Ô-SÊ
1. TỰA SÁCH (Os 1:1)
Xem bài Dẫn nhập (ông Ô-sê, nhà tiên tri). Câu này giữ vị trí tựa đề cho toàn bộ quyển sách. Không nên hiểu câu này theo nghĩa đen một cách cứng ngắc vì rõ ràng là sách gồm có một số chuyện kể làm bối cảnh cho lời tiên tri (chương 1, 3).
2. CUỘC HÔN NHÂN CỦA Ô-SÊ VÀ SỨ ĐIỆP NHẮN NHỦ (Os 1:2-3:5)
Phần bình giải này đặt cơ sở trên quan điểm theo nếp truyền thống. Ông Ô-sê lấy vợ, người vợ sinh lòng bất trung, dứt tình ra đi nhưng ông đem bà trở về. Xem bình giải Os 3:1-5 về lý cớ chủ trương theo quan điểm truyền thống.
1. Ông Ô-sê lấy vợ theo sự chỉ đạo của Đức Chúa Trời (Os 1:2-3)
Từ được nhấn mạnh nhất trong mấy câu này là từ có nghĩa “mại dâm” (tức là điếm đĩ) hoặc “gian dâm” (tức là quan hệ tình dục bất hợp pháp). Theo nghĩa đen câu 2 là: “Hãy lấy một gái điếm làm vợ và có con ngoại tình, vì xứ này thật sự đã làm điếm đĩ khi lìa bỏ Đức Giê-hô-va” nghĩa đen là “cưới một gái điếm/ một người gian dâm...” nhưng không thể nào Đức Chúa Trời lại bảo cho ông hành động trái luật pháp đến vậy (Le 21:13-15 Phu 22:13-21). Do đó, có lẽ câu này có nghĩa là “cưới một người xuất thân từ một cảnh ngộ mà điếm đĩ là chuyện bình thường” hoặc (có lẽ đúng hơn) là “cưới một người sau này sẽ sinh hư đốn điếm đàng”. Nói cách khác, ông Ô-sê nhìn lại cuộc hôn nhân đổ vỡ của mình, và thấy rằng theo ý muốn của Đức Chúa Trời, Ngài đã khiến ông lấy người như thế làm vợ.
Có lẽ con cái ngoại tình (điếm đĩ / gian dâm...) hoặc có nghĩa là “con cái của một người làm điếm”. Có người cho rằng ông Ô-sê không phải là cha của các bé này, nhưng không phải vậy. Ít ra chúng ta cũng có thể chắc chắn rằng bé đầu là con của ông Ô-sê (c.3 ghi rằng Gô-me sinh cho người một con trai).
Cũng như đối với những khúc Kinh Thánh mà ý nghĩa chưa rõ ràng đối với chúng ta, ở đây chúng ta có thể chắc chắn về những sự kiện căn bản: Ông Ô-sê lấy phải một người sau này sẽ sinh tật điếm đàng. Đây là điểm quan trọng cho lối nói ví von về cuộc hôn nhân giữa Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên (3b), nhưng bà Gô-me đã điếm đàng ra sao, như thế nào thì không quan trọng. Kinh nghiệm của ông Ô-sê cho phép ông hiểu thấu đáo hơn về tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên, và khiến cho dân Y-sơ-ra-ên hiểu sứ điệp của ông đầy đủ hơn bất cứ tự thân mọi lời giảng giải hay ho nào.
2. Ba người con với tên riêng có ý nghĩa tiên tri (Os 1:4-9)
Bà Gô-me, vợ của ông Ô-sê sinh hạ được ba con: trưởng nam, một thứ nữ và một út nam. Tên người con trưởng nam là Gít-rê-ên, cùng tên với đồng bằng trong thung lũng nằm giữa vùng đồi núi Sa-ma-ri và Ga-li-lê và là một trận địa nổi tiếng trong vương quốc Y-sơ-ra-ên. Tên riêng này nhắc lại chuyện “đổ máu tại Gít-rê-ên” (xem phần dẫn nhập), là một từ thường gợi lên ý làm đổ máu và can tội sát nhân. Khá nhiều vụ tàn sát diễn ra tại đây chớ không phải chỉ có một vụ. Dù được phép quét sạch nhà A-háp, ông Giê-hu ra tay quá đà vì những động lực tư kỷ vụ lợi, để rồi rốt cuộc ông không xoá được sự thờ thần Ba-anh. Lưu ý điều phước là lời hứa trong IICác Vua 10:30 không miễn trừ ông Giê-hu khỏi sự thạnh nộ và sự hình phạt của Đức Chúa Trời. Được Đức Chúa Trời dùng làm công cụ của sự hình phạt là điều đáng sợ.
Án phạt mà dân Y-sơ-ra-ên phải chịu là họ sẽ thất trận đúng tại nơi chốn họ đã phạm tội sự hình phạt xứng với tội phạm. Cây cung của Y-sơ-ra-ên có nghĩa là sức mạnh quân sự của đất nước. Gít-rê-ên là một tên riêng đặc biệt hữu dụng vì chỉ về trường hợp cụ thể về tội lỗi của Y-sơ-ra-ên tiêu biểu cho tội lỗi của toàn dân có nghĩa là “Đức Chúa Trời phân tán” hoặc “Đức Chúa Trời gieo” tức là có một nghĩa tích cực hoặc một nghĩa tiêu cực (Os 1:11 2:22-23), và trong nguyên ngữ Hi Bá Lai, phát âm của từ này khá tương tự như cách phát âm của từ Y-sơ-ra-ên, như vậy là cũng thoả mãn nhu cầu thích chơi chữ trong giới viết văn người Hê-bơ-rơ.
Lô-Ru-ha-ma là con gái của bà Gô-me (có thể không phải là con của ông Ô-sê, vì không có câu “sinh cho người một con gái”, nhưng chúng ta cũng không dám xác quyết cho lắm). Ru-ha-ma có liên hệ với từ “tử cung” và chỉ về lòng thương yêu nồng nàn của người mẹ dành cho con mình. Kinh Thánh Cựu Ước thường mô tả về Đức Chúa Trời qua hình ảnh yêu thương nồng nàn như vậy (thí dụ 14:3 Ch 28:13), nhưng ở đây Ngài tuyên bố là Ngài không xử sự với dân Y-sơ-ra-ên theo kiểu đó nữa.
Tên riêng của người con thứ ba, Lô-Am-mi (“không phải là dân của ta”) là một từ lên án nặng nề nhất. Y-sơ-ra-ên không còn là dân được tuyển chọn của Đức Chúa Trời. Những biến cố trong lịch sử cứu chuộc - Cuộc xuất Ai Cập (Os 12:9,13), cuộc vượt qua Biển Đỏ, chuỗi ngày lưu lạc trong sa mạc, cuộc chinh phục Ca-na-an - tất cả những điều đó đều bị chối bỏ (cũng so sánh với những chỗ viết về vụ “trở về Ai Cập”, thí dụ 8:13 9:3,6 11:5). Dầu vậy, dĩ nhiên cơ hội vẫn dành cho những cá nhân nào muốn trung thành với Đức Chúa Trời và muốn được Ngài tiếp nhận (như nhiều người ngoại quốc đã làm trong suốt dòng lịch sử của Y-sơ-ra-ên, kể cả Ru-tơ và Ra-háp). Con đường trở về với Đức Chúa Trời vẫn rộng mở, như chúng ta sẽ thấy trong phần sách sau (11:8-9 14:1-7).
3. Lời hứa đi tiếp sau sự hình phạt: Thoáng nhìn một tương lai tươi sáng hơn (Os 1:10-2:1)
(Os 1:10-11) Mới bước vào phần đầu của sách tiên tri mà nói về niềm hy vọng ngay sau lời lên án thì xem ra quá sớm, vì ông Ô-sê còn rao ra nhiều lời lên án nữa (2:1-13 và hầu hết các chương 4-14!). Dầu vậy, cấu trúc của sách nhằm trình bày sơ lược về toàn bộ chương trình của Đức Chúa Trời trong chương 1-3 qua hình ảnh ví von chồng-vợ trước khi bước vào phần tiên tri chi tiết hơn. Hơn nữa, ba chương đầu được sắp xếp để trình bày nội dung theo trật tự từng đôi đối xứng Chuyện kể (1:2-9) - Niềm hy vọng (1:10-12:1) - Lên án (2:2-13) - Niềm hy vọng (2:14-23) - Chuyện kể (3:1-5).
Cấu trúc này cho phép đạt ba yêu cầu: Thứ nhất, chứng tỏ chương trình của Đức Chúa Trời có tính đồng nhất Ngài không phải như người cầu may, không chờ xem mọi việc sẽ diễn biến ra sao. Thứ hai, cho phép nhận thấy tiến trình hành động có lớp lang trật tự từ đầu đến cuối, khởi từ tình trạng hoà hợp đến bất hoà và tái hoà hợp (trung tâm điểm xoáy là 2:7b) giữa “Đức Giê-hô-va” và dân Y-sơ-ra-ên. Thứ ba, cho thấy những biến chuyển và sự cố trong cuộc hôn nhân của ông Ô-sê được lồng rất khớp vào sứ điệp của ông về mối tương quan giữa Đức Chúa Trời và dân của Ngài.
Người Y-sơ-ra-ên sẽ đông như cát trên bờ biển... (10). Câu này nhắc nhớ lại lời hứa dành cho Áp-ra-ham (Sa 22:17 32:12) và như vậy đây là một cách gián tiếp xác định rằng giao ước sẽ được phục hồi. Chính tại nơi hoặc chỉ một nơi chỗ đã chứng kiến việc đặt tên diễn ra cách công khai hoặc đơn giản chỉ có nghĩa là “thay vì”.
Còn lời hứa có nội dung là Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sẽ thống nhất được nhắc đến ở nhiều chỗ trong Kinh Thánh Cựu Ước (Es 11:12-13 Gie 23:5-8 Exe 37:15-28). Khó lòng mường tượng được sự ứng nghiệm của lời hứa này trong lịch sử vì cớ Y-sơ-ra-ên không còn là một quốc gia nữa từ khi thủ đô Sa-ma-ri rơi vào tay quân A-si-ri năm 722 T.C.. Dân chúng bị bắt đi lưu đày, và bị buộc tái định cư trà trộn với các sắc dân trong lãnh thổ rộng lớn của đế quốc A-si-ri. Tuy nhiên, có thể thấy sự ứng nghiệm trong một số dạng thức:
a. Dân Y-sơ-ra-ên xuất thân từ vương quốc miền bắc vẫn gìn giữ truyền thống nề nếp, và vẫn thờ “Đức Giê-hô-va”. Nhiều người đến định cư tại Giu-đa, nên các sách tiên tri hình thành sau này có những chỗ nói về Giu-đa lẫn Y-sơ-ra-ên (IISu 34:21 35:18 Gie 50:33 Xa 8:13 11:14).
b. Khi Chúa Giê-xu đến thế gian làm Đấng Mê-si, Ngài là vua của Y-sơ-ra-ên, vị lãnh tụ duy nhất trong 1:11b, và mọi người làm người dân thật sự của Đức Chúa Trời đều được hợp nhất dưới sự lãnh đạo của Ngài (thí dụ Mac 15:2,26 và những câu tương đương, Gi 1:49 Cong 17:7).
c. Hội thánh liên kết tín đồ thuộc mọi dân tộc kể cả người Y-sơ-ra-ên lẫn người Giu-đa (xem Ro 9:25-26 IPhi 2:10, mấy câu này ứng dụng ý của tiên tri Ô-sê ).
Ngày của Gít-rê-ên (11) vừa có nghĩa là “ngày đảo ngược sự hình phạt đã định cho tội đã phạm tại Gít-rê-ên” vừa có nghĩa là “ngày Đức Chúa Trời gieo ra” (tức là Ngài không phân tán dân sự của mình vào các nước nữa, nhưng Ngài gieo giống cho tương lai). Os 2:1 đảo ngược ý của hai tên riêng trước rồi nhờ đó cân đối lại lời tiên tri. Người được thương xót trong nguyên ngữ Hi Bá Lai chỉ là một từ. Chị em, anh em ở dạng số nhiều biểu thị rõ ràng rằng ở đây nói về toàn thể dân Y-sơ-ra-ên, chớ không phải chỉ nói về con trai và con gái của ông Ô-sê.
Os 2:1; xem giải nghĩa Os 1:10-2:1
4. Tiên tri về án phạt: Sự trau luyện dành cho Y-sơ-ra-ên, người vợ bất trung (Os 2:2-13)
Câu 2-3 nói với đám con cái của ông Ô-sê. Động từ ở thể truyền lệnh khiến câu văn mở đầu cách đột ngột cộc lốc nhằm tạo chấn động nơi thính giả hoặc độc giả. Đây là lần đầu tiên chúng ta nghe nói đến sự tan vỡ giữa ông Ô-sê và bà Gô-me. Dõi theo tiến trình bài nói thì chúng ta thấy rõ ràng tác giả không có ý nói nhiều về bà Gô-me mà có ý nói về việc dân Y-sơ-ra-ên bị loại bỏ không còn được làm vợ của Đức Chúa Trời. Hình ảnh ví von nổi bật này quả là lạ lùng vì nên nhớ là trong tôn giáo của các dân láng giềng với Y-sơ-ra-ên, Ba-anh có thần nữ A-nát là vợ. Còn nói như Ô-sê thì có nghĩa là Đức Chúa Trời cũng có vợ, đó là dân Y-sơ-ra-ên. Cuộc hôn nhân này dĩ nhiên chỉ có tính cách ẩn dụ thôi.
Từ được dịch là kiện (2) là một từ dùng trong các cuộc tranh chấp kiện tụng ra toà. Phần lớn ẩn dụ của ông Ô-sê phản ánh những vụ kiện tụng trước toà án họp tại cổng thành.
Nó hãy cất bỏ sự dâm loạn... và sự ngoại tình... có thể chỉ về những món đồ trang sức của phường điếm đĩ (so sánh c.13). Nếu vậy, ý câu này là “nó hãy loại bỏ những dấu hiệu của lòng bất trung của mình, kẻo ta lột hết khỏi nó mọi thứ” (2b-3a).
Câu 3b ngụ ý là dân Y-sơ-ra-ên sẽ đi trở vào sa mạc, là thời gian trước khi Đức Chúa Trời làm thành tựu lời Ngài hứa là khiến họ trở nên dân của Ngài trong chính xứ của họ. Con cái nó là từng cá nhân người Y-sơ-ra-ên (cũng xem bình giải 1:2).
Dân Y-sơ-ra-ên đã làm một người ngoại tình (5 từ bất trung dùng trong bản NIV còn yếu về ý nghĩa). Ở đây ngụ ý là Y-sơ-ra-ên có nhiều người yêu. Câu này nói về bà Gô-me làm điếm với những người khác, và như vậy cũng ngụ ý nói về nỗ lực của dân Y-sơ-ra-ên trong việc tìm kiếm cầu cạnh ơn huệ nơi những thần khác. Trong cả hai trường hợp Y-sơ-ra-ên đều sai khi nghĩ rằng những điều tốt lành mà mình được hưởng đều đến từ các thần đó. Đức Chúa Trời không đáp lại bằng một biện pháp tiêu diệt Y-sơ-ra-ên tức khắc, nhưng Ngài áp dụng một chương trình giáo dục (6-7a). Một loạt những hình ảnh cho thấy họ phải đối phó với đủ loại trở ngại (chông gai chặn đường, vây hãm ngươi) trong khi đeo đuổi đám người yêu nhưng vẫn không chinh phục được người nào cả, tìm kiếm họ mà vẫn không gặp. Nhưng chuyện này đem Y-sơ-ra-ên đến khúc quanh của phương án (7b): họ nhận ra rằng ở với người chồng đầu tiên là “Đức Giê-hô-va” sướng hơn, thế là họ trở về với Ngài. Dĩ nhiên, những cơn tai ương hoạn nạn trên người lành cũng như đến trên người ác (so sánh Thi 44:17-22 Gi 16:32-33), nhưng khi một dân tộc hoặc một cá nhân phải trải qua cảnh ngộ khó khăn và thất bại thì nên tự tra vấn xem biết đâu Đức Chúa Trời muốn dùng những vụ đó để dạy bảo mình (so sánh Am 4:6-11).
Mấy câu tiếp theo tóm tắt phần đã được trình bày từ đầu. “Nàng không biết rằng” chính Đức Chúa Trời đã cung cấp thức ăn đồ uống và luôn cả loại quí kim mà người ta dùng để đúc tượng Ba-anh (8). Vì vậy Đức Chúa Trời sẽ lấy đi những quà tặng đó (so sánh c.5) và khiến cho họ bị trần trụi (so sánh c.3) và chẳng ai có thể giải cứu họ khỏi tay Ngài (10). Nói cách khác, những thần khác vừa không thể cung cấp cho Y-sơ-ra-ên một thứ gì cả, vừa không thể bảo vệ họ cho khỏi bị ĐứC CHÚA TRờI hình phạt.
Câu 11-13 tập trung vào những lễ hội mà Đức Chúa Trời sẽ đình chỉ. Việc này có thể xảy ra vì cớ chiến tranh hoặc vì cớ thiếu hụt không có thực phẩm và thức uống để dâng của lễ và để tổ chức lễ hội. Ở đây có ý nói đến cả hai điều đó (12). Câu 13 kết thúc phần lên án này với một lời nhắc lại tội ngoại tình trong phần thể xác và trong phần thuộc linh (so sánh c.2b,7-8).
5. Lời hứa tiếp theo sau án phạt: cưới lại người vợ bất trung (Os 2:14-23)
Trong những câu trước Đức Chúa Trời sửa phạt dân sự bất trung để khiến họ tỉnh ngộ rồi trở về với Ngài. Ở đây Ngài là người yêu thuyết phục người mình yêu trở về với những lời lẽ âu yếm và quà tặng (14-15,22) và bảo vệ người yêu khỏi những sự tấn công của con người hoặc của thú dữ (18). Mọi chuyện bắt đầu trở lại từ đầu: Y-sơ-ra-ên và chồng lại ở trong sa mạc, không có gì làm cho Y-sơ-ra-ên bị phân tâm: Y-sơ-ra-ên được phối hợp với chồng vĩnh viễn... trong sự công bình và chính trực, trong trong tình yêu và lòng thương xót. Rồi Y-sơ-ra-ên sẽ công nhận (biết) CHÚA HẰNG HỮU. Từ này gói ghém ý thân thiết riêng tư, và có thể gồm cả ý “nhận biết, công nhận” (so sánh Os 6:3,6 4:6 13:4-5).
Ta sẽ đáp ứng (21) cần đặt việc này bên cạnh sự đáp ứng của dân Y-sơ-ra-ên trong câu 15b. Câu này cũng dùng một từ y như ở đây: “sẽ đáp ứng lời Ta ...” (chớ không phải hát xem lề bản NIV). Thật vậy, có thể đặt câu 16-20 trong ngoặc đơn vì nội dung mấy câu đó bàn luận thêm về sự đáp ứng của Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời. Khó lòng chuyển ngữ câu này theo nghĩa đen nhưng có nghĩa là Đức Chúa Trời ân cần đáp ứng bằng cách truyền cho các từng trời khiến mưa rơi vì lâu nay kể như bầu trời bị đóng chặt không có giọt mưa nào thoát xuống đất cả. Mưa khởi động toàn bộ dây chuyền: bầu trời tuôn mưa xuống đất, đất sản xuất lúa gạo, rượu, dầu. Thực phẩm có dư để thoả mãn nhu cầu của Gít-rê-ên (là Y-sơ-ra-ên dưới cái tên “Đức Chúa Trời gieo”). Mẹo chơi chữ tiếp tục trong câu 23. “Ta sẽ gieo trồng (bản NIV, trồng)”. Câu 23 nhắc lại tên của các con của ông Ô-sê với một ý nghĩa tích cực. Tên riêng vốn có ý lên án nặng nề nhất, “không phải là dân của Ta” nay thành ra ngươi là dân của Ta và lời hứa của giao ước được hoàn thành qua lời đáp ứng xưng nhận của Y-sơ-ra-ên Ngài là Đức Chúa Trời của tôi.
6. Ông Ô-sê đem “phụ nữ đó” về làm vợ mình trở lại (Os 3:1-5)
Trong chương 3 ông Ô-sê tự thuật việc ông chuộc lại người vợ bất trung. Một số học giả cho rằng chương này kể lại 1:2-3 là chuyện đã được kể với đại danh từ ngôi thứ ba. Nhưng từ trở lại trong câu 1 không ủng hộ cho chủ trương đó. Hơn nữa, các chi tiết trong hai chuyện không giống nhau. Vì vậy, chúng ta phải công nhận đây là sự việc xảy ra vào một dịp khác sau sự việc trong chương 1, bà Gô-me lại bỏ ông Ô-sê sau đó, và rơi vào cảnh ngộ nô lệ, cho nên lần này ông Ô-sê đi chuộc bà về (2). Đây là hình ảnh của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên (4-5).
Câu 1 không mạch lạc cho lắm. Theo nghĩa đen thì có thể hiểu là ‘Đức Giê-hô-va bảo ta rằng: “Hãy đi, lại yêu”’, hoặc ‘Đức Giê-hô-va lại bảo ta rằng “Hãy đi yêu...”’. Thật sự thì chung quy ý nghĩa cũng na ná như nhau. Nhưng vì sao lại nói “người đàn bà” thay vì nói vợ ngươi như trong bản NIV? Chương 2:2 cho chúng ta câu trả lời. Bà Gô-me không còn quyền hạn nào để được gọi là vợ của ông Ô-sê nữa, và dân Y-sơ-ra-ên cũng không còn đòi hỏi gì được nơi Đức Chúa Trời. Họ “không phải là dân của Ngài”, tức là nếu nói ví von thì họ không còn là vợ của Ngài nữa. Được một người khác yêu (nghĩa đen “một người bạn”) có thể hiểu cách đơn giản là một người đàn ông khác, hoặc nhân tình nhân ngãi, tức là yêu đương bất hợp pháp một người đã có vợ. Tà dâm có nghĩa là làm vợ một người nhưng quan hệ tình dục với người khác. Có thể bà Gô-me đã lấy chồng khác. Nhưng dường như ông Ô-sê vẫn còn là chồng hợp pháp thì có lý hơn (còn có quyền ly dị và từ bỏ bà).
Chương 1:2 nói là “Hãy đi, lấy một người...” nhưng ở đây nói rằng Hãy đi, yêu... chi tiết này nhấn mạnh tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên, dù họ đã tìm đến những thần khác và đi yêu - họ yêu gì? - Bánh nho khô! Có lẽ trong nghi thức tôn giáo của người Ca-na-an, người ta dùng loại bánh này. Chi tiết này chứng tỏ người Y-sơ-ra-ên thật là xác thịt và không xứng đáng với Chúa chút nào.
Ông Ô-sê bỏ tiền ra chuộc lại người đàn bà đã từng là vợ ông một thời gian (nhưng có lẽ ông chưa công khai ly dị bà), có lẽ bà đã gia nhập đám phụ nữ làm điếm trong miếu ngoại giáo. Giờ đây muốn bà hoàn lương thì ông phải chuộc bà ra khỏi nơi đó. Giá chuộc nghe lạ tai vì bình thường người ta không tính giá theo bạc lẫn lúa. Nhưng chi tiết này cho thấy có lẽ ông Ô-sê không làm sao gom góp đủ tiền. Đây là hình ảnh ví von về giá cứu chuộc dân Y-sơ-ra-ên. Không rõ một ô me rưỡi lúa mạch trị giá chính xác là bao nhiêu nhưng có thể là giá 15 lạng bạc. Như vậy, tổng cộng tiền chuộc là 30 lạng bạc tức là giá chuộc một người nô lệ (Xu 21:32), hoặc chuộc một người nữ “đặc biệt đã hiến mình cho Đức Chúa Trời” (Le 27:4).
Bà Gô-me phải chịu kỷ luật trong một thời gian hạn định (nhiều ngày, 3 sau đó, 5), tương ứng với thời gian dân Y-sơ-ra-ên bị thiếu thốn (4). Xem ra ý của câu 3 thật ra mù mờ, nhưng nếu chúng ta xem xét ý của toàn bộ vụ việc thì chúng ta có thể hiểu rằng bà Gô-me phải “sống cho ông Ô-sê” tức là chỉ thuộc về ông mà thôi bà không được phép sống như một gái điếm. Bà không được quan hệ tình dục với bất cứ một người nam nào kể cả ông Ô-sê. Ông Ô-sê cũng sẽ xử sự với bà y như vậy. Thời gian tạm thời ngưng quan hệ tình dục này tương ứng với thời gian dân Y-sơ-ra-ên sẽ không được hưởng nhiều điều tốt cũng như xấu. Họ sẽ không có nhà lãnh đạo đàng hoàng, vua hoặc quan xét, và họ cũng không thể dâng của lễ. Đó là những biện pháp hình phạt, nhưng ngắn hạn tạm thời thôi với mục đích thanh tẩy người Y-sơ-ra-ên. Đá thiêng hoặc trụ thờ có liên quan đến tín ngưỡng người Ca-na-an (dù là có lần ông Gia-cốp cũng dựng một trụ đá để kỷ niệm sự hiện thấy của ông trong chiêm bao Sa 28:18). Đó là những chứng tích rõ ràng về sự thờ hình tượng nên phải loại bỏ kể cả các tượng Thê-ra-phim (nghĩa đen thần của gia đình). Hình như trong nhà của ông Đa-vít cũng có một số tượng Thê-ra-phim (ISa 19:13,16) nhưng thường thường người ta xem những tượng đó thuộc về ngoại giáo tà đạo (thí dụ IIVua 23:24). Thế là còn Ê-phót. Đây là một vật dụng bằng vải. Các thầy tế lễ đeo Ê-phót trước ngực được chấp nhận (Xu 28:6-14). Nhưng Ê-phót cũng chỉ về một vật dụng bằng kim loại thứ này không được chấp nhận (Cac 8:27 17:5).
Câu 4 có ý nói một cách tổng quát rằng mọi điều, tốt lẫn xấu, đều sẽ bị quét sạch trong dân Y-sơ-ra-ên khi họ trải qua thời gian thanh tẩy. Như câu 5 cho thấy kết quả: Y-sơ-ra-ên sẽ trở lại để tìm kiếm Đức Chúa Trời... cùng Đa-vít vua của họ và tìm được phước hạnh. Chi tiết lạ tai nơi đây là Đa-vít, vì lẽ ông Ô-sê thi hành chức vụ tiên tri cho vương quốc phía bắc là vương quốc đã phân ly khỏi miền nam hai trăm năm về trước do không thuận phục hậu duệ của Đa-vít, sau khi vua Sa-lô-môn qua đời (ICác Vua 12). Đây là tín hiệu báo trước về sự thống nhất của hai vương quốc trong tương lai xa. Sự kiện này chỉ có thể thành tựu trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, là vua, là con cháu Đa-vít (xem bình giải Os 1:10-2:1).
3. NHỮNG LỜI TIÊN TRI VỀ SỰ ĐOÁN PHẠT VÀ LỜI HỨA VỀ SỰ PHỤC HỒI (Os 4:1-14:9)
1. Đức Chúa Trời tranh chấp với Y-sơ-ra-ên (Os 4:1-3)
Lời lẽ trong mấy câu này ngụ ý là Đức Chúa Trời tranh cãi với dân Y-sơ-ra-ên. Có lẽ chúng ta phải liên tưởng đến một vụ kiện, tương tự như một vụ thưa kiện tại cổng thành. Chúng ta có thể tưởng tượng cảnh ông Ô-sê tiến ra trước mặt các vị trưởng lão đang ngồi xét xử, rồi ông tuyên bố rằng chính mình Đức Chúa Trời có một vụ tranh tụng. Ngài tố cáo dân cư trong xứ về hai điều.
Một mặt họ không có những tánh tốt mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi dân của Ngài. Lẽ thật (gồm cả việc nói sự thật và hành động với lòng trung tín), lòng thương xót (đức tính biểu thị mọi phướng cách Đức Chúa Trời xử sự với dân của Ngài trong giao ước, và là đức tính mà Ngài đòi hỏi họ cũng phải có (đặc biệt xem Os 6:6 Phu 7:9,12), và sự nhận biết Đức Chúa Trời (Os 13:4-5). Trái lại, họ biểu thị những đặc tính mà Đức Chúa Trời ghét. Rủa sả (trong ý nghĩa là tìm cách hại người khác bằng cách tuôn ra những câu rủa sả so sánh Cac 17:2) hoặc thề dối (so sánh 10:4 “nói ngoa”) nói dối, sát nhân, trộm cắp, và tà dâm. Họ đã trắng trợn coi thường những điều răn liên quan đến cách cư xử giữa người với người (Xu 20:13-16).
Câu 3 nói về sự hình phạt của Đức Chúa Trời, nhưng một phần cũng là hình ảnh sống động về một xứ ở dưới sự rủa sả của Đức Chúa Trời được mô tả theo thể thơ. Khi Y-sơ-ra-ên được phục hồi, xứ và mọi loài vật sống trong xứ cũng được phước (Os 2:18,21).
2. Luật pháp bị loại bỏ: Các thầy tế lễ đặc biệt can tội (Os 4:4-9)
Câu 4 rất khó hiểu. Ý chung của khúc văn này là lên án các thầy tế lễ, là những người lẽ ra phải dạy luật pháp và nghiêm chỉnh tuân thủ luật pháp. Wolff chuyển ngữ câu này như sau: “Tố cáo tôi chẳng tố riêng ai, Trách cứ tôi chẳng trách bất cứ ai, Kiện cáo tôi kiện thầy tế lễ làm sai.” Dù chúng ta không dám quả quyết nhưng chuyển ngữ như thế là phù hợp với ý chung.
Các thầy tế lễ bỏ qua luật pháp mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho họ, và hậu quả là họ không vững vàng đi trong đường lối của Ngài, và họ vấp váp (5) y như các vị tiên tri, một thành phần lãnh đạo thuộc linh khác. Họ đã loại bỏ sự vinh quang của mình (7), luật pháp (6) là bộ luật chỉ dẫn họ biết cách làm vừa lòng Đức Chúa Trời thay vì làm theo những nghi thức vô đạo đức và đáng gớm ghiếc của ngoại giáo. Giờ đây họ kiếm sống bằng cách làm cho nhân dân toại nguyện trong việc thờ cúng các thần khác (8). Vì các thầy tế lễ không dạy luật pháp, và họ bị huỷ diệt vì thiếu hiểu biết (6a cùng một từ được chuyển ngữ là công nhận trong Os 4:1). Hậu quả là đất nước (mẹ các ngươi, 5), thầy tế lễ và nhân dân đều bị hình phạt (9).
3. Tinh thần tà dâm trong sự thờ phượng (Os 4:10-19)
Tiếp nối phần trên, câu 10 trình bày chi tiết hơn về sự hình phạt. Nhân dân sẽ chẳng bao giờ có đủ ăn còn dân số cũng chẳng tăng vì cớ sinh hoạt tà dâm. Con cái luôn luôn được xem là phước và một trong những lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho ông Áp-ra-ham là khiến cho hậu duệ của ông trở nên đông đảo vô cùng (Sa 15:5). Quan hệ tình dục với nhiều gái điếm sẽ không tạo ra một dòng dõi hậu duệ như ý Đức Chúa Trời đã dự trù cho một cặp vợ chồng già (Ro 4:18-21)! Đức Chúa Trời tiếp tục mô tả sự ngu dại của họ: họ rượu chè quá độ nên mất hết lý trí, lương tri (10) họ tìm cầu sự dẫn dắt từ những vật dụng bằng gỗ (12). Tánh sôi nổi thái quá lôi cuốn họ vào tôn giáo ngoại bang và tham gia dâng tế lễ và dâng của lễ thiêu trên những nơi cao, là những nơi được thành lập và tồn tại ngoài vòng pháp luật và những đền miếu đó phát sinh ra vô số hủ tục sa đoạ. Họ sẵn sàng dâng của lễ tại mọi nơi, nơi mọi gốc cây miễn là có tàng cây phủ bóng râm dày (13a).
Hậu quả là con gái của họ cũng theo tín ngưỡng đó. Ở đây tập trung tố cáo những lối sống điếm đàng dâm đãng và tà dâm. Khi so sánh với phái nam, phái nữ được xem là thơ dại (14), lẽ ra bậc làm cha phải nêu gương tốt cho con gái, trái lại họ lại lăng nhăng với gái điếm, ngoài đời lẫn trong đền miếu. Trong tín ngưỡng, người ta tin rằng hành vi dâm đãng trong phạm vi tôn giáo là phương tiện để bảo đảm sự phì nhiêu cho đất đai. Có lẽ hành vi này đặt cơ sở trên niềm tin tưởng là các thần cũng bắt chước làm theo con người, tức là khi con người quan hệ tình dục với “gái điếm đền miếu” thì họ kích thích các thần trong thiên nhiên cũng quan hệ tình dục với nhau khiến cho đất đai sinh sản hoa màu.
Thời nay, không có “gái điếm đền miếu” nào tại những vùng tôi biết qua, nhưng cung cách hành đạo của nhiều người chỉ nhằm thoả mãn ý muốn riêng của họ thay vì tôn vinh Đức Chúa Trời. Thỉnh thoảng chúng ta cũng nên tự hỏi xem thực sự chúng ta ưa thích điều gì trong niềm tin Cơ Đốc. Phải chăng điều chúng ta ưa thích bao gồm tình cảm, quyền lực, hài lòng vì có lẽ phải, sự thoả lòng, sự an ninh, sự tôn trọng vì làm bạn với những người có bộ gió bảnh bao hấp dẫn? Thi 139:23-24 là một lời cầu nguyện rất hữu dụng!
Câu 15 nói riêng với người Giu-đa, cảnh cáo họ chớ theo gương của người Y-sơ-ra-ên. Quả là những lời cảnh báo đích đáng cho người Giu-đa khi họ đọc lời này trong quãng thời gian sau thời ông Ô-sê thi hành chức vụ.
Ghinh-ganh là một trong những đền chính tại Y-sơ-ra-ên. Bết-A-Ven (“nhà của sự gian ác”) có lẽ phát sinh từ một nét bút cố tình làm biến dạng tên riêng của miếu thờ chính toạ lạc tại Bê-tên có nghĩa là “nhà của Đức Chúa Trời”. Vị tiên tri khuyên họ chớ bước chân đến những nơi thờ phượng đồi trụy đó, và chớ hấp tấp nhân danh Đức Chúa Trời mà thề cách bừa bãi (15b). Tiếp theo là một loạt hình ảnh nhanh chóng thay thế nhau, mô tả dân Y-sơ-ra-ên là dân bướng bỉnh lì lợm, không chịu hưởng ứng khi Chúa muốn phục hồi họ (16) họ là những người thờ hình tượng, tức là những người điếm đĩ, cứ bám giữ lấy những hủ tục đáng hổ thẹn của mình ngay cả khi rõ ràng là chẳng có lợi gì cho họ cả (18). Kết quả chung cuộc, là một trận gió lốc sẽ cuốn hút đi. Các của lễ mà họ dâng lên sẽ không đem lại phước hạnh mong mỏi, nhưng họ chỉ rước nhục vào thân thôi.
4. Các thầy tế lễ, người Y-sơ-ra-ên và hoàng tộc bị lên án (Os 5:1-7)
Phần mở đầu của phân đoạn này gợi ý là có thể ông Ô-sê giảng bài này ở thủ đô của Y-sơ-ra-ên, cho cả nhân dân lẫn giới lãnh đạo nghe. Ông vẫn tập trung tấn công thành phần các thầy tế lễ (như trong chương 4), nhưng giờ đây ông tấn công luôn nhà vua và hoàng tộc cùng dân chúng nói chung. Trong thời Cựu Ước có đến mấy địa danh Mích-ba lận. Mích-ba ở đây có lẽ là một địa phương nằm trong tuyến đường tuần tra của ông Sa-mu-ên, là nơi ông thường dừng chân để giải quyết những vụ kiện tụng (ISa 7:16), và ít nhất thì trong thời của ông Ô-sê nơi đây cũng có đền miếu. Tha-bô là một ngọn núi trong miền bắc Y-sơ-ra-ên. Bà Đê-bô-ra, ông Ba-rác và quân sĩ đại thắng quân của Gia-bin và Si-sê-ra tại đây (Cac 4:6,12-16). Không rõ nhân dân phạm những tội gì tại những nơi này, nhưng chắc chắn là những tội đó như bẫy sập bắt giữ dân chúng lại đến nỗi họ không thể trở về với Đức Chúa Trời của họ (4).
Câu 2 mô tả dân Y-sơ-ra-ên là kẻ chống nghịch. Họ đã nhúng tay quá sâu vào những vụ tàn sát (2). Es 57:5 Exe 16:21 dùng từ tàn sát khi nói về những vụ dâng trẻ con làm của lễ. Nhưng từ này cũng chỉ về những vụ tàn sát vì lòng tham hoặc để thoả chí mình. Dầu vậy, Đức Chúa Trời biết tất cả tình trạng hư hoại của họ và Ngài sẽ hành động. Đây cũng là chuyện xảy ra trong thực tế ngày nay (so sánh Kh 2:1-3:22, đặc biệt 2:2,9,13,19 3:1,8,15).
Ông Ô-sê lại kết hợp mấy hình ảnh ví von nữa để mô tả tình trạng của nhân dân Y-sơ-ra-ên: tinh thần dâm đãng (4 so sánh Os 4:12) ngự trị trong nội tâm của họ họ không biết Đức Giê-hô-va sự kiêu ngạo hoặc sự ngạo mạn của Y-sơ-ra-ên tựa như một kẻ làm chứng tố cáo họ trước toà án họ sẽ vấp ngã trong cuộc sống hằng ngày. Đến đây ông Ô-sê cũng có một lời ghi chú riêng về Giu-đa (xem phần Dẫn nhập).
Hậu quả là khi họ quyết định đem của lễ dâng cho Đức Giê-hô-va (6) thì Ngài sẽ không hiện diện để gặp họ (cũng so sánh c.15). Họ đã tỏ ra bất trung đối với Đức Giê-hô-va, nên con cái của họ là những thành viên trẻ tuổi của dân Y-sơ-ra-ên, ra đời vào thời dân tộc đã lìa xa Đức Chúa Trời, cũng chẳng thuộc về Ngài. Qua các ngày lễ hội trăng mới băng hoại chắc chắn là họ tìm cầu phước cho bản thân và cho đất đai ruộng vườn, nhưng trái lại những ngày lễ hội đó chỉ đem lại sự huỷ diệt cho cả hai.
5. Ép-ra-im/ Y-sơ-ra-ên sẽ bị kẻ thù phá tan hoang (Os 5:8-12)
Từ đây đến cuối chương 7, tiên tri Ô-sê nhiều lần đề cập đến chính sách đối ngoại của Y-sơ-ra-ên. Thay vì làm tốt và tin cậy Đức Chúa Trời, họ thử áp dụng đủ loại mánh lới chính trị, liên minh với cường quốc, Ai Cập hoặc A-si-ri (13, Os 7:8-16) hoặc về phe với Sy-ri và các quốc gia nhỏ bé khác để giành đôi chút tự do trong phạm vi một liên minh.
Tiếng kêu thúc giục thổi kèn (8) hàm ý bắt đầu một phân đoạn mới. Báo động vang lên vì kẻ thù sắp đến, kẻ thù đó sẽ phá tan hoang xứ sở. Các địa danh được nhắc đến là những trung tâm tôn giáo hàng đầu. Còn sự hình phạt sắp diễn ra chủ yếu là chống lại tôn giáo giả mạo, tà đạo đang thịnh hành tại những nơi đó. Tất cả đều có ý nghĩa, thường là những nơi đáng tôn trọng hoặc ít nhất giữ vai trò đáng ghi nhớ trong lịch sử. Ghi-bê-a (Ghi-bê-ôn) là nơi xưa kia vua Sa-lô-môn dâng của lễ và được Đức Chúa Trời ban cho một điềm chiêm bao (IVua 3:4-5), Ra-ma là một địa phương nằm trên tuyến tuần tra xử kiện của ông Sa-mu-ên (ISa 7:17). Bết-A-ven, Bê-tên (xem bình giải Os 4:15) là nơi Đức Chúa Trời hiện ra trong một điềm chiêm bao của ông Gia-cốp. Nhưng giờ đây tất cả những nơi này đều bị tấn công theo lệnh của Đức Chúa Trời. Một lần nữa bằng những hình ảnh ví von, ông Ô-sê mô tả cách sống động sự hình phạt. Luật pháp cấm dời chỗ những tảng đá phân định ranh giới và hành động này chứng tỏ nhân dân coi thường luật lệ của Đức Chúa Trời. Vì vậy, Ngài làm cho họ bị ngập lụt trong cơn thạnh nộ của mình, Ngài sẽ khiến cho họ bị chà đạp, sẽ bị tiêu diệt như khi mối mọt đục khoét.
6. A-si-ri không thể cứu giúp Y-sơ-ra-ên (Os 5:13-15)
Bài tiên tri này lên án cả Y-sơ-ra-ên lẫn Giu-đa. Có lẽ lắm ở đây nhắc đến các biến cố trong IIVua 15:8-31 17:1-6. Ít ra cũng có Mê-na-hem (15:19) và Ô-sê (15:30 17:3) là hai vua thần phục A-si-ri và nộp cống cho A-si-ri. Còn vua A-cha cầu viện A-si-ri để chống lại Sy-ri và Y-sơ-ra-ên (16:7-9 so sánh Es 7:1-25).
Như vậy, cả Y-sơ-ra-ên lẫn Giu-đa đều liên minh với A-si-ri để tìm phương cứu chữa căn bệnh của mình. Nhưng nan đề thực thụ là Đức Chúa Trời chống nghịch họ, nên dù có thầy thuốc tài ba nhất thế giới cũng không cứu vãn được. Tình hình còn đen tối hơn nữa vì Đức Chúa Trời tấn công họ, xé họ ra từng miếng và đem đi như một con sư tử, như một con sư tử to lớn (mấy từ này nhằm bổ túc cho nhau, chớ không có ý nói đến hai loại sư tử). Rồi họ sẽ vỡ lẽ ra là không có lối thoát nào cả.
Câu 15 là phần chuyển tiếp giữa Os 5:13-14 6:1-6. Đức Chúa Trời đã tung ra nhiều nỗ lực để lôi kéo dân sự tích cực đáp ứng đối với những biện pháp thanh tẩy của Ngài. Nhưng kết quả thật đáng buồn. Câu 15 mô tả phản ứng của Ngài trước sự thể đó: Ngài rút lui khỏi họ. Nếu sự hiện diện của Đức Chúa Trời là điều làm cho ta kinh hãi, thì sự vắng mặt của Ngài làm cho ta kinh hãi hơn. Chương 6:1-3 cho thấy Ngài chờ đợi điều gì: sự quyết tâm của nhân dân để nhận biết Ngài và tin cậy Ngài.
7. Tình yêu thương chập chờn của Y-sơ-ra-ên và điều Đức Chúa Trời yêu cầu (Os 6:1-6)
Không có từ nối kết câu này với câu trên, nhưng rõ ràng đây là câu nói mà Chúa muốn nghe. Y-sơ-ra-ên công nhận rằng Đức Chúa Trời đã xé họ ra từng mảnh (như trong 5:14) và chỉ một mình Ngài có thể chữa lành họ. Câu 2 là câu Kinh Thánh Cựu Ước duy nhất viết về chuyện sống lại vào ngày thứ ba. Rõ ràng đây không phải là lời tiên tri về một cá nhân, Đấng Mê-si, mà là một ẩn dụ về một dân tộc được phục hồi. Dầu vậy, có điểm tương tự giữa hai hoàn cảnh: Coi như vô phương nhưng Đức Chúa Trời đã chữa lành hoàn toàn. Điều đã được thực hiện với ý ẩn dụ cho dân Y-sơ-ra-ên là con trai của Đức Chúa Trời (so sánh 11:1) thì cũng được thực hiện theo nghĩa đen cho Chúa Giê-xu Cứu Thế là Con của Đức Chúa Trời. Khi ông Phao-lô viết về Chúa Giê-xu “sống lại vào ngày thứ ba theo lời Kinh Thánh” (ICo 15:4), có lẽ ông liên tưởng đến câu Kinh Thánh này cùng câu chuyện ông Giô-na ở trong bụng cá.
Có lẽ đúng hơn nên chuyển ngữ câu 3a là: “Chúng ta hãy biết... chúng ta hãy cố gắng tìm hiểu thêm...”. Đây là ý căn bản của từ được bản NIV chuyển ngữ là công nhận (xem bình giải Os 13:4-5). Nhân dân bày tỏ lòng mong muốn thiết lập mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Đây là lời nói ẩn dụ khá táo bạo, vì “biết” vợ của mình bình thường có nghĩa là quan hệ tình dục. Dầu vậy, ông Ô-sê lẫn các trước giả Kinh Thánh không ngại dùng hôn nhân để diễn tả sự liên hệ mật thiết và riêng tư với Đức Chúa Trời (Es 62:5 Kh 21:2).
Đức Chúa Trời đem phước hạnh đến như những trận mưa đúng mùa mà dân Y-sơ-ra-ên lệ thuộc vào đó vì sự sống của chính họ. Ở xứ Pa-lét-tin mưa rơi hầu hết vào thời gian giữa đầu tháng 12 đến đầu tháng 3. Mưa mùa đông rơi vào phần đầu thời gian này tức là trong mùa thu, làm cho đất mềm ra, dễ gieo giống. Mưa xuân (đôi khi còn gọi là “mưa muộn”) là những trận mưa rào trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 5, làm cho hoa màu mọc mạnh. Mùa hè hầu như hoàn toàn khô hạn, ai nấy đều trông mưa và coi mưa là một ơn phước lớn lao.
Bầu không khí đổi khác trong câu 4-6. Cứ như thể Đức Chúa Trời phán rằng: “Dù các ngươi có nói những lời đó đi nữa, các ngươi cũng không trung thành và quyết tâm đeo đuổi ta lâu dài. “Tình yêu thương nồng nàn” của các ngươi như giọt sương mai và sa mù sáng sớm, sẽ nhanh chóng tan biến sớm” (xem bình giải Os 2:21 so sánh 4:1 10:12 12:7). Vì lý do đó mà các tiên tri xuất hiện, rao giảng bằng lời lẽ đanh thép nhằm vạch trần tội lỗi của nhân dân ra trước ánh sáng và kêu gọi họ ăn năn. Khi việc này không đem lại kết quả buộc lòng họ phải rao ra sự hình phạt. Khi một vị tiên tri “nhân danh Đức Chúa Trời” mà nói, thì sự hình phạt mà ông rao báo chắc chắn sẽ xảy ra (so sánh Sa 1:3 Thi 33:4-9 Es 55:10-11).
Cùng một từ được chuyển ngữ thành lòng thương xót trong c. 6 và lòng yêu thương trong c. 4, có nghĩa là lòng thương xót của Đức Chúa Trời bày tỏ trong giao ước của Ngài dành cho Y-sơ-ra-ên. Ngài không muốn của lễ thay cho lòng thương xót. Ngài muốn họ thật sự có lòng thương xót. Ngài không muốn của lễ toàn thiêu, nhưng Ngài muốn có một mối tương quan chân thật sâu đậm với cá nhân họ. Vai trò quan trọng của câu Kinh Thánh lộ rõ khi câu này được nhắc lại trong Mat 9:13 12:7 (so sánh Mac 12:33).
8. Y-sơ-ra-ên đã bất trung đối với giao ước-Giu-đa cũng vậy (Os 6:7-11a)
Mấy câu này mô tả hành vi tệ bạc đến không ngờ của một dân đã từng kết giao ước với Đức Chúa Trời. Có thể là A-đam chỉ về con người đầu tiên cùng hành vi bất vâng phục của ông đối với mệnh lệnh của Đức Chúa Trời đã truyền trực tiếp cho ông. Nhưng trong chuyện của ông A-đam cùng bà Ê-va và hậu duệ của họ trong thời gian trước thời của ông Nô-ê không chỗ nào nói đến từ giao ước cả (Sa 6:18). Đa số các nhà bình giải cho rằng “như A-đam” có nghĩa là một địa danh mà Gios 3:16 có nhắc đến. Dòng sông Giô-đanh ngưng chảy tại địa danh A-đam, cho phép dân Y-sơ-ra-ên đi bộ ngang qua sông để tiến vào đất hứa. Nếu hướng bình giải này đúng, thì A-đam là một thành trong địa phận Ga-la-át trên đường đi đến Si-chem, là một nơi xảy ra vụ cướp bóc tàn bạo (8-9). Chúng ta không biết cụ thể có những vụ lộng hành đầy bạo lực nào ngoài vụ đảo chánh lật đổ Phê-ca-hia do Phê-ca và năm mươi người đến từ Ga-la-át thực hiện (IIVua 15:25). Và chắc là các thầy tế lễ cũng tham gia trong vụ này hoặc những vụ tương tự (9 so sánh 11:1-21, thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa giữ vai trò chủ chốt trong một vụ đảo chánh hữu ích). Câu 10 một lần nữa tóm tắt tình hình bằng những lời lẽ đã dùng trước đây.
Một lần nữa tiên tri nhắn nhủ riêng với Giu-đa (11a). Những ai nghe bản án dành cho người khác và nhất trí với bản án đó, cần rà soát lại chính đời sống của mình.
chapter=9. Đức Chúa Trời muốn chữa lành nhưng tội lỗi của Y-sơ-ra-ên ngăn trở Ngài (Os 6:11b-7:2)
Os 6:11b. Đây là một hình ảnh sống động về Đức Chúa Trời đang tìm cách phục hồi dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng tội lỗi của họ cứ luôn luôn đập vào mắt Ngài, lộ ra tỏ tường. Tội lỗi vây chặt họ, không có lối cho Đức Chúa Trời đến với họ, cũng không có lối nào cho họ thoát ra. Trong phần mô tả này ông Ô-sê đề cập đến hai tội cụ thể mà ông đã từng vạch ra trước đây: lừa gạt, đầu trộm đuôi cướp (1b). Câu 2a nhận xét về một vấn đề chung nơi con người, đó là cho rằng mắt có thấy thì chuyện mới có. Họ không biết rằng tội lỗi đang nhận chìm họ, cũng không ngờ rằng (“tự nhủ”) Đức Chúa Trời ghi nhớ hết những tội lỗi đã phạm trong quá khứ. Cần nhớ lời nhận xét đáng sợ là “Sam-sôn không biết rằng Đức Giê-hô-va đã lìa khỏi mình” (Cac 16:20b so sánh IIVua 6:17 Thi 50:21a).
Os 7:1-2; xem giải nghĩa Os 6:11b-7:2
10. Tội lỗi của Y-sơ-ra-ên được mô tả qua hình ảnh ẩn dụ (Os 7:3-12)
Câu 3-7 trình bày nội dung theo dạng nhiều lớp đan xen nhau như chúng ta đã thấy trước đây. Trình tự các chi tiết là như sau: vua chúa (3) - lò nướng (4) - vua chúa (5) - lò nướng (6-7a) - (giới cai trị và) vua (7b). Cách sắp xếp này gợi ý là cần nghiên cứu những chi tiết này trong toàn cảnh.
Giới lãnh đạo, các vua, các quan, không một người nào thử làm một việc gì để chỉnh đốn tình trạng dối trá, gian ác (3). Họ tỏ ra thích chí, vì đó là cách làm thoả mãn lòng tham muốn của những người có thế lực mà không có lương tâm. Nhưng xin xem câu 7b về cú đập ghê gớm sắp giáng xuống trên họ!
Họ tựa như một lò nướng (4), tự cung cấp hơi nóng. Một khi dục vọng ở trong họ đã nổi lên thì nó cứ tồn tại ở mức sôi nổi ban đầu. Dường như người thợ làm bánh đi liền với hình ảnh chung chớ không tượng trưng cho một cá nhân cụ thể nào cả. Câu 5 khá mù mờ, nhưng bản NIV chuyển ngữ khá thoả đáng: vua và các quan tham gia vào cuộc chè chén truy hoan gớm ghiếc nào đó. Có người nghĩ rằng kẻ ưa phỉ báng là những người âm mưu hại vua. Bản thân vua không ngờ có chuyện này nên hợp tác với họ, còn các quan không thể bảo vệ vua vì họ quá say rồi.
Ẩn dụ về lò nướng kéo dài đến câu 6-7, xem như phần này nối tiếp những điều đã nói ở phần trên: cái lò nướng tiếp tục hừng hực nóng. Đến sáng lửa vẫn không hạ, mà còn bùng lên. Nhưng câu 7 cho chúng ta biết một hậu quả bất ngờ: có âm mưu lật đổ cấp lãnh đạo. Một loạt mấy vụ âm mưu loại đó diễn ra ở vương quốc miền bắc trong giai đoạn cuối của vương quốc này (IIVua 15:1-38 17:1-41 và xem bình giải Os 5:13-15). Những ai tự cho mình có quyền quyết định trên luật pháp, không nên ngạc nhiên khi có người khác cũng làm như mình, một cách hiệu quả hơn và cũng tàn bạo hơn. Vua bị lật đổ, nhưng họ chẳng hề nghĩ tới việc kêu cầu Đức Chúa Trời (7b).
Trong câu 8-12 ông Ô-sê đưa ra một loạt ẩn dụ khác, tất cả đều mô tả một chuyện kinh khiếp. Ép-ra-im (tức là Y-sơ-ra-ên) vì hoà đồng với các dân tộc nên đánh mất lòng trong trắng nhất trí tôn thờ Đức Chúa Trời (8a). Y-sơ-ra-ên chẳng khác gì một cái bánh mới nướng một mặt, chưa lật mặt kia lên để nướng tiếp nên bên thì sống nhăn, bên thì cháy (như một miếng thịt nướng vậy). Ngoại bang đã hút hết năng lực của Y-sơ-ra-ên mà Y-sơ-ra-ên vẫn không biết. Họ đòi lễ vật cống với số lượng lớn (không cung cấp cho Y-sơ-ra-ên một thứ gì cả). Ấy thế mà có vẻ như Y-sơ-ra-ên không nhận thức được chuyện đang xảy ra, không nhận biết mình bạc tóc, cứ ngỡ là mình đang xuân xanh, đây là tín hiệu của tánh ngạo mạn trong câu 10. Mặc dù trăm đường khốn đốn, Y-sơ-ra-ên vẫn không trở lại với Chúa là Đức Chúa Trời của mình, cũng không tìm kiếm Ngài. Cho nên ông Ô-sê hoàn toàn có lý khi gọi Ép-ra-im là bồ câu khờ dại và mất trí khi họ cầu cạnh một lối thoát từ Ai Cập hoặc từ A-si-ri (11). Con chim khờ dại sẽ ra làm sao? Đức Chúa Trời sẽ bắt nó trong bẫy lưới, nó sẽ chẳng bay đi đâu được nữa, nhưng sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào quyền sinh tử của Ngài.
11. Họ từ khước không trở lại với Đức Chúa Trời (Os 7:13-16)
Không có biến chuyển đáng kể nào trong mấy câu này, và hình ảnh dân Y-sơ-ra-ên đi lạc xa Đức Chúa Trời rõ ràng là tương tự với hình ảnh trong câu 8 và 11. Lý do từ khước không trở lại với Đức Chúa Trời xuất hiện rải rác trong suốt chương 7 (1-2, 7b, 10). Khốn khổ thay là lời than vãn về chính mình và về người khác. Trong trường hợp than vãn về người khác thì cụm từ này cũng có một ý nội hàm kêu xin về một sự hình phạt. Câu 13b Nguyền sự hư nát để trên chúng nó củng cố cho ý này.
Có hai điểm nổi rõ trong mấy câu này: tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên và sự kiện dân sự có những ưu tiên khác. Ngài mong mỏi chuộc họ, Ngài mong họ quay lại với Ngài nhưng họ nói dối chống nghịch Ngài. Khi họ rơi vào chỗ khó khăn, họ chỉ biết nằm trên giường kêu la đau đớn chớ không biết đến cội nguồn duy nhất có thể cứu giúp hữu hiệu. Khi họp lại với nhau, họ dồn hết tâm trí vào việc ăn uống, chớ không nghĩ đến Đức Chúa Trời. Ngài đã từng huấn luyện trang bị cho họ, nhưng đền đáp lại họ âm mưu điều ác chống nghịch Ngài (15).
Phần đầu câu 16 mù mờ lắm (theo nghĩa đen là: Họ quay qua, không phải đến/ ở trên/ chống lại). Có lẽ nguyên bản đã bị hư hỏng. Bản NIV chuyển đạt khá sát ý. Có lẽ chúng ta nên hiểu là “Họ trở lại, nhưng không phải trở lại với ta” (Wolff), hoặc “Họ trở lại chẳng với thần nào cả” (so sánh Phu 32:17,21). Cây cung phản trắc có lẽ là cây cung yếu: mũi tên vụt đi nhưng không đến đích. Cuối phần này cho thấy cấp lãnh đạo chết ngoài chiến trường, còn dân chúng, vốn là dân ngạo mạn, nay buộc phải lánh nạn ở Ai Cập (một tín hiệu quay lưng bỏ sự cứu rỗi), tại đó họ bị chế giễu hoặc sỉ nhục.
12. Gieo gió gặt bão (Os 8:1-14)
Chương này chép một loạt những biện pháp hình phạt liên quan tới tội lỗi của họ trong một số việc: chọn vua (4-6), liên minh với ngoại bang (7-10) và những hủ tục trong lãnh vực tín ngưỡng (11-14). Qua mọi việc họ tỏ ra tự tin cách bịnh hoạn. Họ hành xử tương tự như những người khôn ngoan theo đời này mà không nghĩ xem hành động của họ có vừa ý Đức Chúa Trời hay không.
(Os 8:1-3) Bị kẻ thù hình phạt Như trong Os 5:8 thình lình vang lên tiếng báo động. Ở đây mô tả nguy cơ đe doạ như chim ưng đến nghịch cùng nhà Đức Giê-hô-va. Có người nghi ngờ rằng không chắc từ này có nghĩa là chim ưng (NIV, bản Kinh Thánh tiếng Việt cũ), hoặc diều hâu (bản RSV, bản diễn ý). Phải chăng câu này có nghĩa là một con diều hâu đang rình đợi để ăn một xác chết, hoặc một con chim ưng sắp sửa lao xuống quắp con mồi nhỏ, chậm chạp, vô phương tự vệ bằng móng vuốt to lớn và sắc bén của mình. Xem ra ý thứ hai thoả đáng hơn vì phù hợp hơn với câu 3 kẻ nghịch sẽ đuổi theo nó (so sánh Giop 9:26 Thi 103:5 Ha 1:8 trong khi bản NIV và bản RSV diễn dịch ý trái ngược).
Một lần nữa trong câu 1 tiên tri Ô-sê kêu gọi tập trung chú ý vào lòng bất trung của nhân dân đối với Đức Chúa Trời khi họ từ bỏ giao ước - giao ước là cơ sở để họ xưng mình là dân của Đức Chúa Trời - cùng từ bỏ luật pháp là cơ sở giúp họ làm vừa lòng Đức Chúa Trời và nhận được phước hạnh của Ngài.
(Os 8:4-6) Các vua và hoàng tử bị xét đoán Trong những câu này tiên tri Ô-sê nhìn ngược lại thời vương quốc Y-sơ-ra-ên trở nên một quốc gia độc lập. Giê-rô-bô-am I, con trai của Nê-bát tách khỏi Rô-bô-am con trai của Sa-lô-môn rồi lập hai trung tâm thờ phượng tại Bê-tên và Đan để đối phó với Giê-ru-sa-lem. Tại mỗi nơi ông đặt một pho tượng bò con bằng vàng (IVua 12:26-30), hai nơi đó cùng với đền miếu tại những “nơi cao” (12:31-33) trở nên nơi phát xuất thói tục thờ hình tượng và những tập tục không được Đức Chúa Trời cho phép. Thật ra một vị tiên tri tên là A-hi-gia (11:29-40) khuyến khích Giê-rô-bô-am hãy lên làm vua, nhưng trong thực tế sách Các Vua I và II đều lên án tất cả các vua trong vương quốc miền bắc. Và hầu như chẳng có chỗ nào chép là họ được Đức Chúa Trời chọn lựa. Có thể lắm một trong hai pho tượng bò con bằng vàng đã được dời đến Sa-ma-ri, thủ đô vương quốc Y-sơ-ra-ên nhưng cũng có thể câu nói Hỡi Sa-ma-ri, bò con của ngươi đã bị bỏ rồi (5) chứng tỏ rằng lời tiên tri này thuộc về thời gian sau khi Đan bị quân A-si-ri chiếm đóng (IIVua 15:29) nên Sa-ma-ri và vùng phụ cận chỉ còn một pho tượng bò con bằng vàng. Quan điểm của Đức Chúa Trời đối với pho tượng bò con bằng vàng là rất rõ: Ngài nổi giận nó không phải là Đức Chúa Trời pho tượng đó ngăn trở dân sự sống thánh sạch, chỉ đưa đẩy họ đến chỗ huỷ diệt. Trong nguyên bản Hi Bá Lai phần đầu câu 6 không rõ ràng lắm. Theo nghĩa đen có thể nghĩa là vì bò con đó đúng là việc của Y-sơ-ra-ên làm ra.
(Os 8:7-10) Đường lối chính trị cầu may: Gieo và gặt Câu 7 dùng những từ gợi hình để vẽ ra một hình ảnh rất sống động: những điều họ gieo ra là không có thực chất và vô giá trị, vì vậy, họ gặt lại những điều vô giá trị và diệt vong (so sánh Ga 6:8). Ý chính nơi đây nói về chính sách đối ngoại của dân Y-sơ-ra-ên. Họ tìm cách kết thân với quốc gia này quốc gia nọ với hy vọng là họ đang ủng hộ phe chiến thắng. Nhưng vương quốc Y-sơ-ra-ên không còn gì đáng giá để dâng hiến cho người ta nên coi như các quốc gia đó ăn tươi nuốt sống Y-sơ-ra-ên (7-8). Cho dù Y-sơ-ra-ên có tậu được một chỗ đứng giữa vòng các dân tộc rồi bị tản lạc ở khắp mọi nơi, Đức Chúa Trời sẽ gom họ trở lại một lần nữa - nhưng không phải để giải cứu họ. Câu 10b là một câu rất khó hiểu nhưng có thể hiểu theo ý của bản NIV. Như con lừa rừng là cụm từ mô tả Ích-ma-ên, con trai của Áp-ra-ham và A-ga (Sa 16:12) nên dứt khoát không phải là con trai của lời hứa.
(Os 8:11-14) Những điều thay thế trong tín ngưỡng Y-sơ-ra-ên Mấy câu này bày tỏ sự hăng hái nồng nhiệt của dân Y-sơ-ra-ên trong lãnh vực tôn giáo. Họ đã xây nhiều bàn thờ để dâng của lễ chuộc tội. Thực sự từ được dùng ở cuối câu Kinh Thánh này là “sa vào tội lỗi”, nhưng phụ âm trong nguyên ngữ Hi Bá Lai có thể được chuyển ý theo như bản NIV. Nếu ý này đúng thì có lẽ lắm tác giả vận dụng mẹo chơi chữ trong câu này: Mục đích của các bàn thờ là xử lý hậu quả của tội lỗi và phục hồi sự thông công với Đức Chúa Trời, nhưng trong thực tế các bàn thờ đó lại khiến họ phạm tội thêm. Nhân dân loại bỏ nhiều điều có chép trong luật pháp của Đức Chúa Trời, xem là ngoại lai và kỳ dị. Họ dâng lên những của lễ theo ý mình và ăn thịt tức là tham gia ăn số thịt đã dâng làm của lễ nhằm bày tỏ sự thông công với Đức Chúa Trời, nhưng Đức Giê-hô-va chẳng nhận chúng nó đâu (13a). Một người thờ phượng Đức Chúa Trời chỉ có thể được chấp nhận bằng cách làm theo đúng mọi điều Đức Giê-hô-va đã quy định (so sánh Le 10:1-11), của lễ không có khả năng xoá tội lỗi khỏi trí nhớ của Đức Chúa Trời (Es 64:9 Gie 31:34) tội lỗi vẫn còn in đậm trong trí nhớ của Ngài. Nói như thế ngụ ý rằng Ngài sẽ hành động chống lại tội lỗi. Chúng nó sẽ trở về trong Ê-díp-tô! Tức là họ sẽ trở về với ách nô lệ (Os 2:15 7:11,16 9:3,6 11:1,5,11 12:1,9,13 13:4).
Câu 14 bàn lại chủ đề ỷ vào sức mình trong lãnh vực chính trị câu này lại nói về Giu-đa một lần nữa. Y-sơ-ra-ên đã quên Đấng Tạo Hoá mình, và (đây là cốt lõi của vấn đề) đã xây thêm nhiều các thành bền vững. IIVua 18:13 mô tả số phận của các thành đó trong tay Tiếc-lác -Phi-lê-se, vua A-si-ri. Chỉ một mình Giê-ru-sa-lem là thoát nạn nhờ sự can thiệp trực tiếp của Đức Chúa Trời để trả lời sự cầu nguyện và để đối phó với lời thách thức của A-si-ri (19:5-7,20-36). Lửa mô tả sự hình phạt theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
13. Biện pháp hình phạt: Các lễ hội tôn giáo sẽ bị dẹp bỏ (Os 9:1-6)
Ở đây tiên tri tập trung nói về sự hình phạt mà ông đã từng ngăm đe khi trước, và dân Y-sơ-ra-ên sẽ trở về Ai Cập (Os 7:16 8:13) cùng hậu quả của việc đó trên các lễ hội của họ. Tiên tri Ô-sê khuyên nhân dân rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên, chớ vui mừng, chớ nức lòng mừng rỡ như các dân (như các ngươi vẫn vui mừng lâu nay). Ngay cả khi họ có thể làm theo ý mình trong một thời gian nữa nhưng chẳng được bao lâu đâu vì ngươi đã phạm tội tà dâm và cách xa Đức Chúa Trời ngươi, là Đấng đã bày tỏ chính mình Ngài cho ngươi, là Đấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ai Cập và đã truyền dạy cho ngươi một nếp sống vừa ý Ngài,... Ngươi đã chạy theo các thần khác, hành động như một gái điếm nhất là tại các sân đạp lúa là nơi thường diễn ra một số lễ hội tôn giáo.
Sau đó ông bình luận rằng các sân đạp lúa và các hầm ép rượu không còn là lý do thúc đẩy họ tổ chức lễ hội nữa vì những nơi đó không còn cung ứng những thực phẩm nữa rượu mới sẽ thiếu thốn cho nó, là tín hiệu đe doạ một năm sắp tới đói khổ và buồn bã.
Thật vậy, giao ước của Đức Giê-hô-va sẽ bị xé bỏ. Ngài đem họ ra khỏi xứ Ai Cập và khiến cho họ trở nên dân của Ngài nhưng họ sẽ trở về (Ai Cập) sống dưới ách nô lệ. Đức Chúa Trời ban cho họ luật pháp và dạy cho họ cách thức giữ mình thánh sạch theo tiêu chuẩn của Ngài (đặc biệt xem Le 11:1-23 Phu 14:3-21), nhưng họ sẽ bị đem qua A-si-ri rồi tại đó họ sẽ bị ép buộc ăn vật thực ô uế. Cả hai biện pháp hình phạt này là dấu hiệu biểu thị sự kiện họ bị tách khỏi Đức Chúa Trời.
Rượu sẽ thiếu hụt đến độ họ sẽ không dâng lễ quán bằng rượu cho Đức Giê-hô-va nữa - bình thường sau khi dâng rượu chung với những lễ vật khác người ta đổ số rượu đó ra đất. Và các của lễ chúng nó cũng sẽ chẳng đẹp lòng Ngài vì không thánh sạch và vì họ không dâng của lễ đúng theo quy định của Ngài. Khi cùng nhau dùng của lễ thì chẳng khác chi họ dùng bữa tại một đám tang, thực phẩm đó không còn ý nghĩa gì về mặt thuộc linh mà chỉ giải quyết cái đói (4b).
Sau đó ông thách thức họ với một câu hỏi “Các ngươi sẽ làm gì trong ngày lễ trọng thể, lễ của Đức Giê-hô-va?” Câu trả lời rất rõ ràng. Họ chẳng có thể làm một việc gì đáng kể nữa. Rồi ông kết luận rằng cho dù họ thoát chết bằng cách lánh nạn qua Ai Cập (Mem-phi nằm trong vùng bắc Ai Cập) họ vẫn chết tại đó.
14. Tôi tớ của Đức Chúa Trời bị chế nhạo (Os 9:7-9)
Sau khi lặp lại ngắn gọn lời đe doạ về hình phạt sắp tới tiên tri Ô-sê đưa ra một đề tài mới: dân Y-sơ-ra-ên lún sâu trong tội lỗi và chống nghịch Đức Chúa Trời đến độ xem những người truyền rao lời của Ngài là điên khùng ngây dại (so sánh IIVua 9:11). Không chỉ chế nhạo mà còn tích cực âm mưu làm hại những người đó (so sánh IVua 18:4 19:10 Mat 23:29-36). Cụm từ như đương những ngày Ghi-bê-a (cũng xem 10:9) nhắc lại một thời kỳ tăm tối trong lịch sử Y-sơ-ra-ên và chuyện một người vợ lẽ của một người Lê-vi lẫn những hậu quả của chuyện đó (Cac 10:1-21:25). Tác giả sách Các Quan Xét nhận định rằng: “Đương lúc đó, không có vua trong Y-sơ-ra-ên ai nấy làm theo ý mình lấy phải làm” (21:25), câu này cũng đúng với thời của tiên tri Ô-sê. Nhiều sự xấu xa gian ác trong thời đại tân tiến này cũng phát xuất từ một thái độ tương tự.
15. Thêm những bài học từ lịch sử: gốc rễ tội lỗi của Y-sơ-ra-ên (Os 9:10-17)
Tiên tri Ô-sê mô tả dân tộc Y-sơ-ra-ên vào thời kỳ khai nguyên, trong sa mạc tức là trong thời gian hành trình từ Biển Đỏ đến khi vào đất hứa Ca-na-an. Lúc đó Đức Chúa Trời hài lòng về họ như thể một người thích thú khi hái những chùm nho và những trái vả đầu mùa. Nhưng chẳng bao lâu họ than van oán trách Ngài. Tiên tri Ô-sê nêu ra một trường hợp đặc biệt tồi tệ và tiêu biểu cho hành vi vô đạo đức của họ tại Ba-anh Phê-ô. Ở đó nhiều người trong vòng dân sự đắm mình trong tội tà dâm với phụ nữ Mô-áp và dâng của lễ cho thần Ba-anh (Dan 25:1-5). Dâng mình cho vật xấu hổ: từ này thường được dùng thay thế cho Ba-anh.
Sự vinh hiển của Ép-ra-im. Ở đây cơ bản có nghĩa là số lượng con cháu đông đảo mà Đức Chúa Trời đã hứa cho Áp-ra-ham. Nhưng bây giờ sẽ chẳng có cuộc sanh nở nào cả, không có mang thai cũng không có đậu thai. Cho dù có sinh nở đi nữa thì bé sơ sinh đó cũng sẽ chết. Dĩ nhiên ở đây không có ý nói rằng tuyệt đối không có cuộc sinh nở nào cả. Nhưng tác giả dùng lối nói văn vẻ và sống động để diễn tả rằng dân tộc sẽ không phát triển nữa. Lần thứ hai tiên tri đề cập đến sự chết của trẻ con Ép-ra-im qua một hình ảnh rùng rợn: Ép-ra-im sẽ dắt các con cái nó đến kẻ giết lác. Xen vào giữa hai lần đó là ông nói về nguyên nhân khiến Đức Chúa Trời đã lìa bỏ họ (xem bình giải Os 5:15) nơi nào Ngài không hiện diện thì không thể có phước hạnh. Câu 14 nói về cùng một chủ đề nhưng dưới dạng khác. Tác giả trình bày dưới hình thức một lời cầu nguyện rủa sả.
Câu 15 tập trung nói về một địa danh khác trong lịch sử phạm tội của dân Y-sơ-ra-ên. Ghinh-ganh là nơi dân Y-sơ-ra-ên vượt sông Giô-đanh vào xứ Ca-na-an cũng là nơi họ chịu lễ cắt bì để biệt riêng mình cho Đức Chúa Trời một lần nữa (Gios 4:19-5:9). Trong thời gian làm quan xét ông Sa-mu-ên cũng thường xuyên hành trình đến nơi này (ISa 7:16). Đây cũng là nơi Đức Chúa Trời xác lập ông Sau-lơ làm vua trên Y-sơ-ra-ên (11:14-15). Cũng tại nơi đó vua Đa-vít được dân chúng nghênh đón sau khi cuộc nổi loạn của Áp-sa-lôm thất bại (IISa 19:15). Nhưng trong thời tiên tri A-mốt và tiên tri Ô-sê Ghinh-ganh đã trở nên một trung tâm tôn giáo sa đoạ (Os 4:15 Am 4:4 5:5). Có lẽ đây là lý do khiến Đức Chúa Trời ghét hai nơi đó (so sánh Es 1:10-17 Am 5:21-24). Chúng ta thừa biết rằng tà đạo của họ đi kèm với nạn bất công và áp bức, ở đây ngụ ý đến nhiều vấn đề: Ta sẽ chẳng yêu thương chúng nó nữa (so sánh 1:6) bị đánh, rễ đã khô sẽ không ra trái nữa (so sánh Os 2:3,9-12 9:2), giết trái yêu thương của bụng chúng nó (so sánh c.12-13 2:4 4:6). Chương này chấm dứt với một lời nhận định khác của tiên tri, củng cố những điều ông đã tuyên bố trước kia.
16. Nông nghiệp, tà đạo và các vua: hình phạt và một sự chọn lựa (Os 10:1-10)
Phần này khá đa dạng còn bản văn lại khó hơn bình thường. Ông Ô-sê nói về những vấn đề trong lãnh vực nông nghiệp (cây nho, 1 ruộng đã cày 4), những vật dụng trong lãnh vực thờ phượng (bàn thờ, 1b-2 hình tượng 5-6,8), và những biến cố trong lãnh vực chính trị (vua, 3 bị A-si-ri đánh bại, 6-7,9b-10).
Chương này mở đầu bằng sự ví sánh dân Y-sơ-ra-ên với cây nho (so sánh Thi 80:8-16 Es 5:1-7 Gie 2:21 Exe 15:6 17:1-6). Khi dân Y-sơ-ra-ên thạnh vượng (cây nho tươi tốt đầy hoa trái) họ xây thêm nhiều bàn thờ và tạo thêm nhiều trụ tượng (xem bình giải 3:4) tức là càng dấn sâu vào những sinh hoạt bị cấm đoán hoặc những sinh hoạt hoàn toàn thuộc về tín ngưỡng thờ hình tượng. Họ tự lừa gạt (2a) trong niềm tin tưởng rằng đây là đường lối được Đức Chúa Trời chấp nhận. Hậu quả là Đức Giê-hô-va sẽ huỷ diệt những thứ đó.
Giờ đây tiên tri Ô-sê quay sang vấn đề các vua: sẽ đến lúc dân Y-sơ-ra-ên không còn có vua nữa (tức là sau khi Sa-ma-ri thất thủ năm 722 T.C.) và họ sẽ nhận biết rằng họ rơi vào một hoàn cảnh vô vọng đến nỗi dù có vua chăng nữa vua cũng không thể cứu giúp họ. Vương quyền luôn luôn là một vấn đề rắc rối đối với dân Y-sơ-ra-ên. Trong sách Các Quan Xét dường như sự kiện không có vua là một trong những nguyên nhân gây nên sự hỗn loạn trong xứ (Cac 17:6 18:1 19:1 21:25). Khi họ xin Đức Chúa Trời lập cho họ một vua để họ được giống như những dân tộc khác thì Đức Chúa Trời kết luận rằng họ từ bỏ Ngài, ông Sa-mu-ên cũng kết luận như vậy (ISa 8:4-9). Dầu vậy, Đức Chúa Trời ban cho họ một vua và biến điều họ xin với một động lực sai thành phương tiện đem lại sự an ninh cùng tạo hoàn cảnh thích hợp cho giáo dục, và biểu hiện cho hy vọng trong tương lai.
Tiên tri Ô-sê đề cập đến một số tội lỗi dưới nhiều hình thức. Gian dối (4) dẫn đến những vụ kiện được ví với cỏ độc trong luống cày làm mất mùa thu hoạch. Dân cư ở Sa-ma-ri lo sợ cho tượng bò con ở Bê-tên (một lần nữa vì cớ lỗi sao chép Bết-A-ven bị đổi thành Bê-tên xem bình giải Os 4:15). Thực sự từ các con bò con được dùng ở đây mặc dù 8:6 dùng từ này ở số ít. Có thể giảm số nhiều dùng để chỉ về sự uy nghi, tức là “con bò con vĩ đại của nhà gian ác xấu xa” với ngầm ý châm biếm rõ ràng. Pho tượng này sẽ bị đem vào chốn lưu đày, không thể nào tự cứu mình (như tiên tri Ê-sai đã nói về các hình tượng của Ba-by-lôn, Es 46:1-2). Nhân dân và các thầy tế lễ thờ hình tượng, thay vì nhận ra rằng hình tượng bất lực và vô dụng, lại than khóc cho hình tượng trong khi hình tượng bị đem qua A-si-ri, bị dời qua A-si-ri làm lễ vật dâng cho vị vua vĩ đại. Theo nghĩa đen vị vua vĩ đại là “vua Gia-rép”. Có lẽ từ Gia-rép có liên quan với từ “đấu tranh” hoặc từ “cãi cọ”. Ông George Adam Smith dịch là “Vị Vua Ưa Cãi Lộn!”. Xem ra ý này khá đúng vì chắc chắn là phù hợp với tâm tánh hiếu chiến của các vua A-si-ri, rồi tiên tri chuyển qua mô tả thành Sa-ma-ri và vua chúa trôi nổi trên mặt nước chẳng khác gì một cành cây nhỏ vô phương tự cứu.
Trong câu 8 tiên tri Ô-sê trở về với vấn đề các bàn thờ và những nơi cao. Tất cả sẽ bị phế bỏ và phủ đầy gai góc và chà chuôm. Nhân dân kêu xin các đồi núi che giấu họ khỏi sự hình phạt hoặc giúp họ thoát khỏi cảnh khốn nạn mà họ đang phải chịu. Ý này cũng có chép trong Lu 23:30 Kh 6:16 (so sánh Es 2:10,19-21).
Câu 9 trở về với Ghi-bê-a (so sánh Os 9:9). Tình cảm đồi bại của nhân dân Ghi-bê-a đã dẫn đến cuộc nội chiến khiến chi phái Bên-gia-min suýt bị diệt chủng. Nhưng giờ đây đến lượt các dân tộc ngoại bang sẽ thực hiện sự hình phạt của Đức Chúa Trời nơi chiến trường.
Câu 10 nói về hai tội, có lẽ hai tội này nhằm chỉ về tội thờ hình tượng và tội ỷ lại vào lực lượng đồng minh ngoại bang thay vì Đức Chúa Trời.
17. Cày bừa, gieo giống và chiến trận: những hình thức nói ví về sự hình phạt. (Os 10:11-15)
Câu 11-15 mô tả một hình ảnh trong lãnh vực nông nghiệp, chuyển vào chiến địa ở cuối câu 13. Ép-ra-im là bò cái tơ khéo dạy, ưa thích đạp lúa nghĩa là ưa kéo cái cần đập lúa quanh quẩn trong sân đầy ắp lúa. Đây là công việc nhẹ nhàng và con vật làm việc này không bị khớp miệng. Hình ảnh kế tiếp không tươi sáng cho lắm. Con vật mang ách để cày bừa làm công việc nặng nề hơn. Việc này có ý nói về kỷ luật thay vì hình phạt. Dù sao việc này cũng dẫn đến lời kêu gọi khẩn cấp là hãy tham gia vào những công việc ích lợi (Hãy gieo cho mình trong sự công bình, hãy vỡ đất mới) rồi sẽ thu hoạch mùa màng của sự nhơn từ (như trong Os 6:4,6). Trong quá khứ họ đã từng gieo và gặt những điều xấu xa (13a so sánh 8:7).
Đến đây tiên tri Ô-sê chuyển sang giải nghĩa hình ảnh ví von này. Dân Y-sơ-ra-ên đã từng ỷ vào sức mình, tin cậy vào năng lực của con người. Vì vậy họ sẽ gánh chịu thất bại nặng nề y như Bết-Ạt-bên đã từng thất trận trước San-man. Có lẽ Bết-Ạt-bên là một vùng đất gần hồ Ga-li-lê hoặc một thành nằm về phía đông sông Giô-đanh. Có lẽ San-man là Sanh-ma-nê-se III hoặc V (Shalmaneser III hoặc V, 858-824 và 726-722 T.C., IIVua 17:3 18:9), nhưng cũng có thể là một vị vua Mô-áp tên là Salamanu (so sánh Am 1:3,13). Không rõ tác giả nói đến biến cố nào nhưng chúng ta có thể căn cứ vào mấy câu này mà suy đoán rằng những biến cố đó đã được diễn ra cách đặc biệt kinh khủng. Tác giả nêu địa danh Bê-tên có lẽ vì đền miếu quan trọng nhất ở Y-sơ-ra-ên toạ lạc tại Bê-tên, và có lẽ ông muốn áp dụng mẹo chơi chữ với Bết Ạt-bên. Năm 722 Y-sơ-ra-ên bị tiêu huỷ, vua và hậu duệ bị diệt trừ.
Phần này toát ra bầu không khí nghiêm trọng dầu vậy lời kêu gọi và lời hứa trong câu 12 vẫn vang dội.
18. Y-sơ-ra-ên là con yêu dấu của Đức Chúa Trời (Os 11:1-10)
Không một nơi nào trong Kinh Thánh mô tả tấm lòng của Đức Chúa Trời bằng lời lẽ cảm động và đầy cảm xúc như ở đây. Đức Chúa Trời nói năng với dân Y-sơ-ra-ên trong vai của một người cha đầy lòng yêu thương, đã từng cứu con trai của mình ra khỏi ách nô lệ tại Ai Cập. Trong thời gian đó, Y-sơ-ra-ên không khác gì một em bé bất lực, một dân tộc mới khai sinh mà phải đối phó với thế lực hùng hậu của đế quốc Ai Cập, phải lang thang trong sa mạc không có thức ăn thức uống dự trữ gì cả. Đức Chúa Trời dạy họ sống như thể một người cha tập đi cho con, khi thì cầm cánh tay mà dìu dắt (bản diễn ý), khi thì bồng ẵm trên tay. Ngài nhẹ nhàng dắt họ đi, hướng dẫn họ bằng dây nhân ái và yêu thương (bản diễn ý). Nếu còn tiếp tục với hình ảnh ví von về cha mẹ và con cái thì chúng ta phải chuyển ngữ câu 4b như sau: “đối với họ ta chẳng khác gì một ngưới bồng con áp lên má mình và ta đã mớm thức ăn cho họ”. Như vậy thoả đáng hơn là cho rằng ở đây chuyển qua một hình ảnh ví von khác tức là Đức Chúa Trời tháo gỡ ách trên cổ một con thú rồi cúi xuống cho nó ăn. Dầu sao đi nữa, hình ảnh này cũng nói lên sự ân cần chăm sóc của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên. Dầu vậy, họ không bày tỏ một sự hưởng ứng nào cả. Trái lại, Ta càng kêu gọi họ càng xây lưng, dân Ta nhất quyết lìa xa Ta (2,7). Họ không nhận biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng đã chữa lành cho họ (3).
Vì họ hoàn toàn không đáp ứng nên Đức Chúa Trời không còn cách nào khác ngoài việc phải hình phạt họ. Ở trên đã mô tả cảnh này rồi: Trở về với án nô lệ tại Ai Cập (Os 7:16 8:13) hoặc mất tự do độc lập vì làm chư hầu cho A-si-ri (Os 9:3 10:6). Họ không trở về với Đức Chúa Trời nên họ sẽ trở về Ai Cập. Câu 6-7 mô tả cách thức hình phạt - bại trận trước quân thù - và một lần nữa nhấn mạnh tinh thần cứng cỏi của Y-sơ-ra-ên.
Ông Ma-thi-ơ (Mat 2:15) dùng Os 11:1 để mô tả đường hướng hoạt động của Đức Chúa Trời khi Ngài giải cứu Chúa Giê-xu khỏi tay của vua Hê-rốt. Sau khi thoát chết, đến thời hạn đã ấn định Chúa Giê-xu từ Ai Cập trở về để làm trọn công tác dự định. Trên căn bản, điều ông Ô-sê nói không nhằm tiên tri về Chúa Giê-xu nhưng nhằm diễn giải ý nghĩa của một biến cố trong lịch sử. Dầu vậy, những điểm tương ứng trong đời sống của Chúa Giê-xu rất đáng cho chúng ta chú ý: Đức Chúa Trời bảo toàn Y-sơ-ra-ên (Gia-cốp và toàn thể gia quyến) khỏi nạn đói bằng cách cho họ một chỗ sống tại Ai Cập rồi Ngài đem họ ra khỏi Ai Cập để hoàn thành mục đích của Ngài.
Các dấu hiệu cho thấy rằng Y-sơ-ra-ên phải bị tiêu diệt hoàn toàn, nhưng Đức Chúa Trời đau đớn than khóc. Làm sao Ngài có thể huỷ diệt họ như đã huỷ diệt Át-ma và Xê-bô-im là hai thành vĩnh viễn bị huỷ diệt cùng một lượt với Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Phu 29:23 so sánh Sa 14:2,8)? Theo lý lẽ của con người thì dường như không có cách nào khác, nhưng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời chứ không phải là con người (so sánh Mac 10:25-27).
Phần cuối của câu 9 có nghĩa hoặc là “Ta sẽ không đến chống nghịch một thành phố” (xem lề bản NIV) hoặc là “Ta sẽ không đến trong cơn thạnh nộ” hoặc “với lửa hừng”.
Đoạn cuối của phần này là một lời hứa về sự giải cứu. Lời hứa này dùng lại những hình ảnh ví von đã dùng ở trên nhưng trong ý trái ngược. Đức Giê-hô-va sẽ như một con sư tử, không phải để huỷ diệt (so sánh Os 5:14) nhưng để truyền ra tín hiệu cho con cái của Ngài, dù đang bị tản lạc nơi nào cũng có thể quay về. Trước kia, Ngài mô tả họ như một con chim bồ câu dại dột, đập cánh liên hồi để cầu cứu Ai Cập và A-si-ri (7:11) và sắp rơi vào bẫy của Đức Chúa Trời. Ở đây họ tỏ ra sợ hãi, nhưng không dại dột nữa. Họ hăng hái bay về với Đức Giê-hô-va và quê nhà (10a,11b).
Lời tiên tri này là một lời làm chứng lạ lùng về ân điển của Đức Chúa Trời, có lẽ chỉ kém ân điển được bày tỏ qua những biến cố trong Phúc âm đôi chút: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban...” (Gi 3:16).
19. Minh hoạ và lên án sự gian dối của Y-sơ-ra-ên (Os 11:11-12:8)
Os 11:11. Khó lòng phân chia chương này thành phân đoạn vì các câu văn trong chương này đi liền với nhau và có nhiều mối tương quan với nhau. Chương này lên án nhiều tội đã được nêu ra trước kia. Tiên tri Ô-sê lặp lại nơi đây nhằm khiến chúng ta chú ý đến nguyên nhân khiến dân Y-sơ-ra-ên rơi vào tình cảnh khốn nạn này. Trong Os 11:12 chúng ta bắt gặp tội nói dối và gian trá (so sánh 4:2 7:1-3) và tình trạng này kéo dài đến 12:1a. Đặc biệt tiên tri nêu ra những trường hợp cụ thể về tội gian trá. Một thí dụ cụ thể nằm trong lịch sử đương đại: Y-sơ-ra-ên tìm cách liên minh với Ai Cập lẫn A-si-ri trong khi hai nước này thù nghịch nhau. Thí dụ thứ hai nằm trong thời xa xưa của dân Y-sơ-ra-ên: Ông Gia-cốp nắm gót anh mình ngay cả khi hai anh em chưa chào đời, như thể muốn thay thế anh mình và không cho anh mình hưởng những quyền lợi đáng lẽ thuộc về anh. Tên riêng Gia-cốp liên quan đến những từ có nghĩa là “theo sát gót” hoặc “thế chỗ” và có nghĩa bóng là “lừa gạt” (Sa 25:26 27:36). Mặc dù Đức Chúa Trời có báo trước với Rê-bê-ca rằng “đứa lớn sẽ phục vụ đứa nhỏ” (Sa 25:23), nhưng như vậy không có nghĩa là Gia-cốp (hoặc bà Rê-bê-ca) được phép lường gạt (so sánh ISa 16:6-13 24:1-22). Khi bé sơ sinh Gia-cốp nắm gót chân của anh mình lúc lọt lòng mẹ thì chẳng có gì đáng tội cả! Dầu vậy tiên tri Ô-sê dùng hình ảnh này để minh hoạ về thực trạng Gia-cốp/Y-sơ-ra-ên có tánh lừa phỉnh man trá ngay từ lúc bắt đầu cuộc sống.
Tuy nhiên, tiên tri Ô-sê chuyển ý nhắc lại việc Đức Chúa Trời đã làm đối với con người mưu mẹo này. Trong một lần vật lộn với “một người”, người này là đại diện của Đức Chúa Trời, ông Gia-cốp níu kéo người đó và không buông tay ra để cho người đó đi sau đó ông nhận được một tên riêng mới là Y-sơ-ra-ên, lẫn sự chúc phước của Đức Chúa Trời (Sa 32:24-29). Đức Chúa Trời cũng tìm gặp ông Gia-cốp ở Bê-tên (28:10-22) và ban cho ông một lời hứa đầy ân sủng mà ông hoàn toàn không đáng nhận. Ông Ô-sê kết luận rằng như vậy các ngươi cũng phải theo gương của ông Gia-cốp từ bỏ đường lối gian trá và trở về với Đức Chúa Trời các ngươi (6). Ông dùng từ các ngươi với ý lật ngược lời tiên tri về sự hình phạt gói ghém trong tên riêng của con trai ông là Lô-a-min, “không phải dân ta” (Os 1:9). Chú ý từ Đức Chúa Trời các ngươi cũng được dùng ở cuối câu Kinh Thánh này. Ông Ô-sê khuyến giục họ duy trì tình yêu thương (tức là lòng nhân từ 6:4,6) và sự công bình và luôn luôn trông đợi Đức Chúa Trời của họ. Nói cách khác họ phải tiếp tục tin cậy Đức Chúa Trời ngay cả khi dường như Ngài chậm cứu giúp.
Chúng ta thắc mắc về vai trò của Giu-đa trong 11:12-12:2. Với câu 2 dứt khoát họ được cột chung với Gia-cốp trong một lời tiên tri về sự hình phạt như vậy bản NIV chuyển ngữ có vẻ thoả đáng 11:12 nghĩa đen là “Giu-đa lưu lạc không ngơi nghỉ với Đức Chúa Trời”.
Câu 7-8 vẽ ra một hình ảnh hiếm thấy trong giới kinh doanh, Ép-ra-im được ví như một thương gia mưu mô quỷ quyệt gian lận bằng cách đong thiếu đo hụt. Ngụp lặn trong mớ của cải mình, Ép-ra-im cảm thấy thoả mãn và an toàn, không công nhận mình có tội lỗi nào cả. Tác giả mô tả thực tế là như vậy. Ông không giải thích hoặc nhận định việc đó sai quấy và nguy hiểm đến mức nào.
Os 12:1-8; xem giải nghĩa 11:11
20. Được đem ra khỏi Ai Cập để bị xét xử (Os 12:9-14)
Tiếp theo là một lời xét đoán (9). Mặc dù Đức Giê-hô-va đã là Đức Chúa Trời của họ tại xứ Ai Cập, nhân dân sẽ bị đem ra khỏi “đất hứa” của mình và đưa về sống trong lều trại trở lại. Mỗi năm họ thực hiện việc này trong dịp lễ lều tạm, là một trong các lễ mà Đức Chúa Trời đã lập ra (Le 23:42-44 Ne 8:14-17).
Đức Chúa Trời nhắc lại việc Ngài đã nhiều lần phán dạy họ bởi các tiên tri qua những điềm chiêm bao và ẩn dụ. Nổi bật nhất trong Cựu Ước là ẩn dụ của tiên tri Na-than (IISa 12:1-10 so sánh Cac 9:7-15 IIVua 14:9-10 Es 5:1-7 Exe 15-19,23). Từ được dùng ở đây có lẽ chỉ về các loại hình truyền thông từ Đức Chúa Trời đến các tiên tri.
Câu 11 là một câu khó hiểu nhưng rõ ràng câu này tiên tri về sự hình phạt trên Ghinh-ganh và Ga-la-át (phía đông sông Giô-đanh, tại địa điểm cũ của thành A-đam, Os 6:7-8), tác giả mô tả thành này là phù phiếm, vô giá trị. Thoạt đầu tác giả dùng mẹo chơi chữ khi đặt tên là Ghinh-ganh, “lăn đi xa - sự vi phạm của chúng tôi”, sau đó ông thay thế bằng một mẹo chơi chữ khác là gallim (nguyên ngữ Hi Bá Lai từ này cùng gốc rễ với từ Ghinh-ganh nhưng có nghĩa là những đống đá).
Câu 12 đột ngột đề cập trở lại chuyện Gia-cốp. Sau khi chiếm vị thế của anh Ê-sau và gặp Đức Chúa Trời tại Bê-tên. Ông tiếp tục hành trình đến nhà cậu La-ban ở Mê-sô-bô-ta-mi. Ông phục vụ cậu mình mười bốn năm để cưới hai người vợ là Lê-a và Ra-chên (Sa 27:41-29:30). Tiên tri Ô-sê khiến chúng ta chú ý vào công việc của Gia-cốp, chăn chiên (nghĩa đen từ này là “người giữ” và chúng ta suy ra là “giữ chiên”). Câu 13 có vẻ lạc lõng - Đức Giê-hô-va dùng Môi-se đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập và chăm sóc họ (nghĩa đen “giữ gìn”). Tác giả nhấn mạnh bằng cách lặp lại rằng việc này được thể hiện qua một tiên tri. Có thể câu này liên kết với câu trên bởi ý tưởng Gia-cốp chạy trốn đến một xứ xa lạ và buộc phải làm nghề chăn chiên để lấy được vợ, rồi Đức Giê-hô-va đem ông ra khỏi xứ xa lạ và dùng tiên tri riêng của Ngài (tiên tri Môi-se) để giữ gìn. Một lần nữa, đây là một thí dụ cụ thể về sự chăm sóc của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên. Nhưng câu 14 (lại) mô tả sự phản ứng vô ơn của dân Y-sơ-ra-ên khiến cho Đức Chúa Trời nổi giận. Vì vậy họ sẽ không được giải tội làm đổ máu (mặc dù như chúng ta biết, Đức Chúa Trời hằng mong mỏi thuyết phục họ từ bỏ tội đó để được tha thứ). Họ sẽ lãnh hậu quả về thái độ khinh miệt Đức Chúa Trời và lời kêu gọi đầy ân sủng của Ngài (so sánh He 10:29 12:25).
21. Những hình ảnh khác về sự hình phạt (Os 13:1-16)
Ép-ra-im là chi phái đông dân nhất trong số mười hai chi phái (hoặc mười ba vì Giô-sép là ông tổ của hai chi phái Ép-ra-im và Ma-na-se). Tên riêng Ép-ra-im cũng thường được dùng để chỉ về toàn bộ vương quốc miền bắc. Nhưng ở đây chắc chắc Ép-ra-im chỉ về một chi phái vì ở đây nói về Ép-ra-im trong Y-sơ-ra-ên. Thời trước Ép-ra-im có quyền hành và uy tín. Nhưng Ép-ra-im đã mất những điều đó vì cớ thờ hình tượng vì vậy Ép-ra-im chết mất Ép-ra-im có thể hoàn toàn bị quên lãng. Thay vì học tập từ những lỗi lầm của mình giờ đây họ càng phạm tội thêm nữa, đổ nhiều tiền bạc và tài năng vào việc chế tạo hình tượng (c.2a).
Câu 2b rất mù mờ nhưng có thể nghĩa là một mặt họ dâng con người làm của lễ, một mặt hôn tượng bò con đúc bằng kim khí - Một hành vi hoàn toàn bất nhân biểu thị một ý thức hệ hoàn toàn lầm lạc về các giá trị và không nhận biết giá trị trong công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời khi Ngài dựng nên con người theo hình ảnh của mình.
Hậu quả là họ sẽ chẳng là gì cả, như mây buổi sáng và giọt sương mai (y như “lòng nhân từ của họ” trong 6:4), như rơm rác bị gió lốc đùa khỏi sân đạp lúa, và như làn khói lan toả nơi cửa sổ (3).
Đức Giê-hô-va lặp lại sự kiện Ngài là Đức Chúa Trời của họ từ khi họ còn ở Ai Cập. Nội dung của câu 4 tương tự như điều răn thứ nhất cùng với lời dẫn nhập “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi Ê-díp-tô, là nhà nô lệ. Trước mặt Ta, ngươi chớ có các thần khác” (Xu 20:2,3). Mặt khác hình thức và từ ngữ thì khá khác biệt. Lẽ ra chúng ta nên chuyển ngữ là “Các ngươi không biết Đức Chúa Trời nào khác ngoài Ta. Không có Đấng cứu chuộc nào khác ngoài Ta”. Nói cách khác đây là một lời khẳng định thay vì một mệnh lệnh. Từ biết (bản NIV: công nhận) cũng được dùng trong câu 5. Trong câu đó bản NIV chuyển ngữ là chăm sóc nhưng chúng ta nên hiểu theo ý cơ bản là “biết”, công nhận rằng từ “biết” bao gồm nhiều hàm ý, đôi khi cũng hàm ý là công nhận. Một trong những mối quan tâm chính của tiên tri Ô-sê là mối tương quan giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên. Họ phải biết Ngài và Ngài phải biết họ một cách thân thiết như thể một cặp vợ chồng.
Câu 6 mô tả hậu quả đau thương của việc coi thường lời cảnh cáo trong Phu 8:11-14. Đáng tiếc là hiện nay các hậu quả đó đầy dẫy khắp nơi trên thế giới: vật chất dồi dào phát sinh lòng kiêu ngạo và vô ơn đối với ân sủng của Đức Chúa Trời dù là sau khi chính Chúa Giê-xu cảnh báo (Mac 10:21-25). Một lần nữa hình thức hình phạt được mô tả qua những vụ tấn công của thú dữ ở đây sư tử hợp lực với con beo, con gấu (tâm tính bất thường không ai lường trước được) như con gấu cái bị cướp mất con và thú rừng không xác định là loại nào (7,8).
Câu 9-12 nhấn mạnh những chủ đề đã bàn đến trước đây. Y-sơ-ra-ên bị tiêu diệt vì tội chống nghịch với Đấng đã cứu giúp họ, là Đấng duy nhất có thể cứu giúp trong thảm cảnh hiện tại (9). Đức Chúa Trời thách thức dân Y-sơ-ra-ên rằng Vua ngươi ở đâu? Các quan xét ngươi ở đâu? Trong thời của Sa-mu-ên nhân dân đã đòi lập vua để được giống như các dân tộc khác (ISa-mu-ên 8). Chuyện này cũng ngụ ý về sự đòi hỏi hoàng tử vì các vua đương nhiên có con trai (quá nhiều con trai đến nỗi gặp rắc rối: Cac 9:1-2 IIVua 10:1). Đức Chúa Trời ban cho họ điều họ cầu xin nhưng Ngài nổi giận đối với thái độ của họ. Thái độ này biểu thị tấm lòng không tin cậy Ngài và mong muốn được như các dân tộc láng giềng. Ngài ban cho họ vua dù Ngài biết rằng họ sẽ chịu khổ dưới sự cai trị của các vua đó rồi Ngài cất vua của họ đi vì Ngài nổi giận khi họ trắng trợn từ khước vua thật của họ.
Ép-ra-im sẽ không thể thoát khỏi sự hình phạt vì tội lỗi của họ vẫn còn đó không biến mất. Tội ác của Ép-ra-im đã được gặt về, bó lại , cất đi chờ đoán phạt. Câu 13 mô tả một hình ảnh khôi hài về Ép-ra-im tương tự như một bé trai chưa ra đời: đã đến lúc phải ra đời nhưng bé không chịu lọt lòng mẹ.
Câu 14 rất nổi tiếng vì ông Phao-lô trích phần thứ hai trong ICo 15:55 dưới hình thức một câu hỏi. Ông Phao-lô dùng một bản dịch khác nhưng cùng một ý với bản văn của chúng ta: Các tai hoạ của âm phủ ở đâu (tức là những tai hoạ dẫn đến cái chết và đẩy người ta xuống âm phủ, là nơi người chết cư trú)? Sự huỷ hoại của sự chết ở đâu? - Chẳng ở đâu cả, tất cả đều đã bị xử lý vì Đấng Cứu Thế đã đại thắng trên thập tự giá. Nhưng văn cảnh ở đây có ý khác. Toàn bộ chương 13 là lời tiên tri về sự hình phạt vì vậy quả là lạc lõng khi bất chợt xuất hiện một lời hứa về sự cứu rỗi, nhất là tiếp liền theo ý Ta sẽ không thương xót. Như vậy có thể lắm chúng ta nên chuyển ngữ câu14a thành hai câu hỏi như sau “Ta có nên cứu... Ta có nên chuộc...?”. Tiếp liền là lời kêu gọi sự chết hãy đến mà hình phạt dân Y-sơ-ra-ên bằng tai hoạ. Cũng có thể hiểu câu 14a này theo hướng khác tức là Đức Chúa Trời muốn giải cứu nhưng dân Y-sơ-ra-ên tỏ ý khinh thường do đó họ không thể nhận lòng thương xót mà đành rước tai hoạ và sự huỷ diệt. Hai từ cứu chuộc và giải cứu dùng để chỉ về việc chuộc người ta ra khỏi cảnh nô lệ (thí dụ Xu 13:13-15 Dan 18:15-17 Ru 4:4-6).
Phần cuối của chương này, lời tiên tri cuối cùng của Ô-sê về sự hình phạt dùng hình ảnh về ngọn gió nóng từ sa mạc thổi từ phương đông làm khô cạn mọi nguồn nước, ngay cả nước suối và nước giếng. Ngọn gió này sẽ cướp phá kho thực phẩm của Y-sơ-ra-ên. Tác giả dùng một hình ảnh trong lãnh vực quân sự để mô tả ngọn núi này: Cây cỏ không mọc ngoài đồng nên người ta sẽ dùng cả thực phẩm dự trữ. Câu 16 mô tả cảnh tượng kinh khiếp chung cuộc của chiến tranh: Khi một dân tộc quyết tâm tự bứt mình khỏi sự bảo vệ của Đức Chúa Trời và không chịu quay trở lại với Ngài thì sẽ rơi vào tình trạng tương tự.
22. Lời kêu gọi ăn năn và một lời hứa chúc phước (Os 14:1-9)
(Os 14:1-3) Lời kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên trở về công nhận chỉ một mình Đức Chúa Trời mà thôi Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trở về cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: Thoạt nhìn, câu này có vẻ như là một câu kêu gọi bình thường nhưng chú ý từ Đức Chúa Trời ngươi, từ này gói ghém một lời hứa. Nguyên nhân khiến họ sụp đổ là tội lỗi của họ. Vì vậy, giờ đây tiên tri khuyên họ hãy cầu nguyện một cách cụ thể và tuyên bố một cách rõ ràng và họ trông cậy nơi một mình Đức Chúa Trời mà thôi. Ý này tương tự với lời tuyên bố về lòng tin cậy mà Đức Chúa Trời đang đợi chờ trong Os 6:1-3, nhưng ở đây có lời xưng nhận rõ ràng hơn, cụ thể hơn về tội lỗi của họ. Họ phải nhờ cậy hoàn toàn vào lòng thương xót của Đức Chúa Trời, quyết tâm ca ngợi Ngài (Chúng tôi sẽ dâng lời ngợi khen ở môi chúng tôi). Họ chấm dứt lòng tin cậy nơi hai đối tượng sai lầm: A-si-ri (thế lực quân sự) và các hình tượng. Họ xưng nhận rằng chỉ một mình Đức Chúa Trời có lòng thương xót đối với người yếu đuối và vô phương tự vệ.
(Os 14:4-8) Dân Y-sơ-ra-ên được phục hồi: Một lời hứa đầy ân sủng của Đức Chúa Trời Trong 6:4-6 Đức Chúa Trời tỏ ý không tin tưởng nơi sự quyết định của dân Y-sơ-ra-ên về việc tìm kiếm Ngài. Ở đây Ngài đáp ứng với một lời hứa phong phú. Ngọn gió sa mạc trong 13:15 không còn nữa và Y-sơ-ra-ên được mô tả không khác gì một vườn Ê-đen dồi dào đồ ăn thức uống cùng với những yếu tố phồn vinh phú quí: Hoa rực rỡ, cây Ô-li-ve (như vậy là có dầu Ô-li-ve), cây tùng (loại cây to lớn ở Li-ban) toả hương thơm phủ bóng rợp dưới ánh nắng chói chang. Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên hùng cường, an ổn và nổi danh.
Thật là một lời hứa kỳ diệu và cũng là một đỉnh cao tuyệt vời của sách. Trong thế kỷ thứ VIII T.C. dân Y-sơ-ra-ên đã để vuột mất những phước hạnh này nhưng lời hứa vẫn còn đó và đã được thành tựu cho nhiều người Y-sơ-ra-ên khi họ liên hiệp với Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem rồi cũng thành tựu cho vô số người đã liên hiệp với Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu Cứu Thế.
(Os 14:9) Một câu kết luận dưới dạng văn chương khôn ngoan Câu nói văn chương khôn ngoan này đứng lẻ loi nhưng tương tự như những câu khác trong sách Châm ngôn và trong những tác phẩm văn chương khôn ngoan khác. Ở đây chúng ta dễ dàng mường tượng cảnh một người biên tập (được hà hơi) cầm bút thêm một lời kết vào cuối sách tiên tri của ông Ô-sê, một lời kêu gọi đọc và học tập từ sách này “Ai có tai nên nghe” (Mat 11:15). Như vậy, sách này thích hợp cho bất cứ người nào chịu đọc kể cả chúng ta. Lối sống duy nhất là sống theo đường lối Đức Chúa Trời.