THI-THIÊN (101-150)

MỤC LỤC

THI THIÊN TỪ ĐOẠN 100 ĐẾN ĐOẠN 150

97. VUA: MỘT TẤM GƯƠNG PHẢN ÁNH SỰ THẬT (Thi 101:1-8)

Chắc hẳn phát ngôn nhân là chính vua trong khi ngẫm nghĩ về địa vị tối cao của mình, vì nào có ai khác có thể làm công việc loại trừ kẻ ác khỏi xứ (8)?  Thi thiên gồm bảy khổ thơ: trong ba khổ thơ đầu (1-2b,2c-3b,3c-4) vua xác định chuẩn mực màvua đeo đuổi cho chính mình trong ba khổ tiếp theo (5,6,7) vua xác định chuẩn mực mà vua sẽ đẩy mạnh ở triều đình và trong khổ thơ cuối (8) vua nói đến nhiệm vụ của mình trong tư cách quan toà tối cao.

(Thi 101:1-4)  Cam kết về chính mình  Ba khổ thơ này nói về đời sống của vua với Đức Chúa Trời, trong gia đình và đời sống thánh khiết riêng cá nhân vua. 1 Đặc tánh của Đức Chúa Trời là tình yêu thương, không thay đổi, trung thành và công bình tức là sự khôn ngoan thật cho phép luôn luôn có những quyết định đúng, chính xác.  Vua ca ngợi những đặc tánh này trong tư cách một người yêu mến Ngài.  2  Đi theo con đường toàn hảo, một lối sống bày tỏ sự chân thật hoàn toàn.  Bao giờ Chúa mới đến thăm con?  Vua tỏ ý mong đợi Đức Chúa Trời đến ủng hộ, làm bạn.  Trong sinh hoạt gia đình ở đây nhắc đến trước tiên cảnh gia đình là nơi vua bộc lộ tấm lòng chân thật (lòng trọn vẹn mà ăn ở).  3  Mắt.  Cơ quan dẫn đến sự thèm muốn, ưa thích và nhắm đến.  Vua cam kết rằng, trong gia đình, cảm xúc của mình cùng với các mục tiêu đều hoàn thiện không trách vào đâu được.  Đê mạt có lẽ tổng hợp những mục tiêu không xứng đáng và có tính cách phá hoại, khi thực hiện được sẽ gây đổ vỡ hư hỏng.  Công việc của kẻ bất trung có lẽ nghiêng hẳn về phía nghĩa đen là: ‘những hành động có tính cách lệch lạc suy đồi.  Vua nhắm đến sự thánh khiết cao độ.  4  Cũng cần áp dụng chuẩn mực đó cho tấm lòng (không phải người có lòng gian tà mà người có lòng quanh co lươn lẹo) và tâm trí (chẳng biết nghĩa đen là không công nhận, không chấp nhận).

(Thi 101:5-7)  Chuẩn mực tại toà Bối cảnh được phác hoạ bởi những cụm từ ở chung với tôi.  Nhà (c.7 so sánh c.2) là triều đình, tại đó dưới sự điều khiển của vua, người điều động tối cao, những người khác thực hiện công tác phục vụ vua.  (i)  Tiêu cực (5,7):  Vua loại trừ người nhiều tham vọng ích kỷ, sẵn sàng hại người khác bằng lời nói hành nói xấu, người tự cao tự đại, người không trung tín và người làm sứt mẻ méo mó sự thật.  (ii)  Tích cực (6) vua muốn dùng người trung tín, nghĩa là vua có thể tin cậy nơi những người này, là người cũng như vua, đi theo con đường trọn vẹn.

(Thi 101:8)  Hành xử luật pháp quần chúng  Bối cảnh giờ đây là xứ và thành, vua là Thẩm phán Tối cao, chịu trách nhiệm về các chuẩn mực đạo đức của dân chớ không riêng gì ‘việc hình phạt kẻ ác’.  Vua hứa với Đức Chúa Trời là sẽ trung tín xử lý công việc của Đức Chúa Trời trong dân.  Mỗi sáng.  Ưu tiên số một, một Môi-se (Xu 18:13).  Diệt trừ kẻ ác, không miễn trừ ai, kể cả trong hàng ngũ các quan cao cấp của triều đình.  Một điều luật có giá trị chung tại triều đình cũng như ở chợ búa.

Chúng ta không thể bỏ qua những bài học hùng hồn trong thi thiên này.  Thi Thiên này đối đáp với chủ trương thường nghe là miễn sao công chức thi hành công vụ đạt là tốt rồi còn nếp sống trong gia đình là chuyện riêng của họ.  Nhưng Đa-vít chủ trương khác hẳn:  nhiệm vụ của vua bắt đầu từ chính con người của vua, gia đình và nếp sống của vua.  Nếu ông không phải là người đáng tin cậy trong đời tư thì có gì đảm bảo là ông sẽ chân thật trung chánh trong công vụ.  Nhưng dù Đa-vít có thật sự chủ trương như vậy, trong thực tế ông tẻ tách quá xa các chuẩn mực mà ông đeo đuổi!  Gia đình ông là nơi xảy ra những vụ sụp đổ thê thảm nhất mà cặp mắt ông là nguyên nhân (IISa 11:2).  Công lý đã bị những lạm đến độ trở nên cánh cửa rộng mở cho làn sóng bất mãn của nhân dân tràn vào trong cuộc nổi loạn lịch sử (15:1-6).  Kết quả là, cũng như tất cả những thi thiên có dính dáng tới chủ đề vua, thi thiên xây dựng một lý tưởng, lý tưởng này lại vạch ra những điểm bất toàn của Đa-vít và các vua kế vị, như vậy thi thiên này là nỗi niềm mong mỏi vị Đa-vít toàn hảo mau đến.

98. ĐIỀU THỈNH NGUYỆN BỊ TỪ CHỐI, LỜI CẦU NGUYỆN ĐƯỢC THỈNH CẦU (Thi 102:1-28)

Chẳng bao giờ có chuyện cầu nguyện mà không nhận được sự trả lời.  Đôi khi câu trả lời ngắn gọn đơn giản là ‘Không’, vì theo sự khôn ngoan toàn hảo của Đức Chúa Trời, điều chúng ta xin xem ra hết sức là vô lý.  Đôi khi Chúa trả lời là ‘Chưa’, vì chúng ta và Đức Chúa Trời không có cùng một thời gian biểu.  Giá mà Ê-li được phép biết thì ông sẽ biết rằng khi ông cầu chết (IVua 19:4) thì ở thiên đàng Đức Chúa Trời tiếp nhận lời cầu chết đó với nụ cười và câu trả lời ‘Đừng dại dột như vậy!  con sẽ chẳng bao giờ chết đâu!’  Thi Thiên này nằm trong hướng nghĩ đó.  Khi tác giả xin được sống trên đất để tận mắt thấy những điều ông mong mỏi thì câu trả lời là ‘Không’ (23-24) còn khi ông tin rằng đã đến lúc nhận được điều ông xin (13) thì câu trả lời là ‘Chưa’ còn đối với những điều ông xin cho Si-ôn thì câu trả lời là ‘Sao ngớ ngẩn vậy!  Cứ chờ xem rồi sẽ rõ!’.

Chúng ta không rõ tác giả là ai, sống vào thời nào.  Nhiều nhà giải kinh cho rằng từ đá Si-ôn và bụi đất (14) mô tả tình trạng của Giê-ru-sa-lem sau khi bị Ba-bi-lôn tàn phá, căn cứ vào đó họ cho rằng thi thiên thành hình trong thời kỳ bị lưu đày.  Nhưng chúng ta biết rằng người bị lưu đày ở Ba-bi-lôn không phải là tù nhân, họ không bị án tử hình (21), trái lại điều kiện sống ở đó cũng khá dễ chịu (Gie 29:1-32)  cho nên về sau khi được phép hồi hương, chỉ có một thiểu số nhỏ quyết định hồi hương (Exo 1:1-11).  Vì vậy chủ trương tác giả là một trong những người ở trong chốn lưu đày là không vững, còn chủ trương ông sống vào một thời điểm khác trước đó, có một biến cố khiến cho thành bị đập phá và đồng bào bị bắt đem đi giam cầm hoặc nô lệ vô hạn định.  Dầu sao đi nữa, khi đối diện với cái chết mà ông tin là chưa tới lúc (23-24), trong lòng mong mỏi được nhìn thấy Si-ôn được phục hồi với đầy đủ nguy nga tráng lệ như xưa để làm trung tâm của thế giới (12-22), ông dâng lên lời cầu nguyện tha thiết này.  Ông đúng là người được đề cập đến trong tiêu đề, bị gian nan cực lòng (bị giày đạp, hạ nhục, 6-8), ngất xỉu vì mất sức, nhưng ông biết Đức Chúa Trời, biết rằng ông chỉ có thể trình bày nỗi buồn thảm của mình với Ngài.

Câu 1-2, phần mở đầu là lời kêu xin Đức Chúa Trời nghe tiếp đến là một bài thơ về chính mình với chủ đề nằm trong hai câu 3 và 11, là hai câu đóng khung bài thơ (các ngày của tôi).  Chú ý đến cấu trúc các phân đoạn của bài thơ tụ hội quanh một tâm điểm: câu 3,11 sức sống giảm sút nhanh chóng câu 4-5,9-10 (liên hệ với nhau qua vấn đề thực phẩm) mô tả tác giả không còn tha thiết với sự sống (4-5) vì cớ cơn giận của Đức Chúa Trời (9-10) tâm điểm (6-8) nhấn mạnh tình cảnh cô đớn, cả đêm lẫn ngày, và tình trạng cô lập ở giữa kẻ thù.  Tác giả không xưng nhận tội lỗi nào cả, trái lại ông ngụ ý là ông bị mắc vướng trong cơn thạnh nộ dữ dội của Đức Chúa Trời mà không hiểu vì sao, từ địa vị được ưu ái khi trước (Chúa có nâng tôi lên cao) nay rơi vào cảnh nhục nhã (rồi quăng tôi xuống thấp).

Trong bài thơ chính của thi thiên (12-22) tác giả viết về sự vĩ đại và sự vinh hiển trong những mục đích của Ngài.  Đây cũng là một bài thơ tụ hội quanh một tâm điểm: mở đầu với sự kiện Đức Chúa Trời hằng có mãi mãi (12) kết thúc với sự kiện muôn dân thờ phượng Đức Chúa Trời (22) câu 13,21 tập trung vào Si-ôn, thành của sự ưu ái và là thành vinh hiển sắp tới của Ngài câu 14, 20 viết về vấn đề thương xót.  Các tôi tớ của Ngài hoạt động với lòng quan tâm giới hạn trong tình trạng hoang phế của Si-ôn nhưng lòng thương xót của Đức Chúa Trời bao gồm cả những người khốn cùng trên đất: rồi đây toàn thế giới sẽ kính sợ Ngài (15) do Ngài quan tâm đến nhu cầu của toàn thế giới câu 16, 18 xác định là Đức Chúa Trời sẽ xây dựng Si-ôn, chính mình Ngài sẽ ngự tại Si-ôn trong vinh hiển và Ngài sẽ lập một dân tộc để ca ngợi Ngài, còn tâm điểm là câu 17 xem tất cả sự vinh hiển này là câu trả lời cho sự cầu nguyện.

Đức Chúa Trời hoàn thành những mục đích tốt nhất và chính xác nhất cho dân của mình vì cớ những lời cầu nguyện của họ.  Sắc thái đặc thù của thi thiên (thí dụ Thi 74:1-11,12-17) là chuyển hướng nhanh chóng từ nhu cầu của con người (3-11) qua vinh hiển của Đức Chúa Trời (12-22).  Xưa kia cũng như ngày nay, cách xử lý sức ép nặng nề trong cuộc đời là ‘nhìn xem Chúa Giê-xu’ để chúng ta được tươi mới trong khải tượng về Đức Chúa Trời (12-22), về những ý định của Ngài (13-16,18-21) về quyền năng và vị trí của lời cầu nguyện (17).

Nhưng về một phương diện tác giả thi thiên cũng làm phát ngôn nhân cho chúng ta: ông cảm thấy thời gian trù định cho đời sống của ông bị cắt xén bớt, ông bị tước mất sự sống trước hạn định, nghĩa đen câu 23: ‘Ngài đã làm sức lực tôi ra yếu giữa đường, khiến các ngày tôi ra vắn’.  Tôi đang sung sức đi trong đường đời thế mà Đức Chúa Trời làm cho tôi ra yếu đuối.  Trong cảnh ngộ này ông cầu nguyện (24, nghĩa đen):  ‘Xin đừng đem tôi lên’ (so sánh IIVua 2:1,11).  Sự sống của Đức Chúa Trời khác xa biết bao.  Đức Chúa Trời là Đấng hiện hữu từ đời đời, còn mãi mãi đời đời.  Có thể nào Ngài cảm nhận được sự xót xa trong chúng ta khi tính cách ngắn ngủi của cuộc đời đâm xoáy vào chúng ta khiến chúng ta cảm nhận như Môi-se (Phu 3:23,24) rằng chúng ta vẫn chỉ chèo chống ở nơi nông cạn trong chương trình của Đức Chúa Trời với tấm lòng mong mỏi đến đích khi chung kết đời?

Dĩ nhiên, tác giả tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ trung thành với các mục đích của Ngài, và đến lúc chung kết (28) con cháu bầy tôi Chúa sẽ tồn tại, dòng dõi họ sẽ được vững lập trước mặt Ngài.  Đức Chúa Trời đời đời vẫn mãi mãi là Đức Chúa Trời đời đời (27)

Nhưng còn tôi thì sao?  Ở điểm này Đức Chúa Trời đời đời mỉm cười và nói:  ‘Đừng dại dột như vậy!  con chưa biết đấy thôi!’  Vì trong khi nản lòng người tôi tớ của Ngài đã trình thưa với Ngài bằng những lời lẽ mà ông không ngờ - chính Ngài phán với Con của Ngài (He 1:10-12) trong khi Đức Chúa Trời và Con Ngài trù liệu một chương trình chung kết vô cùng kỳ diệu vượt quá tầm mong ước của tác giả: sự yếu đuối, sự đau khổ, sự thù nghịch mà tác giả đã chịu đựng - ngay cả cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời - sẽ được giải quyết khi Con Ngài mang lấy hình hài xác thịt của chúng ta rồi thiết lập vương quốc không hề bị lay chuyển, cùng Si-ôn thật ở thiên đàng (2:9-18  4:15  5:7-8  9:11-14  12:22-24,26-27).  Đến khi tác giả thi thiên hiểu ra kinh nghiệm của mình và lời lẽ cầu nguyện của mình qua cuộc đời và việc làm của Con Đức Chúa Trời, há ông không vui mừng trước sự kiện Đức Chúa Trời từ khước không cho điều ông xin nhưng đã nghe lời cầu nguyện của ông sao?

99. “ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA NGƯƠI LÀ VUA, CHO NGƯƠI CẦM QUYỀN CAI TRỊ” (Thi 103:1-22)

Thi thiên này đặc biệt nhấn mạnh sự chăm sóc của Đức Chúa Trời như một người cha và quyền cai trị tối cao đời đời của Ngài.  Cả hai phương diện đi với nhau, quyện vào nhau.  Các câu chính (6-18), được đóng khung trong sự công nghĩa của Đức Chúa Trời với nhiều thuộc tính như ân sủng, thương xót, nhịn nhục, nhẫn nại, tha thứ, Đức Chúa Trời là cha, và trên hết là lòng yêu thương - tình yêu thương bộc lộ ý Ngài cam kết và lòng thành tín không bao giờ đổi thay của Ngài đối với chúng ta.  Thi thiên mở đầu với (1-5) lời tự nhủ, tự chứng:  các thuộc tính trong khía cạnh ân sủng đã tác động như thế nào trong đời sống của tôi phần kết hài hoà (19-22) như đóng ngoặc đơn cho thi thiên về tâm tư của một cá nhân, nhưng mục đích của thi thiên là đưa chúng ta lên cao, phóng tầm nhìn từ điểm cao để ôn lại tất cả những việc trong thực tế, trên phương diện thuộc linh hoặc thuộc thể, và thờ phượng Đức Chúa Trời độc nhất là vua đời đời.

(Thi 103:1-18)  Phước lành của Đức Chúa Trời cho nhân  1,2 Khi Đức Chúa Trời ‘chúc phước’ cho chúng ta, Ngài duyệt qua những nhu cầu của chúng ta  và đáp ứng những nhu cầu đó khi chúng ta ‘chúc tụng’ Đức Chúa Trời chúng ta ôn lại những điểm ưu việt của Ngài và chúng ta đáp ứng đối với những điều đó.  Danh thánh.  Chúng ta ‘chúc tụng’ chính mình Đức Chúa Trời trước khi chúng ta ôn lại những phước lành của Ngài.  Mọi hành động của Ngài đều nảy sinh từ danh của Ngài (Ngài là ai) và Ngài là như thế nào (thánh khiết):  Ngài không bao giờ hành động ngoài phạm vi Ngài đã chỉ thị hoặc ngoài tư cách Ngài là Đức Chúa Trời thánh khiết.  Các ân huệ, đúng ra là ‘những việc làm cần thiết’ - động từ liên quan trong câu 10 (báo trả) có nghĩa là ‘hành động đầy đủ’.  3  Tha thứ và chữa lành, dầu vậy, như lời Kinh Thánh thận trọng làm sáng tỏ, không phải là song song: trong IISa 12:13-23, sự tha thứ là việc xảy ra tức khắc, còn chữa lành thì chưa, tội lỗi và bịnh tật đều chất lên Chúa Giê-xu (Mat 8:16,17) nhưng hiện nay trong đời này, dù chúng ta đã được tha tội nhưng chúng ta vẫn phải chịu tai hoạ của tội lỗi, thì cũng vậy, bịnh tật vẫn là phần của chúng ta theo ý chỉ tối cao của Ngài cho đến khi, ở thiên đàng, mọi thứ tật nguyền ốm đau, cũng như tất cả những việc lầm lỡ sai quấy trong phần đạo đức đều biến mất.  4  Cứu chuộc, những hành động của người bà con gần nhất trong tinh thần xem tất cả những nhu cầu của chúng ta như của mình.  Hầm hố (chốn diệt vong, hư nát) không những nói ví về những nguy cơ bị diệt vong trong cuộc đời hiện tai mà cũng nói về nguy cơ diệt vong trong đời sau (so sánh Thi 49:7-9,13-15).  Sự nhân từ và sự thương xót.  Nhân từ là yêu thương điều động bởi ý chí, tình yêu thương với sự cam kết dấn thân, không chao đảo đổi dời thương xót là yêu thương với con tim, sôi nổi đầy xúc cảm.  5  Chim phụng hoàng, hình ảnh về sức mạnh sôi trào, dẻo dai (Es 40:30).  6-18  Bài thơ này có tâm điểm là câu 11.  Câu này xác quyết về tình yêu thương lớn lao, bao la không hề thay đổi (chữ lớn lao được dịch là dâng ngập, phủ lút trong Sa 7:24).  Các câu thơ liên hoàn hài hoà từng bước một tập trung vào tâm điểm: (i) Câu 6 và 17-18 xác định sự công nghĩa của Đức Chúa Trời tức là Ngài quyết tâm làm theo bản tánh công bình của mình để đeo đuổi những mục đích của mình: không bao giờ vì lòng yêu thương mà Ngài phải điều chỉnh lại chuẩn mực thánh khiết của mình hoặc hạ thấp các chuẩn mực khác.  Tất cả các hành động của Ngài đều có dấu ấn của sự công nghĩa của Ngài.  Theo như loài người nhìn thấy thì dường như có lắm điều sai trật không được sửa sai và lắm trường hợp bị hà hiếp, áp bức vẫn không được giải cứu:  câu 6 nói rằng Đức Chúa Trời bảo đảm một sự thể khác (18:25) và với lòng yêu thương của Ngài, Đức Chúa Trời bảo đảm là đối với những người vâng phục sống theo giao ước của Ngài (17-18) lẽ phải sẽ chiếm ưu thế (ii) Câu 7-8 và 14-16 xác định thế quân bình giữa những điều Đức Chúa Trời biết và những điều Ngài bày tỏ cho chúng ta biết.  Chúng ta có thể tin chắc nội dung của câu 6 là đúng vì cớ những điều mà Ngài tự khải thị cho Môi-se, tức là (so sánh Xu 34:6) Ngài xúc động vì cớ chúng ta (thương xót) tiếp cứu chúng ta dù chúng ta không xứng đáng (hay làm ơn) kiềm chế cơn thịnh nộ công bình của Ngài (chậm) và Ngài luôn luôn có dư dật lòng nhân từ, tình yêu thương không hề thay đổi.  Ngài tự khải thị như vậy vì Ngài biết chúng ta (14-16) mỏng manh và chóng qua.  (iii)  Câu 9-10 và 12-13 là mặt tiêu cực và mặt tích cực trong cách Đức Chúa Trời xử lý tội lỗi của chúng ta.  10 Tội lỗi, những sai quấy cụ thể gian ác, tính cách băng hoại nơi bản tánh của chúng ta.  12  Vi phạm, cố tình chống lại ý muốn của Đức Chúa Trời mà chúng ta đã rõ.  Câu 9 cho thấy Đức Chúa Trời là quan toà (bắt tội là một động từ trong từ ngữ của toà án) là một hình thức tương quan ngắn hạn giữa Ngài với chúng ta, trong khi câu 13 mô tả mối tương quan lâu dài của Ngài đối với chúng ta: tương quan cha-con.  Đây là câu Kinh Thánh duy nhất đặc biệt dùng từ cha với động từ thương xót (so sánh với Es 49:15 mẹ -yêu thương và IVua 3:26, xúc cảm mãnh liệt).

(Thi 103:19-22)  Ngôi đời đời của Đức Chúa Trời  Đáp ứng thế nào cho xứng hợp, phải lẽ đối với Đấng cai trị mọi sự?  Toàn cõi trời đất vũ trụ và các thiên sứ đều đồng thanh nhận rằng: ‘Chúng tôi làm điều Ngài muốn’ - lịnh của Ngài và ý chỉ của Ngài.  Còn tôi thì sao?  Nếu thật sự tôi hưởng ứng những điều tốt lành nơi Đức Chúa Trời như trong câu 1-5, thì há tôi chẳng tuân theo lời phán của Ngài sao?

100. BÀI CỦA THẾ GIỚI THỌ TẠO (Thi 104:1-35)

Giọng điệu trang nghiêm của câu hát ‘Ca ngợi Đức Chúa Trời Tối Cao, là vua trên mọi vật thọ tạo’, cùng với niềm hân hoan vui mừng của câu hát ‘mọi vật mọi loài thọ tạo của Đức Chúa Trời và vua’ nắm bắt khá đầy đủ mối liên hệ giữa Sa 1:1-31 và Thi 104:1-35.

Thi Thiên chuyển sự thật về công cuộc sáng tạo thành bài ca, những lý thuyết về môi trường thành lời tán tụng đầy kinh ngạc.  Trật tự ý tưởng trong thi thiên đi theo trật tự trong Sa 1:1-31, cho nên chúng ta có thể mường tượng thấy thi sĩ trầm ngâm nghĩ về lời tuyên bố trọng đại của Đấng Sáng Tạo, về công trình sáng tạo của Ngài rồi thả bút theo trí tưởng tượng của mình.

Giữa hai chương Kinh Thánh này có cấu trúc đại cương tương tự.  Thi thiên mở đầu với phần dẫn nhập, lời ca ngợi kêu gọi bản thân ca ngơi và tôn thờ Đức Chúa Trời (1) và kết thúc với lời ca ngợi và tôn thờ của bản thân tác giả (31-35).  Thân bài thi thiên triển khai theo trật tự của Sa 1:1-31.  So sánh c.2 với 1:3-5, c.3-4 với 1:6-8, c..5-13 với 1:9-10, c.14-18 với 1:11-13, c.19-24 với 1:14-19, c.25-26 với 1:20-28, c.27-30 với 1:29-31.

Trong cách thức thi thiên này triển khai chủ đề có một nét đặc thù là sự đan xen bất ngờ giữa đại danh từ ngôi thứ hai số ít ‘Chúa’, ‘Ngài’: câu 1,6-9,13b,20,24-30 và đại danh từ ngôi thứ ba số ít: câu 2-4,10-13a,14-19,31-35.  Hầu hết, khi chuyển phân đoạn thì có đổi ngôi nhưng không đi theo một qui ước nhất định nào.  cũng không có bằng cớ nào chứng tỏ đây là một bài ca theo thể đối đáp.  Điều có thể kết luận ở đây là cả hai đại danh từ này đều chỉ về Đấng Tạo Hoá, tác giả quan sát Ngài trong công trình sáng tạo và bản thân tác giả cũng nhận biết Ngài.

Còn một điểm đáng chú ý nữa là (dù không dễ diễn đạt khi chuyển ngữ) đôi khi nguyên ngữ Hi Bá Lai dùng động từ trong thì ‘hoàn thành’ (việc ổn định, việc cố định), đôi khi thì dùng ‘chưa hoàn thành’ (việc thường xuyên, lặp lại) hoặc động tính từ (sự việc có tính cách không thay đổi).  Thì ‘hoàn thành’ diễn tả sự vĩ đại trường tồn và sự uy nghi của Đức Chúa Trời công trình sáng tạo đã hoàn tất trong lịch sử, và hình thức cố định cùng các giới hạn và sự khôn ngoan biểu thị qua công trình sáng tạo.  Các động tính từ diễn tả tính cách cố định:  công trình sáng tạo làm chứng về Đấng Tạo Hoá Ngài chăm sóc và cung cấp thường xuyên, không đổi thay.  Còn những thì ‘chưa hoàn thành’ dùng để mô tả những việc làm lặp đi lặp lại của Đức Chúa Trời trong công tác thoả đáng nhu cầu trên địa cầu, những việc biến đổi, những sự cung ứng, đổi mới cùng thu hồi sự sống và thỉnh thoảng Ngài sờ địa cầu, kiểm soát năng lực của địa cầu.

(Thi 104:1-9)  Đấng Tạo Hoá công trình sáng tạo: siêu việt, nội tại, chế ngự  1  Ca ngơi (Thi 103:1).  Thật lớn lạ kỳ...   Đấng Tạo Hoá có sự vĩ đại siêu việt.  Sang trọng và uy nghi, sang trọng có tính cách ‘nội tại’ uy nghi có thể quan sát nhìn thấy từ bên ngoài. 2-4  Cái áo, xiêm y thường được dùng để nói ví về tâm tánh và sự cam kết dấn thân.  Cái áo bằng ánh sáng là vì Ngài là ánh sáng (IGi 1:5) và là Đấng ban ánh sáng (Sa 1:3  IICo 4:6).  Nhưng ngoài ra, qua hình ảnh Đấng Tạo Hoá bao phủ trong ánh sáng thi thiên chuyển từ tính cách ưu việt qua tính cách nội tại của Ngài.  Ngài không ở một nơi xa xăm cách biệt khỏi công trình sáng tạo của mình (thần luận thuyết) cũng không thể đồng hoá Ngài với thế giới thọ tạo (phiếm thần thuyết) nhưng Ngài ngự trong thế giới thọ tạo.  Bầu trời là màn căng trại của Ngài (2) nước trên khoảng không (Sa 1:7) là nền của lâu đài (3, Bản Diễn ý) vươn lên cao vút vượt khỏi tầm nhìn của chúng ta.  Nhưng Ngài cũng là Đấng cỡi mây ở trên chúng ta và hiện diện chung quanh chúng ta trong luồng gió (3).  Hơn nữa, những năng lực vô hình của thế giới thọ tạo, kể cả những năng lực hữu hình, dù là lửa toát ra hơi ấm hoặc đốt cháy, đều lo thực hiện đầy đủ ý muốn của Ngài.  5-9  Áp dụng cho hình ảnh ở trên về Đấng Tạo Hoá trong mối liên hệ với công trình sáng tạo Ngài thiết lập tính an toàn, ấn định những điều kiện (Sa 1:2) của thế giới thọ tạo, và dùng lời phán mà truyền cho thế giới thọ tạo nhận lấy hình dạng vĩnh viễn mà Ngài đã thiết kế trước.

(Thi 104:10-23)  Đấng Tạo Hoá công trình sáng tạoCông trình sáng tạo được thiết kế để duy trì sự sống  10-13  (được đóng khung giữa hai động từ, khiến các suối phun ra...  tưới)  ý nói rằng bởi việc làm của Đấng Tạo Hoá, thế giới thọ tạo cung ứng nước dùng cho sự sống.  13-18 Sự sinh trưởng duy trì sự sống, và những vật tăng trưởng, cũng như hình dạng vóc dáng của mọi vật trong địa cầu, vũ trụ bảo toàn sự sống.  Hơn nữa, sự kiện ngày và đêm kế tiếp nhau, xen kẻ nhau cho phép loài người và loài thú sống bên nhau (19-23).  Công trình sáng tạo là một guồng máy tinh tế thích dụng trong việc bảo trì sự sống và cho phép một cuộc sống vui tươi - và tất cả mọi việc này đều nhờ Đấng Tạo Hoá đích thân sáng tạo ra sông suối, nước, khiến cây cỏ lớn lên.

(Thi 104:24-30)  Đấng Tạo Hoá công trình sáng tạoĐấng Tạo Hoá Chúa của sự sống, sự chết sự đổi mới  Thế giới thọ tạo thật sự sôi sục với sinh hoạt của những vi sinh nhỏ nhất trong đại dương đến những quái vật khổng lồ không bút mực nào tả xiết, tức là Lê-vi-a-than (Giop 40:20tt) và sự ồn ào hối hả liên tục của loài người.  Dầu vậy (dù thế giới thọ tạo có nhận biết hay không) tất cả đều lệ thuộc vào sự cung ứng của Đấng Tạo Hoá, chỉ có thể tồn tại dựa vào những điều Ngài ban cho, thậm chí giờ chết cũng hoàn toàn thuộc quyền quyết định tối cao của Ngài.  Còn chính sự sống, còn được duy trì, còn tồn tại trên địa cầu là vì Ngài còn muốn sự sống cứ tiếp nối, cứ kế tục.

(Thi 104:31-35).  Đấng Tạo Hoá công trình sáng tạoĐấng Tạo Hoá thánh niềm vui của Ngài trong sự sáng tạo  Sự vinh hiển ở đây là sự vinh hiển mà Đấng Sáng Tạo biểu thị trong vũ trụ thọ tạo của mình.  Giả như Ngài thu hồi sự vinh hiển này lại thì vũ trụ sẽ biến mất.  Chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể làm cho vũ trụ hiện hữu và vững chãi.  Dù thế giới này có vẻ rắn chắc, nhưng trong nhãn quan và bàn tay của Ngài thì nó rất ư là mong manh.  Thật là đáng cho chúng ta ca ngợi Ngài không ngớt, chớ không thể nào có thái độ bất kính với Ngài.  Chúng ta chỉ có thể cầu mong rằng bài ca nghèo nàn của mình làm hài lòng Ngài vì Ngài là Đấng thánh mà chung cuộc thì tội nhân không tìm được sự an ninh trong thế giới thọ tạo (35).  Như vậy, sau khi ôn lại những điều kỳ diệu của Đấng Tạo Hoá, linh hồn tôi còn có thể làm gì nếu không phải là ca ngợi tôn vinh Ngài?

101. KHÔNG PHẢI CHỈ BẰNG MÔI MIỆNG MÀ CÒN BẰNG ĐỜI SỐNG CỦA CHÚNG TA. (Thi 105:1-45)

Kinh Thánh không có loại ‘thơ kể chuyện’ đúng nghĩa, tức là kể chuyện qua một bài thơ.  Thật vậy, các thi thiên như Thi 78:1-72  105:1-45  106:1-48  136:1-26 có vẻ không chú trọng kể chuyện rành mạch theo thứ tự diễn biến, nhưng chỉ đề cập đến một số những biến cố quen thuộc nhằm dẫn đến một điểm kết cụ thể.  Thi Thiên 105 duyệt qua những việc Đức Chúa Trời làm qua lịch sử dân sự của Ngài trong ba giai đoạn: Thứ nhất, thời kỳ các tổ phụ (Sa 12:1-50:26), nói sơ qua việc lập giao ước (7-11), thời gian du mục đây đó tại Ca-na-an (12-15), câu chuyện của Giô-sép ở Ai Cập (16-22) Thứ hai, thời kỳ xuất hành (Xu 1:1-12:50): Y-sơ-ra-ên qua Ai Cập (23-25), Môi-se và các tai vạ (26-36), Y-sơ-ra-ên rời Ai Cập (37-38) Thứ ba, cuộc hành trình trong sa mạc (39-43,13:1-19:25) và tiến vào Ca-na-an (44, Giô-suê).  Bài tổng lược bao trùm một thời gian dài nhưng đưa ra một hình ảnh về Đức Chúa Trời:  Ngài là Đấng thành tín, hứa và làm trọn lời hứa, bí hiểm trong cung cách hành động nhưng luôn luôn quan tâm đến dân, luôn luôn toan tính trước cho họ những chương trình tốt và luôn luôn đáp ứng nhu cầu của họ.

(Thi 105:7-11)  Đức Chúa Trời hứa  Như thường lệ, quyền cai trị của Đức Chúa Trời trên thế giới làm bối cảnh cho mọi việc Ngài làm cho dân sự của Ngài.  Nếu Ngài giữ lời hứa với Áp-ra-ham (Sa 15:18-21) thì Ngài cũng phải cầm quyền tên dân A-mô-rít.  Nhưng còn hơn thế nữa, Ngài thống trị trên toàn thế giới.  8  gợi ý trước về phần lược sử trong thi thiên này.  Thi thiên ôn lại (‘Ngài nhớ đến, hồi tưởng’) hàng bao thế kỷ và xác định như Giô-suê đã xác định về thời kỳ này:  ‘chẳng một lời nào mà không thành tất cả đều được thực hiện’ (Gios 21:45  23:14).  Giao ước, Đức Chúa Trời tự nguyện cam kết, không phải là một cuộc mặc cả, hoặc bồi thường mà đây là một sự xác định có chủ ý của Đấng tối cao rằng Ngài là Đức Chúa Trời đối với Áp-ra-ham và dòng dõi của ông, rằng dân của ông là dân sự của Ngài.  Như vậy, giao ước cũng là lời Ngài phán truyền...  lời Ngài thề (8-9).  Đó là lời Ngài hứa và Ngài sẽ lo làm trọn.  9  lập (nghĩa đen: cắt) từ chuyên môn dùng vào dịp công khai xác nhận giao ước (Sa 15:18) với Áp-ra-ham, như vậy là với chúng ta nữa, là hậu duệ của Áp-ra-ham (Ro 4:11,12,16,23-25  Ga 3:6-9  4:28-31), vì chuyện của Áp-ra-ham cũng là chuyện của chúng ta, sự kêu gọi của Áp-ra-ham cũng là sự kêu gọi của chúng ta, chúng ta là người thừa kế những lời hứa đã dành cho Áp-ra-ham.  10  Luật lệ, một điều ấn định không thay đổi. 11  Trong giao ước có những lời hứa (Sa 17:1-7).  Tác giả chọn một lời hứa để nêu cụ thể, lời hứa về xứ để kiểm chứng về sự thành tín của Đức Chúa Trời.  Phần tổng lược của thi thiên kết thúc trong niềm hân hoan vì Đức Chúa Trời đã làm trọn lời hứa này (44).

(Thi 105:12-15)  Đức Chúa Trời bảo vệ  Mấy câu này ôn lại cùng một quãng thời gian như He 11:8-10,13.  Xứ thuộc về họ, nhưng họ sinh sống tại đó như khách lạ, ‘người ngoại quốc’ (12).  Cuộc sống du mục, vô tổ quốc đã đưa đẩy họ vào những vùng đất do vua này vua nọ cai trị (13), mảnh đất duy nhất mà họ sở hữu là nghĩa trang (Sa 23:1-20).  Sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời dành cho dân của Ngài quả là bí hiểm lắm thay!  Ngài hứa cho xứ nhưng để họ sống không có mảnh đất cắm dùi!  Nhưng Ngài luôn luôn bảo vệ họ.  Ngay cả khi họ hành động cách dại dột tởng chừng đã đánh mất ý định tốt lành của Ngài (12:10-20  20:1-18  26:1-11), ngay cả khi họ đối diện với liên minh các thế lực trên thế giới lúc đó (14:1-24).  15  Kẻ chịu xức dầu, có địa vị và nhiệm vụ được biệt riêng cho Đức Chúa Trời.  Tiên tri (so sánh Sa 20:7) Áp-ra-ham là người đầu tiên trong Kinh Thánh được gọi là tiên tri.  16-22  Chẳng những Đức Chúa Trời nắm quyền tể trị trên toàn thế giới (7) mà Ngài còn định đoạt và chủ động trong mọi biến cố của thế giới (16).  Một lần nữa chúng ta đối diện với sự bí ẩn của Đức Chúa Trời, vì chúng ta không thể hiểu được đường lối và phương thức Đức Chúa Trời dẫn dắt, quan phòng.  Nhưng hễ chúng ta không hiểu nổi điều này, việc nọ thì cầu cứu đến kinh nghiệm, hoặc khi chúng ta không hiểu vì sao chúng ta bị tước mất những nhu cầu cấp thiết cho cuộc sống (16) thì chúng ta có thể chắc chắn rằng Ngài vẫn ngự trên ngôi (Ngài khiến...  phá huỷ) và Ngài trù liệu để đáp ứng nhu cầy tương lai cho chúng ta (sai một người đi trước...  17).  Nhưng cho dù chúng ta thấy rằng Giô-sép là một người được Đức Chúa Trời dùng trong ‘chương trình quan phòng dự liệu của Ngài’ thì tính cách bí ẩn vẫn còn đó.  Thật vậy, vấn đề khó hiểu phổ thông đối với mọi người cũng là vấn đề xảy ra cho một cá nhân là Giô-sép: nếu Giô-sép là người của Đức Chúa Trời sống trong thời gian của Đức Chúa Trời ấn định, ở trong chỗ Đức Chúa Trời đặt để (Sa 45:5-8  50:20) thế tại sao ông phải chịu khổ đến thế (18)?  Chúa Giê-xu có nói ‘Ấy là việc các ngươi chẳng nên biết’ vào một dịp khác (Cong 1:7) nhưng xem ra câu đó cũng là câu trả lời cho việc này.  Chúng ta được phép biết đến mức là Đức Chúa Trời đã hoạt động cách khôn ngoan để làm trọn lời Ngài đã phán (19) và lập một người cai trị Ai Cập để tiếp đón và cung ứng nhu cầu cho dân của Ngài.

(Thi 105:23-28)  Đức Chúa Trời giải cứu  Chú ý là phần thi thiên dài này nằm lọt trong hai dấu ngoặc về việc Y-sơ-ra-ên đến xứ Ai Cập (23) và rời khỏi Ai Cập (38).  Khi họ di cư vào Ai Cập thì họ chẳng phạm một tội lỗi nào nhưng đó là do Đức Chúa Trời truyền lịnh kèm với lời hứa (Sa 46:3-4), khi Ai Cập trở mặt thù hiềm họ thì chẳng phải vì cớ họ phạm tội.  Thật vậy (25) đó là bởi sự vận hành của Đức Chúa Trời!  Một lần nữa chúng ta đối diện với sự bí ẩn của Đức Chúa Trời trong sự dẫn dắt quan phòng.  Ý tưởng của Ngài chẳng phải là ý tưởng của chúng ta, đường lối chúng ta chẳng phải đường lối của Chúa (Es 55:8).  Đường lối của Ngài kỳ diệu thay (Ro 11:33-36)!  Ngài đưa họ vào tình thế nguy nan và bức bách (25) rồi bày tỏ quyền năng giải cứu đầy vinh hiển của Ngài.  Ngài chuẩn bị một người (26) có quyền năng đủ để đối đầu với tất cả quyền lự của kẻ thù (27-36) và một cuộc giải phóng đầy vinh quang (37-38).

Chú ý cấu trúc của câu 28-36.  Câu chuyện kể bắt đầu với tai vạ thứ 9 rồi trở ngược lại từ tai vạ đầu (29-35):  Tai vạ thứ nhất (29, Xu 7:14 tt), tai vạ thứ hai (30  8:1tt), tai vạ thứ bốn và ba (31, 8:20tt 16tt), tai vạ thứ bảy (32,33  9:13tt) và tai vạ thứ tám (34,35  10:1tt) rồi đến cao điểm nhất là tai vạ thứ mười (36, Xu 11:1-12:50).  37 (11:2,3). 38 (12:30-33).

(Thi 105:39-42)  Đức Chúa Trời cung cấp  Phân đoạn này kết thúc thi thiên lẫn phần tổng lược lịch sử.  Sự khải thị về Đức Chúa Trời thật là toàn hảo khi Ngài đáp ứng nhu cầu hằng ngày cho dân sự trong cuộc hành trình.  Ngài dẫn dắt họ (39,  13:21,22) và lo cho họ được an toàn (14:19), Ngài đáp lời họ khi họ cầu nguyện (dù là trong lúc họ lằm bằm) qua việc cung cấp lương thực (40, 16:12-13,14tt) và nước (41, Xu 17:1-7).  Nhưng Ngài thực hiện tất cả những việc này vì Ngài đã hứa với Áp-ra-ham (42 so sánh 8, ‘Ngài nhớ lại’...  lời 9).  Ngài là một Đức Chúa Trời thành tín giữ trọn lời hứa của mình.

Chúng ta hưởng ứng như thế nào đối với Đức Chúa Trời và đối với những hành động chứng tỏ Ngài làm trọn lời hứa, Ngài bảo vệ, Ngài tiên liệu nhu cầu, giải cứu và cung cấp đầy đủ?  Hưởng ứng bằng lòng vui mừng tạ ơn, ca ngợi (1-2), tôn vinh bằng lời nói về những điều mà Đức Chúa Trời đã khải thị về chính mình Ngài (danh), quyết tâm tìm kiếm sự hiện diện của Ngài (3-4, tìm cầu, không phải tìm kiếm một sự vật lạc mất nhưng cứ lui tới, trở lại nơi chúng ta biết là có Ngài hiện diện), luôn ôn lại, nhớ lại những việc lạ lùng của Ngài (5) và đồn ra tin tức về những việc đó trên khắp thế giới (1): cả một chương trình cho môi miệng ca ngợi và làm chứng, cho tấm lòng ‘tìm kiếm’ Đức Chúa Trời và cho tâm trí cẩn thận ghi nhớ.

Nhưng còn hơn nữa.  Câu 43-44 là phần kết khớp với phần ca ngợi mở đầu của thi thiên.  Những người kinh nghiệm trực tiếp việc Đức Chúa Trời làm cho họ vui mừng sung sướng.  Đức Chúa Trời đã đối xử với họ thật là tốt, trong những việc Ngài làm trọn lời hứa, việc quan trọng hơn hết là ban xứ cho họ (44) đúng như Ngài đã hứa với Áp-ra-ham hơn bốn trăm năm trước (Sa 15:7-16).  Nhưng sự đáp ứng mà Ngài dự trù thiếu hẳn niềm vui: mọi việc mà Ngài đã làm nhằm gây dựng cho mình một dân tộc vâng phục Ngài (45).  Không có niềm vui thì ca ngợi chỉ là những tiếng ồn ào náo động trong tôn giáo (Am 5:23-24).

102. “MỘT BÀI CA XỨNG ĐÁNG CHO NGÀI” (Thi 106:1-48)

Nhìn chung Thi 106:1-48 ôn lại lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên từ cuộc xuất hành (6-12, Xu 14:1-31) vào sa mạc (13-18, Dan 11:4-34  16:1-50) đến Si-nai (19-23, Xu 32:1-6,9-14) đến biên giới Ca-na-an (24-27, Dan 14:1-45), vụ Ba-anh Phê-ô và Mê-ri-ba (28-33, Dan 25:1-15  20:2-13) và cuối cùng tiến vào Đất Hứa (34-38, Cac 1:21,27-36  3:3,5).

Đây là một câu chuyện buồn thảm về tội lỗi (6), vô tâm và mau quên (7,21), tinh thần đáp ứng mau tiêu tan (12-13), bê tha (14), bất mãn đối với những sự cung cấp lo liệu của Đức Chúa Trời (16), thờ hình tượng (19), bất vâng phục (24-25), mất quyền thừa hưởng (26), bất trung (28), khiêu khích chọc giận (32), thoả hiệp hoà hoãn (34-35) và suy đồi trong tín ngưỡng (37-39).  Nhưng thi thiên cũng nhấn mạnh một phương diện khác là Đức Chúa Trời giải cứu cách đầy quyền năng (8-11), sẵn sàng nghe lời thuyết phục để tỏ lòng thương xót (23,30), nhiều lần sau án phạt công bình Ngài ban ân huệ một cách vô điều kiện (40-43), lắng nghe và tiếp nhận những lời cầu cứu với lòng thương xót (44), thành tín đối với giao ước và lòng yêu thương (45).  Bài học lịch sử của chúng ta là: chúng ta bất trung, Đức Chúa Trời thành tín.

Thi 106:1-5  Ca ngợi cầu nguyện  Thi thiên mở đầu với lời ca ngợi và cầu nguyện rồi kết thúc với lời cầu nguyện (47) và ca ngợi (48).  Vì lịch sử kể lại một tình yêu thương không hề thất tín (1) và Đức Chúa Trời không hề thay đổi (48) nên thúc giục dân sự của Ngài ca ngợi dù họ nhận biết rằng không ai có thể ca ngợi Ngài cách xứng đáng - thi thiên này xác định với chúng ta rằng cầu nguyện là việc có giá trị vì Đức Chúa Trời không bỏ sót, bỏ quên một cá nhân nào trong chương trình ý định của mình dành cho dân sự và Ngài cũng không hề xao lãng bỏ rơi dân sự dù khi họ bị tản lạc khắp thế giới.  Một nét đáng chú ý nữa là phần đầu và phần cuối của thi thiên đều có ý chúc tạ (3,48, nghĩa đen ‘chúc tạ Đức Chúa Trời’) dù trong nguyên ngữ Hi Bá Lai dùng từ khác.  Đời sống vâng phục mở lối cho đời sống phước hạnh (3), nhưng nếu chuyện chỉ có thế thì chúng ta rơi vào tình thế nào khi mà cuộc đời của chúng ta là một chuỗi suy đồi lụn bại không ngừng?  Dầu vậy, có một Đức Chúa Trời đáng chúc tạ (Thi 103:1): Ngài là Đấng luôn luôn thành tín, nhân từ, yêu thương, tha thứ, lắng nghe lời cầu nguyện, tiếp cứu và cứu chuộc.  Trước những sự thật về Đức Chúa Trời như thế, toàn thể dân sự - là chúng ta, và chúng ta đã nghe đọc bản liệt kê những sự thất bại của chính mình trong câu 6-39 - đều phấn khởi nói A-men! Chúc tạ Đức Chúa Trời (48).

(Thi 106:6-12)  Cố tật chóng quên nơi con người  Sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.  ‘Chúng tôi và tổ phục chúng tôi đã phạm tội’ (6).  Không phải chúng ta chỉ đơn giản giống như họ trong vấn đề tội lỗi nhưng chúng ta là một với họ trong tình trạng tội lỗi.  Họ và chúng ta đều đã hành động sai trật cách gian tà, suy đồi trong bản tánh (tình trạng hư hỏng) và trong đời sống (hành vi sai trái): mù quáng đối với những việc lạ lùng của Đức Chúa Trời, mau quên những việc nhân từ của Ngài (7, nghĩa đen ‘vô số những hành động đầy lòng nhân từ của Ngài’) và đầy lòng bất trung chống nghịch (Xu 14:10-12) tâm trí tiếp thu kém, trí nhớ kém, đức tin bốc đồng.  Nhưng Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục hành động (8-11) vì danh của Ngài tức là vì bản tánh của Ngài là như thế nên Ngài làm như thế nhằm xử lý những nghịch cảnh của chúng ta và đối phó với những kẻ chống nghịch chúng ta, thực hiện sự cứu rỗi trọn vẹn (14:13-14,30-31) và thúc đẩy một thái độ đáp ứng bằng sự ca ngợi, nhưng đáng buồn là tinh thần này lại mau tiêu tan (so sánh 13)

(Thi 106:13-18)  tha, gây sự  Họ chẳng nhớ đến Đức Chúa Trời trong những chuyện đã qua, cũng chẳng cầu hỏi Đức Chúa Trời về những chuyện tương lai (13), nên hậu quả là họ làm nạn nhân cho những cảm xúc bất khiết của chính mình: trước tiên là họ chán những thực phẩm mà Chúa cung cấp để nuôi dưỡng họ (14, Dan 11:4-6, so sánh Gi 6:35tt) kế đến là họ phản đối quyền hành của ban lãnh đạo mà Đức Chúa Trời đã lập cho họ (16, Dan 16:3).  Trong mỗi trường hợp họ đều đánh mất đặc ân của Đức Chúa Trời và bị hình phạt.  Có thể xảy ra trường hợp chúng ta trở nên đòi hỏi trong lời cầu nguyện, ngoan cố làm theo đường lối của mình, buộc lòng Đức Chúa Trời phải đưa ra một hình phạt hết sức công bình là cho chúng ta điều chúng ta đòi hỏi (15).  Cũng vậy, có trường hợp là Đức Chúa Trời nhất định, trái với điều chúng ta nghĩ, rằng chúng ta phải nhận điều Ngài muốn ban cho.  Ý chỉ tốt nhất của Ngài đối với dân sự là lập Môi-se và A-rôn lên lãnh đạo họ.  Cho nên về vấn đề này Ngài cương quyết không thay đổi (16).  13  là cách sống đúng với Đức Chúa Trời qua ý nghĩa của sự cứu rỗi (so sánh 8-12) và là cách đối diện với tương lai theo ý nghĩa của lời dạy của Ngài.

(Thi 106:19-23)  Tôn giáo giả hiệu: Môi-se làm trung gian  19-20 (Ro 1:21-25).  Tôn giáo do con người sáng lập là có dính dáng đến lối suy nghĩ theo khuôn mẫu trần gian, tin tưởng vào khả năng tự cứu, thay chỗ của Đức Chúa Trời đời đời bằng những thứ mà chúng ta phải củng cố mới tồn tại được, rồi khi chúng ta lệch lạc thì nguyên do luôn luôn là vì chúng ta quên quyền năng cứu chuộc của Đức Chúa Trời chân thật độc nhất, độc tôn.  Nhưng dù gặp những trường hợp đó, Đức Chúa Trời cũng sẵn sàng chấp thuận sự khẩn nài cầu thay của một người trung gian (He 7:25).

(Thi 106:24-27)  Lời phán tiếng nói của Chúa  Đây là tâm điểm của thi thiên này.

A1 (1-5) Ca ngợi và cầu nguyện

B1 (6-12) Cố tật chóng quên nơi con người: sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

C1 (13-18) Bất bình về những điều Đức Chúa Trời cung cấp.

D1 (19-23) Tôn giáo giả hiệu: Môi-se.

E (24-27) Lời phán và tiếng nói của Đức Chúa Trời.

D2 (28-33) Tôn giáo giả hiệu: Phi-nê-a.

C2 (34-38) Bất bình Đức Chúa Trời.

B2 (39-46) Con người nổi loạn: Đức Chúa Trời vẫn nhớ đến họ

A2 (47-84) Cầu nguyện và ca ngợi.

Phân đoạn trung tâm ngắn gọn nên tạo được ấn tượng càng sâu sắc hơn về một lẽ thật quen thuộc không cần phải nói dài dòng thêm: tội lỗi chính nơi dân sự của Đức Chúa Trời là từ khước lời phán của Ngài.  24 (nghĩa đen) ‘họ không tin lời của Ngài’  25 (nghĩa đen) ‘họ không nghe tiếng Đức Giê-hô-va’.  Sở hữu lời của Đức Chúa Trời là một đặc quyền cho nên khi bỏ lơ, coi thường lời của Đức Chúa Trời thì chúng ta phạm tội nặng nề: vì lời phán của Đức Chúa Trời là tiếng nói sống động của Đức Chúa Trời.

(Thi 106:28-33).  Tôn giáo giả hiệuPhi--a làm trung gian  Cũng như Môi-se đã làm, Phi-nê-a đứng ra làm trung gian và cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời giảm đi.  Với lời cầu nguyện tỏ ý bằng lòng hi sinh vì dân tộc (Xu 32:31-32), Môi-se là người gần giống nhất với Đấng Trung Gian hoàn toàn, hai ông không ngờ mình làm hình bóng báo trước về Ngài.  Ân điển cho phép Ngài làm nguôi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời bằng cách trở nên sự rủa sả thay cho chúng ta (Ga 3:13), trở nên tội lỗi thế cho chúng ta (IICo 5:21).  Nhưng nếu qua lời cầu nguyện, Môi-se làm hình bóng báo trước về Chúa Giê-xu thì Phi-nê-a làm hình bóng báo trước về Chúa Giê-xu qua địa vị công nghĩa mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông trong vai người trung gian, mà ông Ê-sai đã dự báo về Đấng mà ông gọi là ‘tôi tớ công bình của ta’ (Thi 53:11  He 7:26).

Sự cố thứ hai (32-33) trong khổ thơ này bổ sung cho sự cố thứ nhất: họ cúng thờ Ba-anh...  chọc giận Đức Chúa Trời.  Mặc dù họ đã từng rơi vào tình cảnh này rồi (Xu 17:1-16), họ vẫn nổi giận trước việc không có nước (Dan 20:3tt) tỏ ý tiếc là đã thoát ly khỏi kiếp nô lệ ở Ai Cập, rồi ước chết thay vì muốn sống cuộc đời Đức Chúa Trời trù liệu cho họ.  Chẳng lạ gì khi Môi-se bất bình tĩnh!  Con người Môi-se cũ (Xu 2:11-12) vẫn còn lẩn quất trong nhân vật nhu mì có tiếng (Dan 12:3)!  Môi-se đã phải trả giá rất cao cho hành vi bất vâng phục trong giây phút nổi nóng (20:12).  Không vâng theo lời của Đức Chúa Trời là tội lỗi chủ yếu (24-27). 27 (so sánh Le 26:33  Phu 28:64).

(Thi 106:34-38)  Bất bình với Đức Chúa Trời  Một lần nữa, mọi điều xấu xa đều bắt nguồn từ tội chủ yếu là tội không vâng lời (34).  Xét về mạng lịnh huỷ diệt, trước tiên (theo Sa 15:16) án lệnh huỷ diệt là rất công bình vì Đức Chúa Trời đã cho họ bốn trăm năm thử thách theo dõi.  Án phạt này không có tính cách độc đoán hoặc vội vã nhưng Đức Chúa Trời đã xét xử cách nghiêm chỉnh và công bằng.  Thứ hai, đối với dân sự của Đức Chúa Trời vào thời kỳ đó trong giòng lịch sử, phương cách duy nhất để tách mình hoàn toàn khỏi thế gian là huỷ diệt.  Khi từ chối không làm một dân tộc hoàn toàn tách biệt, họ lại thoả hiệp để tự mình làm hại mình (35-39), sự thể luôn luôn là như vậy.  35 (Cac 3:5,6). 36  (Cac 2:12tt). 37 (IIVua 16:3). 38  Một khi tự thân sự sáng tạo là điều thánh thì sự sáng tạo có thể bị ô uế - thật vậy, đó là một năng lực đạo đức vận hành chống lại những thủ phạm gây ô uế (Sa 3:18  Le 18:25).

(Thi 106:39-46)  Con người nổi loạn, Đức Chúa Trời vẫn nhớ đến họ  Những câu này phản ảnh thế căng trong bản tánh của Đức Chúa Trời mà sách Các Quan Xét có ghi nhận.  Trước sự bất trung của dân, Đức Chúa Trời nổi giận một cách công bằng khiến cho kẻ thù thống trị họ.  Dầu vậy, không phải vì cớ họ quay lại sống theo nề nếp công bình chính trực mà Ngài cảm động, nhưng vì tình trạng khốn khổ của họ và lòng thành tín của Ngài đối với lời thề hứa.

(Thi 106:47-48)  Cầu nguyện ca ngợi  Cho đám dân lưu lạc được hồi hương, chi tiết này gợi ý là có thể thi thiên này được viết trong thời kỳ bị lưu đày ở Ba-bi-lôn.  Nhưng mấy câu này cũng xuất hiện trong ISu 15:1-16:43 vào dịp Đa-vít rước Hòm Giao Ước về Giê-ru-sa-lem, nên chủ trương này khó đứng vững.  Trong thi thiên các nước là xứ họ bị đày đến, là một cái bẫy và là một thế lực thống trị.  Từ khi tiến vào xứ Ca-na-an lần thứ nhất, lúc nào tình thế cũng như thế, không ít thì nhiều.  Xem thi thiên này là một bài ca của hội thánh ở giữa thế gian là thoả đáng nhất, trong khi bị thế gian dụ dỗ lôi kéo, bị quyền lực của thế gian thống trị, đánh mất giá trị của mình vì thoả hiệp với thế gian, nhưng vẫn khao khát và cầu nguyện trông mong đến ngày sáng sủa hơn và vẫn ca ngợi Đức Chúa Trời là Đấng đời đời không hề thay đổi dù dân sự của Ngài có nhiều chao đảo thăng trầm.

103. AI CŨNG CÓ THỂ CẦU NGUYỆN (Thi 107:1-43)

Một trong những điểm lý thú sâu sắc của thi thiên này là sự lặp lại - mô tả nhiều lần những tình thế nguy nan (4-5,10,17-18,23-26), nhiều lần vận dụng sự cầu nguyện (6,13,19,28) Đức Chúa Trời đáp ứng nhiều lần (6-7,13-14,19-20,28-29), nhiều lần kêu gọi tạ ơn (8,15,21,31).  Họ là ai?  Thông thường người ta liên hệ thi thiên này với cuộc hồi hương từ Ba-bi-lôn nhưng thi thiên lại viết về sự hội họp từ khắp nơi trên thế giới (3) nên chủ trương trên đây không vững.  Một số khác cho rằng thi thiên này ôn lại khá chi tiết lịch sử của Y-sơ-ra-ên: từ sa mạc vào Ca-na-an (4-9), từ Ai Cập và Ba-bi-lôn đến đất hứa (10-16), từ cõi ‘chết’ (17-22) và ‘cơn bão’ (23-32) của sự lưu đày vào sự sống và hoà bình.  Nhưng quan điểm của thi thiên rõ ràng là toàn cầu và chúng ta có thắc mắc về người đến hội họp từ phương tây.  Thật vậy, trong nguyên bản Hi Bá Lai thực sự câu 3 viết là ‘và từ biển cả’ chớ không phải và phương nam (có lẽ có nghĩa là ‘và từ các nước ngoài’).

Trong khía cạnh chuyển ngữ còn một điểm quan trọng nữa:  Họ (4), những kẻ (10), kẻ ngu dại (17), có người (23) là một cách diễn ý, ngụ ý là có bốn nhóm người khác nhau.  Còn nguyên ngữ Hi Bá Lai có ý viết về cùng một nhóm người, thi thiên này mô tả cùng một nhóm người trong bốn khía cạnh - chúng ta, dân của Đức Chúa Trời rơi vào những tình cảnh khốn đốn tiêu biểu được Đức Chúa Trời giải cứu (2) và yêu thương (1,8,15,21,31,43).  Còn hiểu thi thiên theo hướng này, tác giả thi thiên ngẫm nghĩ về một trong những lễ lớn của hội thánh trong thời tiền lưu đày (Xu 23:14-19).  Ông thấy người hành hương từ các nơi xa xôi, nơi họ bị tản lạc và ông nhớ lại những lời hứa dành cho Áp-ra-ham (Sa 12:1-3  18:18  22:18  28:14  Thi 47:9) nay tập trung dồn cho nhà Đa-vít (72:8-11), bảo đảm về một sự tụ họp từ khắp nơi trên toàn thế giới.  Đối với tác giả cũng như đối với chúng ta (Kh 7:9-17) việc này còn chờ được thành tựu trong tương lai dầu vậy mỗi một người và mỗi một thế hệ là dân của Đức Chúa Trời vẫn có thể vui sướng về sự kiện mình là thành phần của những người tụ họp lại để tôn thờ Đức Chúa Trời là Đấng nhân từ đã chuộc (1-2) và giải cứu (8,15,21,31).  Chúng ta phải ghi khắc điều này trong tâm khảm mình (43).

(Thi 107:1-3)  Tình yêu thương cứu chuộc  Tình yêu thương trong suốt thi thiên này là tình yêu thương không hề biến đổi có tính cách cam kết dấn thân mà Đức Chúa Trời đã quyết tâm yêu thương những người Ngài đã chọn cho riêng mình và Ngài sẽ không bao giờ từ bỏ họ.  Tình yêu thương này bộc lộ qua việc cứu chuộc (2) - tức là người bà con gần nhất gánh vác tất cả những nhu cầu của người bà con đang gặp cơn khốn đốn, và chuộc họ ra khỏi tình cảnh nguy nan hiểm nghèo.

(Thi 107:4-32)  Bốn hình ảnh  Hình ảnh thứ nhất là cứu khỏi mối nguy hiểm trên đất liền (4-9), đối dạng với hình ảnh thứ tư là cứu khỏi mối nguy trên biển cả (23-32).  Sự trái ngược giữa hai hình ảnh này nhằm nói chúng ta được cứu chuộc dù vẫn ở trong hoàn cảnh, ở trong nan đề của cuộc sống cũng như được cứu chuộc ra khỏi mọi nan đề, mọi cảnh khó của cuộc đời.  Hình ảnh thứ hai (10-16) và thứ ba (17-22) tập trung vào vấn đề thuộc linh - những sự nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời (11-17), kéo theo cảnh nô lệ tù đày (10) và sự suy bại (17) nghĩa là tội lỗi biến chúng ta thành ra kẻ thù nghịch chống Đức Chúa Trời, tước đi sự tư do mà tội lỗi hứa hẹn và gây ra tình trạng suy đồi cho bản tánh của chúng ta.  Bốn hình ảnh này họp lại bảo đảm rằng tình yêu thương không hề thay đổi, tình yêu thương cứu chuộc có quyền năng xử lý mọi hoàn cảnh, đáp ứng mọi nhu cầu và chính là nhằm trả lời cho những lời cầu nguyện mà Đức Chúa Trời yêu thương đã làm mọi việc đó (6,13,19,28).  Dân sự của Đức Chúa Trời ở trần gian luôn luôn được Ngài chăm sóc, giải cứu, luôn luôn bị dồi dập bởi hoàn cảnh bên trong lẫn bên ngoài và luôn luôn cần đến sự cầu nguyện.

(Thi 107:4-9)  Lạc lõng trong thế giới mênh mông: tình yêu thương đem chúng ta trở về nhà  người được cứu thường không ‘biết tìm về lối nào’ (4) họ mong mỏi sự ổn định an toàn của thành đích thực.  Như Áp-ra-ham phải sống mãi một cuộc đời bất ổn trong lều trại, ông ước mong một ‘thành có nền móng do chính Đức Chúa Trời xây dựng sáng lập nên’ (He 11:9-10).  Chúng ta cũng thường rơi vào tình trạng ‘chịu hết nổi’ (5).  Nhưng chúng ta có thể cầu nguyện (6).  Thông thường ở trần gian này, khi ôn lại chúng ta phát hiện rằng quãng đường mà chúng ta vốn cho là ngoằn ngoèo trở nên con đường bằng phẳng thẳng tắp qua sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời (7) và chắc chắn khi đến thiên đàng chúng ta cũng thấy là như vậy nếu chúng ta được phép nhìn ngoái lại đằng sau.  Chúng ta có cảm tưởng như thể dòng đời mình đang từng trải là con đường xoắn ốc hoặc rối ren không lối thoát, nhưng khi đến thiên đàng chúng ta sẽ thấy đó là một con đường thẳng tắp, bắt đầu từ điểm ăn năn tin nhận Chúa hướng thẳng đến sự vinh quang.  Đó là ‘hành động siêu việt’ (công việc lạ lùng, 8) của Đức Chúa Trời là Đấng làm hài lòng chúng ta (ngay cả trong hiện tại - huống chi là trong cõi đời đời, Kh 7:16-17).

(Thi 107:10-16)  Bị chèn ép trong một thế giới hẹp hòi: tình yêu thương giải phóng chúng ta  Trong vườn Ê-đen (Sa 3:1-24) mục đích của con rắn là làm cho lời của Đức Chúa Trời có vẻ hẹp hòi quá đáng, tước mất sự tự do của con người một cách vô lý.  Rồi người nam và vợ khám phá quá trễ rằng chính là nhờ chịu khuất phục tuân theo lời của Đức Chúa Trời mà họ được tự do (so sánh Thi 119:45).  Nổi loạn chống lại lời của Đức Chúa Trời đem lại tình cảnh nô lệ, gò bó.  điều này lý giải các tình cảnh trong đời của chúng ta (10-11).  Xin so sánh câu 12 với Sa 3:16-19.  Biết bao lần, chúng ta chẳng thể nào biết rõ, lòng thương xót của Đức Chúa Trời đã bảo vệ chúng ta khỏi những hậu quả do những sự quyết định chọn lựa sai bằng cách hạ rào chắn xuống khiến chúng ta từng trải cách đắng cay ách nô lệ mà chúng ta đã mang lên mình.  Nhưng ngay cả trong thời gian đó chúng ta vẫn có thể cầu nguyện (13) và chúng ta phát hiện rằng ân sủng của Đức Chúa Trời đáp ứng lời cầu nguyện bằng sự giải cứu (14-16) - hiện nay trong một mức độ nào đó, nhưng rồi đây chúng ta sẽ được giải cứu hoàn toàn (Phi 3:20-21).

(Thi 107:17-22)  Bị hỏng trong một thế giới tội lỗi: tình yêu thương làm cho chúng ta trở nên nguyên lành  Tự trong bản tánh của chúng ta, tội lỗi là ‘mục tiêu muôn thuở dành cho riêng mỗi chúng ta’ (nghĩa đen) khiến cho chúng ta sa sút, suy sụp (17) và đến ‘tận cửa của sự chết’ (18) - một thảm hoạ đôi: tự huỷ hoại trong hiện tại và hư mất đời đời trong tương lai.  Câu 11 bộc lộ tánh ương ngạnh bướng bỉnh nơi người nổi loạn câu 17 bộc lộ sự cố tình, cố ý.  Dầu vậy chúng ta có thể cầu nguyện (19) nhờ cầu nguyện mà có phương thuốc khử chất độc của tội lỗi, lời chữa lành (20).  vì nguyên do khiến chúng ta khốn đốn trong phần thuộc linh (20) là từ khước lời của Chúa (11) , nên giờ đây phần thuộc linh được khôi phục (20) cũng là sự kiện lời của Chúa lại đến với đời sống của chúng ta.

(Thi 107:23-32)  Thất bại trong thế giới thù địch: tình yêu thương đem lại sự bình an cho chúng ta  vượt biển cả là hình ảnh rất thích hợp về kinh nghiệm của chúng ta trong đời này: trong khi chúng ta đang tiến hành công việc làm ăn hợp pháp (23) thì ‘từ bầu trời trong xanh’ trận bão đổ xuống làm sụp đổ tất cả những sự tính toán của chúng ta, phá huỷ nếp sống êm ấm quí báu, bỏ mặc chúng ta trong nanh vuốt của những lực lượng nắm quyền thống trị hoàn toàn (25-27).  Mỗi cơn bão là một lời kêu gọi tin cậy, vì đó không phải là ngẫu nhiên cũng không phải là trò đùa của ma quỷ: mà là cơn bão của Ngài (25) rồi đúng thời điểm chính bàn tay đã gây ra sóng gió sẽ đánh tan cơn bão tố (29).  Mỗi cơn bão là một lời kêu gọi cầu nguyện (28a) dù đối đầu với một lực lượng thù địch hùng hậu nhất, lời cầu nguyện vẫn đắc thắng.  Cánh cửa cầu nguyện sẽ được minh chứng là lối vào dẫn đến sự bình an (29-30).  Chúng ta đáp ứng trong tinh thần cảm tạ đối với Đức Chúa Trời qua của lễ bày tỏ lòng biết ơn và xác nhận lại sự hiến dâng của chúng ta (21-22). Trong câu 31-32 tinh thần cảm tạ dẫn đến sự tham gia làm thuộc viên trong một tập thể để thờ phượng Đức Chúa Trời.

(Thi 107:33-43)  Tình yêu thương quan phòng, dẫn dắt chăm sóc  Trong các câu này có hai cảnh tượng thái cực (33-34 và 35-36) được giải thích theo trật tự đảo để phơi bày ra hai kinh nghiệm trái ngược trong cuộc đời (37-38,39-40).  Thi thiên kết thúc với lời ghi chú rằng đây là lẽ thật mà người công bình nhận thấy (42) và đây là ý tưởng mà người khôn ngoan tập trung suy ngẫm (43).  Cảnh tượng thứ nhất trình bày tình trạng phì nhiêu trở nên khô hạn, cằn cỗi (33-34) cảnh tượng thứ hai trình bày tình trạng khô hạn cằn cỗi trở nên vùng cung ứng nhu cầu cho cuộc sống và bảo đảm sự an toàn (35-36).  Đây là chuyện thật thường xảy ra trong thực tế: khi trôi chảy thắng lợi (37-38) thì có phồn vinh đáng đeo đuổi, nhưng cũng có thời kỳ suy thoái khi tai hoạ ào đến tiếp theo những chuyện khó khăn rắc rối (39) mà các cấpld không có cách nào tháo gỡ (40) nhưng rồi, một lần nữa tình trạng phồn vinh quay lại và người thiếu thốn được an ổn (41).  Trong chuỗi đời thăng trầm này người công bình (là những người hoà thuận với Đức Chúa Trời, và dấn thân sống cuộc đời ngay lành) thấy điều gì?  Trước tiên là thấy Đức Chúa Trời điều khiển mọi hoàn cảnh, Ngài trực tiếp điều hành mọi việc chớ không phải Ngài chỉ quan sát từ xa.  Chính Ngài thực hiện những biến chuyển trong cả hai chiều hướng.  Thực tế nhất trong đời là sống thuận hoà với Đấng nắm quyền điều khiển mọi sự.  thứ hai là thấy rằng sự quan phòng dẫn dắt của Đức Chúa Trời có tính cách đạo đức.  Nếu vùng đất đang phì nhiêu trở thành khô hạn cằn cỗi thì đó là án phạt dành cho tội lỗi (34) vì vậy người ngay lành phải quyết tâm sống thánh khiết.  Thứ 3, phồn vinh không phải là phần thưởng dành cho hành vi đạo đức tốt mà đơn giản là hành động quan tâm của Đức Chúa Trời đối với người chú nhìn vào tình yêu thương lớn lao, (nghĩa đen) ‘những sự yêu thương’của Đức Chúa Trời, tức là lòng yêu thương không hề thay đổi, ‘không bao giờ thất tín’ như viên kim cương với nhiều mặt (cho vấn đề đáp ứng lời cầu nguyện) nên luôn luôn có giải pháp cho mỗi một nhu cầu.

104. MỘT PHƯƠNG THỨC HÀNH ĐỘNG TRONG LÚC CẤP THIẾT (Thi 108:1-13)

Dù trong thi thiên này có những phần thuộc về hai thi thiên khác (1-5, Thi 57:7-11,6-13  60:5-12) nhưng đây vẫn không phải đơn giản là một bài hợp tuyển.  Giả như chúng ta không biết gì về 57:1-11 và 60:1-12 (có thể tham khảo về chi tiết của thi thiên này) thì Thi Thiên 108 vẫn giữ vững giá trị riêng của mình.  Thái độ thù địch của Ê-đôm luôn luôn đeo đuổi Y-sơ-ra-ên trong cuộc sống (so sánh Am 1:11) nên chúng ta có thể ước định rằng cuộc khủng hoảng với Ê-đôm trong Thi 60:1-12 không phải là lần chót mà Đa-vít nghe từ khu vực bất ổn đó.  Vào những lúc khủng hoảng tương tự, Đa-vít lục lại các thi thiên và viết thi thiên mới thích hợp với nhu cầu mới.  Bài thơ này gồm ba khổ, liên kết với nhau theo kiểu đô-mi-nô: khổ thứ nhất (1-5) kết thúc với lời cầu nguyện, và khổ thứ hai (6-9) mở đầu với lời cầu nguyện.  Lời cầu nguyện thứ nhất xoay quanh sự thật về tình yêu thương không hể thay đổi của Đức Chúa Trời (4) và lời cầu nguyện thứ hai bắt đầu với những người Ngài yêu thương (nói cách khác: ‘những người mà Ngài quí mến’), khổ thứ hai kết thúc với chi tiết đề cập về Ê-đôm (9) còn khổ thứ ba (10-13) mở đầu với vấn đề của Ê-đôm.

Mỗi khổ thơ có lời cầu nguyện: thứ nhất: nguyện Đức Chúa Trời được tôn vinh (5), thứ hai, nguyện dân sự của Ngài được giải cứu (6), cuối cùng nguyện cuộc khủng hoảng được tháo gỡ (12).  Thật là đúng theo trật tự cầu nguyện trong Kinh Thánh và là bài học đầy thuyết phục nhất của thi thiên.  Nhưng niềm tin chắc trong lời cầu nguyện bắt nguồn từ sự thật về Ngài: (i) Tình yêu thương của Đức Chúa Trời (4) ‘không bao giờ thay đổi thay đổi’ - có thể ví lòng thành tín của Ngài với một thực tại cao nhất mà chúng ta nhìn thấy, đó là các từng trời, nhưng tình yêu thương của Ngài còn cao hơn nữa, nghĩa là Ngài cam kết yêu thương chúng ta là một thực tại tối cao.  Do đó chúng ta có thể vững tâm đối diện với một vụ khủng hoảng với lời ca ngợi Chúa trước mặt mọi người và với lời cầu nguyện xin Ngài chứng tỏ về chính mình Ngài trong cảnh ngộ đó (1-5).  (ii) Lời hứa của Đức Chúa Trời bao trùm cả cơn khủng hoảng (7-9).  Đức Chúa Trời đã định đoạt trước về sự kiện Ê-đôm phải qui phục.  Lời cầu nguyện, dựa trên những lời hứa có niềm tin chắc chắn (6).  (iii) Quyền năng của Ngài đủ để đối phó với sự khủng hoảng (10,13) và để đáp ứng lời cầu nguyện Ngài sẽ lại ban ơn huệ cho dân sự của Ngài và ban cho họ sự trợ giúp cần thiết (11-12).

105. THÁNH HÓA CƠN GIẬN (Thi 109:1-21)

Thi 109:1-21 là một thi thiên có lời lẽ bộc trực nhất trong các thi thiên nguyền rủa (xem dẫn nhập) vì vậy cũng lắm lời phê bình chỉ trích.  Hàng loạt nhà bình giải Kinh Thánh nhận định là thi thiên thiếu hẳn lý tưởng Cơ Đốc, có tinh thần hoàn toàn trái ngược với Phúc Âm, còn một số tìm cách rũ bỏ giọng gay gắt của thi thiên bằng cách xem câu 6-19 là phần tác giả trưng dẫn lời của kẻ thù nói chống lại ông.  Không nhất thiết là các thi thiên phải phân định phần bắt đầu phát biểu của một nhân vật mới, nhưng trong trường hợp này chi tiết này cũng không mấy chắc chắn: (1) Kẻ thù ở số nhiều (2-5) đổi sang kẻ thù là một cá nhân (6-19), cách thức này cũng xuất hiện trong 55:1-23 (ii) Đặt câu 6-19 vào miệng kẻ thù tác giả không dẫn đến một giải pháp nào cho vấn đề cả vì trong câu 20 tác giả lập lại những cảm nghĩ đó và trên nguyên tắc không có chỗ nào khác trong Kinh Thánh có một chi tiết nào tương tự như trong câu 6-19.  (iii) Ngoài ra, Cong 1:16-20 tạo điều kiện cho thi thiên được hưởng trọn vinh dự của sự hà hơi và xem câu 8 là một câu nói về Giu-đa.  Cũng như trong nhiều thi thiên khác kinh nghiệm của Đa-vít báo trước những điều Chúa Giê-xu sẽ kinh nghiệm, Ngài là Đấng tối cao, chân thật và thánh khiết, là Đấng thốt ra những lời rủa sả.

Như vậy thi thiên có tẻ tách khỏi tinh thần và lý tưởng của Tân Ước không? (i) Tác giả thi thiên không chối bỏ bổn phận phải yêu thương: câu 4-5 mở đầu và kết thúc với lời xác định về tình yêu thương của ông (tình bạn dùng để chuyển ngữ nơi đây là quá yếu) đối với kẻ thù, còn động từ trong thì hiện tại nhằm gợi ý rằng ông tiếp tục yêu thương kẻ thù suốt trong thời gian xảy ra tình trạng thù địch này.  Lẽ ra, thay vì lên án thi thiên này tẻ tách khỏi nguyên tắc của sự yêu thương (Mat 5:44) chúng ta nên rà soát chính mình xem chúng ta có hiểu về tình yêu thương cách đúng đắn không, một khi Chúa Giê-xu đặt kẻ thù dưới ‘cơn thạnh nộ của Chiên Con’ (Kh 6:16) thì phải chăng Ngài chấm dứt không còn yêu thương họ nữa?  (ii) Tác giả thi thiên không có tinh thần hoặc hành vi trả thù.  Ông tự nhận trong câu 4 (nghĩa đen) ‘nhưng tôi là người cầu nguyện’ có nghĩa là toàn bộ con người tôi tham gia vào sự cầu nguyện’.  Như vậy là ông không trả thù.  Phản ứng của ông đối với những sự tổn thương và những mưu mô là trình cho Đức Chúa Trời qua lời cầu nguyện rồi giao phó cho Ngài - một cách biểu lộ hoàn toàn đi đôi với Ro 12:19.  cho dù ông cầu nguyện với những lời lẽ hoặc tinh thần đáng chê trách đi nữa thì cách thức này vẫn hơn hẳn hình thức bom đạn của thời kỳ văn minh tiến bộ, hoặc đốt phá nhà cửa hoặc bán buôn với giá cắt cổ.  (iii) có đáng chê trách tác giả vì những lời này không?  Không phải chúng ta né tránh lời lẽ cầu nguyện của tác giả nhưng chúng ta né tránh thực tế trên đó ông xây dựng bài cầu nguyện.  Khi hoạt động của kẻ thù quầy rối nếp sống êm ấm của chúng ta, chúng ta gồng mình cầu nguyện rằng:  ‘Lạy Chúa, xin giúp con yêu thương kẻ thù nghịch con như Chúa Giê-xu đã dạy và xin Chúa vì con mà xử lý họ’.  Còn tác giả thi thiên thì thực tế hơn: Đức Chúa Trời sẽ xử lý họ theo cách nào nếu không phải là cách mà Ngài đã khải thị trong lời của Ngài?  Người vu cáo phải gánh chịu số phận mà họ mưu đồ cho người khác (Phu 19:16-19, so sánh câu 2 với câu 6) người bất vâng phục không có mảnh đất cắm dùi trong đời này (4:1, so với c.8) người phạm tội đem tai hoạ đến cho con cháu họ (Xu 34:7, so sánh 9-12).  Nếu chúng ta lẫn tránh đằng sau những cảm nghĩ mơ hồ, với lời cầu xin tổng quát trong khi tác giả thi thiên tìm cách bộc lộ sự thật của Kinh Thánh thì ít nhất chúng ta phải ý thức về chuyện mình đang làm.

Dầu vậy cũng có thể hiểu được sự né tránh của chúng ta thể theo lời cảnh cáo của Phao-lô (Eph 4:26).  Theo Phao-lô, cơn giận là láng giềng gần của tội lỗi.  J.L McKenzie (American Ecclesiatical Review, III, 1944, pp 81-96, Tập san giáo vụ Hoa Kỳ, 1944, trang 81-96) đặt vấn đề là ‘chúng ta không xem các thi thiên có nội dung nguyền rủa là mẫu mực được, không phải vì trình độ thấp thỏi hoặc không hoàn hảo nhưng vì các thi thiên đó vượt quá tầm cỡ của chúng ta...  nên khó lòng cho chúng ta noi theo cách an toàn’.

(Thi 109:1-5)  Cầu xin Đức Chúa Trời hành động  1  Suốt thời gian khốn đốn này tác giả duy trì được trình độ thuộc linh cao đáng kể: ông duy trì được tinh thần ca ngợi (1) và cầu nguyện (4), nghi thức kiêng ăn (24) và sự thờ phượng với hội chúng (30).  Với trình độ thuộc linh kém cỏi của chúng ta, chúng ta nhanh chóng xao lãng những mục đích đó khi gặp khó khăn.  Hơn nữa, khi đối diện với những lời nói gièm chê, dối trá, những hành động tàn bạo và những sự tấn công hung hăng (3, tranh đấu, tấn công) ông vẫn vững lòng yêu thương kẻ thù (4-5), không buông mình phản ứng theo cung cách bất công mà họ đã đối xử với ông.

(Thi 109:6-19).  Cầu xin sự công bình của Đức Chúa Trời  Phần này chia làm hai phân đoạn: (i) Câu 6-15 là một bài thơ cân đối với năm khổ thơ: khổ thứ nhất (6-7) xin một án phạt về tội ác trước toà án của loài người, còn khổ thơ thứ năm (14-15) xin một án phạt về tội không thể tha thứ trước toà án của Đức Chúa Trời.  Khổ thơ thứ hai (8-9) và thứ tư (12-13) cầu xin giảm tuổi đời cho chính đương sự lẫn của hậu duệ khổ thơ giữa (10-11) nghe kinh khủng nhất: chẳng một ai phạm tội đơn độc vì con cái bị ràng buộc với cha mẹ chịu chung một số phận trong đời hoặc hạnh phúc hoặc bất hạnh (Ch 20:7).  Như đã nêu ở trên, những lời cầu nguyện này diễn đạt tính cách ‘vô phương chạy thoát’ theo như Kinh Thánh dạy: đời sống dưới quyền cai trị của Đức Chúa Trời thánh khiết đáng kinh sợ là như thế đó.  6  Kẻ ác, cùng một từ với người tội lỗi xấu xa (nghĩa đen, cái miệng của người gian ác) trong câu 2.  Như vậy, sự gian ác xấu xa quay trở lại đạp lưng thủ phạm.  7  Lời cầu nguyện bị kể như là tội lỗi, (nghĩa đen) ‘nguyện lời cầu nguyện của người đó trở nên một tội lỗi’ - ngay cả dùng sự cầu nguyện như là một giải pháp người đó cũng không được vận dụng đến. 14 Theo Kinh Thánh (so sánh Mat 23:29-35) sự kiện chúng ta thừa hưởng bản tánh tội lỗi không bao giờ là yếu tố giảm tội cho chúng ta, trái lại còn chất trên chúng ta những tội lỗi đã qua nữa.  Chúng ta không bị ràng buộc với tội lỗi đó theo kiểu định mệnh (Exe 18:1-32) nhưng chúng ta vẫn là người thừa kế, trừ phi chúng ta ăn năn và từ bỏ tội lỗi.

(ii) Câu 16-19 đặc biệt hướng về phía người làm hại.  Sao đương sự lại có thể trông mong người ta đối xử cách tử tế với mình (12) trong khi chẳng bao giờ họ đối xử tử tế với ai cả tấm lòng, ý muốn (thích), sinh hoạt thực tiễn (áo) tất cả đều bị vấy bẩn vì cớ ác tâm hiểm ý của đương sự, rồi nó sẽ dội ngược đập lại đương sự, thấm vào con người đương sự và cột trói đương sự chặt chẽ như người ta cột dây thắt lưng vậy.

(Thi 109:20-31).  Cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ  Đối với người tin Chúa, trong mọi hoàn cảnh, còn một loạt yếu tố khác chi phối nữa.  Dù kẻ thù có đông hoặc quỷ quyệt đến đâu, dù tình cảnh của chúng ta có nguy ngập và thảm khốc đến đâu luôn luôn vẫn còn Chúa Giê-hô-va là Đấng không bao giờ tẻ tách khỏi bản tánh mà Ngài đã khải thị (danh) và tình yêu thương mà Ngài đã cam kết (21).

Thi 109:22 Khốn cùng...  thiếu thốn thường được dùng để biểu thị cảnh ngộ của chúng ta trước những thế lực lớn mạnh hơn, có thể hạ nhục và áp bức chúng ta.  Hai từ này cũng được dùng để chỉ về tinh thần đạo đức khiêm nhu trước mặt Đức Chúa Trời và thuận phục ý muốn của Ngài. 27 Tác giả không phải chỉ mong mỏi đơn giản một lối thoát, mà là một lối thoát chứng tỏ cách rõ ràng chắc chắn rằng đó là hành động của Đức Chúa Trời và công khai xác chứng sự thật trong phần thuộc linh (31).

106. “NGÀI SẼ LÀM THẦY TẾ LỄ TRÊN NGÔI CỦA MÌNH” (Thi 110:1-7) (Xa 6:13)

Tự thân danh tánh Mên-chi-xê-đéc cũng đủ toả ra bầu không khí huyền bí.  Ông thình lình xuất hiện trong Kinh Thánh mà không có sự báo trước gì cả.  Áp-ram vừa chiến thắng các vua trần gian (Sa 14:14-15) nhưng khi ‘Mên-chi-xê-đéc vua của Sa-lem’ đến, Áp-ram công nhận địa vị cao trọng của vua là thầy tế lễ, dâng cho vua một phần mười chiến lợi phẩm (14:20) và xác nhận ‘Đức Chúa Trời Tối Cao’ của Mên-chi-xê-đéc chính là Đức Giê-hô-va chớ chẳng phải ai khác (14:22).  Trong Gios 10:1 chúng ta gặp A-đô-ni-Xê-đéc.  Tên của ông này có cùng một dạng và nghĩa (vua của sự công nghĩa) với Mên-chi-xê-đéc, gợi ý là mấy thế kỷ ở Giê-ru-sa-lem vẫn có một dòng vua vừa cai trị vừa làm thầy tế lễ.  Nếu vậy, khi Đa-vít chiếm Giê-ru-sa-lem (IISa 5:6-9) ông ngồi trên ngôi của Mên-chi-xê-đéc, như vậy, vua hoá ra là thừa kế của một dòng họ vừa là vua vừa kiêm chức thầy tế lễ được Áp-ra-ham công nhận.  Điều này giải thích  Thi 110:1-7

Trong khi Đa-vít ngẫm nghĩ về địa vị cao quí của mình khi làm vua kiêm chức thầy tế lễ, bỗng nhiên như thể ông thấy sự việc qua ống kính thiên văn đang hướng về Đấng Mê-si, thế là tỏ ý trông mong vị vua toàn hảo kiêm chức tế lễ, là Đấng hoàn toàn mà Đa-vít chỉ là bóng đổ báo trước.  Khi thánh thư Hê-bơ-rơ (He 6:20-7:28) viện Mên-chi-xê-đéc ra để chứng minh rằng Chúa Giê-xu thật sự là thầy tế lễ dù không thuộc dòng A-rôn, nhưng Ngài thuộc về một dòng xứng đáng có thể truy nguyên đến qua Đa-vít đến Áp-ra-ham.  Chúa Giê-xu là Mên-chi-xê-đéc thật, còn xưa kia Áp-ra-ham tiếp xúc với một Mên-chi-xê-đéc là mẫu mã đầu tiên về Ngài, còn Đa-vít là bóng đổ trước về Ngài.  Ngài là Đấng mà Xa-cha-ri đã tiên tri.

Thi thiên gồm hai chủ đề chuyển động song song: Vua (1-3) và thầy tế lễ (4-7).  Mỗi chủ đề mở đầu với một lời hứa của Đức Chúa Trời, xác định địa vị nhân vật là vua kiêm thầy tế lễ, công bố quyền cai trị của Ngài, từ Si-ôn trên các vua đời này.  Thi thiên trình bày sự trái ngược giữa lòng tha thiết tôn sùng của nhân dân đối với Ngài và thái độ của dân tộc của các nước bị lật đổ và mô tả vị vua kiêm thầy tế lễ có năng lực tươi mới của tuổi thanh xuân và luôn luôn sung sức nhờ bồi dưỡng đúng lúc.

Tiêu đề câu 1.  (so sánh Mac 12:36-37) Chúa Giê-xu xác nhận Đa-vít là tác giả thi thiên này, được Đức Chúa Trời hà hơi và xác nhận thi thiên khải thị về chức vụ chính thức của Ngài.  Vua Đa-vít nói về vị vua cao trọng hơn mình (He 1:3,13).  Ông nói rằng: ‘Lời của Đức Giê-hô-va thực sự phán với vua của tôi rằng’ (so sánh Gios 5:14).  Kẻ thù nghịch...  bệ chơn.  Để có một hình ảnh thích hợp xem Gios 10:24 hiện thực (He 10:12-13). 2  Từ Si-ôn...  giữa.  Mặc dù giờ đây vua đang cai trị (10:13) ở Si-ôn (12:22-24) vua vẫn ở giữa quân thù.  Phải chờ đến tương lai mới thấy họ qui phục hoàn toàn.  Như vậy thi thiên này viết về vị trí của Ngài và của chúng ta hiện nay (Phi 2:9-11  He 2:8-9).  Cai trị, một động từ mạnh ‘thống trị’.  3 (nghĩa đen) ‘dân của Ngài sẽ là của lễ tự nguyện tự hiến’, tức là ‘chính sự tự nguyện là của lễ’, là sự đáp ứng phải lẽ đối với một vị vua như vậy.  Mặc trang sức.  Có thể cụm từ này chỉ về sự thánh khiết mà dân sự của vua làm xiêm y, nhưng cũng có thể cụm từ này có nhiều khả năng chỉ về chính mình vua trong trang phục là sự thánh khiết của Ngài (Thi 96:9, so sánh ISu 16:29  IISu 20:21).

Lòng rạng đông.  Có lẽ tác giả mượn hình ảnh này từ những chuyện thần thoại xa xưa (Es 14:12) để diễn tả nguồn gốc siêu nhiên của vua, cũng có thể một lối nói gợi hình về nguồn xuất phát của những giọt sương.  Sương móc được xem như là yếu tố đem lại sự sống (26:19  Os 14:5), là yếu tố đến cách bí mật lặng lẽ (IISa 17:12), là sức sống tươi mới của Đức Chúa Trời, giữ gìn vua ‘trong năng lực của một sự sống bất diệt’ (He 7:16). 5 Vị trí của Đức Chúa Trời trong câu này trái ngược với vị trí trong câu 1: Đức Chúa Trời ở bên  hữu của thầy tế lễ hoàng gia để hỗ trợ cho ông trong mọi nỗ lực (so sánh Es 9:7  Gi 14:10), ở vị trí bảo vệ (Thi 121:5) và đỡ đầu (Es 45:1).  Như vậy địa vị có quyền hành hợp với năng lực thực hiện dẫn đến sự thống trị bao trùm toàn thế giới. 6 Làm thế nào một hình ảnh tương tự đi đôi với hình ảnh ‘Chúa bình an’ (Es 9:6) và hiện thực về Chúa Giê-xu trong Tân Ước?  Trước tiên, đúng theo hình bóng về vị vua, vương quốc bành trướng nhờ sự chinh phục của lẽ thật trong Phúc Âm nhằm khiến các dân tộc qui phục (Cong 15:13-18  IICo 4:6), nhưng thứ hai, rồi đây sẽ đến ngàt Đấng khoác trang phục thầy tế lễ vấy đầy máu của sinh tế sẽ đến làm vua trên các vua và rốt cuộc sự chiến thắng lớn lao sẽ thành tựu (Kh 19:11-12) 7 Hình ảnh này gợi nhớ vua Đa-vít dừng chân tạm nghỉ tại khe Bê-sô (ISa 30:10) trong lúc ông đuổi theo quân thù.  Vị vua tối cao sẽ chẳng bao giờ giãn nghỉ hoặc nao núng cho đến chừng mọi kẻ thù đều qui phục Ngài.  Ngước đầu lên so sánh với những câu đồng nghĩa trong Thi 83:2  Cac 8:28 Giop 10:15  Xa 1:21, có nghĩa là hành động cách quả quyết dũng cảm, chế ngự mọi thế lực đối nghịch.

107. CON NHÀ TÔNG KHÔNG GIỐNG LÔNG CŨNG GIỐNG CÁNH (Thi 111:1-112:10)

Hai thi thiên này tương tự nhau về văn phong và chủ đề, cả hai đều là dạng thơ với những chữ cái đầu dòng hợp thành một từ (xem dẫn nhập).  Chủ đề của Thi 111:1-10 là Đức Giê-hô-va theo như Ngài đã tự khải thị qua hành động và lời phán chủ đề của 112:1-10 là người của Đức Chúa Trời, xem xét nơi một người ‘điển hình’ giống Đức Chúa Trời về tâm tánh lẫn hành vi.  Nhiều lần những câu thơ tương đương bày tỏ những ý liên quan với nhau: tấm lòng biết ơn và lòng kính sợ (111:1-10 và 112:1b), người ngay thẳng vui vẻ trong sự vâng lời (1c) Đức Chúa Trời lớn lao, người hùng cường (2a) sự uy nghi của Đức Chúa Trời và sự giàu có của dân sự (3a)...  Đặc biệt là có những điểm tương đồng trực tiếp: Cả Đức Chúa Trời lẫn dân sự đều có sự công bình còn đến đời đời (3b) cùng một từ mô tả các giềng mối Ngài đều là chắc chắn và lòng kiên định của dân sự (8a) Đức Chúa Trời cung ứng sự cứu chuộc cho dân của Ngài, còn họ biểu thị lòng rộng rãi, vãi tiền tài, bố thí cho kẻ thiếu thốn (9a).  Như chúng ta thường nói ‘cha nào con nấy’, cũng vậy, theo Kinh Thánh, khi nhìn chúng ta người ta phải thấy Đức Chúa Trời.  Suốt qua hai thi thiên từ ‘đời đời’/ ‘mãi mãi’ lặp đi lặp lại như tiếng chuông đổ hồi: sự cầu nguyện, giao ước, sự công bình của dân sự, sự an toàn và dòng dõi hậu duệ của họ tồn tại mãi mãi.  Vì Ngài là Đấng đời đời trong công nghĩa nên họ được biệt riêng tách khỏi những sự tương đối ở đời này để đeo đuổi và thể hiện những giá trị đạo đức mà họ thấy nơi Ngài.

1. Đức Chúa Trời hành động và lời phán (Thi 111:1-10)

Câu 1 với ý ca ngợi và sự quan tâm đối với đạo đức (ngay thẳng) hợp với câu 10, kêu gọi kính sợ, vâng lời và ca ngợi.  Trong hai ngoặc đơn này câu 2-9 thân bài bắt đầu bằng cách xác nhận công việc của Đức Chúa Trời là lớn lao (2-3) rồi tiếp tục khảo sát những điều Ngài đã làm (4-9).  Việc thứ nhất (4) và việc cuối (9) là sự khải thị về chính mình Ngài qua danh tánh của Ngài. 4 (nghĩa đen, ‘một kỷ niệm Ngài đã lập về những việc lạ lùng của Ngài’) (so sánh Xu 3:15).  Danh của Ngài chứa đựng tất cả những điều Ngài muốn dân sự biết về Ngài.  Ngài vui thích trong việc ban ân sủng cho người không xứng đáng và giàu lòng thương cảm đối với họ (thương xót so sánh IVua 3:26).  Rồi Ngài chuộc họ (9) - từ cứu chuộc ở đây tập trung vào ý lập giá chuộc: Ngài gánh nhận toàn bộ sự ‘tốn kém’ để giải thoát họ và đưa họ đến chỗ lập giao ước với Ngài.  Nhờ nhớ lại giao ước đã lập với họ mà Ngài cung ứng thực phẩm cho họ (trong sa mạc), đem họ vào xứ và ban hành luật pháp đáng tín nhiệm của Ngài để họ theo đó mà sống (5-7).  Như vậy ân sủng vô điều kiện và lòng thương xót của Ngài tuôn trào trong việc cứu chuộc lúc đầu, đưa dân sự của Ngài vào khuôn khổ của giao ước, trong khuôn khổ đó hằng ngày họ nếm biết Ngài quan phòng dẫn dắt và cung ứng thực phẩm, Ngài có quyền hạn trên kẻ thù của họ, và họ sống nương theo Ngài phán dạy.

2. Nhìn qua tâm tánh và hành vi của người thuộc Đức Chúa Trời (Thi 112:1-10)

Ý tưởng trong thi thiên này dồn dập chuyển động qua các chủ đề rạch ròi với bốn giòng thơ dành cho bốn chủ đề đầu và sáu giòng thơ cho chủ đề cuối: (i)1-2 Cá nhân và gia đình: Lòng kính sợ Đức Chúa Trời chi phối nội tâm mỗi cá nhân khiến cho họ bộc lộ ra bên ngoài lòng vui vẻ vâng phục (1).  Gắn liền với tâm tánh và hành vi này là phước hạnh đặc biệt cụ thể - con cái là những người xứng đáng được khen ngợi (2a, so sánh Ch 20:7) và các thế hệ kế tục cũng được phước hạnh như vậy (2b).  (ii) 3-4 May mắn và bất hạnh.  Công nghĩa có hai phương diện: mãi mãi ‘thuận hoà’ với Đức Chúa Trời, liên tục dấn thân sống công nghĩa.  Người công nghĩa được cung cấp đầy đủ (3a, so sánh Thi 1:3  73:23-26) nhưng không được miễn trừ khỏi những chặng đường tăm tối trong cuộc đời.  Khi rơi vào những cảnh ngộ đó họ đối phó với niềm tin rằng ánh sáng đi liền với hừng đông.  Nhưng khi bóng tối còn kéo dài họ có bổn phận tiếp tục sống ngay thẳng, hay làm ơn và thương xót (so sánh 111:4) trong liên hệ với người khác và có tâm tánh công nghĩa.  (iii) 5-6 Lòng rộng rãi quảng đại và an toàn.  Chắc chắn ánh sáng sẽ chiếu vào bóng tối khi hừng đông đến, cũng vậy điều tốt lành sẽ đến - nhưng chú ý ở đây vẫn đặt nặng vấn đề giữ tâm tánh - hay làm ơn (5a, cùng một từ với hay làm ơn trong 4b và 111:4b), cho mượn (tánh rộng lượng, hào phóng) và đeo đuổi một nếp sống công bình, tức là áp dụng những nguyên tắc công nghĩa qua những quyết định đúng đắn.  (iv) 7-8 Mối đe doạ và lòng tin cậy.  Cuộc sống của người công nghĩa không phải là một vạt hoa hồng.  Tin xấu bay đến (giờ đây không phải bóng tối trong câu 4a mà là sự thù địch của con người 8b) nhưng không đánh tan được sự bình an.  Đương sự vẫn vững tâm kiên trì vì tin cậy Đức Chúa Trời.  Hơn nữa đây không phải là một thái độ phớt qua mà là một thái độ ổn định cho đến chừng sự đe doạ chấm dứt.  Thấy, chắc chắn là không ngụ ý hả hê, đắc chí. 9-10 Tâm tánh, hành vi và số phận.  Mỗi câu trình bày những hệ quả chắc chắn: lòng rộng rãi của một người sống thuận hoà với Đức Chúa Trời và có những hành vi đúng đắn dẫn đến danh thơm tiếng tốt (9, Ro 2:10), lòng gian ác bạo tàn tự huỷ hoại mình (10) và kết thúc với con số không (nghĩa đen) ‘sẽ hư mất’.

108. CA NGỢI VỀ CUỘC XUẤT AI CẬP: MỘT BẢN TRƯỜNG CA VỀ SỰ CỨU RỖI (Thi 113:1-118:29)

Đối với Cơ Đốc nhân, bất cứ điều gì có liên quan đến Chúa Giê-xu Cứu Thế đều có giá trị tột đỉnh và sức thu hút mãnh liệt.  vì vậy có lẽ lắm là nhóm thi thiên này đã từng được dùng trong Lễ Vượt Qua mà Ngài tổ chức khiến người ta càng lưu tâm và khiến nhóm thi thiên thêm phần quan trọng.  Trong Lễ Vượt Qua cuối của Ngài và bữa Tiệc thánh đầu tiên, Ngài và các môn đồ có lẽ đã hát Thi 113:1-114:8 trước khi ăn và hát Thi 115:1-118:29 vào cuối lễ (Mat 26:30).  Chắc chắn là mỗi thi thiên trong nhóm đều có lịch sử thành hình riêng rẽ nhưng gộp chung với nhau, thì cái tên Bài Trường ca Xuất Ê-díp-tô rất thích hợp đó là một bài bình giải về Xu 6:6-7 bằng âm nhạc.

Thi 113:1-9 qui toàn bộ sự việc về Đức Chúa Trời - tức là tự nơi Ngài, chính bản chất uy nghi cao quí của Ngài đã nâng cao trọng vọng người thiếu thốn nghèo khó.  114:1-8 ghi lại hùng hồn cuộc xuất Ai Cập với Đấng Tạo Hoá chi phối điều động thiên nhiên nhằm phục vụ quyền lợi của dân sự của Ngài.  115:1-116:19 cân bằng lẫn nhau với nội dung tập thể (115:1-18) và cá nhân (116:1-19) được giải cứu khỏi sự chết thuộc linh (115:18) và thể xác (116:1-19).  117:1-2 ứng dụng lẽ thật trong cuộc xuất Ai Cập cho các dân trên thế giới.  Những điều đã được thực hiện cho Y-sơ-ra-ên tức là thực hiện cho mọi người.  Cuối cùng 118:1-29 cho phép chúng ta gia nhập đám người đông đảo tiến vào các cổng để đi thẳng đến sự hiện diện của chính Đức Chúa Trời.

1. (a) Đức Chúa Trời, Đấng cao trọng là Đấng được tôn vinh (Thi 113:1-9)

Chủ đề của Thi Thiên là Đức Chúa Trời toàn quyền, siêu việt được tôn quí ở khắp trên trời lẫn dưới đất, bao gồm toàn bộ thời gian, ngự trong mọi khoảng không gian, ngự trên mọi quốc gia, nâng đỡ người nghèo khổ và biến đổi người thất vọng.  Ý tưởng chuyển động từ quyền hành tối cao thống trị trên tất cả mọi sự vật, đến lòng nhân từ chi phối từng con người.

(Thi 113:1-3)  Danh đáng tôn kính  Danh của Đức Chúa Trời (những gì Ngài tự khải thị về chính mình Ngài Xu 3:15) giục giã kẻ phục vụ Ngài ca ngợi Ngài và đáng được toàn thế giới không ngớt tán dương.  Danh cho biết sự ca ngợi đáp lại sự khải thị, và những kẻ tôi tớ cho biết rằng ca ngợi đâm rễ trong sự cam kết dấn thân của một đời sống.

(Thi 113:4-6)  Đức Chúa Trời được tôn cao  Ba lần danh được nhắc đến trong câu 1-3 đi đôi với ba lần xác định tính cách cao quí tôn trọng của Ngài trong câu 4-6: Được tôn cao...  các từng trời...  ngự trên ngôi, hạ mình xuống...  đặng xem xét trời và đất.  Ngài được tôn cao trên mọi người và mọi nơi chốn, tôn cao trên hết cách vô song, siêu việt đến độ Ngài phải cúi xuống mới nhìn thấy các từng trời.  Sự vinh hiển của Ngài vượt trên mọi thực tại, bản thể Ngài tôn quí hơn tất cả mọi giới đáng tôn trọng, tri thức Ngài bao trùm toàn bộ thế giới thọ tạo.

(Thi 113:7-9)  chia sẻ sự cao trọng  Chính mình Ngài được tôn cao vinh hiển (4) Ngài nâng đỡ người thiếu thốn lên Đấng ngự trên ngôi cao sang (5) cho người thiếu thốn một chỗ ngồi - đem họ ra khỏi chốn tối tăm bụi bặm, đặt họ ngồi vào một cái ngôi, tức là được thoả nguyện ước.  Ngài vô hiệu hoà tình trạng bất xứng đáng của họ (nghèo khó...  thiếu thốn) và đảo ngược tình thế vô vọng của họ.  Những việc này đúng trong tình cảnh thời xuất Ai Cập là dường nào - từ việc Đức Chúa Trời kiểm soát điều khiển các thế lực của loài người (Xu 4:22-23  14:30-31) đến việc Ngài biết nhu cầu của dân sự (2:24-25  3:7) và thấu hiểu nỗi đau mất con của các bà mẹ!  Nhưng sự khải thị của những việc đó về Đức Chúa Trời thì vĩnh cữu: Ngài là Đấng ra sao thời đó thì Ngài cũng vẫn như vậy ngày nay.

2. (b) Đức Chúa Trời là vua: trên tất cả, trong tất cả, qua tất cả (Thi 114:1-8)

Sứ điệp của Thi 113:1-9 không phải là một lối tư duy hảo huyền, lấy ước mơ làm sự thật vì 114:1-8 trình bày quyền hành tối cao của Đức Chúa Trời trên các quốc gia (1), đồng hoá với người xưa kia bị ruồng rẫy (2), tể trị trên thế giới thọ tạo (3-7), cung ứng cho người thiếu thốn (8).  Nhưng sự kiện trong thời xuất Ai Cập củng cố những sự kiện trong lãnh vực khải thị.

(Thi 114:1-2)  Cứu chuộc ngự trong  Khi Đức Chúa Trời cứu chuộc chúng ta, Ngài ngự trong chúng ta khi tách dân sự Ngài ra khỏi thế gian là Đức Chúa Trời biệt riêng họ cho chính mình Ngài.  Thi thiên không phải chỉ nói về sự kiện Đức Chúa Trời ngự trong đền thánh của Ngài, một nơi ngự có tính cách địa lý (‘nơi thánh của Ngài’ chỗ ở của Ngài) tức là tại Giu-đa nhưng có ý nói rằng Giu-đa, chính người dân Giu-đa trở nên nơi ngự của Ngài (Eph 2:19-22).  Vì Ngài giải cứu người nào là Ngài biến đổi ngời đó: là Gia-cốp khi Ngài tìm thấy, họ trở nên Y-sơ-ra-ên khi Ngài ngự trong lòng họ (Sa 32:27-28).

(Thi 114:3-4)  Sáng tạo hoàn tất  Những biến động lạ lùng trong cõi thiên nhiên đi kèm với cuộc xuất hành, biến động tại Biển Đỏ (Xu 14:21tt), tại sông Giô-đanh (Gios 3:14tt) và tại Si-nai (19:16tt).  Chuyến vượt Biển Đỏ đánh dấu sự kiện xuất Ai Cập còn chuyến vượt sông Giô-đanh đánh dấu sự kiện tiến vào Ca-na-an.  Như vậy, một khi Đức Chúa Trời khởi công thì Ngài cũng hoàn tất và điều chắc chắn là quyền năng tối thượng ở trong Ngài là Đấng Tạo Hoá cho phép Ngài thực hiện được mọi việc đó, thậm chí những trở ngại mà con người thấy là vô phương khắc phục đều ‘chạy trốn’ trước mặt Ngài.

(Thi 114:5-8)  Lòng thương xót sự cung ứng Một loạt câu hỏi chuyển động nhanh đến cao điểm: chỉ cần sự hiện diện của Ngài là đủ để sự giải cứu lạ lùng xảy ra.  Bởi lòng thương xót của mình, Ngài đồng hoá với con người yếu đuối, ti tiện như Gia-cốp Ngài là Đấng đã khởi sự và cũng hoàn tất công việc nhân từ của mình (3-4, so sánh Phi 1:6) cũng lo cung cấp thực phẩm cho dân sự của Ngài trong cuộc hành trình (Xu 17:1-7).

3. (c) Đức Chúa Trời, Đấng chúc phước và được chúc tụng (Thi 115:1-18)

Chúng ta chỉ có thể ước đoán về hoàn cảnh phát sinh ra thi thiên này.  Phải chăng câu 2 ngụ ý rằng dân sự của Đức Chúa Trời rơi vào một tình thế hỗn loạn trước sự chế nhạo của thế gian nên nêu lên một câu hỏi ngàn đời canh chánh bên lòng ‘danh thánh của Chúa sẽ ra sao đây?’ (1, so sánh Gios 7:9).  Tuy nhiên, có lẽ lắm, dù vẫn chỉ là ước đoán, đất nước vừa đoạt chiến thắng nên ghi công trạng và tôn vinh vua hoặc quan quân.  do đó, có lẽ kẻ thù lâu nay hãnh diện sùng bái tượng thần của mình, đã chế giễu dân sự của Đức Chúa Trời về tình trạng vô hình của Đức Chúa Trời.  Nhưng rất có thể là bối cảnh trong Thi Thiên nằm trong trí tưởng tượng.  Tác giả nghĩ ngợi về cuộc chiến chiếm hữu xứ: thế trận gay go nhưng sự chiến thắng thuộc về Đức Chúa Trời, dân thờ tà thần vỡ lẽ ra là họ tôn sùng những thần chết, còn Đức Chúa Trời tỏ ra Ngài là vua thành tín (1) và cầm quyền điều hành trên tất cả (16).  Bố cục của thi thiên gói ghém đầy đủ câu chuyện:

A1 (c.1-3) Đáng phải tán tụng chỉ một mình vua là Đức Chúa Trời của các từng trời

B1 (c.4-8) Hình tượng và những người tin cậy hình tượng

B2 (c.9-15) Đức Chúa Trời và những người tin cậy Ngài

A2 (c.16-18) Đáng phải tán tụng vua là Đức Chúa Trời của các từng trời

Thi thiên này là một tiết mục thờ phượng đối đáp (so sánh Exo 3:10-11).  Phải chăng là một tốp trong ban hát ca những câu 9a, 10a, 11a rồi một tốp khác đáp lại với câu 9b,10b,11b?  Phải chăng hội chúng hát xác nhận câu 12a còn toàn ban đồng ca câu 12b,13?  Có thể chung quanh phần ca hát chính đó là phần đọc đối đáp, hội chúng đọc câu 1-3,16-18, người hướng dẫn thờ phượng đọc câu 4-8,14-15 đả phá hình tượng và chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên.  Dù thế nào đi nữa thi thiên này sống động không kém gì một buổi thờ phượng đến cả ý thần học trong nội dung cũng vậy.

4-8  Quan điểm đặc thù của Cựu Ước về hình tượng và những người thờ hình tượng.  Một hình tượng chẳng có năng lực thuộc linh nào, chẳng có một thực hữu nào, hình tượng chẳng tiêu biểu cho một ‘thần linh’ vô hình nào thực hữu của hình tượng là tài khéo của tay thợ đã thể hiện trên hình tượng (4-7,  Es 40:18-20  41:5-7).  Dầu vậy, hình tượng có thể huỷ diệt những người thờ lạy hình tượng (8,  Es 44:6-20).  Cụ thể là không có sự khải thị bằng lời nói (miệng), không hề giám sát ai về mặt đạo đức (so sánh Thi 53:2), không hề đáp ứng lời cầu xin (nghe), không hề có vấn đề hoà giải qua của lễ (ngửi, Sa 8:21), không hề có sự chăm sóc (tay để rờ, 95:7), không hề di chuyển đi đâu (đi), không hề có tư duy (tiếng thì thầm chứng tỏ đang ngẫm nghĩ). 11 Kính sợ Đức Giê-hô-va.  Sau này từ ‘người kính sợ Đức Chúa Trời’ được dùng để chỉ những người mộ đạo, mới đơn sơ gia nhập Do Thái giáo.  Ở đây từ này chỉ cả hai nhóm người trong câu 9-10, dân thường lẫn thầy tế lễ.  Tin cậy và kính sợ, tin cậy có tính cách đơn sơ, thân thiết, cân đối với kính sợ có tính cách kinh ngạc, tôn sùng.  Đó là nét đặc thù nơi dân sự của Đức Chúa Trời. 17  Câu này hợp với câu 1 cho biết có một vụ khủng hoảng nào đó mà Đức Chúa Trời đã thương xót giải cứu bằng không thì tất cả mọi người đã mất mạng.  Do đó, trong câu 18 lại có thêm lý do để kính sợ Đức Chúa Trời.  Nếu căn cứ vào câu 17 và đối chiếu với những đoạn Kinh Thánh khác như Thi 88:10-12 để rút ra chủ trương của Cựu Ước về tình trạng của người ta sau khi qua đời thì chúng ta hiểu sai câu 17 lẫn 88:10-12.   88:1-18 nói về cái chết dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nên đương nhiên là vô hi vọng.  Nhưng ở đây câu 18 rõ ràng tỏ ý hi vọng trông mong dâng lên sự ca ngợi mãi mãi, cho đến đời đời.  Vì vậy, tốt hơn là hiểu rằng nếu không nhờ sự can thiệp của Đức Chúa Trời thì ai nấy đều đã mất mạng.  Sự kiện này khơi bùng lên một tinh thần ca ngợi không hề ngớt.

4. (d) Đức tin và sự tự do (Thi 116:1-19)

Hoàn cảnh là một mối nguy đe doạ tính mạng (3,8,15) do con người quỷ quyệt lừa phỉnh gây ra (11) và do ý thức kém cỏi của đương sự (6).  Nhưng sự cầu nguyện xuất hiện trong hoàn cảnh này (1-4).  Đức Chúa Trời lắng nghe (1-2) ban ân huệ (ưu đãi người không xứng đáng), công nghĩa (không bao giờ đi tách khỏi những lời đã hứa và những đường lối Ngài đang đeo đuổi cho dân sự), thương xót (tình cảm dao động trước nỗi khổ của họ) (5), và cái chết của người Ngài yêu thương quí mến (15).  Vì vậy Ngài giải cứu (4-6), giải thoát khỏi sự chết (8), khỏi ách nô lệ (16) và cung ứng đầy đủ mọi thứ (7, 12).  Thế là đương sự lo làm trọn những lời hứa nguyện cũ, hứa nguyện về lòng yêu thương (1), về sự cầu nguyện (2), về sự an nghỉ (7), về nếp sống (9), về sự cứu rỗi mà đương sự hưởng (13) và về sự làm chứng công khai (14, 18).  Tuy nhiên, trên hết đương sự đối phó với sự khủng hoảng bằng đức tin, là chìa khoá biến mọi sự trở nên như mới (8-11), điểm tựa, điểm xoay của toàn Thi Thiên.

A1 (c.1-2)  Cầu cứu Đức Chúa Trời trong ngày hoạn nạn

B1 (c.3-4) Đối phó với tình thế bằng lời cầu nguyện

C1 (c.5-7) chu cấp đầy đủ, an nghỉ

D (c.8-11) Đức tin khiến mọi sự nên mới

C2 (c.12-14) Chu cấp đầy đủ, thái độ đáp ứng

B2 (c.15-16) Đức Chúa Trời đối phó với hoàn cảnh

A2 (c.17-19) Kêu cầu Đức Chúa Trời trong ngày được giải cứu

Chú ý 1-2 liên hoàn với 17-19 bởi cụm từ tôi sẽ cầu khẩn 3-4 với 15-16 bởi câu dây sự chết vương vấn tôi, sự chết của người thánh, và Đức Giê-hô-va ôi 5-7 với 12-14 bởi cụm từ hậu đãi, ‘cung ứng đầy đủ’ và các ơn lành, ‘ơn trọn vẹn’.  Tất cả tập trung hướng vào câu 8-11 là trọng tâm của niềm tin.  Từ chủ chốt là tôi tin (10) đứng ở vị trí giữa sự sống mới (8-19) đã được hưởng với sự sống cũ, vốn phải chịu đựng (10-11).  Y như xưa kia, một lời cầu cứu thống thiết (Xu 2:23-24) khiến cho Đức Chúa Trời phát động cuộc xuất hành, cũng vậy đức tin được vận dụng qua lời cầu nguyện vẫn còn là một năng lực mạnh mẽ nhất mà dân của Đức Chúa Trời sở hữu tại trần gian này.

1 (Nghĩa đen) ‘Tôi yêu mến (Ngài) - vì Đức Chúa Trời nghe tiếng tôi!’ 3,6,11,15 Sự chết và âm phủ ví như dây thòng lọng hùng hổ tấn công các nạn nhân (3).  Còn những mối nguy đe doạ khác nữa: những nỗi khó khăn trong đời sống (3), tình trạng thấp thỏi, kém cỏi của chính đương sự (6, nên dịch từ thật thà là ‘ngu dại thiếu sáng suốt’), sự giả dối của con người (11).  Dầu vậy, không có vấn đề chết trước hạn định, vì đối với Đức Chúa Trời chết là điều hết sức quí trọng, không thể vận dụng cách bừa bãi, vô cớ.  Sự chết của những người thánh của Ngài, người yêu dấu của Ngài, được kể như viên ngọc quý mà Ngài ban cho họ, quý đối với và cũng quý đối với họ vì khi chết họ được Ngài đón về nhà.  Như vậy, chết là phước hạnh cuối cùng và lớn lao nhất mà Đức Chúa Trời ban cho người thuộc về Ngài.  10  Tôi tin.  Ở đây dùng như thế này có nghĩa là ‘Tôi có đức tin’.  Nên.  Đang phải đối diện với cuộc đời lắm nỗi khắc nghiệt làm nao núng lòng người mà tác giả vẫn nói được như vậy thì không phải là kém đức tin, nhưng đây là một dấu hiệu có đức tin.  Lẽ ra nên dịch là ‘khi, lúc’ (Tôi giữ vững (duy trì) niềm tin ngay cả khi tôi tuyệt vọng nhất) hoặc ‘dù’ (Tôi cứ bám lấy niềm tin dù mọi hi vọng đã tiêu tan). 13  Một hình thức báo đáp đầu tiên đối với những ơn lành của Đức Chúa Trời là tiếp nhận càng ngày càng nhiều hơn.  Cái chén ở đây là sự cứu rỗi mà Ngài ban cho tức là sự cứu rỗi trọn vẹn, hoàn toàn. 16 Tôi tớ, con trai...  mở lòi tói (giải phóng, bản Diễn Ý).  Ba hình thức ràng buộc: chính mình đang ở trong thân phận tôi tớ (tôi tớ) thừa kế địa vị tôi tớ (Xu 21:4, con trai) và người nô lệ đến kỳ được tự do nhưng vì yêu mến chủ nên tình nguyện ở lại làm việc cho chủ (21:5-6). 17-19 Mô tả sự làm chứng ở chỗ đông người một cách - càng hùng hồn hơn trong bối cảnh của những kinh nghiệm nóng bỏng đang tác dụng mạnh trên tác giả.  Những lời hứa nguyện trong tình cảnh nguy khó không phải là những sự mặc cả với Đức Chúa Trời mà là dấu chứng cụ thể về thái độ nghiêm túc muốn học hỏi qua kinh nghiệm và muốn trở nên người tốt hơn, hết lòng hơn sau đó.

5. (e) Một Đức Chúa Trời, một thế giới, một niềm vui (Thi 117:1-2)

Thi thiên này được trích dẫn trong Ro 15:11 để củng cố cho lập luận của Phao-lô rằng Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế của  của thế gian, và được ứng nghiệm trong Kh 7:9  Thi 117:1-2 mổ xẻ vào tới ngọn ngành của mục đích của Đức Chúa Trời và vươn tới biên cương xa xăm nhất của thế giới.  Ngay từ đầu, đức tin thời xuất hành cũng đã phản ánh lời hứa dành cho Áp-ra-ham về vấn đề thế giới được phước hạnh nhờ ông nên đã có những luật lệ tiếp nhận người ngoài huyết thống Do Thái vào cộng đồng trong giao ước (Xu 12:48-49).  Cũng vậy, lời cầu nguyện của Sa-lô-môn chuyển động nhẹ nhàng từ những mối quan tâm đối với dân tộc đến việc cầu xin Đức Chúa Trời lắng nghe những người ngoại quốc khi họ cầu nguyện với Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên (IVua 8:41-43).  Cũng vậy Thi Thiên bày tỏ rõ ràng rằng các hành động cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhắm vào Y-sơ-ra-ên đồng thời cũng là sự cứu rỗi cho toàn thế gian (Thi 96:1-98:9).

Vì thế, ở đây tuyên bố rằng có một Đức Chúa Trời độc tôn trên mọi dân tộc (Hỡi các nước...  hỡi các dân...  Đức Giê-hô-va) rằng toàn thể nhân loại trên thế gian họp làm một trong một Đức Chúa Trời (đại danh từ chúng ta trong câu 2 gộp tất cả mọi dân tộc với Y-sơ-ra-ên) rằng chỉ có một Đức Chúa Trời với tình yêu thương dành cho tất cả (lòng yêu thương nhân từ, không hề thay đổi, và sự thành tín đời đời của Ngài) rằng niềm tin chân chính là vui mừng ca ngợi đáp ứng Đức Chúa Trời độc nhất là Đấng đầy lòng yêu thương và thành tín. 2 Rất lớn, ‘có quyền năng’, ‘chế ngự’.  Chúng ta.  Nếu đại danh từ này chỉ về dân Y-sơ-ra-ên mà thôi thì thi thiên này công nhận rằng những điều dành cho dân Y-sơ-ra-ên đương nhiên cũng dành cho mọi dân tộc trên thế gian.  Nhưng thoả đáng hơn, như nói ở trên, nên xem từ này chỉ về một Y-sơ-ra-ên bao gồm tất cả mọi dân tộc trên thế giới đều làm con cháu Áp-ra-ham (47:9  Ro 4:11-12  Ga 6:16).

6. (f) Cổng vào của sự công nghĩa (Thi 118:1-29)

Cuộc xuất Ai Cập không phải chỉ nhằm giải phóng khỏi ách nô lệ mà còn có mục đích sâu xa hơn, đó là cứu rỗi và biến đám nô lệ thành ‘dân của Đức Chúa Trời’, Thi 118:1-29 giãi bày mục đích đó một cách tượng trưng.  Nội dung tổng quát của thi thiên chuyển động qua một đoàn người kéo nhau đến cổng đền thờ (27).  Trên đường đi, có phần đối đáp giữa đương sự và một đoàn người.  Toàn thể đoàn người nói câu 1 và câu 29 trong câu 2-4 đoàn người và đương sự trao đổi đối đáp.  Trong phần còn lại của thi thiên, đoàn người hưởng ứng những điều đương sự giãi bày, và ‘thực sự’ có chung của Thi Thiên là chuyện đời của đương sự với những kinh nghiệm đau đớn (5-7), với những thái độ thù địch trên thế giới (10-14), những sự sửa trị uốn nắn của Đức Chúa Trời (17-18) cho đến mức hội đủ điều kiện để vào cổng của sự công nghĩa (19), trong quá trình đó đương sự dẫn dắt theo mình một đoàn người.  Họ là những người công nhận hưởng ứng lập trường tin cậy của đương sự (6-7) với (8-9) và xác nhận sự đắc thắng của đương sự trong danh Đức Chúa Trời (10-14 với 15-16).

Câu 19 trở đi giọng điệu thay đổi: nói về Đức Chúa Trời nay đổi thành nói với Đức Chúa Trời tiếng người nói cũng thay đổi: những người canh giữ cổng (thầy tế lễ) xác định điều kiện vào cổng (20) còn các thầy tế lễ bên trong đền thờ nghinh đón đương sự vào như là một Hòn đá (22), hoan nghinh đương sự đến như là ngày mà Đức Chúa Trời đã làm nên (24) và chúc tụng ông là Đấng đến trong danh Đức Chúa Trời (26) và kêu gọi tất cả hội chúng vừa vào họp chung quanh bàn thờ mà dự lễ (27). 

Tình ý trong thi thiên gợi ý rằng nội dung kể về một diễn biến thực sự xảy ra, có lẽ là một kỳ lễ (Lễ Vượt Qua) trong đền thờ.  Hoặc có thể một buổi lễ mà nhân vật chính là vua, biểu thị qua một cá nhân trong một cuộc hành hương của toàn thể một dân tộc đi từ nỗi gian truân (5) và những sự chống đối của thế gian (10) đến nỗi bị cái chết đe doạ (17) đến ánh sáng (27) và vào trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời.  Dầu vậy trong thi thiên có những chi tiết không phải chỉ nhằm nói đến Đức Chúa Trời nhớ lại và bày tỏ lòng thương xót mà nói đến những chuyện sâu xa hơn nữa, vượt quá mức chịu đựng của bất cứ một vị vua nào hoặc một dân tộc nào, và có mức yêu cầu cao quá khả năng làm trọn của vua hoặc dân.  Khi nào thì tất cả các dân tộc bao vây, đe doạ và bị đánh lui?  Ai là người có thể đến cổng của sự công nghĩa và được nghinh đón như Hòn đá và ai là người đến trong danh của Đức Chúa Trời?  (22,26)?

Thi thiên có tính cách kỷ niệm nhưng cũng có tính cách hướng vọng về tương lai.  Thi thiên vọng về một Đấng sẽ đến, mọi chi tiết sẽ thành sự thật trong Đấng đó.  Rốt cuộc Tân Ước cung ứng lời đáp, một lời đáp do câu hỏi của Cựu Ước nêu ra vì Đấng Mê-si trong Tân Ước không phải là niềm tin tháp vào Cựu Ước một cách gượng gạo mà là phát sinh một cách tự nhiên, đương nhiên từ niềm tin và chủ trương của Cựu Ước.

(Thi 118:1-4)  Lời mời gọi sự hưởng ứng  1  Thi 136:1-26 luận giải vào chi tiết những ý gói ghém trong lời mời gọi này: đây là một lời nhắc nhở ngắn gọn về tất cả những việc lớn lao mà Đức Chúa Trời đã làm (so sánh Gie 33:11). 2-4 (Thi 115:9-11).

(Thi 118:5-7,8-9)  Nỗi gian truân, sự cầu nguyện, vững tâm tin cậy  Không có lời nào giới thiệu nhân vật nói những câu này (5-7).  Gian truân (so sánh Thi 116:3) gợi ý ‘sức ép/ căng thẳng’ trái ngược với sự tự do nhận được khi cầu nguyện.  Nơi rộng rãi, không tù túng, chật hẹp.  Kinh nghiệm loại này khiến cho đương sự vững tâm đối với tương lai - trong khía cạnh những sự chống đối của loài người (6,  56:11  He 13:6) và chung cuộc. 7 Vui thấy kẻ ghét tôi bị báo (Thi 112:8). 8-9  Đoàn người đi cùng với đương sự bàn tán về lời làm chứng của đương sự, xác nhận đức tin với sự vững lòng là giải pháp có hiệu quả.

(Thi 118:10-14,15-16).  Kẻ thù vây quanh, danh xưng quyền năng, cánh tay mạnh mẽ  Đương sự bộc lộ thêm những nỗi nguy nan của mình (5): các nước đã liên minh chống lại đương sự, vây chặt đương sự.  Nhưng dù họ đã quyết tâm tấn công như một bầy ong vỡ tổ, họ lại bị vùi dập nhanh chóng như ngọn lửa gai (12) nhờ hành động có hiệu quả trong và bởi danh của Đức Chúa Trời (10-12).  Dầu vậy, mối nguy là một thực tại và chỉ có được sự đắc thắng nhờ Đức Chúa Trời can thiệp (13) ban cho năng lực và sự cứu rỗi (14). 15-16 khớp với 8-9 những người thuận hoà với Đức Chúa Trời (công bình) được kinh nghiệm niềm vui mừng, cứu rỗi (như trong c.14).  Tay tượng trưng cho sức mạnh của chính chủ nhân của cái tay đang hoạt động.  Tay hữu chỉ về sức mạnh lớn lao, quan trọng hơn.  Qua sự đắc thắng của đương sự họ nhìn thấy một thí dụ điển hình quan trọng nhất về sự hoạt động của Đức Chúa Trời.

(Thi 118:17-21).  Được Đức Chúa Trời sửa trị, được công nghĩa, được vào cổng  Trong khi đương sự làm chứng lần thứ ba (17-18) thì ông vừa đi đến cổng đền thờ (19) và xin phép vào cổng dù các cổng đó có tên là cổng công nghĩa (tức là điều kiện vào cổng là phải công nghĩa).  Những người canh cổng trả lời (20) xác định điều kiện vào cổng.  Rồi trong khi đương sự đi qua cổng (21), đương sự cảm tạ về sự việc mình được Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện và giải cứu. 17  Trong bối cảnh nguyên thuỷ câu này khớp với câu 6-7: đương sự khẳng định rằng chính mình chớ không phải kẻ thù sẽ đắc thắng.  Nhưng khi chúng ta xem thi thiên này qua lăng kính Chúa Giê-xu thì câu này có ý nói rằng chung cuộc sự chết sẽ không đắc thắng (Gi 10:18). 18 (Es 53:5,6,10).  Đằng sau sự thù địch của con người, đương sự nhìn thấy bàn tay của Đức Chúa Trời (Cong 2:23). 19  Chú ý lời yêu cầu có tính cách cá thể (hãy mở cho tôi).  Đương sự đã hội đủ điều kiện công nghĩa (Es 53:11  Gi 16:10  IGi 2:1)

(Thi 118:22-23,24-25,26-29)  Hòn đá, ngày Đấng sắp đến Một lần nữa nếu nghe những câu này hoặc đọc theo thể đối đáp thì chúng ta hiểu cách sâu sắc hơn.  Các thầy tế lễ trong đền thờ hoan nghinh nhân vật vừa mới vào đền thờ là Hòn dá, rồi đám người cùng đi với đương sự đáp lời (22-23) các thầy tế lễ đón mừng ngày đương sự đến và đoàn người cầu mong được kinh nghiệm phước hạnh của ngày đó (24-25) các thầy tế lễ chúc phước trên đương sự và đoàn người (26 ngươi, số nhiều) và đoàn người đáp lời rồi các thầy tế lễ mời họ dự lễ (27) Đương sự (28) và đoàn người (29) tham dự buổi lễ.  Hòn đá là một biểu tượng về Đấng Mê-si (so sánh Es 28:16  Xa 3:9).  Trong Mat 21:42-44 Chúa Giê-xu liên hệ câu 26 với Es 8:14 (IPhi 2:6-8 so sánh Ro 9:33).  Khởi đầu trong bối cảnh của thi thiên này câu đó có thể là một câu tục ngữ nói về một thực tế quan trọng trái ngược với quan điểm của người đời: nào ai có ngờ là một dân tộc nô lệ lại là tuyển dân đóng vai trò chủ chốt trong lịch sử và số phận của nhân loại?  Hoặc giả, nếu thi thiên này là một bài thơ diễn tả qua một số nghi thức sự thất bại của vua trong triều đại Đa-vít đối với các nước và sự ‘hồi sinh’ sau khi Đức Chúa Trời can thiệp, thì ý của câu này là nào ai có ngờ một nhân vật hèn mọn đến thế lại trở nên đỉnh cao nhất trong các mục đích của Đức Chúa Trời?  Dầu vậy, thực tại trong Chúa Giê-xu sáng rực hơn tất cả những thực tại làm khúc dạo đầu đó!  Xưa nay có ai khác bị giới cao cấp trong giáo hội lẫn chính quyền loại trừ cách khinh miệt đến thế không?  Có người nào khác bị hạ nhục, bị đè bẹp dưới sức đề kháng chống đối trên trường quốc tế (Cong 4:27), thực sự bị giáng xuống đất bụi của sự chết để rồi được ban cho ‘vị trí cao quí nhất ở thiên đàng’, ‘vượt trổi hơn tất cả các chủ quyền, thế lực và mọi danh’?  Ngoài Chúa Giê-xu ra, ai có thể là việc lạ lùng này (23, Es 53:10  Cong 2:23  Phi 2:9-11)

(Thi 118:24).  Ngày ấy  Ngày đương sự cầu nguyện trong khi gánh chịu sức ép lớn lao nhất và phải đối diện lắm nỗi khó khăn trục trặc với lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời (5-7), là ngày đương sự đối diện và khắc phục liên minh hùng hậu của thế giới (10-12) là ngày đương sự đối đầu với sự thù địch của một kẻ thù duy nhất (13, nghĩa đen, ‘ngươi (số ít), xô... ‘Gi 12:31) và đắc thắng trong tiếng hát ca (13-14), là ngày đương sự sống sót qua một cơn nguy hiểm đe doạ đến tính mạng và sự sửa trị của Đức Chúa Trời (17-18) rồi đạt được điều kiện công nghĩa để đi qua cổng vào trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời (19-21) là ngày Hòn đá bị loại bỏ trở nên Hòn đá chốt góc (22) - là một ngày trong mọi ngày dưới quyền sáng tạo của Đức Chúa Trời!

Câu 27 là một câu rất tối nghĩa trong nguyên văn Hi Bá Lai.  Có lẽ lắm ý muốn nói là ‘hãy đến cùng nhau dự tiệc đặt cơ sở trên công trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời’. 28 Phải chăng câu này phản ánh ý Chúa Giê-xu nói với nhân tánh vinh hiển và đắc thắng vinh quang trọn vẹn khi Ngài trở về cùng cha Ngài và là cha của chúng ta, Đức Chúa Trời của Ngài và là Đức Chúa Trời của chúng ta (Gi 20:17) và còn câu nói nào với ý nghĩa phong phú hơn câu 29 cho chúng ta đáp lại đâu?

109. Bảng chữ cái bằng vàng trong Lời của Đức Chúa Trời (Thi 119:1-176)

Đây là một bài thơ có giá trị nhất trong nghệ thuật làm thơ với từ đầu dòng của mỗi câu thơ là một chữ cái (xem Kinh Thánh phần văn thơ).  Bài thơ này xử lý một vấn đề xứng với tài nghệ của tác giả.  Chúng ta không rõ tác giả sáng tác bài này vào thời nào, nên cũng không thể xác định những từ tác giả dùng: lời của Chúa, luật pháp, giềng mối, lời hứa...  là chỉ về bao nhiều sách trong Kinh Thánh mà chúng ta hiện có.  Chúng ta có diễm phúc sử dụng những từ đó khi mà toàn bộ Kinh Thánh đã được hình thành, còn tác giả thi thiên được vinh dự tán dương một thực tại căn bản là, dù Kinh Thánh được hình thành dưới hình thức nào hoặc như thế nào, lời của Đức Chúa Trời là căn bản cho cuộc sống của dân Đức Chúa Trời.  Đức Chúa Trời của chúng ta là Đức Chúa Trời phán dạy, và chính là nhờ sở hữu sự khải thị bằng ngôn từ mà dân sự của Đức Chúa Trời khác hẳn mọi người trên thế giới.

Thi Thiên vận dụng chín từ khác nhau để chỉ về ‘lời của Đức Chúa Trời’ (trong toàn bộ 176 câu của bài thơ này, hầu như câu nào cũng nhắc đến lời của Đức Chúa Trời).  Có thể gộp chín từ đó vào năm nhóm: (I) Từ phát xuất từ lời nói của Đức Chúa Trời.  Lời (những lời) (Hi Bá Lai dbr, 9,16,17,25,28,42,43,49,57,65,74,81,89,101,105,107,114,130,139,1471,60,161,169) và lời/ lời hứa (những): (Hi Bá Lai ’imrh, 11,38,41,50,58,67,76,82,103,116,123,133,140,148,154,158,162,170, 172).  Cả hai đều phát xuất từ động từ nói.  ‘Lời’ là điều chính Đức Chúa Trời đã phán, hoặc trực tiếp, như những trường hợp phán với Áp-ra-ham (Sa 17:1) hoặc phán với Môi-se hoặc qua Môi-se hoặc qua một trong các tiên tri khác (Xu 3:5  19:9  Am 1:1,3).

(II) Có hai từ được dùng xác định rằng từ này bày tỏ tâm trí của Đức Chúa Trời: mạng lịnh (Hi Bá Lai, mispt 7,13,20,30,39,43,52,62,75,84,91,102,106,108,120,32,137,149,156,160,164,175) bắt nguồn từ động từ ‘đưa ra sự xét đoán’, quyết định thế nào là đúng thế nào là sai chứng cớ (các, những) (Hi Bá Lai ’çdt 2,14,22,24,31,36,46,59,79,88) ’çdut (95,99,111,119,125,129,138,144,152, 157,167,168) phát xuất từ động từ ‘làm chứng’: Đức Chúa Trời dùng lời phán của Ngài để tự chứng về bản tánh và lẽ thật của Ngài.

(III) Lời của Đức Chúa Trời và giá trị lâu dài được biểu thị qua từ luật lệ (Hi Bá Lai hơq 5,8,12,16,23,26,33,48,54,64,68,71,80,83,112,117,118,124,135,145,155,171).  Phát xuất từ động từ ‘ghi khắc’ từ này chỉ về những điều được khắc trên đá lưu truyền mãi mãi về sau.

(IV) Từ luật pháp được vận dụng để chỉ về quyền hạn của lời đan quyện với lòng yêu thích (Hi Bá Lai torh 1,18,29,34,44,51,53,55,61,70,72,77,85,92,97,109,113,126,136,142,150,153,163,165, 174).  Dù rằng từ này diễn tả sự áp đặt đầy quyền uy, nhưng về cơ bản từ này có nghĩa là ‘dạy dỗ’ và nhất là trong trường hợp một người cha cẩn thận dạy dỗ con trai yêu dấu của mình (Ch 3:1).

(V) Cuối cùng lời của Đức Chúa Trời nhắm đến sự ứng dụng vào thực tế của cuộc sống.  Từ điều răn được dùng để chỉ về tính cách đó (Hi Bá Lai miswh, 6,10,19,21,32,35,47,48,60,66,73,86, 96,98,115,127,131,143,151,166,172,176).  Nếu trong thực tế cần phân biệt từ này với từ giềng mối thì từ điều răn có ý bảo rằng ‘hãy làm theo điều đã nghe truyền dạy’, còn từ giềng mối (Hi Bá Lai piqqud, 4,15,27,40,45,56,63,69,78,87,93,94,100,104,110,128,134,141,159,168,173) nghiêng về tính cách áp dụng lời của Đức Chúa Trời vào mọi chi tiết của cuộc sống.  Còn từ đường lối (Hi Bá Lai derek 3,15,37) chỉ về cách sống ngày nay gọi là ‘mốt, kiểu sống’.

Xuyên qua những từ này có một số những ý được nhấn mạnh rõ ràng: thí dụ lòng yêu thích lời của Đức Chúa Trời (16,30,54,70,127,140,159,167), sự quyết tâm vâng lời (17,34,60,100,106,129), cương quyết bám lấy lời Chúa trong những lúc khó khăn (51,61,83,87,95, 109,110,143,157,161).  Lòng yêu thích quí trọng lời Chúa được nêu ra làm cơ sở để cầu xin Đức Chúa Trời thương xót (77) và giải cứu (153) Đức Chúa Trời luôn luôn đối xử tốt đẹp y như lời Ngài phán (41,59,65,76,116, 154,170).  Thi thiên này là một kho báu vô tận.  Coi như toàn bộ là một bài cầu nguyện theo thể thơ, vì đối tượng là Đức Chúa Trời, còn lời thơ xuất phát từ một tấm lòng chân thành của một con người với đầy đủ mặt yếu đuối lẫn thất bại.  Cho dù chúng ta có nguyện vọng mạnh mẽ đến đâu đối với việc vâng lời và tuân thủ lời Chúa và đặt để lời Chúa vào hàng ưu tiên trong ý nghĩa và trong cuộc sống, rốt cuộc chúng ta vẫn như chiên đi lạc đang cần đến sự chăm sóc của Đấng Chăn Chiên (176).

Dù thỉnh thoảng xuất hiện câu thơ với chùm ba giòng (48,176) nhưng trong suốt bài thơ, tác giả chủ ý dành tám câu thơ với chùm hai giòng cho mỗi chữ cái.  Tuy vậy, trong văn thơ Hi Bá Lai thì hình thức phụ thuộc ý tưởng, và tác giả cẩn thận xác định một vấn đề trong mỗi khổ thơ dành cho một chữ cái.

(Thi 119:1-8) AlephTầm quan trọng củachớ chi!’ (phải chi).  Tiêu biểu cho toàn bộ Thi Thiên, phần mở đầu xác định rằng tuân theo lời Chúa là bí quyết của cuộc sống.  Lời than vang vọng trong câu 5 là điểm chốt của phần này.  Những người sống theo lời của Ngài một cách bền bỉ và hết lòng (1-3) - thì được phước gấp đôi vì đó là lời của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời muốn chúng ta vâng theo lời Ngài (4).  Ôi! phải chi trước kia tôi tuân thủ theo lời Ngài (5) - thì nay không bị thất vọng vì những điều mong ước không thành (6), trái lại lòng đầy niềm vui ca ngợi (7).  Với trợ lực của Đức Chúa Trời tôi sẽ vâng lời (8). 1-4 có tính cách khách quan: toàn là những dữ kiện thực tế: Phước cho (1-2) với sự chấp thuận của Đức Chúa Trời trọn vẹn trong đường lối mình, một cuộc đời xây dựng hoàn toàn chung quanh luật pháp của Đức Chúa Trời, bên ngoài (đi), trong nội tâm (tấm lòng) không làm trái phép công bình, ‘có quyết định, có chủ ý không làm’...    Chúa (4) nhấn mạnh, tức là ‘chính Ngài, chính Chúa’ đã... 5-8 Có tính cách chủ quan:  Niềm khao khát, lòng mong đợi và quyết tâm.  Chăm chỉ (6) đây là lý tưởng của sự việc ‘đường lối được vững chắc’.  Hổ thẹn, thất vọng đối với cuộc sống.  Luật pháp Chúa (8) nhấn mạnh , khớp với chính Chúa, chính Ngài trong câu 4.

(Thi 119:9-16)  TethTấm lòng chăm chỉ  Aleph bày tỏ nỗi niềm khao khát (5) nhưng đường tiến thực hữu là tập trung niềm khao khát đó vào lời của Đức Chúa Trời và vào chính mình Đức Chúa Trời (10,12).  Trường hợp nêu ra ở đây là một thanh niên, tức là trường hợp một đời sống trong sạch thường xuyên chịu thúc ép.  Một nếp sống trong sạch có thể hiện được hay không còn tuỳ thuộc vào khuynh hướng của ý chí (10), tâm tư và trí nhớ (11), những quan tâm chuyên chú của miệng lưỡi (13) và của cảm xúc (14,16), những đề tài tập trung của tư tưởng (15,16), lối sống bên ngoài (đường lối) phát xuất từ những yếu tố nội tâm, tất cả dầm thấm trong lời của Đức Chúa Trời, nhưng tập trung vào Đức Chúa Trời trong phần ca ngợi và giáo huấn (12). 9 Làm sao, là một câu hỏi thực tiễn, ‘bằng cách nào?’  Nan đề ngoại tại (9) nhưng giải đáp thì nội tại (10-16). 10  Khuynh hướng dứt khoát (hết lòng tìm cầu, toàn bộ phần nội tâm) theo Đức Chúa Trời và cầu nguyện cụ thể. 11 Lời của Đức Chúa Trời chất chứa đầy trong lòng là thuốc trị tội lỗi. 13 Câu này mở đầu với môi miệng của con người và kết thúc với miệng của Đức Chúa Trời: những câu nói của chúng ta, tự nhủ hoặc nói với người khác đều thấm đẫm những điều Đức Chúa Trời đã phán dạy. 15 Các động từ chính cho đến đây ở thì ‘quyết tâm hoàn thành’ (‘Tôi quyết tâm tìm kiếm...  giấu...  thuật lại...  vui mừng’).  Giờ đây tác giả cầu nguyện dâng lên những ý tưởng tương tự:  ‘Tôi sẽ suy gẫm...  chăm xem’.  Phải củng cố quyết tâm của chúng ta bằng lời cầu nguyện. 16 Một quyết định lặng lẽ cuối tập trung vào sự vận dụng lẽ phải, cảm xúc và trí nhớ (16).

(Thi 119:17-24).  GimelNgười lệ thuộc vào Đức Chúa Trời  Các giòng thơ trong phần này liên hệ với nhau từng đôi một:  17-18 (Đức Chúa Trời vận hành, đốc thúc tinh thần vâng phục), đi đôi với câu 21-22 (Đức Chúa Trời vận hành hình phạt kẻ không vâng lời và ban thưởng cho người biết vâng lời).  19-20 (tác giả chẳng qua chỉ là người ngoại quốc, khách lạ trên trần gian)  đi đôi với 23-24 (tác giả là đối tượng của sự chống đối thù địch).  Tính khí nồng nhiệt, sôi nổi trong chúng ta không tạo điều kiện dễ dàng cho nếp sống trong sạch (9), và theo như phân đoạn Gimel này cho thấy thì ngay cả hoàn cảnh chung quanh chúng ta cũng vậy.  Trần gian này là đất khách quê người (19) trong xã hội có những người từ bỏ lời (21), và chúng ta bị người ta chống đối trên bình diện cá nhân riêng tư hoặc ngay cả trên bình diện công quyền công khai.

Làm thế nào chúng ta có thể sống nếp sống của Đức Chúa Trời trên sân khấu trần gian?  Thứ nhất (17-18) bằng cách cầu xin Đức Chúa Trời hành động.  Ban ơn lành ‘lo liệu cho đầy đủ trọn vẹn hoàn toàn’. Mở mắt, trong lời cầu xin Đức Chúa Trời lo liệu có một điều cụ thể: khả năng hiểu lời của Ngài vì lời của Ngài có lắm điều lạ lùng kỳ diệu.  Thứ hai (19-20) bằng cách nhận biết thực trạng của mọi hoàn cảnh để chọn ưu tiên mà đeo đuổi và duy trì.  Khách lạ, người cư trú ngoại quốc.  Tuy nhiên, bất kể những nỗi khó khăn tiềm ẩn trong cuộc đời như thế, tác giả không xin được chu cấp, không xin tiện nghi, cũng không xin được trở về quê hương trên trời, nhưng xin có khả năng hiểu biết lời của Đức Chúa Trời, vì đó là khát vọng sâu xa vô hạn ở trong ông.  Thứ ba (21-22) cầu xin những điều khác hẳn phần trên: mong mỏi Đức Chúa Trời chu cấp (17-20) đi đôi với việc tránh làm phật ý Đức Chúa Trời bằng cách hết lòng vâng lời.  thứ tư (23-24), bằng mọi giá (dù là phải đối phó với sự bất bình của giới có thẩm quyền) để cho lời của Đức Chúa Trời chi phối tâm hồn, những cảm xúc và lời khuyên thực tiễn vai trò điều khiển cuộc sống.

(Thi 119:25-32).  Daleth.  Thời gian khó khăn hội.?  Hoàn cảnh trong phần Gimel, một khách lạ trong môi trường ngoại quốc, là một thực tại.  Sự nhục nhã (25), mòn mỏi (28), sự cám dỗ (29) tiềm năng thất vọng (31) đều là một phần của cuộc sống.  Linh hồn tôi dính vào bụi đất (25), nhiều chuyện hạ nhục chúng ta, linh hồn tôi vì ưu sầu chảy tuôn giọt lệ (28), cuộc sống trở nên quá nặng nề, quá sức chịu đựng.  Nhưng trên hết mọi sự đó, thời gian khó khăn chỉ là cơ hội cầu nguyện.

Tám câu thơ này chứa đựng bảy lời cầu nguyện.  Cầu xin được đổi mới (25, sống lại), cầu xin tăng phần hiểu biết (26-27), xin năng lực khi có cần (28), cầu xin ân sủng, ân huệ của Đức Chúa Trời trong những trường hợp không xứng đáng (29), cầu xin một kết cuộc tốt đẹp (31).  Thời gian khó khăn cũng phải là cơ hội để đạt những quyết tâm đặc biệt, đặc biệt chú tâm vào lời lạ lùng của Đức Chúa Trời (27), để chọn và đeo đuổi lẽ thật của Ngài (30), để đối phó với sự khó khăn trong tinh thần vâng phục (31, tríu mến các chứng cớ Chúa) để cố gắng (32, sẽ chạy theo).  Nhưng thời gian khó khăn cũng là cơ hội an nghỉ, vì Đức Chúa Trời luôn luôn thành tín làm đúng theo lời phán của Ngài (25b,28b,29b, nên dịch ‘đúng theo luật của Ngài’).

(Thi 119:33-40).  HeNội tâm đổi mới, tấm lòng trọn vẹn  Tinh thần lệ thuộc vào Đức Chúa Trời vẫn còn tồn tại qua chín lời cầu xin trong tám câu thơ của phân đoạn này.  nhưng ở đây, mối nguy đe doạ con người muốn chạy theo đường lối của Đức Chúa Trời (32) không phải là hoàn cảnh thù địch (Gimel), cũng không phải là những khó khăn trong cuộc sống (Daleth) mà là tấm lòng lầm lạc tình thật thì muốn vâng lời (34) nhưng dễ bị lôi cuốn vào những mục tiêu ích kỷ (36) và dễ bị cuốn hút theo những sự cám dỗ qua cặp mắt (37).  Do đó, trong lòng, trong nội tâm có sự giằng co, có sự căng thẳng: lòng trung tín bị lòng bất trung đe doạ - giải pháp là cầu nguyện: chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể tuân theo ‘đường lối’ vâng phục (33, đi theo, nghĩa đen ‘con đường của luật lệ của Ngài’), chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể giữ cho tấm lòng được vẹn toàn, có thể hướng dẫn chúng ta đến hạnh phúc thật (35), ngăn chận chúng ta khỏi những đeo đuổi vô giá trị (36-37), cứu chúng ta thoát khỏi những sự sỉ nhục (39, thất vọng chán chường) và đổi mới nguồn sinh lực của chúng ta (40, bảo tồn).  Phân đoạn này gồm có ba tiểu đoạn: 33-35, quyết tâm dấn thân, trọn lòng tuân thủ lời của Đức Chúa Trời 36-37, những mối đe doạ trong nội tâm, tình trạng phân tâm 38-40 Đức Chúa Trời thành tín chăm sóc và cung ứng.

(Thi 119:41-48).  WawMức tiến đều đặn  Mỗi câu trong phân đoạn này bắt đầu với từ ‘và’ (bản Kinh Thánh tiếng Việt bỏ qua hết, ngoại trừ câu 42 dịch là vậy).  Đây không phải là kỹ thuật để dùng chữ cái Waw (vì chữ cái Waw khi nằm ở vị trí tiền thủ ngữ thì có nghĩa là ‘và’) nhưng tác giả có chủ ý khi dùng từ ‘và’ ở đây: có những việc nối tiếp nhau trong một trật tự.  Mấy phân đoạn trước đã đánh vật với nan đề của nếp sống của một cuộc đời trong sạch (Beth) giữa một trần gian xa lạ (Gimel) đầy sức ép và căng thẳng (Daleth) và với tấm lòng bị phân đôi (He).  Quan trọng hơn tất cả mọi yếu tố là sự kiện Đức Chúa Trời đã hứa ban sự giải cứu và đối xử với lòng nhân từ, yêu thương có ý thức, lo chăm sóc, chu cấp và không bao giờ thất tín còn giải cứu là can thiệp vào để giải phóng mỗi khi có nhu cầu.  Vì thế mà cần có từ ‘và’ nơi câu 41, ý tác giả muốn nói rằng ‘và đương nhiên là còn chuyện này nữa’.  Rồi đến những chuyện đi kèm với sự giải cứu (42-48). 42-43 Cùng một chủ đề làm chứng bằng lời nói: những người nhận biết sự cứu rỗi và tình yêu thương của Đức Chúa Trời sẽ chia sẻ lại với người khác bằng lời nói.  Có thể yên tâm dựa vào lời của Ngài để đối đáp với những người cật vấn với thái độ thù địch (42), nhưng chỉ có thể sử dụng lời của Đức Chúa Trời với sự chấp thuận của Ngài và phải cảm nhận mình phải tuỳ thuộc vào ý muốn của Đức Chúa Trời trong mọi lúc. 44-46  Liên hệ với nhau bởi một động từ ở dạng nghĩa mạnh hơn là tôi sẽ mà là ‘tôi hứa là tôi sẽ’.  Sự làm chứng đòi hỏi đương sự phải có một đời sống vâng phục (44), một đời sống chứng minh là đương sự thật sự được tự do, một sự tự do đến từ sự vâng phục (45).  Trên cơ sở này đương sự không lúng túng hoặc sợ người ta chán dù là làm chứng trước mặt vua chúa (46). 47-48 ràng buộc với nhau bởi lòng yêu thích lời của Đức Chúa Trời, vì miệng nói về lời (42, 43) và đời sống minh hoạ cho lời (44-46) thì cả hai đều phát xuất từ tấm lòng yêu thích lời của Đức Chúa Trời.

(Thi 119:49-56)  ZayinQuản thủ lời của Đức Chúa Trời  Nhiều điều kết hợp lại dẫn đến phản ứng: ‘Sao tôi cứ phải bận tâm làm gì nữa?’ - hoạn nạn (50) những sự chế giễu chống nghịch (51) hoặc chẳng có ai quan tâm nữa cả (53).  Trong những cảnh ngộ đó, tác giả vẫn sống tập trung vào lời của Đức Chúa Trời, khám phá rằng lời hứa của Đức Chúa Trời đem lại sự đổi mới (50, sống lại), rằng khi người ta chống đối thì đó là lúc cần bám chặt lấy những lời giáo huấn của Đức Chúa Trời (51), rằng mạng lịnh của Chúa đem lại niềm an ủi (52), rằng trong bóng tối của cuộc đời lời phải được ‘gìn giữ’ (sự 'giữ gìn' của kẻ tôi tớ, 55) và luôn bảo tồn (56, vâng lời, nghĩa đen, ‘gìn giữ'), sự giữ gìn của Người quản lý. 49-50  Lời đem lại hy vọng và sự an ủi.  Lời Chúa hứa, ‘phán’.  Lời bắt nguồn từ miếng của Chúa do đó có thể (chắc chắn) ban niềm hi vọng và năng lực mới (50, sống lại, làm đổi mới). 51-52  Lời giúp chống trả kẻ nhạo báng: buông thả đối với không xây bỏ đem lại sự an ủi53-54  Lời trong nỗi buồn khổ và trong bài ca.  Người ta đối với lời của Đức Chúa Trời với những thái độ khác nhau, còn trần gian là một nơi xa lạ (nhà ở 54 ‘sống cương vị một người ngoại quốc’, xem c.19).  Những sức ép, thế căng đó không dụ dỗ tác giả hoà trộn được nhưng khiến ông bung ra, vượt lên và khiến cho niềm vui nơi lời của Đức Chúa Trời càng quí báu hơn. 55-56 Tuân thủ lời, xem phần trên.  Nếu đọc phân đoạn Waw người ta có thể tưởng rằng cuộc sống là một chuỗi đắc thắng liên tục, thì phân đoạn Zayin đem chúng ta trở về với tầm nhìn quân bình.  Lắm khi phải nỗ lực bảo toàn với nhiệt tâm, nhiệt huyết mới duy trì được sự tự do (45), tánh dạn dĩ (46) mà lời của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta và niềm vui thích (47-48) mà chúng ta tìm được nơi lời của Ngài.

(Thi 119:57-64).  HethTổ chức cuộc sống  Phân đoạn này mở đầu và kết thúc với lời trình thưa với Đức Chúa Trời, có Ngài là đủ cho tôi rồi, tình yêu thương chung thuỷ của Ngài lấp đầy cuộc sống rồi.  Chúng ta phản ứng như thế nào đối với Đấng có đầy đủ mọi sự, ban cho đầy đủ mọi sự (57-60) và chúng ta sống như thế nào trong tương quan với Đấng có tình yêu thương chan hoà khắp mọi nơi (61-64)?  Tương tự như chi phái Lê-vi (Gios 13:14,33  18:7) họ không cần một nguồn trợ cấp nào ngoài Đức Chúa Trời.  Chúng ta đáp ứng đối với thực tại này trong bốn phương diện: hứa nguyện vâng phục (57), nhiệt tâm, nhiệt huyết mưu tìm ân huệ và lòng thương xót của Ngài (58), tự nguyện thay đổi bản thân (59), và lập tức vâng lời không trì hoãn (60).  Tóm lại, chúng ta sống cuộc đời gắn bó với Lời Chúa, tin cậy vào những lời hứa của Ngài, và tuân theo các giới mạng của Ngài.  Còn hướng ngoại, chúng ta cần đối diện với những kẻ chống đối (61), cần phát huy và duy trì tình bạn (63) vì trong mọi hoàn cảnh và ở mọi nơi, dù bị chống đối cách riêng rẽ âm thầm hoặc công khai trong một tập thể - tình yêu thương nhân từ của Ngài luôn luôn chan hoà.  Vì vậy, cần tận dụng mọi hoàn cảnh để làm vui lòng Ngài - bám lấy Lời Chúa trong nghịch cảnh (61), sắp xếp cuộc sống để có thời gian tỏ lòng vui mừng hớn hở nơi Lời Chúa (62), làm bạn với những người tuân theo Lời Chúa (63).

(Thi 119:65-72).  TethTốt nghiệp trường học của Chúa  Phân đoạn Heth kêu gọi cá nhân chúng ta tổ chức lại cuộc sống theo sự hiểu biết của chúng ta về Đức Chúa Trời còn phân đoạn Teth dẫn giải về sự kiện Đức Chúa Trời tái định hướng lại cuộc sống của chúng ta.  Chúng ta là học trò của Ngài trong trường hoạn nạn (67,70), Ngài là Hiệu trưởng của trường, và phần thưởng cho ngày tốt nghiệp là kho báu về Lời Chúa65-67 Lợi ích đáng kinh ngạc của sự hoạn nạn.  Đức Chúa Trời đã giữ đúng lời của mình trong việc mưu ích cho tôi tớ của Ngài (65, nghĩa đen, Ngài đã làm việc tốt..), việc này đưa đến sự kiện người tôi tớ xin Đức Chúa Trời dạy bảo thêm nữa (66), tin cậy nơi những điều Đức Chúa Trời truyền dạy cho dù đương sự nhận được lợi ích trong trường hoạn nạn. 68-70 Lợi ích của một tấm lòng kiên quyết và vui thoả.  Chuyện xảy ra thế nào cũng được, vì Đức Chúa Trời là tốt nên Ngài chỉ có thể làm điều tốt mà thôi.  Vì vậy chúng ta nên sẵn sàng làm học trò trong trường của Ngài, quyết tâm đối phó những lời dối trá với lòng nhiệt thành của một người quản thủ Lời Chúa (so sánh 56) và phát huy tính năng nhạy cảm đúng đắn của tấm lòng bằng cách vui thích nơi luật pháp của Ngài (70).  71-72 Lợi ích trong trường hoạn nạn.  Trong trường này đương sự học tập luật lệ của Chúa (tức là lời Ngài truyền phán nhằm cho chúng ta vâng theo) và nhận biết luật pháp của Ngài là cả một kho báu (tức là lời Ngài truyền phán nhằm dạy bảo chúng ta).  Ghi nhận vị trí hàng đầu của ý tưởng ‘tốt’ trong phần này: Những việc Đức Chúa Trời làm là tốt (65, xem phần trên), bản thể của Ngài là tốt (68) và những điều Ngài ban cho chúng ta trong trường của Ngài đều là tốt (71-72).

(Thi 119:73-80).  YodhBiến sự khổ đau thành lời làm chứng  Trong cơn hoạn nạn, tác giả thu hái được nhiều lợi ích (theo như phân đoạn Teth), nhưng giờ đây chúng ta thấy mối bận tâm của ông là từng trải cơn hoạn nạn như thế nào để lợi ích cũng ảnh hưởng đến người khác nữa.  Những con người gây ra nỗi đau khổ lại xuất hiện (78, so sánh c.69) nhưng ông cầu xin có thể chịu đựng sự thù địch của họ trong thái độ nào đó để cho những người kính sợ Chúa có thể vui mừng vì thấy sự kiên trì đầy hi vọng ở nơi ông (74) và họp lại thông công với ông (79).  Phân đoạn này mở đầu, đặt trọng tâm và kết thúc với lời cầu xin ơn lành cho bản thân nhưng phân đoạn có lời cầu nguyện cho người khác và cho gương tốt có thể gây ảnh hưởng tốt phân đoạn này cũng tạo thế cân bằng cho hai tác nhân trong vấn đề hoạn nạn: Đức Chúa Trời thành tín và những người thù địch. 73 Làm nên tôi và nắn hình tôi nên dịch là ‘lập nên  tôi’ tức là ‘Ngài đã làm nên con người tôi như hiện nay, và đặt để tôi trong nơi chỗ hiện nay’.  Làm nên bao gồm tất cả những năng lực mà Đức Chúa Trời vận dụng để uốn nắn nên bản tánh của chúng ta.  Những sức ép của cuộc đời là bàn tay của Thợ Gốm.  Trí hiểu.  Ở đây không cầu xin Đức Chúa Trời dạy bảo nhưng xin khả năng ‘hiểu biết’ khả năng hiểu thấu đáo lẽ thật của Ngài.  Phân đoạn này đặt nặng vấn đề nội tâm nhận định đúng giá trị của lời: trí hiểu và học tập (73), vững tâm đối với tương lai (74), sự hiểu biết (75), sự an ủi (76), lòng vui thích (77), suy suy ngẫm (78) và một tấm lòng trọn vẹn (80), tức là một con người bên trong với mọi khả năng hoàn toàn tập trung quanh lời của Đức Chúa Trời.  Đây là lời cầu xin của tác giả, mục đích và sự quan tâm trong thời gian bị hoạn nạn (75) và bị tổn thương một cách vô cớ (78).

(Thi 119:81-88).  KaphCuối đường dây  Hoạn nạn còn dài.  Vẫn những người thù địch đó (85, so sánh 69,78).  Sự khốn khó này thật là vô cớ (86, so sánh 69, 78) giờ đây tác giả kiệt lực rồi, không còn sức chịu đựng nữa. 81-84  diễn đạt ý cấp bách và khẩn nài Đức Chúa Trời thay đổi hoàn cảnh 85-88 cầu xin sự trợ giúp và đổi mới (88, làm sống lại, ‘làm nên mới’) trong cảnh ngộ.  Toàn bộ phân đoạn này là lời cầu nguyện trình bày với Đức Chúa Trời những sự kiện lẫn những nhu cầu của cuộc sống, đan xen những lời khẩn nài với những lời xác định: bài học căn bản là khi chúng ta đến cuối đường thì có một việc tên là ‘Cầu nguyện’.  Lắm khi cầu nguyện là tổn thất đầu tiên trong khi thực tế lẽ ra đó là phương thuốc hiệu nghiệm nhất.  Thường thường hoạn nạn kéo dài - linh hồn hao mòn (81), mắt mòn mỏi (82), chừng nào (84) nhưng đến cuối chặng đường cũng có một chỗ mang tên gọi là ‘Hi vọng’ (81-82) và một chỗ nữa mang tên là ‘Vâng phục’ (83-87).  Hoạn nạn có thể gây ra tâm trạng bất an cùng cực.  Có thể do những người thù địch, và có thể là vô cớ nhưng chúng ta phải vận dụng tinh thần vâng phục trong chúng ta (88) để khắc phục tình trạng vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời của kẻ thù (85).  Hiện nay lời đáng tin cậy của Đức Chúa Trời vẫn là nề nếp của chúng ta (83,87,88) và là niềm hi vọng của chúng ta cho tương lai (81-82).

(Thi 119:89-96)  LamedhLời tận  Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai từ ‘mãi mãi’ được dùng là đời đời (89) và chẳng hề (93) chia phân đoạn này làm hai phần: Lời Chúa và quyết tâm gắn bó với lời đều là ‘mãi mãi’.  Ý tưởng trong phần này chuyển động từ lời ở thiên đàng (89) đến lời mà từng cá nhân ưa thích (92) và rồi từ lời từng cá nhân ưa thích (93) đến phạm vi vô tận của lời (96).  Lời Ngài (89) bày tỏ bản thể và ý muốn của Đức Chúa Trời, là điểm cố định ở thiên đàng.  Nhưng Đức Chúa Trời vẫn là một, vẫn vậy ở thế gian (90).  Sự thành tín của Ngài, bền vững không thay đổi, tồn tại, củng cố cho các thế hệ con người và đem lại sự ổn định cho địa cầu và nơi loài người cư trú.  Thật vậy, vì cớ tính cách không thay đổi này kéo dài mãi trong thời gian mà Ngài vẫn vậy cho đến ngày nay, còn quyền hạn thống trị của Ngài mạnh đến độ mọi vật - tốt hoặc xấu - đều phải làm trọn ý muốn của Ngài (91).  Trong phạm vi của từng người cũng như vậy.  Lời có tính cách bền vững ban cho người ưa thích lời tính cách bền vững.  Từ ưa thích đương nhiên dẫn đến vấn đề dấn thân gắn bó, vì lời có quyền hạn giữ cho khỏi hư mất thì cũng có quyền hạn đổi mới (được sống, 93).  Tinh thần dấn thân gắn bó đối với lời Chúa đến mức đó là dấu hiệu phân biệt người thuộc Đức Chúa Trời (94).  Vẫn cùng một thời gian bị chống đối (95, so sánh 69,78,85) nhưng tác giả chú trọng đến chứng cớ của Chúa (lời công bố bản thể của Ngài và truyền rao những điều yêu cầu chúng ta phải thi hành).  Đây là con đường dẫn đến sự sống vì ‘Trong cõi hữu hạn tôi nhận thấy có yêú tố định đoạt giới hạn nhưng mạng lịnh của Ngài mới thật là sự tự do’ (96, so sánh 45).

(Thi 119:97-104)  MemLời thú vị  Nội dung của phân đoạn này nằm trong hai ngoặc đơn làm bằng hai lời tán thán Biết bao: 97, tôi yêu mến...  biết bao, sự ưa thích có tính cách chủ quan đối với lời Chúa 103 Lời Chúa ngọt họng tôi dường bao, sự thú vị có tính cách khách quan trong lời Chúa.  Câu 104 là một lời tóm tắt kết thúc.  Câu 97-100 dạy chúng ta rằng lời thú vị truyền cho chúng ta sự hiểu biết: vì lòng yêu mến lời khiến chúng ta suy ngẫm triền miên về lời, lời truyền cho chúng ta sự khôn ngoan có giá trị hơn sự đe doạ (98), vượt trổi hơn sự khôn ngoan của loài người (99), hơn mọi truyền thống (100).  Hơn nữa, lời thú vị hướng dẫn cuộc sống (101-103): chỉ dạy điều cần tránh, điều nên làm.  Đây là tiếng nói của chính Đức Chúa Trời và tự thân tiếng nói đó nghe thú vị.  Tóm lại (104), đây là con đường dẫn đến sự sáng suốt cho tâm trí(hiểu biết, hiểu thấu đáo, am tường lẽ thật), đến những cảm xúc đáng tin cậy (ghét giả dối) và đến nếp sinh hoạt đúng đắn (đường lối), chú ý trật tự: kiên trì suy ngẫm thường xuyên (97,98,99) trở nên vâng phục (100) lời có quyền năng thay đổi đời sống chúng ta.  Sự vâng phục (101) bắt nguồn từ sự nhận biết lời có quyền hạn của Đức Chúa Trời (102) rồi chuyển thành ưa thích yêu mến (103).

(Thi 119:105-112)Nun.  Lời thực tiễn  Thực tế khắc nghiệt của đời sống mô tả trong phân đoạn trước cũng là thực tế của phân đoạn này dưới dạng những sự khổ nạn không xác định (107) và những cái bẫy gian ác (110).  Đây là bối cảnh của những điều mô tả về lời của Đức Chúa Trời.  Đây là cuộc sống thực tế trong một thế giới có thật.  Cũng như tất cả mọi phân đoạn khác phân đoạn này có một cấu trúc mạch lạc:

A1 (c.105-106) Lời hướng dẫn cuộc đời và sự đáp ứng nghiêm trọng ánh sáng và lời thề.

B1 (c.107-108) Lời trong tay của Đức Chúa Trời giữa những sự khó khăn của cuộc sống có khả năng đổi mới và dạy dỗ.

B2 (c.109-110) Lời trong tay loài người giữa những sự khó khăn của cuộc sống, nhớ lại và vâng theo.

A 2 (c.111-112) Một sự đáp ứng vui vẻ và lời hướng dẫn cuộc đời sở hữu và đường hướng.

105 Ngọn đèn ...  ánh sáng.  Có lẽ là đèn dầu dùng để soi sáng bước đi kế tiếp, ánh sáng chiếu sáng cho quãng đường đi phía trước. 106 Thề  Ý tưởng dứt khoát dấn thân rất mạnh trong phân đoạn này.  Các động từ trong câu 109, 110 bộc lộ sứ quyết tâm: ‘Tôi quyết tâm không quên...  không đi lạc’.  Cần giữ mình đừng rơi vào tình trạng sùng bái lời một cách vô ý thức. 107 Được sống, ‘đổi mới’. 108  Lễ lạc ý sự ca ngợi tự phát, tự nguyện. 109-110 những bất trắc đương nhiên phải chấp nhận trong cuộc sống lẫn với những bất trắc phải xảy ra do ác ý của kẻ thù.  Như vậy bao gồm mọi nguy cơ: cần đặt toàn bộ cuộc đời bấp bênh dưới và trong phạm vi dẫn dắt của lời. 111-112  Nỗi vui mừng trong lòng phải có liên hệ với sự chuyên tâm, quyết tâm (112) nghĩa đen.  ‘Tôi có hướng, tôi có quyết tâm làm theo mạng lịnh của Ngài’.  Niềm vui mà vắng bóng vâng phục thì chỉ là chuyện vớ vẩn, phù phiếm vâng lời mà không vui mừng hớn hở chỉ là làm theo nề nếp đạo đức một cách máy móc.

(Thi 119:113-120)  SamekhNhất tâm, quyết chí, không hoà hoãn Tác giả là người khác hẳn người vô định, người gian ác, người đi quanh co, lẩn thẩn và người xấu xa.  Những đặc điểm phân biệt có thể quan sát được là tác giả yêu thích lời (113,119), giữ gìn Lời Chúa (115, so sánh 56), xem Lời Chúa là nơi ẩn náu và là niềm hi vọng (114), chăm chú tập trung vào Lời Chúa (117, nghĩa đen) ‘Tôi sẽ / Ôi ước gì tôi luôn luôn dán mắt nhìn vào... ‘.  Nhưng yếu tố phân biệt thực sự là chính Đức Chúa Trời: hi vọng nơi Lời Chúa là nương náu trong Chúa (114) Lời Chúa là những điều răn của Đức Chúa Trời của tôi (115) sợ Lời Chúa và kính sợ Đức Chúa Trời là cùng một sàng (120).

Trái lại những người hoà hoãn và những người xấu xa loại bỏ Lời Chúa nên bị Đức Chúa Trời loại bỏ (118): họ không làm đúng theo lời Ngài, không thể nào họ hoà thuận với Ngài.  Trong hướng này phân đoạn Samekh triển khai ý dấn thân gắn bó được đặt nặng trong phân đoạn Nun.  Gắn bó không phải là một việc tuỳ nghi lựa chọn hoặc điều đình, mà là một nếp sống bình an, thông công với Đức Chúa Trời.  Cầu trúc của phân đoạn làm sáng tỏ sứ điệp của phân đoạn.

A1 (c.113-114) Yêu thích và ẩn náu

B1 (c.115) Phân rẽ dứt khoát

C1 (c.116) Cầu xin Đức Chúa Trời nâng đỡ

C2 (c.117) Cầu xin  nâng đỡ

B2 (c.118) Đức Chúa Trời loại bỏ

A2 (c.119-120) Yêu thích và kính sợ

Như vậy, phân đoạn này viết về một con người đặc biệt trong nội tâm (113) đối với Đức Chúa Trời (114) và đối với người chung quanh (115) một đời sống được nâng đỡ theo như lời hứa (116), dẫn đến sự giải cứu (117) và một Đức Chúa Trời sáng suốt: Ngài loại bỏ có cơ sở (118) một sự hưởng ứng với hai thái cực: yêu mến (119) sợ hãi thật sự (120).

(Thi 119:121-128).  AyinMột chương trình cho lúc nguy nan  Tôi tớ của Đức Chúa Trời nhận thấy rằng dù ông quyết tâm làm ánh sáng soi trong thế gian, thành phần những người áp bức và ngạo mạn đang chiếm ưu thế - và ông còn cầm cự được tới bao lâu (123)?  Lẽ thật của Đức Chúa Trời bị hạ giá trị và cùng lắm thì chỉ cần Đức Chúa Trời hành động là đủ (126).  Làm (126) là một động từ tương tự như động từ làm trong câu 121, ý muốn nói là: ‘mọi nỗ lực của tôi đều đã thất bại giờ xin để tới phiên Chúa làm’.  Như vậy câu 126 là cao điểm của câu 121-125, nhưng cũng là câu chủ chốt giữa hai lời cầu nguyện (124-125) và hai câu bộc lộ lòng trung thành (127-128).  Bảo rằng ‘Tôi không thể làm được chi nữa cả’ (121-123) và ‘Ngài phải hành động đi thôi’ (126) thì không phải là ý chọn giải pháp rút lui đâu.  Lời cầu nguyện đúng đắn của người tôi tớ về vấn đề an toàn cho bản thân được điều chỉnh lồng vào lời cầu nguyện xin được học tập và thấu hiểu lẽ thật của Đức Chúa Trời (125).  Hơn nữa, khẳng định rằng cần có Đức Chúa Trời hành động dẫn đến kết quả (127a, 128a dùng từ vì vậy, do đó): yêu mến Lời Chúa như thể báu vật chính yếu của chúng ta (127), công nhận Lời Chúa hoàn toàn chính xác (128a, nghĩa đen, ‘tất cả những điều Chúa dạy bảo về mọi vấn đề’) và gớm ghê mọi điều lệch lạc khác (128b).  Phải chăng chúng ta tìm thấy ở đây những điều kiện cần có để nếu Đức Chúa Trời bằng lòng thì Ngài sẽ ban cho cơn phục hưng?  Sự cầu nguyện, sự hiểu biết và yêu mến lẽ thật của Ngài, gớm ghét những đường lối sai quấy.

Thi 119:129-136.  PeHai tia sáng  Trong phân đoạn Ayin đôi mắt mòn mỏi chỉ có thể thấy bóng tối đang phủ trùm.  Giờ đây một cánh cửa mở ra hướng có ánh sáng - ánh sáng của Lời Chúa (130), trong phần cuối phân đoạn ánh sáng này trở thành ánh sáng của Đức Chúa Trời (135).  Dầu vậy vẫn cùng một hoàn cảnh: sự nhận thức sâu sắc của ông về giá trị siêu việt của lời Đức Chúa Trời (129) làm một ngoặc đơn còn ngoặc đơn thứ hai là nỗi buồn khổ của ông đối với cảnh người ta coi thường Lời Chúa (136).  Giữa hai ngoặc đơn đó, tác giả trình bày nội dung sau đây:

A 1 (c.130) Ánh sáng của Lời Chúa

B1 (c.131-132) Sự thương xót của Đức Chúa Trời làm thoả mãn tình tạng đói khát Lời Chúa.

B2 (c.133-134) Sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời đem lại sự tự do

A2 (c.135) Ánh sáng của sự chiếu cố của Đức Chúa Trời

(Thi 119:129)Lạ lùng tương tự như  từ ‘siêu việt’.  Giữ lấy ‘bảo toàn’/ giữ nguyên vẹn, giữ gìn (so sánh 56).  Một khi đã duy nhất, độc đáo thì cần có sự bảo vệ130 Giãi bày (nghĩa đen) ‘cửa, lỗ trống, khoảng trống’.  Có lẽ ý muốn nói là giãi bày Lời Chúa thì tương tự như mở cánh cửa cho ánh sáng của Đức Chúa Trời tràn vào.  Đây là một phương diện siêu việt của Lời Chúa.  Thật thà là người không thể tự xoay xở phương hướng cho cuộc đời. 131-132  Khao khát Lời Chúa và yêu mến Đức Chúa Trời đi đôi với nhau chỉ bởi ơn thương xót (ân huệ của Đức Chúa Trời dành cho người không xứng đáng) mà linh hồn đói khát Lời Chúa được no nê thoả mãn. 133 Lấn lướt, ‘có quyền hành’ đến nỗi giới hạn hoặc tước mất quyền tự do vâng theo Lời Chúa. 134 Cứu chuộc, ‘trả số tiền chuộc’, nhận trách nhiệm, chịu hết mọi sự tốn kém.

(Thi 119:137-144).  TsadheĐức Chúa Trời công bình, lời công bình  Làm sao khi lời chiếu ánh sáng tức là Đức Chúa Trời chiếu ánh sáng (130-135)?  Phân đoạn Tsadhe trả lời rằng:  Vì đời đời Đức Chúa Trời hoàn toàn bày tỏ và truyền đạt về chính mình Ngài qua lời của Ngài.  Ngài là công bình (137) nên lời của Ngài là đúng (‘công bình’ 144), những chứng cớ của Ngài (138) được ‘truyền rao ra trong sự công bình’ và (142) sự công bình của chính Ngài là sự công bình đời đời.  Hai từ này chặt chẽ khớp đôi với nhau. 137-138  Lời Chúa bày tỏ chính Chúa.  Sự đoán xét của Chúa là những quyết định của Chúa biểu thị ý tưởng của Ngài chứng cớ là những điều Ngài ‘làm chứng’ bộc lộ chính mình Ngài truyền ra ‘ra lịnh, truyền lịnh’ bộc lộ ý muốn của Ngài.  Như vậy, Đấng công bình truyền ra những mạng lịnh công bình.  Đức Chúa Trời và lời của Ngài là một. 139-140  Lời của Đức Chúa Trời ràng boc tôi tớ của Ngài.  Khi đối diện với kẻ thù ông chú tọng trước tiên đến uy tín của lời đối diện với lời hoàn toàn tinh sạch (đã tinh luyện, ‘tinh sạch hết sức’) lòng ông tràn ngập một nỗi niềm quí trọng. 141-142  Lời Chúa chiếm ngự trọn vẹn tâm trí ông.  địa vị (thấp thỏi, nhỏ hèn), uy tín (bị khinh dể) đều không quan trọng bằng nhớ rõ Lời Chúa.  Đức Chúa Trời đời đời công bình đã phán, và tự thân lời phán của Ngài là lẽ thật.  Có sự tôn kính nào vưỡt trổi hơn? 143-144  Lời đem lại sự sống.  Nhưng phẩm chất của sự sống bị sự gian truân sầu khổ đe doạ (143, ‘nghịch cảnh và sức ép’) nhưng lời Chúa truyền đạt một sự ưa thích với phẩm chất khác.  Vì vậy mục tiêu của sự cầu nguyện là hiểu biết, thông hiểu vì đây là bí quyết dẫn đến sự sống thật sự có giá trị.

(Thi 119:145-152).  Qophsự hiện diện cảm nhận được  Hai phần trong phân đoạn Qoph ăn khớp với hai vế trong Gia 4:8, ‘Hãy đến gần Đức Chúa Trời’ (145-148) ‘thì Ngài sẽ đến gần anh em’ (149-152).  Câu 145-146 liên kết với nhau bởi động từ kêu cầu.  Câu 147-148 mở đầu với cùng một động từ ‘tôi thức, mắt tôi mở tỉnh (nghĩa đen, tôi giải quyết sớm...  mắt tôi giải quyết sớm) bao quát hai bốn tiếng đồng hồ cầu nguyện và suy ngẫm Kinh Thánh.  Câu 149 không ỷ lại vào sự cam kết nào của con người mà dựa vào tình yêu thương của Đức Chúa Trời 150-151 cho hai điều ‘đến gần’ tương phản nhau và câu 152 kết thúc phân đoạn với sự thật đời đời về lời Chúa. 145-148  Gần Chúa.  Sự cầu nguyện (i) là việc bất khả phân ly khỏi sự vâng phục.  Không có tinh thần hết lòng dấn thân đeo đuổi thì sự cầu thay chỉ là sự tự tư, tự lợi (ii) là việc bất khả phân ly khỏi sự hi sinh: không phải giọng điệu tha thiết khẩn cấp khiến cho lời cầu nguyện có hiệu quả, nhưng trong sự cầu nguyện chân thật có yếu tố dấn thân hi sinh (iii) bất khả phân ly khỏi lời Chúa.  Không có lời Chúa chúng ta không thể naò biết chúng ta được phép cầu xin hoặc trông đợi những điều gì. 149-152  Đức Chúa Trời ở gần.  Những mối đe doạ trong cuộc sống cận kề Đức Chúa Trời càng ở gần.  Ở gần (151)  là lời của ‘người bà con gần nhất.  Đức Chúa Trời đã cam kết làm người bà con gần nhất của chúng ta, là Đấng gánh chịu tất cả những nhu cầu của chúng ta như là của Ngài trong khi chúng ta hoàn toàn bất lực.  Như vậy sự gần gũi của Ngài ràng buộc với lòng nhân từ của Ngài (lòng yêu thương không hề thay đổi) - tức là Ngài đã cam kết chung thủy với chúng ta còn chúng ta biết chắc Ngài là người bà con gần nhất của mình căn cứ vào chứng cớ (lời làm chứng) không hề thay đổi của Ngài đối với bản thể của Ngài và đối với những hành động của Ngài.  Nhưng hơn nữa, vì Đức Chúa Trời và lời của Ngài là một (xem Pe, Tsadhe), lời của Ngài là tác nhân đổi mới cuộc sống (149, được sống, làm cho sống).

(Thi 119:153-160)  ReshBa điều đáng tin cậy  Tác giả thi thiên đáng tin cậy không quên lời Chúa (153), Đấng đáng tin cậy (154,156,159) và lời đáng tin cậy của Chúa là lời không bao giờ đổi thay (160).  Nhưng không thể xem sự đáng tin cậy nơi loài người là điều tất nhiên.  Nét đặc trưng của cuộc sống là sự đau khổ và sự hiện diện của những hạng người xầu xa, phá hoại và bất trung.  Đời sống cần được đổi mới liên tục, một sự đổi mới tùy thuộc vào lòng yêu thương, lời hứa và quyết định của Đức Chúa Trời.  Sự lập lại lời cầu xin đổi mới này là trọng tâm của phần này.

153-154 (A1)  Hãy xem nhu cầu của tôi.  Binh vực duyên cớ của tôi.  Tác giả thi thiên đang bị người ta tố cáo.  Giải cứu (như từ ở gần, 151) là ngôn từ của người bà con gần nhất: ‘người giải cứu, người chuộc’ hoà mình vào cảnh ngộ của người bà con đang gặp nạn của mình, gánh chịu và lo thanh toán các nợ nần, và lo đáp ứng mọi nhu cầu của đương sự.  Giữa hoàn cảnh khó khăn như thế tác giả vẫn duy trì lòng trung thành đối với lời Chúa. 155 (B1) Kẻ ác.  Những người phân rẽ khỏi lời Chúa không thể trông mong Đức Chúa Trời can thiệp, giải cứu. 156-157 (C) Lòng thương xót lớn lao.  Nhiều kẻ thù.  Lòng thương xót là tình yêu thương dễ xúc động của Đức Chúa Trời.  Lớn lao cùng một từ với nhiều.  Tình yêu thương của Ngài đón rước chúng ta và đủ sức đối phó với mọi sự đe doạ. 158 (B2) Kẻ gian tà.  Trong tương quan với người khác họ không đáng tin cậy, đối với lời Chúa họ không tuân thủ thuận phục.  159-160 (A2)  Hãy xem lòng yêu mến của tôi.  Được cảnh giác bởi kinh nghiệm của những người làm ngơ đối với lời Chúa (158) nên không thể trông mong được giải cứu (155) tác giả xác quyết lòng yêu thích của mình đối với lời Chúa và lời Chúa là lẽ thật đời đời.

(Thi 119:161-168)  Sin ShinLời quí báu, cuộc sống kiên định  Nếu chúng ta theo dõi sự phân bố chữ cái Sin và Shin ở đầu câu, thì chúng ta nhận thấy phân đoạn này chia ra làm ba phần: 161-163 viết về lòng kiên định (đối với những điều đáng sợ, đối với những điều quí báu, và đối với những điều ưa thích) 164-166 viết về nếp sống kiên định (ca ngợi, không vấp váp, vâng phục) và 167-168 viết về người giữ gìn kiên định (vâng lời ‘giữ gìn’ những điều phát xuất từ tình yêu thương, vâng lời ‘giữ gìn’ những điều nhắm làm vui lòng).  Lòng yêu thương bàng bạc trong mỗi tiểu đoạn: tấm lòng kiên định duy trì tinh thần yêu thích sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời (163) bằng cách gớm ghét những điều dối trá nếp sống kiên định hưởng sự bình an (an toàn, hoà thuận với Đức Chúa Trời, với con người, và tâm hồn an ổn, một cuộc đời được gọt giũa) nhờ yêu mến sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời (165) người giữ gìn kiên định có động lực là lòng yêu thích những điều Đức Chúa Trời đã làm chứng về chính mình Ngài (167).  Một khi đã quyết định kiên trì - dù chịu nhiều sức ép trong tinh thần tin kính - cuộc sống sẽ phong phú và bình an nhưng cũng gặp phải những xung đột về mặt đạo đức vì không có sự kiên định nào mà không phải đối phó với sự thách thức.  Đương sự phải chọn giữa những điều có thể yêu thích và những điều phải ghét bỏ đương sự phải phấn đấu để cứ tiếp tục kiên trì cho đến lúc Đức Chúa Trời hành động.  Nhưng chính sự vâng lời là dấu chứng xác nhận của tình yêu thương và nhờ vâng lời mà chúng ta làm hài lòng Đức Chúa Trời (168).

(Thi 119:169-176)  TawĐi lạc nhưng vâng phục!  Cả hai câu 169-170 đều là lời cầu nguyện, liên kết với nhau bởi từ trước mặt Chúa, xin Đức Chúa Trời nghe tiếng khẩn cầu và xin Ngài hành động theo như lời Ngài đã phán trong nội tâm (khiến cho hiểu biết, thông hiểu) và bên ngoài (giải cứu). 171-172  liên kết với nhau bởi môi miệng và lưỡi.  Cả hai câu đều là lời cầu nguyện cho sự đáp ứng, cho lời Chúa được đồn ra, và người ta nhận biết lời Chúa là gì. 173-174 cầu xin và mong mỏi Đức Chúa Trời hành động, lời cầu xin đặt cơ sở trên sự đáp ứng mà tác giả đã biểu thị đối với Lời Chúa (chọn...  ưa thích).  175-176 tập trung vào nhu cầu của cá nhân, cảm nhận về sự suy sụp trong năng lực và xu hướng lạc lầm.  Bí quyết tìm lại năng lực và đi đúng hướng là không quên lời Chúa và có lời Chúa trợ sức cho.

Bốn câu đầu (169-172) có thể đặt tiêu đề là ‘Lạy Chúa xin hãy nghe!’ tập trung vào tiếng nói của tác giả với chủ đề cầu nguyện và ca ngợi xoay quanh lời Đức Chúa Trời đã phán và đã được tiếp nhận dưới dạng lời giáo huấn và mạng lịnh.  Bốn câu cuối (173-176) có thể đặt tiêu để là ‘Lạy Chúa, xin hành động!’ là tiếng nói làm chứng (Tôi đã chọn...  tôi mong ước...  tôi xiêu lạc...  tôi không quên) phát xuất từ những ý chí, cảm xúc, chính cuộc sống và tâm hồn / trí nhớ tập trung vào lời Chúa.  Mỗi chùm bốn câu đều chấm dứt với từ điều răn (172,176).  Thật là một phân đoạn kết thúc rất thích hợp!

110. BÀI CA HÀNH HƯƠNG (Thi 120:1-136:26)

120:1-136:26 Có lẽ là chùm thơ đặc sắc nhất trong toàn bộ quyển Thi Thiên.  Thi Thiên 120-134 tự nhận là ‘Bài ca đi lên từng bực’, ngoài ra không thêm chi tiết nào giúp ta hiểu ý nghĩa của tiêu đề này.  Từ được dịch đúng và theo nghĩa đen là lên từng bực được dùng để chỉ về ‘nấc thang / cầu thang’ (Xu 20:26  IVua 10:19tt so sánh IIVua 20:9tt  Am 9:6) và một lần về chuyện hành trình từ Ba-bi-lôn và về các ý tưởng ‘gợi dấy’ lên (Exe 11:5).  Từ ‘bực’ khiến truyền thống Do Thái liên tưởng ngay đến ban hát người Lê-vi đứng hát trên các nấc thang đi từ sân phụ nữ vào sân của các con trai Y-sơ-ra-ên trong đền thờ của vua Hê-rốt, nhưng không xác định rõ là ban hát chỉ hát những bài này hoặc đặc biệt hát những bài ca này.  Trong Ne 3:15  12:37 nói về nấc thang cho phép nghĩ một cách hợp lý rằng người ta ca những bài này trong các dịp lễ hội, cuộc diễu hành tới đền thờ.  Chủ đề Si-ôn/ Giê-ru-sa-lem / Nhà của Đức Chúa Trời bao trùm chùm thơ này ủng hộ cho hướng giải nghĩa này.

Mở rộng bối cảnh, một vài nhà bình giải liên hệ chùm thơ này với cuộc hành trình hồi hương của những người bị lưu đày ở Ba-bi-lôn.  từ ‘nấc thang’ được sử dụng cách thích đáng trong E-xơ-ra một lần duy nhất là cơ sở quá yếu nếu căn cứ vào đó để xác định từ này là một từ kỹ thuật nói về chuyến hồi hương từ Ba-bi-lôn, dầu sao thuyết này lẫn một số chi tiết trong chùm thơ ‘có vẻ’ khớp với bối cảnh mở rộng.

Tuy nhiên, có lẽ thoạt đầu người ta tuyển chọn chùm thơ này để làm một tập thánh ca gọi là ‘Bài ca hành hương’, dành cho những đoàn người hành hương đi dự lễ hội hàng năm ở Si-ôn (Xu 23:17 so sánh ISa 1:3  Lu 2:41).  Đúng là những bài ca này rất thích hợp với những dịp đó.  Dĩ nhiên mỗi bài thơ có xuất xứ riêng biệt và đã qua sử dụng đâu đó một thời gian trước khi được tuyển vào tập ‘Bài ca đi lên từng bực’ hiện nay.  Không thể truy nguyên hầu hết các bài thơ, nhưng dù truy nguyên được thì chắc chẳng có điều gì đáng kể hoặc có ít điều thôi.  ‘Bài ca hành hương’ được biên tập rất công phu khéo léo và chính ý nghĩa của bài thơ trong hình thức hiện tại là rất quan trọng. 

Tập ‘Bài ca đi lên từng bực’ gồm có năm phần: mỗi phần ba bài, cộng thêm Thi 135:1-136:26.  Bốn phần đầu (120:1-131:3) có chung những đặc điểm sau đây: trong mỗi phần thi thiên thứ nhất trình bày một cảnh ngộ khốn cùng, thi thiên thứ hai nhấn mạnh quyền năng của Chúa trong việc bảo vệ / giải cứu / xây dựng / đem lại niềm hi vọng thi thiên thứ ba có chủ đề là an toàn: trong Si-ôn (122:1-9  125:1-5  128:1-5) trong Đức Chúa Trời (131:1-3).  ‘Luồng chuyển động’ hướng về Si-ôn thích hợp và tăng phần xác đáng cho chủ trương tuyển tập này là ‘Bài ca hành hương’.  Toàn bộ tuyển tập giúp cho kẻ hành hương chú tâm vào mục tiêu.  132:1-134:3 là những bài ca ở điểm đến - hòm giao ước ở Si-ôn, mối thông công tại Si-ôn, phước hạnh tại Si-ôn.  Kẻ hành hương khởi hành từ thế giới xa xăm khắc nghiệt (120:1-7), đúng ra là từ trong ‘bóng tối tăm’ của thế giới này (Kê-đa trong 120:5 có nghĩa là ‘đen’) kết thúc trong một đêm hoàn toàn khác hẳn (134:1) trong sự an toàn và phước hạnh tại nhà của Đức Chúa Trời.

1. Cụm ba bài thơ thứ nhất (Thi 120:1-122:9)

(Thi 120:1-7). Khi sự hoạn nạn xảy đến. Lời cầu nguyện khi giữa vòng người thù địchTrật tự của câu 1 là ‘Đến với Chúa trong cơn gian truân tôi kêu cầu và Chúa đáp lời tôi’.  Đây là hình ảnh thi thiên lưu lại nơi chúng ta: cầu nguyện trong cơn hoạn nạn, đóng đồn trong phạm vi săn sóc của Đức Chúa Trời.  Không có lý do gì buộc phải hiểu rằng câu 3,4 thực sự là câu nói trực tiếp với đối phương.  Theo như mạng lịnh trong Ch 20:22  Ro 12:19, chúng ta trình mọi điều hoạn nạn cho Đức Chúa Trời, giao phó cho Ngài với lòng tin chắc về những điều sẽ xảy đến sau đó: các mũi tên (4) do của dõng sĩ giỏi bắn ra sẽ trúng đích nhắm: tức là sự hình phạt sẽ giáng xuống đúng đối tượng nhưng đằng sau sự hình phạt còn có than hực đỏ, tức là sự hình phạt công bình của Đức Chúa Trời là Đấng gớm ghét tội lỗi.  Nhưng sau khi giao phó những biện pháp đó cho Đức Chúa Trời, tác giả vẫn sống trong một thế giới không có khả năng đem lại hoà bình (5-7).  Mê-siếc nằm ở cực bắc (Sa 10:2) còn Kê-đa (Gie 2:10) nằm ở sa mạc Sy-ri A-rập.  Hai nơi này đều cách nhau quá xa so với nơi tác giả đang ở.  Tác giả dùng theo thể hình bóng để chỉ về những nơi xa xăm, hoang dã của thế giới.  Dù tại đó, ông sống bình an (bình an là bản tánh của ông: 7 (nghĩa đen) ‘tôi là bình an’, so sánh Thi 109:4) và chia sẻ sự bình an mà ông kinh nghiệm cho người khác, nhưng thế giới là một nơi nham hiểm, độc ác.

(Thi 121:1-8). Những nguy không lường, những sự an toàn đã . Vấn đề có thể tìm được sự an toàn ở nơi nào (1) là một câu hỏi có thể nêu ra từ đầu qua một số cảnh ngộ, nhưng trong bối cảnh hiện tại của cuộc hành hương, câu hỏi này biểu thị tia mắt lo âu nhìn lên những ngọn đồi vì có khả năng là bọn cướp bóc ẩn trú ở những nơi đó - hoặc biểu thị tia mắt đầy ước vọng nhìn đến những đỉnh đồi xa xa của Si-ôn: làm thế nào thoát khỏi những mối nguy hiểm dọc đường đến được những ngọn đồi quê nhà đó 125:2)?  Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên tời và đất (2): cho nên mọi mối đe doạ bùng lên và mọi chuyến hành trình để ở trong thế giới của Ngài là nơi Ngài cầm quyền cai trị tối cao.  Vì vậy dộng từ ‘gìn giữ’ vang lên đến sáu lần trong câu 3-8.  Mối nguy hiểm như thế nào chúng ta chưa rõ, nhưng sự an toàn thì đã rõ và chắc chắn. 3-4  Đấng đã chuộc (Xu 6:6) con trai của Ngài là Y-sơ-ra-ên (4:22) sẽ không bỏ mất người con đó trên đường về nhà! 5-6 Đức Chúa Trời là Đấng đồng hành (ở bên hữu) đang đứng chen giữa bạn và mọi mối đe doạ, thật sự (mặt trời) hoặc tưởng tượng (mặt trăng). 7-8 Ngài xử lý mọi tai hoạ, bảo đảm sự an toàn cho riêng từng người (linh hồn ngươi), đồng hành trong mọi nẻo đường bận rộn (khi ra khi vào) trong mọi lúc (từ nay cho đến đời đời).  Đấng Sáng Tạo cũng là Đấng Cứu Chuộc và là Bạn đồng hành.

(Thi 122:1-9). Đại gia đình trong thành phố. Phát hoạ kẻ hành hương vào lúc chấm dứt một ngày đầu tiên trong thành phố: (2) nghĩa đen.  ‘Chân chúng ta đã thực sự đứng bên trong các cửa của ngươi!’  quê nhà kỳ diệu trái ngược với vùng đất xa xăm (Thi 120:5), đám anh em bạn bè (8) trái ngược với sự hãm hại của kẻ thù (120:2,7).  Bao nỗi mơ ước trông mong được thoả mãn khi người hành hương đến nơi (2), thấy thành phố (3) và cơ cấu tổ chức của thành (4,5).  Vì vậy chẳng có gì lạ khi người hành hương bộc lộ nỗi niềm qua lời cầu nguyện cho dân của Chúa, cho tình thông công của họ và sự an toàn của chính thành phố.  Es 26:1-4 dạy rằng đang khi sống giữa muôn vàn đe doạ của cuộc đời chúng ta đã sống trong đức tin bên trong thành bền vững (He 12:22 so sánh Eph 2:6).  Theo nghĩa này, những người hành hương thuở xưa, giữa lúc cuộc hành trình đầy bất trắc họ vẫn có thể ca hát rằng chân của họ đã đứng trên đường phố Giê-ru-sa-lem.  Đặc điểm của thành này là sự hiệp một (3-5): riêng hình dạng của thành cũng đã nói lên sự liên kết chặt chẽ.  Những người vào thành đến từ các chi phái riêng rẽ nhưng tất cả đều thuộc về Đức Chúa Trời, cùng chịu chung một động lực là vâng phục và với mục tiêu là ca ngợi, có đặc ân là nhận được sự khải thị về chính mình Đức Chúa Trời.  Họ đến một nơi mà mọi sự đều được sắp xếp ổn thoả đúng đắn dưới sự cai trị của vị vua do Đức Chúa Trời chỉ định (5, đoán xét).  Họ cần cầu nguyện cho Giê-ru-sa-lem vì thành đang ở trên trần gian này.  Còn thành của chúng ta thì khác (He 11:10), nhưng lời kêu gọi hãy vui mừng, hiệp nhất và cầu nguyện vẫn còn đó.

2. Cụm ba bài thơ thứ hai:Khi mọi phương sách đều thất bại (Thi 123:1-125:5)

Trong khi người đời khinh bỉ (Thi 123:1-4) và thù nghịch (124:1-8) thì dân của Chúa hoàn toàn tuỳ thuộc vào Ngài (125:1-5), còn những người tin cậy Ngài được lập vững như chính Si-ôn.  120:1-7 cầu xin Chúa xử lý kẻ thù: 123:1-4 xin Ngài lo liệu cho người yếu đuối 121:1-8 vạch ra trước những hoàn cảnh nguy hiểm: 124:1-8 mô tả sự chống nghịch ác liệt của các thế lực trong 122:1-9 Si-ôn tượng trưng cho hoà bình: trong 125:1-5, Si-ôn tượng trưng cho sức mạnh.

(Thi 123:1-4). Chúa trên trời. Chung quanh Hội Thánh ở trên trần gian là những người khinh bỉ (3), chế nhạo và tự mãn (‘an dật’), ngạo mạn (người tự thị tự cao) (4).  Chúng ta làm gì khi không còn sức chịu đựng hơn nữa (3)?  Đôi mắt tượng trưng cho sự ao ước, nhu cầu và mong đợi.  ‘Cái nhìn hướng thượng của đôi mắt’ bộc lộ hết cho Đức Chúa Trời, ngôi của Ngài trên các từng trời (1) nói lên những khả năng vô tận lẫn quyền tể trị vô hạn của Ngài.  Các nô lệ mong đợi nơi các chủ nhân của mình trên đời này dù khả năng xoay xở của họ không chắc chắn chi.  Còn chúng ta mong đợi nơi Đức Chúa Trời là Đấng khải thị danh của Ngài, và đã thực hiện những việc kỳ diệu cho chúng ta khi chúng ta còn là nô lệ ở Ai Cập.  Lòng thương xót, ân huệ dành cho người không xứng đáng (2-3) sẽ không chấm dứt.  Điều kiện là chúng ta chăm nhìn Ngài, hết lòng trông mong Ngài, trình bày nhu cầu của mình cho Ngài và phục tùng chương trình của Ngài (cho đến chừng nào, 2).

(Thi 124:1-8) Đức Chúa Trời bên cạnh. Bốn hình ảnh lột tả tất cả sự thể: động đất (3b, Dan 16:30) và lụt lội (4a) là những mối đe doạ khốc liệt, khó khăn lắm mới thoát ra được, nhưng Đức Chúa Trời có thể thực hiện việc đó cho chúng ta.  Thú săn mồi (6) và người đánh bẫy chim (7) là những nguy cơ từ loài thú vật và loài người.  Không những chúng ta thoát ra khỏi hai mối đe doạ đó một cách toàn vẹn mà chính mối đe doạ cũng bị đập tan (7c).  Chỉ một mình Đức Chúa Trời là Đấng tối cao cai trị toàn bộ thế giới này (8) mới có khả năng làm những việc đó - và Ngài là Đấng đã quyết tâm đứng về phía dân của Ngài cách trung thành (1-2).

(Thi 125:1-5). Đức Chúa Trời vây phủ. Đây là hình ảnh về một cộng đồng tin Chúa, tìm được sự an toàn qua lòng tin cậy (1-2) một tập thể bị đe doạ kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi Đức Chúa Trời cất bỏ gánh nặng cai trị của kẻ ác (3) một cộng đồng chia rẽ gồm có cả những phần tử tốt lẫn phần tử xấu (4-5). 1-2 Lòng tin cậy khiến chúng ta trở nên bộ phận tương ứng của Si-ôn bất di bất dịch các ngọn núi bao quanh là một chi tiết về địa lý tượng trưng cho sự bao bọc vây phủ của Đức Chúa Trời. 3 Lòng tin cậy đó gộp cả đức tin nơi sự cai trị dẫn dắt của Chúa trên toàn thế giới.  Thời gian của chế độ và bất tài được điều chỉnh theo mức kiên nhẫn chịu đựng của dân Ngài.  Thời gian đó sẽ không kéo dài đến độ họ đưa tay ra về sự gian ác (tẻ tách), vi phạm những điều Đức Chúa Trời đã ấn định (Ro 13:1). 4-5 Khi gặp cảnh ngộ tương tự, khi lòng tin bị hoàn cảnh thách thức thì cần cầu nguyện, không phải cầu nguyện chống lại kẻ ác (5) mà giao phó họ cho Ngài - còn sự cầu nguyện tăng gia phước hạnh cho những người thành tâm đi theo Đức Chúa Trời (4), cho Y-sơ-ra-ên của Ngài (5), cho những người chân thật giữa vòng những người chỉ theo Ngài trên danh nghĩa.

3. Cụm ba bài thơ thứ ba: Khi có nguy cơ thất bại (Thi 126:1-128:6)

Dân sự của Đức Chúa Trời vẫn ở trong thế gian.  Nước mắt (Thi 126:5) là chuyện hằng ngày.  Nhưng 127:1-5 mô tả mặt trái của bức tranh: Đức Chúa Trời ban cho giấc ngủ (1-2) trong cuộc đời nhọc nhằn, còn nước mắt kết thúc 126:1-6 sẽ trở nên niềm ‘vui mừng’ (phước) của 127:5  128:1-6 rộn rã với niềm vui mừng (1, phước 2, được phước), do phước hạnh của Đức Chúa Trời ban cho và bảo đảm (4-5).  Như vậy chủ đề của phân đoạn này hơi khác chủ đề ‘đi đến Si-ôn’ trong hai phân đoạn trước.  Thật vậy, trong một phương diện phân đoạn này mở đầu tại Si-ôn (126) rồi cũng kết thúc tại đó.  Nhưng phân đoạn mở đầu với phước hạnh hằng mong mỏi, với mùa thu hoạch sẽ đến, và kết thúc với phước hạnh thụ hưởng.  Tóm lại, đây là của tấm lòng thay vì đôi chân: tấm lòng mong mỏi nhận được phước hạnh lớn lao hơn là những phương diện đã thụ hưởng (126), sự an toàn chắc chắn hơn sự an toàn đang hưởng (127)

(Thi 126:1-6). Tình trạng căng trong kinh nghiệm. Thực tế khắc nghiệt của cuộc sống xói mòn niềm vui sướng lòng nhiệt thành của thuở ban đầu (Exo 1:1-6:22) và minh hoạ cho thi thiên này.  Thực tế xưa nay vẫn vậy: dù xét về cuộc xuất hành, về cuộc hồi hương từ Ba-bi-lôn hoặc ngay cả về công trình cứu chuộc của Đấng Cứu Thế - sự cứu chuộc sẽ hoàn tất nhưng vẫn còn cần đến!  Có vẻ như niềm vui chỉ còn trong quá khứ, còn nước mắt lấp đầy hiện tại.  Phải chi Đức Chúa Trời ra tay hành động ngay hiện nay một cách dứt khoát và đầy kịch tính y như Ngài đã từng làm hồi xưa!  Vì vậy chúng ta cầu xin nước suối chảy trở lại ở miền nam (Nê-gép) (4), bất chợt nước tuôn ào ào trong những lòng sông suối khô cạn lâu nay, biến đổi đất khô cằn thành vườn tược xanh tươi!  Nhưng không, theo sự sắp xếp phù hộ của Đức Chúa Trời, tiếp theo sau những hành động đầy quyền năng của Ngài (1-3) chỉ là chuyện ẩn dụ về mùa thu hoạch (5-6).  Bài ca niềm vui sẽ chỉ vang lên sau khi công tác gieo trồng cực nhọc được hoàn tất và hoa màu chín tới sẵn sàng cho vụ thu hoạch.  Đây là lúc chúng ta thấy mình ở trong chương trình hoàn hảo của Đức Chúa Trời đối với mọi việc (so sánh Phi 1:9-11  Gia 5:7,8  Kh 14:14-16).

(Thi 127:1-5). An nghỉ giữa cơn nhọc nhằn  126:1-6 đã nói hết ý cạn lời chưa?  Quá khứ cười rộn rã, tương lai ca hát rộn ràng, hiện tại ràn rụa nước mắt!  127:1-5 đụng đến cả ba phạm vi sinh hoạt của con người và nỗi lo âu âm ỉ - nhà cửa, phố xá (1) và gia đình (3-5) - rồi xác nhận là ngoài Đức Chúa Trời chúng ta không có khả năng làm gì cả.  Dường như câu 1-2 gợi ý là ‘Hãy giao phó tất cả cho Đức Chúa Trời’, dãn ra để Đức Chúa Trời hành động và vui hưởng một cuộc sống an nghỉ.  Nhưng trong Kinh Thánh trái ngược với an nghỉ không phải là làm việc nhưng bất an, và 3-5 là phần hiệu đính.  Đức Chúa Trời đã định đoạt về sự lo lắng con người mang thai, sinh nở.  Rồi Kinh Thánh nhấn mạnh rằng chính Đức Chúa Trời, chớ không phải loài người nắm quyền ‘mở tử cung’ hoặc ‘đóng tử cung’ (Sa 29:31  30:2).  Con cái không phải là thành quả của chúng ta mà là quà tặng của Ngài (3).  Một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi và một thành trì có hộ phòng cẩn mật cũng vậy (1-2).  Cuộc đời nào cũng phải sống cho trọn, hưởng trọn niềm vui và hoàn tất mọi bổn phận trong tinh thần thảnh thơi nương cậy nơi Ngài là Đấng tạo dựng và làm tất cả.  Sinh hoạt vui vẻ, làm lụng nặng nhọc - nhưng tràn ngập sự an nghỉ không rối động (2d).

(Thi. 128:1-6). Sự vươn cao của sự thất bại Phước ở đây (1) tổng hợp ý ‘ở dưới sự chúc phước của Đức Chúa Trời’ và ‘đạt được hạnh phúc / sự thoả chí cho riêng mình’.  Thi thiên hứa hẹn về kinh nghiệm này trong hai lãnh vực của cuộc sống: (i) riêng cho cá nhân và hiện tại (2-4): công việc phát đạt và hôn nhân hạnh phúc, gia đình vui vẻ (ii) cuộc sống ngoài xã hội và tương lai (5-6): sống lâu, sống với cộng đồng và sống với gia đình.  Bí quyết để đạt được tất cả những điều này nằm trong cá nhân: câu 1, 4: người nào cá nhân từng người. 1  Một tấm lòng kính sợ (tôn trọng) Đức Chúa Trời và một nếp sống (đi) phù hợp với nếp sống (đường lối) của Ngài. 2 Hưởng công việc của tay mình, biểu thị không những sự phồn vinh, thịnh vượng mà cả sự an toàn nữa (so sánh Gie 31:5). 3  Cây nho.  Hình ảnh của cuộc sống hôn nhân hấp dẫn và thoả mãn (so sánh Nha 7:8).  Cây nho...  chồi ô-li-ve tượng trưng cho phước hạnh và sự giàu sang của Đức Chúa Trời (so sánh Phu 8:8).  Thi 126:1-6 cầu khẩn xin phước hạnh, 127:1-5 xác định rằng không phải do nỗ lực mà là do sự tin cậy mà được phước 128 làm trọn điều mong ước trong 126 và xác nhận những điều 127:1-5 khẳng định:  Phước cho (1), phước hạnh (2), được phước (4), ...  phước (5) Hai từ khác nhau mỗi từ được dùng hai lần để xác nhận điều đó.

4. Cụm ba bài thơ thứ tư: Khi tội lỗi đe doạ (Thi 129:1-131:3)

Cụm thơ thứ tư này khác hẳn với ba cụm thơ trước ở điểm chỉ nhắc đến Si-ôn trong thi thiên thứ nhất trong cụm (129:5).  Nét tương tự với cụm thơ thứ ba nằm trong thi thiên thứ hai trong cụm vì trong khi 121:1-8 và 124:1-8 luận về sự chống đối đến từ bên ngoài, hoàn cảnh và con người thì 129:1-8 và 130:1-8 nhấn mạnh về những nguy cơ trong nội tâm và riêng tư, 129:1-8 nhấn mạnh sự lo âu và Thi Thiên 130 nhấn mạnh về tội lỗi.  Một lần nữa cuộc hành hương là chuyện xảy ra trong nội tâm, tấm lòng.  Trong 129:1-8, tạ ơn Đức Chúa Trời công bình, Y-sơ-ra-ên đã được cứu (1-4) và kẻ thù vô tín nằm trong phạm vi xử lý của Ngài (5-8) nhưng (130) phải chăng cũng chính sự công nghĩa đó lại là mối nguy đe doạ Y-sơ-ra-ên?  Vì không một tội nhân nào có thể đứng trước mặt Ngài (130:3).  Nhưng Ngài là Đức Chúa Trời tha thứ (4), yêu thương và cứu chuộc (7).  Do đó, Thi Thiên 131 có lòng người tìm được bình an và hi vọng nơi Chúa.

(Thi 129:1-8). Sự công nghĩa Những sự kiện trong quá khứ (1-4) dạy cách đối diện với những khó khăn hiện tại và tương lai (5-8).  Thi thiên này có thể thành hình vào bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử đầy biến động của dân Y-sơ-ra-ên.  Nhưng dù những mối nguy hiểm thường xuyên đe doạ (1, thường ‘quá nhiều’, so sánh 123:3), bài học lịch sử rất rành mạch: ngay cả nạn áp bức khốc liệt (3) cũng không thể thắng thế vì (4) Đức Chúa Trời công nghĩa tức là sau khi Ngài đã khải thị chính mình Ngài (Xu 3:15  6:6) là Đức Chúa Trời cứu chuộc dân của mình và là Đấng chiến thắng trên kẻ thù của mình, Ngài không bao giờ tẻ tách khỏi chuẩn mức đó.  Kẻ thù muốn áp đặt ách nô lệ nhưng Đức Chúa Trời ban cho sự tự do (4).  Và không phải là chuyện tiểu thuyết xây dựng lại từ lịch sử đâu!  Đế quốc Ai Cập áp đặt cuộc sống nô lệ trên dân Y-sơ-ra-ên nay ở đâu, còn nước Phi-li-tin, A-si-ri, Ba-bi-lôn nữa, họ ở đâu cả rồi?  Các động từ trong 5-8 có thể vừa là lời cầu nguyện và vừa có ý tiên tri nếu là lời tiên tri thì đây là cách đối phó với tương lai.  Ai ghét Si-ôn sẽ qua đi (6), thất bại (7), không kết bạn được với ai và bị loại khỏi phước hạnh của cộng đồng (8, so sánh Ru 2:4).

(Thi 130:1-8). Sự tha thứ Sự công nghĩa tách cụm thơ ba bài này riêng ra.  Đúng vậy, nếu Đức Chúa Trời công nghĩa đứng về phía dân của Ngài thì không một kẻ thù nào có thể hưng thịnh (129) nhưng nều Đức Chúa Trời đứng về phía dân sự nên Ngài ngự giữa họ thì sự hiện diện công nghĩa của Ngài há chẳng vạch trần tội lỗi của họ và lên án họ luôn sao?  Những từ chủ chốt của Thi Thiên 130 tự thố lộ thực trạng: thi thiên mở đầu với tiếng kêu thảng thốt, phát xuất từ vực thẳm xa xăm của sự cách xa, cầu xin lòng thương xót của Đức Chúa Trời ban cho người không xứng đáng bởi ân điển của Ngài (1-2).  Rồi thi thiên chuyển ý qua xác định rằng (nghĩa đen) ‘với Ngài (là bạn đồng hành bất khả phân ly) có sự tha thứ thứ thiệt’ (3-4).  Tiếp theo đó là tình trạng đợi chờ (5-6).  Rõ ràng là động từ này có nghĩa đợi chờ với ý trông mong với lòng tin chắc nhưng vẫn phải đợi thôi: chúng ta không thể làm gì khác: tha thứ là sự quyết định tối cao và là hành động của Đức Chúa Trời.  Trong 7-8 tính cách riêng tư của một cá nhân chuyển sang lời kêu gọi mở rộng cho cả cộng đồng: chắc chắn có hi vọng cho tất cả, một niềm hi vọng vững vàng vì Chúa có hai bạn đồng hành khác nữa: tình yêu thương có cam kết và sự cứu chuộc ‘dư dật’ - Đức Chúa Trời có khả năng và tinh thần sẵn sàng trả bất cứ giá nào để chuộc ‘cứu thoát’ chúng ta khỏi các sự gian ác (8)

(Thi 131:1-3) An nghỉ. Trong Thi 130:1-8 lời khuyên hãy hi vọng phát xuất từ sự thật về Đức Chúa Trời trong 131:3 lời khuyên đó phát xuất từ chính tác giả vì bản thân ông đã kinh nghiệm điều đó và thấy đúng.  Ông chấp nhận một địa vị khiêm tốn (1) nội tâm ông an tịnh (2) - như một em bé đã lớn khắc phục được những yêu sách thuộc tánh tự nhiên và tính tình hay cau có bực tức của tuổi ấu thơ và giờ đây em đi chập chững, chỉ cần có mẹ là đủ cho em hài lòng an tâm rồi.  Chúng ta không rõ chuyển biến ban đầu ra sao khi tánh kiêu ngạo, háo thắng trở thành khiêm nhu và hài hoà khiến hình thành bài thơ này, nhưng lời kêu gọi hãy hi vọng nơi Chúa liên kết bài thơ này với 130 và khiến cho bài thơ trở nên lời làm chứng của một tội nhân được tha thứ tội lỗi: lòng thương xót của Đức Chúa Trời đã khiến tác giả trở nên khiêm tốn, nội tân được bình an nhờ hoà thuận với Đấng ở trên trời.

5. Cụm ba bài thơ thứ năm.  Khi đến đích (Thi 132:1-134:3)

Cả ba thi thiên này đều tập trung vào Si-ôn.  Chuyến hành hương đã kết thúc, người hành hương đã đến nhà.  Dầu vậy ý tưởng trong ba bài thơ vẫn chuyển động từ những sự kiện khách quan của thành trì cùng nền quân chủ được Đức Chúa Trời chọn và thiết lập (132) đến tình thông công từ trên ban cho trong gia đình của Đức Chúa Trời (133) rồi qua sự kiệnđứng trước mặt chính Đức Chúa Trời trong thực tế (134).  Đây là phần kết của cuộc hành hương: Đức Chúa Trời ở với chúng ta (132), hội thánh trong tình thông công hoàn hảo (133), tôi tớ của Chúa ở trong đền của Ngài (134).

(Thi 132:1-18) Đức Chúa Trời trong Si-ôn: Sự lựa chọn của Chúa Tuyệt tác này là kết quả của thời gian trầm tư về IISa 7:1-17.  Trong đoạn Kinh Thánh này Đa-vít đề xuất chương trình xây dựng cho Đức Chúa Trời một ngôi đền hoá ra ngược lại Đức Chúa Trời đã có chủ ý xây dựng ngôi nước cho Đa-vít, vì vậy lời thề của Đa-vít ở đây (2-5) cân đối với lời thề của Đức Chúa Trời (10-11).  Hai phần này có cấu trúc tương tự: Cầu nguyện (1,10), lời xác chứng (2, 11), lời nói (của Đa-vít, 3-5) của Đức Chúa Trời (11-12), thêm lời xác chứng (6,13) và lời nói kết (nhắc nhở, 7-9 và lời hứa 14-18).  Như vậy mục đích và lòng mong mỏi của con người (1-9) cân đối và đối xứng với mục đích và xác định của Đức Chúa Trời (10-18).  Tiếp theo lời thề của Đa-vít (1-5) là lòng thành khẩn của con người mong sao làm trọn lời thề đó (6-9).  Tiếp theo sau lời thề của Đức Chúa Trời (10-12) là Ngài cam kết làm trọn lời thề đó (13-18).  Chúng ta có thể mường tượng một hội chúng trước thời kỳ lưu đày nhóm lại nhân dịp một trong các lễ hội hằng năm hân hoan ca hát về lòng sốt sắng của Đa-vít trong việc xây dựng một ngôi đền cho Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời cam kết sẽ xây dựng ngôi đền đó cho đúng nghĩa.

1 Các sự khổ nạn.  Cuộc thỉnh rước hòm Giao-ước không phải là không vướng mắc buồn phiền và đau khổ (IISa 6:5-9), mà đã phải chuẩn bị nhiều, gánh nhiều mất mát và tổn thất (6:12-23).  Từ ‘khổ nạn’ trong ý nghĩa là ‘nhục nhã/nhục nhã ê chề’ cũng có thể chỉ về sự việc Đa-vít bị loại không được đứng ra xây dựng đền thờ (7:5,13  IVua 5:3  ISu 22:8  28:3). 2 Trong các sách lịch sử không thấy có ghi lời thề này.  Có lẽ thi thiên muốn nhân rộng kiến thức của chúng ta hoặc diễn tả một cách thi vị về lòng hăng say chân thành đối với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời qua việc chọn Si-ôn làm thủ đô và lập đề án xây dựng Nhà Chúa.  Đấng Toàn Năng (Sa 49:24  Es 49:26  60:16 so sánh Es 1:24) nhấn mạnh ‘quyền năng hoàn toàn, toàn quyền’. 3-5 Cuộc sống riêng tư, an nhàn, sung túc phụ thuộc vào điều ưu tiên quan trọng.  Một chỗ ở ‘một chỗ ở thích đáng, đồ sộ’, xem 7. 6 Ê-phơ-rát, ý nghĩa không chắc chắn, liên quan đặc biệt tới Bết-lê-hem (Sa 35:16  Ru 4:11  Mi 5:2).  Gia-a, dạng viết tắt của Ki-ri-át Giê-a-rim (ISa 7:1-2) là nơi hòm Giao-ước lưu ngụ trong thời kỳ hòm bị mất. 7 Nơi ở ...  bệ chơn.  Đền tạm/đền thờ mang ý nghĩa cụ thể hoá sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa vòng dân của Ngài (Xu 29:43tt  IVua 8:10-11,13,27).  Bên trong Trại/đền, hòm Giao-ước, cụ thể hơn là ‘nắp thi ân/nắp xá tội’ (Xu 25:17-22  Le 16:13-14) là nơi Đức Chúa Trời Thánh khiết tiếp xúc với địa cầu.

8  Chổi dậy (Dan 10:35), năng lực Ngài (Gios 3:11  ISa 5:1-12). 9 Được mặc.  So sánh câu 16, xiêm y tượng trưng cho tâm tánh, nhiệm vụ, sự dấn thân hết lòng tức là làm cho họ trở nên công nghĩa.  Kẻ thánh, những người tiếp nhận tình yêu thương không hề thay đổi của Đức Chúa Trời và đáp lại họ cũng yêu thương Ngài.  10-18 Mấy câu này nhắc đến đích danh Đa-vít ba lần (10,11,17), hàm ý nói về Đa-vít bảy lần.  Mọi điều mà Đức Chúa Trời lâu nay vẫn làm cho Si-ôn và dòng họ nhà Đa-vít bắt nguồn từ lời thề nguyên thuỷ (11) và sự thành tín của Ngài đối với lời hứa.  Hàm ý trong lời thề có sự tuyển chọn Si-ôn (13  He 12:22), Chúa cư ngụ trong thành của Ngài (14, Exe 48:35  Kh 21:2-3) phước hạnh của Ngài về mặt vật chất (15) và về mặt thuộc linh (16), và mục tiêu tận cùng là sự đến của Đấng Mê-si cùng sự đắc thắng của Ngài (17-18).

(Thi 133:1-3) Gia đình tại Si-ôn: Phước hạnh của Đức Chúa Trời Thi thiên mở đầu với một trường hợp cụ thể dẫn đến hai sự ví sánh (2, 3ab, nghĩa đen: ‘việc đó tương tự như ...  tương tự như ... ) và kết thúc với một phước hạnh chắc chắn (3cd).  Câu 1 nhấn mạnh sự đoàn kết: ‘...  ở với nhau và hiệp một!’  Đây là một cảnh sống tốt (khách quan) và vui thích (chủ quan).  Nhưng còn hơn nữa: cảnh sống đó khiến Chúa ban cho phước hạnh từ trời đổ xuống cách dư dật không giới hạn, qua đó Đức Chúa Trời (so sánh Xu 29:7  30:25  Le 8:12) biệt riêng dân của Ngài là thầy tế lễ, hoàn thành ý muốn của riêng Ngài cho họ (Xu 19:6).  Hơn nữa, chính phép lạ của thiên đàng xoá tan sự chia rẽ (IVua 12:19) và hợp nhất Hẹt-môn, là ngọn núi cao nhất ở miền bắc Y-sơ-ra-ên với Si-ôn là ngọn núi (ở miền nam) của Giu-đa trong sương móc đem lại sự sống của Chúa (Xu 16:13,14  Es 26:19  Os 14:5).  Kết quả là tại đó (nhấn mạnh) tức là nơi nào có cảnh sống như câu 1 ‘Chúa đã truyền lịnh ban cho phước hạnh của sự sống cho đến đời đời mãi mãi’.

(Thi 134:1-3) Thờ phượng tại Si-ôn: Sự thông công của Chúa Cuộc hành hương xuất phát từ ‘Kê-đa’ (Thi 120:5), kết thúc trong nhà của Chúa nơi người hành hương ‘chúc tụng Chúa’ (2) và Ngài chúc phước cho họ (3).  Khi Ngài ‘chúc phước’ cho chúng ta, Ngài rà soát lại nhu cầu của chúng ta và Ngài đáp ứng khi chúng ta chúc tụng Ngài chúng ta ôn lại những điều ưu việt của Ngài và tôn thờ Ngài.  Niềm vui mừng lớn lao biết chừng nào khi những người hành hương đến nơi rồi không những được đặt chân vào Giê-ru-sa-lem mà còn đứng trong nhà của Chúa!  Vui mừng biết bao khi đoàn người đông vô số đi qua những cổng ngọc ngà.  Họ đến ‘từ mọi miền xa xôi trên đất, từ mọi bờ đại dương xa xăm nhất!’ - rồi chính Thầy Tế-lễ Thượng-phẩm vĩ đại hiệu triệu họ ‘chúc tụng Chúa’ (1-2) và tuyên rao lời chúc phước của Đức Chúa Trời dành cho họ (3). 1  Tôi tớ (nghĩa đen) ‘đứng’ được chấp nhận và an toàn.  Ban đêm có lẽ là những thầy tế lễ và người Lê-vi trực ca đêm trong Đền, hoặc những người hành hương thành kính thức canh khi đêm về hoặc (có khả năng xác đáng hơn hết) những người dự Lễ Vượt Qua trong đêm tối (Xu 12:42) ‘Chiên Con là toàn bộ vinh hiển trong xứ của Em-ma-nu-ên’.

6. TUYỂN DÂN CỦA CHÚA (Thi 135:1-136:26)

Thi thiên này được sắp chung với 120:1-134:3 trong tập ‘Bài ca Hành hương’ là rất thoả đáng.  Còn gì thích hợp hơn đối với những người hành hương vừa đến nơi được hát một bài ca với nội dung vẽ lại từng chẵng đường của cuộc hành hương đông đảo khai sáng từ Ai Cập đến Ca-na-an, mừng rỡ trước những đặc quyền bắt nguồn từ địa vị tuyển dân của Đức Chúa Trời (Thi 135:4), và được ca một bài nữa (136), tác giả vận dụng hầu hết những tư liệu trong bài trước xây dựng nên một bài ca đối đáp tuyệt với, bài ca này cũng truy nguyên những thuộc tính và quyền năng của Đức Chúa Trời, cùng những đặc quyền mà dân của Ngài được hưởng bởi lòng nhân từ còn đời đời của Ngài.

(Thi 135:1-21) Sự tuyển chọn dân Y--ra-ên: ý nghĩa của sự tuyển chọn đối với dân sự

Cấu trúc của thi thiên này như sau:

A1 (c.1-4) Ca ngợi Đức Chúa Trời là Đấng tuyển chọn

B1 (c.5-7) Đức Chúa Trời vĩ đại, toàn quyền trong sự sáng tạo (vĩ đại trong bảy phương diện)

C (c.8-14) Những công việc của Chúa

C1 (c.8-9) Giải phóng

C2 (c.10-12) Ban cho

C3 (c.13-14) Binh vực

B2 (c.15-18) Hình tượng chết và công việc của hình tượng chết: (bảy phương diện của hình tượng)

A2 (c.19-21) Ca gợi Đức Chúa Trời là Đấng ngự giữa

1-4 Những từ các tôi tớ ...  đứng và những hình dung từ thiện ...  vui liên kết thi thiên này với Thi 133:1  134:2.  Vì cớ Đức Chúa Trời tuyển chọn Gia-cốp ...  Y-sơ-ra-ên nên có lời kêu gọi ca ngợi, lặp đi lặp lại, và bảy lần hô danh Chúa theo nhịp trống.  Cơ nghiệp riêng (Xu 19:5  Phu 7:6  14:2  26:18  Ma 3:17).  Về mặt ý nghĩa xin xem thêm một thí dụ trong lãnh vực ‘phàm tục’, ISu 29:3.

5-7  Sự ca ngợi của tập thể chỉ có giá trị khi mỗi cá nhân đều góp phần ca ngợi.  Những người hành hương cùng nhau thờ phượng nhưng lòng tin quyết của riêng từng cá nhân là chủ yếu: (nghĩa đen) ‘tôi, riêng phần tôi, thật sự biết ... ‘  Tư duy ngoại giáo thâm nhập toàn cõi vũ trụ với vô số thần, nhất là đại dương và các vực sâu (6).  còn thi thiên thì chủ trương một Đức Chúa Trời là Đấng độc nhất sáng tạo, lời của Ngài được biểu thị khắp nơi không sót chỗ nào cả (6) và ý muốn của Ngài điều khiển mọi sự theo ý muốn của Ngài, ngay cả đến những sự thay đổi nhỏ  về mặt thời tiết, khí hậu (7).  Các thần được nhắc đến ở đây không phải vì các thần đó thật sự hiện hữu, nhưng vì các thần thu hút lòng sùng bái tôn thờ của những người bị phỉnh gạt (Es 44:6-20).  Xem thêm lời bình giải Thi 95:3).

8-14 Thời kỳ xuất hành trải dài từ lúc rời khỏi Ai Cập (8) đến chiến thắng cuối cùng của Môi-se (11, Dan 21:21tt  Phu 2:20 tt  3:1tt) rồi tiến tới sự thừa hưởng sản nghiệp dưới sự lãnh đạo của Giô-suê (12) và Ngài luôn luôn đứng về phía dân của Ngài trong hành động cũng như trong tinh thần: Binh vực có nghĩa là ‘biện luận chứng tỏ dân của Ngài có lẽ phải’ thương xót, ‘cảm thấy tội nghiệp, thương cảm’.

15-18 (Thi 115:4-8)  Chú ý cách trích dẫn và sắp xếp các tư liệu trích dẫn khiến mỗi phần đều có ý nghĩa trong cấu trúc mới.  Như dàn bài ở trên cho thấy, thi thiên này so sánh Đức Chúa Trời là Đấng hoạt động ở khắp mọi nơi (5-7) với các thần do loài người làm ra sự hoạt động của các thần này chẳng qua chỉ là gieo rắc sự thối nát của tình trạng chết của mình mà thôi (18).

19-21 Các nhóm người chúc tụng Chúa, xem thêm 115:9-11  118:2-4.  Lý do ‘chúc tụng Chúa’ là vì ‘Ngài ngự tại Giê-ru-sa-lem’ (21).  Chúa đã chọn dân của Ngài vì Ngài hết sức muốn họ thuộc về Ngài (4) đến nỗi Ngài ngự giữa vòng họ (so sánh Eph 2:18-22  IICo 6:16).

(Thi 136:1-26) Sự tuyển chọn Y--ra-ên: do phía Đức Chúa Trời Sự thật quan trọng nhất không phải là địa vị của Ngài (1-3), cũng không phải công việc của Ngài trong sự sáng tạo (4-9) và trong lịch sử (10-12), cũng không phải là lòng tốt của Ngài đối với dân Y-sơ-ra-ên (23-25), nhưng mà là chính Ngài, chính bản thể của Ngài là Đấng có lòng yêu thương còn đến đời đời.  Chính tại điểm được nhấn mạnh và được lặp đi lặp lại này mà mọi điều đều hướng tới quay về.  Tự thân địa vị của Ngài khiến chúng ta kính sợ Ngài những công trình sáng tạo khiến chúng ta kinh ngạc tán thưởng quyền năng của Ngài biểu thị trong lịch sử khiến chúng ta qui phục lòng tốt của Ngài khiến chúng ta cảm kích, biết ơn.  Nhưng khi chúng ta phát hiện tất cả những điều vĩ đại đó đều phát xuất từ tình yêu thương không hề thay đổi, thích bộc lộ quyền hạn qua sự thương xót và cung ứng, thì chúng ta thật sự công nhận Đức Chúa Trời với trọn lòng yêu thương trong tinh thần kinh ngạc và với lời ca ngợi.  Nếu Đức Chúa Trời chỉ tốt lành, uy nghi tột bực, là Đấng sáng tạo, là Chúa của lịch sử, là Đấng làm ơn cho dân tộc trong quá khứ, thì chúng ta không quan tâm bằng Ngài cũng là tình yêu thương không thay đổi vì tình yêu thương này cũng đem chúng ta đến vòng tay ấp ủ và che chở của Ngài.

Vì vậy, chúng ta, với các anh chị em trong hội thánh Cựu Ước, có thể trở gót đi lại con đường hành hương từ Ai Cập đến Ca-na-an cùng với họ ca hát qua từng bước đi rằng lòng yêu thương của Ngài còn đến đời đời.  Không một quyền lực nào có thể cầm cự chống nghịch Ngài (1-3, Ro 8:31-39  ICo 8:5,6  Eph 1:19-22), chúng ta được an toàn trong thế giới này vì thế giới này thuộc về Ngài (4-9) chúng ta cũng kinh nghiệm sự cứu chuộc (10-15  Gi 1:29  ICo 5:7  IPhi 1:18-21) hưởng mọi sự cung ứng của Ngài trong mọi hoàn cảnh không phân biệt (16  Phi 4:12-13,19), tiến vào nhận sản nghiệp nhờ Ngài để đắc thắng (17-22  Co 1:12-14), trầm trồ kinh ngạc trước sự kiện Ngài hạ mình chọn chúng ta (23-24  ICo 1:26-31) và ngày ngày dùng bữa, dán mắt nhìn bàn tay nuôi dưỡng chúng ta (25), tình yêu thương còn đến đời đời.

111. BÀI CA LẠ LÙNG (Thi 137:1-9)

Động từ trong câu 1-3 ở thì quá khứ (hầu hết mọi người đương nhiên hiểu như vậy) và từ ‘ở đó’ trong câu 1 và 3, còn trong câu 2 thì có một từ tương đương ‘ấy’ tác giả nhìn ngược thời gian và không gian xa.  Ông tự đặt mình vào lớp người hồi hương và sáng tác một bài thơ hồi tưởng thời lưu đày.

Thi 137:1-4  Bài ca không hề hát  Đối với những người bị lưu đày (1), ký ức chất đầy nỗi cay đắng (so sánh 7) còn niềm vui thuộc về quá khứ rồi (2).  Dứt khoát là như thế - vì những người đã bắt họ bảo họ hát lên và vui mừng đi (3).  Nhưng bài ca của Chúa là những bài xác định về lẽ thật và là những cử chỉ thờ phượng, chớ không phải là những tiết mục trong buổi trình diễn âm nhạc.  Hơn nữa, đời cũng có lúc phải khóc.  Không phải là một chuỗi ngày vui cười bất tận.  Ngoài ra, lời thúc giục ca hát này bao hàm một ý khác nữa, đó là thúc giục ổn định cuộc sống, sống yên ổn đi - quí vị được ở Ba-bi-lôn rồi!  Nhưng họ không thể nào quên cũng không thể nào hoà đồng.  Họ biết rằng mình đang ở trên đất khách quê người (4).

Thi 137:5-6  Tấm lòng đâu quê hương đó  Giờ đây mọi việc diễn ra trên bình diện cá nhân.  Mỗi người phải quyết định chọn quốc tịch của mình cà sống xứng hợp với quốc tịch đó - trong ý tưởng (quên ...  nhớ), trong hành vi (tay) và bởi tấm lòng (vui mừng).  Ba-bi-lôn chỉ là địa chỉ liên lạc, còn Giê-ru-sa-lem là quê nhà (Phi 3:20)

Thi 137:7-9  Bài ca lạ lùng của Chúa  Nhưng có một bài ca mà họ chịu hát, và khi họ rời khỏi Ba-bi-lôn bình an vô sự, để trở về với Giê-ru-sa-lem  điêu tàn thì họ hát lại bài ca.  (i) Họ giao phó Ê-đôm cho Đức Chúa Trời (7) (nghĩa đen) ‘Hãy nhớ lại người Ê-đôm’ (so sánh Thi 132:1 ‘Hãy nhớ lại Đa-vít’) là một câu nói mẫu để đem vấn đề trình ra cho quan toà.  Khi Giê-ru-sa-lem bị đập phá tan hoang, Ê-đôm tham gia miễn phí và vào cuộc đập phá và chê cười Giê-ru-sa-lem (Ap 1:10-14).  Không xin gì cả cũng không đề nghị hoặc dự trù sự trả thù nào cả, chỉ trình giao mọi sự ra trước mặt Đức Chúa Trời là vị quan toà.  (ii) 8-9, giao phó Ba-bi-lôn cho công lý, theo nhãn quan của Kinh Thánh (Gie 51:56 có ba động từ tương tự với động từ trong 8-9), thì Ba-bi-lôn đã bị lên án rồi.  Phước cho hầu hết mọi trường hợp có nghĩa là ‘được phước’ / ‘ở dưới sự chúc phước của Đức Chúa Trời’ (Thi 32:1), thông thường có nghĩa là ‘vui mừng / đời tư được như ý’ (1:1) đôi khi dùng theo nghĩa căn bản là ‘ngay thẳng’, có nghĩa là ‘Đúng / làm việc đúng’ (Ch 14:21  Thi 106:3).

Tác giả không xin một điều gì cả đối với Ba-bi-lôn, nhưng chú ý (nào ai có thể nói ngược lại ông?) là khi Ba-bi-lôn bị xử lý như thể Ba-bi-lôn đã đối xử với Giê-ru-sa-lem như vậy là phải lẽ - Vị quan toà của toàn thế giới này (Sa 18:25) sẽ hành động (Ro 2:5-6). 8 công nhận cách Ba-bi-lôn đối xử với Giê-ru-sa-lem là công bình (ngươi đã làm, ‘ngươi đền lại’).  Đống tàn tích chứng minh sự công bình của Đức Chúa Trời là Đấng điều hành thế giới này Ba-bi-lôn sẽ nhận được phần dành cho mình là sự công bình! 9  ghi lại sự tàn bạo trong sự công bình của Ba-bi-lôn (so sánh IIVua 8:12  Es 13:16 ... ) và vì cớ họ đã xử sự như vậy nên họ sẽ được đối xử lại như vậy.  Tác giả có nói là ông mong muốn một sự thể như vậy chăng?  Không, ông không nói như vậy, nhưng ông chỉ nói là chuyện sẽ là như vậy.  Chúng ta đang sống trong một thế giới như thế dưới sự cai trị của Đức Chúa Trời.

112. CÁNH CỬA SỔ MỚI, ĐÔI MẮT TƯƠI TỈNH (Thi 138:1-8)

Đây là một trong những dịp khi mà một kinh nghiệm duy nhất mở ra, một triển vọng hoàn toàn mới mẻ về bản thể của Chúa (1-3), về tương lai của thế giới (4-6) và về sự an toàn riêng cho cá nhân (7-8).  Về nội dung của kinh nghiệm thì chúng ta chỉ biết rằng chính sự đáp lại của Chúa đối với lời cầu nguyện của Đa-vít đã khiến cho ông bừng lên một sức sống mới mãnh liệt đến nỗi ông muốn hát ca ngợi Chúa trước mặt những cái gọi là ‘thần’.  Ông cảm thấy rằng ông nhận biết Đức Chúa Trời cách mới khác hẳn xưa nay (2).  Ông biết rằng không một sự khó khăn hoặc kẻ thù nào (7) có thể thắng ông hoặc ngăn trở Chúa thực hiện mục đích của Ngài (8).

Có lẽ mọi chuyện xảy ra trong IISa 5:17-21 khi quân Phi-li-tin đe doạ vương quốc non trẻ của Đa-vít.  Đa-vít cầu hỏi ý của Đức Chúa Trời, Ngài đáp lại bằng một cuộc chiến thắng đầy ý nghĩa và ‘các thần’ của Phi-li-tin trở nên rác rến trên trận địa.  Cũng có thể mọi sự chỉ xảy ra trong lời cầu nguyện và sự đáp ứng của Đức Chúa Trời đối với lời cầu nguyện.  Cầu nguyện là cơ hội nhận được sự khải thị của Đức Chúa Trời trong tầm cỡ mới mẻ (2), là cơ hội kinh nghiệm sự đổi mới (3), là cơ hội nhận được sự hiện thấy về thế giới (4) và đạt được niềm tin tưởng chắc chắn nơi Đức Chúa Trời (7-8).

2  Đền thánh, từ này cũng được dùng trong ISa 1:9, chỉ về Đền tạm ở Si-lô.  Trong thời của Đa-vít, Đền tạm trụ tại Ghi-bê-ôn (IISu 1:3), nhưng có lẽ ở đây chỉ về đền thờ trên thiên đàng (so sánh Thi 18:6). 3  Đầy kịch tính hơn ‘Trong ngày tôi kêu cầu, Chúa đáp lại tôi’. 4-6  Lời của miệng Ngài truyền rao ra sự vinh hiển của Ngài trong khi Ngài hạ cố hoà đồng với người hèn ha.  Đây là lẽ thật, khi lời cầu nguyện của Đa-vít được đáp ứng, thì lẽ thật này đã mở mắt Đa-vít khiến ông nhìn thấy tầm cỡ lớn lao quan trọng của danh Chúa và thay đổi tâm hồn của ông.  Ông tin chắc rằng danh của Chúa sẽ thắng thế gian và nhờ danh Ngài ông có thể đối diện tương lai cách vững tâm.

113. KHÔNG CÓ LỐI THOÁT, KHÔNG HỐI TIẾC GÌ CẢ, KHÔNG HÒA HOÃN (Thi 139:1-24)

Rõ ràng thi thiên này dạy về sự toàn tri (1-6), sự toàn tại (7-12), sự thánh khiết (19-24) và sự sáng tạo (13-18) của Đức Chúa Trời, nhưng những vấn đề trừu tượng đó nằm quá xa đối với tầm hiểu biết của tấm lòng.  vì đối với tác giả Đức Chúa Trời toàn tri nghĩa là Đức Chúa Trời biết tôi cách hoàn toàn Đức Chúa Trời toàn tại nghĩa là Đức Chúa Trời ở với tôi trong mọi nơi Đức Chúa Trời sáng tạo nghĩa là Đức Chúa Trời toàn quyền sở hữu mọi lãnh vực trong con người tôi, và Đức Chúa Trời thánh khiết nghĩa là Đức Chúa Trời muốn rằng tôi phải trở nên giống như Ngài.  Tác giả thi thiên này không phải là người muốn trốn khỏi Đức Chúa Trời khi có thể, hoặc chạy trốn khỏi Ngài với tư cách là một tội nhân, nhưng ông biết ông không thể thoát khỏi Ngài được và thấy là không có điều gì hối tiếc trước một sự thật như thế. 

Thi thiên là một thực thể đồng nhất.  Từ vì trong câu 13 khiến cho câu 13-18 trở thành lời giải của câu 1-6,7-12 còn câu 1 và câu 23 có lời lẽ như nhau trở nên sợi dây ràng toàn bài thơ này làm một.  Như vậy nghĩa là tình trạng căng thẳng giữa tác giả và kẻ ác trong câu 19-24 là bối cảnh hình thành bài thơ này.  Một trường hợp giằng co trong phạm vi đạo đức, khi sự gian ác rơi xuống mức tệ hại nhất (19) và có hình thức tàn bạo nhất (20-21) khiến cho Đa-vít không những quyết định đứng hẳn về một phe (19-24) mà còn rà soát lại nơi trú ẩn về sự an toàn của mình trong Đức Chúa Trời (1-18).  Trong văn từ có dấu vết thuộc về thời kỳ sau Đa-vít.  Nhưng những dấu vết đó không đủ sức thuyết phục chủ trương như vậy.  Còn không thể khẳng định niên đại cho thần học trong thi thiên này được nhưng nội dung hết sức phù hợp với kinh nghiệm và con người của Đa-vít.

Thi 139:1-6  Đức Chúa Trời toàn tri: Ngài biết từng ý tưởng nội tâm ra đến hành vi bên ngoài  Những câu này đầy những động từ ‘biết’.  Câu 1 tuyên bố tổng quát về sinh hoạt và ý tưởng nội tâm (2) về những hành vi và nếp sống hằng ngày (3, nẻo đàng, đường lối) và những ý tưởng thầm kín (4).  Cuộc sống của một cá nhân hoàn toàn nằm trong phạm vi kiểm soát của Chúa phía trước, phía sau, trên (5, ‘Chúa úp tay Chúa trên mình tôi’ - một hình ảnh bày tỏ Ngài bảo vệ tôi và lo cho tôi được yên ổn, Gi 10:27-30).

Thi 139:7-12  Đức Chúa Trời Đấng sở bất tại: từ cõi đời đời cho đến thế giới tạm bợ  Sự hiện diện đầy năng lực của Đức Chúa Trời (7, nghĩa đen, ‘mặt’) Ngài đích thân hiện diện.  Đâu ...  đâu? ngụ ý là Đức Chúa Trời hiện diện và tích cực hoạt động trong mọi nơi và ý tưởng này được triển khai trong 8-12: chiếu kích đời đời, trên và dưới chiều kích không gian (9-10) ‘Phải chi tôi có thể đi xa về hướng đông, cùng với ánh hừng đông bay đi qua các miền, và tiếp tục bay đến hướng tây vượt qua các bờ biển... ‘ chiều kích tạm bợ (11-12): câu 11 nói về khả năng tìm một nơi trú ẩn (có vấn đề đặt ra chung quanh ý nghĩa của động từ trong câu này) trong bóng tối dày đặc đến nỗi (11) ánh sáng ban ngày trở nên đêm tối tăm.  Nhưng bóng tối đậm đặc cỡ đó cũng không gây trở ngại gì cho Đức Chúa Trời (nghĩa đen, ‘quá tối đối với Ngài’) nhưng trái lại (12) bóng tối lại sáng như ban ngày thật vậy, ‘bóng tối và ánh sáng đều như nhau’ - đối với Chúa, và đối với khả năng tôi lạc mất bàn tay nắm giữ và dẫn dắt (10).

Thi 139:13-18  Đức Chúa Trời Đấng sáng tạo mọi sự: từ sự thụ thai đến sự sống lại  Làm thế nào Đức Chúa Trời biết và bao bọc tôi?  Vì từ khi trứng rụng đến trứng thụ tinh rồi suốt bao ngày dài trong cuộc đời cho đến khi tôi ‘tỉnh dậy’ trong cõi đời đời Ngài là Đấng sáng tạo nên tôi và sở hữu tôi. 13  Nắn nên, dệt thành.  Động từ này có nghĩa là ‘tìm được, có được quyền sở hữu’ thí dụ mua (Sa 25:10  Xu 15:16).  Tâm thần, ‘thận’, trung tâm của cảm xúc, nó về giống hữu tình. 15 Xương cốt, thể xác con người. 16  Thể chất vô hình, ‘phôi thai’.  Mỗi phôi thai là một con người, là một vật sở hữu của Đức Chúa Trời do Ngài dựng nên với chuỗi đời đã được hoạch định cho trước, một đời sống được thiên đàng chỉ định sống ở trần gian. 17  Quí báu ...  lớn, tức là toàn bộ cung ý tưởng trong 1-12 và cụ thể là sự kỳ diệu lạ lùng trong sự sáng tạo con người (13-16).  Nhưng chưa hết: còn cõi đời đời nữa!  tỉnh thức, so sánh Thi 17:15.

Thi 139:19-24.  Đức Chúa Trời Đấng hoàn toàn thánh khiếtTừ sự xét xử trong tương lai đến sự làm chứng trong hiện tại  Các câu này đi với nhau từng đôi, ba đôi: 19-20  Ủng hộ Đức Chúa Trời.  Vì Ngài sẽ diệt kẻ ác trong thời điểm của Ngài, nên bây giờ tôi tách khỏi, xa lánh kẻ ác. 21-22 Đứng về phe của Đức Chúa Trời.  Họ ghét Chúa tôi cũng ghét họ.  23-24 Làm hài lòng Chúa.  Xin ngự vào lòng tôi và rà soát kỹ xin nắm quyền kiểm soát các đường lối tôi để loại trừ điều ác và dẫn dắt.  Nói là kêu xin xét xử là không phù hợp với Chúa Giê-xu trong Lu 23:34 tức là quên Chúa Giê-xu trong Mat 7:23  25:41,46  Kh 6:15  ff - mức độ thạnh nộ của Đức Chúa Trời theo Kinh Thánh.  Phải chi chúng ta đạt mức thiêng liêng của câu 1-18 chúng ta sẽ có đủ tư cách để phê phán phẩm chất đạo đức trong 19-24.  Đúng vậy nếu chúng ta đồng cảm với tác giả về những cảm xúc đối với vấn đề đạo đức (21) và cũng hoàn toàn hết lòng như ông (23-24) thì chắc chúng ta cũng phải nói như ông thôi.  Nếu những câu này làm chúng ta chối tai bất bình thì lời nằm bên phía chúng ta có lẽ nhiều hơn.  Nếu chúng ta cũng bị đe doạ như Đa-vít đã từng bị đe doạ, chắc chúng ta sẽ đánh giá những lời ông nói khá hơn nhưng ông đã chịu khổ nhiều hơn chúng ta và ông cũng thánh thiện hơn chúng ta.  Đứng về phe của Đức Chúa Trời là đồng cảm với toàn bộ những bản tánh và đường lối mà Ngài đã khải thị.

114. CẦU NGUYỆN SUỐT ĐẾN CA NGỢI (Thi 140:1-145:21)

Thi 140:1-145:21 là một nhóm các thi thiên của Đa-vít.  Tự thân 142:1-7 ràng buộc với Đa-vít qua những kinh nghiệm đáng buồn với Sau-lơ và thời kỳ này cũng thích hợp với các thi thiên khác cho đến chừng (như với 18:1-50) chúng ta đến vùng có ánh sáng mặt trời từ bài ca ngợi vĩ đại trong 145 với những chữ cái đầu giòng thơ theo trật tự trong bảng chữ cái.  140:1-143:12 là những bài cầu nguyện.  Phản ứng đầu tiên đối với sự rối reng qua mọi hình thức (xem liệt kê trong phần bình giải) là ‘đem sự rối reng đó trình giao cho Chúa’.

1. Sự vu khống (Thi 140:1-13)

Thi thiên gồm có hai lời cầu nguyện (1-5,8-11) tiếp theo sau mỗi bài là một lời xác định (6-7, 12-13).  Lời cầu nguyện thứ nhất xin bảo vệ, lời cầu nguyện thứ hai, cầu xin tai hoạ lời xác định thứ nhất công nhận Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi trong sự chăm sóc bảo vệ đối với riêng cá nhân lời xác định thứ hai xác nhận sự công nghĩa của Đức Chúa Trời trong việc cai quản dân chúng trong xã hội.  Mỗi lời cầu nguyện đặc biệt nêu ra kẻ bạo hành (1,4,11), phương hại đến con người và tai hại của lời nói gian trá (3,11).  Cũng vậy, bài thơ này đan xen ý tưởng về một cá nhân chống nghịch với sự chống nghịch của một nhóm người.  Tất cả đều rất phù hợp với Đa-vít trong thời gian Sau-lơ ôm một mối thù hiềm bịnh tật đối với ông.  Trong câu 1-5 chú ý tâm trí sai khiến lưỡi (3) rồi lưỡi sai khiến tay (4).  Kinh Thánh đặc biệt xem cái lưỡi chẳng những là một cơ quan có thể phương hại (bén) mà còn là cơ quan có thể giết người (rắn...  nọc độc...  rắn hổ). 7 Sức mạnh của sự cứu rỗi tôi, ‘vị cứu tinh đầy năng lực’.  Che chở là một động từ ở thì hoàn toàn diễn tả thói quen cố định.  Những điều Đa-vít học được từ những kinh nghiệm đã qua thì Đa-vít đều dùng làm cớ để tôn thờ Chúa. 8-11 ở đây chúng ta gặp lại ‘nan đề’ chung quanh lời cầu xin rủa sả.  Những lẽ thật đã được khải thị (8,9,11), là tội ác quay trở lại phương hại chính người phạm tội, và Đức Chúa Trời hình phạt kẻ ác đặc biệt bằng lửa và nước lụt (10).  Khi Đa-vít cầu nguyện giao phó tất cả cho Chúa, an nghỉ qua lời cầu nguyện, không đeo đuổi sự trả thù nào, thì đó là lúc ông nói ra thành lời những điều Đức Chúa Trời là Đấng nắm quyền báo trả, đã phán Ngài sẽ thực hiện. 12  Khổ nạn ...  thiếu thốn, những người bị những người có thế lực mạnh và vô liêm sĩ chà đạp và lấn lướt.

2. Gây hấn (Thi 141:1-10)

Sự vu khống trong Thi Thiên 140 trái ngược với mối quan tâm giữ gìn lời nói (3), chỉ tuôn ra lời cầu nguyện (1-2) rồi khi sự khó khăn qua rồi, thì thốt những lời ngọt ngào chớ không có giọng thù oán gì (6, xem thêm phần sau).  Thật vậy, thi thiên này là một bài cầu nguyện biểu thị sự chịu đựng bền bỉ, ở đây người tin Chúa biết cách sử dụng miệng lưỡi mình cách đúng đắn.

Thi 141:1-4.  Lời cầu nguyện hiệu quả  Đa-vít mong mỏi Đức Chúa Trời xét thấy lời cầu nguyện của ông có đủ giá trị và điều kiện để được Ngài chấp thuận theo như những qui định của Ngài về các của lễ dâng hằng ngày (Xu 29:38-42  30:8).  Nhưng lời cầu nguyện trọn lành dâng lên cho Đức Chúa Trời phải đi đôi với lời nói tự chế đối với con người (3, Gia 3:10-12). 4 Cần củng cố lời cầu nguyện cho môi miệng bằng lời cầu nguyện cho tấm lòng.  Ăn vật ngon của chúng nó, một hình thức cám dỗ chấm dứt tình trạng gay cấn bằng cách hoà hoãn, bằng cách hoà nhập với c\sự chống đối.  Có thể hiểu câu ‘ăn vật ngon của chúng nó’ theo nghĩa đen, nghĩa là ngồi vào bàn ăn uống thông công với họ, hoặc hiểu theo nghĩa bóng là ‘vui thích trong những điều làm họ vui thích’.

Thi 141:5-6  Lời cầu nguyện chịu đựng bền bỉ Trong câu 1-4 tác giả chấp nhận ác cảm của người vô tín mà không một lời phản kháng nào cả.  Tinh thần khiêm nhu và cương quyết nơi ông còn tiến thêm một bước nữa.  Đó là ông chấp nhận sự chê trách (5) từ những người đáng lẽ đồng cảm với ông.  Câu 5 đưa ra một sự trái ngược có vẻ như người công bình trách mắng ông có lẽ về chuyện ông im lặng chấp nhận và có lẽ họ thúc ông đối đáp hoặc kháng cự.  Nhưng làm gì có chuyện đó: chỉ có lời cầu nguyện được dâng lên cho đến chừng (6, nghĩa đen): ‘các quan toà của họ bị quăng xuống vách đá, rồi họ sẽ nghe lời nói của tôi và nhận thấy rằng lời nói của tôi ngọt ngào’.  Sự khốn nạn của thời buổi đó gồm có những chuyện hối lộ ở phiên toà (tham khảo ISa 8:1-3).  Án tử hình (tham khảo IISu 25:12) kết liễu đời các vị quan án loại đó chấm dứt luôn sự áp bức.  Vào ngày đó, im lặng tự nguyện của tác giả sẽ kết thúc, không phải với tinh thần tự khen hoặc báo thù, nhưng với những ‘lời nói êm dịu’.

Thi 141.7-10  Lời cầu nguyện làm nơi trú ẩn  Đa-vít và các thuộc hạ nghe cõi lòng tan nát và thể xác rã rời không gì hơn kẻ đã chết và bị chôn (7) nhưng (8) - luôn luôn còn có chữ nhưng còn (a) một cặp mắt mong đợi trông ngóng, (b) một Đức Chúa Trời toàn quyền, (c) một nơi ẩn náu, lời cầu xin cho sự sống (thoát khỏi), sự an toàn (9), sự sụp đổ xứng đáng của kẻ ác và sự bình an vô sự qua cơn hoạn nạn (10).

3. Sự cô đơn (Thi 142:1-7)

Về tiêu đề, xin xem Thi 57:1-11.  Đa-vít bị kẻ thù bao vây (140:9) bị bạn bè hiểu lầm (141:5) nên ông than thở là ông bị con người bỏ rơi (4) nhưng phát hiện ra là Đức Chúa Trời không bỏ rơi ông (5).  Ba phần trong thi thiên (1-3a, 3b-5,6-7) đều có chung một chủ đề: (i) Sự khốn khổ của tác giả: nao sờn, không có bạn bè kiệt lực (ii) Cầu nguyện: mô tả, xác định, xin (iii) Đức Chúa Trời: thông cảm, bảo vệ, cung ứng, giải cứu.

1-3a Một tâm linh sờn ngã cầu nguyện với Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót và chăm sóc.  Dù Chúa biết nhu cầu của chúng ta (Mat 6:32) Ngài vẫn truyền cho chúng ta cầu xin (7:7-8).  (1, nghĩa đen, ‘với tiếng của tôi, tôi kêu cầu ...  với giọng nói của tôi, tôi nài xin’) tức là trình bày những chi tiết bằng ngôn từ, tập trung tâm linh nao núng trong sự hiện diện của Đấng quan tâm chăm sóc (biết, xem Thi 1:6). 3b-5 Từ trong chỗ hiểm nguy và bị cô lập phát xuất lời kêu cầu với Đức Chúa Trời của sự an toàn và đầy đủ.  Ẩn náu (4) một nơi cho tác giả chạy đến mà trốn ẩn náu (5) một nơi trú ẩn có sẵn cho tác giả.  Phần, sự đầy đủ cho cuộc sống (Gios 18:7 so sánh Thi 19:9) trong đất kẻ sống, ngay trong hiện tại.  6-7 Từ tình trạng bất lực kêu cầu với Đức Chúa Trời là Đấng giải quyết đầy đủ những nhu cầu của chúng ta.  Chúa làm ơn cho tôi: vì Chúa đã làm cho tôi một việc hoàn hảo, đánh bại mọi kẻ thù, giải thoát tôi khỏi mọi ách nô lệ phục hồi tôi để tôi ca ngợi và thông công với Ngài.

4. Phần kết (Thi 143:1-12)

Trong câu 7-12 là một chuỗi mười một điểm cầu xin nhấn mạnh dần dần cho đến đỉnh cao.  Nhu cầu càng sâu xa lời cầu xin càng khẩn thiết.  Thật vậy, nhu cầu đã đâm rễ sâu rồi!  Như một con thú bị săn đuổi, tác giả đã bị đuổi, bị đánh gục, nhốt vào cũi (3, so sánh tiêu đề của Thi 142:1-7) nên ông cảm thấy tuyệt vọng (4).  Sức chịu đựng tiêu tán hết rồi.  Phải chăng Đức Chúa Trời đã loại bỏ ông và phải chăng đến phần kết thúc rồi?  Thi thiên xoay quanh chốt chính là tính khẩn cấp trong câu 7:

A1 (c.1-2) Mối tương quan

B1 (c.3-4) Mối hiểm nguy

C1 (c.5-6) Tin cậy

D (c.7) Sự khẩn cấp

C2 (c.8) Sự tin cậy

B2 (c.9-10) Mối tương quan

A2 (c.11-12) Mối liên hệ

1-2 (Mối tương quan)  Các thuộc tính của Chúa 3-4 (Mối hiểm nguy) Lòng phản trắc của con người 5-6 (Tin cậy) Những việc làm của Đức Chúa Trời trong quá khứ 7 (Sự khẩn cấp) Chỉ một mình Chúa 8 (Tin cậy) Lòng yêu thương của Đức Chúa Trời trong hiện tại 9-10 (Mối hiểm nguy) Linh của Chúa dẫn dắt 11-12 (Mối tương quan) các thuộc tính của Chúa

2  Trong suốt triều đại của Sau-lơ, Đa-vít hoàn toàn vô tội, nhưng dù vậy, khi sự săn đuổi truy bắt kéo dài không thể nào ông không tự hỏi: Mình có làm điều gì phật ý Chúa chăng?  Không phải tất cả những sự khốn đốn đau khổ đều là hậu quả của tội lỗi, nhưng hễ chịu đau khổ thì cần tự tra xét trong tinh thần e sợ làm phật ý Đức Chúa Trời. 5-6 Sự thân thiện của ký ức.  Ôn lại quá khứ của chúng ta là gia tăng nỗi buồn và thông thường là phát sinh tinh thần tự xót tự thương ôn nhớ lại những việc Đức Chúa Trời đã làm trong quá khứ khiến chúng ta vững tâm cầu nguyện khao khát Chúa, rõ hơn là ‘tôi giơ tay ra hướng về Chúa, linh hồn tôi hướng về Chúa chính như là...‘.  Sự khẩn cầu trong câm lặng: tự thân nhu cầu của dân sự của Ngài cũng đủ sức thuyết phục Đức Chúa Trời rồi.  7 Giải pháp nằm trong tay Đức Chúa Trời.  Đa-vít không cầu nguyện xin Đức Chúa Trời tuyệt diệt hoặc loại trừ...  kẻ thù, nhưng xin Chúa ngẩng mặt đầy thiện ý lên.  Chỉ cần chừng đó thôi - chỉ cần một cái nhìn thôi!  8-10 Tác giả trông mong chính Đức Chúa Trời chớ không phải chỉ đơn giản mong cho sự khó khăn sớm kết thúc.  Có ơn huệ của Chúa ban cho thì tác giả mới có được nếp sống vâng phục.  Thần tốt lành (Ne 9:20). 11-12 Một trường hợp về lời cầu nguyện nguyền rủa: chúng ta cảm thấy dễ chịu với câu 11 và có thể cũng đã từng cầu nguyện với lời lẽ đó nhưng thật ra, lời lẽ nhẹ nhàng trong câu 11 còn kèm theo những lời thỉnh nguyện gay gắt trong câu 12, vì đây là cách Chúa xử lý những vụ vu khống (Phu 19:16-19).  Có những hoàn cảnh (như hoàn cảnh của Đa-vít) không thể có sự giải cứu mà không có diệt trừ, và cầu nguyện xin Chúa giải cứu mình tức là cầu nguyện xin Chúa diệt trừ kẻ thù.

5. Và ban mai đến (Thi 144:1-15)

Một mặt Thi 144:1-145:21 kết hợp với 146:1-150:6 thành một bài trường ca tán tụng Chúa nhưng một mặt lại đặc biệt liên hệ với 140:1-143:12, trước tiên là qua các tiêu đề thi thiên của Đa-vít và thứ hai qua mối liên hệ giữa 144:1-14 và 18:1-50 (tức là 1, 18:34  18:2  47  5  18:9  6  18:14).  Với 18:1-50 các đợt truy lùng sát hại của Sau-lơ kết thúc, còn 144:1-14 đón mừng bình minh mong đợi lâu nay sau bóng tối dày đặc trong 140:1-143:12.

(Thi. 144:1-4)  Sự giải cứu trong quá khứ  Cuối cùng Đa-vít được lên ngôi cai trị (2, dân sự, Hi Bá Lai ‘dân tộc của tôi’).  Đa-vít qui mọi sự cho Chúa và không thể làm gì khác hơn là kinh ngạc trước những điều tốt lành mà Chúa dành cho một con người.  Hòn đá (1) bất biến (Phu 32:4  IISa 22:47-49), nơi ẩn náu (Thi 31:2,3), tiếp cứu (Xu 17:6  Thi 95:1).  Dạy (1) Không phải Đức Chúa Trời chỉ có quyền hạn trên kết cuộc của trận chiến mà thôi, Ngài chăm nom đến từng chi tiết đến từng bàn tay, từng ngón tay, tổ chức và tài năng của từng cá nhân người lính.  Trận chiến là của Ngài - nhưng không phải là không có sự hết lòng tham gia chiến đầu của dân Ngài (Phu 7:1,2  Eph 6:10tt).  Ngài là sự nhân từ tôi (nghĩa đen) ‘lòng yêu thương không thay đổi của tôi’ thuộc tính của Chúa được dùng làm danh xưng tụng.  Đồn luỹ ...  nơi ẩn náu ...  cái khiên.  Đồn luỹ ngụ ý về một sức mạnh, bảo bọc nơi ẩn náu ngụ ý về một nơi an toàn bất khả xâm phạm cái khiên, ngụ ý về sự bảo vệ ngay khi bị tấn công.  1-2 gói trọn một lẽ thật có tính cách xác định là chỉ một mình Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời Cứu Chuộc, lẽ thật này được bổ sung bằng một lẽ thật có tính cách phủ định (3-4) rằng không bao giờ con người đạt mức xứng đáng với sự cứu rỗi cũng không bao giờ có thể đóng góp vào sự cứu rỗi của mình.

(Thi 144:5-11)  Sự giải cứu hiện tại  Thi 18:9-17 dùng hình ảnh tưởng tượng trong 5-6 để tả vẽ những việc Đức Chúa Trời đã thực hiện để giải thoát Đa-vít khỏi Sau-lơ.  Ở đây tác giả khẩn nài cho hiện tại.  Kẻ thù vẫn còn, sự giải cứu vẫn cần thiết.  Có cam kết ca ngợi nhưng hiểm hoạ vẫn còn đe doạ thì cầu nguyện vẫn cứ tiếp tục.  Lòng thương xót của Đức Chúa Trời đối với quá khứ không nuôi dưỡng một tinh thần tự mãn ‘để cho Chúa lo’ mà là một tinh thần khẩn trương ‘đem trình dâng lên Chúa’.  Hạ (5, vạch), như trong cử chỉ vạch màn cửa trại cho chủ nhân bước ra (Es 40:22).  Hạ ... khói (Xu 19:18).  Nước sâu (7), nói bóng về những sự đe doạ áp đảo (Thi 124:4).  Ngoại bang (7) như Đa-vít bị đe doạ sau khi lên tức vị (IISa 5:17tt  10:1tt).  Tay hữu (8) giơ lên trong trường hợp thề thốt (Thi 106:26).

(Thi 144:12-15)  Sự thịnh vượng trong tương lai  Thi thiên này phù hợp với hoàn cảnh của một vua mới tức vị như Đa-vít gồm sự ca ngợi của ông về sự đắc thắng mà Chúa mới ban cho (1-5), mối hiểm nguy còn tiếp tục đe doạ ông (6-11) và với phần này ông quan tâm đến tương lai!  Ông cầu xin phước hạnh cho gia đình trong lãnh vực kinh tế, và cho đất nước trong tinh thần tin tưởng vững vàng (15).  Cây mọc lên mạnh mẽ (12) đâm rễ sâu, vững chắc.  Cột chạm trỗ (12) dùng hình bóng miêu tả năng lực, mỹ thuật và an toàn.  Tự thân cột đem lại cho toà nhà sự vững chãi: địa vị của người nữ, người vợ và người mẹ trong một xã hội tổ chức có trật tự ổn định. 14bc mô tả một trận đánh trong thế tự vệ và phản công, rồi cảnh than khóc người thân qua đời sau mỗi trận đánh.  Thật vậy, phước cho dân nào có được cảnh này!

6. Một bài thơ theo mẫu tự về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Thi 145:1-21)

Thi thiên này là một bài thơ theo thể mẫu tự đầu, mỗi giòng thơ là một mẫu tự theo thứ tự bảng chữ cái.  Trong nguyên văn Hi Bá Lai giòng thơ với mẫu tự nun (n) không có.  Thông thường người ta cho rằng giòng thơ đó bị thất lạc và đa số sẵn lòng hoan nghinh bản NIV vì đã cung cấp được câu đó dựa vào các nguồn tư liệu khác (13b, xem lề NIV).  Nhưng việc làm này không có gì là xác đáng và rõ ràng cho lắm.  Làm sao một giòng thơ rơi rớt đi đâu.  quả là chuyện khó hiểu.  Trong khi đó, một số bản Kinh Thánh lại có câu đó là chuyện xem ra dễ hiểu hơn.  Nét đặc thù của thi ca Hi Bá Lai là hình thức là chuyện phụ ý nghĩa mới là chính, nên ít ra chúng ta cũng nên xét đến trường hợp tác giả bài thơ này cố tình bỏ qua không dùng chữ cái, để bày tỏ rằng cho dù có cả sự khải thị giúp đỡ tâm trí con người cũng không thể hiểu thấu đáo sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.  Câu 1-2 và câu 21 đóng vai trò hai ngoặc đơn cho bài thơ bằng lời tuyên bố xác nhận sẽ truyền rao ra những sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.  Thi thiên mở đầu với những lời ca ngợi không ngớt của tác giả nhưng đến câu 21 thì rõ ràng la tất cả mọi loài ‘xác thịt’ mới đủ để ca ngợi Đức Chúa Trời.  Phần thân bài thơ bộc lộ lời ca ngợi này qua những tiểu đoạn với những lời mở đầu phù hợp: Đức Giê-hô-va là lớn (3-7) Đức Giê-hô-va hay làm ơn (8-16) Đức Giê-hô-va là công bình (17-20).  Giả dụ có giòng thơ với chữ cái nun (n) đứng đầu ở câu 13 thì có thêm một tiểu đoạn, Đức Giê-hô-va là thành tín (13b-16).  Nhưng trong tiểu đoạn này các thuộc tính của Chúa quấn lấy nhau, lồng vô, lan ra, vì Đức Chúa Trời là Đấng độc nhất và tự trong bản thể của Ngài không có sự mâu thuẫn: sự vĩ đại của Ngài bao gồm bản tánh hiền lành và công nghĩa (3,7).  Lòng thương xót của Ngài bao gồm sự vĩ đại (8,11-13), sự công nghĩa bao gồm lòng nhân từ thương xót (17-19).

3-7  Ngài là Đấng vĩ đại vô tận, khơi dậy lòng kính sợ thán phục, tốt lành và đáng tin cậy.  Chú ý sự đan xen giữa lời làm chứng của cá nhân đan xen với lời làm chứng của số đông người về những việc Chúa đã thực hiện và về bản thể của Ngài.  Công việc của Ngài là quyền năng tức là được thực hiện với năng lực, lạ lùng, về mặt phẩm chất, là siêu việt, đáng kính khơi dậy niềm thán phục chuyển sợ hãi thành lời làm chứng.

8-16  Tác giả ôn lại lòng nhân từ thương xót của Chúa (8-9).  Bản tánh của Ngài bộc lộ qua những việc làm nhân từ và qua lời làm chứng của dân Ngài (10-16) kèm theo sự nhân từ cụ thể mà Ngài dành cho dân tộc trong giao ước (8,  Xu 34:6-7) là sự nhân từ dành cho mọi người trên thế gian (9).  Vì vậy tất cả mọi người nhưng đặc biệt là những người thánh của Ngài hàm ơn Ngài (10).  Họ cũng là người làm chứng về quyền năng của Ngài (11), về sự vinh hiển thuộc vương quyền của Ngài (12), về sự thành tín của Ngài đối với lời Ngài nói (13) sự nâng đỡ đầy ân huệ của Ngài (14) và mọi sự cung ứng của Ngài (15-16). 9 Sự từ bi (Thi 103:13). 10 Người thánh là những đối tượng của tình yêu thương mà Ngài đã cam kết, và họ cũng yêu thương Ngài (IGi 4:19) rồi họ cũng yêu thương nhau bằng tình yêu thương đó (IGi 4:11).

17-20  Trong Chúa, sự công bằng đi cặp với sự nhân từ.  Trong mọi việc Ngài làm đều có tính cách đạo đức nội tại (17), và có những điều kiện đạo đức yêu cầu nơi con người để dẫn đến những sự trợ giúp phong phú của Ngài (18-20).    Dù Ngài là Đấng công nghĩa, Ngài vẫn thật gần gũi, là người bà con gần nhất với người thuộc về Ngài khi họ cầu nguyện.  Cùng lúc sự công nghĩa của Ngài cũng tìm tòi xét đến lòng chân thành của họ (18), lòng kính sợ (19), và lòng kính mến của họ đối với Ngài (20).  Thật vậy, sự công nghĩa của Ngài là sự công nghĩa có tính cách ân sủng - yêu thương, làm trọn những điều mong ước, cứu giúp, trông nom, nhưng cũng là sự công nghĩa có tính cách thánh khiết.

115. BẢN HA-LÊ-LU-GIA BẤT TẬN (Thi 146:1-150:6)

Pho sách Thi Thiên mở đầu với (Thi 1:1) câu ‘Phước cho người nào ... ‘ và kết thúc với năm bài ca đối lại ‘Hãy ngợi khen Chúa’.  Trong năm bài ca này không hề nhắc đến một nhu cầu nào, không có một lời nài xin nào chỉ có vài chi tiết liên hệ đến lịch sử, tất cả tập trung hoàn toàn vào Đức Chúa Trời, hoàn toàn là ca ngợi Chúa.  Nhưng trong sự ca ngợi cũng có diễn biến từng bước.  Khởi đầu là cá nhân ca ngợi (146:1) lôi cuốn theo cả cộng đồng (147:1,12) lan tới tận thiên đàng và toàn thế giới (148:1,7).  Tuy nhiên, một khi toàn thế giới cầu ca ngợi Chúa về những việc Ngài đã thực hiện cho dân Y-sơ-ra-ên (148:13-14) thì một dân tộc được giao phó công tác cần ca ngợi (149) cho đến nỗi mọi vật có hơi thở đều ca ngợi Chúa (150:6).

1. Sự ca ngợi cá nhân (Thi 146:1-10)

Lời kêu gọi ca ngợi mở đầu, cũng như lời kêu gọi ca ngợi trong phần kết thúc thoạt đầu ở thể số nhiều nhưng lập tức chuyển qua thể số ít (2): Chúa đáng nhận sự ca ngợi của con người toàn diện (linh hồn) và trọn đời sống. 3-4 bảo vệ lẽ thật này bằng cách phủ nhận việc làm trong phạm vi khác: tất cả mọi người dù nổi tiếng hoặc bình thường làm đối tượng cho lòng tin cậy của chúng ta đều không đủ khả năng, không đáng tin cậy và không liên tục. 5-10  còn trái lại, không phải đơn giản chỉ có Đức Chúa Trời mà thôi mà Ngài còn chứng tỏ Ngài có khả năng giải cứu (Đức Chúa Trời của Gia-cốp), Ngài còn tự khải thị Ngài là Đấng Cứu Chuộc (Chúa, Xu 6:6,7) và con người hiểu được nhờ niềm tin của mình nơi Ngài (Đức Chúa Trời ngươi).  Ngài là Đức Chúa Trời toàn quyền và không biến đổi (6), đầy lòng thương xót đối với cá nhân từng người cũng như đối với xã hội (7), Ngài đòi hỏi sự đúng đắn chính xác trong phần đạo đức (8-9) nhưng cảm thương trước cảnh khốn đốn của người thiếu thốn - và là Đức Chúa Trời luôn luôn hiện diện.  Thật vậy, đáng cho chúng ta ca ngợi Ngài!

2. Cộng đồng ca ngợi (Thi 147:1-20)

Nét đáng chú ý trong cấu trúc của thi thiên là những lời kêu gọi ca ngợi trong câu 1,7,12.  Mỗi tiểu đoạn đều nói về Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo: 1-6 ghi nhận Ngài biết vũ trụ cách chi tiết rồi đặt sự kiện này trong hai ngoặc đơn, một là Ngài quan tâm đến những cá nhân cần sự cứu giúp giữa vòng dân sự của Ngài, hai là tất cả mọi hành động của Ngài đều đặt cơ sở trên ý thức sâu sắc về đạo đức. 7-11 Nhận xét rằng Ngài cung cấp dồi dào cho sự sống trên địa cầu nhưng nhấn mạnh rằng đối với con người Ngài thực hiện trên cơ sở đạo đức, chú trọng đến sự đáp ứng trong tinh thần kính sợ và mong đợi. 12-20 Lời phán của Ngài là yếu tố kiểm soát trong thế giới thọ tạo và là dấu phân biệt của dân sự Ngài.

1  Vui thú biết bao hoặc ‘Ngài thật là lý thú.  Ca ngợi Ngài là việc thích thú’. 2  giải thích vì sao Ngài lại lý thú đến thế:  Ngài quan tâm đến sự ổn định và hoàn cảnh sống của toàn thể dân sự và cũng quan tâm đến những nhuc ầu về phần thể xác lẫn tinh thần của từng cá nhân (3).  Tản lạc, không nhất thiết là những ‘người bị lưu đày ở Ba-bi-lôn, nhưng bất cứ ai lưu lạc nơi xa vì bất cứ lý do nào, cũng có thể có nghĩa rộng rãi là ‘bị quấy nhiễu’. 4 (so sánh Es 40:26).  Trong Cựu Ước Đấng Sáng Tạo không những làm ra mọi thứ mà còn duy trì, kiểm soát và dẫn dắt mọi thứ cho đến kết cuộc đã ấn định.  Cũng vậy, trong câu 5 thế giới thọ tạo bày tỏ quyền năng và sự hiểu biết của Ngài. 6 Người khiêm nhường, những người ở dưới đáy cuộc đời. 8-9 Đấng Sáng Tạo cũng điều hành những biến chuyển về thời tiết, về sự tăng trưởng và về sự cung ứng.  Không phải là tự động hoặc tự quyết mà có những biến chuyển như vậy, nhưng đó là những sự biểu thị của sự tổ chức và sự sống của Đức Chúa Trời trong thế giới thọ tạo. 

10-11  Sức mạnh tiêu biểu cho sự gan dạ và sức mạnh quân sự.  Ngựa và chân có thể gợi ý về kỵ binh và bộ binh, là những thứ mà các dân tộc khen ngợi vì đem lại sức mạnh và địa vị.  Nhưng vũ lực hùng hậu nhất mà chúng ta cần ở phía bên chúng ta là chính Chúa và (11) Ngài tìm kiếm ưu điểm thuộc linh là kính sợ và hi vọng - vững tâm, tin cậy chờ đợi lòng yêu thương không thay đổi của Ngài hành động. 12-20  cũng như 7-11 bổ túc cho 1-6 bằng cách khai triển những điều kiện để nhận được phước hạnh của Chúa (so sánh 10-11 với 6) đến phiên câu 12-20 lại bổ túc cho 7-11: sự kính sợ và kiên nhẫn tin cậy trong câu 11 cần đặt cơ sở trên lời được khải thị (19-20).  đây là nền tảng vững vàng cho cuộc sống vì (15-18) Đức Chúa Trời điều hành hữu hiệu thế giới bằng lời của Ngài trong những điều kiện khắc nghiệt (16-17) hoặc ôn hoà (18).  Câu 13-14 và 19-20 đóng vai hai ngoặc đơn cho câu 15-18 và chừa cho chúng ta tự rút ra kết luận: nơi Chúa có mọi sự an toàn bình yên và phong phú (13-14) thoả đáp cho nhu cầu của dân sự họ là một dân tộc độc đáo trên toàn thế giới (20, Phu 4:5-8) vì họ sở hữu lời của Ngài (19).

3. Thế giới thọ tạo ca ngợi Ngài (Thi 148:1-14)

Ngoài sự ca ngợi của cá nhân từng người (146) và của cộng đồng (147) còn có sự ca ngợi của toàn thế giới thọ tạo phải dâng lên cho Đấng Sáng Tạo: trời (1) và đất (7), phần này cũng được mở đầu với những lời kêu gọi tương tự.  Mỗi lời kêu gọi ca ngợi đều đặt cơ sở trên một lời giải thích (5-6,13-14), và cũng mở đầu tương tự như nhau.  Sự ca ngợi của các từng trời đặt căn bản trong sự kiện Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng phát khởi, duy trì và kiểm soát tất cả (5-6).  Sự ca ngợi của đất đặt căn bản trong sự vinh hiển nội tại của Chúa và vị trí độc đáo của dân sự Ngài (13-14).  Sự ca ngợi trong 1-6 diễn tiến theo một trật tự từ trên xuống dưới, từ các thiên sứ, thiên binh (2) đến những phần tử thuộc vật chất ở trên không trung (3-4) sư ca ngợi trong câu 7-14 diễn tiến theo một trật tự từ dưới lên trên, từ vực sâu (7) và những phần tử vô tri vô giác (8-9) đến các loài thú vật (10) và thế giới loài người (11-12).  Tự thân những thành phần thọ tạo có thể trở thành đối tượng của sự sùng bái thờ cúng (thiên sứ, 2, ngôi sao, 3) và những vật thọ tạo khác thường khi có vẻ không phù hợp với bàn tay điều động cách trật tự và hữu hiệu của Chúa (8) - tất cả đều như nhau và biểu hình của tất cả đều hoàn toàn nhằm ca ngợi Ngài.  Thật vậy, bão tố chỉ có thể tuân theo lịnh truyền của Ngài (8).

4  Nước trên các từng trời, mây. 7-10 Làm thế nào thế giới thọ tạo không có tiếng nói lại có thể ca ngợi?  Bằng cách nào sự vật như đã được dựng nên, làm sự vật phục tùng Ngài, làm tròn nhiệm vụ đã được giao phó, y như (6) sự ‘ca ngợi’ của các vì sao là các vì sao ‘ca ngợi’ qua sự kiện các vì sao tuân thủ qui luật Chúa ấn định. 13 Không phải đơn giản là kêu gọi ‘ca ngợi Đức Chúa Trời’ tức là đáp ứng theo một nghĩa nào đó với một Đấng siêu phàm, mà là ca ngợi danh Ngài, tức là đáp ứng với những điều Ngài đã tự khải thị về chính mình.  Trong khi địa cầu không có một chút hiểu biết nào về Chúa làm thế nào toàn cõi địa cầu này ca ngợi Ngài?  Ngụ ý trong câu 14 giải toả nan đề này (xem 149), tức là sự hiện diện của một dân tộc đặc biệt tạo thêm một cớ cho địa cầu ca ngợi: nhờ dân của Ngài mà địa cầu biết đến Chúa.  Chỉ một mình.  Từ tất cả, hết thảy xuất hiện mười lần (2,3,7,9,10,11,14) bao trùm tất cả mọi cõi thọ tạo.  Nhưng chỉ một mình xuất hiện có một lần. 14 Sừng, tiêu biểu cho sức mạnh: Chúa đã khiến cho dân của Ngài trở thành những người ‘cố thủ’ trên đất dân sự ...  các thánh ...  ở gần bên.  Đây là những vòng tròn thân cận càng hơn: Từ giữa mọi dân tộc Ngài chọn một dân tộc cho mình, khiến họ trở thành đối tượng của tình yêu thương không thay đổi của mình và đặt họ vào vị trí người bà con gần nhất.

4. Vương quốc ca ngợi (Thi 149:1-9)

Đáp lại ngụ ý của Thi 148:13  149:1-9 giải thích rằng mục đích của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên là kéo toàn thế giới về dưới trướng của Ngài - như vậy là nhận được những phước hạnh mà Y-sơ-ra-ên hưởng.  Trong các 146:1-150:6 chỉ có 149:2 mô tả Chúa là Vua và các vua trên thế gian phải qui phục Ngài (8).  Như vậy thi thiên viết về ẩn dụ vương quyền một cách nghiêm túc kể cả khi viết về sự bành trướng vương quốc bằng vũ lực.  Nhưng (so sánh Es 45:14-25  60:1-22  Eph 6:10-17  Kh 1:16) đây chỉ là hình thức nói ví, biểu hình, y như (Es 9:4,5,7) hoạt động quân sự được dùng để nói ví về sự mở rộng bờ cõi của vương quốc bình an và như biểu hình mà A-mốt dùng để mô tả sự kiện dân ngoại bang qui phục Đa-vít được dùng trong Cong 15:14-18 để diễn tả công tác phổ biến Phúc Âm.  Phần mở đầu (1) dẫn vào niềm vui trong một vị vua cứu tinh (2-4), niềm hân hoan về quyền thống trị toàn cầu (sự ca ngợi của một dân tộc chinh phục thành công và được an nghỉ), các mục tiêu của họ và cuối cùng là phần kết (5-9).

Thi 149:1-2 Người thánh, được an ổn trong tình yêu thương của Chúa (so sánh c.5,9) Y-sơ-ra-ên, con trai được chọn (Es 41:8  Xu 4:22), Si-ôn được lập trong thời của Đa-vít. 4 Nền tảng của sự ca ngợi: Chúa hài lòng, Chúa vui chấp nhận nhân dân của Ngài sự cứu chuộc, kinh nghiệm của dân sự về tình trạng trái ngược với nghịch cảnh đến từ Chúa, con người hoặc hoàn cảnh.  Người khiêm nhường, bị chà đạp, tự thân họ không có khả năng để thoát ra khỏi cảnh đó. 5-6 Nơi đây có chủ ý đưa ra sự trái ngược giữa giường và thanh gươm.  Dân sự trong thời Đa-vít không được giao phó nhiệm vụ chinh phục về mặt quân sự.  Giường có thể gợi ý về cái ghế trường kỷ để khách ngã lưng trong bữa tiệc của Đấng Mê-si khoản đãi (Es 25:6-10) và thanh gươm, một cuộc đắc thắng đã đạt được trên nguyên tắc.  Nhưng đối với họ cũng như đối với chúng ta ‘các cuộc chinh phục’ đều nằm trong lãnh vực thuộc linh (IICo 10:5) và đắc thắng là đắc thắng tại Gô-gô-tha (Kh 12:11). 7 Báo thù, phương diện đen tốt trong ngày cứu rỗi (Es 61:2  63:4  Phi 1:28  IITe 1:7-10  Kh 14:14-19  20:15). 8 (so sánh Es 45:14-25).  Một hình thức nói ví sống động về vua, vương quốc, diễn đạt sự kiện tiếp nhận sứ điệp tức là phục tòng sứ giả (IICo 8:5). 9 Án đã chép, tức là chép trong sách của Đức Chúa Trời, án phạt được định căn cứ vào những điều có ghi chép.

5. Tất cả ca ngợi (Thi 150:1-6)

Qua chùm thi thiên này, thế giới (Thi 149:5-9) đã qui phục Chúa (Es 45:23  Phi 2:11) và bài ca tôn vinh của người được cứu sắp bắt đầu (Kh 5:8-14  7:9-10).

Thi 150:1-2.  Sự ca ngợi phù hợp với Đức Chúa Trời  Từ nơi thánh tột đỉnh trên thiên đàng xuống đến bầu trời (‘phần mở rộng của / là phần phô bày năng lực của Ngài’) xuống đến các việc quyền năng của Ngài (năng lực chủ trị) được phô bày trên trần gian, với những điều đó Chúa bày tỏ sự vĩ đại tột bực, vượt xa tất cả mọi tầm cỡ vĩ đại khác và tất cả những ai tự xưng mình là vĩ đại.  Nơi thánh có thể dịch là ‘sự thánh khiết của Ngài’ nhưng ý nghĩa vẫn không khác đi.  Ý tưởng này được cụ thể hoá qua ngôi đền ở trần gian mà Chúa truyền lịnh dựng lên: đó là nơi Đấng Thánh ngự và là nơi dân sự đến gần Ngài với của lễ chuộc tội.  Đây là định điểm của sự vĩ đại của Chúa, còn các công việc quyền năng của Ngài thì không được xác định.  Nhưng bầu trời và quyền năng của Ngài là một thí dụ về những việc Ngài đã thực hiện cho dân sự trong công cuộc cứu chuộc, trong sự chăm sóc phò hộ và trong những biện pháp kỷ luật.

Thi 150:3-6  Sự ca ngợi gia tăng theo tỷ lệ của nhân loại  Bằng mọi hình thức (3-5) phát xuất từ mỗi người (6) tiếng ca ngợi vang lên đạt tầm cỡ xứng đáng làm điểm cao tột cùng của nỗi vui mừng trong niềm tin thời Cựu Ước và là tiền thân của lời ca ngợi sẽ tràn ngập sân đền thờ tại thiên đàng và ngân vang mãi vào cõi vô tận: Nguyện sự vinh hiển thuộc về Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh.

Lên đầu trang