua Sa-lô-môn đã đề ra phương cách này nhằm đối phó với hoàn cảnh cấp bách trong IVua 8:37-38 “Ai nấy đã nhận biết tai hoạ của lòng mình, mà giơ tay ra hướng về đền này, và cầu nguyện, khẩn xin vô luận điều gì”. Tiên tri Giô-ên quyết tâm thúc giục họ phản ứng một cách thuộc linh như vậy. Trong Gio 1:2-2:11 ông chuẩn bị lòng thính giả để đón nhận một sứ điệp ngắn gọn từ Đức Chúa Trời trong 2:12. Rồi ông kêu gọi thêm để củng cố cho sứ điệp đó 2:13-17. Như lời tựa trong 1:1 ngụ ý dù tiên tri nói hoặc Đức Giê-hô-va phán truyền qua ông thì cũng vẫn là thông tin của Đức Chúa Trời. Tiên tri đang làm một việc là bộc lộ ý tưởng của Đức Chúa Trời.
1. Tính cách nghiêm trọng của hoàn cảnh (Gio 1:2-4)
Mở đầu, tiên tri Giô-ên kêu gọi các trưởng lão một cách tổng quát, đại diện cho dân sự về mặt chính trị và cũng kêu gọi toàn thể dân Giu-đa nữa. Ông kêu gọi họ công nhận rằng hoàn cảnh của họ quả là có một không hai, từ trước đến nay chưa hề xảy ra, là một mốc lịch sử cho các thế hệ tương lai. Tiên tri dùng ngôn từ nặng màu sắc giáo huấn trong tôn giáo đối với người bằng lòng lắng nghe (so sánh 10:2 Thi 48:13 78:4,6). Đây là một tín hiệu bày tỏ rằng dầu sao Đức Chúa Trời cũng đang vận hành trong mọi hoàn cảnh của con người và như vậy họ cần liên hệ với Ngài. Câu 4 mô tả một nạn dịch cào cào nghiêm trọng cắn phá cây cỏ nhiều đợt cho đến chừng hoàn toàn trơ trụi. Câu này dồn dập đưa ra nhiều từ khác nhau chỉ về cào cào chứ không phải nói về các giai đoạn trong chu kỳ phát triển của cào cào, Gio 2:25 cũng có ý như vậy nhưng theo một trật tự khác. Từ thứ hai trong câu 4 (cào cào lớn) là một từ Hi Bá Lai chỉ tổng quát về các loại cào cào, tốt hơn nên dịch là “đám cào cào nhung nhúc”. Từ thứ nhất và từ thứ tư nhằm chỉ về khả năng phá hoại của cào cào. Từ thứ ba (cào cào) chỉ về khả năng nhảy, búng.
2. Thách thức từng thành phần nhân dân (Gio 1:5-12)
Thoạt đầu lời kêu gọi trong câu 2-4 nhắm vào nhân dân cách chung chung giờ đây chuyển hướng để nhắm vào từng thành phần trong xã hội. Tiên tri lần lượt thúc giục mỗi thành phần lý giải ý nghĩa thuộc linh của nạn dịch bằng cách tập trung vào nhu cầu đặc biệt và cụ thể của họ. Ông muốn tập hợp họ đến một buổi nhóm chung để khóc lóc sám hối, câu 14 cho thấy rõ ý này.
(Gio 1:5-7) Những người say rượu Bình thường người say không biết những chuyện xảy ra chung quanh mình. Nhưng mỉa mai thay, tiên tri Giô-ên lại cảnh cáo họ rằng hậu quả của nạn dịch sẽ làm họ rúng động: không còn rượu cho họ nữa. Với câu 6 và 7 có vẻ như ông nói một cách nồng nhiệt về nỗi đau đớn của mình nhằm khích dộng thính giả cảm thấy rằng chuyện đó dính dáng đến chính cá nhân họ. Dịch cào cào chẳng khác gì một đạo quân xâm lăng: trong Gio 2:1-11 tiên tri Giô-ên sẽ khai triển ý này trên phương diện thần học. Với số lượng lớn cào cào có khả năng phá hoại chẳng khác gì các loài thú hoang lớn khác. Cào cào đã tấn công vườn nho cùng các cây ăn quả khác, lột luôn cả vỏ cây, bảo đảm là cây sẽ chết. Do đó chẳng lạ gì khi dân say rượu than khóc.
(Gio 1:8-10) Giê-ru-sa-lem Các động từ trong Hi Bá Lai ở số ít giống cái, các thầy tế lễ của đền thờ được nhắc đến ở đây và trong 2:23 nói đến “dân cư của Si-ôn” là một bảng liệt kê bổ sung cho bảng liệt kê những thành phần đã được kêu gọi, gợi ý rằng phần này nói về Giê-ru-sa-lem, là một thực thể được xác định bằng một từ ở giống cái. Trong lời kêu gọi hãy than khóc tiên tri nhằm nói với cư dân Giê-ru-sa-lem hoặc nói với hội chúng trong một buổi nhóm có tính cách tôn giáo tại thủ đô. Hình ảnh ví von về tang chế diễn tả cảm xúc mạnh mẽ mà họ phải có khi than khóc về cơn khủng hoảng này. Trong câu 8 nếu chuyển ngữ là “đã hứa gả” thì thích hợp hơn. Trong xã hội Y-sơ-ra-ên thời xưa, hứa hôn cũng có tính cách ràng buộc như thể thời nay người ta ký tên vào tờ cam kết trước khi hoàn tất một vụ làm ăn. Cái chết bất ngờ của vị hôn phu trước ngày cưới có thể gây ra khủng hoảng trầm trọng và tuyệt vọng. Lẽ ra dân cư ở Giê-ru-sa-lem phải kinh nghiệm những cảm xúc đó. Lý do là lễ quán và lễ ngũ cốc (so sánh Xu 29:38-40 Dan 28:3-8) không còn được phép dâng lên ở đền thờ nằm tại trung tâm của thành phố. Cái đồng hồ báo giờ thờ phượng quanh năm bỗng nhiên ngừng đập, chu kỳ chúc phước của Đức Chúa Trời trên mùa màng và trên sự thờ phượng của con người (so sánh Gio 2:14) đã đứt quãng. Như trong câu 6-7 tiên tri có vẻ tập trung nói về sự buồn khổ của mình, giờ đây ông chờ xem nỗi đau đớn của các thầy tế lễ trong đền thờ. Nếu họ nhận thức là cơn khủng hoảng đang diễn ra thì sự nhận thức đó sẽ khiến họ than khóc. Nguyên nhân của cơn khủng hoảng là nguyên liệu dùng để thờ phượng đã bị tiêu huỷ. Dầu được dùng để trộn với bột trong của lễ ngũ cốc.
(Gio 1:11-12) Giới nông dân Chẳng lạ gì khi tiếp theo câu 10 tiên tri kêu gọi giới nông dân và người trồng cây ăn quả. Họ có lý do để mà than khóc, ngũ cốc đã bị huỷ phá vườn nho và vườn cây ăn trái cũng vậy, giờ đây héo úa và trơ trụi. Từ Hi Bá Lai có nghĩa là khô héo có liên quan tới sự than khóc, làm như cây cỏ trong tình trạng đáng thương phát ra một tín hiệu báo tin về cảnh tang chế của con người. Một lần nữa tiên tri củng cố lời kêu gọi của mình với một thí dụ đầy sức thuyết phục. Tương tự như trong câu 6-7 của tiên tri đã mô tả về nỗi đau của riêng mình nhằm khích lệ người khác xét lại nỗi đau của họ. Cũng vậy, ở đây ông củng cố cho lời kêu gọi hãy than khóc bằng cách nêu ra hình ảnh cây cỏ “đang than khóc” làm thí dụ. Năm nay sẽ không có lễ hội thu hoạch mùa màng, là cơ hội cho tập thể nô nức ăn mừng và hưởng niềm vui (so sánh Thi 4:7 Es 16:10).
Tiên tri Giô-ên đã nêu ra hàng loạt những lý lẽ để thuyết phục nhân dân hợp nhất trong một phương án chung về mặt tôn giáo mặc dù họ có nhiều chủ trương khác nhau. Công việc của mỗi thành phần nhân dân đều đã bị phá hoại, lẽ ra nỗi lo trong lòng họ phải khiến họ cầu nguyện: Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới có thể đáp ứng yêu cầu của họ. Tiên tri Giô-ên đã lần lượt truyền đạt những lẽ thật đó cho mỗi thành phần nhằm chứng minh với họ rằng những điều xảy đến cho con người đều có ý nghĩa thuộc linh. Mỗi một người giảng đạo đều có thể học hỏi từ nỗ lực của mình.
3. Kêu gọi nhân dân hội họp cầu nguyện (Gio 1:13-20)
Thay vì lễ hội mừng thu hoạch mùa màng là một buổi nhóm buồn thảm. Tiên tri Giô-ên khuyến khích các thầy tế lễ tiếp tục thực hiện những nghi thức than khóc trong câu 9 nhưng ông chủ trương phải áp dụng thêm nhiều biện pháp đối với tình trạng các của lễ dâng thường xuyên bị gián đoạn. Trước tiên, cần tăng cường mức độ than khóc, mặc y phục thích hợp và thức suốt đêm. Bao gai là loại trang phục được dùng trong lúc buồn khổ (so sánh Am 8:10). Tiên tri cẩn thận phân biệt giữa từ Đức Chúa Trời của các ngươi và Đức Chúa Trời ta (Bản Kinh Thánh cũ). Các thầy tế lễ giữ vai trò phục vụ Đức Chúa Trời, một vai trò đang bị đe dọa. Tiên tri Giô-ên cho rằng vị trí tiên tri của mình có thẩm quyền điều động họ thực hiện chức vụ của mình dưới hình thức khác tức là cầu nguyện cách thiết tha bày tỏ sự mất mát của mình.
Thứ hai ông thúc đẩy họ đẩy mạnh nỗ lực tổ chức một buổi nhóm họp than khóc cho toàn thể nhân dân. Họ nên ấn định ngày nghỉ lễ toàn quốc để nhóm họp (nhóm họp thánh nghĩa đen là “nghỉ làm việc”) và rao báo những nghi thức kiêng ăn thường đi kèm với sự cầu nguyện cũng chứng minh lòng thành của họ (so sánh Cac 20:26 Gie 14:1-2,12). Với quyền hạn đã giao cho họ, trong vai trò thầy tế lễ, ông thúc giục họ kêu gọi các trưởng lão cùng nhân dân cầu nguyện. Câu 14 nói về trưởng lão và dân cư trên đất nhắc lại câu 2 và cho thấy mục đích của tiên tri Giô-ên trong câu 2-13 là chuẩn bị tinh thần của thính giả trước đối với lời kêu gọi này là kêu gọi toàn thể nhân dân cầu nguyện trong một thời gian.
15-20 Là một vị lãnh đạo trên nhân dân ông Giô-ên cầu nguyện mẫu cho họ, mối quan tâm thường xuyên của ông là chỉ cho dân sự những việc họ cần làm bằng cách nêu gương cho họ làm theo. Trong câu 6 và câu 7 ông đã nói về cảm xúc riêng của mình trước sự mất mát, trong câu 9 ông nói về sự khóc than của các thầy tế lễ, còn trong câu 12 ông ám chỉ về sự khóc lóc của cây cối. Lời cầu nguyện tương ứng với sự than thở khóc lóc của quốc dân có ghi trong Thi Thiên, tuy nhiên những lời cầu nguyện đó nhằm đối phó với cuộc xâm lăng của quân đội thù nghịch (Thi 44:1-26 74:1-23 80:1-19). Câu 15 trích dẫn Es 13:6, là một lời cầu cứu, là nét đặc trưng mô tả ngày của Đức Giê-hô-va. Đây là lần đầu tiên tác giả đề cập đến câu chủ chốt của sách, câu này nói về sự can thiệp đầy năng lực của Đức Giê-hô-va vào mọi vụ việc của con người. Lần đầu tiên Am 5:18-20 nhắc lại ngày của Đức Giê-hô-va là ngày đem đến sự hình phạt cho Giê-ru-sa-lem thay vì sự giải cứu và phước hạnh cho quốc dân như quan niệm thông thường lâu nay trong dân chúng. Các tiên tri cũng dùng ngày của Đức Giê-hô-va để nói về sự hình phạt của Đức Chúa Trời trên các dân tộc ngoại quốc với ý tương tự như Es 13:6. Tiên tri Giô-ên áp dụng ngày này một cách sâu sắc cho dân của Đức Chúa Trời khi Ngài hình phạt họ. Tự thân câu trưng dẫn đủ toát ra sự sống động vì mẹo chơi chữ ðơd (tàn tích) và ðadday (Đấng quyền năng). Dân Y-sơ-ra-ên hết sức quen thuộc với mẹo chơi chữ nên các vị tiên tri thường dùng phương pháp này để khuấy lên cảm xúc của thính giả. Tiên tri Giô-ên đã nói đến tàn tích (10, bị huỷ hoại, bị phá hoang: Hi Bá Lai ðuddad). Giờ đây từ những tàn tích đó ông truy ngược đến Đức Chúa Trời là nguyên nhân khiến người ta rất kinh ngạc và ông lý giải rằng nạn dịch cào cào đến từ chính Đức Chúa Trời (Ngày ấy nghĩa đen là “Ngày” (NRSV) “đến” (NRSV) hoặc “đang đến” như trong Gio 2:1 phù hợp với bản văn hơn là sẽ đến). Ý ngầm nơi đây là sự thành tựu của lời rủa sả trong giao ước (so sánh Phu 28:38). Nạn dịch này mở đầu cho phần chung cuộc của dân sự trong giao ước.
16-18 Thông thường trong bài cầu nguyện than khóc với Đức Chúa Trời, người cầu nguyện thường nêu ra những dữ kiện mô tả cuộc khủng hoảng nhằm thúc giục Đức Chúa Trời can thiệp giúp đỡ mình. Ở đây, tiên tri Giô-ên cũng làm như vậy, mặc dù phần đầu câu 17 không rõ nghĩa lắm. Nạn đói đe dọa đám dân bất lực. Ngũ cốc đã mất mùa nên họ không còn khả năng đem ngũ cốc để dâng làm của lễ đều đặn cho Đức Chúa Trời để bày tỏ lòng vui mừng trong sự thờ phượng và tin cậy Ngài. Những kho chứa thực phẩm điêu tàn không còn được sử dụng nữa mà bị phế bỏ trở nên chứng tích hiển nhiên cho vụ mất mùa. Bầy súc vật không có đồng cỏ là một chứng tích khác về cơn khủng hoảng.
19-20 Giờ đây tác giả quay qua cầu nguyện thẳng với Đức Chúa Trời. Nghi thức thời xưa cho phép người hướng dẫn buổi cầu nguyện than khóc của quốc dân thình lình xen vào một lời cầu nguyện của riêng mình (so sánh Thi 44:4,6,15-16 74:12). Một khi Đức Chúa Trời là căn cơ thì Ngài cũng có thể cứu chữa. Nét đặc thù trong một bài cầu nguyện than khóc là đặt Đức Chúa Trời ở hai vị thế: một là vị quan toà thiên thượng và thứ hai là vị cứu tinh có năng quyền (so sánh Thi 22:11,15). Tiên tri phơi bày trước mặt Đức Chúa Trời thảm hoạ của đất nước. Nếu thảm trạng này làm rúng động lòng của tiên tri Giô-ên (c.6,7) chắc chắn cũng cảm động lòng Đức Chúa Trời. Lửa trong câu 19 chỉ về tình trạng khô hạn. Nạn dịch và nạn hạn hán không xảy ra cùng một lúc, rõ ràng nạn hạn hán đến sau sự phá hoại do cào cào gây ra và khiến cho tình hình càng trầm trọng thêm. Có lẽ nên chuyển ngữ từ thở dốc là nó “kêu” (AV, NRSV). Tiếng rên rỉ của những con thú kiệt sức được diễn dịch thành lời cầu nguyện với Đấng Tạo hoá (so sánh Giop 38:41 Thi 104:21 Ro 8:22). Chắc chắn Ngài đã nghe những tiếng kêu và cảm thương cho sự đau đớn của chúng (so sánh Gion 4:11).
4. Giảng giải về một phán quyết (Gio 2:1-11)
Phần này khuấy động cảm xúc nơi thính giả để chuẩn bị họ cho lời kêu gọi của Đức Chúa Trời trong câu 12 tương tự như trong Gio 1:2,4. Ở đây lại có lời kêu gọi quốc dân. Hy vọng duy nhất của nhân dân là trở về với Đức Chúa Trời qua một buổi nhóm họp đầy khóc lóc thở than. Để thúc đẩy họ thực hiện buổi nhóm họp đó, tiên tri Giô-ên tung ra một hồi báo động cấp bách theo kiểu quân sự rồi ông mô tả đám cào cào trong vai kẻ thù của quốc dân. Trong sứ điệp trước ông đã gợi ra một số điềm xấu khi ông nói về một “dân” xâm lăng và về “Ngày của Đức Giê-hô-va” giờ đây ông triển khai điều đó trong một bài giảng nẩy lửa đầy những hình ảnh kinh hãi. Đôi khi lời kêu gọi căn cứ vào lý luận không đủ sức thuyết phục nên phải khuấy lên nỗi lo sợ từ trong tâm can về những hậu quả kinh khiếp mới có thể khiến người ta cảm nhận được sự thật về Đức Chúa Trời (so sánh He 10:26-31).
Một vài nhà bình giải cho rằng khúc Kinh Thánh này nói về một đạo quân theo nghĩa đen nhưng như thế là cưỡng giải. Câu 4,5,7 dùng hình ảnh ví von trong lãnh vực quân sự ngụ ý rằng những câu nói tiếp theo có tính cách quân sự đều phải hiểu theo nghĩa bóng. Hơn nữa câu 19-26 nói về cào cào và những sự thiệt hại do cào cào gợi ý rằng suốt Gio 2:1-17 triển khai cùng một chủ đề. Tiên tri Giô-ên bình giải nạn dịch cào cào bằng những ngôn từ tôn giáo quen thuộc với thính giả: thêm vào đó là hình ảnh ví von kinh khiếp liên quan với ngày của Đức Giê-hô-va. Câu 1 và câu 11 nhắc đến chủ đề ngày của Đức Giê-hô-va, câu 1 và câu 10 trưng dẫn Es 13:6,10 là những câu Kinh Thánh có tương quan với chủ đề này, tạo thành khung sườn và ý tưởng then chốt cho khúc Kinh Thánh.
1-2 Tiếng kêu báo động trong phần đầu câu 1 rõ ràng là phát xuất từ chính Đức Chúa Trời (Núi thánh ta). Tiếng báo động cảnh báo rằng lực lượng của kẻ thù đang xâm lăng (so sánh Exe 33:2-4). Thật ra người ta cũng thổi kèn để báo hiệu về những cuộc nhóm họp tại nhà thờ (so sánh Dan 10:1-10) và như vậy ở đây có mẹo chơi ý, câu 15 sẽ làm sáng tỏ. Thật sự Đức Chúa Trời kêu gọi củng cố đền thờ chớ không phải thành lũy. Tiên tri Giô-ên giải nghĩa nguy cơ dưới dạng ngày của Đức Giê-hô-va bằng cách trích Es 13:6 trước rồi ông trình bày việc làm của Đức Chúa Trời dưới dạng dịch cào cào. Hàng triệu con cào cào phủ đen các ngọn núi, hình ảnh này được mô tả bằng những lời lẽ đáng sợ trích từ một câu Kinh Thánh khác của các tiên tri, So 1:15. Nên chuyển ngữ từ hừng đông thành “tối tăm”, đọc trại âm của từ Hi Bá Lai là šahar ra là šehôr như trong bản NRSV, GNB và REB. Vì mục đích rõ ràng là nhằm biện minh cho sự vân dụng ngôn từ tiên tri theo truyền thống vào nạn cào cào. Từ hừng đông trong Bản NIV có lẽ chỉ về ánh mặt trời phản chiếu trên đôi cánh của cào cào. Như vậy, hừng đông đó là hừng đông của ngày hình phạt đối với dân sự của Đức Chúa Trời. Tiên tri Giô-ên căn cứ vào 1:6 hình ảnh ví von về một đạo quân vĩ đại để triển khai hình ảnh đó trong khúc Kinh Thánh này. Để củng cố cho Gio 1:2 ông dùng lời lẽ trong Xu 10:14 là câu mô tả về tai vạ cào cào ở Ai-cập. Tuy nhiên giờ đây dân sự của Đức Chúa Trời trở thành nạn nhân.
3-5 Câu 3 khéo léo liên tưởng đến Thi 97:3, mô tả một sự hiện ra của Đức Chúa Trời, một sự hiện ra đầy kịch tính của Đức Chúa Trời đầy quyền năng trên địa cầu, bao bọc trong sự vinh quang hừng hực như lửa. Đám cào cào làm đại diện cho Đức Chúa Trời, lửa cháy rần rật (bản diễn ý) diễn tả cảnh trí trơ trụi mà đám cào cào gây ra. Với “chính sách lột trụi mặt đất” đám cào cào biến cây xanh đẹp đẽ thành sa mạc hoang vắng cằn cỗi (so sánh Exe 36:35) tiên tri Giô-ên tận dụng nét tương tự kỳ lạ giữa châu chấu với đầu ngựa. Ông ví sánh đám cào cào với đoàn kỵ binh của Đức Chúa Trời đang tiến công. Tiếng động do cào cào gây ra trong khi gặm nhắm được ví với sự phá hoại trong lãnh vực quân sự dầu rằng thời nay người ta ví sánh tiếng động đó với tiếng lùm cây đang cháy. Đám cào cào thực sự tương tự như một đoàn quân gieo rắc kinh hoàng. Sự ví sánh và hình bóng được vận dụng để nới rộng chân trời hiểu biết mới, để bày tỏ rằng trong căn bản nạn dịch cào cào chính là việc của Đức Chúa Trời.
6-9 Mấy câu này triển khai cuộc tấn công của đoàn quân. Nhưng trước tiên tác giả nêu ra một chi tiết liên hệ đến sự hình phạt của Đức Chúa Trời. Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai cụm từ khi thấy chúng nó và sợ tái mặt tương ứng với “run sợ trước mặt Ngài” trong Thi 96:9. Đám cào cào tiêu biểu cho chính quyền năng của Đức Chúa Trời tung ra chống nghịch lại dân sự của Ngài. Các đạo quân (bản Diễn Ý ở số nhiều) đưa sự kinh hoàng lên cao độ. Các vị tiên tri thường mô tả kẻ thù của quốc dân Y-sơ-ra-ên là công cụ của Đức Chúa Trời được Ngài dùng để hình phạt một dân tộc tội lỗi (ví dụ Es 10:5-6 Am 2:13-16). Tiên tri Giô-ên áp dụng ý niệm này vào đám cào cào. Ông mô tả chúng quyết tâm tiến tới xâm nhập vào Giê-ru-sa-lem mà không ai ngăn cản được.
10-11 Cao điểm nằm ở hai câu này. Nếu trong câu 6 từ “các dân tộc” củng cố cho bức tranh mô tả về đàn cào cào, giờ đây những biến đổi trong vũ trụ khiến cho bức tranh càng trở nên đen tối hơn. Một lần nữa tác giả đưa vào bức tranh tiếng của Đức Chúa Trời. Trong Kinh Thánh Cựu Ước động đất là một phản ứng quen thuộc của điạ cầu khi Đức Chúa Trời viếng thăm (so sánh Thi 18:7 77:18). Tác giả vận dụng những sự cố trong vũ trụ để đặc biệt mô tả ngày của Đức Giê-hô-va tương tự như trong Es 13:10,13. Chắc chắn thính giả của Giô-ên nhận biết ông liên tưởng đến những câu Kinh Thánh này tương tự như đám cào cào tiến tới trên mặt đất tạo ra những đợt sóng, mặt đất dường như cũng rung lên theo nhịp sóng đó. Rồi khi số cào cào vô số đó cất cánh bay đến đồng cỏ xanh tươi khác,thì tưởng như mây che khuất mặt trời ban ngày và mặt trăng ban đêm.
Tuy nhiên, trong cái nhìn của tiên tri Giô-ên những biến động trong thiên nhiên đó bị khuất lấp dưới ý nghĩa siêu nhiên. Với khả năng hiểu biết sâu sắc của một nhà tiên tri ông mô tả Đức Giê-hô-va là một vị tướng cầm quyền trên đám cào cào ra lệnh cho đạo quân của mình tiến bước. Một lần nữa ở đây tiên tri Giô-ên liên tưởng đến Es 13:4. Dầu vậy, ở đây kẻ thù của Đức Chúa Trời không phải là người ngoại quốc nữa mà là chính dân của Ngài. Câu hỏi cuối cùng nhằm nhắc đến tình trạng vô vọng. Qua cơn khủng hoảng này Y-sơ-ra-ên phải đối diện với Đức Chúa Trời là quan toà của mình.
Tiên tri Giô-ên cố tình đẩy cảm xúc của thính giả căng thẳng đến tột độ. Ông khơi dậy trong họ những cảm nghĩ về điềm gỡ lạ tồi tệ sắp đến khiến cho thần kinh họ bị căng quá sức chịu đựng. Theo giọng điệu và chủ ý của ông thì câu 1-11 chẳng khác gì những thông tin đen tối trong Ro 1:18-3:20 được loan ra trước những thông tin sáng sủa trong 3:21-26.
5. Cơ hội duy nhất (Gio 2:12-17)
Tiên tri Giô-ên mô tả Đức Giê-hô-va trong trang phục một tướng lãnh đứng đầu đạo quân thù nghịch. Tuy nhiên, khi ông kêu gọi Giu-đa quy phục vị tướng đáng sợ này thì nghe như là chính đồng minh cũ đang kêu gọi họ. Theo như nhà tiên tri giải thích thì một khi quyền hành của Đức Giê-hô-va được công nhận, thì Ngài có thể bày tỏ Ngài là Đức Chúa Trời yêu thương. Nhưng, trước tiên, tác giả chuyển đạt lời của Đức Chúa Trời kêu gọi ăn năn trong câu 12 (so sánh Gie 3:22 7:3 18:11 Am 5:4-5). Đây là đỉnh điểm của những điều tiên tri Giô-ên đã kêu gọi trong câu 11. Từ trở về gợi lại mối tương quan giao ước như tiên tri Giô-ên mô tả trong câu 13 (Đức Chúa Trời các ngươi, so sánh Gio 2:26-27 3:17). Dân của Đức Chúa Trời tựa như những người con trai con gái đi hoang cần quay về nhà cha thiên thượng của mình. Họ cần thực hiện việc đó ngay giờ này: Đây là thời điểm thuận lợi nhất về mặt tâm lý. Những lời kêu gọi ăn năn trong Kinh Thánh Cựu Ước đều cấp bách như vậy (Gios 24:14 Gie 26:13 so sánh Cong 17:30 IICo 6:2). Tính cách này cũng thấm đẫm trong những bài ca, bài giảng truyền bá Tin-lành. Mọi nhân viên tiếp thị đều biết rõ rằng muốn bán được hàng thì phải nhấn mạnh tính cách cần thiết, cấp bách và thời cơ duy nhất.
Vấn đề thuộc linh luôn luôn có một vỏ bọc tôn giáo bên ngoài. Trong trường hợp này sự hoàn toàn quy phục của ý chí, một ưu điểm nổi bật trong Phục Truyền Luật Lệ Ký (quan sát Phu 11:13), được bày tỏ qua một nghi thức nhóm họp than khóc của nhân dân. Ở đây lời kêu gọi của Đức Chúa Trời tóm gọn hết những lời kêu gọi của tiên tri về việc khóc lóc để tang và kiêng ăn (Gio 1:5,13,14).
13-17 Tiên tri Giô-ên bình giải ý nghĩa sứ điệp của Đức Chúa Trời. Thi 85:8-13 là một trường hợp tương tự. Trong thi thiên này, đáp lại lời than khóc của nhân dân, một vị tiên tri tại đền thờ bình giải sứ điệp gói ghém trong một từ duy nhất là “bình an” (ðlôm). Trước hết tiên tri Giô-ên nhấn mạnh cần phải chân thành ăn năn, kêu gọi phải có sự đồng nhất giữa nội tâm và vỏ thuộc linh bên ngoài. Dân Y-sơ-ra-ên thời cổ có khuynh hướng bộc lộ nội tâm, nên chắc chắn về mặt tâm lý họ tìm được sự nhẹ nhàng mà người dân trong nền văn hoá kém cởi mở khó đạt được. Tuy nhiên, mối nguy nằm ở chỗ những cảm xúc bộc lộ ra bên ngoài có thể trở nên một tấm bình phong che khuất tấm lòng còn cứng cỏi. Tục lệ xé quần áo để bày tỏ phản ứng của mình trước một cơn khủng hoảng (so sánh IIVua 19:1), vẫn còn tồn tại giữa vòng người Do Thái qua việc xé ve áo vét trong đám tang. Nhưng thật ra cần phải xé tấm lòng hoặc nói cách khác tấm lòng phải tan vỡ: Dân Y-sơ-ra-ên cần biểu lộ một phản ứng sâu xa hơn chứ không phải chỉ có bề ngoài. Từ đừng, chớ đừng, không như trong Os 6:6 và IGi 3:18 dùng để ngụ ý “chẳng phải chỉ”. Tiên tri Giô-ên không dành thì giờ phân tích tội lỗi của nhân dân. “Trong lúc khẩn trương tột bực thì tiên tri quan tâm đến biện pháp chữa trị thay vì chẩn đoán bệnh trạng” (Hubbard). Trong tiến trình trở về cùng Đức Giê-hô-va, “xem xét và rà soát đường lối của mình” nằm trong phạm vi trách nhiệm của họ (Ro 3:40).
Thứ hai, Giô-ên bình luận về từ trở lại và ghi nhận mối liên hệ của vấn đề đó với giao ước. Tiếp nối ông nêu ra sự kiện Đức Chúa Trời trung thành với giao ước (thương xót, nhân ái) làm cơ sở để kêu gọi nhân dân ăn năn và thúc giục Giu-đa hưởng ứng. Ông dùng lối nói quen thuộc trong giáo lý (vì Ngài là nhơn từ và hay thương xót) 13: so sánh Thi 86:15 103:8 145:8). Câu này liên hệ với Xu 34:6 qua câu này Đức Chúa Trời tái xác nhận giao ước đầy ân điển với thế hệ người Y-sơ-ra-ên vào thời xuất Ai Cập sau khi họ bỏ giao ước tại sa mạc. Như vậy lời xác định này (Gio 2:13) bày tỏ rằng Đức Chúa Trời sẵn sàng ban cho dân sự tội lỗi của Ngài một cơ hội nữa.
Vì cớ tình yêu thương của một người cha, đôi khi Đức Chúa Trời phải sửa trị dân của Ngài (so sánh He 12:5-11) nhưng mục đích tối hậu của Ngài là nhằm tái lập mối thông công với họ. Ông Giô-ên lý luận rằng do đó thoạt tiên dù Ngài phản ứng rất công bình đối với tội lỗi của họ bằng tai hoạ, nhưng sâu xa trong lòng Ngài muốn thay đổi biện pháp đó. Căn cứ vào lý do này, từ hình ảnh Đức Giê-hô-va là kẻ thù của Y-sơ-ra-ên tiên tri có thể chuyển qua rao truyền lời Ngài kêu gọi dân sự ăn năn. Trong nguyên ngữ có một từ được dịch là đổi ý (cũng có dùng trong câu 14: xây lòng đổi ý) nên dịch là thương xót. Thường thường từ này chỉ về sự ăn năn của loài người. Còn dùng trong trường hợp của Đức Chúa Trời thì từ đó không có ý nói rằng Đức Chúa Trời đau đớn hoặc hối hận vì đã làm điều sai. Kinh Thánh Cựu Ước chủ trương Đức Chúa Trời không thay đổi dù rằng có khả năng loài người không nghiêm chỉnh tiếp nhận những lời cảnh cáo của Ngài (ví dụ ISa 15:29). Nhưng ngoài ra từ đó có thể có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ uyển chuyển nhằm đạt mục đích cao hơn (so sánh Gie 18:5-11).
Dầu vậy, ông Giô-ên không đưa ra một lời hứa rõ ràng nào cho rằng Đức Chúa Trời buộc lòng phải thương xót. Ông không thể bảo đảm một điều nào cả. Phản ứng của Đức Chúa Trời không có máy móc, tự động (Ai biết được?, 14). Nếu Đức Chúa Trời muốn chứng tỏ bản chất yêu thương của Ngài trong một tình hình cụ thể thì chỉ một mình Ngài có quyền quyết định. Nhờ đó, Ngài bảo vệ được quyền tự do riêng của Ngài: con người không thể nào dùng mưu chước để điều khiển Ngài vì bao bọc chung quanh Ngài là một vùng bí ẩn tột bực. Cầu nguyện là quy phục ý muốn của Ngài chứ không phải ép Ngài làm theo ý muốn của chúng ta. Cầu nguyện không phải là phép thuật mà chỉ là cầu xin và chờ đợi một cách khiêm nhu. Như các tiên tri khác đã làm (Am 5:15 So 2:3 so sánh Cong 8:22 IITi 2:25), lời cảnh cáo của tiên tri Giô-ên nhằm nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời kêu gọi nhân dân thay đổi cả tấm lòng lẫn thói quen.
Khi Đức Chúa Trời trả lời một cách tích cực tức là Ngài từ bỏ ý định trừng phạt. Tiên tri vạch ra mối tương quan cơ bản giữa sự quay lại của con người (12) và sự xây lòng đổi ý của Đức Chúa Trời (14) nguyên bản Hi Bá Lai dùng cùng một động từ trong hai trường hợp này. Mối tương quan giữa Đức Chúa Trời và dân sự có tính cách chủ chốt đến độ sự trở về của họ là tín hiệu mà Ngài đang tìm kiếm sự trở về đó tác động lên sự xây lòng đổi ý của Ngài (so sánh Xa 1:3 Ma 3:7) Hiểu theo thực tế việc này có nghĩa là Ngài sẽ chừa lại, không huỷ phá một số cây trong vườn nho và trong đồng lúa làm dấu hiệu phước hạnh của Ngài (đối ngược c.3). Trong tinh thần biết ơn, tiên tri Giô-ên gợi ý rằng đến khi những điều Đức Chúa Trời chừa lại đơm hoa kết quả, một phần trong số đó phải được dùng làm của lễ cơ bản hầu cho một lần nữa dân Y-sơ-ra-ên làm tròn bổn phận thờ phượng của họ.
Để cho việc này xảy ra tiên tri Giô-ên nói rằng họ phải thực hiện một số nghi thức các loại, tức là một số nghi thức tôn giáo (12): kiêng ăn, khóc lóc, buồn rầu. Rồi ông lại kêu gọi các thầy tế lễ tổ chức một buổi nhóm họp cho dân sự thực hiện những nghi thức đó (15, so sánh Gio 1:14). IISu 20:1-13 có mô tả một buổi nhóm họp thuộc loại đó. Cũng như trong buổi nhóm họp đó, ở đây cần có sự hưởng ứng của toàn thể dân sự: Sự hưởng ứng cần xuất phát từ đáy lòng của từng người và mọi người. Tình hình nghiêm trọng đến độ người ta tạm thời không cho phép thanh niên mới lấy vợ được vắng mặt khỏi những trách nhiệm trong xã hội như thông lệ (16 so sánh Phu 24:5). Ai nấy đều được triệu tập đến sân đền thờ để lớn tiếng cầu nguyện. Ngay cả tiếng khóc la của em bé cũng có thể góp phần vào việc này.
17 Các thầy tế lễ phải đứng vào vị trí truyền thống của họ trên bậc thang trước đền thờ (so sánh Exe 8:16 Mat 23:35) và thay mặt dân sự đọc lời than thở mẫu của quốc dân. Họ phải kêu cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của giao ước - xin Ngài đến giải cứu dân sự vì cớ danh Ngài (so sánh Thi 79:1-4,8-10). Từ dân Ngài bổ túc cho từ “Đức Chúa Trời của các ngươi” trong câu 13,14. Việc dùng hai từ đó thể hiện tính hai mặt của giao ước (so sánh Xu 6:7). Từ cơ nghiệp tức là dân sự, chỉ dân sự thuộc về Đức Chúa Trời. Ăn năn nghĩa là phục hồi trong giao ước: Nếu dân sự nhận thức được trách nhiệm của họ đối với giao ước, họ có thể cầu xin Đức Chúa Trời cất bỏ sự rủa sả trong giao ước đang xảy ra cho họ dưới hình thức nạn dịch cào cào. Dựa vào văn hoá Y-sơ-ra-ên thì dân chúng cảm thấy xấu hổ tột độ - ở đây sự xấu hổ xảy ra ở hai phương diện. Một mặt người Y-sơ-ra-ên xấu hổ trước láng giềng người ngoại quốc về tình trạng tan hoang do nạn cào cào gây ra. Giê-hô-va Đức Chúa Trời là Đấng bảo vệ họ cũng xấu hổ như vậy. Danh Thánh của Ngài bị đe doạ. Khi cầu nguyện thuyết phục Đức Chúa Trời cứu giúp mình, dân Y-sơ-ra-ên không đắn đo ngần ngại trước một lý lẽ nào cả.
3. ĐÁP LỜI CHO SỰ CẦU NGUYỆN (Gio 2:18-3:21)
Sự trả lời của Đức Chúa Trời gồm hai phần nằm trong hai phương diện. Phần thứ nhất Gio 2:18-27, phần thứ hai dài hơn, 2:28-3:21. Cả hai đều có đỉnh điểm là lời hứa của Đức Chúa Trời bảo đảm là sẽ bảo vệ họ bằng sự hiện diện của Ngài. Ở đỉnh điểm cả hai phần đều có những mẫu câu quen thuộc gói ghém lời hứa của Đức Giê-hô-va rằng Ngài sẽ hiện diện giữa vòng dân sự của Ngài trong tư cách Ngài Đức Chúa Trời để bảo vệ họ (các ngươi sẽ biết rằng ta ở giữa Y-sơ-ra-ên trong 2:27 3:17). Cụm từ này được dùng nhằm vô hiệu hoá cụm từ “ai biết được” (2:14). Phần trả lời thứ nhất giải quyết vấn đề cấp bách về nạn dịch cào cào. Phần trả lời thứ hai xử lý những vấn đề thuộc về thời gian xa hơn nhằm chứng tỏ sự giải cứu và sự chúc phước của Đức Chúa Trời (2:28 3:1).
1. Đắc thắng trên cào cào (Gio 2:18-27)
Các động từ trong câu 18 và động từ dẫn đầu trong câu 19 phải ở thì quá khứ. Theo như phần ghi chú đã trình bày, đây là phần dẫn nhập ngắn ngủi. Trong khi câu 15-17 tương ứng với câu chuyện trong IISu 20:1-13, thì phần này tương ứng với 20:14-17. Giữa câu 17 và 18 có một thời gian trôi qua ngụ ý là các thầy tế lễ và nhân dân nghiêm chỉnh hưởng ứng lời kêu gọi của tiên tri Giô-ên, ngoan ngoãn tổ chức một buổi nhóm họp để than khóc và trong thực tế đã thực hiện được. Do đó tiên tri Giô-ên có thể chuyển hướng từ chỗ lý giải các biện pháp hình phạt qua phần truyền rao sự cứu rỗi. Nhân danh Đức Giê-hô-va ông truyền rao sứ điệp về sự cứu rỗi cách đầy năng lực. Thật ra Đức Chúa Trời có thể trả lời “không chấp thuận” đối với những lời cầu nguyện của họ nhưng trong thực tế Ngài đã “chấp thuận” một cách đầy phấn khởi. Sự ghen tương được dùng để nói về thuộc tính của Đức Chúa Trời nhằm mô tả mối quan tâm nồng nhiệt và tình yêu thương sâu đậm khi đối tượng của mối quan tâm đầy yêu thương bị đe doạ (so sánh Exe 36:5-6). Động từ thương xót trong câu 18 cũng tương tự như động từ “tiếc” trong câu 17. Động từ này là âm vang của lời cầu xin nay đã được chấp thuận. Câu 18 trình bày sứ điệp kế tiếp làm thí dụ cụ thể về lòng thành tín của Đức Chúa Trời. Lòng ăn năn của con người cho phép ân sủng thiên thượng hoàn tất ý định của Đức Chúa Trời.
19-20 Sứ điệp này gói trọn mối quan tâm của một người chăn cảm nhận được nhu cầu vật chất và tinh thần của dân sự. Đức Giê-hô-va hứa ban lại cho họ các loại thực phẩm cơ bản quá mức cần thiết do đó người ngoại quốc vô đạo thôi không còn gièm chê họ nữa (19, so sánh 17). Bảo vệ danh dự là vấn đề chủ yếu đến nỗi Đức Chúa Trời mở đầu và kết thúc câu trả lời đầu tiên của Ngài với vấn đề đó (19,26-27). Giờ đây Đức Giê-hô-va tỏ ra Ngài là đồng minh với dân của Ngài trong cuộc chiến chống cào cào. Cào cào sẽ bị quét sạch khỏi lãnh thổ Giu-đa và bị huỷ diệt chắc hẳn là bằng sức gió mạnh (so sánh Xu 10:19). Để gợi lại hình ảnh quân sự trong Gio 1:6 và 2:1-11 tiên tri Giô-ên dùng cụm từ “đạo binh từ phương bắc” mô tả nạn dịch cào cào. Cụm từ này khiến chúng ta liên tưởng đến chủ đề của tiên tri Giê-rê-mi về tai nạn từ phương bắc (bản Kinh Thánh tiếng Việt cũ), quân đội từ phương bắc (bản diễn ý) (Gie 6:1) khi ông nói về chiến dịch xâm lăng của quân thù vào lãnh thổ Y-sơ-ra-ên do Đức Chúa Trời điều động. Đạo quân cào cào đã hành động quá tàn bạo, và đó là lý do của sự hình phạt. Hình ảnh này gợi nhớ sứ điệp của tiên tri Ê-sai về A-si-ri cùng một lúc giữ hai vai trò vai trò thứ nhất là công cụ của Đức Chúa Trời trong việc hình phạt dân sự của Ngài vai trò thứ hai là làm nạn nhân vì họ đã vượt quá hạn định của Đức Chúa Trời (Es 10:5-12). Tiên tri nhắc đến mùi hôi thối nhằm làm tín hiệu bảo đảm lời hứa là sẽ huỷ diệt kẻ thù của họ.
21-24a Với giọng hùng biện, tiên tri lần lượt kêu gọi đất đai, thú hoang và dân cư của Si-ôn trong câu 21-23. Dân cư của Si-ôn là hội chúng người Y-sơ-ra-ên nhóm họp trong sân đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Những lời kêu gọi này là phần đối ứng với những lời thách thức nghiêm trọng trong chương 1. Giữa hai khúc Kinh Thánh này có những mối tương quan về ngôn từ. Phần đối ứng này cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã đảo ngược sự hình phạt và Ngài làm thoả mãn những nhu cầu của dân sự. Lời vỗ về “đừng sợ” là một lời hứa đặc thù của Đức Chúa Trời khi Ngài lên tiếng đáp ứng lời than khóc của dân sự (so sánh IISu 20:15,17 Ro 3:57). Cũng trong tinh thần vỗ về và hứa hẹn đó nguyên bản Hi Bá Lai dùng sáu động từ ở thì quá khứ. Bản NIV chuyển ngữ hai trong số sáu động từ đó là đã làm, đã cho (đã làm, 21 ban cho, 23 bản Kinh Thánh tiếng Việt cũ). Những động từ ở thì quá khứ đó được dùng để nói về hành động trong tương lai với ý là lời hứa của Đức Chúa Trời có tính cách chắc chắn vì Ngài sẽ làm trọn lời hứa. Những lời kêu gọi này được xem như bài hát ca ngợi của tiên tri thúc giục dân sự của Đức Chúa Trời tin tưởng vào những điều Ngài sẽ thực hiện và tỏ lòng hân hoan vui mừng về những điều đó ngay từ bây giờ (so sánh Ro 5:2). Trong Thi 35:26-27, những người nói “khoát lác, kiêu căng” (Bản diễn ý) chống lại Đức Chúa Trời sẽ phải đối phó với Đức Chúa Trời vĩ đại, cũng vậy trong câu 20,21 sức phá hoại của cào cào tiêu tan trước quyền năng tái tạo và phục hồi của Đức Chúa Trời. Dân sự của Đức Chúa Trời có thể hy vọng vào quà tặng của Ngài qua những trận mưa cuối mùa thu và mùa xuân như một phương thuốc chữa lành cho đất đai nhờ đó có thể hy vọng rằng cảnh vật sẽ xanh tươi trở lại. Rồi đây họ sẽ vui mừng với vụ thu hoạch vả và nho, một sự kiện hoàn toàn trái ngược với cảnh trạng trong Gio 1:7,12. Chỉ những người sống trong những vùng có khí hậu nóng nực khô hạn mới có thể hiểu được nỗi vui mừng rộn rã khi mưa sắp tới. Mưa có nghĩa là giữa Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài có một mối tương quan tốt đẹp. Câu 24 trở lại với vấn đề trong câu 19 và vạch ra kết quả của phước hạnh này, ai nấy hoan hỉ tiếp nhận số lượng dư dật dồi dào về ngũ cốc, rượu và dầu.
25-27 Tiên tri tiếp tục truyền rao một sứ điệp phước hạnh trực tiếp đến từ Đức Chúa Trời để bù cho những năm mất mùa trầm trọng sau nạn dịch cào cào. Đức Chúa Trời sẽ ban cho hoa lợi dồi dào. Đầu và cuối những lời kêu gọi của tiên tri Giô-ên có những lời lẽ khiến liên tưởng đến ngôn từ trong 1:4 2:11 nhưng ông chỉ dùng những lời này sau khi đã đảm bảo rằng cơn ác mộng đã qua. Tiếng hoan ca ha-lê-lu-gia sẽ thế chỗ cho tiếng than khóc phù hợp với chương lịch sử mới viết về quyền năng và hành động của Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên (so sánh Xu 15:11 Mi 6:15). Phần kết lặp lại hai lần vấn đề xoa dịu sự tổn thương về mặt tinh thần đã được đề cập đến trong câu 19, không hề... nữa hoặc “chẳng bao giờ”là những từ được dùng trong văn chương tiên tri nhằm xoa dịu những nỗi lo âu sâu thẳm (so sánh Exe 34:28-29 26:30). Danh hiệu dân ta diễn tả ý bảo vệ và an toàn. Trong câu 18 tiên tri cũng dùng từ này một cách tự hào. Đức Chúa Trời sẽ chứng tỏ Ngài là vô địch của dân sự trong giao ước, hễ có Ngài hiện diện là họ được cứu giúp. Rồi đây họ có thể trả lời một cách tích cực cho lời chế nhạo “Đức Chúa Trời chúng nó ở đâu” (17). Rồi họ sẽ hiểu vì sao Ngài đòi hỏi họ phải tuyệt đối trung thành vì đặc ân luôn luôn đòi hỏi trách nhiệm. Sự xấu hổ hoàn toàn chấm dứt ở cuối câu 27 được biểu thị bằng cùng một động từ trong nguyên ngữ Hi Bá Lai. Được dùng nhiều lần trong Gio 1:10-12 (“khô héo”, “hao mòn”) và như vậy nạn dịch cào cào kết thúc cách tốt đẹp.
Câu trả lời của Đức Chúa Trời có tương quan với hệ thống thần học trong Cựu Ước đặt cơ sở trên đất đai đất đai là thước đo mối tương quan giữa Y-sơ-ra-ên với Đức Giê-hô-va. Bản liệt kê các phước hạnh của giao ước liên quan đến đất đai chủ ý làm nổi bật bài học về nạn dịch cào cào, nạn dịch này là hiện thân của lời rủa sả trong giao ước đối với một dân phản loạn.
2. Sự tái tạo và sự bảo vệ dành cho dân của Đức Chúa Trời (Gio 2:28-32)
Tiên tri Giô-ên đã dùng ngày của Đức Giê-hô-va để lý giải rằng nạn dịch cào cào biểu hiện tai hoạ của Đức Chúa Trời đưa đến. Theo truyền thống, những tai hoạ thuộc loại này là biện pháp hình phạt nặng nề trên thế giới tội lỗi mà chính dân sự tội lỗi của Ngài không thể thoát khỏi (So 1:2-3,18 so sánh Es 2:6-21). Đối với tiên tri Giô-ên coi như nạn dịch này khởi động cho thời gian ngày của Đức Giê-hô-va, còn đối với tiên tri Áp-đia thời gian đó mở đầu với sự huỷ phá thành Giê-ru-sa-lem vào năm 586 T.C. (Ap 1:10-21).
Xem như câu 32 là lời bình giải của tiên tri Giô-ên về một sứ điệp khác của Đức Chúa Trời trong câu 28-31, đặc biệt là phần cuối, tức là câu 30-31 (trong câu 31 ngày của Đức Giê-hô-va có vẻ như là một câu nói có tính cách tượng hình của Đức Giê-hô-va Ngài chẳng bao giờ dùng từ “ngày của ta” trong Kinh Thánh Cựu Ước). Rõ ràng tiên tri Giô-ên đã lấy ý của Áp-đia 17 là lời hứa về những người còn sống sót ở tại Si-ôn và kết hợp với sứ điệp trong câu 28-31 để chuyển đạt lại cho dân sự hội họp tại Giê-ru-sa-lem (so sánh So 2:1-3). Ông liên hệ sứ điệp này với các diễn biến trong ngày của Đức Giê-hô-va vào giai đoạn cuối theo hướng tiên tri của Áp-đia. Dân của Đức Chúa Trời đã trải qua “ngày của Đức Giê-hô-va” dành cho họ nên họ sẽ được miễn trừ khỏi sự hình phạt trong ngày này.
28-29 Sứ điệp này mô tả mối tương quan hoàn hảo giữa Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài trong thời đại mới. Tiên tri Giê-rê-mi đã đề cập đến thời đại này dưới dạng luật pháp được viết trên lòng của họ (Gie 31:31-34, so sánh Thi 40:8). Còn tiên tri Ê-xê-chi-ên nói về việc Đức Chúa Trời ban cho những tấm lòng mới (Exe 36:26-27) nhằm mô tả bức tranh dân sự hoàn toàn vâng phục ý muốn của Đức Chúa Trời. Nhằm diễn đạt một phương diện khác của bức tranh, tác giả đề cập đến vấn đề hà hơi trên lời tiên tri: Ở đây, Thần (Thánh linh) là Đấng khiến cho người ta có thể nói tiên tri (so sánh Dan 12:6 IISu 20:14). Lời hứa này có tính đến ước nguyện của ông Môi-se trong Dan 11:29 “Ôi! Chớ chi cả dân sự của Đức Giê-hô-va đều là người tiên tri, và chớ chi Đức Giê-hô-va ban Thần của Ngài cho họ!”. Phần đầu chức vụ của tiên tri Giô-ên chứng kiến toàn thể dân tộc không ăn ý với Đức Giê-hô-va. Chỉ có một người là tiên tri Giô-ên nhìn và hiểu hoàn cảnh qua nhãn quang của Đức Chúa Trời và trong giọng điệu của Đức Chúa Trời ông truyền rao sự hình phạt lẫn niềm hy vọng. Giờ đây toàn thể dân tộc được xem là những “Giô-ên”. Mọi thành phần trong xã hội, già lẫn trẻ, nam lẫn nữ, người tự do lẫn người nô lệ (so sánh Ga 3:28) sẽ cùng với ông Giô-ên hiểu biết Đức Chúa Trời (so sánh ICo 13:9-12).
Cả loài xác thịt tức là toàn bộ dân Y-sơ-ra-ên, theo như định nghĩa về thành viên trong cộng đồng (so sánh Gio 3:1 so sánh Gie 12:12 về cách dùng tương đối của từ “loài xác thịt” so sánh ý tương đối trong cách dùng từ “mọi người” trong tiếng Anh “everybody” và tiếng Pháp “tout le monde”). Như ông Calvin có nói, tiên tri Giô-ên đem đến cho nhân dân đương thời một sứ điệp là “toàn dân sẽ nói tiên tri hoặc ân tứ tiên tri sẽ trở nên phổ thông và chiếm ưu thế ở khắp mọi nơi giữa vòng người Do Thái”. Lẽ ra không cần dùng đại từ sở hữu của ta trong câu 29 (so sánh bản NRSV): Đây là một nỗ lực nhằm làm cho câu này tương đồng với Cong 2:18 thật ra tác giả Công Vụ đã trích dẫn từ một bản Kinh Thánh trong tiếng Hy lạp thay vì trong tiếng Hi Bá Lai.
30-32 Số phận của các dân tộc khác được định đoạt một cách đầy kịch tính, trái ngược với kết cuộc đầy phước hạnh của dân Y-sơ-ra-ên. Như giãi bày trong câu 32 dân sự của Đức Chúa Trời sẽ được an toàn ngay tại trung tâm của cơn bão. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Giê-hô-va do ông Giô-ên truyền ra, họ đã kêu cầu danh của Ngài qua sự cầu nguyện (so sánh Gio 1:19 2:17). Nhờ đó, họ sẽ được cứu hoặc họ sẽ thoát khỏi tai hoạ sắp đến. Như 3:2 trình bày rõ ràng, tai hoạ đó sẽ dành cho các dân tộc khác. Trong ngày của Đức Giê-hô-va dân Y-sơ-ra-ên thoát khỏi sự huỷ diệt trong đường tơ kẻ tóc, nhưng các dân tộc khác trên thế giới vẫn bị huỷ diệt. Tác giả trình bày theo thứ tự đảo ngược những dấu chứng trên trời và dưới đất báo tin ngày đó đang đến. Thứ nhất máu, lửa và khói là những dấu hiệu về cuộc chiến huỷ diệt mà Đức Chúa Trời tiến hành đối với kẻ thù. Chương 3:1-14 sẽ trình bày những chi tiết về sự hình phạt này. Thứ hai, những lời lẽ mà tiên tri Giô-ên dùng để nói ẩn dụ về nạn dịch cào cào trong câu 10 nằm trong kinh nghiệm của dân Y-sơ-ra-ên về ngày của Đức Giê-hô-va là lớn và đáng khiếp (so sánh 2:11) giờ đây được dùng lại nhưng áp dụng cho các dân tộc. Theo sự tin tưởng truyền thống ngày đó có những sự biến động trong vũ trụ báo tin sự hình phạt của Đức Chúa Trời đáng xuất hiện (so sánh Es 13:9-13). Chương Gio 3:15 sẽ mô tả về những tín hiệu đó một lần nữa.
Các tác giả trong Tân Ước đặc biệt chú trọng đến khúc Kinh Thánh này khi họ tìm hiểu về mục đích của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua Đức Chúa Giê-xu Cứu Thế. Trước hết Kinh Thánh Cựu Ước liên hệ khúc Kinh Thánh này với sự trở lại của Chúa Giê-xu (Mac 13:24 Lu 21:25 Kh 6:12,17 9:2). Nhưng sự dạy dỗ của Kinh Thánh về thời kỳ cuối cùng đã bắt đầu với sự giáng sanh của Chúa Giê-xu và sự thành hình của Hội thánh trong khi thời đại cũ vẫn trôi qua (so sánh IICo 5:17). Thứ hai, Tân Ước giải nghĩa Gio 2:28-32 theo hướng này, đặc biệt là bài giảng của ông Phi-e-rơ vào ngày lễ ngũ tuần (Cong 2:16-21,33,38-40). Ông Phi-e-rơ cho rằng Đức Chúa Trời đã khởi thực hiện công tác cuối cùng qua việc khiến cho các môn đồ được đầy dẫy Đức Thánh Linh và qua việc ban cơ hội cứu rỗi cho người ăn năn. Bài giảng ngắn gọn không đưa ra lời giải nghĩa chi tiết nhưng những dấu lạ trên trời và dưới đất đều đã thể hiện qua những phép lạ do Chúa Giê-xu thực hiện và qua bóng tối tăm trong thời gian Chúa Giê-xu bị đóng đinh (Lu 23:44-45). Mối liên hệ của “mọi loài xác thịt” với Y-sơ-ra-ên còn đó: “Người Y-sơ-ra-ên”, kể cả người ngoại bang gia nhập Do Thái giáo (Cong 2:11,22).
Sau này, trong Ro 10:12-13 Sứ đồ Phao-lô lý luận rằng để phù hợp với mục đích Cơ Đốc, chúng ta cần hiểu mọi loài xác thịt trong nghĩa rộng lẫn hẹp thay vì giới hạn từ đó trong phạm vi dân tộc Do Thái (so sánh Cong 10:45). Nhằm mục đích đó ông tham khảo chéo Gio 2:32 với Es 28:16, rồi liên hệ câu này với giáo lý về sự công nghĩa dành cho mọi người có lòng tin. Ông trình bày giáo lý đó trong Ro 4:1-26. Giờ đây tuyển dân của Đức Chúa Trời không còn bị giới hạn trong phạm vi một dân tộc nữa mà là một Hội thánh quốc tế với ranh giới là đức tin chớ không phải sắc dân (so sánh Eph 2:11-22). “Mọi loài xác thịt” vẫn có nghĩa là Y-sơ-ra-ên nhưng với nghĩa rộng hơn. Những ai không tin Chúa Giê-xu giữa vòng người Do Thái lẫn người ngoại bang đều không thuộc về tuyển dân hiện tại của Đức Chúa Trời. Đừng tưởng đây là một thuyết phổ độ mới đem áp đặt vào khúc Kinh Thánh, nhưng đây là nét đặc thù của khúc Kinh Thánh được hiểu theo hướng mới.
3. Sự hoạn nạn dành cho các dân tộc và sự an toàn dành cho Y-sơ-ra-ên (Gio 3:1-17)
Giu-đa từng trải ngày của Đức Giê-hô-va trong mức độ định riêng cho họ và sống sót qua ngày đó. Họ sẽ hưởng phước hạnh lớn lao - Thật là một cuộc đổi đời. Tuy nhiên như Gio 2:31 cho biết đối với các dân tộc khác ngày đó là một tai hoạ. Khúc Kinh Thánh tiếp theo mô tả tính cách của tai hoạ đó. Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai phần này bắt đầu bằng từ “Vì” (so sánh AV, NRSV), còn coi như 2:30-32 là tiêu đề của phần này.
Những điều Kinh Thánh dạy về thời kỳ cuối cùng không nhằm cung cấp thông tin cho người hiếu kỳ nhưng nhằm đem sự bảo đảm đến cho dân sự của Đức Chúa Trời đang chịu khổ. Ở đây cũng vậy như câu 2 bày tỏ rõ ràng khi đề cập đến mối quan tâm trong giao ước của Đức Giê-hô-va. Khúc Kinh Thánh này trình bày với giọng sôi nổi những bất bình và bất công phản ánh lại cảm xúc của dân Giu-đa. Khúc Kinh Thánh trong Tân Ước tương ứng với phần này là IITe 1:5-10 cũng đan xen những lời an ủi củng cố tinh thần, sự hình phạt dành cho những người bắt bớ dân của Đức Chúa Trời và ngày của Đức Giê-hô-va. Sự hình phạt được thi hành để cân bằng cán cân công lý, để bênh vực những nạn nhân của nạn đàn áp và bạo lực, như nội dung và ý nghĩa của câu chuyện ẩn dụ về goá phụ trong Lu 18:1-8. Trong câu 2,3 cũng có ý nói về vị trí vô địch của Đức Chúa Trời (dân ta, cơ nghiệp của ta) như trong Gio 2:17,26-27.
1-3 Trong mấy câu này tiên tri Giô-ên rao ra sứ điệp về sự hình phạt dành cho các dân tộc. Không xác định được trũng Giô-sa-phát (2, 12): Tên của trũng có nghĩa là “Đức Giê-hô-va xét xử” trong câu 14 trũng được mô tả bằng cụm từ trũng đoán định. Tên của trũng và cụm từ này góp phần bày tỏ mục đích của trũng. Trũng chỉ về một dải đồng bằng nằm giữa hai rặng núi là một nơi thích hợp cho đám người đông đảo hội họp. Câu 2-3 (so sánh c.5-6,17) cho thấy rõ rằng các dân tộc là những người tham gia trong cuộc xâm lăng và huỷ phá Giê-ru-sa-lem trong năm 586 T.C., nhất là những đạo quân ở dưới quyền thống trị của Ba-by-lôn và những đạo quân đồng minh. Đức Chúa Trời hứa rằng sẽ có một phiên toà tương tự như toà án ở Nuremberg để xét xử những người gây ra những chuyện đau khổ trong chiến tranh. Cuộc chiến dẫn đến nạn lưu đày, đất đai bị tịch thu và thế hệ người Giu-đa sau đó bị bán làm nô lệ. Đức Chúa Trời, trong tư cách Đức Chúa Trời của giao ước, ghé vai gánh vác nỗi đau đớn của họ và hứa rằng Ngài sẽ dùng quyền năng của mình để giành lại công bình cho họ sự.
4-8 Bài nói của tiên tri chuyển qua sứ điệp chống lại các dân tộc ngoại quốc một cách cụ thể, ngụ ý bảo đảm an ủi cho dân của Đức Chúa Trời. Dân Phê-nê-si (Ty-rơ - Si-đôn) và dân Phi-li-tin có năm thành phố hoặc năm điạ hạt họ bị nêu đích danh trong một bài diễn giải dành cho thính giả người Giu-đa (so sánh Exe 25:15-17 28:20-24). Trong sách Áp-đia, Ê-đôm cũng là một đối tượng bị lên án như vậy. Sứ điệp mở đầu với giọng thách thức đầy tức giận cảnh báo rằng họ sẽ phải trả lời cho Đức Giê-hô-va. Bảo đảm là Ngài sẽ khiến cho thế cờ lật ngược vì cớ tội ác của họ đã phạm với Ngài và với dân Giu-đa (so sánh Mat 25:41-45). Trong câu 5-6 lên án họ cướp phá kho của đền thờ, đem của báu về dâng cho thần của họ rồi họ cũng bị lên án vì đã thực hiện việc buôn bán vô nhân đạo đối với tù binh chiến tranh câu 3 mô tả việc này một cách chung chung. Đức Chúa Trời hứa rằng sẽ đem những nô lệ người Giu-đa về xứ và sẽ khiến cho “gậy ông lại đập lưng ông” trên những người buôn bán nô lệ. Mỉa mai một điều là cư dân ở Giu-đa lại đóng vai trò người môi giới trong khi chính đồng bào của họ bị bán qua miền tây xa xăm cho người Hy lạp (so sánh Exe 27:13). Những kẻ áp bức họ sẽ biến mất trong làn sóng buôn người qua miền viễn Đông do người Sa-bê kiểm soát trong bán đảo Ả-rập. Như vậy hình thức hình phạt mới tương ứng với tội danh. Cụm từ vì Đức Giê-hô-va đã phán vậy, một mẫu câu trong sứ điệp tiên tri, được dùng như một chữ ký kết thúc một văn bản, xác định quyền hạn và tính cách chắc chắn của sứ điệp.
9-13 Sứ điệp trong câu 9-11 mở đầu bằng lời kêu gọi các dân tộc hội họp tại bãi chiến trường là nơi công lý sẽ được thi hành. Lời kêu gọi trong câu 10 có vẻ như cố tình làm trái ngược với lời hứa hoà bình trong Es 2:4 và Mi 4:3 trong hai câu đó rõ ràng sự hoà bình cho các dân tộc đến sau cuộc chiến chung kết, chấm dứt mọi cuộc chiến (so sánh Thi 46:8-10 76:3 So 3:8-10). Tiên tri Giô-ên quay trở lại với thời gian trước kia trong dòng thời gian của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời cần sắp xếp nhiều việc, cần giải quyết nhiều việc nghiêm trọng còn lở dở. Lời cầu cứu cuối cùng trong câu 11 xin Đức Chúa Trời đem quân thiên thượng của Ngài tới (so sánh Xa 14:5) chuẩn bị cho câu 13. Tuy nhiên, phần này làm gián đoạn sứ điệp của Đức Chúa Trời bản NIV biểu thị tình huống này bằng cách in phần đó riêng ra. Bản Kinh Thánh trong tiếng Hi Lạp cổ có câu: “Người nhút nhát hãy trở nên người anh hùng”, chuyển ý cơ bản của cùng một phụ âm Hi Bá Lai, tương tự như phần cuối của câu 10. Câu 12 nhắc lại lời kêu gọi của Đức Giê-hô-va tập họp các dân tộc và xác định bãi chiến trường là toà xử án của Ngài với chủ ý giải nghĩa ý nghĩa tên riêng của nơi đó được đề cập trong câu 2 (so sánh Gie 1:15-16). Trong câu 13 Đức Giê-hô-va truyền một mạng lệnh cho chính quân đội của Ngài. Hình ảnh ví von về mặt nông nghiệp diễn tả cuộc chiến đẫm máu: Kh 14:14-20 và 19:15 phản ánh lại hình ảnh của cuộc chiến này. Cho nên khúc Kinh Thánh này hướng về thời kỳ tương lai khi mà Đức Chúa Trời kết thúc lịch sử của thế giới. Kinh Thánh mô tả họ, những người sắp sửa bị xét xử tương tự như trái chín. Đức Giê-hô-va không thể chờ lâu hơn nữa, đã đến lúc Đức Giê-hô-va phải hình phạt tội ác của họ từ tội ác gói ghém những hành động đã bị lên án trong câu 2,3.
14-17 Tác giả chuyển đề bằng cách tóm lược các chủ đề trong Gio 2:30-32. Trước hết, trong câu 14-16a tiên tri Giô-ên liên hệ cảnh trạng chiến tranh và hình phạt với cảnh trạng ngày của Đức Giê-hô-va được mô tả trong 2:30-31. Cụm từ trũng đoán định hoặc “án lệnh” là một tên riêng nhằm giải nghĩa ý của từ “trũng Giô-sa-phát” được đề cập trong sứ điệp của Đức Chúa Trời ở câu 2. Thứ hai, trong thời gian đó dân của Đức Chúa Trời sẽ được an toàn như 2:32 xác định. Câu 17 là một lời hứa của Đức Chúa Trời củng cố cho câu 16b. Câu 16b tiên tri về một nơi ẩn náu an toàn trình bày nội dung của Thi 46:1 theo lối văn viết về thời kỳ cuối cùng. Giê-ru-sa-lem sẽ sống đúng theo chuẩn mực của mình là nơi hiện diện thánh của Đức Chúa Trời, là núi thánh của Ngài (so sánh Gio 2:1). Người vô tín ngoại quốc không được đặt chân vào đó vì về phần thuộc linh họ chẳng muốn vào, còn về mặt chính trị họ cũng chẳng có quyền hạn gì đối với nơi đó. Lời hứa này được trình bày trong một câu kết mẫu tương ứng với 2:27. Sự hiện diện của Đức Giê-hô-va trong đền thờ Giê-ru-sa-lem (so sánh Xu 29:45 Kh 21:3) toả vầng ánh sáng thánh khiết trên toàn thành phố, củng cố cho mối tương quan trong giao ước. Sự hiện diện của Ngài là Chúa của giao ước sẽ được biểu thị một cách công khai qua tình trạng an toàn của thành thánh. Dân của Ngài sẽ nhận biết Ngài nhờ chứng cớ thấy bằng mắt chứ không phải nhờ đức tin. Căn cứ vào khải tượng của tiên tri Giô-ên, 21:1-8 chuyển qua mô tả thành Giê-ru-sa-lem mới là nơi Đức Chúa Trời ngự, còn những kẻ xa lạ với ý muốn của Ngài thì không có phần gì tại đó.
4. Phước hạnh cho dân của Đức Chúa Trời (Gio 3:18-21)
Trong ngày đó mở đầu cho một sứ điệp bổ sung về những phước hạnh. Sứ điệp nói về những kết quả đối với đất đai và dân chúng khi Đức Chúa Trời hiện diện tại Si-ôn (21b). Trong khi Gio 2:28-29 báo trước về những phước hạnh thuộc linh mà Y-sơ-ra-ên sẽ hương thụ, còn ở đây Chúa cũng hứa kèm thêm cho họ những phước hạnh về phần vật chất nữa. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời sẽ khiến cho đất phì nhiêu nhờ lượng nước phát xuất một cách lạ lùng từ đền thờ (so sánh Exe 47:1-12 Kh 22:1-2). Nước tưới dồi dào đến nỗi cây tùng có thể mọc ở những nơi ngày xưa vốn là khô hạn. Lời hứa về rượu mới ưu ái nhắc lại một trong số những điều Đức Chúa Trời đáp ứng đối với lời cầu nguyện (Gio 2:24). Nền Thần học Cựu Ước xây dựng trên cơ sở đất đai, xem những phước hạnh trong lãnh vực nông nghiệp là dấu chứng về mối thông công trong giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân sự. Lời hứa này bao gồm cả việc hàn gắn những vết thương tinh thần bằng cách phán quyết rằng Ai Cập và Ê-đôm bị khô hạn. Đó là biện pháp hình phạt những tội ác mà họ đã phạm đối với đất đai của Giu-đa (so sánh IIVua 23:29-34 Ap 1:10). Câu 1-8 nêu ra hai dân tộc khúc Kinh Thánh này nêu ra hai dân tộc khác. Hai dân tộc này được xem là kẻ thù đặc biệt lâu đời đối với dân sự của Đức Chúa Trời. Những cách thức mà Ngài đối xử với họ hàm chứa một lời bảo đảm là Ngài bênh vực dân sự. Kẻ thù bị huỷ diệt làm nổi bật phước hạnh của Giu-đa trong câu 18 và 20-21. Giao ước giữa Đức Chúa Trời và Giu-đa được đóng ấn bằng lời cam kết rằng họ được cư ngụ trong xứ vĩnh viễn. Phần đầu câu 21 xem ra khó hiểu, dường như muốn nói về máu vô tội. Có thể chuyển ngữ theo hướng của bản NIV là: “Ta sẽ chứng tỏ vô tội về máu (mà cho đến nay) ta chưa chứng tỏ là vô tội” (so sánh bản REB). Câu này hứa đem đến sự phục hồi cho những người bị tổn thương trong câu Kinh Thánh tương ứng (Kh 6:10 so sánh Thi 9:11-12)