THI-THIÊN (51-100)

MỤC LỤC

THI THIÊN TỪ ĐOẠN 51 ĐẾN ĐOẠN 100

54. ĐIỀU TUYỆT DIỆU TRONG SỰ ĂN NĂN (Thi 51:1-19)

Nội dung thi thiên và lời tựa đề thuộc về nhau như thể cối với chày.  Sự ăn năn đem lại hiệu quả (1-4) là phần bình giải rất chính xác cho IISa 12:13.  Câu 16 có vẻ như xác định rằng Đức Chúa Trời không chấp nhận của lễ.  Vấn nạn này tan biến ngay khi chúng ta nhớ lại rằng tà dâm (11:4) và tội sát nhân (11:14-17) của Đa-vít không thể bù đắp bởi của lễ.  Thường thường có chủ trương là câu 18,19 được thêm vào trong những bản chép về sau nhằm tạo một nội dung phù hợp cho hội chúng sử dụng và nhằm hoá giải vấn nạn do câu 16, 17 gây ra.  Trong địa vị một ông vua, Đa-vít không có đơn giản phạm tội trong tư cách một thường dân đơn lẻ: tội lỗi của ông dính líu đến toàn bộ sự sống còn của nhân dân.  Vì vậy, ông nặng lòng lo nghĩ đến công cuộc xây dựng Giê-ru-sa-lem (18) cũng như sự phục hồi của cá nhân ông.

(Thi 51:1-6).  Từng nhân đối với Đức Chúa Trời: ăn năn được tha tội  Nơi Đức Chúa Trời có lòng thương xót, ân huệ cho không, không đòi hỏi một điều kiện nào cả (Sa 6:8), có lòng nhân từ, một tình yêu thương đặt căn bản trên một lời cam kết long trọng lòng thương cảm (từ bi), cảm xúc yêu thương sôi động, nồng nhiệt (1).  Tội lỗi là một sự vi phạm, cố tình ‘chống nghịch’ lại ý muốn của Đức Chúa Trời mà đương sự đã biết rõ (1) gian ác (2), ‘sự sa đoạ’ bên trong của bản chất sa ngã tội lỗi (2), điều sai quấy cụ thể.  Tội nhân mong mỏi Đức Chúa Trời xoá bỏ tội lỗi của đương sự đi, ‘lau sạch’ vết nhơ mà Đức Chúa Trời còn nhìn thấy rửa xuyên thấu vào căn cơ của bản tánh của ông để tẩy dọn sạch hết sự nhớp nhúa cáu cặn thâm căn cố đế tẩy sạch dẹp bỏ tội lỗi đang làm rào chắn ngăn cản sự thông công với Đức Chúa Trời (2).  3-6  Sự ăn năn: thiết yếu và hiệu quả.  Lời cầu xin tẩy sạch (1,2) đặt căn bản trên sự kiện đơn giản là ý thức (biết) và công nhận (trước mặt tôi, tức là cảm nhận một cách chủ quan, Thi 38:17) về tội lỗi (so sánh 32:3,4).  4  Phạm tội cùng Chúa.  Cho dù tội lỗi gây tổn thương cho đương sự và cho người khác đến mức nào đi nữa thì tội lỗi cũng xúc phạm Đức Chúa Trời (IISa 12:13).  Hầu cho, ‘nhằm’.  Giả sử tội nhân than thở với Chúa, ‘Ngài là Đấng cầm quyền tối cao.  Sao Ngài không ngăn trở con phạm tội?’  Hẳn là Đức Chúa Trời đáp rằng, ‘Ta không ngăn chận con, nhằm (mục đích) đem con đến chỗ nhận biết tình trạng tội lỗi của con và sự công nghĩa của ta.  Mục đích của ta là con nhận biết ta đúng trong vị thế của ta là Đức Chúa Trời công nghĩa và là quan toà công bình.  Chỉ đến lúc đó con mới chạy đến với ta để xin được tẩy sạch tội lỗi.’ 5  Dù bản chất tội lỗi trong con người là điều thừa hưởng từ tổ phục nhưng theo Kinh Thánh thì sự kiện đó giảm nhẹ tội cho tội nhân trái lại càng đặt tội nhân vào tình trạng can tội nặng hơn (Mat 23:34-36).  Ra đời ... hoài thai.  Câu này không có ý nghi ngờ về mức độ thanh khiết của sự hoài thai hoặc sự chào đời, nhưng trái lại xác định rằng ngay lúc hoài thai là đã có một cá thể đạo đức, em bé sơ sinh, thai nhi lúc đậu thai.  Vì vậy trong sự ăn năn phải tính đến tội lỗi thực sự của cá nhân (1-3) và tình trạng viêm nhiễm tội lỗi bất khả phân ly trong bản tánh nhân loại.  6  Trong toàn bộ bản tánh của nhân loại, tội lỗi là không có lý do bào chữa vì tội lỗi trái ngược với ý muốn của Đức Chúa Trời, và trái với sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời đã thâm nhập khắp nơi do tiếng nói của lương tâm.

(Thi 51:7-15).  Kích cỡ của sự ăn năn thật  7  Cầu xin Đức Chúa Trời xử lý tội lỗi.  8  Tội nhân bị quật ngã, bẹp dí dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.  9  Khỏi những tội lỗi đã xúc phạm Chúa.  Tẩy sạch bằng chùm kinh giới, dụng cụ dùng để rảy huyết với hiệu quả là làm nguôi cơn giận của Đức Chúa Trời (Xu 12:12,22,23), chấm dứt thời kỳ bị cô lập và từ bỏ (Le 14:6), tẩy sạch những điều ô uế (Dan 19:16-19).  Đa-vít biết rằng không có của lễ nào đủ sức làm những việc đó (16) nhưng ông tin tưởng là Đức Chúa Trời có đủ.  Vui vẻ ... mừng rỡ, phục hồi tội nhân cho những bài ca vui mừng của đền thờ (Thi 42:4), xương cốt, phục hồi toàn bộ con người.  Ngảnh mặt, xử lý tội lỗi của tôi, trong phạm vi bản tánh của Ngài, bởi sự gớm ghê thánh khiết của Ngài đối với tội lỗi của tôi.  Xoá, khỏi trí nhớ của Ngài, lẫn khỏi sổ lý lịch của tôi (1).  10-12  Sự sám hối thật mong mỏi tống khứ được tội lỗi qua sự tái tạo một bản tánh mới đem lại năng lực bền bỉ, ân huệ liên tục của Đức Chúa Trời, sự hiện diện của Thánh Linh (10-11) niềm vui mừng của sự giải cứu và sự ban cho của Thánh Linh khiến đương sự sẵn sàng làm theo ý của Đức Chúa Trời (12).  Ông Sau-lơ mất phước hạnh trước mắt (ISa 16:14) nhưng không mất phước hạnh cuối cùng tột đỉnh (28:19) là sự cứu rỗi, chắc chắn Đa-vít nhớ lại tấm gương của vị tiền bối nên ông sợ lộ ra ông cũng chịu cùng một số phận - y như chúng ta cũng có thể là buồn lòng Đức Thánh Linh (Eph 4:30) và dập tắt Đức Thánh Linh (ITe 5:19), khiến chúng ta không còn hưởng niềm vui vì có Ngài cư ngụ nhưng thực tế Ngài vẫn cư ngụ trong chúng ta chớ không bỏ chúng ta. 13-15  Công tác dạy dỗ người khác về Đức Chúa Trời đẩy mạnh sự ăn năn (13) nhưng người dạy phải nghiêm túc và xét nhu cầu riêng của mình đối với vấn đề ăn năn phải nêu gương tốt về những điều đương sự muốn nhìn thấy nơi học trò của mình.  Chỉ trong tư thế một người ăn năn sám hối mà đương sự có thể ca ngợi sự công nghĩa của Đức Chúa Trời (14) - là sự công nghĩa diệu kỳ vừa công bình vừa xưng công nghĩa (Es 45:21  Ro 3:26).  Nhưng lời làm chứng cũng cần đặt cơ sở trên sự cầu nguyện để Đức Chúa Trời khiến cho môi miệng chúng ta dám nói.

(Thi 51:16-19).  Đức Chúa Trời cộng đồng: những điều làm cho Ngài hài lòng  Cộng đồng được tái tạo gồm có những cá nhân đã ăn năn sám hối (16-17), tìm cầu sự an ninh trong ơn huệ của Đức Chúa Trời, và làm vui lòng Ngài bằng cách tuân thủ những giới mạng trong niềm tin (18-19).  Những câu này chia sẻ sự hài lòng, vui thích của Đức Chúa Trời đối với các của lễ và của lễ thiêu.  Nơi đây không nhắc đến của lễ chuộc tội nhưng chỉ nhắc đến những của lễ cam kết với Đức Chúa Trời (của lễ thiêu, Sa 22:2,12) và thông công giữa Ngài với dân sự của Ngài (hễ của lễ dùng với của lễ thiêu thì có nghĩa là ‘của lễ thù ân’).  Kinh nghiệm riêng của Đa-vít dạy ông rằng hoà thuận với Đức Chúa Trời là vấn đề của tấm lòng (17).  Đây là sứ điệp ông muốn chia sẻ với người khác (16 bắt đầu với từ ‘Vì’) và muốn rằng cộng đồng được tái tạo có điều này làm căn bản trong thực tế.  Xây dựng ... các tường thành là một cách nói ví von, ‘đem lại sự an toàn cho cộng đồng’.  Bấy giờ, tức là sau khi ăn năn sám hối, tội nhân (16,17) trông cậy vào Đức Chúa Trời để được an ninh (18) sinh hoạt tôn giáo của họ sẽ làm hài lòng Ngài: của lễ công bình, của lễ đạt tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu.

55. CÂY THÌ BẬT RỄ, CÂY THÌ SUM SUÊ (Thi 52:1-9)

Bản NIV tán rộng và sửa đổi câu 1 trong nguyên bản Hi Bá Lai, đơn giản câu 1 là: ‘Hỡi người mạnh dạn, sao ngươi tự khoe về sự dữ?  Sự nhơn từ của Đức Chúa Trời còn mãi mãi.’  Đô-ê, con người tự tạo tự lập (ISa 21:1-22:23), chụp lấy cơ hội và nhờ ‘xài sự thật một cách kinh tế’ cùng nhờ hành động một cách nhẫn tâm mà ông đã thành công.  Nhưng so với con người ỷ vào sức của mình thì Đa-vít xác định rằng dù gì đi nữa Đức Chúa Trời vẫn ở về phía của ông.  Việc phục hồi ý của nguyên bản Hi Bá Lai như câu 1 ở trên đây được xác minh là đúng nhờ so sánh với câu 8,9.  Hai câu này nhắc lại cùng một vấn đề nhưng theo thể đối ngược: tự khoe về sự dữ (1) đối với cảm tạ Chúa đời đời vì điều đó là tốt lành (9) sự nhân từ còn mãi mãi (1) đối với tôi nhờ cậy nơi lòng nhân từ của Đức Chúa Trời đến đời đời (8).  Sứ điệp của thi thiên này là lòng nhân từ của Đức Chúa Trời luôn luôn có đủ, không hề thay đổi và còn đến đời đời dù khi trực diện với thắng lợi rực rỡ của lòng nhẫn tâm tàn ác.

A1 (c.1) Hai thế an toàn

B1 (c.2-4) Cái lưỡi huỷ diệt

C (c.5) Hành động của Đức Chúa Trời

B2 (c.6-7) Cái lưỡi thắng cuộc

A2 (c. 8-9) Thế an toàn thật sự

(Thi 52:1).  (A1)  Hai thế an toànsức mạnh của con người hoặc lòng nhân từ của Đức Chúa Trời  Tự khoe, tự hào, tự tin.

(Thi 52:2-4).  (B1)  Cái lưỡi huỷ diệt  Cái lưỡi, luôn luôn là dấu hiệu cơ sở xác định tâm tánh.  3  Tâm tánh của con người lộ ra qua cái lưỡi: khi đứng trước giá trị đạo đức và chuẩn mực của sự thật. 4  Dối trá (so sánh 2), chủ tâm đánh lạc hướng.  Đô-ê nói thật đến mức độ mà ông ta biết có thể gây thiệt hại nặng nề nhất. 

(Thi 52:5).  (CĐức Chúa Trời hành động  Cũng, tức là một hành động đối xứng bên phía Đức Chúa Trời, một sự báo trả đúng mức cho chính cá nhân con người (ngươi), trong cuộc sống gia đình (trại) và tại trần gian này (đất).

(Thi 52:6-7).  (B2)  Cái lưỡi thắng cuộc  Cười, không phải với ý hiềm thù, ác độc (Giop 31:29  Ch 24:17) nhưng là một cách bộc lộ niềm vui đối với sự can thiệp công bình của Đức Chúa Trời (6, sợ) và là một cách bày tỏ rằng ngoài Đức Chúa Trời ra thì không có nơi an toàn nào cả (7).

(Thi 52:8-9).  (A2)  Thế an toàn thật sự  Trái ngược với cây bật rễ (5), cây sum suê ở an ổn trong sự hiện hiện của Đức Chúa Trời, có dấu đặc biệt là tin cậy, có lòng nhân từ của Đức Chúa Trời bảo đảm (8) có đặc tánh là lưỡi ca ngợi (9, trái ngược với 1, 2), luôn luôn hi vọng (trông cậy) rằng Đức Chúa Trời sẽ hành động xứng hợp theo danh của Ngài, và làm chứng về Ngài giữa vòng những người thánh của Đức Chúa Trời, là những người được Đức Chúa Trời yêu thương và biết đáp lại lòng yêu thương đó (9).

56. CHẲNG ĐÁNG SỢ (Thi 53:1-6)

Dù đồng dạng với Thi 14:1-7  53:1-6 tập trung ứng dụng lẽ thật vào một vấn đề khác.  Chốt tẻ tách bắt đầu ở câu 5.  14:5 luận về cơn kinh hãi tràn ngập tâm hồn kẻ thù nghịch dân sự của Đức Chúa Trời khi họ bất chợt nhận thức rằng Đức Chúa Trời ở giữa dòng dõi kẻ công bình 53:5 khiển trách dân sự của Đức Chúa Trời vì họ sợ một cách không cần thiết khi phải đối diện với kẻ thù (4), bởi vì Đức Chúa Trời phân tán kẻ thù của họ.  Hai thi thiên này đi đôi với nhau để trình bày hai phiá đối nghịch của cùng một hoàn cảnh: khi mối hiển nguy đe doạ, kẻ thù có đủ lý do để sợ còn dân sự của Đức Chúa Trời chẳng có gì đáng phải sợ cả.  Xin đọc phần bình giải 14:1-7 về các chi tiết bình giải khác.  5  Từ ‘vì’ được phục hồi và đặt trước cụm từ Đức Chúa Trời rải rác là chính xác.  Thì quá khứ trong câu này biểu thị rằng Đa-vít dựa vào một sự việc trong thực tế mà đúc kết bài học này, nhưng cũng có thể dùng thì hiện tại để diễn tả một ‘đặc điểm ổn định, bình thường’ tức là ‘Đức Chúa Trời rải rác’.  Sợ là vô căn cứ (chẳng có gì đáng phải sợ cả) vì Đức Chúa Trời luôn luôn hành động đối phó.

57. DANH CỨU RỖI (Thi 54:1-7)

Xíp là nơi cực nam thuộc địa phận Giu-đa, cho nên chắc chắn Đa-vít đau lòng vô cùng khi vỡ lẽ ra là chính người cùng chi phái với ông đã phản ông, dù họ trung thành là chuyện chính đáng.  Cũng như trường hợp các thi thiên với tựa đề có tính cách lịch sử, tiêu đề của thi thiên này cũng ở dạng tổng luận.  Trong thi thiên Đa-vít không nhắc đến người Xíp, y như trong Thi 52:1-9 ông không nhắc đến tên Đô-ê, nhưng với hai thi thiên này, ông nắm bắt cơ hội để ghi lại cách đối phó với những trường hợp tương tự: (i) cầu nguyện (1,2).  Lấy danh Chúa hành động theo như những điều Ngài đã khải thị về bản tánh của Ngài.  Cứu ... xét tôi công bình, cứu khỏi mối đe doạ trước mắt, và làm sáng tỏ vấn đề đang đặt ra là người ta nghĩ sai về Đa-vít và xem ông là một tên phản nghịch.  (ii) Bằng cách ôn lại những sự thật (3-5).  Trước tiên, tâm tánh của kẻ thù nghịch ông (3), thứ hai, bản tánh của Đức Chúa Trời (4), và cuối cùng, cầu xin Đức Chúa Trời trừng phạt.  Người lạ, trong thực tế đây là những người Giu-đa, đồng hương với Đa-vít, nhưng họ hành động như thể những người ngoại quốc tàn nhẫn, vì hễ ở đâu không có sự tôn trọng Đức Chúa Trời (không để Đức Chúa Trời đứng trước mặt mình) thì ở đó không thể tin cậy vào lòng trung thành hoặc sự nhân đạo.  Chúa, ‘Đấng cầm quyền tối thượng’.  Báo ác ... diệt, báo ác chủ ý nói về phương diện ‘gậy ông đập lưng ông’ của tội lỗi, tính cách đáo đầu quay trở lại, một hệ thống báo trả được ghép liền trong bản chất của mọi sự việc diệt, chủ ý nói về sự hành động trực tiếp của Đức Chúa Trời đối với vấn đề đạo đức.  (iii) Bằng cách hết lòng dấn thân vào tương lai (6,7).  Không nên nghĩ rằng đây là chuyện mặc cả với Đức Chúa Trời (Nếu Ngài làm cho con điều này thì con hứa sẽ ... ) nhưng đây là một sự đáp ứng thuộc linh đối với lòng nhân từ của Đức Chúa Trời.  Vì Chúa làm đúng, phù hợp với danh của Ngài (1), chúng ta nên ca tụng danh Ngài (6).  Mắt tôi thấy (7), không phải để cười nhạo mà nhận biết tác giả còn sống sót để nhìn tận mắt kẻ thù đáng sợ của mình thất thế.

58. CÁC GIẢI PHÁP, SAI VÀ ĐÚNG (Thi 55:1-23)

Những lời tự nhận.  Tôi có nói (6) ... Tôi kêu cầu (16) ... Tôi tin cậy (23) vạch hướng xoay chuyển ý tưởng trong thi thiên này.  Trong cơn nguy khốn cùng cực (1-5), dĩ nhiên Đa-vít muốn cao bay xa chạy thoát khỏi hoàn cảnh kinh khủng đó (6-8) nhưng nghĩ lại ông quyết định đối phó với những sự chống đối liên tục (10) bằng cách cầu nguyện liên tục (17) và nhờ đó ông có thể an lòng tin cậy (23).

A1 (c.1-3) Cầu nguyện vì cớ kẻ thù

B (c.4-21) Các giải pháp

b1 (c.4-8) Bỏ đi trốn tránh hoàn cảnh khó?

b2 (c.9-21) Lấy sự cầu nguyện làm giải pháp

A2 (c.21-23) Tin cậy dù đang đối diện với kẻ thù

(Thi 55:1-3).  Khi kiệt quệ rồi thì còn một giải pháp gọi cầu nguyện  Xốn xang, than thở, rên siếc, (2), vô phương xoay xở, mất hết tinh thần.  3  Tiếng kẻ thù nghịch (lời nói), kẻ ác hà hiếp, thêm sự ác, bắt bớ cách giận dữ (đầy tàn bạo) sức ép hung hãn vô nhân đạo dồn dập như núi lỡ khiến tâm hồn rúng động (so sánh 22).  Cũng có những lúc đây là kinh nghiệm của người tin Chúa.  Bài học Đa-vít thâu thái được là biến sức ép của kẻ thù thành lực đẩy ông đi cầu nguyện.

(Thi 55:4-8).   Trốn đi xa cho khuất mắt khoẻ thân  4,5 trình bày sơ lược tình hình khó khăn  6-8  đề ra một phương cách giải quyết có vẻ hấp dẫn.  4  rất đau đớn, ‘uất ức quặn thắt’. 5  Sự kinh khiếp, rùng mình run bắn lên.  Không rõ Đa-vít có ý nói về một vụ nào trong đời của ông nhưng với năm danh từ và ba động từ mô tả tình cảnh này đủ để xác định rằng Đa-vít rơi vào một tình cảnh hết sức nguy ngập và kinh hãi.  6-8  đề nghị một giải pháp cho cảnh ngộ: đó là trốn chạy - để được bình yên vô sự, để tìm nơi ẩn náu trong khi sóng gió gào thét ở nơi khác. 

(Thi 55:9-21).    đập càng mạnh, cách đối phó càng chính xác - sự cầu nguyện  9-11  Sức ép diễn ra liên tục: ngày và đêm.  12-14  Đau lòng nhất, bạn bè phản trắc.  15-29  Cầu nguyện liên tục: tối, sáng, trưa.  20,21  Đau lòng nhất, giao ước bị vi phạm.

Muốn giải quyết thoả đáng toàn tình hình này, thì không phải trốn chạy mà là khẩn nài Đức Chúa Trời bước vào tình hình với mình không thể áp dụng cách xử lý theo tánh tự nhiên là trốn chạy nhưng theo cách thuộc linh là cầu nguyện. 9  Lời cầu nguyện ở đây tương tự như lời cầu nguyện trong IISa 15:31,nhưng thi thiên này không phát xuất từ bối cảnh đó: vì lúc đó Đa-vít đang phải trốn chạy - dù không phải là trốn đến nơi an ổn.  Trong thi thiên này mối hiểm nguy bộc phát từ trong nội thành.  Đa-vít nêu gương sáng cho chúng ta là ông đối phó bằng lời cầu nguyện tha thiết mãnh liệt.  10-11  Sự ác, điều khây khoả, gian tà, điều hà hiếp, sự giảng dạy.  Một cách trắng trợn hoặc lừa phỉnh, sức ép ở đủ mức độ.  12-14  Trong đám người chống nghịch Đa-vít (9, 10, 15, 19) thì có một người đã giáng lên ông một cú đòn đau điếng nhất, khổ tâm nhất, người đó vốn là một người bạn (13) tâm tình trong phần thuộc linh (14).  Đa-vít đang đi trong bóng tối đổ dài đổ ngược của một vụ phản trắc trầm trọng hơn trong tương lai (Mat 26:47,48  Mac 14:43-45  Lu 22:47,48.  Chú ý là tất cả ba phúc âm đều ghi ‘một trong mười hai sứ đồ’.)  15  Khi nào chúng ta rơi vào tình cảnh nguy nan đe doạ bản thân chúng ta (4,5) và những người khác (9-11), tương tự như ở đây, chúng ta mới có quyền phê bình chỉ trích Đa-vít về nội dung cầu nguyện hung hãn, đầy bạo lực ở trong thi thiên này (so sánh IIVua 2:24).  Chúa Giê-xu là Đấng hoàn hảo, vẫn phán một lời rủa sả trên Giu-đa (Mat 26:24).  Đa-vít đã cầu nguyện rất đúng theo tinh thần của luật pháp (Phu 19:19) khi ông xin Chúa làm cho kẻ thù những điều họ đe doạ trút lên ông (4) thái độ của Đa-vít cũng phản ánh hành động của chính Đức Chúa Trời trong dịp vị lãnh tụ mà Ngài đã chỉ định bị đe doạ (Dan 16:28-33).  Dầu vậy, chú ý là động lực thúc đẩy Đa-vít (15) dâng lên một lời cầu nguyện cỡ đó không phải vì họ đang đe doạ Đa-vít mà vì cớ họ đã biến mình thành ổ chứa ‘tội ác đủ loại’.  Lời cầu nguyện này phát xuất từ một trình độ đạo đức cao.  16-19  Lời cầu nguyện của Đa-vít gói ghém một đường lối hành động, Tôi kêu cầu (16), ở dạng nhấn mạnh, ‘Nhưng về phần tôi ... ‘ thể hiện một kỷ luật, chiều, sáng, ...  trưa (17) và đặt cơ sở trên hành động của Đức Chúa Trời - cứu (16), nghe (17) chuộc (18, cung ứng đầy đủ và trọn gói những giải pháp cho nhu cầu của tôi) - và trên Đức Chúa Trời là Đấng - hằng có từ trước vô cùng (19).

(Thi 55:22-23).  Một lời khuyên, một niềm tin quyết, một lẽ thật một tấm gương tốt  Lời khuyên người khác giao phó tất cả cho Đức Chúa Trời với trọn lòng tin cậy rằng Ngài sẽ nâng đỡ phát xuất từ sự thật là Đức Chúa Trời chống trả kẻ gian ác.  Vì vậy mấy câu này vạch rõ việc của ngươi nên làm, việc của Đức Chúa Trời làm cho người công bình (là người thuận hoà với Ngài, (22)) cho kẻ ác (23) và việc tôi làm (23).  22  Trao, ‘Quăng’, một cử chỉ mạnh tay.  Gánh nặng, số, điều đã phân bố cho ngươi.  Nâng đỡ, lời hứa ở đây không phải là dẹp bỏ gánh nặng, mà là nâng đỡ đương sự.

59. SỢ HÃI VÀ ĐỨC TIN. (Thi 56:1-13)

Trong ngày sợ hãi (3) ... tôi sẽ chẳng sợ (4).  Sự mâu thuẫn này biểu thị trọng tâm của thi thiên.  Sự việc được ghi trong ISa  21:10-15, được bình luận trong Thi 34:1-22 (một sự ngẫm nghĩ lại: không phải nhờ sự khôn khéo lanh lợi trong ISa 21:12,13 mà Đa-vít được giải cứu, nhưng nhờ sự cầu nguyện) và lẫn trong thi thiên này - thi thiên này là sự ngẫm nghĩ của Đa-vít trong khi đang bị giam giữ ở Gát, có lẽ trong tư cách một con tin có giá trị hàng đầu.  Thi thiên gồm có sáu phần cân đối với nhau: Đa-vít, một đối tượng của sự thù địch của con người (1,2) là đối tượng của sự chăm sóc của Đức Chúa Trời (9-11) niềm tin cậy đối đầu với sự sợ hãi (3,4) là niềm tin cậy đưa đến sự cầu nguyện (7-8) còn Đa-vít ở dưới sự áp bức của con người (5,6) trở nên Đa-vít có hứa nguyện với Đức Chúa Trời (12,13).  1,2  Một lời cầu cứu ngắn gọn trong khi lo tập trung vào sự hiểm nguy chung quanh.  Đối chiếu với 12,13, trong khi lo tập trung vào Đức Chúa Trời thì chỉ nói về sự nguy hiểm một lần!  Tác dụng của lòng tin cậy (3,4) vận dụng bởi sự cầu nguyện là như vậy! (9-11).  Khi tập trung nhìn Chúa Giê-xu ‘thì mọi sự ở trần gian này mờ dần đi một cách lạ lùng’.  3,4  Trong ngày, khi, mỗi khi.  Lời của Ngài.  Niềm tin cậy không phải là một ‘cảm giác’ tin tưởng rằng mọi sự sẽ diễn ra và kết thúc cách tốt đẹp nhất.  Mà là một niềm tin chắc đặt cơ sở trên những điều Đức Chúa Trời đã đích thân phán dạy, đây là một lòng tin tưởng nơi những lời hứa.  Câu 1 dùng từ người ta, một từ diễn tả sự yếu đuối của con người ở đây dùng từ người xác thịt ngụ ý đối chiếu với Đức Chúa Trời (Es 31:3  IISu 32:8), đối chiếu tình trạng èo uột với sức mạnh (so sánh 11).  Như vậy khi niềm tin hướng về Đức Chúa Trời căn cứ trên sự khải thị qua lời  của Ngài thì tầm nhìn trở nên khác.  5,6  Hai câu này mô tả rất chính xác hai tình trạng của Đa-vít! - Triều đình của Sau-lơ thì méo mó lời nói của ông và âm mưu hại ông còn người Phi-li-tin thì rình rập đường đi nước bước của ông (chắc chắn họ đã làm như vậy khi con người đã từng đánh gục Gô-li-át xuất hiện ở Gát!).  7,8  cùng nội dung như câu 1, 2: nài xin Đức Chúa Trời chăm sóc.  7  nên hiểu là ‘Căn cứ vào những sự gian ác của họ, chẳng lẽ nhờ đó mà họ có lối thoát sao?’.  8  Thiên đàng ghi nhận và lưu trữ mỗi một nỗi buồn khổ của chúng ta để Đức Chúa Trời lên chương trình hành động về sau.

9-11  Ngày nào (9, so sánh với c.3), trong câu 3 là ngày tin cậy còn trong câu 9 là ngày cầu nguyện, vì lòng tin cậy bộc lộ ra trước tiên là dưới dạng cầu nguyện rồi mới tiến đến những hình thức khác: so sánh 10,11 với 3,4.  Người đời (11), là người do Đức Chúa Trời tạo dựng, nên nằm dưới quyền kiểm soát tối cao của Ngài.  12,13  Câu 5: các tư tưởng chúng nó đều toan hại tôi, nguyên văn là, ‘ở trên tôi, tất cả các tư tưởng của chúng nó’ câu 12 điều tôi hứa nguyện cùng Chúa vẫn ở trên tôi, nguyên văn là, ‘ở trên tôi, những lời hứa nguyện của tôi đối với Ngài’.  Thế gian càng đe doạ, chúng ta càng hết lòng dấn thân với Chúa - không phải bằng cách trả giá với Đức Chúa Trời, nhưng bằng cách bày tỏ lòng quyết tâm tiến tới trong phần thuộc linh là hiệu quả của cảnh ngộ chúng ta đã trải qua và của sự giải cứu mà Ngài đã dành cho chúng ta.  Thật vậy, câu 13 (hầu cho tôi) đúng là mục đích của Đức Chúa Trời khi Ngài chấp thuận giải cứu chúng ta.

60. “QUA ĐÊM ĐẦY NGHI HOẶC VÀ LO BUỒN” TRONG SỰ CHĂM SÓC HOẶC DƯỚI CÁNH ẤP (Thi 57:1-11)

Thi thiên này nêu câu hỏi, ‘Chúa ở đâu?’  Tiêu đề nghi rằng Đa-vít trốn trong hang đá (có lẽ là vào dịp ISa 21:1-15 thay vì 24:1-23) nhưng Đa-vít nương náu mình nơi Chúa, dưới bóng cánh của Chúa (1).  Trong một vụ trốn tránh khỏi Sau-lơ, và vào lúc sắp ngả lưng ngủ qua đêm (4, Tôi nằm) cô đơn một mình, ông nhìn lên nóc hang tưởng chừng thấy cánh của Đức Chúa Trời giang rộng phủ lên ông.  Vì cớ đó mà ông buộc miệng thốt ra lời kêu cầu (1) rồi bài cầu nguyện kết thúc với tiếng reo ca ngợi (9,10) lòng tin tưởng bày tỏ qua lời cầu nguyện (2,3, Tôi kêu cầu ... Ngài sai) trở nên vững tâm qua lời ca ngợi (7,8) và nỗi lo ngại về năng lực của kẻ thù (4) trở thành lòng tin chắc là họ tận số rồi (6).  Dầu vậy đối với Đa-vít kết thúc quan trọng không phải là ông được giải thoát hoặc kẻ thù sa bẫy nhưng là Đức Chúa Trời được tôn cao vinh hiển (5,11).  1  Thương xót, ân huệ vô điều kiện, người nhận không xứng đáng để được ân huệ đó.  2,3  Lòng tin tưởng (‘Tôi kêu cầu ... Ngài sai’) phát xuất từ sự nhận biết Đức Chúa Trời: được tôn cao trên hết, Đức Chúa Trời Chí Cao không một ai có thể chống lại mục đích của Ngài (làm thành mọi việc, so sánh Phi 1:6), Ngài đầy lòng nhân từ và thành tín.  5  Tinh thần hăng hái sôi nổi trong câu 2, 3 lập tức phải đối phó với những sự đe doạ trong cuộc đời là kinh nghiệm rất thực tế (4)!  Và Đa-vít thách thức sự đe doạ bằng lời kêu cầu với Đức Chúa Trời chí cao trở nên một bài học thuộc linh cho chúng ta, một bài học thực tiễn không kém.  6  Khi nhớ đến Đức Chúa Trời (5) thì Đa-vít cũng có niềm tin chắc là tự thân sự gian ác sẽ tự hại.  7,8  Đa-vít đã đối diện với kẻ thù (4) rồi ông tôn cao Đức Chúa Trời, tìm kiếm sự vinh hiển của Ngài (5), do đó kẻ thù đã sa bại.  Giờ đây ông động viên chính mình ca ngợi Ngài.  ‘Vinh hiển’ (8), có lẽ nói ví về linh hồn, có nghĩa là dâng điều ‘tốt nhất của tôi’ cho Đức Chúa Trời.  Tỉnh thức.  Sau khi cố gắng ngủ nghỉ giữa cơn hiểm nguy (4), giờ đây Đa-vít cảm thấy có thể đương đầu với một ngày mới với tinh thần ca ngợi.  9-11  Đa-vít nhận biết cách nghiêm túc rằng không phải chỉ nhắm đến sự đắc thắng của riêng ông mà cần đạt đến những mục tiêu có phạm vi rộng lớn hơn bao gồm cả vai trò của ông trên thế giới, vì ông được chọn làm vua trên một dân tộc được đặc biệt kêu gọi giữa vòng các dân tộc để có một mối liên hệ đặc biệt đối với họ (Sa 12:3).  Và ông đã đương đầu với bao nỗi khó khăn trong ý thức đó nên giờ đây ông có thể làm chứng với đầy đủ giá trị vì tình yêu thương và lòng thành tín của Đức Chúa Trời.

61. SỰ CỨU GIÚP DUY NHẤT, LỜI THỈNH CẦU QUAN TRỌNG (Thi 58:1-11)

Có bản dịch dùng từ kẻ cầm quyền cai trị (1) thay vì con trai loài người.  Hiện nay chưa chắc phải dịch thế nào cho chính xác nhưng rõ ràng là theo câu này thành phần cầm cân nảy mực (dù là con người, hoặc thiên sứ lãnh trách nhiệm duy trì trật tự trên hành tinh khác này) đều chưa làm tốt công tác của họ (2).  Do đó, mà tác giả thỉnh cầu Đức Chúa Trời (6) can thiệp, và tác giả kết thúc bài thơ trong niềm vui cho người công bình (10) và quần chúng nhận biết có Đức Chúa Trời công bình (11).  Phân đoạn chen ở giữa (3-5,7-9) bàn về tâm tính kẻ ác và số phận của họ.  Thi thiên này bộc lộ nỗi niềm một cách sâu sắc đối với sự bất công trên đất và sự thất bại cùng sự thông đồng bao che của những người có trách nhiệm thực thi lẽ công bằng.  Chúng ta chẳng thực tế chút nào nếu chúng ta tránh né không sử dụng những lời thỉnh nguyện nồng nhiệt mãnh liệt vì chung quanh chúng ta nhan nhản những trường hợp mà chúng ta có quyền kêu xin Đức Chúa Trời chận đứng sự bất công của những con người trong những vi trí cao cấp.

(Thi 58:1-2).  Vi phạm lẽ công bằng  Nghĩa đen câu 1 là ‘có thể nào nói lẽ công bằng trong sự câm lặng không?’, nghĩa là phục vụ cho công lý mà không lên tiếng thì có được không?.  Chỉ cần thay đổi nhỏ trong phụ âm là có từ ‘những người cai trị’, những người có quyền hành, tức là thành phần cao cấp trên đất này hoặc các thần quyền linh lực trên trời.

(Thi 58:3-5).  Tâm tánh của kẻ ác  Họ thừa hưởng tâm tánh lầm lạc và dối trá thuở chào đời (so sánh Thi 51:5), trong tâm hồn của họ chất chứa nọc độc và họ thật là bất trị: tương tự như rắn hổ mang bị điếc nút tai mình lại, cho nên vừa không nghe được vừa không muốn nghe một tiếng gọi lạ lẫm nào (4, so sánh Ro 1:28-32  Tit 3:3).

(Thi 58:6).  Lời thỉnh cầu quan trọng  Từ khi tác giả giật dây tố cáo cách chính xác (1), tác giả mời Đức Chúa Trời đứng ra bịt miệng những người lạm dụng địa vị của mình và xin Ngài phá đổ quyền hạn gây tổn hại của họ.  Đây là một hình thức sống hiện thực thánh - ví dụ xin Đức Chúa Trời khiến cho giới buôn bán vũ khí hoặc khiến cho bom nổ ngay trong tay những kẻ khủng bố đang khi họ chế tạo, hoặc đang khi họ gài bom.  Một khi người ta đã chai lì đối với mọi lời động viên kêu gọi và không muốn thay đổi nề nếp của mình nữa, thì chẳng còn có thể làm gì cho họ ngoài ra giao phó họ cho Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết tối cao.

(Thi 58:7-9).  Số phận của kẻ ác  Bốn bức tranh về ‘số phận rỗng không’ của kẻ ác: nước chảy trên mặt đất và tiêu tan mất hết (7) một mũi tên bắn ra nhưng ‘như bị úa héo’ - rơi xuống đất như một chiếc lá khô (7) một con ốc chết tiêu chỉ còn vỏ trống rỗng (8) một bào thai kết thúc với cái chết chớ không phải sự sống (8).  9  Trước khi vạc (nồi niêu) có lẽ là một thành ngữ về sự bất thình lình, bất chợt.  Gai khô làm của đốt cháy bùng lên rất nhanh và tàn rất nhanh đến nỗi tưởng như hơi nóng chưa đụng đến nồi mà lửa trong bếp đã tàn!  Bất luận còn xanh hay cháy, nghĩa đen là ‘sống’ và ‘nóng’, không ăn nhập gì với ý nói ví này.  Có lẽ câu này nói về Đức Chúa Trời: ‘Ngài là Đấng sống, như thể cơn thạnh nộ, Ngài sẽ thổi họ đi hết’.

(Thi 58:10,11)  Sự công bình được chứng minh  Rửa chân mình, trong lối nói ví chỉ về sự thắng trận (Thi 68:23).  Người ta sẽ nói.  Thực thi lẽ công bằng cho chính xác có tiềm năng ảnh hưởng trên xã hội, (Phu 19:18-21).

62. AN TOÀN TUYỆT ĐỐI (Thi 59:1-17)

Thi thiên này gồm hai phần (1-10,11-17).  Phần một mở đầu với lời cầu xin sự giải cứu (1-2), kéo qua lời cầu xin xét xử các nước trên hoàn cầu (5) phần hai, mở đầu với một lời cầu nguyện xin báo trả (11-13b) để khải thị thế giới (13cd).  Sau mỗi lời cầu nguyện đều có tiểu đoạn nói về chủ đề ‘tru như chó’ (6-7,14-15) rồi những tiểu đoạn này chuyển qua tiểu đoạn Nhưng Đức Giê-hô-va (8-10) và Nhưng tôi (16-17).

Bối cảnh bài thơ là ISa 19:10-12 một đêm kia Đa-vít bị bao vây tại nhà của mình, nhưng chỉ có những điểm chính còn trước 19:10 là một thời gian dài ông sống trong nỗi đe doạ triền miên.  Thi Thiên này ghi lại nỗi niềm của ông trong thời gian đó (6,14).  Trong cuộc trốn chạy, Đa-vít thoát khỏi tầm canh gác lùng sục của đám lính và chạy về nhà với Mi-canh.  Sau-lơ phải hành động hết sức thận trọng vì Đa-vít là một nhân vật nổi danh nhưng chắc hẳn lúc đầu ông hi vọng là trừ được Đa-vít qua phương thức ném đá giấu tay, một vụ án mạng mà không truy tìm được kẻ sát nhân.  Nhưng vì Đa-vít đã thoát thân nên Sau-lơ phải cho phục kích.

Thi thiên nhắc đi nhắc lại đề tài an toàn tuyệt đối trong Đức Chúa Trời: bảo hộ (1), ‘đặt tôi ở trên cao’ nơi ẩn náu (9,16,17), ‘nơi trú ẩn cao’ - ở một độ cao mà kẻ thù không thể lên tới được.  Chú ý ý tưởng của Đa-vít chuyển từ, ‘Hãy bảo toàn tôi’ (1), qua ‘Ngài là sự an toàn tuyệt đối của tôi’ (17).

Ông bắt đầu với lời cầu nguyện (1-5).  Ông thực sự tin vào hiệu quả của sự cầu nguyện: ông nhận biết tầm cỡ của lực lượng thù địch mình (3) dầu vậy ông biết rằng chỉ cần nói:  Xin giải cứu ... xin bảo vệ ... xin cứu tôi ... xin tỉnh thức để giúp đỡ tôi.  Ông dám thỉnh cầu Đức Chúa Trời, ngay hiện tại, lập toà án cuối cùng xét xử toàn thế giới (5) vì ông nhận biết mình vô tội (3,4) vô can đối với tội ác mà người ta vu cáo ông:  cho dù phải hầu toà án đó ông cũng chẳng lo ngại gì.  Nhưng lòng tin tưởng của ông không đặt nơi sự vô tội vô can của mình mà đặt nơi sự cầu nguyện.

Ông tiếp tục sống với niềm tin (6-10).  Đám chó tru trở lại buổi chiều (6) Đa-vít ghé mắt nhìn qua khe bức mành, không phải vì sợ họ nhưng vì trông đợi Đức Chúa Trời (9), tin tưởng nơi sự dẫn dắt của Ngài (10) và tin rằng ông sẽ sống sót qua hiểm nguy để nhìn thấy người cuối cùng đã vu khống ông.

Ông duy trì mức đạo đức cao và triệt để giao phó mình cho Đức Chúa Trời (11,13).  Trong câu 11 Đa-vít nhắc đến dân sự của tôi vì trên nguyên tắc, ông là vua của họ, dù trong thực tế thì chưa.  Và như vậy, không phải ông nhằm cầu mong một sự giải thoát cho riêng mình nhưng ông muốn Đức Chúa Trời hành động sao cho các dân tộc các quốc gia học được một bài học và thế giới phải nhận biết là Đức Chúa Trời đang vận hành trên trần gian này theo luật đạo đức của Ngài (13).  Hơn nữa, không phải ông chỉ ‘quan tâm thu phục lòng dân’ nhưng ông muốn rằng tội lỗi ... sự nguyền rủa ... dối trá ... kiêu ngạo (12) phải bị hình phạt.

Giữa cơn khốn đốn cùng cực, Đức Chúa Trời cho Đa-vít một bài hát.  Bầy chó vẫn tru (14,15) Nhưng tôi sẽ ca hát (16), tôi sẽ ca ngợi Ngài (17).  Hẳn là những người rình rập ngạc nhiên vô cùng khi nghe Đa-vít và Mi-canh ca hát trong giờ thờ phượng buổi sáng và buổi tối!

63. GIƯƠNG CAO CỜ. (Thi 60:1-12)

Đa-vít rơi vào thế kẹt do chính ông tự gây ra.  Theo IISa 8:3-7, ông lợi dụng cơ hội đánh đằng sau được Ha-đa-hê-xe.  Trong khi vua này bận chinh chiến thu hồi lãnh thổ ở phương bắc thì Đa-vít đánh chiếm ở phương nam.  Nhưng Đa-vít chưa kịp ăn mừng thắng lợi thì có tin báo rằng quân Ê-đôm đã cũng lợi dụng lúc Đa-vít bận chinh chiến ở phương tây mà kéo quân xâm lăng qua thung lũng Biển Chết.  Trong khi vua và quân đội ngoài biên cương xa xôi như vậy, tưởng chừng quốc gia non trẻ sẽ bị tiêu diệt trước khi có đủ thời gian củng cố.  Câu 1 mô tả ngắn gọn tình cảnh lúc đó: mối hiểm hoạ thực sự không phải là Ê-đôm mà là cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (bộc lộ qua Ê-đôm).  Vì vậy cách đối phó duy nhất là cầu nguyện (xin hãy đem chúng tôi lại - trở lại với ân huệ của Ngài).  Đất rúng động (2, so sánh Xu 19:18  ISa 14:15) rượu xây xẩm (3, so sánh Es 51:17) biểu thị sự hiện diện và cơn giận của Đức Chúa Trời, nhưng còn có thể xổ một ngọn cờ và giương nó lên (4), cờ cầu nguyện (5).  Vì vấn đề cốt lõi là như vầy: Đức Chúa Trời đã phán dạy về vấn đề đất đai lãnh thổ về nhân và về kẻ thù đương đại (6-8).  Chỉ một mình Đức Chúa Trời là niềm hi vọng của chúng ta (9,10), vì vậy cầu nguyện là phương cách duy nhất (11).  Sứ điệp bao trùm một phạm vi rộng lớn hơn hoàn cảnh: trong mọi cơn khủng hoảng - dù là do chính chúng ta gây ra - cách tháo gỡ là nhắc lại những lời hứa của Đức Chúa Trời và giương cờ cầu nguyện lên.  Khi chúng ta thiếu lòng trung thành, Ngài vẫn thành tín: Ngài không thể tự mâu thuẫn hoặc tự chối mình được (IITi 2:13).

1  Nét đặc thù của tư duy trong Cựu Ước là truy nguyên những hoàn cảnh khó khăn nguy nan cho tới Đức Chúa Trời.  Nếu Ha-đa-ê-xe kêu gọi Ê-đôm gây chiến ở một mặt trận thứ hai thì không có gì là lạ và không làm được.  Nhưng cách đương đầu với mọi hoàn cảnh là truy nguyên đến tận ngọn, tận gốc.  Cho dù Đa-vít có trưng ra bao nhiêu là lý do khiến ông tấn công Phi-li-tin (IISa 8:1) thì ông vẫn không thể biện hộ cho việc đánh chiếm Am-môn và Mô-áp (8:2,12 so sánh Phu 2:9,19).  Khi tấn công Ha-đa-ê-xe thì chẳng qua ông cũng rập khuôn, bắt chước theo chính sách cơ hội của các cường quốc thế gian khác.  Cho nên chẳng lạ gì khi Đức Chúa Trời nổi giận!  4,5  So sánh Xu 17:8-16.  Hai cánh tay của Môi-se giơ thẳng lên trời được xem như là ngọn cờ chống lại kẻ thù và cũng là sự khẩn nài đụng đến ngai của Đức Chúa Trời.  Chắc chắn Đa-vít liên tưởng đến vụ này: quân Ê-đôm tấn công không khác gì quân A-ma-léc (Phu 25:17-18).  6-8  Si-chem ... Su-cốt, miền trung và bên kia sông Giô-đanh của xứ Pa-lét-tin Ga-la-át ... Ma-na-se, miền bắc nằm hai bên sông Giô-đanh.  Những vùng này tiêu biểu cho xứ mà Đức Chúa Trời đã hứa cho họ.  Ép-ra-im ... Giu-đa, hai chi phái chính trong dân tộc mà Đức Chúa Trời đã đặc biệt dành cho một số lời hứa.  Đồn luỹ của đầu ta, tức là cái mũ trong bộ áo giáp ... phủ việt.  Những gì sang trọng, tôn quí thì thuộc về dân sự của Ngài còn địa vị thấp hèn (chậu ... dép) thuộc về những dân khác.  9-12  Chúa không còn ra trận với (10) được chuyển thành nhờ Đức Chúa Trời (12) qua lời khẩn nài tỏ lòng phục tùng.  Giương cờ cầu nguyện lên là có thể thuyết phục được Đức Chúa Trời (4,5) lẫn đương đầu với kẻ thù cách thắng lợi.

64. NGƯỜI NHÚT NHÁT...ĐỨNG LÊN CẦU NGUYỆN (Thi 61:1-8)

Cũng như nhiều thi thiên khác, Thi 61:1-8 mở đầu với lời cầu nguyện và kết thúc với lời ca ngợi.  Đây là một trật tự đúng theo tinh thần của Kinh Thánh vì nhờ cầu nguyện mà có lòng tin tưởng nơi Đức Chúa Trời, lòng tin tưởng bộc lộ ra qua sự ca ngợi.  Lời cầu nguyện cũng đưa đến những hành động của Đức Chúa Trời khiến phát sinh một sự đáp ứng phải lẽ là ca ngợi.  Lời mở đầu là xin Đức Chúa Trời nghe đương sự cầu nguyện (1) chuyển thành lời cầu nguyện xin được an toàn đặt cơ sở trên kinh nghiệm đã qua về quyền hạn bảo vệ của Đức Chúa Trời (2,3), xin được thông công với Ngài mãi mãi đặt cơ sở trên mối liên hệ đã được xây dựng (4, 5, dịch là: ‘Ôi, xin cho tôi ở...) và xin cho vua của Đức Chúa Trời được cai trị mãi mãi (6,7).  Vì thi thiên này có đề cập đến nguy cơ đe doạ sự trị vì của Đa-vít, nên có thể bối cảnh của thi thiên này là vụ Đa-vít chạy trốn khỏi Áp-sa-lôm.  Nhưng thi thiên miêu tả cách thi vị về một biện pháp an toàn là đem chúng ta đặt ở nơi cao vượt lên trên mọi đe doạ, về một năng lực đem lại cho chúng ta an ổn, về tình yêu thương ấm cúng, về sự tiếp đón đầy bảo bọc và về một vị vua cai trị đời đời.

Chú giải. 2 Từ nơi cực địa, từ nơi xa xăm cỡ địa cầu xa thiên đàng.  Cao hơn tôi là nơi cao đến nỗi tự mình tôi không lên đến được. 4 Trại, nhà của Đức Chúa Trời, đền tạm (Xu 29:44-46).  Cánh (Ru 2:12  Lu 13:34). 5 Tác giả xin vào nhà của Đức Chúa Trời với lý do là: Vì, (Hỡi Đức Chúa Trời, vì Chúa đã nghe lời hứa nguyện ...) tác giả đã hứa nguyện với Ngài (cam kết hết lòng trung thành với Ngài) và vì Đức Chúa Trời đã ban cho ông sản nghiệp (Eph 1:13,14). 6 Đa-vít cầu nguyện theo thông lệ, theo nghi thức: ‘Cầu nguyện vua được sống muôn năm’, nhưng Đức Chúa Trời đáp lời bằng cách đưa lên ngôi Đa-vít một vị vua thực sự cai trị đời đời (Lu 1:31-33).  Đối với những điều chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời luôn luôn trả đáp lại quá mức chúng ta xin (Eph 3:20). 8 Ca ngợi ... làm xong.  Ca ngợi mà thiếu vắng tinh thần cam kết hết lòng vì Chúa thì chỉ là sáo ngữ mà thôi.

65. NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG BỞI TÌNH YÊU THƯƠNG. (Thi 62:1-12)

Nơi con người chúng ta chẳng có thể trông cậy gì cả.  Trái lại, ở nơi họ có nhiều điều khiến chúng ta phải e sợ.  Do đó, dưới sức ép của họ trong thực tế chúng ta dựa vào nguồn năng lực nào mà đương đầu?  Hoàn toàn chỉ có thể dựa vào Đức Chúa Trời.  Trong câu 1, 2 tác giả xác định sự thật này, lập lại trong câu 5,6 để tự động viên, cổ võ người khác trông cậy nơi Đức Chúa Trời (7,8) và xác định rằng những điều ông nói đặt cơ sở trên lời phán của Đức Chúa Trời (11,12).  Đây không phải là những giáo điều xây dựng trong ‘tháp ngà’ nhưng đã được thử nghiệm qua kinh nghiệm của trường đời: đó là con người xem vậy mà rất đáng sợ (3,4) và thế giới cũng chẳng cung cấp được một giải pháp nào qua con người hoặc qua hành vi của họ (9,10).

Câu 1,2,4,5,6,9 bắt đầu với một từ có ý là ‘dầu vậy’.  Con người gây ra lắm áp lực ‘dầu vậy’ (1) tôi nghỉ an nơi một mình Đức Chúa Trời người ta đề nghị huy động nhiều nguồn năng lực ‘dầu vậy’ (2) một mình Ngài là hòn đá tôi kẻ thù thất bại vì nhiều nguyên nhân, ‘dầu vậy’ (4) trong lòng họ rủa sả dù họ có lắm mưu định và trên hết là sự đe dọa của họ trong thực tế, ‘dầu vậy’ (5) hãy nghỉ an.  Và nếu có ai khuyên là phải huy động đến những năng lực khác nữa, thì câu trả lời vẫn là ‘dầu vậy’ (6) chỉ một mình Ngài hoặc giả nếu họ vạch ra rằng con người có thể là một nguồn năng lực hùng hậu biết bao thì câu trả lời là ‘dầu vậy’ (9) họ đều nhẹ hơn sự hư không (hơi thở).  Như vậy, năng lực toàn diện của Đức Chúa Trời quá đủ để bảo đảm cho dân của Ngài được bảo toàn an ổn giữa cơn náo loạn của dòng đời.  Lẽ thật này đã được thể nghiệm trong thực tế, trực diện với những lực lượng đối nghịch và những lời khuyên trông cậy huy động những nguồn năng lực khác.  Nghỉ an, nghỉ ngơi trong yên tĩnh an ổn.  2  Nơi ẩn náu, nơi an toàn tuyệt đối (Thi 59:1,9,16,17).  Chẳng bao giờ bị rúng động nhiều.  Từ ‘nhiều’ nơi đây rất ý tứ, lột tả thực tế: cuộc đời có lắm chao đảo nhưng câu 6 cũng rất xác đáng, có chao đảo đến đâu cũng không làm cho chúng ta rơi, văng ra khỏi nơi ẩn náu cao an toàn tuyệt đối được.  3,4  Ở đây miêu tả cách đúng đắn về bản chất tội lỗi của nhân loại - đánh gục người cô thế (3), không tôn trọng những điều có giá trị, vận dụng những chuyện dối trá lừa phỉnh!  Thật là khác xa Đức Chúa Trời (Es 42:3), và những người hầu việc Ngài cách chân chính (IICo 4:2 13:9)!  5  Trong những lúc quá căng, chúng ta có thể tự buộc mình phải làm điều chúng ta biết là đúng.  6  Rúng động (xem câu 2).  Vinh hiển, sự nổi danh và địa vị cao trọng mà kẻ thù muốn phá đổ.  8  Dốc đổ.  Phải đấu tranh trong sự cầu nguyện mới đạt được sự yên nghỉ trong Đức Chúa Trời (Phi 4:6,7).  9,10  Lời kêu gọi hoàn toàn tin cậy chỉ một mình Đức Chúa Trời mà thôi được củng cố bởi những lý lẽ khuyên can chớ nên nương cậy vào con người (9), lề lối hành động lẫn những khả năng của họ (10).  Hạ lưu ... thượng đẳng thành ngữ có ý nói là mọi người đều vậy cả.  11,12  Đức Chúa Trời có quyền năng (không như loài người với tính cách mong manh, không có thật của họ, 9) và có lòng nhân từ (chớ không như loài người với sự giả trá gian dối của họ, 9).  Ngoài ra, năng lực đầy tính cách nhân từ ở trong Ngài là một sức mạnh tích cực thúc đẩy dẫn dắt những hành động có tính cách đạo đức mà Ngài căn cứ vào đó mà báo trả xứng đáng cho chúng ta (12).  Do đó, chúng ta có thể tin cậy Ngài đối với hạnh phúc của chúng ta và trong việc đối phó chống trả những kẻ thù nghịch chúng ta.

66. ƯỚC VỌNG BAN SÁNG, NGHĨ NGỢI VỀ ĐÊM. (Thi 63:1-11)

Đa-vít kinh nghiệm rừng vắng của Giu-đa (theo tiêu đề) khi ông chạy trốn khỏi Áp-sa-lôm (IISa 15:23,28  16:2,14  17:16,27-29).  Trong cái nóng làm nhụt chí, làm tan sức lực, ông cảm thấy cần Đức Chúa Trời hơn là cần nước.  Vừa sáng tôi tìm Chúa.  Các ý tưởng vào buổi sáng đầy ắp trong ông, chiếm trọn tâm hồn ông lúc này (1), một cơn khát Đức Chúa Trời chiếm trọn con người ông (linh hồn ... thân thể) những kinh nghiệm của ông vì quyền năng, sự vinh hiển, và tình yêu thương của Đức Chúa Trời cho ông đối diện một ngày mới với lời ca ngợi (2,3) và có sẵn lời ca ngợi cho ngày tương lai (4,5): linh hồn tôi ... được no nê và môi vui vẻ ca ngợi.  Nhưng trên giường tôi về đêm tôi cũng nghĩ ngợi, nghĩ về quá khứ (6,7) mà Chúa đã giúp đỡ tôi nên lại có một bài hát nghĩ về sự cam kết trong hiện tại giữa Chúa và tôi (8, Tôi ... Chúa, tay hữu Chúa ... tôi) và sự an toàn bắt nguồn từ sự cam kết đó (9) và nghĩ về một tương lai có sự xét xử, vui mừng và thắng lợi (10,11).  Thi thiên này cho thấy đây không phải là một người xa lạ mò mẫm tìm đường đến với Đức Chúa Trời, nhưng là một người bạn, hầu như một người yêu, nôn nóng bắt liên lạc với người yêu dấu (Kidner).  Đa-vít viết về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho ông (3) nhưng chính tình yêu thương của ông dành cho Đức Chúa Trời đã khiến chúng ta cầu nguyện, ‘Nguyện giúp con yêu Ngài hơn!’.

1  Tác giả biết Đức Chúa Trời một cách riêng tư (Đức Chúa Trời của tôi), dành ưu tiên, dành thì giờ cho Ngài (‘vừa sáng’) và hết sức khao khát được có Ngài (trong một đất khô cạn...chẳng có nước).  2  Nghĩa đen, ‘Như vậy, vậy là’ tôi đã thấy, nghĩa là để đáp ứng cho sự khao khát như câu 1 miêu tả.  Trước kia Đức Chúa Trời đã thoả đáp linh hồn khao khát nên nay chắc chắn Ngài cũng làm như thế nữa.  4  Ở đây cũng có từ ‘Như vậy’ tôi sẽ ca ngợi.  Nơi chốn đổi khác.  Đa-vít không còn đến gần nơi thánh nữa, nhưng Đức Chúa Trời không thay đổi.  Ngài sẽ vẫn bày tỏ quyền năng, sự vinh quang và tình yêu thương của Ngài - dù ở giữa vùng sa mạc - và đổi lại, Ngài nhận lời ca ngợi.  9-10  Câu 1-8 không bộc lộ một tinh thần thoát ly thực tế cũng không mơ mộng hão huyền về một thế giới khác nhưng là cốt lõi, tinh tuý của cuộc sống sống thực tế.  Thực tế là vị vua bị đặt vào một cuộc xung đột mà phương thức tháo gỡ là một cuộc chiến thắng hoặc chiến bại.  Vì cớ họ mưu đồ diệt Đa-vít, nên họ sẽ bị diệt do chính tay mình: chúng nó sẽ bị phá.  Đây là sự phò hộ dẫn dắt tích cực của Đức Chúa Trời trong tình yêu thương và quyền năng mà Thi 62:11,12 đã xác định. 11  Áp-sa-lôm đe doạ Đa-vít trong khi Đa-vít làm vua (so sánh IISa 15:4,10).  Khi Đa-vít viết về chính mình trong danh vị vua, Đa-vít xác định rằng ‘quà tặng và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời là điều không thể rút lại, hoặc huỷ bỏ được’ (Ro 11:29).

67. ĐỨC CHÚA TRỜI TRẢ BÁO. (Thi 64:1-10)

Những kinh nghiệm cá nhân và những vụ việc trong thiên hạ thường khiến người ta thắc mắc về sự hiện hữu của một Đức Chúa Trời công bình và ơn run rủi thúc đẩy tích cực của Đức Chúa Trời.  Nếu thực sự có một Đức Chúa Trời thiện cai trị thế gian này thì sao lại có những số phận bất xứng giữa những người rõ ràng tốt và những người rõ ràng là xấu xa gian ác?  Sao người gian ác thường thành công mà không tổn thất gì cả.  Thi thiên này giải đáp vấn nạn này bằng cách xác định về sự báo trả của Đức Chúa Trời.  Kẻ thù của Đa-vít làm những điều gian ác (3) mài lưỡi tợ như thanh gươm và nhắm lắm mũi tên tẩm thuốc độc bằng lời nói, mưu tính kỹ càng những cuộc tấn công bất ngờ (4) nhờ tin tưởng vào tài trí mưu mô của mình nên họhành động mà chẳng sợ gì cả rồi còn thách đố ‘Có ai quan tâm, biết đến đâu?’ (5) - đặt vấn đề về sự hiện diện của Đức Chúa Trời thánh khiết là Đấng vẫn chú ý quan sát và có phản hồi.  Chính những vũ khí mà họ đang sử dụng sẽ quay lại làm hại họ - mũi tên và lưỡi - cũng bất ngờ không kém (7-8)!  Dầu con người có tài trí mưu mô quỷ quyệt đến đâu (6), Đức Chúa Trời vẫn biết chỗ cần giáng đòn báo trả, rồi quyền hành của Đức Chúa Trời mà họ vẫn thường thách đố chê cười sẽ trở nên một dấu chứng cụ thể trước mắt thiên hạ (8, 9).  Nhưng quyền hành của Đức Chúa Trời đã thi thố một cách công bình trong việc báo trả cho họ cũng được thể hiện để bảo vệ người thuộc về Ngài: tiếng của người đang gặp nạn nài xin Ngài bảo vệ trở thành tiếng hớn hở ca ngợi trong phạm vi của nơi ẩn náu của Đức Chúa Trời (10).

A1 (c.1-2) Cầu xin sự bảo vệ

B1 (c.3-4) Đợt tấn công

C1 (c.5-6b) Phủ nhận sự thật về sự báo trả của Đức Chúa Trời

B2 (c.6c-8b) Đợt phản công

C2 (c.8c-9) Xác định có sự báo trả của Đức Chúa Trời

A2 (c.10) Vui mừng hớn hở vì được bảo vệ

(Thi 64:1-2).  Cầu xin sự bảo vệ  Than thở - không phải ‘than van’ mà là chia sớt san sẻ nỗi gian nan. 2  Mưu nhiệm, ‘mưu đồ, âm mưu’.

(Thi 64:3-4).  Đợt tấn công  Sợ, sợ sự trả đũa.

(Thi 64:5-6b).  Phủ nhận sự thật về sự báo trả của Đức Chúa Trời  Ai sẽ thấy? tức là ‘nhìn xem’ để ghi nhận và xử trí.

(Thi 64:6c-8b).  Đợt phản công  sâu sắc, sâu hoắm.  Nên dịch ‘Dù tâm tư ... sâu, nhưng Đức Chúa Trời ... ‘  Có thể giấu kín một mưu đồ đối với tai mắt của con người, nhưng không thể giấu giếm Đức Chúa Trời một điều gì cả.  Dù tấm lòng có sâu đến đâu, mũi tên báo trả của Ngài vẫn tới đúng đích nhắm.  8ab khó dịch, nhưng bản dịch tiếng Việt đã lột được ý căn bản trong câu 7,8 tức là kẻ ác bị hình phạt bởi chính những vũ khí của mình (3,4).

(Thi 64:8c-9)  Xác định sự báo trả của Đức Chúa Trời  So sánh Es 26:9.

(Thi 64:10).  Vui mừng hớn hở được bảo vệ  Sự vui mừng đến trước giải pháp.  Đức Chúa Trời hành động cách thình lình (7), nhưng không nhất thiết là lập tức, nhưng trong khi chờ đợi Ngài bảo vệ những người ‘thuận hoà với Ngài’ vẫn vui mừng hớn hở, không lệ thuộc vào cảnh ngộ trong đời này.

68. MỘT NĂM PHƯỚC HẠNH TUYỆT VỜI. (Thi 65:1-13)

Cao điểm của mỗi năm là Ngày Xá Tội và Lễ Lều Tạm - tức là ngày đại lễ chuộc tội (Le 16:1-34) và ngày lễ cảm tạ sau vụ thu hoạch nông sản (23:39  Phu 16:13-15).  Nhưng thi thiên tả vẽ về một năm hết sức đặc biệt.  Trong năm đó có sự đáp lời cầu nguyện cách lạ lùng (2,5) tội lỗi là chuyện có thật nhiều đến mức áp đảo (3) Đức Chúa Trời đã thực hiện những việc đáng sợ (5), gồm các việc làm cho các dân tộc ở yên hoà bình (7) và làm nổi danh Ngài trên khắp thế giới (2,5,8) còn nông sản đặc biệt được mùa (9-13).

Trong lịch sử Y-sơ-ra-ên có một năm đáng được dùng làm bối cảnh cho thi thiên này: đó là năm quân A-si-ri đe doạ tấn công Si-ôn rồi bị Đức Chúa Trời ra tay quật ngã (Es 36:1-37:38).  Khi làm phản chống lại A-si-ri họ rơi vào một hoàn cảnh bất lực (37:3) nhưng Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu nguyện của họ (37:4,14-20,21), Đức Chúa Trời đã hoá giải sự náo động xôn xao của con người (37:36-37), và Ngài đã ban cho hai năm được mùa, dù là thiếu bàn tay chăm sóc của con người, đó là dấu chứng chắc chắn là Đức Chúa Trời hành động can thiệp chớ không phải chuyện ngẫu nhiên (37:30).  Nhưng trong phạm vi kinh nghiệm của Đa-vít thì vụ việc có ghi trong IISa 21:1-14 có thể làm bối cảnh cho thi thiên này: không phải do sự phán đoán kém cỏi của Đa-vít hoặc nhờ tội lỗi đã được xử lý mà ba năm hạn hán được kết thúc (2-9) nhưng nhờ Đức Chúa Trời khi Ngài đáp ứng cho lời cầu nguyện (1,14).  Thi thiên trình bày vấn đề này trong ba phần.

(Thi 65:1-4).  Cầu nguyện, sự chuộc tội, sự làm hoà  Nhân dân tụ họp lại đến gần Đức Chúa Trời với sự ca ngợi và hiến dâng, xưng Ngài là Đấng đáp ứng lời cầu nguyện, hưởng được kinh nghiệm phong phú trong sự kiện được đem đến gần Ngài bởi sự tha thứ tội lỗi.  1  Chờ đợi ca ngợi, (nghĩa đen) ‘Đối với Ngài tĩnh lặng cũng là sự ca ngợi’ tức là ‘Sự ca ngợi đời đời thuộc về Ngài’.  Cũng có thể câu này miêu tả quãng thời gian ngắn khi mà mọi người nín lặng cách sững sờ kinh ngạc trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng đã thực hiện sự giải cứu kỳ diệu đến nỗi không thể mô tả bằng lời nói được.  Sự hứa nguyện (so sánh Thi 61:8), người ta thường hứa nguyện với Đức Chúa Trời khi lâm vào một vụ khủng hoảng.  2  Ngụ ý là rồi đây sẽ đến ngày khắp nơi mọi người sẽ nhận thức về Đức Chúa Trời vì cách thức Ngài đã đáp ứng lời cầu nguyện.  Phu 4:6-8 liên hệ một dân tộc lo cầu nguyện với một dân tộc trên thế giới đang tỏ vẻ thán phục.  3  Thắng hơn, con người đang bị kềm chặt trong quyền lực của tội lỗi.  Tha thứ, ‘phủ che’, ‘chuộc, xá tội’, không phải bằng cách giấu nhẹm cho khuất mắt nhưng bằng cách trả đầy đủ món nợ, khoản tiền đang mắc nợ.  4  Sự chuộc tội đem lại phước hạnh, được ban cho bởi ơn tuyển chọn của Đức Chúa Trời, đem chúng ta đến gần nơi thánh và chấp thuận cho chúng ta được vào nơi thánh.

(Thi 65:5-8).  Sự giải cứu, quyền tể trị sự khải thị  Đức Chúa Trời đáp ứng lời cầu nguyện bằng những việc làm lạ lùng.  Qua những việc làm đó Ngài chứng tỏ cho thế giới biết Ngài là Đấng giải cứu chúng ta đáng được toàn thế giới tin cậy.  Đấng tạo hoá dùng quyền năng của mình mà khiến cho các dân tộc đang náo loạn hỗn độn được yên ổn tĩnh lặng đưa đến kết quả là con người ở khắp nơi đều kính sợ Ngài.  Đây là phương thức tiêu biểu của thi thiên lối lập luận tổng quát hoá, khởi từ một hành động cụ thể của Đức Chúa Trời, thi thiên chuyển lý luận qua một phạm vi rộng lớn nhất về quyền năng và quyền tể trị của Ngài (so sánh Thi 67:1-7).  7-8  Những hành động lạ lùng của Đức Chúa Trời đã chinh phục mọi dân tộc đến nỗi ở những nơi xa xăm ai nghe đồn về những dấu lạ phép lạ đó đều sinh lòng kính sợ Ngài (so sánh Gios 2:8-11).

(Thi 65:9-13)  Sự chăm sóc, dật sự cung ứng  Trong thời gian bị A-si-ri xâm lăng, đất đai không được canh tác, nhưng cuối năm đó, dân sự vẫn được mùa (so sánh Es 37:30) nhờ Đức Chúa Trời chăm sóc (9), tưới bón dư dật (10) cứ như thể Ngài đội mão miện cho năm đó (11-13).  9 Suối của Đức Chúa Trời.  Sông ngòi của thiên đàng tồn trữ nước cho địa cầu.  Dù chỉ là một lối nói theo trí tưởng tượng nhưng trong thực tế sản vật của đất đai đúng là sản phẩm của thiên đàng, không phải bởi tài chế tạo của con người mà bởi quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời.  11  Lấy sự nhân từ của mình mà đội cho năm làm mão triều, hoặc ‘năm của sự nhơn từ của Ngài’.  Năm đó chấm dứt với mùa màng bội thu.  Sự kiện đó chẳng khác gì mão miện đặt trên tất cả những phước lành mà Ngài đã ban.

69. ƠN RUN RỦI, DẪN DẮT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI...SỰ CẦU NGUYỆN CỦA TÔI. (Thi 66:1-20)

Không biết nên giải thích như thế nào về dòng tư tưởng khởi từ trái đất (1) chuyển đến tôi (20) qua chúng tôi (10).  Phải chăng ai đó dùng một bài thánh ca về mối liên hệ của Đức Chúa Trời với thế giới (1-7) và với dân sự của Ngài (8-12) làm phần dẫn nhập cho bài ca với nội dung tạ ơn (13-15) và làm chứng (16-20) do chính mình sáng tác?  Phải chăng dân sự bày tỏ lòng biết ơn vì được giải cứu (12) rồi một người đại diện (vua?) thay mặt cho tất cả trình bày nỗi niềm (13-20)?  Như vậy, chúng ta không thể xác định bối cảnh nhưng sứ điệp của thi thiên này là rất rõ ràng.

Những việc Đức Chúa Trời đã thực hiện cho dân sự của Ngài trong lịch sử là cơ sở cho tác giả kêu gọi toàn thế giới (1-7).  Nhìn xem Đức Chúa Trời tại Biển Đỏ, rồi cùng với dân sự của ông vui mừng vì cớ Đức Chúa Trời quyền năng như thế chớ đừng nổi loạn chống nghịch Ngài (5-7).  Sự kiện một số người Y-sơ-ra-ên đã giành được sự cứu rỗi trở nên lời mời gọi đối với tất cả mọi người (so sánh IICo  5:18-19).

Cần hiểu đường lối Đức Chúa Trời xử sự với dân sự của Ngài trng hiện tại khuôn khổ của những việc Ngài đã thực hiện trong quá khứ (8-12).  Cho dù sự thử thách hiện nay (10) là thế nào đi nữa thì cũng chẳng khác gì sự thử thách tại Biển Đỏ đang tái diễn: họ phải đi qua dòng nước để bước vào sự tự do (12).

Chúng ta cần sống với những nỗi đau khổ của mình trong tinh thần và thái độ nào đó để biến mọi cảnh ngộ thành cơ hội cho chúng ta làm chứng: kêu gọi các dân tộc ca ngợi Đức Chúa Trời về sự bảo tồn, sự thử thách, những nỗi đau hằn sâu và sự giải phóng kết cuộc mà Ngài đã thực hiện cho dân của mình (8-12).

Không có tình trạng hội thánh tách biệt khỏi những con người tập hợp thành hội thánh, tâm thần mỗi cá nhân đáp ứng lời kêu gọi, cùng nhau dâng hiến (13-15), làm chứng (16-19) và ca ngợi (20). 

Ơn run rủi dẫn dắt của Đức Chúa Trời dành cho dân của Ngài phát xuất từ chính ý muốn và hành động của Ngài (10-12, sáu động từ ở ngôi thứ hai số ít), nhưng phải có lời cầu nguyện (17) và nếp sống thánh khiết (18) Ngài mới ban phước hạnh.  Thật vậy, bởi vì dân sự của Ngài cầu xin nên Ngài thực hiện những việc lạ lùng nhất, đặc biệt nhất chọn lọc trong mớ dự tính của Ngài (Ma 3:1 Lu 1:13).

(Thi 66:1-12).  Thế giới ca ngợi  Nhờ đã kinh nghiệm trong quá khứ (1-7) và trong hiện tại (8-12) mà dân sự của Đức Chúa Trời kêu gọi tất cả cùng thờ phượng Đức Chúa Trời, trước hết là công nhận những điều Ngài đã khải thị về chính mình Ngài (2, 4, danh xưng) rồi công nhận những việc làm và năng lực chinh phục của Ngài (3).  5-7  Kinh nghiệm tại Biển Đỏ đã qua đi hàng bao thế kỷ (6).  Vì vậy, lời kêu gọi hãy đến xem hoàn toàn xây dựng trên trí tưởng tượng.  Dầu vậy sau khi tâm trí của chúng ta trởvề với biến cố lớn lao đó thì chúng ta có thể nói rằng ‘Nào chúng ta hãy vui mừng (6, theo nghĩa đen) cứ y như chúng ta đang đứng bên Biển Đỏ trên bờ bên kia, tận mắt nhìn thấy rõ ràng quyền năng đắc thắng của Đức Chúa Trời, và hậu quả đáng sợ của sự chống nghịch (7, so sánh Xu 14:30,31).  Nhưng hiện nay Đức Chúa Trời vẫn ngự trên ngai (8-12) nên dân sự của Ngài vẫn có kinh nghiệm trong hiện tại để làm chứng: Đức Chúa Trời quyết định thực hiện việc tốt lành cho dân của mình (9), nghĩa đen ‘Ngài ấn định cho chúng tôi sự sống, Ngài chủ ý áp đặt những nỗi khổ đau (10) để thử nghiệm xem họ có phẩm chất tốt hay không và để luyện lọc cho họ trở nên tinh ròng thuần khiết tất cả mọi điều chúng ta đã từng trải dù kinh hãi đến đâu đều do Ngài chỉ định (11-12).  Khi cuộc đời giam hãm chúng ta lại (lưới), khi mọi áp lực gia tăng (gánh nặng), khi thiên hạ ngược đãi tàn ác hung bạo (cỡi trên đầu), khi hiểm hoạ nối nhau trút xuống (lửa ... nước) - tất cả đều do Ngài đích thân chỉ đạo: chẳng bao giờ chúng ta ở một nơi nào khác ngoài bàn tay của Cha mình (Gi 10:29  ICo 10:13), là Đức Chúa Trời có đầy đủ mọi sự đến tột đỉnh (12  IICo 4:16-5:1  Kh 7:9-17).

(Thi 66:13-20).  nhân ca ngợi  Những kinh nghiệm của cá nhân về sự dâng hiến (13-15), về sự cầu nguyện (17), về sự thánh khiết (18) và về những lời cầu nguyện được đáp ứng (19) trở thành lời làm chứng với hội thánh (16).  Trong khi đương đầu với hoạn nạn (14, so sánh 10-12) tác giả đã hứa nguyện với Đức Chúa Trời, nay tác giả làm trọn lời hứa nguyện đó một cách tượng trương bằng của lễ thiêu (13) - là của lễ dâng trọn không giữ lại một điều gì cả (Sa 22:2,12).  Nhưng hứa nguyện như vậy phải là một hình thức mặc cả với Đức Chúa Trời, nên khi đương sự được giải cứu thì không phải Đức Chúa Trời đã làm đúng theo điều khoản đã thoả thuận về phiá Ngài, nhưng đó là Đức Chúa Trời đáp ứng lời cầu nguyện của đương sự.  Sự cầu nguyện trong thực chất là bộc lộ nhu cầu của mình bằng lời nói (17, tôi lấy miệng tôi ...), miệng luôn luôn muốn tuôn ra những lời ca ngợi (17, và lưỡi tôi tôn cao Ngài), và tấm lòng hoàn toàn trong sạch (18) - quyết định rằng ‘lòng tôi không chú về tội ác’.  Rồi khi Đức Chúa Trời đáp lời thì cầu nguyện chuyển thành ca ngợi (20) vì đó là bằng cớ sống động chứng minh rằng Đức Chúa Trời không xoay lệch lòng nhân từ của Ngài khỏi tôi (nghĩa đen).

70. MÙA THU HOẠCH (Thi 67:1-7)

Nghe đọc thi thiên này theo thể đối đáp trong một tiết mục dâng lời tạ ơn về mùa thu hoạch là một kinh nghiệm lý thú: có lẽ người hướng dẫn đọc dòng 1, hội chúng đọc dòng 2 trong mỗi câu từ câu 1-3, và 5-7, còn câu 4 - coi như  điểm xoáy ở giữa bài - thì đọc chung - với lời nguyện ước là toàn thế giới sẽ quy phục Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.  1  So sánh Dan 6:24-26.  Dân Y-sơ-ra-ên là dân đặc biệt được ban phước.  2  Nhưng đối với dân của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ phước lành của từng cá nhân là cứu cánh.  Họ còn hưởng phước lành đã chúc cho A-rôn (1), phước lành đã chúc cho Áp-ra-ham (Sa 12:2-3) đã hứa dành cho toàn thể nhân loại.  Họ được phước để trở nên nguồn phước cho thế giới.  3-5  Lời cầu nguyện trong câu 3 lặp lại trong câu 5 trở nên như một ngoặc đơn cho câu 4.  Câu 4 xác định rằng nhân loại chỉ có thể hạnh phúc khi Đức Chúa Trời là vua cai trị và dẫn dắt tất cả mọi quốc gia.  Đoán xét, cai trị (không phải ‘lên án, kết tội’ mà là) ‘điều chỉnh mọi việc trở lại cho đúng đắn’ trong vai trò thực sự của một vị vua.  6-7  Mùa thu hoạch lại đến.  Lòng nhân từ đáng được ca ngợi của Đức Chúa Trời được bày tỏ không những qua những lần giải cứu lạ lùng (Thi 65:1-66:20) mà còn qua những việc bình thường mà Ngài khiến cho xảy ra hàng năm bởi ơn thương xót của Ngài.  Trước tiên, phước hạnh này được xem như là môt điềm báo hiệu về những phước lành lớn hơn trong tương lai (6b) và thứ hai là (7) vì mùa gặt hái là điềm báo hiệu về một sự thu gom các dân tộc toàn thế giới (Es 27:12-13) nên cũng được xem là một việc báo trước về một mùa gặt hái bao gồm toàn thể nhân loại bên địa cầu (7  Kh 7:9-10).

71. ĐOÀN LỮ HÀNH: KÝ ỨC VÀ NỖI ƯỚC MONG. (Thi 68:1-55)

Với câu 1 lặp lại  Dan 10:35, thi thiên này hồi tưởng cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên từ Si-nai đến Ca-na-an (1-3).  Đoàn lữ hành gồm những tù nhân (6) được Đức Chúa Trời giải phóng khỏi Ai Cập nay Ngài trở thành Cha và người binh vực của họ trong cuộc hành trình qua sa mạc (4-6).  Ngài đã đem họ vào xứ Ca-na-an có mưa dồi dào (7-10), Ngài đã phân tán các vua (14), báo tin chiến thắng của Ngài cho các đoàn người vui mừng để họ truyền tin đi khắp nơi (11-14).  Ngay tại trong xứ Ca-na-an cũng vậy, Ngài chọn núi Si-ôn (trước sự thất vọng của những ngọn núi hùng vĩ khác) làm nơi ở của Ngài đời đời (15-17) và từ nơi đó Ngài đã ngự lên cao trong vinh quang (18), Ngài là Đấng giải cứu dân của Ngài và huỷ diệt kẻ thù (19-23).  Ngài đi qua hàng rào nghinh đón với các thiếu nữ đứng đánh trống cơm (25), ban hát và dàn nhạc đi trước và sau.  Ngài đi giữa dàn nhạc và ban hát cùng đoàn đại diện nhân dân trước sự chứng kiến của đông đảo quần chúng tung hô ca ngợi Ngài (24-27).  Rồi họ cầu nguyện xin Đức Chúa Trời chế ngự thế giới (28-31) trong khải tượng họ kêu gọi thế giới cùng với họ ca ngợi Đức Chúa Trời (32-35).

Tuy nhiên, ở đây không hẳn chỉ là ký ức về một đám rước vì có những chi tiết sống động đầy kịch tính gợi ý về một cuộc rước trong thực tế (24) khiến chúng ta có thể liên tưởng đến đám rước hòm giao ước về núi Si-ôn trong thời Đa-vít (IISa 6:12-16  ISu 15:1-28).  1  Nguyện Đức Chúa Trời hoặc ‘Đức Chúa Trời sẽ’ ... lời cầu nguyện trong quá khứ trở nên một lời xác định cho tương lai.  2  Khói ... sáp.  Tức là những điều hoặc không nắm được hoặc dễ hư hỏng.  Kẻ thù nghịch Đức Chúa Trời cũng như vậy đối với Đức Chúa Trời cho dù đối với chúng ta họ có bách chiến bách thắng đến đâu.  Kẻ ác.  Trong các cuộc chiến thắng Đức Chúa Trời luôn luôn hành động đúng theo chuẩn mực đạo đức, thể hiện sự thánh khiết của Ngài chớ không làm vì lòng thiên vị dành cho dân của Ngài (so sánh 21, Sa 15:16).  4  ‘Khá đắp đường cái cho Đấng cỡi ngựa đi ...’ (so sánh Es 40:3).  Đắp đường cái chuẩn bị cho đám rước có Đức Chúa Trời đi với họ ‘ngang qua đồng bằng’ (đồng vắng thích hợp với khổ thơ này hơn): Đấng cỡi ngựa đi trong sa mạc đã đến để chăm sóc dân của Ngài đang đi trong sa mạc (Phu 2:8  8:15).  5  So sánh Thi 10:14  146:9  Xu 22:22-24  Phu 10:18.  6  Kẻ bị tù là những người Ngài giải phóng khỏi ‘nhà nô lệ’ (Xu 20:2).  Phản nghịch,  Dan 14:9,22-23  26:64-65  Phu 2:14-16.  Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời thánh khiết đòi hỏi sự vâng phục và áp đặt kỷ luật của Ngài không những đối với kẻ thù (2,21) mà còn đối với dân của Ngài nữa.  7-8  So sánh Cac 5:4-5.  Ở Si-nai có những hiện tượng thiên nhiên biểu thị sự vinh quang lạ lùng đáng kính sợ của Đức Chúa Trời (Xu 19:16-18) nhưng Đức Chúa Trời ở Si-nai cũng dùng những vật thọ tạo vào những biểu thị nhẹ nhàng hơn như mưa nhiều, dồi dào (Phu 11:10-12).  So sánh đất khô khan (6) với mưa lớn trên sản nghiệp ... khi nó mệt mỏi Chúa bổ nó lại (9), tức là số phận của người bất vâng phục Đức Chúa Trời với người vâng phục (Cong 3:19  5:32).  11  Chúa truyền mạng lịnh ... một đoàn đông lắm.  Như một tướng Tổng Tư Lệnh (IISa 18:19 tiếp theo) Đức Chúa Trời thông báo về cuộc chiến thắng của mình và, như trong Xu 15:20-21  ISa 18:6, (theo nguyên văn) ‘đám phụ nữ rất đông đảo truyền báo tin mừng  12  Các Vua (Gios 12:7-24).  Trong trại lính hoặc ‘phụ nữ ở lại nhà’, (so sánh Cac 5:28-30).  13  Nằm nghỉ giữa chuồng chiên, là những lính canh ở hậu phương, hết ca trực có thể dịch là ‘giữa đống yên cương’ như những con lừa nằm quỵ dưới đống hàng quá tải - tức là những người đuối sức trước những đòi hỏi của hoàn cảnh cũng có thể dịch là ‘giữa những bếp lửa’ do các bà châm chụm cháy đều ở nhà.  Có nghĩa là cuộc chiến thắng là thành quả của sự vận hành của Đức Chúa Trời đến nỗi dù con người có nghỉ ngơi, đuối sức hoặc bất hợp tác cũng không ảnh hưởng gì cả.  Cánh bồ câu bọc bạc (Của ta, như trong bản NIV khiến người ta hiểu) đây là dân của Đức Chúa Trời dùng những món trang sức bằng vàng, bằng bạc trong mớ chiến lợi phẩm của Đức Chúa Trời trong cuộc chiến thắng mà không cần đến nỗ lực của họ.  Không có từ ‘của ta’ thì câu 13 mô tả một cách thi vị những chiến lợi phẩm quí giá.  14  Tuyết ... Sanh-môn.  Phải chăng câu này có nghĩa là các vua bị phân tán như tuyết rơi trước gió?  Hoặc có nghĩa là Đức Chúa Trời dùng một trận bão tuyết để giành chiến thắng? (so sánh Gios 10:11  Cac 5:21).  Hoặc có nghĩa là rác rến, đồ phế thải của cuộc chiến tựa như tuyết phủ dày trên mặt đất?  Sanh-môn (Cac 9:48).  Có thể câu này là một thành ngữ nhưng nay không còn ai nắm được ý nghĩa nữa.  15-17  Dãy núi Ba-san cao hơn hùng vĩ hơn, nhưng không thể sánh với sự vĩ đại của núi Si-ôn là núi được Đức Chúa Trời chọn, có sự hiện diện của Ngài và quyền năng của Ngài (16-17).  Si-nai ... nơi thánh.  Si-nai vốn là nơi Đức Chúa Trời hiển hiện một cách lạ lùng đáng sợ (Xu 19:1-35).  Khi Ngài ngự đến Si-ôn thì (theo nguyên văn) ‘Si-nai ở trong nơi thánh’ - tức là tất cả mọi giá trị và những sự thật về Si-nai hay ngự trị hiện diện ở Si-ôn (so sánh ICo 3:16  6:19  Eph 2:19-22  3:16-19).  18  Ngự lên trên cao ... lễ vật ... loài người.  Khi cuộc hành trình dài qua sa mạc kết thúc, và khi cuộc chinh phục khó nhọc chấm dứt, Đức Chúa Trời chiến thắng ngự vào Si-ôn trong vinh quang.  Ngài đã (nguyên văn) ‘bắt làm phu tù những kẻ phu tù’ (so sánh Cac 5:12), tức là Ngài bắt những kẻ đã bắt dân của Ngài làm phu tù.  Loài người, kẻ phản nghịch cũng vậy đều công nhận sự chiến thắng của Đức Chúa Trời bằng cách dâng lễ vật.  Cũng có thể dịch là: ‘ ... lễ vật, tức là người - hơn nữa đó là những người nổi loạn để Đức Chúa Trời ngự giữa vòng họ’, nghĩa là những người nổi loạn mà Đức Chúa Trời đã chinh phục, Ngài làm như vậy để Ngài có thể ngự giữa vòng họ (Xu 29:46  IICo 6:16).  Khi ông Phao-lô dùng câu 18 để chỉ về sự thăng thiên của Chúa Giê-xu  (Eph 4:8) ông cũng gặp luôn ý của câu  19-20 nói về điều tốt lành của Đức Chúa Trời cho dân của Ngài bằng cách sử dụng ý ‘cho lễ vật’.  Gánh (Es 46:1-3).  Nhờ Đức Giê-hô-va mà loài người tránh khỏi sự chết, có lẽ nghĩa là ‘sở hữu lối ra của sự chết’.  Sự chết nghiêm ngặt canh cửa nhốt tù nhân của mình, nhưng dù vậy những cánh cửa đó thuộc về Đức Chúa Trời!  21-23  Tác giả mô tả kết quả của cuộc chiến thắng với phong cách hiện thực đặc thù nhưng chú ý là khi Đức Chúa Trời ‘đạp nát’ kẻ thù và ban cho dân của Ngài chiến lợi phẩm thì mọi việc đều được thực hiện trên cơ sở đạo đức (21-23).  Chúng ta mắc chứng teo liệt về mặt đạo đức, nên chúng ta không có đủ khả thật sự bất bình trong những vấn đề đạo đức.  Là những con người luôn sẵn sàng hoà hoãn trong những vấn đề đạo đức nên chúng ta không nhận thức thế nào là tội lỗi, hoặc thế nào là tội lỗi đối với Đức Chúa Trời, tội lỗi khiến Ngài bất bình ra sao, và thế nào là công bình, dù trước những cảnh báo trả có vẻ hết sức dã man tàn bạo.  Dẫn ... đem.  Hoặc nói về sự việc kẻ thù của Đức Chúa Trời tìm cách thoát thân nhưng không cách nào thoát được nhưng chắc chắn bị bắt, bị tra vấn và trừng phạt, hoặc nói về sự kiện Đức Chúa Trời sẽ đem dân của Ngài trở về dù kẻ thù có truất họ khỏi sản nghiệp của họ.  24-27  Trống cơm (Xu 15:20  Cac 11:34  ISa 18:6-7).  Bên-gia-min..Hai chi phái ở miền nam, hai chi phái ở miền bắc là một lối nói thi vị về toàn thể các chi phái trong dân của Đức Chúa Trời.  28-31  Đám rước đi về hướng Si-ôn rồi đi lên sườn dốc Si-ôn.  Cảnh này gợi cho người trongđám rước lẫn người đứng xem về toàn bộ đoàn lữ hành dài dằng dặc trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên, về ân điển và quyền năng của Đức Chúa Trời.  Giờ đây hội chúng đông đảo cầu nguyện xin Đức Chúa Trời chứng tỏ Ngài vẫn như xưa bằng cách bày tỏ quyền năng (26-28) và ơn thương xót (đền thờ, 29a) khiến cho thế giới quy phục Ngài (29-31).  Thú trong lau sậy ... , Ai Cập trải dài dọc theo sông Nilơ.  Bò đực, tiêu biểu cho quyền lực và quyền lãnh đạo.  Bò con, tiêu biểu cho sự lệ thuộc và phục tòng: tức là vua cùng nhân dân đều như nhau.  Ưa thích sự giặc giã.  Các quốc gia láng giềng của vương quốc Y-sơ-ra-ên non trẻ sẵn sàng chiếm đoạt Y-sơ-ra-ên khỏi tay Đa-vít, nhất là dân Phi-li-tin.  Ở đây đề cập đến họ như vậy là có ý gộp chung các thù địch của Y-sơ-ra-ên lại với nhau, cường quốc (Ai Cập) lẫn tiểu quốc (Phi-li-tin), hiện tại lẫn quá khứ.  Ê-thi-ô-bi là nước xa xăm, phía nam vùng thượng Ai Cập, tiêu biểu cho miền tận cùng của địa cầu.  32-35.  Lời cầu nguyện chuyển thành ca ngợi, vì chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ đáp lời cầu xin.  Vì vậy có thể kêu gọi toàn thế giới tán dương quyền hành tối cao, quyền năng, quyền tể trị của Ngài trên Y-sơ-ra-ên và trên mọi người (33-34), sự thánh khiết đáng sợ của Ngài và sự cư ngụ đầy ưu ái (nơi thánh), Ngài có quyền năng sẵn sàng hành động và Ngài đáng được ca ngợi (35).

72. GIÁ PHẢI TRẢ, MỐI QUAN TÂM VÀ LÒNG TIN KÍNH THẬT TRONG THỰC TẾ. (Thi 69:1-36)

Đa-vít đang chịu đựng một mối hiềm thù có nguy cơ phương hại tính mạng của ông (1-4).  Mối hiềm thù này phỉ báng người tin kính trong xứ (6), phân tán gia đình của ông (8) biến sự hành đạo của ông thành trò cười (10-12), khiến ông lo sợ rằng Đức Chúa Trời đã bỏ ông (17), lòng ông tan nát và không còn một người bạn nào cả (20).  Người ta đồn đãi rằng ông dính líu vào chuyện (tiền bạc?) phi pháp (4) nhưng lý do bí mật là lòng kính sợ tôn kính của ông đối với Đức Chúa Trời (7) và đối với nhà của Ngài - thật vậy, đúng ra là họ đang tấn công vào Đức Chúa Trời (9).  Tác giả viết thi thiên trong khi sự khủng hoảng chưa được tháo gỡ (29).

A1 (1-4) Lời cầu nguyện mô tả sự khủng hoảng có nguy cơ phương hại đến tánh mạng.

B1 (5-12) Thành phần cần được bảo vệ.

A2 (13-18) Lời khẩn nài về bản tánh của Đức Chúa Trời.

B2 (19-29) Thành phần đáng chịu sự báo trả.

A3 (29-36) Lời cầu nguyện chuyển thành lời ca ngợi.

Không có sự cố nào trong đời của Đa-vít khớp với nội dung thi thiên này tuy nhiên đặt thi thiên này trong dòng đời của Đa-vít còn dễ hơn là tìm cách đặt vào dòng đời của một nhân vật khác trong một thời kỳ khác.  Đa-vít chịu trách nhiệm về vô số chương trình (ISu 28:11-21) và kế hoạch tài chánh (Thi 29:2-5) liên hệ đến đền thờ.  Của cải khơi dậy lòng ghen tị và có lẽ thành phần dân chúng cho rằng sự cuồng nhiệt đam mê của vua đối với những dự tính đó đã làm nghèo đất nước và chà đạp lên những nhu cầu của người nghèo.  Thường dễ gán cho người ta tội nhũng nhiễu lạm tiêu tham ô, nhưng lại rất khó cho đối tượng phản bác, cho nên những sự vu cáo loại này có tính cách sát hại nạn nhân như thi thiên này có đề cập đến.  Thi thiên này đuợc trích dẫn nhiều nhất trong Kinh Thánh Tân Ước, trích dẫn nhiều nhất là Chúa Giê-xu: câu 4 trong Gi 15:25 câu 9 trong 2:17 Ro 15:3 câu 21 trong Gi 19:28 so sánh Mat 27:34,48 câu 22 trong Ro 11:9 tiếp theo câu 25 trong Cong 1:20.  Còn những câu khác nữa (12,20) cũng rất khớp với mối ác cảm cuồng nhiệt mà Chúa Giê-xu đã phải gánh chịu (Mat 27:27-31,39-44  Mac 14:50).

(Thi 69:1-4).  Lời cầu nguyện tả sự khủng hoảng nguy phương hại đến tánh mạng  Tác giả dùng hình ảnh chết đuối, lún trong bùn (so sánh Thi 40:3) và nước lụt dâng mạnh cuốn nhanh (2) để ví von mô tả thực tế nghiêm trọng.  Thời gian dài đã qua mà sự đáp ứng cho lời cầu nguyện vẫn chẳng thấy đâu cả nên cổ họng đã khan, mắt đã mỏi (3) trong khi vô số kẻ thù nghịch vô cớ vu khống, nhưng họ có đủ uy thế để bắt ép tác giả phải bồi thường cách vô lý (4).

(Thi 69:5-12)  Thành phần cần được bảo vệ  Các tội lỗi (5) nói về (Le 5:1-19) những trường hợp vi phạm cụ thể cần phải bồi thường cho nạn nhân.  Như vậy câu 5 nhắc lại ý câu 4.  Khi Đức Chúa Trời tra xét Đa-vít Ngài sẽ thấy Đa-vít ngu dại khi đành khuất phục áp lực và bồi thường nhưng Ngài sẽ không tìm thấy nơi ông một tội lỗi nào cả.

Thi 69:6-12  Vì cờ Đa-vít đã xử sự như một người can tội, nên người ta có cơ sở để phê bình chỉ trích tất cả những người sống bởi đức tin và thể hiện niềm tin trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời (6).  Vì dân của Đức Chúa Trời là một khối, một thân thể nên hễ trúng bùn thì không phải chỉ dính vào người mà họ nhắm vào.  Riêng đối với Đa-vít, người trong gia đình không còn yêu thương ông nữa (8) chuyện dễ hiểu trong khung cảnh vừa mô tả ở trên: phải chăng họ nghĩ biết đâu bà con giờ đây giàu có sẽ tỏ lòng ưu ái rộng rãi đối với họ?  Còn những sinh hoạt tin kính chân tình của ông cũng bị họ đem ra chê bai công khai - trong tâm trí những thành phần quan trọng trong xã hội ngày ngày ngồi nơi cổng thành (10-12  Phu 21:19  Ru 4:1) cũng như trong những lời ca bỡn cợt của kẻ say rượu.  Họ làm mọi chuyện một cách vô cớ vì thực sự ông hành động chỉ vì một động lực tin kính thật sự (7a so sánh IISa 6:14-21 người ta hiểu lầm lòng tin kính của Đa-vít), và vì cớ ông hết lòng vì nhà của Đức Chúa Trời (9a).  Nhưng ông cũng biết rằng Đức Chúa Trời dùng để đem ông trở về với Ngài (9b).

(Thi 69:13-18)  Lời cầu nguyện bênh vực cho bản tánh của Đức Chúa Trời  Chú ý là những biểu tượng (nước, cát lún, nước lụt) và sự ghen ghét của người ta lại xuất hiện trong phần này.  Nhưng tiếng cầu cứu lẻ loi trong câu 1 trở thành lời kêu xin dài dòng bắt đầu với ân huệ (chấp thuận), yêu thương (gắn bó, không thay đổi) và sự cứu rỗi chắc chắn (13) và chấm dứt với lòng thương xót nhân từ lớn lao (lòng yêu thương sôi trào nồng nhiệt trong IVua 3:26).  18  Đến gần, (so sánh với sự đến gần của người bà con gần nhất, Le 21:2-3  25:25  Ru 2:20).  Giải cứu, ‘chuộc’, hành động của người bà con gần nhất, nhận về mình tất cả những nhu cầu của người bà con đang bị quẫn bách, xem nhu cầu của họ như là của mình (Le 25:25  Ru 3:12  Es 41:14  43:14, so sánh Thi 19:14).  Chuộc, ‘giá chuộc’, trả số tiền mà người ta đang đòi hỏi nơi người bà con (31:5  55:18).

(Thi 69:19-28)  Thành phần đáng phải chịu sự báo trả  Xem phần Dẫn Nhập, mục Thi Thiên nguyền rủa.  Câu 19-21 ảnh hưởng của kẻ thù.  Câu 23-28 sự hình phạt mà họ đáng phải chịu.  Cũng như hầu hết những lời nguyền rủa khác những lời nguyền rủa này đặt cơ sở trên nguyên tắc nêu trong Phu 19:19, rằng hễ ai vu cáo phải bị xét xử xứng đáng.  Trong bài cầu nguyện này (vì đây là một bài cầu nguyện: tác giả giao phó tất cả cho Đức Chúa Trời mà không có ý nghĩ hoặc tìm cách trả thù cá nhân) tác giả đem trình cho Chúa để Ngài xét xử.  Họ hành động đầy ác ý, dưới hình thức đồ ăn (21): bàn ăn của họ là cái bẫy (22) họ khiến cho thể xác mệt nhoài (3): họ cũng phải chịu khổ như vậy (23) họ gieo ý nghĩ là Đức Chúa Trời đã rút lui từ bỏ (17): họ sẽ từng trải điều đó trong thực tế (24) gia đình của tác giả bị phân tán (8): gia đình của họ sẽ bị phá huỷ (25) họ vu khống cho tác giả (4-5): họ sẽ bị coi là can tội (27) họ tự đặt mình vào thế chống lại Đức Chúa Trời (9): Đức Chúa Trời sẽ chống lại họ đời đời (28).

Đây là lập luận biện hộ cho lẽ phải trong sự xét đoán của Đức Chúa Trời.  Trước khi phê phán nội dung của lời cầu nguyện này cần bảo đảm là chúng ta đã tự đặt mình vào chỗ khốn đốn đau đớn như tác giả.  Chúng ta cũng phải rà lại xem ý thức đạo đức của mình - nhất là ý thức xúc phạm về mặt đạo đức - có đủ sắc bén để phân biệt thế nào là đúng thế nào là sai để biết nên cầu nguyện ra sao.  Chúng ta cũng phải xét xem cầu nguyện như thế có phù hợp với ý của Đấng Cứu Thế hay không, vì nhiều điều trong thi thiên này đưa chúng ta đến đối diện với sự khổ nạn của Ngài và phản ứng của Ngài là cầu nguyện cho người làm khổ Ngài, xin Đức Chúa Trời tha thứ cho họ.  Chắc chắn đây là phương thức duy nhất cho chúng ta hiện nay.  Dầu vậy cần nói thêm điều này: chính Chúa Giê-xu đã phán những lời ‘rủa sả’ (Mat 23:13-36), Ngài tự ví mình với nhân vật có câu nói: ‘Hãy lui ra, hỡi kẻ bị rủa sả’ (25:41), sẽ có ngày mọi người đều phải trốn khỏi cơn thạnh nộ của Chiên Con (Kh 6:15-17), Ngài sẽ có mặt khi các sách được mở ra (Kh 20:12) - và đến ngày đó thì không còn cầu nguyện xin tha thứ, mà chỉ còn áp dụng luật công bằng đời đời của Đức Chúa Trời.  Nói tóm lại, có cơn giận loại trong sạch tinh khiết, và ở đây với cơn giận nơi một người khao khát công lý, Kinh Thánh Cựu Ước phản ánh bản tánh của Chúa Giê-xu trong khía cạnh đó. 28  so sánh Xu 32:32  Da 12:1  Lu 10:20  Phi 4:3  Kh 3:5  13:8  21:27

(Thi 69:29-36)  Cầu nguyện trở thành ca ngợi  Hễ còn đau đớn là còn ca ngợi, theo ý của Đức Chúa Trời, trở thành lời làm chứng đầy tính cách khích lệ, đặt cơ sở trên niềm tin chắc là Đức Chúa Trời sẽ đáp lại lời cầu nguyện và đáng trở nên bài ca của toàn thế giới thọ tạo vì, khi sự khốn cùng qua đi, xứ sẽ được ổn định (35), phục hồi cho những người yêu mến danh Ngài (36).

Chú giải. 31 Sừng và móng.  Coi sừng thì biết tuổi, coi móng (Le 11:3-4) thì biết con thú thuộc loại tinh sạch hay không: nghĩa là tấm lòng biết ơn là của lễ làm vui lòng Đức Chúa Trời hơn là của lễ dâng theo luật lệ qui định. 33 Những kẻ phu tù của Ngài, so sánh câu 26.  Dù ở trong cảnh ngộ nào chúng ta cũng thuộc về Đức Chúa Trời, dù là khi người ta tưởng rằng chúng ta hoàn toàn ở dưới quyền lực của họ.  Những sợi dây xích của chúng ta trở nên dây mơ của Ngài (Eph 4:1  6:20  Phi 1:13).

73. CỨU TÔI VỚI. (Thi 70:1-5)

Thi 70:1-5 trình bày nội dung dài dòng của 69:1-36 dưới dạng một tiếng kêu thảng thốt, cấp bách.  Trong cả hai thi thiên này đều có vấn đề cá nhân bị đe doạ (69:1-4  70:1,2,5), đều có lời cầu nguyện chống lại kẻ tấn công mình (69:22 tiếp theo, 70:2-3) và lời cầu nguyện cho dân của Đức Chúa Trời (69:6  70:4), nhưng nét đặc thù của 70:1-5 là ngắn gọn lời cầu nguyện có dáng dấp lời nói qua điện thoại.  So sánh 70:1-5 với 40:13-17 có nội dung hầu như tương tự, thì ta cũng thấy những điểm đặc thù tương tự.  40:1-17 trình bày sự việc với lời lẽ giọng điệu ôn tồn và từ tốn hơn, còn 70:1-5 thì cứ như thể tình thế cấp bách, cùng quẩn nên tác giả chỉ đủ lời đủ thời gian kêu cứu thất thanh.  Thường có ý kiến cho rằng tác giả phỏng theo 40:1-17 để viết 70:1-5 nhằm dùng làm lời cầu nguyện cho hội chúng, nhưng xem 70:1-5 là bài cầu nguyện cô đọng ngắn gọn cho cá nhân dùng trong những lúc gặp khủng hoảng thì hợp lý hơn.  Vào những lúc đó bị căng thẳng, rối trí, khi mà chúng ta không thể tập trung tư tưởng, khi cảnh cùng quẩn làm chúng ta ăn nói lúng túng, thì một bài cầu nguyện viết sẵn như thế này hoá ra rất đắc dụng.

Chú giải.  2-3  Hổ thẹn ... nhuốc nhơ ... mắc cỡ ... Niềm hi vọng bất thành chuốc lấy hổ nhục trước công chúng. 4 Không phải vui mừng vì kẻ thù bị hổ nhục.  Đây là niềm vui trong Chúa cảm nhận trong suốt cơn khủng hoảng.

74. HẾT SỨC MÌNH CHẠY ĐUA. (Thi 71:1-24)

Sau năm mươi bốn năm phục vụ tại Holy Trinity Cambridge, ông Charles Simeon về hưu vào năm 1836.  Một người bạn của ông biết rằng ông vẫn thức dậy lúc 4 giờ sáng, tự tay nhen lò sưởi và cầu nguyện riêng với Đức Chúa Trời thì trách ông rằng: ‘Ông Simeon à, hưu hạ rồi mà ông không thấy là nên thoải mái đi à’.  Cụ Simeon trả lời: ‘Ủa? Bộ nay nhìn thấy đích tới rồi mà tôi không lo chạy đua hết sức mình à!’  Trong thi thiên này, một ông cụ khác (9,18) cũng chạy đua hết sức mình: ông kinh nghiệm chín chắn trong Chúa (5,6,17), vẫn phải đương đầu với những sự thách thức và áp lực (4,13), nương cậy nơi sự cầu nguyện (1-9,12-13), đầy lòng ca ngợi Chúa (8,14,22-24), giao phó tương lai cho Đức Chúa Trời (19-21) mong mỏi kéo dài sự làm chứng của mình (17-18) - quả là một mẫu người hưu hạ hiên ngang, đáng làm gương cho tất cả mọi người.  Thi thiên này trưng dụng nhiều câu trong các thi thiên khác (1-3  31:1-3,4-6  22:9-10,12  22:11,13  35:26 ... ) nhưng về phương diện chủ đề và bối cảnh thì rất phù hợp với cảnh Đa-vít bị vu cáo và bị tấn công dữ dội, trong khi ông đã già nua, vẫn mãi lo chuẩn bị cho sự xây dựng ngôi đền thờ yêu quí.

(Thi 71:1-3)  Lời cầu nguyện khi trong chỗ an toàn  Tác giả đã nương náu, trú ẩn trong Đức Chúa Trời (1) nhưng vẫn thường xuyên tái lập việc đó (3).  Từ vị trí đó, ông cầu nguyện xin Đức Chúa Trời báo trả (1, hổ thẹn, bị bêu ra trước công chúng như một người gian lận, bị sỉ nhục trước mặt mọi người) và giải cứu (2,4).  2  Công bình.  Chẳng bao giờ có thể trông mong được giải cứu nhờ Đức Chúa Trời thay đổi bản tánh công bình của Ngài (Es 45:21  Ro 3:21-26).  3  Đồn luỹ mô phỏng theo Thi 31:2.  Nguyên văn Hi Bá Lai ở đây là nơi ở / nơi trú ngu - ‘một ngôi nhà trong vầng đá’.  Luôn luôn, (c.6,14), tức là trú ẩn luôn luôn, ca ngợi luôn luôn, trông cậy luôn luôn.

(Thi 71:4-11)  Suốt cuộc đời trong sự chăm sóc của Đức Chúa Trời  Lời cầu nguyện xin giải cứu được củng cố nhờ kinh nghiệm vì Đức Chúa Trời trong quá khứ từ những ngày ấu thơ không còn nhớ nổi, suốt thời niên thiếu thì ý thức đầy đủ về Ngài và được hưởng đầy đủ sự chăm sóc của Ngài (5-6) và đến nay, vào tuổi già lão tác giả càng mong mỏi được giải cứu càng hơn vì sức lực giảm mà sự chống đối thì không (9-10).  5  Chúa là sự trông đợi tôi... là Đấng tôi chờ đợi với niềm hi vọng chắc chắn.  Là sự tin cậy tôi nơi Ngài tôi đặt trọn lòng tin cậy.  6  Nương dựa ‘được Chúa nâng đỡ’.  7  Sự lạ lùng.  Vì cớ người ta vu khống cho ông về vụ việc trong Thi 69:1-70:5 mà nay ông bị xem như là một ‘gương cảnh cáo’ cho mọi người.  Vì vậy cũng như khi đối diện với những kẻ chống nghịch thì ông phản ứng bằng cách nhớ lại Đức Chúa Trời (4-5), nên ông cũng tìm đến Đức Chúa Trời là ‘nơi trú ẩn - quả là một nơi trú ẩn kiên cố!’.  Khi ông phải đối phó với sự mất mát tiếng tăm và thể diện.  Như vậy chuyện có khả năng dẫn đến tình trạng xuống tinh thần trầm trọng lại kết thúc trong sự ca ngợi (8).  10-11  69:3 cho biết Đức Chúa Trời im hơi lặng tiếng trong thời gian thử thách khá dài đến nỗi ngay cả Đa-vít cũng phải thấp thỏm tự hỏi phải chăng Đức Chúa Trời đã quay mặt bỏ rơi ông đi rồi (69:17).  Kẻ thù của ông nhanh chóng vin vào tình trạng này, nhưng . . .

(Thi 71:12-16)  Cầu nguyện (12-13, xin Đức Chúa Trời ở gần và kẻ thù bị tiêu diệt), nương dựa trên sự tin cậy (14a) sự ca ngợi tuôn tràn vô kể (14b-15) và kết thúc với lòng tin tưởng vững vàng.  Không phải chúng ta luôn luôn có ý muốn và năng lực để dễ dàng tìm kiếm Đức Chúa Trời trong những thời gian mà chúng ta cần đến Ngài hơn hết (10-11).  Điểm đặc thù của thi thiên này là khăng khăng tìm kiếm Đức Chúa Trời khi đối diện với sự ngăm đe doạ nạt (4-5,7-8,9-12).  12  Mau mau (70:1,5).  13  Hổ thẹn... sỉ nhục... nhuốc nhơ.  Đồng nghĩa với sự mất danh tiếng, thất vọng, ‘gặt hái hổ nhục’.  Trước những mối nguy hiểm đe doạ đến bản thân mà vẫn có thể cầu nguyện hăng hái mãnh liệt cho Chúa được vinh danh (69:9) là điều chúng ta còn phải học tập.  15-16  Trong suốt những lúc bị vu khống và bị tấn công, Đa-vít không tự biện hộ - không tự minh giải về một điều gì trước công chúng.  Ông chỉ lo nói về Đức Chúa Trời và về Ngài mà thôi - về sự công bình của Ngài, (bản tánh hoàn hảo, hành động bảo đảm, không biến đổi), sự cứu rỗi (có quyền năng và sẵn lòng giải cứu), có những việc làm đầy oai phong (có năng lực chiến thắng).

(Thi 71:17-21)  Lời làm chứng trọn một đời người và lòng mong mỏi cuộc đời được dài hơn.  Lòng nhân từ của Đức Chúa Trời đã kinh nghiệm ‘từ buổi thơ ấu ... đến già lão’ của câu 4-11, giờ đây chuyển thành lời chia sẻ về trọn một cuộc đời, trước tiên là về những điều Chúa đã dạy (17), lẽ thật của Đức Chúa Trời đã được khải thị, rồi đến những việc làm của Ngài, những việc cứu rỗi của Ngài trong quá khứ (17), rồi đến (18, nghĩa đen) ‘cánh tay của Chúa’, quyền hạn của Ngài trong từng đời sống của người thuộc về Ngài.  19-21 ghi lại những điều tác giả muốn chia sẻ về Ngài trong tương lai: bản tính, những việc làm trong quá khứ, bản thể độc nhất vô nhị của Ngài (19  Xu 15:11  Mi 7:18-20), những sự dẫn dắt lạ lùng, những mục tiêu bảo đảm của Ngài (20) và những sự đền bù tưởng thưởng (21). 

(Thi 71:22-24)  Lời ca ngợi phản hồi  Thi thiên này mở đầu với lời cầu nguyện (1-3) lời cầu nguyện hoà nhập, quyện với lời ca ngợi trong câu 12-16.  Giờ đây chỉ còn vang lên lời ca ngợi, ca ngợi về sự thành tín, sự thánh khiết, sự cứu chuộc, những việc làm công nghĩa (nghĩa đen ‘sự công nghĩa’ xem 2,15) và sự đáp lời cầu nguyện của Ngài (22-24, so sánh 13).  Với mục ca ngợi này Đa-vít vận dụng tay để gảy đàn, môi miệng để hát và nói.  22  Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.  Ngoại trừ sách Ê-sai dùng danh xưng này đến bốn mươi lần các sách khác ít khi dùng.  Danh xưng này gói ghém hai ý: Đức Chúa Trời thánh khiết, và Đức Chúa Trời hoà đồng với dân của mình.  Ngài đến với chúng ta với đầy đủ bản tính thiên thượng nhưng chiếu cố đến và nhận chúng ta thuộc về Ngài và cho phép chúng ta xưng rằng Ngài thuộc về chúng ta.

75. “VUI MỪNG KHÔN TẢ ĐƯỢC THẤY VUA LÊN NGÔI CAI TRỊ. (Thi 72:1-20)

Chỉ Thi 127:1-5 và thi thiên này có tiêu đề nói về Sa-lô-môn.  Có thể cả hai đều là thi thiên dành cho lễ tức vị: ‘Thơ làm cho Sa-lô-môn’ - ở đây là một ‘bài cầu nguyện của Đa-vít’ (20) dành cho con trai của mình.  Nhưng lời thơ khớp với thời kỳ và tư tưởng của Sa-lô-môn, còn tiêu đề cũng gán cho Sa-lô-môn là tác giả của thi thiên.  Ngoài những lời thơ khác của Đa-vít, Sa-lô-môn vẫn có thể cầu nguyện cho chính mình với tư cách là một vương tử (c.1, nói nôm na là ‘con trai của vua’) trong thực tế đúng là vua các nước có đến tỏ lòng tôn trọng kính phục Sa-lô-môn (10, IVua 10:1-13) và của cải của các nước được đưa đến Giê-ru-sa-lem (15,  IVua 10:22).  Sa-lô-môn là vua trong một thời kỳ hoà bình và phồn thịnh nên có thể miễn lỗi cho ông nếu ông xem vương quốc của mình là trái đầu mùa của một thế giới do Đấng Mê-si cai trị.  Nội dung bài ông cầu nguyện ở Ga-ba-ôn  (IVua 3:6-9) rất hoà hợp với những lý tưởng của một vị vua trong thi thiên này.  Dầu vậy ý tưởng của thi thiên này vươn xa hơn thành quả và thực tế của bất cứ triều vua nào trong nhân loại.  Bài thơ này có thể nhắc Sa-lô-môn về sự kêu gọi mà Đức Chúa Trời đã dành cho ông nhưng chỉ có Đấng Mê-si mới có thể làm trọn ơn kêu gọi đó.  Thi thiên được xây dựng chặt chẽ với bốn khổ thơ:

A1 (c.1-5) Vị vua đầy lòng quan tâm.

B1 (c.6-8) Vị vua cầm quyền trên toàn cầu.

A2 (c.11-14) Vị vua đầy lòng quan tâm.

B2 (c.15-17) Phước hạnh cho toàn cầu.

(Thi 72:1-5)  Phước hạnh hệ quả: vị vua làm trung gian  Những đức tính mà Đức Chúa Trời ban cho vua đưa đến hệ quả là vua cai trị công bình đức độ đầy lòng quan tâm đến nỗi chính thế giới thọ tạo cũng sẽ tuôn đổ phước lành cho quốc gia dân tộc.  Thời trị vì của vua sẽ giải phóng dân tộc và ngược lại dân tộc sẽ (5, nghĩa đen) ‘kính sợ vua trải qua các thế hệ’.  1  Công lý của Chúa ... công bình của Ngài, thực hiện đúng theo những nguyên tắc cai trị công bình chính trực. 2  Kẻ khốn cùng, bị chà đạp và hạ nhục.  3  So sánh Sa 3:17-19 và so sánh Am 9:13.  Khi đã xử lý và loại trừ thì thế giới thọ tạo cũng được đổi mới và vội vã tuôn phúc lợi ra cho nhân dân.  Bình an, sự thư thái hoàn toàn - hoà thuận với Đức Chúa Trời, với xã hội và với chính bản chất con người trong mình.  4  Người thiếu thốn, bị bóc lột.

(Thi 72:6-10)  Ảnh hưởng lan rộng: vua các vua khác  Sự trị vì đầy ưu ái và phúc lợi có sự công bình hoà hợp với tưởng thưởng, chan hoà trong không khí an ổn hoà bình (6,7), sẽ thu hút thế giới (8-10, so sánh Es 2:2-4).  6  Mưa trên cỏ mới phát, một lối nói bóng gió về hương đồng nội (IICo 2:14-16). 7  Công bình ... hưng thạnh.  Tình trạng xã hội cho phép dễ dàng thể hiện nếp sống công nghĩa (so sánh Am 5:13) và người ta sẽ thấy rõ sự công nghĩa để đối với sự tưởng thưởng (so sánh Thi 73:12-13).  9-10  Lần lượt đề cập đến thành phần kháng cự quyền hành (người ở đồng vắng), thành phần chống đối (kẻ thù) và thành phần ở vùng xa xăm: tất cả đều thần phục.  Tạt-sơ ... bờ biển dính dáng đến những cuộc hải trình dài đăng đẳng Sê-ba ... Sê-ba, có lẽ là vùng cực nam của Ả Rập, một vùng khó đi đến bờ đường bộ.  Tác giả viết về những cuộc hành trình trên biển đối ứng với những cuộc hành trình nhằm bao gồm toàn cầu.

(Thi 72:11-14)  Thời trị hấp lực  Câu 12 (vì) cho biết bản chất cai trị là nguyên nhân khiến các quốc gia trên thế giới đều đến viếng thăm tỏ ý thán phục (11). Tác giả dùng mưa để nói bóng về quyền cai trị có khả năng giải phóng, có quan tâm chăm sóc người cô thế, đồng lòng nhân ái, cứu rỗi và cứu chuộc (6).  12  Người thiếu thốn  ... người khốn cùng, xem câu 4 và câu 2.  Kêu cầu, so sánh Xu 2:24.  14  Chuộc, người bà con gần nhất coi những nhu cầu của họ như thể của chính mình (Thi 69:18).

(Thi 72:15-17)  Cầu nguyện cho vua  Tiếp theo sau phần mô tả về sự cai trị của vua và những phúc lợi vua đem đến cho nhân dân, đương nhiên là đến phần cầu nguyện xin cho những điều đó được thành tựu.  Lời cầu nguyện chuyển động theo hướng lan xa: từ vua đến dân, đến thế giới thọ tạo đang sung mãn, gia tăng dồi dào, rồi đến toàn cầu.  Tinh thần mong đợi một vị vua trong tương lai dù đã có vua tại ngôi được biểu thị rất rõ trong thi thiên này.  Khi có một vị vua ngự trị trên ngai lòng của nhân dân thì kết quả đương nhiên là họ cầu nguyện cho vua (15) những người nhìn vào tương lai với tinh thần trông mong ngóng đợi sẽ cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-xu, xin mau đến.  A-men.  (Kh 22:20). 

(Thi 72:18-20)  là phần kết của phần thứ hai của bộ thi thiên do chủ biên viết, so sánh Thi 41:13.

76. “TRONG CHÚA CHẲNG CÓ LUỐNG CÔNG VÔ ÍCH ĐÂU”. (Thi 73:1-28)

Chúng ta ‘tin Đức Chúa Trời toàn năng là Cha’ nhưng lắm khi kinh nghiệm của chúng ta lẫn kinh nghiệm của người khác khiến chúng ta phải thắc mắc về sự toàn năng của Ngài, (vì những năng lực khác dường như đang nắm quyền hạn) về sự kiện Ngài là Cha (vì trong cuộc sống trên thế giới này có nhiều chuyện khiến người ta phải bỏ ý tưởng về một Đức Chúa Trời đầy lòng yêu thương) và, đối với nhiều người, về sự hiện hữu của Ngài: ‘Nếu thực sự có một Đức Chúa Trời thì làm sao mà... ?’  Thi Thiên là một sách đặc biệt trực diện, chớ không phải trốn tránh, với cuộc sống.  Phần thứ I mở đầu với lời xác tín (1:3) về sự thạnh vượng của người tin kính phần thứ II mở đầu (42:3,5,9-10) với lời ghi nhận là cuộc sống trong thực tế những việc đức hạnh đạo đức không dẫn đến tưởng thưởng cách suông sẻ đương nhiên, còn cuộc sống của những người tin kính không phải lúc nào cũng đồng đều dễ thở  Phần thứ III mở đầu với câu hỏi thẳng thừng: có đáng sống đạo đức không hay chỉ tốn công sức và thời gian cách vô ích (13)?  Trong khi bao nhiêu người khác hưởng thụ vui thú (4,5) còn chúng ta lãnh đủ mọi chuyện gian khổ (14) tại sao không bỏ cuộc mà theo đa số đang nhởn nhơ vui sướng (10)?  A-sáp cho chúng ta một thi thiên đặc biệt có cái nhìn thực tế đối với cuộc sống, có những lời khuyên thực tiễn đối với những hoàn cảnh khắc nghiệt, và có sức gây phấn khởi nhờ vạch ra một tầm nhìn khác.  Thật ra A-sáp trả lời cho chính lời than vãn đầy tuyệt vọng của mình: ‘Quả là luống công’ (13) bằng lời xác quyết dứt khoát của Phao-lô: ‘trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu ... ‘ (ICo 15:58).  Thi thiên triển khai đề tài này cách trôi chảy, khúc chiết.

A1 (c.1) Xác định lẽ thật: Đức Chúa Trời là Đấng nhân từ.

B1 (c.2-14) Tôi khốn khổ quá!

C (c.15-20) Tầm nhìn mới.

B2 (c.21-26) Tôi sung sướng quá!

A2 (c.27-28) Lẽ thật được xác chứng: đúng vậy Đức Chúa Trời là Đấng nhân từ!

(Thi 73:1-14)  Bất bình về lẽ thật  Câu 1, 13 dùng hai từ thật nên coi như hai ngoặc đơn cùng tóm tắt ý của phân đoạn thứ nhất.  Kinh nghiệm thực tế không khớp với lẽ thật (2-14).  Lẽ thật dạy rằng Đức Chúa Trời nhân từ đối với dân của Ngài nhưng rõ ràng họ đang chịu khổ (14) còn kẻ ác lại hưng vượng (3-5).  Xung đột nảy sinh từ đó.  Ở đây không bàn về lòng quảng đại đối với nhân loại cách tổng quát chung chung (Thi 145:9) nhưng bàn về những phước lành mà Đức Chúa Trời đã thế hứa cho dân của Ngài bởi lòng nhân từ của Ngài, căn cứ trên những điều kiện là tin cậy và tin kính (34:8,9), cầu nguyện (86:5,6  107:6-9) và tấm lòng trong sạch (1).  Thế nhưng khi hết lòng đeo đuổi một nếp sống đạo đức, nỗ lực duy trì tâm hồn trong sạch (13a) thể hiện hành vi trong sạch (13b) tác giả chỉ chuốc lấy tai ương và sự hình phạt (14).  Trong khi đó, kẻ kiêu ngạo (3, là những người vô tâm, không nghĩ đến ai cả) và những kẻ gian ác vui hưởng sự thạnh vượng, một cuộc đời thoải mái thanh nhàn.  Đương nhiên, sự thể này nhen nhúm trong lòng tác giả ý phân bì, ghen tị.  Tác giả nhìn thấy họ qua đời cách thanh thản (4), cũng không mắc những chứng bệnh chết người.  Họ đặc biệt được hưởng một cuộc đời không mảy may rắc rối, vướng bận (5).  Họ sinh ra tự cao tự thị, và bóc lột tàn bạo (hung bạo, 6) khi xử sự với người khác.  Họ chuyên lo tìm cách thoả mãn chính mình và không từ, không loại trừ một thú vui nào cả (7).  Miệng lưỡi của họ (trong Kinh Thánh, lưỡi luôn luôn là thước đo tâm tánh của con người) tố cáo ý thức của họ về giá trị của bản thân, họ tự cho mình có quyền lỏng lẻo đối với những giá trị đạo đức (8a, nhạo báng, gian tà), tự cho mình là người nắm quyền hành tối cao có quyền sắp xếp mọi việc trên trời lẫn dưới đất (9).  Họ thu hút được nhiều người ủng hộ là những người bằng lòng leo lên cỗ xe đầy ắp của cải (10), cho dù làm điều đó còn đòi hỏi họ phải chủ trương theo một hệ thống thần đạo chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời trong thực tại (11).  Mặc dù người ta có phê bình chỉ trích kẻ gian ác cũng mạnh mẽ quyết liệt đến mấy, xem chừng họ vẫn hưởng một cuộc đời thong dong an lạc và càng ngày càng giàu hơn (12).

(Thi 73:15-20)  Tầm nhìn mới  Từ mớ ngổn ngang như tơ vò về sự bất công trong cuộc đời trên phương diện đạo đức nổi bật ba nguyên tắc đầy ý nghĩa: (i) Trong mọi trường hợp hãy trung thành với dân của Đức Chúa Trời và bảo vệ quyền hạn của họ (15). (ii) Nên thờ phượng Đức Chúa Trời.  Vì A-sáp không thể chia sẻ vấn nạn của mình với người khác mà không gây bấn loạn cho con cái của Đức Chúa Trời (15), nên ông phải âm thầm đơn độc tìm cách lý giải nhưng ông cảm thấy vấn nạn quá nặng nề cho ông (16).  Thế rồi, dường như ông nhận ra rằng nào có ai biết ông phải đơn độc vật lộn với vấn nạn, ông quyết định thờ phượng Đức Chúa Trời (17a) - Đức Chúa Trời hứa rằng Ngài ngự tại nơi thánh và đó là nơi tác giả luôn có thể tìm gặp Ngài.  (iii)  Hãy xét trên phương diện đời đời.  Số phận tận chung của kẻ ác là rất bấp bênh (17-18) họ sẽ khám phá ra rằng họ đã lầm to (hư nát, 18), chẳng những bị huỷ diệt mà còn kinh hoảng (19) và tai hoạ nghiêm trọng hơn hết là đối với mức định giá của Đức Chúa Trời, họ chẳng có giá trị gì cả (20).

(Thi 73:21-28)  Lẽ thật được xác chứng  Hai phần cuối kết thúc thi thiên này không dài bằng nhau, và nằm trong khung ngoặc đơn rõ ràng: một con người tự biết mình ngu muội, chẳng hiểu biết gì cả và như một con thú hoang trước mặt Đức Chúa Trời (21,22) nhận thức rằng đến gần Đức Chúa Trời là tốt, nương dựa vào Ngài làm nơi trú ẩn là tốt (27,28).  Dù buồn phiền cứ ngổn ngang nhưng ông vẫn là một người giàu sụ: ông có Đức Chúa Trời: có một hiện tại vững chãi (23), có một tương lai chắc chắn (24a) và một cõi đời đời (24b), một gia tài ở trên trần gian và ở thiên đàng (25), một năng lực và một sản nghiệp kéo dài hơn cả thời gian sống trên đất (26), một lòng nhân từ và một nơi trú ẩn không dành cho những người bị huỷ diệt bởi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (27-28), và đối lập với sự im lặng trong câu 15 thì tác giả có thể thuật lại những công việc làm của Đức Chúa Trời (28).  21,22  Diễn ý: ‘Khi tôi cay đắng suy tư phải trái tình cảm tan nát, tôi phản ứng như thể chưa hiểu biết gì về phần thuộc linh và còn tối tăm - cứ như thể một con thú trước mặt Ngài mà thôi!’ (so sánh Thi 49:12,20).  23,24  Giàu trên bốn phương diện được bình an với Đức Chúa Trời (Tôi ... ở cùng Chúa) có Chúa giữ chặt chẽ (Chúa nắm tay hữu tôi) có chương trình của Chúa đối với tương lai (‘dẫn dắt tôi’) và rồi có sự vinh hiển ở đời sau.  Dòng ý tưởng trong câu 23,24a đương nhiên dẫn đến 24b là về sau, sau cuộc đời này.  Nhưng từ sau này cũng dùng đối lập với số phận cuối cùng, chung cuộc (17).  Ý tưởng này dẫn vào câu 25,26 nhấn mạnh thiên đàng (trên trời) và phần dành cho tác giả dù rằng bề ngoài (thịt) và nội tâm, bề trong (lòng) của tác giả ở trần gian này (nghĩa đen) tận chung rồi.  26  Phần.  Sự trông mong của A-sáp người Lê-vi được thành tựu cho ông (ISu 24:30-25:1) trong Gios 13:14,33  18:7

77. TIẾNG KÊU TRONG ĐÊM TỐI. (Thi 74:1-23)

Thi thiên này làm sống lại biến cố trong năm 587T.C. và IICác Vua 24-25 như trong một cơn ác mộng.  Tác giả thấy lại đền thờ ở Giê-ru-sa-lem trong tình trạng hoang tàn (3), nghe lại tiếng hò hét của quân thù ở nơi xưa kia ông nghe lời của Đức Chúa Trời (4) và nhìn thấy lại những vũ khí tàn phá (5).  Có đôi chi tiết hết sức xót xa (nghĩa đen): và giờ đây đến lượt toàn bộ lớp gỗ ốp chạm trổ - họ vung búa vung rìu lên đập phá’ (6) cứ như thể tác giả theo chân quân thù đang đập phá, lặng lẽ nài nỉ: ‘Xin đừng phá đồ chạm trổ, đừng, đừng phá đồ chạm trổ!’ Dường như từ thuở đó đến nay những việc này vẫn luôn luôn xảy ra (1,10) dầu vậy không có dấu hiệu nào cho thấy cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời sắp ngớt (1), Đức Chúa Trời chẳng phán một lời nào (9), chẳng có dấu hiệu nào cho thấy Đức Chúa Trời sắp hành động vì dân của mình, hoặc nhớ lại những lời hứa của mình, hoặc vùng lên bảo vệ danh của mình (19-22).

Ngòi bút điêu luyện của tác giả đã đưa vào bài thơ ‘giây phút dài đằng đẳng khi Chúa lặng thinh còn gió thì gào thét’!  Thật vậy ‘thời kỳ tăm tối vẫn bao trùm trên chúng ta’ thi thiên bảo đảm với chúng ta rằng tình cảnh này chẳng mới lạ gì, nhưng vẫn luôn luôn là kinh nghiệm của dân của Đức Chúa Trời xưa nay, và cũng là kinh nghiệm của chính Chúa Giê-xu (Mac 15:33-34), thi thiên này cũng chẳng khác gì một cây trụ để chúng ta neo thuyền của chúng ta vào đó phòng khi dâng thuỷ triều dạng này cuốn trôi chúng ta.  (i)  Tác giả gói ghém toàn bộ thời kỳ tối tăm trong lời cầu nguyện xin Đức Chúa Trời nhớ lại chúng tôi trong tình cảnh quẫn bách quá lâu ngày (1,2) và xin Ngài cũng nhớ rằng uy danh của chính Ngài đang bị lung lay (22,23).  (ii)  Tác giả nhắc lại đầy đủ chi tiết về nguyên nhân dẫn đến thời kỳ tăm tối (3-11): Thi thiên không khuyên: ‘Quên đi! Đừng nghĩ tới chuyện khốn khổ đó nữa!’ nhưng khuyên rằng: ‘Hãy nài xin Đức Chúa Trời đi vào chốn tăm tối đó với chúng ta’ (3), hãy cùng Ngài đối phó với bóng tối tăm.  (iii)  Kêu nài danh của Đức Chúa Trời (18-21): thoạt tiên Ngài chọn chúng ta vì danh của Ngài rồi giờ đây chắc chắn là chúng ta có thể khẩn nài về những nhu cầu của mình (2, xin nhớ lại dân của Ngài) chúng ta có thể tiến thẳng vào trọng tâm của vấn nạn với lời van nài: xin nhớ đến danh của Ngài (18).  (iv)  Tập trung mọi việc vào sự thật về Đức Chúa Trời là Ngài và Ngài là Đấng ra sao (12-17).  Trọng tâm của thi thiên là đây.

A1 (c.1-2) Cầu nguyện về vấn đề: dân sự của Ngài bị bỏ rơi.

B1 (c.3-11) Cầu nguyện về vấn đề: quân thù đang tàn phá.

C (c.12-17) Vua, Đấng Giải Cứu, Đấng Toàn Thắng, Đấng Sáng Tạo.

B2 (c.18-21) Cầu nguyện về vấn đề: chính nghĩa của Ngài bị coi thường.

A2 (c.22-23) Cầu nguyện về vấn đề: lý do dân sự của Ngài bị bỏ rơi.

Lời cầu nguyện bao vây và tràn ngập bóng tối tăm, rồi ánh sáng về lẽ thật của Đức Chúa Trời chiếu xuyên vào giữa vùng tối tăm.

(Thi 74:1-2).  Cầu nguyện về vấn đề: dân sự của Ngài bị bỏ rơi  Những câu này duyệt lại toàn bộ lịch sử của dân sự của Đức Chúa Trời và ghi một dấu hỏi sâu sắc bên cạnh mỗi biến cố có tầm cỡ quan trọng: bỏ, địa vị căn bản của họ là dân ‘được chọn’ trong giao ước với Áp-ra-ham bị đe doạ (Sa 18:19), mua chuộc ... cứu chuộc nhắc lại cuộc giải phóng qua cuộc xuất hành (IISa 7:23), bầy chiên nhắc lại thời gian họ ở lại sa mạc trong sự chăm sóc dẫn dắt của Ngài (Thi 77:20 so sánh Es 63:11), chi phái ... Si-ôn dấu ghi họ là dân của đất hứa có Đức Chúa Trời ngự giữa vòng họ.  Nhưng trong bóng tối tăm dường như những dấu chứng này chẳng có giá trị gì cả!

(Thi 74:3-11).  Quân thù phá huỷ nơi thánh  8  Khi Giê-ru-sa-lem thất thủ người ta chẳng thờ phượng Đức Chúa Trời ở một nơi nào khác.  Có lẽ ở đây nói về chính đền thờ, từ số nhiều ‘các nhà hội’ nhằm diễn tả sự nguy nga đồ sộ.  Nhưng trong nguyên ngữ từ này không những chỉ về nơi chốn gặp Đức Chúa Trời mà quan trọng hơn là còn chỉ về sự kiện gặp Ngài, tức là khi ông ta đốt phá đền thờ là ‘dùng lửa phá huỷ mọi cơ hội gặp Đức Chúa Trời (mọi dịp lễ hội, dâng của lễ)... ‘  9  (nghĩa đen) ‘Chúng tôi không thấy dấu hiệu của chúng tôi’ - tức là những giờ thờ phượng trong ngày theo thời khoá biểu, những lễ hội trong năm tuần tự trở lại theo lịch trình, những nhân vật quan trọng, v.v...  là những dấu chi tiết nhắc nhở họ về Đức Chúa Trời.

(Thi 74:12-17).  Vua, Đấng Giải Cứu, Đấng Toàn Thắng, Đấng Sáng Tạo  Ở đây dùng đại danh từ Ngài (Chúa) đến bảy lần trong thể nhấn mạnh (13,14,15,16,17).  Bốn lần đầu xác định quyền hạn của Đức Chúa Trời trên mọi thế lực chống lại Ngài ba lần cuối xác định rằng Ngài là Đấng áp đặt luật lệ trên thế giới.  Đây chính là những lẽ thật mà tác giả thấy là không phù hợp với thực tế của mình, vì ông thấy kẻ thù đắc thắng và chính thế lực của đời này đang gây rối loạn kinh khủng trên thế giới này!  Dầu sao việc đáng làm là thách thức kinh nghiệm bằng lẽ thật, đứng trong bóng tối tăm mà vẫn tuyên xưng niềm tin.

Chuyện thần thoại đa thần giáo cho rằng đại dương thế lực chống lại thần sáng tạo và các thần chống lại thần sáng tạo cư ngụ trong đại dương đó là con quái vật và Lê-vi-a-than.  Người ta tin rằng Ma-đốc, thần sáng tạo của dân Ba-by-lôn đã chiến thắng các thế lực tối tăm này rồi mới rộng chỗ sáng tạo vũ trụ.  Nhưng thần Ma-đốc chỉ có tiếng mà không có miếng, có tiếng là sáng tạo mà thực tế thì không, còn những việc làm của Đức Chúa Trời thì thật sự có xảy ra trong lịch sử như khi Ngài tách Biển Đỏ ra, xẻ một con đường khô ráo xuyên qua dòng nước cho dân sự của Ngài, và khiến quân Ai Cập chết đuối làm mồi cho cá (14, Exe 14:1-15:8).

(Thi 74:18-23)  Cầu nguyệnXin đừng giận  20  Các nơi tối tăm có thể là những nơi trú ẩn của dân chúng khi họ chạy trốn khỏi quân Ba-by-lôn vẫn lần tìm tới những nơi đó mà sát hại họ hoặc giả đây là những nơi họ bị đày tới sau khi rời khỏi Giê-ru-sa-lem.  22,23  Tác giả nhắc nhở Đức Chúa Trời rằng người ta đang chế nhạo danh của Ngài, và sỉ nhục chính mình Ngài (18) và thôi thúc Ngài hãy đứng ra đối phó.

78. “PHÁN QUYẾT VÀ XÉT XỬ TỐI CAO TRÊN ĐẤT”.(Thi 75:1-10)

Trong câu 1 chúng ta gặp một cộng đồng đầy lòng biết ơn.  Bằng những việc làm lạ lùng Đức Chúa Trời đã chứng tỏ Ngài là Đấng mà danh của Ngài đã khải thị, là Đấng ở gần (Thi 34:18), là người bà con gần nhất gánh vác trách nhiệm đáp ứng những nhu cầu của dân sự của Ngài.  Rồi, có lẽ qua một vị tiên tri (so sánh IISu 20:13-17), lời của Đức Chúa Trời đến với họ, giải thích cho họ hiểu ý nghĩa của những điều họ từng trải.  2-5  Giọng nói từ Đức Chúa Trời: khi mọi chuyện có vẻ bất định tiếng nói đó vẫn là cơ sở vững chãi (3), đặc biệt có lời khiển trách kẻ ác trong cuộc đấu tranh giành quyền hành (4,5).  6-8  Giọng nói nói về Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng từ thiên đàng quyết định ai là người cầm quyền, định đoạt số phận và khiến cho kẻ ác sống trọn số phận đã định cho họ.  9-10  Cuối cùng một giọng nói khác vang lên, nội dung tương tự như nội dung của Thi 101:8 nên có lẽ đây là tiếng nói của một vị vua lên tiếng ca ngợi Đức Chúa Trời (9) và cam kết sẽ xây dựng một xã hội đạo đức lành mạnh (10).

Như vậy thi thiên này miêu tả bối cảnh nào?  Phải chăng chuyện Đa-vít khôi phục ngai vàng sau khi dẹp tan được vụ nổi loạn của Áp-sa-lôm (IISa 15:1-19:43)?  Phải chăng chuyện của vua Ê-xê-chia và nhân dân kinh ngạc trầm trồ khi chứng kiến Đức Chúa Trời dẹp tan quân đội của San-chê-ríp (IIVua 18:1-19:36)?  Chúng ta không dám xác quyết, nhưng chúng ta không căn cứ vào sự việc thi thiên miêu tả hoặc bối cảnh đã hình thành thi thiên mà hiểu một lẽ thật trọng đại: những biến cố kinh thiên động địa không thể rung chuyển được bàn tay đang giữ địa cầu trong vị trí của nó (3).  ‘Đức Chúa Trời vẫn ngự trên ngai’.  Dù kẻ ác có vẻ thắng thế đến đâu, tiếng của Đức Chúa Trời vẫn vang dội chống nghịch họ (4,5) và chắc chắn họ sẽ sụp đổ (8).  Họ không thuộc về Đức Chúa Trời nên kết cuộc họ chẳng là gì cả (Cong 5:38).  Cần dâng lời ca ngợi để đáp lại những việc lạ lùng của Đức Chúa Trời (1) cam kết sống trên trần gian thể hiện (10) những giá trị cao đẹp mà Ngài đã đề xướng (4,5).

Chú giải. 2 Đoán xét (c.7 nữa) ý căn bản là ‘chỉnh đốn mọi việc cho đúng đắn’. 4 Sừng, tiêu biểu cho sức mạnh áp đảo. 5 Cứng cổ, sừng sộ đưa mặt tới trước. 6 Xem thêm Ro 13:1. 8 Chén (Thi 60:3 so sánh Es 51:17Gi 18:11).

79. “SƯ TỬ THẮNG RỒI”. (Thi 76:1-12  Kh 5:5)

(Thi 76:1-12)  triển khai những công việc lạ lùng trong Thi 75:1.  Cả hai thi thiên đều gần gũi với IIVua 18:1-19:36.  Dù chúng ta không thể chứng minh tác giả đã sáng tác thi thiên này vào dịp quân đội A-si-ri rút lui tán loạn nhưng chắc chắn là cũng nhân một cuộc chiến thắng tương tự của Đức Chúa Trời.  Từ trại (2) gói ghém chủ đề ‘Sư tử’ vì ngôn ngữ Hi Bá Lai luôn luôn dùng từ này mỗi khi nói về hang sư tử (Thi 10:9  Gie 25:38).  Biểu tượng này phù hợp với diễn tiến trong thi thiên và phản ánh sự thành tựu chung cuộc trong Khải Thị 5 của Sư tử - Chiên Con.

(Thi 76:1-3).  Hang tử  Bằng cách nhấn mạnh và lặp đi lặp lại nơi chốn, (trong Giu-đa ... tại Y-sơ-ra-ên ... ở Sa-lem ... tại Si-ôn) tác giả cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính mình Ngài qua sự đắc thắng, bất kể lực lượng quân sự hùng hậu của kẻ thù (3, mũi tên ... khiên ... gươm) Đức Chúa Trời hạ cố ngự giữa dân sự của Ngài nhưng lại có quyền lực áp đảo lạ lùng trên mọi năng lực của kẻ thù.

(Thi 76:4-10).  Sự đắc thắng của tử  Câu 4 đề cập đến núi có nhiều thú rừng (nghĩa đen, ‘núi có nhiều mồi’) tiếp tục triển khai chủ đề sư tử.  Tạm chấp nhận cách dịch Chúa rực rỡ oai vinh hơn, nhưng đúng ra ý của câu này là: ‘Chúa rực rỡ oai vinh khi Ngài trở về từ núi có lắm mồi’.  Con sư tử ra đi săn mồi xong trở về hang bộ dạng oai vệ, hùng dũng, có ưu thế hoàn toàn.  Sự đắc thắng này có hai mặt: (i) ‘Đắc thắng trên’ (5-7), (so sánh IIVua 19:35  Es 30:31  31:4).  Con người dũng mãnh, tài nghệ điêu luyện, đầy đủ mọi nguồn tài lực về mặt quân sự đành khuất phục trước tiếng phán của Đức Chúa Trời (5-6).  Ngài không cần dùng đến năng lực nào ở bên ngoài vì chẳng ai có thể đứng vững mà đối diện với Ngài (7).  (ii) ‘Đắc thắng vì’ (8-10).  Xứ sở náo loạn, bị quân thù chiếm đóng, hốt hoảng vì cuộc xâm lăng nhưng khi Đức Chúa Trời phán mọi sự trở nên tĩnh lặng (8).  Ngài can thiệp để cứu tất cả những người hoạn nạn trên đất (bị chà đạp) (9).  Nhờ đó (bởi lời phán của Ngài mà thôi) cơn giận của loài người biến thành sự ca ngợi Ngài và những sự chống nghịch nào còn sót lại đều đành khuất phục trong quyền lực thống trị của Ngài (10).

(Thi 76:11,12)  Quyền lợi phải lẽ cho tử  Như vậy chúng ta phải cống hiến gì cho Đức Chúa Trời là Đấng đã triệt hạ mọi thế lực vốn chống nghịch chúng ta (3,5-6)?  Vì trong phần kết thi thiên kêu gọi (không phải hết thảy các nước lân bang, 11 mà) hết thảy những người ở chung quanh Ngài, - tức là dân của Ngài, hãy vui mừng về sự hiện diện của Ngài, hưởng những lợi ích của sự đắc thắng của Ngài.  Chúng ta hưởng ứng bằng cách cam kết trung thành và sống thể hiện lòng trung thành, đem dâng hiến cho Ngài những lễ vật chứng tỏ chúng ta thật sự trung thành vì Ngài là Đấng đáng kính sợ (11, nghĩa đen, ‘Sự sợ hãi thật sự’) và (12) Ngài là Đấng nắm trọn quyền hành trên tâm tư ý tưởng của giới vua Chúa.  Ngài chính là nơi an toàn duy nhất cho chúng ta trong một thế giới đầy đe doạ.

80. TĂNG TRÍ NHỚ. (Thi 77:1-20)

Thi thiên này ghi lại thời kỳ cực kỳ khốn khổ tuy không xác định cụ thể.  Tác giả duy trì sự cầu nguyện tới mức kiệt sức nhưng không tìm được  sự an ủi nào (1-3), rốt cuộc ông không còn cầu nguyện được nữa vì tầm cỡ nan đề quá lớn đè nặng trên ông (4).  Đêm dài mất ngủ (4a) gợi lại mớ ký ức về thời kỳ vàng son ngày xưa (5-6), nhưng chính những ký ức đó cũng khiến ông thắc mắc về Đức Chúa Trời (7-9).  Nhưng khi xuất hiện tầm nhìn qua một khía cạnh mới (10): nhớ lại những việc làm của Đức Chúa Trời trong quá khứ, đặc biệt là sự khải thị của Ngài về bản chất thánh khiết và vĩ đại (11-13), về quyền lực của Ngài trên mọi dân tộc (14), về sự kiện Ngài tự hoà đồng với dân sự của Ngài (15), về sự kiện Ngài vừa chế ngự vừa vận dụng những năng lực trong thiên nhiên (16-18), dẫn dắt dân sự của Ngài tiến tới bằng sự hiện diện vô hình và qua những vị lãnh tụ do Ngài lập lên (19-20).  Tác giả cố tình kết thúc thi thiên một cách bất chợt cứ như thể tác giả đang tự nhủ ‘Kia kìa! Tiến lên về hướng này - không phải nhờ cầu xin cho hoàn cảnh đổi thay (1-4), không phải nhờ khơi lại trong ký ức và tỏ ý phiền muộn vì thấy rằng thời nay không còn được như thời xưa (5-9), nhưng nhờ nhớ lại những việc làm của Đức Chúa Trời và nhớ lại rằng Đức Chúa Trời là Đấng đã thực hiện những việc đó’.

(Thi 77:1-4)  Sự thất bại thứ nhất của trí nhớ  Tác giả không xác định vấn đề cầu nguyện, nhưng ngụ ý cho chúng ta biết ông cầu nguyện xin Chúa chấm dứt nghịch cảnh, cải thiện hoàn cảnh.  Với ý này ông (3, nghĩa đen) ‘nhớ lại Đức Chúa Trời’: trong tinh thần cầu nguyện nhớ rằng Đức Chúa Trời là Đấng có thể can thiệp và thực hiện những đổi thay lớn lao.  Nhìn lướt qua thi thiên này một cách tổng quát như vậy chúng ta thấy rõ bài học như sau: trước nghịch cảnh người tin Chúa không nên vội có phản ứng là xin Đức Chúa Trời cải thiện hoàn cảnh, nhưng hãy vận dụng sự khải thị mà Đức Chúa Trời đã ban cho (10-20) để sống với hoàn cảnh đó.  Sự cầu nguyện dù với giọng điệu và những lời lẽ thống thiết đến đâu: (‘Con kêu la cùng Chúa, lớn tiếng kêu gọi Ngài...’, c.1), và khẩn đảo liên tục không mỏi mệt (2), vẫn không phải là giải pháp.  Vì thật ra, đó là một cách từ chối không chấp nhận những hoàn cảnh của Đức Chúa Trời đưa đến.  Đúng là chính Đức Chúa Trời khiến cho tác giả mất ngủ lần lần đuối sức cho đến chừng ông học được bài học quí báu là an nghỉ trên lẽ thật đã khải thị cho mình (4).

(Thi 77:5-9)  Sự thất bại thứ hai của trí nhớ  Khi mất ngủ tâm trí ôn lại quá khứ và trí nhớ làm khơi lại những kỷ niệm vui vẻ (5-6).  Nhưng việc đó không giải toả được điều gì cả, trái lại khiến tác giả thắc mắc thêm về Đức Chúa Trời và đường lối làm việc của Ngài (7-9).  Đáng chú ý là các câu hỏi dường như được đưa ra để làm vững lòng, nhất là các câu hỏi đó xoáy vào năm điểm bất biến trong giao ước: ân huệ ... lòng nhân từ ... lời hứa ... ân sủng ... lòng thương xót.  Nhưng đặc điểm là các câu hỏi này không giải quyết được gì cả mà còn gây rối rắm thêm.  Ước mơ về quá khứ (6) không phải là phương thuốc cho hiện tại cũng chẳng phải là thực đơn cho tương lai.

(Thi 77:10-20)  Tăng khả năng cho trí nhớ thật  Bất chợt ý tưởng xoay về hướng mới: giải pháp không phải là bây giờ mới lo hướng lòng nghĩ tới Đức Chúa Trời (3) hoặc nhớ lại những kinh nghiệm thuộc linh trong quá khứ (6) mà nhớ đặc tính lạ lùng, kỳ bí trong những việc làm của Đức Chúa Trời trong quá khứ (11-12), sự vĩ đại vượt mức trong bản tánh thánh khiết của Ngài (13), và những điều Ngài đã thực hiện để cứu chuộc dân sự của Ngài (14-15), quyền năng (16-18) và ơn chăm sóc quan phòng của Ngài (19-20).  10  có những vấn đề xem như nan giải trong lãnh vực phiên dịch.  Bản dịch tiếng Việt là khá phù hợp với nội dung bài thơ nhất là khi đem đối chiếu giữa câu 5: tôi suy nghĩ về ngày xưa, về các năm đã qua - những ký ức chỉ thêm bực tức - với các năm về tay hữu của Đấng chí cao (10) - những ký ức về quyền năng của Đức Chúa Trời đầy lòng ưu ái.  13-20  Thánh (13).  Trong căn bản từ này chỉ về tất cả những điều khiến cho Đức Chúa Trời trở nên vô song, tách biệt khỏi mọi người mọi vật, khác hẳn mọi người mọi vật, ở đây từ này được dùng trong ý đó (chớ không phải dùng để chỉ về phẩm chất đạo đức cao trong bản tánh thánh khiết của Ngài).  Ngài hoàn toàn độc lập, tự ý mình hành động, không chịu một áp lực nào ở bên ngoài chi phối Ngài, Ngài hành động một cách đầy quyền năng theo ý của Ngài ở trên trần gian này cũng như ở thiên đàng.  So sánh câu 13 với Xu 15:8-11 cho thấy tác giả tập trung nhớ về những việc làm lớn lao của Đức Chúa Trời kể từ xuất hành trở đi con đường tiến của dân sự phát xuất từ lúc họ được giải cứu khỏi Ai Cập (14,15), đi vượt qua Biển Đỏ (16), đến Si-nai chứng kiến những trận bão tố dữ dội kinh khủng (17,18  19:1-25) rồi lại ra đi dưới sự lãnh đạo vô hình của Đức Chúa Trời (19) và bàn tay dẫn dắt của các vị lãnh đạo do Ngài lập nên (20).  Ngài có quyền năng chống lại mọi dân tộc khác (14), có quyền năng để bảo vệ dân của Ngài (15), có quyền năng để xử lý mọi nghịch cảnh (16), có quyền năng để vận dụng năng lực của Ngài vào mục đích do Ngài đề xướng (17-18), có quyền năng để bảo toàn và cung ứng nhu cầu cho dân của Ngài giữa vùng sa mạc khắc nghiệt (19-20). 

Thi thiên chấm dứt đột ngột với ý tưởng này.  Chắc chắn họ chẳng bao giờ chọn sống trong những hoàn cảnh đó - dòng nước sâu trong Biển Đỏ, ‘sa mạc mênh mông khắc nghiệt’ (Phu 8:15) mà chính Ngài đã ấn định cho họ.  Đúng vậy, chính Ngài là Đấng vô hình dẫn họ đi thẳng vào những kinh nghiệm đó (19) rồi đúng lúc khó khăn nhất Ngài lo liệu cung ứng chăm sóc họ (20).  Nguồn an ủi cơ sở để an tâm là đó.  Đức Chúa Trời thánh khiết hoàn toàn tự do làm điều Ngài muốn và sự bình an yên ổn của chúng ta là ở trong ý muốn của Ngài.  Hễ Ngài dẫn chúng ta đến nơi nào thì Ngài cũng đều lo liệu cung ứng chăm sóc.

81. KHẢ NĂNG CỦA TRÍ NHỚ. (Thi 78:1-72)

(Thi 78:1-8)  Phần dẫn nhập  (1-8) phác hoạ khung cảnh cho bài thơ dài và tuyệt vời này.  Nội cung của thi thiên nói về (i) một bổn phận: mỗi một thế hệ có bổn phận phải truyền dạy lại cho thế hệ kế tiếp truyền thống của dân tộc (3-4) theo ý muốn của Đức Chúa Trời (5-6) (ii) nội dung của truyền thống có hai phương diện: những việc làm (4) và lời nói (5) của Đức Chúa Trời (iii) mục tiêu nhắm đến là khiến cho những thế hệ mai sau biết tin cậy nơi Đức Chúa Trời (7, từ này ở đây gợi ý một niềm tin đơn sơ), luôn nhớ đến những việc làm và những mệnh lệnh của Ngài (7) và tránh để không rơi vào những sai lầm đã phạm trong quá khứ - nổi loạn chống nghịch do không hết lòng và không bền tâm bền chí (8).  Nhưng (iv) những việc này chỉ được thể hiện khi họ hiểu biết thật sự và đúng đắn về quá khứ.  Khi có sự ‘dạy dỗ’ (luật pháp), bày tỏ qua lời nói phổ cập (lời, 1), giải thích (2) những điều trước: ẩn dụ là một câu chuyện nhằm vào việc giáo huấn, hoặc ở đây những biến cố trong quá khứ (9-72) được dùng để minh hoạ lẽ thật những điều kín giấu, ‘câu đố’, tự thân nó ghi lại quá khứ, gồm nhiều biến cố phức tạp, là điều bí ẩn hoặc đố ngữ cần có lời giải nghĩa.

Như vậy, mục đích của thi thiên là đây: để làm sáng tỏ điều bí ẩn của quá khứ để rút ra bài học cho hiện tại và tương lai.  Tác giả nhận thấy một nguyên tắc duy nhất trong toàn bộ lịch sử phức tạp của dân Y-sơ-ra-ên và tác giả đề xướng làm nguyên tắc sống có giá trị.  Ông viết hai phần tổng lược về lịch sử (12-39, 43-72), mỗi phần đều có dẫn nhập (9-11,40-42).  Các phần dẫn nhập là tinh tuý của thi thiên.  Phần dẫn nhập thứ nhất xác định rằng dân của Đức Chúa Trời (Ép-ra-im) chiến bại vì họ quên (11) phần dẫn nhập thứ hai truy cứu nguyên nhân của những vụ họ nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời là họ không nhớ (42).  Phải chi họ đừng quên, thì kẻ thù hẳn không thể chiến thắng phải chi họ nhớ, hẳn họ đã sống trong tinh thần vâng lời.  Năng lực của trí nhớ là như thế đấy - và đây cũng là lý do khiến Chúa Giê-xu trước khi Ngài thăng thiên đã lập một tiệc kỷ niệm (để nhớ lại, ICo 11:23-25).  Phần tổng lược lịch sử xác định những sự thật bồi đắp cho trí nhớ và như vậy tạo điều kiện cho có năng lực sống vâng phục và đắc thắng.

Trong mọi hoàn cảnh hoặc bất cứ hoàn cảnh nào, dù bị kẻ thù đe doạ bên ngoài (9-11) hoặc áp lực bên trong của bản chất lầm lạc (40-42) đến thế nào chăng nữa, phải chi họ tự nhủ rằng: ‘Nhưng Đức Chúa Trời đã chuộc chúng ta, nên chắc chắc Ngài sẽ lo liệu’ phải chi họ duy trì một nỗi sợ chừng mực đối với cơn giận của Ngài cùng với cảm nhận đúng đắn về tình yêu thương của Ngài!  Đối với chúng ta ngày nay cũng vậy thôi.  Đây là năng lực của một trí nhớ năng động, thường xuyên được bồi đắp khơi dậy khiến cho chúng ta sống trong tinh thần của người vừa mới được cứu chuộc (12-14,3-53.  Ngài đã giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ để được tự do), được Chúa lo liệu cung cấp (15-16,54-55.  Trong mọi cảnh ngộ Ngài đều có khả năng và chắc chắn sẽ lo liệu cung cấp), bị xét xử (17-33,56-64.  Hễ ai nhận biết Ngài là Cha thì cần sống đầy lòng kính sợ Ngài, IPhi 1:17), và được yêu thương (34-39,65-72.  Ngài chẳng bao giờ xua đuổi chúng ta khi chúng ta trở lại với Ngài vì Ngài biết sự yếu đuối của chúng ta, 32-39, và Ngài luôn luôn tích cực lo liệu cho phúc lợi của chúng ta, 65-72).

(Thi 78:9-11)  Chiến bại cớ họ quên. 40-42  Phản loạn cớ họ không nhớ  Xem ISa 31:1-13.  Ông Sau-lơ người Bên-gia-min (ISa 9:1-2) đặc biệt được ghép chung với các chi phái ‘miền bắc’, thường có tên gọi là Ép-ra-im hoặc Y-sơ-ra-ên.  Quê quán của ông ở Ghi-bê-a (10:26) 9:4 cho thấy Ghi-bê-a ở trong vùng núi non của Ép-ra-im.  Sau khi Sau-lơ tử trận chính ở Ép-ra-im mà Ích-bô-sết lập nước với số quân dân ủng hộ tàn dư  (IISa 2:8) còn Áp-sa-lôm khi làm loạn Áp-sa-lôm cảm thấy dễ thu phục lòng dân trong chi phái Y-sơ-ra-ên về với mình (15:2,6,10,13).  Như vậy, phần tổng lược lịch sử mở đầu với sự sụp đổ của triều đại Sau-lơ và nêu ra thắc mắc nhơn cớ nào mà xảy ra chuyện này vì (9) người Ép-ra-im (nghĩa đen) ‘là những người bắn cung tài nghệ nhất’.  Nhưng dân sự của Đức Chúa Trời đắc thắng không nhờ vào tài lực nhưng nhờ lòng trung kiên và vâng phục (10) và nhờ trí nhớ thúc đẩy (11).  41  Chúng nó lại thử Đức Chúa Trời, (c.56).

(Thi 78:12-14,43-53)  Sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời  Các câu này đều nằm trong chủ đề Xuất Ê-díp-tô (12, 43, 51), tức là hành động giải cứu lớn lao của Đức Chúa Trời (42).  12-14 chú trọng đến cuộc vượt Biển Đỏ: quyền năng của Đức Chúa Trời trên mọi nghịch cảnh 43-53 tập trung viết về những tai vạ đánh vào Ai Cập: quyền năng của Đức Chúa Trời diệt quyền lực của quân thù.  Xô-an (12,43), một cố đô của Ai Cập.  Mỗi phần kết thúc với ý tưởng về sự dẫn dắt và sự an toàn (14, 52-53).  Quyền năng của Đức Chúa Trời địch lại những nghịch cảnh và quân thù nhưng luôn luôn đứng về phía dân sự của Ngài.

(Thi 78:15-16,54-55)  Sự lo liệu của Đức Chúa Trời  Sự tổng lược lịch sử trong phần nhất di chuyển từ Ai Cập đến sa mạc (15-16) là khung nền trong sự lo liệu của Đức Chúa Trời (lo liệu về cuộc hành trình).  Phần hai bỏ qua thời gian ở sa mạc để nhắc lại sự lo liệu của Đức Chúa Trời về đất hứa (lo liệu cho ngày về đến nhà).  Chú ý câu 54-55 mở đầu với xứ Thánh của Ngài và kết thúc là trại (nhà) của họ.  Đường lối của Đức Chúa Trời là như thế, Ngài khiến những điều mà mình đang sở hữu trở thành vật sở hữu của chúng ta.

(Thi 78:17-33,56-64)  Sự phán xét của Đức Chúa Trời  Lịch sử của dân sự bị mờ nhoà vì cớ tội lỗi, sự phản nghịch và ‘thử’ Đức Chúa Trời (17-18,56-58).  Câu 17-18 đặt nặng vấn đề thử sự thành tín của Ngài - trong Xuất Ê-díp-tô Ký 16, 17 họ không tin Ngài có quyền năng cung ứng thức ăn và nước uống, chưa chịu tin cho đến chừng Ngài tự chứng thực trong câu 56-58 họ thử lòng kiên nhẫn nhịn nhục của Ngài, bằng cách không tin sự thánh khiết và sự phán xét của Ngài.  Trong cả hai lần đó họ đều chuốc lấy cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (21,31,59,62).  Những thảm cảnh trong đời (31,33,61-64), cũng như những sự cung ứng đầy ưu ái (15,16,54,55) đều là do hành động của Đức Chúa Trời.  29-31  (so sánh Xu 16:1-36  Dan 11:1-35  Thi 106:15).  Không phải họ xin thực phẩm để giải quyết nhu cầu với tinh thần tin cậy, nhưng họ muốn thoả lòng tham đòi hỏi trong tinh thần vô tín.  Đức Chúa Trời đáp lời bằng cách cho cung cấp điều họ đòi hỏi nhưng với cơn thạnh nộ khiến họ bị tiêu diệt.  Biết bao lần chúng ta cũng than van oán trách khi không vừa ý, không chịu lấy lòng tĩnh tâm để hiểu rằng Đức Chúa Trời đang ngăn chận không cho những điều chúng ta xin phương hại đến chúng ta.  32 đề cập đến thế hệ đi trong sa mạc (Dan 14:28-33).  Chắc chắn là vì ý thức rằng nếp sống của mình đang làm Chúa phiền nên họ cảm nhận thần chết đang tới gần lòng đầy kinh hãi.  60-64 (ISa 4:1-22).

(Thi 78:34-39,65-72)  Tình yêu thương của Đức Chúa Trời  Đức Chúa Trời thấu rõ tâm tư của dân sự Ngài (34-39), gian trá, không thể tin cậy, nhưng lòng yêu thương nồng nhiệt của Ngài (38, thương xót) đã xá tội, đã kềm chế cơn giận của Ngài và nhớ lại là họ yếu đuối mỏng manh (39) Ngài biết nhu cầu của họ (65-72) và nhanh chóng vùng lên chống lại những kẻ thù nghịch họ (65-66), Ngài đến cư ngụ giữa vòng họ (68-69) và chọn một người trong đám họ, cho lên làm vua (70-72).  35  Hòn đá tự thân hòn đá tiêu biểu cho tính cách vững chãi, ổn định lâu bền.  Nhưng theo bối cảnh của Xu 17:5-6 thì hòn đá là hình ảnh về hành động giải cứu, cứu sống (so sánh Thi 95:1).  Cứu chuộc, người bà con gần nhất xem nhu cầu của dân sự là của mình.  38  Tha thứ.  Nghĩa căn bản của động từ này là ‘che phủ’ nhưng đối với tội lỗi thì không bao giờ có thể che cho khuất mắt được mà luôn luôn phải ‘xoá đi bằng cách trả đủ giá phải trả’.  65  Nên dịch là ‘như một chiến sĩ hét to qua rượu’, đây là một lối nói ví nhằm làm nổi bật sự nông nổi nồng nhiệt của Đức Chúa Trời khi Ngài dấn thân vào việc xét lẽ phải cho dân của Ngài.  67-72  Phần tổng lược lịch sử mở đầu với sự thất bại của triều đại Sau-lơ (9-11) kết thúc với thế mạnh của chi phái Giu-đa và sự kiện Đa-vít lên ngôi làm vua do quyết định tuyển chọn của Đức Chúa Trời (68,70).  Chi tiết về một nơi thánh đã được xây dựng (69) cho biết thi thiên này thuộc về thời gian cuối trong thời kỳ trị vì của Sa-lô-môn là vua bắt đầu xa rời Đức Chúa Trời (IVua 11:1-13).  Điều này lý giải sự kết thúc đột ngột.  Triều đại của vua Sau-lơ không thể tồn tại, bất kể nguồn năng lực phi thường về quân sự (9) vậy thì triều đại của Đa-vít có tồn tại được không?  Tác giả khéo léo kết thúc bài thơ với sự lên ngôi của Đa-vít, chừa phần chung cuộc cho hoàng gia tự lo - và cho chúng ta tự đúc kết.  Vì ngày nay cũng như thuở xưa bí quyết của đời sống vẫn là tin cậy và vâng phục có trí nhớ bồi đắp vun quén cho.

82. CẦU NGUYỆN VÀ HY VỌNG TRONG NGÀY THẠNH NỘ (Thi 79:1-13)

Như Gióp đã hiểu ra không phải mọi nghịch cảnh trong cuộc đời là dấu hiệu chứng tỏ Đức Chúa Trời đang nổi cơn thạnh nộ đối với chúng ta.  Nhưng nhờ những lời tiên tri cảnh cáo của các vị tiên tri dân sự biết chắc chắn rằng khi Giê-ru-sa-lem thất thủ sụp đổ, thì rõ ràng là Đức Chúa Trời dùng quân Ba-by-lôn làm công cụ để trừng phạt họ (IIVua 24:1-25:30).  Giê-ru-sa-lem bị tàn phá một thời gian khá lâu rồi tác giả mới sáng tác thi thiên này (5), nhưng dư âm biến cố còn sống động cho thấy tác giả là một người vốn cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem đã chú ý biến thảm cảnh đó, rồi được lưu ngụ tại Giu-đa (25:12) nay ông than khóc về tình trạng tan hoang và ước mong cuộc sống được sáng sủa hơn (13).  Thi thiên gồm những phần dùng đại danh từ ngôi thứ ba số nhiều (1-3,5-7 10-11) xen lẫn với những phần dùng đại danh từ ngôi thứ nhất số nhiều (4,8-9,12-13).  Những chuyện xảy ra cho người khác trong quá khứ (1-3) cũng ngầm ý đổ xuống trên những người còn sống sót (4) những tội lỗi khiến Đức Chúa Trời đã nổi thạnh nộ trừng phạt (5-7,8) cũng là tội lỗi của chúng tôi (9).  Nhưng Đức Chúa Trời sẽ không quên những người phỉ báng Ngài (10) cũng không quên những người bị sửa phạt (11) và chúng tôi là dân sự của Ngài lại ca ngợi Ngài (13).

(Thi 79:1-5)  Trước hết chính Đức Chúa Trời bị tổn thương  Đền thờ thánh của Ngài bị làm ô uế (1).  Rồi khi thành phố bị phá tan những người đã từng biệt riêng phục vụ Ngài (tôi tớ, 2) và những người Ngài đã hết lòng thương yêu (thánh, ‘người được Ngài quí mến’, 2) ngã chết nhiều đến độ không còn người sống sót để thể hiện cử chỉ cuối cùng của lòng yêu thương (3).  Tình trạng vẫn chưa được cải thiện, nên dân sự của Ngài vẫn tiếp tục bị nhạo cười (4).  Rơi vào tay của Đức Chúa Trời hằng sống đúng là kinh khiếp thật! (He 10:31).

(Thi 79:5-9)  dưới án phạt  Chắc chắn phải có chuyện kinh thiên động địa lắm mới bị hình phạt dữ dội như thế!  Không, có chuyện chi ngoài tội lỗi: 8 tội lỗi, ‘gian ác’, những hậu quả của một bản tánh sa ngã, lầm lạc  9  tội lỗi, ‘vi phạm, thiếu sót’ những việc sai cụ thể.  Không phải chỉ là ‘tội lỗi của họ’ trong tinh thần là thế hệ bị sát hại khi thành phố bị tàn phá hoặc bị bắt đi đày là những người đáng chê trách duy nhất, mà cũng là tội lỗi của chúng tôi nữa (9) - và nếu chúng tôi không bị sát hại như họ chẳng qua chỉ vì nhờ ơn thương xót lạ lùng của Đức Chúa Trời là Đấng gớm ghê tội lỗi.  5-7  Mấy câu này không phản ánh sự thắc mắc hoặc tinh thần bất mãn than van về sự bất công.  Trước mọi nghịch cảnh trong cuộc đời dù bắt nguồn từ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời hoặc nằm trong chương trình hoạt động và quan phòng kỳ bí của Ngài phản ứng đầu tiên của chúng ta phải là cúi đầu chấp nhận như ngụ ý trong câu 5.  Nhưng phải chăng chúng ta cũng không nên cầu xin Chúa đánh đổ những người đã tàn nhẫn bóc lột chúng ta để trục lợi và tàn phá tài sản quí báu của chúng ta (7)?  Câu nói ‘giao phó sự trả thù cho Đức Chúa Trời’ (Ch 20:22  Ro 12:19) có khiá cạnh tích cực là cầu xin Đức Chúa Trời lật đổ những quyền lực nào vẫn tiếp tục ngược đãi dân sự của Đức Chúa Trời.  8  Xin Chúa chớ nhớ lại mà kể cho chúng tôi, ‘quy tội’ (Gie 31:34  Mi 7:18-20). Tổ phụ. Trong Kinh Thánh tình trạng tội lỗi mà chúng ta thừa hưởng từ tổ tiên chẳng bao giờ là cớ để biện hộ cho chúng ta mà luôn luôn là yếu tố làm tội thêm nặng (Lu 11:50).  Thương xót, ‘yêu thương nồng nhiệt’.  Đám rước (15:20).  9  Tha tội, ‘tìm và trả hết số nợ tội lỗi của chúng ta’.  Câu 8,9 chỉ thỉnh nguyện sơ sài về nhu cầu của dân sự trong căn bản lời thỉnh nguyện này tập trung vào bản tánh của Đức Chúa Trời - chú ý sự nhấn mạnh trên danh của Ngài (9), tức là những điều Ngài đã khải thị về chính mình Ngài.

(Thi 79:10-13)  Ôm mối hi vọng  Mối hi vọng trong câu 13 đặt cơ sở trên hai điều: thứ nhất, Đức Chúa Trời luôn luôn bảo vệ uy danh của mình (10,12) và thứ hai, Ngài luôn luôn bảo vệ dân sự của Ngài khi bị đe doạ (10-11), dù trong khi chúng ta đang chịu khổ vì cơn thạnh nộ của Ngài, chúng ta vẫn là dân của Ngài, là chiên của đồng cỏ Ngài (13).  Hai điều cơ bản này được phản ánh trong câu 5, 12 qua từ sỉ nhục (5,12).

83. CƯỜI VÀ NHÍU MÀY (Thi 80:1-19)

Lời khẩn nài xin ân huệ của Đức Chúa Trời kéo dài suốt qua thi thiên này (1,3,7,19).  Sự trái ngược giữa nụ cười của Đức Chúa Trời (3, làm cho mặt Chúa sáng chói) với cái nhíu mày (16, sự quở trách của mặt Ngài) bộc lộ tất cả.  Dầu tình cảnh tuyệt vọng đến đâu - kẻ thù đắc thắng (6), Đức Chúa Trời nổi thạnh nộ (4), những công trình vì ân sủng có vẻ như đang bị huỷ bỏ (8,12) - phương án giải quyết căn bản là Ngài tươi cười lên, ân huệ của Đức Chúa Trời có năng lực mạnh đến thế mà sự bất bình của Ngài cũng gây điêu đứng không kém.  Tai hoạ đã giáng xuống trên các chi phái miền bắc, Ép-ra-im, Bên-gia-min và Ma-na-se, xưa kia gọi là ‘trại của Ép-ra-im’ (Dan 2:18), tức là các chi phái có liên hệ trực tiếp với Giô-sép.  Những chi tiết sánh đôi với những chi tiết trong Thi 79:1-13 (‘người chăn / dắt bầy chiên’ (1, Thi 79:13), cơn giận kéo dài của Đức Chúa Trời (4,  79:5), kẻ thù cười nhạo (6,  79:4) gợi ý là những lời than thở của một người Giu-đa sống sót sau cuộc chiến thắng của Ba-by-lôn trong 79:1-13 đã tìm được một tâm tình tương đồng qua 80:1-19 của một nạn nhân còn sống sót trong vương quốc miền bắc.

Nét đặc sắc của thi thiên là điệp khúc (3,7,19) giọng kêu xin khẩn cấp tăngdần từ lần thứ nhất.  Câu 3: Hỡi Đức Chúa Trời trở thành (nghĩa đen) ‘Hỡi Đức Chúa Trời, hỡi Đấng Toàn Năng’ (7) và ‘Hỡi Đức Giê-hô-va, hỡi Đức Chúa Trời, hỡi Đấng Toàn Năng’ (19).  Nhưng dù tính khẩn cấp gia tăng, thực tế vẫn là một: sự biến chuyển trong nét mặt của Đức Chúa Trời có năng lực thay đổi.  Vì nỗi khốn đốn của họ ở đây không phải là họ rơi vào tay của con người - vì chuyện đó chỉ là một dấu chứng đáng sợ - nhưng họ đã rơi ra ngoài tầm ân huệ của Đức Chúa Trời.  Sự thể cũng vậy khi chúng ta thất bại, phương cách chữa trị là được hoà thuận lại với Đức Chúa Trời, được Đức Chúa Trời tiếp đón trở lại với nụ cười.  Cũng có thể xem câu 14 là một điệp khúc, chia thi thiên ra thêm một phân đoạn nữa.  Rõ ràng câu này nằm đúng vị trí và về phương diện thần học thì rất là quan trọng.  Chúng ta không thể được phục hoà với Đức Chúa Trời (3,7,19) cho đến chừng Ngài trở lại, quay lại, làm hoà với chúng ta (14).  Con đường hoà giải bắt buộc khai phóng từ phía Ngài.  Vì việc này chúng ta chỉ có thể khẩn nài.

(Thi 80:1-2)  Người chăn vị vua  Đây là một chủ đề rất xưa có liên hệ tới Giô-sép (Sa 48:15  49:22-24).  Ngự trên chê-ru-bin.  Các chê-ru-bin phủ bóng trên Rương giao ước là làm chân cho ngai vô hình của Đức Chúa Trời vô hình và cũng là nơi gặp gỡ giữa Đức Chúa Trời và dân của Ngài (Xu 25:18-22).  Sáng sự rực rỡ Ngài ra, sáng chói ra (Thi 50:2).  Không cần vận dụng đến năng lực lớn lao nào, chỉ cần ánh sáng của Ngài đánh tan sự tối tăm phát sinh từ sự bất bình của Ngài.  3,7,19  Xin hãy đem chúng tôi lại, đem trở về với Ngài, phục hồi chúng tôi (cho Ngài).  Làm cho mặt Chúa sáng chói.  Lời thỉnh cầu là xin một sự thay đổi nơi Đức Chúa Trời, xin Ngài đổi cái nhíu mày thành nụ cười.

(Thi 80:4-6).  Đấng cung ứng lạ lùng  4 (nghĩa đen)  ‘Hỡi Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời vạn quân’, tức là Ngài là Đấng Cứu Chuộc (Xu 3:14-17  6:6), Ngài là Đức Chúa Trời và nơi Ngài có tất cả mọi tiềm năng và quyền hành.  5  Chúa (Es 45:7  Am 3:6).  Đức Chúa Trời sử dụng nhiều công cụ (6, 79:1-3  Es 10:5-15) nhưng Ngài không bao giờ ngưng là công cụ. 6  Bia tranh cạnh cho ... có lẽ họ tranh giành cãi cọ về chiến lợi phẩm.

(Thi 80:8-13)  Đấng chăm bón vườn nho  Như chiên là một gia súc, đòi hỏi sự chăm sóc kỹ, cây nho là một trong những loại cây trồng cần chăm sóc nhiều nhất và kỹ nhất.  Tác giả dùng hình ảnh này để nói ví von về sự quan phòng đầy kiên tâm bền chí của Đức Chúa Trời, rồi qua đó ông miêu tả sự cứu chuộc, sản nghiệp (8-9) và sự phồn vinh (10).  Dưới thời trị vì của Đa-vít và Sa-lô-môn phạm vi ảnh hưởng trải từ Địa Trung Hải đến sông Ơ-phơ-rát (11), nhưng sau đó lịch sử trở nên ba chìm bảy nổi rồi vương quyền bị hạn chế cho đến khi Sa-ma-ri rơi vào tay A-si-ri năm 722 T.C. và Giê-ru-sa-lem rơi vào tay Ba-by-lôn năm 586 T.C..  Es 5:1-7 vạch ra nguyên nhân của đà tuột dốc cho đến khi trở thành một thứ trái độn bất lực, không có phòng thủ gì cả, ở đâu không còn kết quả gì cho Đức Chúa Trời thì cũng không có quyền lực gì để chống lại kẻ thù.

(Thi 80:15-18)  Người của tay hữu  Trong khi sinh nở, Ra-chên hấp hối (Sa 35:18) nên đặt tên cho bé trai sơ sinh là Bên-ô-ni, ‘con trai của sự đau đớn của tôi’ nhưng Gia-cốp đặt lại là Bên-gia-min nghĩa là ‘con trai của tay hữu tôi’.  Giờ đây thi thiên này đưa vấn đề này đi cho giáp vòng.  Bên-gia-min (2) đã tuột xuống vực sâu đau buồn và mất mát, nhưng đức tin bảo rằng Đức Chúa Trời có một con người ở bên tay hữu của Chúa (17) con người đó là giải pháp là lối thoát, nhờ con người mà Đức Chúa Trời sẽ cười đầy ưu ái.  Tác giả triển khai gọn gàng khéo léo chủ đề cây nho trong câu 15, vì từ ‘con trai’ (15, Sa 49:22, Giô-sép lại được nhắc đến một lần nữa) cũng có thể có nghĩa là của cây nho.  Ngoài phạm vi nhận thức của tác giả, thật ra Đức Chúa Trời vẫn chú tâm chăm sóc dân sự của Ngài (cây nho) cho đến chừng thời gian đã chín mùi (Ga 4:4) chồi mọc ra, tức là con người của tay hữu Chúa ra đời (17), vàchúng ta được ban cho sự sống mới qua con người đó (18, Gi 10:10) và chúng ta được tiếp xúc với Đức Chúa Trời cách mới mẻ (Eph 2:18) để kêu cầu danh Ngài.

84. MỜI DỰ TIỆC (Thi 81:1-16)

Lễ vào ngày trăng rằm mà thi thiên này đề cập đến (3) có lẽ là Lễ Vượt Qua (Xu 12:18) hoặc Lễ Lều Tạm (Le 23:39) cả hai lễ đều đặc biệt kỷ niệm cuộc xuất hành (Xu 12:26-27  Le 23:42-43).  Nhưng thi thiên có nhắc đến Luật Pháp, lắng nghe Đức Chúa Trời (8-10,11,13 so sánh Phu 31:9-13) và mùa thu hoạch phong phú (10,16 so sánh 16:13-15).  Thi Thiên mở đầu vơi qui định của Đức Chúa Trời về ngày lễ mà dân sự phải giữ (1-5), rồi dẫn vào những việc làm của Đức Chúa Trời (6-7) lời nói của Ngài (8-10), và kết thúc với yêu cầu là họ phải vâng lời Ngài (11-16), nhấn mạnh trên những hậu quả khốc liệt của sự bất tuân (11,12) rồi trên sự đắc thắng và sự giàu có dư dật (14-16) nếu vâng lời (13).  Như vậy thi thiên bàn về những vấn đề lớn, cột trụ của Kinh Thánh: cứu chuộc và thái độ đáp ứng đối với cứu chuộc.  Dân sự được giải phóng khỏi Ai Cập, dẫn dắt ra khỏi Ai Cập (6 người được cứu của Đức Chúa Trời, Xu 6:6,7  24:4,5) lập tức trở nên dân sự ở dưới quyền hạn của lơi Đức Chúa Trời (8-10  Xu 19:3-6  20:2-19) mà họ có bổn phận phải lắng nghe và tuân thủ (8,13  Xu 24:6,7  Ro 1:5  He 3:7-19  IPhi 1:1,2).  1-3  Làn sóng tung hô dâng cao - hội chúng, ban hát, ban nhạc, đội kèn (3) - toàn thể nhân dân ca ngợi, chào mừng ngày Lễ.  4-5a  Luật, không thay đổi, cố định lệ: qui định thẩm quyền của Đức Chúa Trời chứng cớ, làm chứng về chính mình Ngài là Đấng như thế nào (tức là Đức Chúa Trời của cuộc xuất hành có quyền năng giải cứu và của luật pháp thánh).  5b  Ngài ra đánh xứ Ai Cập.  Ngày lễ bắt nguồn từ thời Đức Chúa Trời hành động chống lại Ai Cập để giải phóng Y-sơ-ra-ên nhưng cũng những từ đó (nghĩa đen ‘đi ra vượt qua’) được dùng trong Sa 41:45 trong trường hợp Giô-sép bước vào địa vị làm Chúa ở Ai Cập.  Cuộc xuất hành là thí dụ cụ thể tối cao về những việc làm của Đức Chúa Trời Chủ Tể.  5c,10,16 là ba câu nói trong ngôi thứ nhất số ít (5c, nghĩa đen: ‘một thứ tiếng / một tiếng nói tôi không biết tôi bắt đầu nghe’) mỗi câu nói đều nằm ở vị trí kết thúc phân đoạn.  Hai câu cuối tiêu biểu cho tiếng nói của Đức Chúa Trời, còn câu thứ nhất rất khó thông giải, có lẽ lắm cũng do Đức Chúa Trời nói.  Nếu đúng vậy thì câu này trở ngược đến  Xu 2:24-25 (Ngài đoái lại dân Y-sơ-ra-ên, nhận biết cảnh ngộ của chúng, nghĩa đen ‘Đức Chúa Trời biết’).  Như vậy đối với dân sự của Đức Chúa Trời mọi sự bắt đầu khi Ngài chú ý đến nhu cầu của họ và ‘biết’ nhu cầu của họ, bắt tay thiết lập mối quan hệ chăm sóc họ (5).  Những người được giải cứu và nhận được những lời khải thị của Ngài (6-10) được Đức Chúa Trời lo liệu đầy đủ dư dật (10) Đức Chúa Trời hứa ban cho những người vâng lời thực phẩm cách lạ lùng và phong phú (16) - mật ong, trong khi ngày xưa thức uống hảo hạng chỉ là nước (17:6).  6-10  nhắc lại những biến cố từ khi được giải phóng khỏi Ai Cập, xuất hành (6) đến Biển Đỏ (7  14:10,19,24  Thi 99:6,7), rồi tiến vào sa mạc (7  Xu 17:1-7) rồi đến Si-nai (8-10).  Đức Chúa Trời giải phóng dân sự của Ngài (6), đáp ứng lời cầu nguyện của họ vàđịnh đoạt kinh nghiệm của họ (7) cùng khải thị lời của Ngài cho họ (8-10).  7  Ta thử thách ngươi.  Nhưng 17:2 chép rằng họ thử Chúa!  Những nghịch cảnh trong đời sống (17:1) là những cuộc thử nghiệm của Đức Chúa Trời (Phu 8:2) nhưng nếu chúng ta chịu thử nghiệm trong tinh thần nghi ngờ là yêu thương, sự chăm sóc và quyền năng giải cứu của Ngài thì đúng là chúng ta ‘thử’ Ngài bằng cách đòi hỏi rằng Ngài phải tự minh chứng trước rồi chúng ta mới tin tưởng vào Ngài sau.  8-10  Bổn phận căn bản (8): vâng lời sự thật căn bản (9): trung thành và nền tảng của tất cả là (10): Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Chuộc.  11-12  (Es 5:5-7  Ro 1:24,26,28).  Vì cớ họ không vâng lời nên họ bị đưa vào sa mạc thay vì được thừa hưởng xứ Ca-na-an (Phu 1:32-2:1).  13  So sánh câu 8 (yêu cầu quan trọng của Đức Chúa Trời), 11 (lỗi lầm quan trọng của họ) và giờ đây (13) yếu tố then chốt quyết định thắng hoặc bại, được hoặc mất.

85. SỰ XÉT XỬ TẠI TÒA TỐI CAO: MỘT SỰ HIỆN THẤY VÀ MỘT LỜI CẦU NGUYỆN (Thi 82:1-8)

Thông thường thi sử không bộc lộ rõ ý tưởng của mình, còn chúng ta, thành phần độc giả lần mò theo sau, cố gắng hết sức tìm hiểu ý của họ.

(Thi 82:1)  Phiên toà đang tiến hành  Chủ toạ được dịch là ‘đứng trong hội của Ngài’ trong cùng một bối cảnh như  Es 3:13.  Vị Thẩm Phán vĩ đại thân hành ngự trên toà xét xử ‘các thần’ - nhưng ‘các thần’ này là ai?

(Thi 82:2)  Lời cáo buộc  ‘Các thần’ đã lợi dụng địa vị của mình để binh vực kẻ ác, ‘đảo lộn công lý’ và tây vị sự gian ác.

(Thi 82:3-4)  Luật pháp  Công bố viên mở đầu bằng cách nhắc quan toà giới cương của luật pháp: đáng lẽ ‘các thần’ phải xử sự như thế này, đáng lẽ ‘các thần’ phải áp dụng đường lối này để binh vực quyền lợi của người cô thế.  Yếu đuối ... mồ côi, là những người không có nguồn trợ giúp nào dù là về mặt tài chánh hoặc nhân lực buồn rầu, người bị chà đạp, đè bẹp dưới cuộc sống túng ngặt, người nghèo khó thiếu thốn, có thể họ bị kẻ mạnh lạm dụng, giành quyền lợi.  Luật pháp không phải chỉ dành sự ưu ái cho những thành phần này mà còn bảo vệ họ bằng áp dụng những biện pháp cần thiết để khôi phục quyền hạn pháp lý của họ và (4) luật pháp phải bảo vệ họ khỏi thế lực (tay) của những người vi phạm luật pháp.

(Thi 82:5)  Nhân chứng  Sau khi xác định luật pháp (3-4), giờ đây công tố mời công chứng.  Nhân chứng thứ nhất (5a) làm chứng rằng ‘các thần’ kém khôn ngoan: họ dốt nát thay vì hiểu biết họ vô ý thức / không sáng suốt trong khi quyết định và hành động.  Nhân chứng thứ hai (5b) làm chứng rằng dưới sự cai trị của họ nhân dân bị dẫn dắt sai lầm, như trong bóng tối, không có phương hướng, không có mục đích.  Nhân chứng thứ ba (5c) làm chứng cơ cấu xã hội bị suy sụp, đổ vỡ và mất ổn định.

(Thi 82:6-7)  Án phạt  Cho dù địa vị của họ là ‘thần’ hoặc không phải là ‘thần thánh’ gì (6) thì họ cũng sẽ bị tử hình như mọi con người làm quan vậy (7).

Thi 82:8  Cầu nguyện  Sự hiện thấy về việc Đức Chúa Trời phán xét (1) vừa xong thì tác giả chuyển qua cầu nguyện, cầu nguyện xin Đức Chúa Trời thực hiện việc đó - cách rộng rãi trên thế giới vì Ngài có quyền hạn đó (8).

Như vậy, tất cả những điều đó có ý nghĩa gì? (i) ‘Các thần’ ở đây có thể là ‘những chủ quyền và thế lực’ (Eph 6:12) mắt trần không nhìn thấy nhưng có thật tung hoành theo đường hướng xấu xa gian ác trên trần gian (Es 24:21  Da 10:12-13,20  Eph 6:12).  Thỉnh thoảng Cựu Ước dùng từ ‘các thần’ hoặc ‘con trai của Đức Chúa Trời’ để chỉ về các thiên sứ (Thi 8:5  Giop 1:6).  (ii) Dầu vậy câu 2-4 có đề cập cách cụ thể đến những nhiệm vụ của các quan xét (Xu 22:22-24  23:6-7  Phu 1:16-17  10:17-18  16:18-20), công tác của họ là thực hiện ‘sự xét đoán của Đức Chúa Trời’ (1:17).  Những từ được dùng để chỉ về việc đưa một vụ kiện đến ‘trước mặt Đức Chúa Trời’ hoặc đến ‘trước mặt các thầy tế lễ / quan xét’ đều là giống nhau (Xu 21:6  22:8,9  Phu 7:8-13  19:17).  Ngoài ra, Chúa Giê-xu  hiểu rằng ‘các thần’ là ‘những con người mà Đức Chúa Trời đã ban lời của Ngài cho họ’ (Gi 10:35).

Như vậy ý nghĩa nghiêng nặng về phía những con người cầm quyền trong địa vị cao trọng, họ nhận công tác từ Đức Chúa Trời và phải chịu trách nhiệm với Ngài về những việc họ làm.  (iii) Khi giới cầm quyền trên trần gian thất bại (5), mất hướng, khiến cho nhân dân bất an, làm cho xã hội bị phân hoá thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm trước Đức Chúa Trời chân thật (1,6-7) là Đấng vẫn hiện diện, là Đấng chúng ta có thể tìm đến qua lời cầu nguyện (8).

86. KẺ THÙ VÂY QUANH NHƯNG CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI BAO TRÙM PHÍA TRÊN (Thi 83:1-18)

Nên đọc IISu 20:1-37 là đoạn Kinh Thánh minh hoạ cho thi thiên này, nhưng hoàn cảnh liên minh mà dân Y-sơ-ra-ên phải đối phó trong thi thiên này vượt quá mọi liên minh mà dân Y-sơ-ra-ên đã từng đối phó trong lịch sử.  Cho nên thay vì tìm cách liên hệ hoàn cảnh trong thi thiên này với một biến cố lịch sử thì chúng ta nên xem đây là một hình ảnh miêu tả dân sự của Đức Chúa Trời tìm thấy nguồn năng lực qua sự cầu nguyện (1) khi đối diện với thế giới thù địch (2-8), xây dựng lời cầu nguyện theo sự hiểu biết của họ về quyền năng của Đức Chúa Trời đã được khải thị (9-15) và tỏ lòng trông mong chung cuộc phước hạnh khi mà Đấng Tối Cao được công nhận trên toàn thế giới (16-18).  Thi thiên cho chúng ta biết chúng ta ở giữa một thế giới đang thù ghét chúng ta vì chúng ta không thuộc về thế giới (Gi 15:18-25), chúng ta phản ứng như thế nào đây? - không có cách nào khác hơn là cầu nguyện chúng ta tìm sự an nghỉ ở đâu đây? - nơi năng lực của Đức Chúa Trời có thể đắc thắng thế gian đã được minh chứng (9-12, Gi 16:33  Kh 1:17-18), chúng ta nên mong ước điều gì? - không phải chỉ mong ước bản thân được thoát khỏi những sự chống đối, không phải chỉ mong ước sao cho những sự chống đối sớm kết thúc, nhưng phải mong sao cho những chống đối sớm tin nhận Đức Chúa Trời (16,18).

(Thi 83:1-4)  Dân của Ngài  Thi thiên mở đầu với lời đe doạ dân của Đức Chúa Trời biểu thị qua kẻ thù quyết tâm tiêu diệt không cho họ được làm ‘một quốc gia’ và làm cho người ta không còn nhớ đến tên của họ (4), và không cho họ một chỗ đứng nào trên thế gian này hoặc trong lịch sử.  Đây là một sự thù địch kinh khủng mà phản ứng và cách thế gian đối xử với Chúa Giê-xu  là bằng chứng (Gi 1:10  Cong 3:13-15).  Thế gian không đưa ra một thoả hiệp nào và chúng ta cũng không nên đề nghị thoả hiệp (IICo 6:14-7:1  Gia 4:4).  3  Che giấu, ‘giấu kín’, giấu kín trong nơi bí mật chắc chắn như người ta cất giấu của cải quí giá.  4  Tiêu diệt là một từ có nghĩa mạnh: ‘xoá sạch / loại trừ’.

(Thi 83:5-8)  Chính mình Chúa  Chẳng những dân của Ngài mà cụ thể hơn là chính mình Chúa là mục tiêu của liên minh (5).  Thật sự là Ngài không bao giờ từ bỏ chúng ta (Es 41:10  He 13:5), nhưng hơn nữa Ngài bảo vệ uy danh của Ngài (Gios 7:9  Es 42:8  Exe 20:9,14,22,44  36:22).

6  Một liên minh của các dân tộc phương đông gồm có Ha-ga-rít, ‘dòng dõi của A-ga’ (ISu 5:10  11:38  27:31).  Có thể liên kết Áp-ra-ham với A-ga.  7  Ghê-banh.  Có người cho rằng đây là một địa danh ở bên kia sông Giô-đanh chưa từng được nhắc đến.  Còn Ghê-banh (một cảng của người Phi-ni-xi ở phía bắc Pa-lét-tin) được nhắc đến trong Gios 13:5  IVua 5:18  Exe 27:9.  Nếu tác giả nhằm nói về cảng này thì bảng liệt kê tên các dân trong liên minh bắt đầu với các dân ở cực bắc, đến dân ở phương đông là Am-môn, xuống phương nam với dân A-ma-léc, quanh sang phương tây đến Phi-li-tin và trở lên phương bắc với Ty-rơ: bao quanh dân sự của Đức Chúa Trời giáp vòng.  8  A-si-ri có thể là lực lượng đen tối cổ võ đàng sau ‘tiền tuyến’ của liên minh các quốc gia, không khác gì ‘Chúa của đời này’ (IICo 4:3,4) cổ võ mỗi một cử chỉ thù địch công khai đối với hội thánh, nhưng ‘A-su-rơ’ ở đây có lẽ là một chi phái Ả Rập trong vùng bắc Si-na-i (so sánh Sa 25:3,18  Dan 24:22,24).  Lót (Sa 19:36-38  Phu 2:9,19).

(Thi 83:9-12)  Xứ của Chúa  Ca-na-an được gọi là đồng cỏ của Đức Chúa Trời (12, Kinh Thánh tiếng Việt ‘các nơi ở’) vì Ngài chăn bầy của Ngài tại đó.  Toàn bộ địa cầu thuộc về Ngài nhưng vùng đất này lẫn dân của Ngài đều là kho báu đặc biệt quí (Phu 11:12  Xu 19:5).  9  Một liên minh tương tự (Cac 6:1,2) có thể gợi nhớ về Ma-đi-an rồi tâm trí dễ dàng liên tưởng đến Si-sê-ra (4:1-5:31).  Quân Ma-đi-an bị tiêu diệt bởi một nhóm quân ít ỏi 300 người hầu chứng tỏ Đức Chúa Trời có quyền năng hơn họ (7:1-7), còn Si-sê-ra chết vì tay một thiếu phụ lẻ loi (4:17-22  5:24-27,31).  11 (7:25  8:18-21).

(Thi 83:13-16)  Giông tố của Chúa  Đức Chúa Trời nắm quyền hành trên toàn bộ những lực lượng trong cõi thọ tạo và thông thường, như ở đây, những lực lượng đó trở nên những biểu tượng về quyền năng của chính mình Ngài - để phân tán, tiêu diệt kẻ thù, khiến cho họ mất hướng, thất vọng (nhuốc nhơ, thất vọng đối với tất cả những điều họ trông đợi).  Nhưng đường lối của Ngài luôn luôn hướng tới sự thương xót, vì vậy khi chúng ta cầu nguyện chúng ta cũng cần có thái độ đó.  Đôi khi có bị đẩy vào chỗ không còn gì cả, trụi lủi (13-15) thì con người mới chịu đến với Đức Chúa Trời (16).

(Thi 83:17-18)  Danh của Chúa  Ý tưởng khơi ra ở trong câu cuối trong phần trên trở nên ý nổi bật.  Thi Thiên mở đầu với lời cầu nguyện xin chớ làm thinh (1).  Giờ đây là lời cầu nguyện mong sao cho tiếng nói khải thị của Đức Chúa Trời vang lên, hầu cho chúng nó biết (18), phán với thành phần những người, nếu bỏ mặc một mình họ, thì họ sẽ mưu tính loại trừ  hội thánh (4).  Chỉ một mình Chúa, danh là Đức Giê-hô-va (18) nghĩa là nhờ cho họ biết Ngài là ai, Ngài là Đấng như thế nào thì có thể thuyết phục họ về với Ngài hoặc có nghĩa là vì Ngài là Đấng như vậy lâu nay thì Ngài phải chủ động đến với họ bằng cách khải thị về Ngài.

87. “LÀM NGƯỜI HÀNH HƯƠNG” (Thi 84:1-12)

Thi thiên này khiển trách chúng ta về trình độ thuộc linh thấp kém nơi chúng ta bằng nội dung bộc lộ niềm khao khát và thiết tha trông mong chính Đức Chúa Trời (2), sự nhận biết về tính chất hữu hiệu trong của lễ mà Đức Chúa Trời đã cung ứng (3), sự quyết tâm trong niềm tin (5-7), và niềm vui sướng thoả nguyện nơi Đức Chúa Trời (10-11).

(Thi 84:1-4)  Sự khao khát  Linh hồn là cốt lõi của con người, lòng và thịt là phần nội tâm và phần bên ngoài của con người: như  vậy toàn bộ con người bị cuốn hút vào nỗi niềm khao khát về nhà của Đức Chúa Trời và chính mình Ngài.  Ý tưởng về sự an toàn dành cho những con chim làm tổ trên và quanh nhà của Đức Chúa Trời dẫn tới ý tưởng về sự an toàn dành cho những người ở trong nhà của Đức Chúa Trời (4), tại bàn thờ là nơi tội nhân làm hoà với Đức Chúa Trời Thánh và Đức Chúa Trời làm hoà với họ.

3-4  Trình tự ý tưởng như sau: ‘Chim chóc được an toàn trong tổ của chúng tổ của chúng ở tại bàn thờ của Đức Chúa Trời, chúng ta được an toàn trong nhà của Ngài.’  Bàn thờ là bí quyết của sự an toàn của chúng ta.

(Thi 84:5-8)  Hành trình  Phước hạnh không giới hạn trong khuôn viên của ngôi nhà.  Trong cuộc hành trình cũng có phước hạnh, khi người hành hương (i) sống bằng năng lực của Đức Chúa Trời, (ii) cứ bận tâm (5, Lu 9:51-53), (iii) đối phó nghịch cảnh với đức tin vững vàng (6, xem bên dưới) và như vậy (iv) được năng lực tăng luôn luôn cho đến chừng (v) họ đến trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời (7) và hầu chuyện với Ngài (8).  6  Ba-ca ‘cây nhựa thơm’, có lẽ là một nơi chốn có thật (IISa 5:22-25), tiêu biểu cho tính cách rất khô hạn không mấy hấp dẫn của cuộc hành hương.  Làm trũng ấy trở nên nơi có mạch tức là xử lý sự khô hạn với lời xác quyết là sẽ có nước (đối chiếu Xu 17:1-3), rồi thật vậy, mưa sớm của Đức Chúa Trời ... phủ phước cho nó.

(Thi 84:9-12)  Nghỉ ngơi  Triều đại còn tồn tại được duy trì hay không là tuỳ thuộc vào vua và vương quốc của vua có bền vững hay không.  Như vậy vua là người bảo đảm cho hạnh phước thuộc linh (9).  Đối với chúng ta, Chúa Giê-xu  trong chức vụ thầy tế lễ và vua là Đấng bảo đảm đời đời cho chúng ta được an toàn, được tiếp nhận và được phước (He 4:14-16  7:23-25  IGi 2:1-2).  9  Cái khiên ... xức dầu.  Là Đấng ‘được xức dầu’ Ngài được Đức Chúa Trời bổ nhiệm và phú cho quyền năng quyền hạn là ‘cái khiên’ Ngài che chở chúng ta.  10  Bắt đầu với từ ‘vì’ để giải thích lời cầu nguyện trong câu 9.  Người hành hương cầu nguyện cho vua ‘vì’ muốn rằng triều đại được bảo đảm.  11 giải thích câu 10: đáng chọn cuộc sống với Đức Chúa Trời hơn bất cứ một cuộc sống nào khác vì Đức Chúa Trời là mặt trời, nguồn ánh sáng (Thi 27:1) và nguồn sự sống (56:13), Đức Chúa Trời là cái khiên, Đấng che chở bảo vệ khỏi mọi mối đe doạ bởi ân điển của Ngài, ‘ân sủng’ Ngài kéo chúng ta về với Ngài và san sẻ cho chúng ta sự vinh hiển của Ngài (IIPhi 1:3-4).  Nhưng không phải là vô điều kiện: Ngài ban điều tốt lành cách rộng rãi cho (11) những người ăn ở (cả nếp sống lẫn động cơ thúc đẩy đương sự sống tốt) ngay thẳng, không thể trách cứ vào đâu được (Mat 5:48).  Song, không phải nhờ thành quả của họ (12) nhưng nhờ lòng tin cậy của họ khiến cho họ được phước.

88. KHAO KHÁT VÀ PHỤC HƯNG. (Thi 85:1-13)

Những sự khó khăn trong cuộc đời không luôn luôn chứng tỏ Đức Chúa Trời bất bình với chúng ta.  Nhưng phản ứng của chúng ta phải luôn luôn bao gồm mục tự tra xét kẻo có tội lỗi cần xưng ra hoặc có điều sai cần chỉnh đốn lại.  Đây là bối cảnh của thi thiên này.  Sự ưu ái của Đức Chúa Trời chỉ còn trong ký ức (1-3) hiện tại chất đầy cơn giận của Ngài (4-7).  Một thi sĩ vô danh, là người ghi lại cho chúng ta những suy tư của ông dưới hình thức một bài thơ cũng tự đặt mình vào cùng một tư thế như Ha-ba-cúc: vị tiên tri, ngạc nhiên đối với hiện tại (Ha 1:1-17) chọn một thế đứng và chờ điều Đức Chúa Trời sẽ phán (2:1), cũng vậy, thisĩ này nhìn lại tình hình (1-7), và tự đặt mình vào tư thế lắng nghe điều Đức Chúa Trời sẽ phán bảo (8).  Nội dung thi thiên là một bài suy tư có tính cách tiên tri về vấn đề phục hưng / đổi mới (6).

(Thi 85:1-3)  Nhớ lại: nền tảng của ân huệ của Đức Chúa Trời  Trước kia, khi Đức Chúa Trời ban ơn và phục hồi (1) qua sự tha tội cho họ (2) và dẹp bỏ cơn thạnh nộ của Ngài (3).  Trong họ xảy ra một sự thay đổi họ ăn năn nên được tha tội trong Đức Chúa Trời cũng có một biến chuyển - Ngài dẹp bỏ cơn giận nên họ mới được bình yên.  Không thể có phục hưng / đổi mới cho đến chừng tội lỗi được tha và cơn giận đã được nguôi ngoai. 2 Tha thứ, ‘mang đi’ (Le 16:21,22).

(Thi 85:4-7)  Kết thúc cơn thạnh nộ ban cho sự cứu rỗi  Cứu rỗi có nghĩa là giải cứu - trong trường hợp này được giải cứu khỏi sự tức giận của Đức Chúa Trời (4), giận (một cảm xúc trong bản thân, 5).  Chỉ qua cách này mới có phục hưng / đổi mới cùng với kết quả là vui mừng nơi Đức Chúa Trời (6) và chỉ có thể diễn ra nhờ lòng nhân từ và sự ban cho vô điều kiện của Ngài (7).  Trong vấn đề phục hưng / đổi mới chúng ta lệ thuộc vào ý chỉ tối cao toàn quyền của Ngài.  4  Xin hãy đem chúng tôi trở lại, cốt lõi trong vấn đề này (3,5) là Ngài làm hoà với chúng ta.

(Thi 85:8-9)  Lắng nghe: lời hứa những điều kiện  Tôi sẽ nghe, ‘tôi quyết định nghe’ - một thái độ quyết tâm, dứt khoát.  Những người mong mỏi phục hưng / đổi mới phải trông đợi lời của Đức Chúa Trời.  Việc này đòi hỏi: (i) hưởng ứng tình yêu thương của Ngài: thánh (8, ‘là những đối tượng màNgài đã quyết tâm yêu thương và họ cũng quyết tâm đáp lại bằng cách yêu thương Ngài’) (ii) từ bỏ những sự dại dột đã qua (8) (iii) sống trong tinh thần kính sợ Đức Chúa Trời (9, IPhi 1:17-19).  Kết quả là sự vinh hiển - Đức Chúa Trời với tất cả sự vinh hiển - sẽ đến ngự giữa dân sự Ngài.

(Thi 85:10-13)  Trông đợi: sự hài hoà, hoà hợp giữa trời đất  Các thuộc tính của Đức Chúa Trời đều hoà hợp với nhau: Ngài yêu thương chúng ta mà không cần điều chỉnh ‘lẽ thật’ của mình (10) Ngài ban cho chúng ta sự bình an mà không cần phải điều chỉnh lại sự công nghĩa của mình (10  Es 45:21-25  Ro 3:23-26).  Trời và đất cũng rất hoà hợp với nhau (11): đất sản xuất trái của ‘lẽ thật’ (11  Es 45:8  Eph 5:8-9) dưới tầm nhìn trong sáng của chính sự công nghĩa từ trời (11).  Trong khi Đức Chúa Trời ban cho thì đất hưởng ứng (12): sự hiện thực chung cuộc của sự cứu rỗi bao gồm cả việc phục hồi vườn Ê-đen trong Trời Mới và Đất Mới (Es 65:17-25  IIPhi 3:13).  Trong bối cảnh này, sự công bình của Ngài mở đường đi trước, rồi chính mình Ngài ngự đến (13  Kh 21:3).  13  (Nghĩa đen)  ‘Ôi, ước mong Ngài bước chân đi trên lối này’ - câu thơ trong Thi Thiên tương đương với Kh 22:20.

89. GỐI ĐẦU BẰNG QUYỀN TỂ TRỊ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Thi 86:1-17)

Bảy lần Đa-vít nói về Đức Chúa Trời (3,4,5,8,9,12,15), dùng từ Chúa biểu thị quyền tể trị của Ngài.  Khi bản thân có nhu cầu (1), trong ngày tôi bị gian truân (7), khi người kiêu ngạo và hung bạo (14) đang nổi sóng chống nghịch ông, ông tìm thấy một cái gối để kê đầu: Đức Chúa Trời là Đấng Tể Trị tối cao, là Đấng sẵn lòng nghe lời cầu nguyện của ông (3-4), sẽ giải cứu ông (12-13) sẽ khiến cho kẻ thù nghịch của ông bị hổ nhục (17).  Trong bài cầu nguyện dài dưới dạng một bài thơ này, Đa-vít chỉ xác định nhu cầu (14) sau khi đã thăm dò xem xét lại mối liên hệ giữa ông với Đức Chúa Trời (1-6) và lập lại sự cam kết của ông (11-12).  Ở giai tầng sâu hơn chúng ta có thể đúc kết rằng bài cầu nguyện này chú trọng ‘thưa với Đức Chúa Trời về chính mình Ngài’, ngẫm nghĩ về bản tánh của Đức Chúa Trời nhiều hơn là ‘trình với Đức Chúa Trời về chính mình tôi’.  Bài thơ này phản ánh cách người ta cầu nguyện trong Kinh Thánh (Ne 9:5-31,32-37  Cong 4:24-28,29-30) và cũng là mẫu mực cho chúng ta.

(Thi 86:1-6)  Hỡi Đức Giê--va xin hãy nghe’: Ngài nghe lời cầu nguyện  Phân đoạn này nằm giữa hai lời nài xin Đức Chúa Trời lắng nghe (1,6).  Từ vì trong câu 1,2,3,4,5 và những điều câu 2 ngụ ý cho chúng ta năm điểm làm căn bản để chúng ta cầu nguyện: (i) vì chúng ta bất lực (1): khốn cùng và thiếu thốn, bị giày đạp và bị người khác xem như con tốt bất lực (ii) Vì tình yêu thương song phương (2): được biệt riêng (Kinh Thánh Diễn Ý) được yêu thương và đáp lại tình yêu thương đó (iii) Vì hết lòng tin cậy (2), một mối tương quan của cá nhân với Đức Chúa Trời (Đức Chúa Trời tôi ôi!) dẫn đến tinh thần vâng phục (tôi tơ), xây dựng trên sự tin cậy (iv) Vì sự bền tâm bền chí (suốt ngày, 3, Kinh Thánh Diễn Ý) cầu nguyện với tinh thần mong đợi sự trả lời (3-4).  ‘Linh hồn tôi ngưỡng vọng Chúa’ (Thi 24:4) nghĩa là trình cho một mình Đức Chúa Trời tất cả những điều chúng ta mong muốn và chỉ trông đợi sự trợ giúp từ nơi Ngài mà thôi (v) Vì bản tính của Ngài (5), thiện ‘tốt’, đối với chúng ta trong những nhu cầu của chúng ta, tha thứ tội lỗi cho chúng ta, ban sự nhân từ dư dật, lòng nhân từ mà Ngài đã cam kết dành cho chúng ta là vô cùng.

(Thi 86:7-13)  ‘Không thần nào giống như Chúa’: Ngài Đức Chúa Trời độc nhất  Giờ đây tình cảnh của Đa-vít đã khởi có nét:  Hai câu đóng khung trong phân đoạn này là câu 7 và câu 13.  Câu 7 tỏ lòng tin tưởng rằng trong ngày gian truân Đức Chúa Trời sẽ trả lời.  Câu 13 tỏ lòng tin tưởng rằng lòng nhân từ của Đức Chúa Trời ‘sẽ giải cứu’ (động từ dùng trong thì tương lai) cho dù kẻ thù có đẩy ông xuống mồ và trong âm phủ thì ông có sự sống sau khi chết.  Ông nhận thức về Đức Chúa Trời trong  tầm cỡ vĩ đại hơn hết: (8-10), chỉ một mình Đức Chúa Trời cầm quyền tể trị trên mọi thế lực trên trời (8), và mọi thế lực trên đất sẽ quy phục Ngài (9) rồi nhận thức đó chuyển qua bình diện cá nhân (11-12), ông hoàn toàn cam kết hết lòng đối với chỉ một mình Đức Chúa Trời mà thôi, bày tỏ qua nếp sống, với lòng kính sợ Ngài (11) và qua lời ca tụng ngợi khen dâng lên cho Ngài (12). 11 không có nghĩa là xin ‘chỉ dạy tôi cách thoát ra khỏi tình cảnh này’ nhưng có nghĩa là ‘xin chỉ dạy tôi biết sống theo ý của Ngài, trong khi tình cảnh đang sôi sục, rối rắm’.  Một lòng, nhất tâm (Kinh Thánh Diễn Ý) xin cứu tôi khỏi tình trạng hai lòng, hai mặt đối với Đức Chúa Trời xin cho tôi ‘một mục đích duy nhất, cố định, không nao núng chao đảo trước những sự đe doạ hoặc tưởng thưởng, để sống cho Ngài và vì danh lớn lao của Ngài’.

(Thi 86:14-17)  ‘Chỉ một mình Chúa thôi’: Ngài đủ rồi  Phân đoạn này cho chúng ta biết thực tế khiến cho Đa-vít trở nên yếu đuối (1) và cùng quẫn (7).  Ông nhắc đến nhiều lần tình yêu thương, sự tha thứ và lòng thương xót của Đức Chúa Trời (3,5,6,15,16) làm chúng ta nghĩ đến vụ việc chạy trốn Áp-sa-lôm, là một vụ mà ông cũng có lỗi chớ chẳng vô can gì.  IISa 16:5-7 cho thấy cảm nghĩ của một số nhân dân đối với Đa-vít còn IISa 17:1-4 chứng minh rằng từ kiêu ngạo và hung bạo (14) là chuyện thực tế chớ không phải những từ tô điểm cho bài thơ.  Dầu vậy lòng thương xót, lòng nhân từ (15,  Xu 34:5-6) của Đức Chúa Trời là đủ để vực dậy tình trạng yếu kém của Đa-vít (16) và đủ để đối phó với kẻ thù của ông (17).  17  Dấu hiệu, như trong Cac 6:36-40.  Khi người thuộc về Ngài khủng hoảng đến nỗi cần một dấu hiệu, Đức Chúa Trời cũng tỏ lòng thương xót đáp ứng theo mức độ yếu đuối của họ.

90. CƯ DÂN THÀNH SI-ÔN (Thi 87:1-7)

Trong thi thiên này tập trung ba chủ đề của Cựu Ước và làm sáng tỏ ý của những đề tài khá bí hiểm đó: (i) Chủ đề ‘Thành’ (thành phố): (Es 2:2-4  26:1-4  54:1-55:13  60:1-22  He 12:22-24).  Khi loài người đầu tiên nỗ lực tổ chức một thế giới ngoài Đức Chúa Trời thì họ đã xây thành (Sa 11:1-9) và Kinh Thánh cũng cô đọng công cuộc tái tạo của Đức Chúa Trời trong thời kỳ chung kết qua hình ảnh thành hoàn vũ của Ngài (Kh 21:1-2,15-27).  (ii) Chủ đề ‘sự ra đời’.  Khi Nê-hê-mi thực hiện chương trình tăng dân số cho thành Si-ôn mới tái thiết, ông đòi hỏi rằng những người xin vào cư ngụ tại đó phải trưng gia phả hoặc phải có bằng cớ xác minh họ ra đời trong dòng giống Y-sơ-ra-ên (Ne 7:4 tiếp theo, 64 so sánh Exo 2:59,62).  Việc này tương đương với sự tái sanh (Gi 1:12-13  3:3-8).  (iii) Chủ đề ‘sách’: (Xu 32:32  Thi 56:8  69:28  Exe 13:9  Da 12:1  Lu 10:20  Phi 4:3  He 12:23  Kh 3:5).  Es 4:3 rất quan trọng vì liên hệ chủ đề ‘sách’ với Si-ôn.  Cả ba chủ đề này cấu thành nội dung Thi 87:1-7.  Đây là một Thi Thiên về Si-ôn (1-3) - một thi thiên về ‘sự ra đời’ (4-5), và một thi thiên về ‘sách’ (6).  Chính yếu thi thiên này tiên báo về thành phố hoàn vũ của Đức Chúa Trời trong tương lai.  Những dân tộc trước kia thù nghịch và ngoại đạo (4) này được khai sinh là cư dân của thành, trên cơ sở là Đức Chúa Trời đã ghi tên họ trong sổ sách của Ngài (6).

A1 (c.1)  Nền móng của Ngài.

B1 (c.2)  Tình yêu thương của Ngài.

C1  (c.3)  Thành của Đức Chúa Trời.

D  (c.4)  Thành hoàn vũ.

C2  (c.5)  Thành của Đấng Chí Cao.

B2 (c.6)  Sổ sách của Đức Chúa Trời.

A2 (c.7)  Nguồn của tôi.

Đối chiếu câu 1 với câu 7 chúng ta sẽ thấy ý tưởng của thi thiên chuyển động từ sự suy nghĩ của Đức Chúa Trời đối với Si-ôn (1-3) qua cư dân sống trong thành và hưởng lợi ích của thành (5-7) (so sánh Ne 7:4 tiếp theo).  Như vậy câu 4 là điểm tựa trung tâm của thi thiên: làm thế nào toàn thể dân cư trên thế giới được kể là cư dân của thành.  Sự kiện Đức Chúa Trời sáng lập và đặt nhiều triển vọng nơi thành (1-2) được biểu lộ qua sự đề cao đồn đãi về những vinh quang cao trọng của thành (3).  Đó là những chuyện nào?  Câu trả lời là câu 4: cư dân của thành ở khắp thế giới, họ nhận biết Đức Chúa Trời và có khai sinh ở tại thành này.  Như vậy các mục đích của Đức Chúa Trời đều nhắm đến tột đích là Si-ôn.  Dầu vậy sự nhập tịch của dân khắp thế giới không làm cho Si-ôn mất đi sắc thái đặc thù trái lại (5) đó chính là đường lối mà Đấng Tối Cao ... sẽ củng cố thành (Kinh Thánh Diễn Ý).  Nhưng làm thế nào dân chúng khắp thế giới có được quyền nhập cư này?  Vì (6) chính Đức Chúa Trời đã ghi tên họ vào sổ khai sinh ở Si-ôn.  Như vậy không còn phân biệt gì nữa và (7) ca sĩ lẫn nhạc sĩ - toàn thể nhân dân - đều vui sướng hưởng điều Ê-sai gọi là ‘nguồn của sự cứu rỗi’ (Es 12:3 so sánh Gio 3:18).

Chú giải. 4 Ra-háp, dùng để chỉ về Ai Cập (Es 30:7).  Ai Cập và Ba-by-lôn là hai cường quốc áp bức ghê gớm nhất Phi-li-tin và Ty-rơ là hai lực lượng thương mại mạnh trên thế giới Cút, ở vùng xa tận cùng của thế giới.

91. KHI BÓNG TỐI VÂY PHỦ LINH HỒN: KIÊN TRÌ TIN TƯỞNG, TRUNG TÍN NHỊN NHỤC. (Thi 88:1-18)

Ba phần trong thi thiên này có chung một dạng: mỗi phân đoạn đều mở đâu với một lời làm chứng về sự bền tâm cầu nguyện (1-2,9,13) trong mỗi phân đoạn đều có lời than thở về sự tối tăm mà tác giả đang kinh nghiệm (6, 12, 18) và trong mỗi giai đoạn tác giả đều đối diện với cái chết (5,10,15).  Tóm gọn nội dung thi thiên ‘vô hi vọng’ này là như vậy.  Ai đó nhận biết Đức Chúa Trời là ‘Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi’ (1, nghĩa đen), mất hết hi vọng khi đối diện với sự chết (9-12).  Ai đó hết lòng bền chí cầu nguyện nhưng nỗi đau khổ vẫn không được giải toả.  Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (7), bạn bè lìa bỏ, nỗi buồn phiền tất nhiên (8) vàcó khả năng làm suy yếu tinh thần (9) lấp đầy toàn bộ cuộc đời nhìn lên chỉ thấy thạnh nộ, nhìn vào nội tâm chỉ thấy nỗi kinh hoàng (16) nhìn ra ngoài chỉ thấy hiện tại đầy đe doạ, vắng bóng bạn bè (17-18) còn nhìn tới thì bóng tối vẫn bao phủ (18).

Hầu hết các mục sư đều phải chăm sóc con chiên trong tình cảnh tương tự, ấp ủ trong tay mình tay của người tín hữu thân yêu đang chìm dần vào nỗi buồn bã hầu như không cách nào an ủi được và đối diện với cõi đời đời màlòng bất an.  Còn đa số các tín hữu thì sẽ đối diện với trũng tối tăm - ở một mức độ khác nhau - nơi không có ánh sáng.  Còn Chúa Giê-xu và tình yêu thương của Ngài, phúc âm và sự bảo đảm của phúc âm, thiên đàng và phần thưởng, tất cả đều là chuyện dành cho người khác chớ không phải cho chính mình.  Thi thiên cho chúng ta biết rằng có thể chịu khổ dai dẳng, có thể vẫn là số phần của chúng ta.  Thi thiên nhắc chúng ta nhớ rằng chúng ta chưa vào thiên đàng nhưng vẫn còn là một phần của thế giới thọ tạo đang than thở (Ro 8:18-23).  Thi thiên đặt trước mặt  chúng ta một tấm gương sáng lạn về một niềm tin cương quyết bám trụ và cương quyết duy trì sự cầu nguyện.  Đây là một mẫu người đi trong bóng tối, không có tia sáng nào, nhưng tin cậy nơi danh của Đức Chúa Trời và nương dựa nơi Ngài (Es 50:10).

(Thi 88:1-9a)  Cuộc đời không ánh sáng  Phải chăng có những người chết bị truất ra ngoài tầm chăm sóc của Đức Chúa Trời?  Phải, đúng vậy: họ nằm nơi hầm cực sâu ... nơi tối tăm nhất trong vực thẳm (6), bị cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đè bẹp (7).  Trong khi tác giả cảm thấy chặng cuối đời của mình đã kéo dài lâu ngày (15) nay sắp kết thúc phần trên trần gian này (3) thì ý tưởng dưới đây dày vò ông hơn hết: Phải chăng ông chết dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời?  Ý tưởng này cũng là động lực thúc đẩy ông cầu nguyện (1-2 chú ý từ vì trong câu 3).

(Thi 88:9b-12)  Chết vọng  Sau khi chết, số phận của con người lập tức niêm phong đóng dấu.  Phải chết trong khi Đức Chúa Trời đối với mình chưa được giải toả, tức là đi vào nơi không còn trông mong thấy những việc làm lạ lùng của Đức Chúa Trời, những hành động cứu rỗi siêu việt của Ngài, không còn gì để mà ca ngợi Ngài (10), không còn kinh nghiệm về tình yêu thương của Ngài để chia sẻ lại, không còn nương dựa vào sự chăm sóc thành tín của Ngài (11), không còn một ai có thể kể về những công việc cứu rỗi lạ lùng của Ngài (12), chẳng có chút công nghĩa nào của Ngài, sự can thiệp của Đức Chúa Trời, để sắp xếp chỉnh đốn lại mọi chuyện cho đúng.  Chỉ còn sự chết (11), sự tối tăm và sự lãng quên của Đức Chúa Trời (12, so sánh câu 5 quên lãng không nhớ đến nữa, xem Xu 2:24 về ý của từ ‘nhớ’) tức là Đức Chúa Trời bỏ mặc con người với những mưu định của họ, không yêu thương, không chăm sóc, không can thiệp phù hộ dẫn dắt nữa.  Đây không phải là (như một số bộ bình giải Kinh Thánh đã lầm lẫn) sự xác định niềm tin của Cựu Ước về sự sống sau cái chết, trong khi chờ đợi Tân Ước chấn chỉnh lại.  Thi thiên này chỉ mô tả cái chết mà tác giả thi thiên này sợ, cái chết dưới sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời.  Đến lúc Tân Ước viết về vấn đề này, thì cái chết dưới sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời còn mang dáng dấp đáng sợ hơn nữa.

(Thi 88:13-18)  Câu hỏi không lời giải  Tiếng cầu cứu (13) trở nên tiếng kêu xin một lời giải thích (14) nhưng không có câu trả lời nào cả - y như trong trường hợp của Gióp, rốt cuộc Đức Chúa Trời không giải thích cho Gióp gì cả.  Cũng vậy, đôi khi chúng ta cũng dại dột (dễ hiểu thôi) hỏi cùng một câu hỏi đó để rồi cũng không nhận được một lời giải thích nào cả.  Giả dụ Đức Chúa Trời có đưa ra một lời giải thích, chắc chắn là lời giải thích cũng làm cho chúng ta rối trí y như hoàn cảnh đang được giải thích để làm rối trí chúng ta.  Vì những hoàn cảnh trong cuộc sống là do Ngài ấn định và vận hành.  Trong giông tố của cuộc đời chúng ta gặp những lượn sóng của Ngài (7) và trong khi sợ hãi chúng ta gặp nỗi kinh hoàng (16-17).  Quyền tể trị tối cao đó ngập tràn vô bờ bến sự khôn ngoan, tình yêu thương, quyền năng và sự công bình cho nên vượt quá tầm hiểu biết và tầm nhìn của chúng ta.  Quyền tể trị đó là cái gối kê đầu (Thi 86:1-17) cho chúng ta khi mọi chuyện đều tăm tối (18).

92. “PHẢI CHĂNG ĐỨC CHÚA TRỜI HỨA MÀ KHÔNG LÀM TRỌN LỜI HỨA (Thi 89:1-52)

Nội cấu trúc của thi thiên này cũng đủ làm sáng tỏ nội dung rồi.  Thi thiên gồm có ba phần: phần chính (15-37), hai phần đầu và cuối đồng dạng (1-14, 38-51).  Câu 52 là câu kết thúc phần ba của Sách Thi Thiên do chủ biên viết.

(Thi 89:1-14)  Các lời hứa của Đức Chúa Trời được bảo đảm bởi cõi thiên nhiên của Ngài  Phân đoạn này gồm có bốn khổ thơ: khổ thơ kết thúc (13-14) có bốn dòng.  Còn ba khổ thơ đầu có tám dòng (1-4,5-8,9-12).  Tác giả ca ngợi tình yêu thương của Đức Chúa Trời (1) tồn tại mãi mãi đời đời (2) và, đặc biệt là nhắc lại lời hứa của Ngài dành cho Đa-vít (3) một triều đại lâu dài vàmột ngai vàng vững bền (4).  Một khi Đức Chúa Trời cầm quyền tối cao ở thiên đàng (5-8) và trên trần gian này (9-12) thì những lời hứa đó đương nhiên sẽ thành tựu.  Tóm lại, Đức Chúa Trời có quyền năng và quyền hạn tối cao (13) vương quyền uy nghi của Ngài đặt cơ sở trên sự thánh khiết của Ngài bày tỏ ra qua những nguyên tắc (sự công nghĩa) và qua thực tế (công lý) và mọi việc Ngài làm đều có tính cách yêu thương và thành tín.

(Thi 89:15-37)  Tụ điểm của lời hứa  Gồm có sáu khổ thơ mỗi khổ có tám dòng: (i) dân tộc được ưu đãi (15-18) (ii) vịvua được ưu đãi: Đa-vít được xức dầu (19-21), nhận được lời hứa sẽ cai trị toàn thế giới (22-25), được liên hệ với Đức Chúa Trời trong mối liên hệ cha con, có quyền hành tối cao trên các vua trên trần gian, hưởng giao ước đời đời trong tình yêu thương và nhận được lời hứa là triều đại sẽ tồn tại lâu dài (26-29) (iii) một triều đại được ưu ái: có lúc bị kỷ luật nhưng không bao giờ bị loại trừ (30-33), được lập nên và được duy trì mãi mãi trong giao ước bất khả vi phạm đối với dòng họ Đa-vít (34-37).

(Thi 89:38-51)  Những lời hứa bất thành: áp dụng phương sách cầu nguyện  Phân đoạn này có cấu trúc tương tự như phân đoạn đầu: bốn khổ thơ kết là một lời cầu nguyện có bốn dòng thơ (51-52), ba khổ thơ đầu mỗi khổ có tám dòng (38-41,42-45,46-49).  Nhưng chủ đề của phân đoạn này trái ngược với chủ đề của phân đoạn đầu: trái ngược với mười bốn lần xác định về quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời (9-14) là mười bốn động từ mô tả về những hành động tàn phá của Đức Chúa Trời có tính cách trái ngược với nội dung của những lời hứa (38-45).  Giao ước xem như bị phế bỏ và mạng lưới phòng thủ của quốc gia bị phá tan (38-41) quân thù đang đà cường thịnh còn ngai vàng Đa-vít đổ dài trên mặt đất (42-45) như vậy lòng nhân ái ngày xưa mà Chúa đã hứa cho Đa-vít đâu còn (46-49) Thưa Chúa, xin đừng quên đầy tớ Ngài và người mà Chúa đã xức dầu (50-51).

Nên làm gì khi những lời hứa quan trọng không thành sinh ra thất vọng trầm trọng?  Những lời hứa cho Đa-vít là rõ ràng hiển nhiên.  Giao ước được thiết lập (3) được bảo đảm là sẽ tồn tại mãi mãi (28,34), nhưng nay bị phế bỏ (39).  Ngoài ra, đặc biệt còn tình yêu thương của Đức Chúa Trời nữa, theo định nghĩa là tình yêu thương không hề thay đổi: từ dùng để chỉ tình yêu thương trong câu 1,2,14,24,28,33,49 là tình yêu thương tận tâm tận tình, bởi ý chí chớ không phải do cảm xúc, đây là tình yêu thương có cam kết, bảo đảm.  Thi thiên này nằm trong hai ngoặc đơn do hai từ đó, trong thể số nhiều tạo thành (1,49).  Đây là chi tiết khá bất thường nhằm thu hút sự chú ý vì từ này ở thể số nhiều chỉ được dùng mười lần trong Cựu Ước so với hơn hai trăm lần trong thể số ít.  Trong thi thiên từ này ở thể số nhiều, ‘những sự cam kết về lòng yêu thương không hề thay đổi’ (1,49) nhằm nhấn mạnh về lời hứa có hai mặt đã hứa cho Đa-vít tất cả sự ưu ái: Đức Chúa Trời hứa cho Đa-vít một ngôi vua để cai trị toàn thế giới (22-25) có tình yêu thương bảo đảm (24), và một triều đại tồn tại mãi mãi (26-29,30-33) cũng được bảo đảm bởi tình yêu thương (28,33).

Thế mà chính những lời hứa trong giao ước, đặt cơ sở trên tình yêu thương lại không thành tựu.  Khi thành Giê-ru-sa-lem thất thủ (597, 586 T.C.), khi các vua cuối cùng bị lưu đày rồi (IIVua 24:8-12  25:6-7) rất dễ mường tượng cảnh tác giả thi thiên này, bị lưu đày ở Ba-by-lôn, ngẫm nghĩ lại những biến cố đó và ngay thẳng đối diện với một ngôi vua bị trị thay vì thống trị, còn triều đại tan nát trong cát bụi rồi thắc mắc như Ba-la-am:  Phải chăng Đức Chúa Trời hứa rồi không làm trọn?  Nhưng câu trả lời của ông hết sức là lạ lùng.  Khi các lời hứa của Đức Chúa Trời có vẻ như không thành tựu, thì hãy xác nhận sự thật bằng bài ca vui mừng (1,2) và trình tất cả nỗi buồn phiền đối với những lời hứa không thành tựu qua lời cầu nguyện với Đức Chúa Trời (46-49,50-51).  Cần nhớ là tác giả quyết tâm ca hát về những lời hứa (1-2) trong khi ông biết là ông sẽ ghi lại là những lời hứa đó chưa thành tựu (38-45) rồi ông xót xa dâng lên lời cầu nguyện khi thấy rằng cho đến nay vẫn không có dấu hiệu nào về biện pháp cứu vãn.  Nhưng  làm như ông là đúng lắm vì (trong chương trình của Đức Chúa Trời) chẳng bao lâu sau từ đất khô hạn một chồi sẽ đâm nẩy lên (Es 53:2) rồi Đức Chúa Trời ra đời trong dòng dõi Đa-vít (9:6-7) sẽ cai trị trong sự đắc thắng (9:4,5) và công nghĩa (11:1-5  32:1) cho đến đời đời (Lu 1:31-33).

Tóm lại, không phải là những lời hứa đó không thành tựu, nhưng con người không đủ khả năng hiểu cách đo thời gian của Đức Chúa Trời cùng sự phức tạp trong luật lệ của Ngài đối với thế giới nên không thể theo kịp cách làm việc của Ngài.  Với chúng ta cũng vậy: không bao giờ có chuyện lời hứa của Đức Chúa Trời không thành tựu, có vẻ chậm thành tựu khiến có người đâm nghi ngờ (IIPhi 3:4) - mà không phải chỉ có lời hứa quan trọng về sự trở ngại của Chúa Giê-xu nhưng ‘cho dù những lời hứa của Đức Chúa Trời có nhiều đến đâu đi nữa thì tất cả đều thành tựu trong Đấng Cứu Thế’.  Những lời hứa của Đức Chúa Trời không thể làm cho chúng ta thất vọng, dù sự trông đợi của chúng ta có thể có lúc bị đổvỡ.  Vào những lúc đó, như tác giả thi thiên, chúng ta cần chuyển những lời hứa đó thành bài ca và chuyển những nỗi thất vọng thành lời cầu nguyện.  2  Bài ca trong câu 1 phát sinh từ lời xác định trong câu 2.  Khi Đức Chúa Trời tuyên bố rằng không bao giờ có chuyện lời của Đức Chúa Trời không thành tựu, thì môi miệng luôn tràn tiếng ca.  Đời đời (2,4,16,28,29,36,37).  Với nhiều lối nói khác nhau những câu này nhấn mạnh ý tưởng đời đời, mãi mãi.  Khúc mắc mà tác giả thi thiên đã đối diện và ông muốn cho chúng ta cũng phải đối diện là: Đức Chúa Trời đã hết lòng cam kết dấn thân cho đến đời đời, nhưng những lời cam kết đó có vẻ như không được tuân thủ.  Làm sao xử lý sự việc?  5-8,9-12  Điểm chính trong hai khổ thơ này là một khi không có quyền lực nào ở trên trời hoặc nơi trần gian này có thể chống lại Đức Chúa Trời thì điều gì đã có thể ngăn trở Ngài thực hiện những lời hứa của mình?  9,10  Biển thường được dùng để tiêu biểu cho cõi vũ trụ bất ổn, trong đó có những kẻ thù không hề ngơi nghỉ quyết tâm chống lại Đức Chúa Trời.  Chuyện thần thoại ngoại giáo ‘nhân cách hoá’ sự chống đối này, biến nó thành cuộc chiến giữa Marduk, thần sáng tạo, chống lại quái vật Ra-háp là thần gây ra những xáo trộn ngổn ngang.  Cuộc chiến này diễn ra trước cuộc sáng tạo nhằm chuẩn bị cho Marduk một hoàn cảnh thuận lợi để thực hiện công việc của mình.  Trong Kinh Thánh Ra-háp là tên gọi giễu của Ai Cập (Es 30:7), vì những việc Marduk đã làm là làm vào lúc không có ai chứng kiến (và vì vậy phải có tính nhẹ dạ lắm mới tin nổi), còn Đức Chúa Trời hành động trong lịch sử, khi Ngài làm tan nát Ai Cập và rẽ Biển Đỏ ra (51:9-11), thì dân sự có mặt tại đó để nhìn thấy vàlàm chứng về quyền năng chiến thắng của Ngài (Phu 1:30).  Lịch sử đặt nền tảng chắc như đá cho ngành thần học.  13-14  Sức mạnh ... công bình ... yêu thương.  Phải chi chúng ta có thể chối bỏ một trong ba điều này thì có thể lý giải được tất cả mọi vấn đề đau khổ.  Chúng ta có thể giải nghĩa rằng Đức Chúa Trời có quyền năng và công nghĩa trong mọi việc Ngài làm nhưng không phải lúc nào cũng yêu thương hoặc cũng có thể giải thích rằng Ngài là Đấng công nghĩa và yêu thương, nhưng không phải lúc nào Ngài cũng có đủ năng lực quyền hành để làm điều Ngài muốn hoặc chúng ta lại có thể giải thích rằng Đức Chúa Trời yêu thương và có quyền năng, sức mạnh nhưng không phải lúc nào Ngài cũng công nghĩa.  Nhưng đằng này Đức Chúa Trời luôn luôn có ba yếu tố trên và mỗi một hành động của Ngài đều do năng lực tối thượng, sự công nghĩa thánh khiết và tình yêu thương không hề thay đổi của Ngài, nên chúng ta đối diện với cuộc sống bằng đức tin thay vì bằng lời giải thích, với lòng tin cậy nơi Ngài thay vì ỷvào lập luận riêng của chúng ta.  18  Dân sự của Đức Chúa Trời được phước hạnh (15-16) bởi vì (17) Đức Chúa Trời là sức mạnh của họ họ được mạnh mẽ (18) bởi vì họ có Đức Chúa Trời là vua cai trị trên họ.  Và như vậy, vua không còn cai trị thì phước hạnh cũng chấm dứt - họ chỉ được phước hạnh trở lại khi vua trở lại cai trị họ.  19  Đặt một người mạnh dạn làm kẻ tiếp trợ - Đa-vít được Đức Chúa Trời giúp đỡ chống lại Gô-li-át (ISa 17:37).  25  Biển ... sông, chỉ về toàn thế giới. 26,27  Cha tôi ... con trưởng nam (xem bình giải Thi 2:7).  30-33  (so sánh IISa 7:1-16).  Thi thiên nhắc lại những lời hứa căn bản mà Đức Chúa Trời đã dành cho Đa-vít.  37  Đấng chứng thành tín có thể là cầu vồng (Sa 9:12-17) hoặc căn cứ vào câu 6 có thể là chính Đức Chúa Trời.  38-45  Dù những câu này không cụ thể đề cập đến biến cố thành Giê-ru-sa-lem thất thủ, thì những câu này cũng mô tảmột biến cố nghiêm trọng chớ không phải một lần chiến bại sơ sơ nào đó của vua Đa-vít.  Không thể nào tác giả lại mô tả một lần thất bại sơ sơ nào đó bằng những từ nghiêm trọng như vi phạm giao ước hoặc những hình ảnh mạnh mẽ như  ném vương miện vàngai vàng xuống đất.  Chẳng có chuyện gì phù hợp với các câu này cho bằng những biến cố trong những năm 597 T.C. và 586 T.C. kéo theo sự lưu đày và kết thúc nền quân chủ.  Cũng vậy, câu 46 cũng mô tả sự khủng hoảng kéo dài vào dịp những biến cố đó.  46-49,50-51  Hai bài cầu nguyện này đều nài xin Đức Chúa Trời nhớ lại, không phải vì Ngài đã quên, nhưng (như trong Xu 2:24-25) xin Ngài tăng mối quan tâm và chăm sóc dành cho dân của Ngài qua những hành động mới mẻ.  Bài cầu nguyện thứ nhất xin Chúa hành động gấp.  Đương nhiên tác giả muốn sống để chứng kiến thế cờ lật ngược, tức là tái lập nền quân chủ và Si-ôn.  Bài cầu nguyện thứ hai than thở về tình trạng xót xa của dân sự của Đức Chúa Trời.  Đè nặng trên tâm hồn của tác giả là sự chế giễu của các dân tộc là những người đã tàn phá thành Giê-ru-sa-lem và lật đổ nền quân chủ - và nếu ông ta đang bị lưu đày tại Ba-by-lôn, thì sự chế giễu này xoáy vào ông là người đặt niềm tin nơi Đức Chúa Trời chủ tể mà lại đành  chịu thân phận lưu đày.  Chẳng những thế thôi (51) phải chăng mặt ông thật sự nhìn thấy vua thuộc dòng Đa-vít bị điệu đi khắp phố phường tai nghe người ta giễu mình trong từng bước đi?  Chúng ta có thể dễ dàng xem hai bài cầu nguyện này như là của mình khi mà thế gian loại bỏ hội thánh của Chúa Giê-xu Cứu Thế và nhạo báng Danh của Ngài, còn chúng ta, về phần mình, chúng ta khao khát phục hưng và trông mong Danh của Ngài được tôn cao trên tất cả mọi danh.

93. BẢO VỆ CHỦNG LOẠI GẶP NGUY CƠ TUYỆT CHỦNG (Thi 90:1-17)

Dựa theo bản văn của thi thiên này trong nguyên ngữ Hi Bá Lai thì rõ ràng đây là một bài cầu nguyện của Môi-se dưới dạng của một bài thơ.  Các vị bình giải nào phản đối nhận định này chắc là không có lý cớ đáng kể.  Chẳng có hoàn cảnh nào phù hợp với nội dung của thi thiên này cho bằng hoàn cảnh của Môi-se trong những năm tẻ lạnh bị ngăn cách khỏi Đức Chúa Trời (Dan 14:34).  Đây là một thi thiên hay tuyệt, cảm động và thực tế, bàn thẳng vào những sự bất an bất ổn của chúng ta và cho chúng ta một niềm hi vọng cùng một cách xử trí.

(Thi 90:1-2)  Một địa chỉ cố định đối với thời gian cõi đời đời  Hai câu này mở đầu với yếu tố thời gian gắn liền với đời sống của loài người, từ đời này qua đời kia, ‘hết thế hệ này đến thế hệ khác’, và kết thúc với sự sống của Đức Chúa Trời trải dài đến vô định, từ cõi đời đời đến đời đời.  Trong dòng thời gian này và cõi đời đời chúng ta có một địa chỉ cố định.  ‘Ngài đã chứng tỏ rằng Ngài là nơi ở của chúng ta’.  Liên hiệp với Ngài chúng ta có sự ổn định.  Có thể Môi-se nói điều này với bao nỗi niềm xúc cảm!

(Thi 90:3-11)  Chủng loại nguy tuyệt chủng  Bốn mươi năm chậm chạp trôi như một dòng sông rộng, Môi-se buồn bã nhìn thời gian dần dà đem đi tất cả đám con trai đông đảo của mình (3-6, Dan 14:23,29  Phu 2:14-16) và qua những cảnh tượng đó ông ý thức được thực tế đáng sợ của cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi (7-11).  Nhưng lẽ thật mà ông  đúc kết lại là xác thực đối với toàn thể nhân loại: bị đe doạ bởi yếu tố tạm bợ (3-6), và bị bầm dập vì cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (7-11).  Đức Chúa Trời định đoạt cho chúng ta số phận tạm bợ và chóng qua.  Đức Chúa Trời chỉ thị là chúng ta trở về với bụi đất (Sa 3:19)- một số phận bắt buộc, vì (4) ngay cả những người sống đến gần ngàn năm (5:1-32) cũng phải chết như mọi người, và ai nấy đều như cỏ xanh mởn mơ vào buổi sáng, đến chiều chỉ còn là cỏkhô (5-6).  Sao sự thể lại như vậy?  Vì sao một dòng giống được định cho ăn cây sự sống và sống đời đời (2:16  3:22) lại tàn rữa trong bụi đất và ngủ trong sự chết?  Từ ‘Vì’ trong câu 7 dẫn vào câu trả lời - vì cơn thạnh nộ của Chúa - Ngài nổi giận chống lại sự gian ác ... tội lỗi giấu kín (8), cơn giận (9)!  Phải chăng chỉ vì tâm hồn ưu sầu triền miên không phương khắc phục mà người ta nói rằng cuộc đời kết thúc trong tiếng than (9) còn nếu sống lâu hơn chỉ chuốc lấy buồn khổ mà thôi (10)?  Dĩ nhiên cuộc đời còn những phương diện khác nữa.  Nhưng khi chúng ta nhìn lại thì mẫu số chung của nhân loại trên toàn thế giới là câu chuyện buồn thảm về những cuộc đời tan nát bởi tội lỗi, buộc phải chịu trách nhiệm với Đức Chúa Trời là Đấng gớm ghê tội lỗi.

(Thi 90:12-15)  Bảo vệ chủng loại nguy tuyệt chủng  Phần còn lại của bài thơ gồm sáu lời cầu nguyện.  Qua lời cầu nguyện chúng ta đối phó với sức tàn phá của tội lỗi, qua lời cầu nguyện chúng ta vào nơi cư trú (1) trong Ngài.  Đây là cách thức Môi-se đã áp dụng (thí dụ Xu 15:25  17:4  32:31-32), Có bốn lời cầu nguyện nhằm bảo vệ chủng loại có nguy cơ tuyệt chủng: nhận biết thời gian của chúng ta có hạn để lo sử dụng cách khôn ngoan (12) nài xin ơn thương xót từ nơi Đức Chúa Trời sẵn lòng làm hoà (13) đối phó với sự khô héo của cuộc đời (ban mai trong câu 5-6) với ban mai mới mẻ tràn ngập tình yêu thương nhân từ của Ngài không hề thay đổi trong suốt cuộc đời của chúng ta (14) chăm tìm kiếm Ngài hầu cho cuộc sống đầy dẫy sự vui mừng bằng không sẽ đầy khốn khó (15).  Sau đây là bốn bức tường vững chãi tạo nên nơi cư trú của chúng ta trong Đức Chúa Trời: Ngài là sự khôn ngoan của chúng ta (12, ICo 1:30), sự tha thứ (13  Es 55:7), sự ổn định cho chúng ta trong suốt cuộc đời (14  73:26), sự đổi mới của chúng ta (15, Ro 6:4-8).

(Thi 90:16-17)  Cùng chia sẻ bản tánh của Đức Chúa Trời  Thi thiên kết thúc như mở đầu bằng cách viết về Đức Chúa Trời, ‘Chúa’ (1,17), và các thế hệ chóng qua (1,16).  Thi thiên mở đầu với lời xác nhận rằng chúng ta có thể bước vào cư trú cố định trong Ngài (1) thi thiên kết thúc với lời cầu nguyện xin Ngài đến với con cháu của chúng ta trong sự vinh quang vinh hiển của Ngài (16) và trên chúng ta với ơn huệ (17) của Ngài.  Chẳng những Ngài rộng mở đón tiếp chúng ta (1) Ngài còn chia sẻ chính mình Ngài cho chúng ta (16-17).  Từ bao thế hệ trôi qua chúng ta là những người vướng mắc trong dòng đời tạm bợ chóng qua ở dưới cơn thạnh nộ âm ỷ của Đức Chúa Trời, nay được khiến trở nên người có cùng bản tánh với Đức Chúa Trời (IIPhi 1:2-4) với tất cả những sự vinh hiển và huy hoàng.

94. CÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ THIÊN SỨ BẢO VỆ (Thi 91:1-16)

Có những nguy cơ mai phục nằm chờ chúng ta (3), có những nguy cơ hiểm độc lén lút tấn công (3,6) có những nguy cơ phát sinh tự sự kinh hãi của chúng ta, có thật hoặc tưởng tượng, có nguy cơ phản ánh sự thù địch (5) có những nguy cơ chúng ta gặp trên đường đời (12-13).  Cuộc sống là như thế đấy.  Nhưng lòng tin cậy đơn sơ đem chúng ta vào nơi phòng thủ vững chắc (2), sự bảo vệ ấm áp của chính mình Đức Chúa Trời đầy lòng quan tâm đã cam kết (4) và hàng đoàn thiên sứ bảo vệ trong từng bước đi trên đường đời (11).  Tất cả những điều này được xác định trong một hình thức nhằm nhấn mạnh sự kiện chúng ta được bảo vệ.

A1 (c.1)  Xác định chủ đề: sự bảo vệ chắc chắn.

B1 (c.2)  Lời làm chứng của cá nhân.

C1 (c.3-8)  Xác nhận.

B2 (c.9a)  Lời làm chứng cá nhân.

C2 (c.9b-13)  Xác nhận.

A2 (c.14-16)  Củng cố chủ đề: sự bảo vệ của Đức Chúa Trời.

Đây là lời làm chứng của một cá nhân (2, 9) dưới dạng một bài thơ nhưng vấn đề không phải chỉ có chừng nấy.  Lời làm chứng có thể là sản phẩm của trí tưởng tượng hoặc ước mơ vả lại, dù gì đi nữa, chuyện có thực đối với người này không nhất thiết là đúng khi áp dụng cho người nọ.  Nhưng trong trường hợp này lời làm chứng của con người được bao trùm trong lời làm chứng của Đức Chúa Trời (1,14-16) và được xác nhận bởi lời của Đức Chúa Trời (3-8,9-13).  Toàn bộ bài thơ là một tuyệt tác trình bày rất khéo léo một sự kiện căn bản quan trọng: chúng ta luôn luôn được an toàn hoàn toàn.  Chuyện bài thơ được sáng tác nhân một trường hợp nào thì chúng ta chỉ có thể phỏng đoán thôi.  Phải chăng một cá nhân có vấn đề tìm đến một vị tiên tri, rồi vị tiên tri này vận dụng lời của Đức Chúa Trời đáp ứng cho nhu cầu của đương sự, sau đó đương sự được vinh dự làm người chuyển lời của Đức Chúa Trời lại cho chúng ta?  Phải chăng toàn bộ bài thơ là nỗi niềm suy tư của một người về một lẽ thật quan trọng căn cứ trên kinh nghiệm và sự thật.  Dầu sao đây vẫn là thi thiên hằng ngày của mỗi một tín hữu.

(Thi 91:1).  Sự bảo vệ chắc chắn  Đấng Tối Cao (Sa 14:18-22).  Áp-ra-ham đã nhận ra Đức Chúa Trời của Mên-chi-xê-đéc đúng là Đức Chúa Trời của ông nhanh chóng làm sao! - vì Ngài đã chứng tỏ quyền hạn tối cao vinh hiển của Ngài trong sự chiến thắng.  Đấng Toàn Năng (17:1  28:3  35:11  43:14  48:3  49:25).  Sự tra cứu những câu Kinh Thánh trên đây cho thấy Shaddai là Đức Chúa Trời.  Chính trong Đức Chúa Trời Shaddai mà mọi sự yếu đuối của con người đều có thể tìm được đầy đủ năng lực.

(Thi 91:3-8)  Bảo vệ khỏi những mối nguy trong đời  Ở đây nhấn mạnh những điều không trông mà xảy đến trên chúng ta.  Nên tách thi thiên này khỏi Kinh Thánh nếu chúng ta hiểu rằng thi thiên là một lời hứa về sự miễn trừ dành cho chúng ta.  Ở đây, cũng như ở những chỗ khác (thí dụ Ro 8:28), lời hứa không phải là được an toàn khỏi nhưng được an toàn trong.  4  Lông (Thi 61:4  Lu 13:34).  Cái khiên ... cái can (thành luỹ) hai hình thức bảo vệ để chỉ chung về mọi hình thức bảo vệ có thể vận dụng.  8  Một ngầm ý đơn giản là đơn sơ tin cậy bảo đảm có sự bảo vệ và cũng kéo theo bổn phận về mặt đạo đức.

(Thi 91:9a)  Tìm được sự bảo vệ (Nghĩa đen).  Thật vậy, Chúa là nơi trú ẩn của tôi!  Chúa đã dùng nơi cao nhất làm nơi ở.

(Thi 91:13) Sự bảo vệ trên đường đời  Những câu này đặt nặng các nguy cơ mà chúng ta gặp trên mọi nẻo đường, trong và ngoài cuộc sống.  Khi Sa-tan dùng để tấn công Chúa Giê-xu, lời phản công của Chúa Giê-xu cho thấy lòng tin cậy thật sự không đòi hỏi Chúa phải tự mình chứng minh nhưng đơn sơ yên nghỉ trong sự chăm sóc của Đức Chúa Trời (Mat 4:5-7).  12-13  Sư tử và con rắn tiêu biểu cho những sự nguy cơ có vũ lực và quỷ quyệt.

(Thi 91:14-16)  Đức Chúa Trời hứa bảo vệ  Đức Chúa Trời hứa tám điều: giải cứu (hành động can thiệp), an toàn (bảo vệ, đặt ở nơi cao quá tầm nguy hiểm), trả lời cho sự cầu nguyện, ở bên cạnh làm bạn trong lúc túng quẫn, giải thoát (khỏi những sự đe doạ), binh vực (danh dự), đạt được những điều mong ước (thoả lòng) và vui mừng trong sự cứu rỗi.  Chú ý là tám điều này khởi từ hành động đầu là giải cứu đến khi hoàn toàn hưởng sự cứu rỗi bao gồm luôn tất cả can thiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu.  Cần hội đủ ba điều kiện: yêu mến ta (tình yêu thương tha thiết đến nỗi gắn bó với người thân yêu), biết danh ta (sống với Đức Chúa Trời theo những điều Ngài đã khải thị về chính mình Ngài) và cầu nguyện (người sẽ kêu cầu ta).

95. MỘT NGÀY ĐỂ QUYẾT ĐỊNH THEO AI.(Thi 92:1-15)

Tâm điểm của toàn bộ thi thiên này là câu 8.  Đây là câu mạnh mẽ xác nhận sự vinh hiển tối cao của Đức Chúa Trời, có thể dịch là: ‘Ngài chính là sự vinh hiển tối cao!’  Từ tâm điểm này bung ra những vòng cung hội tụ, trước tiên là vòng cung về sự tể trị của Ngài về mặt đạo đức trên thế giới (6-7,9).  Có những thành phần không ý thức về việc này - những người u mê trong câu 6 nhưng cũng có những thành phần biết (9, kìa sự huỷ diệt (7) có sự hư mất (9) đang chờ kẻ ác.  Vòng cung thứ hai gồm có những người được Đức Chúa Trời tôn trọng (4-5,10-11).  Trong câu 10, ngước cao là một từ liên hệ trực tiếp với từ tôn cao trong câu 8: chúng ta được Đức Chúa Trời cho phép cùng có những điều Ngài có.  Chúng ta vui vẻ mừng rỡ (4-5) và đắc thắng (10-11) nhờ những việc Ngài đã làm.  Vòng cung ngoài cùng là sự ca ngợi không thể thiếu dành cho Đức Chúa Trời (1-3 ca ngợi suốt ngày đêm 12-15 ca ngợi suốt đời).  Cả hai phân đoạn thuộc về vòng cung ngoài cùng này (1-3,12-15) nhấn mạnh Đức Chúa Trời là ai (Đức Giê-hô-va, Đấng Chí Cao, danh, sự thành tín của Ngài, sự nhân từ của Ngài ... Đức Giê-hô-va, Hòn Đá, ngay thẳng, chẳng có sự bất nghĩa) cả hai phân đoạn này cũng xác nhận sự cam kết ‘truyền rao ra’ nhưng câu 1-3 truyền rao về Đức Chúa Trời, còn câu 12-15 mô tả đời sống mà chúng ta được hưởng khi chúng ta ‘thuận hoà’ với Ngài.

Tiêu đề của thi thiên ghi rằng đây là một bài ca dùng vào ngày Sa-bát và các chủ đề trong thi thiên song hành với những chủ đề chính trong Es 58:1-14 xác nhận tiêu đề là chính xác: một ngày để ca ngợi (1-3,14-15) tập trung ca ngợi Đức Chúa Trời vinh hiển tối cao (8) một ngày để công nhận sự thánh khiết của Ngài và để tái xác nhận chúng ta biết Ngài phân biệt điều sai với điều phải (6-7,9) một ngày để ôn lại những việc Ngài đã làm (4-5), nhất là đã làm cho chúng ta (10-11).  1  Tốt, tự thân là đúng, phải và khiến cho đương sự hài lòng.  Danh, tất cả những điều Ngài đã tự khải thị.  4-5  Chú ý ở đây và trong phân đoạn song song câu 10-11: niềm tin thật của một cá nhân là như thế nào.  Đây là một thi thiên viết về sự vui thích ‘của tôi’ trong Đức Chúa Trời (trong khi đó, vẫn không quên, 12-15, đám đông những người khác).  Vui vẻ mừng rỡ hoà thinh, cảm xúc và hình thức bộc lộ, nỗi lòng và tiếng ca.  Các việc tay Ngài làm, gồm công cuộc sáng tạo, những việc trong ơn thần hựu và sự cứu rỗi.  6  U mê có thể diễn ý là người ‘không thuộc linh’, chỉ là con người thiên nhiên mà thôi (cũng được mô tả trong Thi 49:11  73:22).  Động từ dùng chung với chủ từ này có nghĩa là ‘thuộc về xác thịt’, không có Đức Chúa Trời vận hành đem lại sự sống thuộc linh, không có lẽ thật đã được khải thị (Ch 30:2,3).  Ngu dại, người không bao giờ hiểu sâu xa sâu sắc những vấn đề đằng sau bộ dạng bên ngoài. 7  Cỏ ... hưng thịnh, sự thịnh vượng phát đạt không đúng với số phận tạm bợ và bất định.  Để bị diệt đời đời có ý mạnh hơn là ‘được định cho sự huỷ diệt’.  9  Đúng như hướng nhấn mạnh của Kinh Thánh, kẻ dữ trong câu 7 trở nên kẻ thù nghịch của Ngài.  Chung cuộc sẽ hiệu đính câu nói quen thuộc lâu nay là Đức Chúa Trời ghét tội lỗi nhưng yêu thương tội nhân vì những người cố tình chống nghịch Đức Chúa Trời thì rồi đây sẽ thấy ngày Ngài đích thân chống lại họ.  12  Người công bình, những người ‘hoà thuận với Đức Chúa Trời’.  Cây kè... cây hương nam, trái ngược với cỏ (7).  Biểu thị giá trị, sức mạnh và bền bỉ lâu dài.  13  Được trồng (nghĩa đen) ‘được cấy, bứng lên để trồng lại ở chỗ khác’ được đưa vào một vị trí mới theo chương trình ý định của Đấng Làm Vườn.  Nhà ... hành lang, được chấp nhận, có sự an toàn khi đứng trong sự hiện diện của Ngài.  15  Hầu cho tỏ ra, có ý mạnh hơn là, ‘có khuynh hướng truyền rao ra’: tuổi đời càng cao sự quyết tâm trong phần thuộc linh càng tăng.  Sự bất nghĩa, lệch ra khỏi mức chuẩn, trái ngược của ngay thẳng.  Hòn đá, một hình ảnh phát xuất từ Xu 17:1-7.

96. “GIÊ RU-SA-LEM CA NGỢI”: NHỮNG BÀ HÁT VỀ VỊ VUA VĨ ĐẠI (Thi 93:1-100:5)

Nhóm thi thiên này tập trung vào chủ đề về vương quyền của Đức Chúa Trời.  Ngài cai trị (Thi 93:1  96:10  97:1  99:1), Ngài là vua (95:3  98:6).  Thoạt tiên dường như 94:1-23 và 100:1-5 không phù hợp với chủ đề này (so sánh 96:10-13  98:9) nhưng 94:2 dùng từ quan xét tương đương với vua, còn 100:1-5 vẫn giữ vững vị trí của mình trong nhóm nhờ có liên hệ với 99:1-9, ngoài ra còn có chung một chủ đề với 95:1-11 (so sánh 95:6,7  100:1-3).  Kể ra cũng là một ý hay nếu xem các thi thiên này là một tuyển tập những bài ca để dùng trong một buổi lễ nào đó như Lễ Lều Tạm chẳng hạn.  Vì Lễ Lều Tạm đánh dấu vụ thu hoạch hằng năm đã hoàn tất (Xu 23:16  Phu 16:13) và cũng là lễ ca tụng cuộc chiến thắng của Đức Chúa Trời đối với Ai Cập và sự chăm sóc mà Ngài dành cho dân sự của Ngài trong một thế giới thù địch (Le 23:39-43) nên dễ chuyển sang chủ đề ca tụng vương quyền của Ngài (Xa 14:16).  Cũng có thể (Xem Dẫn Nhập) lễ này đã trở nên một lễ hằng năm đặc biệt tán dương vị vua vĩ đại.  Dù sao đi nữa các thi thiên vẫn ở chung trong một nhóm, từng đôi một đóng góp vào chủ đề vương quyền: 93,94, Vua trên hoàn cầu 95,96, Vua trên tất cả các thần 97,98 Vua trong lòng dân sự của Ngài 99,100, Vua đúng theo bản tánh của Ngài.

1. Vị trí của đức tin: Vị trí của sự cầu nguyện (Thi 93:1-94:23)

Hình ảnh vị vua nắm quyền cai trị cách dễ dàng (Thi 93:4) trên những lượn sóng đập dữ dội được lồng vào chức vụ của vị Quan Xét (94:2) cai trị trên thế giới nơi kẻ ác đang đè bẹp dân sự của Ngài (94:4-5), tại nơi đó quyền cai trị của Đức Chúa Trời được thể hiện qua ơn thần hựu sắp xếp trong đời thường (94:10,12) và đang chờ thể hiện trong ngày chung kết (94:15,23).  Sự thật thuộc linh về vương quyền cao cả của Đức Chúa Trời (93:1) phải chứng kiến sự soán ngôi của kẻ kiêu ngạo (94:2) và ngôi vị của kẻ ác (20).  Dân sự của Đức Chúa Trời trang trọng trong sự yên tĩnh xưng nhận vương quyền của Ngài (93:1-5) và trong cuộc đời ồn ào huyên náo họ kinh nghiệm được cách thức Ngài cai trị thế gian (94:1-23).

(Thi 93:1-5)  Suy tôn vua  Sự xác nhận trong câu 1-2 chuyển qua hình ảnh trong câu 3-4 và những kết quả quan trọng đối với dân của Đức Chúa Trời (5) câu 1-2 chuyển động từ Đức Chúa Trời ngự vững vàng trên ngôi xuống đến sự vững vàng của thế giới mà Ngài cai trị.  Câu 3-4 chuyển động sự náo loạn của các ‘lực lượng’ tại địa cầu lên đến quyền năng tối cao uy nghi của Ngài.  Địa cầu là một nơi cư ngụ an toàn vì có Ngài cai trị dù khi tình hình náo động đạt mức tối đa, vẫn còn có Ngài ngự trên ngôi cai trị.  1  Chú trọng đến xiêm y của Đức Chúa Trời: mặc ... mặc ... thắt lưng, xiêm y chỉ về tâm tánh và ý định (thí dụ Gios 5:13-15  Es 59:16-18).  Đức Chúa Trời mặc xiêm y của vua Chúa vì Ngài là vua, và Ngài có ý định sẽ hành xử trong phong cách một vị vua.  Không rõ vì sao thế gian được lập vững bền, không thế bị rúng động, nhưng câu này nằm giữa sự cai trị của Đức Chúa Trời (1) và ngôi của Ngài (2) nên rất có ý nghĩa.  Trong khi Ngài còn cai trị thì địa cầu vững vàng.  3-4  dùng tình trạng luôn luôn xao động của biển để mô tả tất cả những lực lượng phá hoại và thù địch trong thế giới thọ tạo - khi thì chính những trận bão dữ dội, khi thì sự náo động của các quốc gia (Thi 2:1-12) hoặc (như người không tin Đức Chúa Trời nghĩ) cuộc chiến không ngừng của những thần linh phá hoại chống lại Đấng Tạo Hoá.  Dù sự xao động có là gì đi nữa, Đức Giê-hô-va ở nơi cao có quyền năng.  5  phù hợp với câu 2 về mặt cấu trúc của thi thiên.  Trong câu 2 Đức Chúa Trời với bản thể đời đời ngự trên ngôi đời đời trong câu 5 Đức Chúa Trời là Đấng ngự trong nhà của Ngài giữa vòng dân sự đã tuyên phán lời không hề thay đổi và đã ấn định rằng sự thánh khiết của Ngài là một yêu cầu không hề thay đổi.

(Thi 94:1-23).  Kinh nghiệm về vua Calvin nói rằng: ‘Tất cả mọi người công nhận rằng Đức Chúa Trời cai trị nhưng số người sử dụng cái khiên này để cự địch lại những quyền lực thù địch của thế gian ít ỏi làm sao!’.  Với câu nói này chúng ta đi ngang qua cầu nối 93:1-5 với 94:1-23.  Niềm tin của chúng ta an nghỉ trên quyền cai trị tối cao của Ngài (93:1-5), nhưng trong cuộc sống chúng ta thấy mình lẩn quẩn trong chỗ khókhăn (4-7), bị người ta chống đối bằng lời nói (4), bằng việc làm (5,6) và bằng một triết lý cho cuộc sống (7), triết lý này không nhất thiết chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nhưng cho rằng Ngài không hành động, không can thiệp, không thực tế.  Có thể là chúng ta bị chống đối, nhưng chúng ta rơi vào tình trạng vô vọng vì chúng ta có: (i) Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hoá là Đấng biết mọi sự (9), Ngài chưa thoái vị, chưa bỏ quyền cai trị thế gian về phương diện đạo đức (10), Ngài biết rõ từng chi tiết thực hư bí ẩn nhất của con người (11).  Chỉ có những người u mê và người ngu dại (8,  92:6) mới dám bỏ ngoài tai những lẽ thật đó.  (ii)  Ơn quan phòng thần hựu (12-15):  những nỗi lao khổ trong cuộc đời đều có mục đích trên bình diện đạo đức (12-13), đời sống đặt cơ sở trên niềm tin tưởng căn bản về sự thành tín của Đức Chúa Trời (14) và đưa vào một xã hội công nghĩa trong tương lai là nơi con người được tự do sống ngay thẳng chánh trực (15) (iii)  Đức Chúa Trời Đấng chăm sóc vỗ về (16-19): thật vậy, cuộc sống của chúng ta có thể cô đơn, bấp bênh và lắm ưu tư, nhưng Đức Chúa Trời ở bên phía chúng ta, tình yêu thương của Ngài ủng hộ chúng ta, sự an ủi của Ngài ở trong lòng chúng ta.  (iv)  Đức Chúa Trời chắc chắn đắc thắng (20-23):  vì Ngài là Quan Xét của thế gian (2) Ngài sẽ không chấp nhận thành phần cai trị thế gian thối nát, tham ô, áp bức và thối nát trên bình diện đạo đức.  Trái lại, mặc dù Ngài tự chứng tỏ Ngài là nơi trú ẩn hiện tại, nhưng chung cuộc Ngài đích thân xét xử chính xác và đich thân thi hành bản án huỷ diệt.  Thi 94:1-23 kết thúc với câu 22 cùng một ý tưởng như trong 93:1-5 là an nghỉ trong sự bảo vệ của Đức Chúa Trời: tin chắc Ngài đang lo liệu, rằng chúng ta có thể trú ẩn nơi Ngài, nhưng lẽ thật có tính cách ràng buộc trong 94:1-23 là lời cầu nguyện xin Đức Chúa Trời báo trả (2) và lòng tin chắc rằng Ngài sẽ báo trả (23).  Đức tin an nghỉ trong Đức Chúa Trời tối cao (93:1-5) nhưng ‘qua sự cầu nguyện chúng ta vật lộn’ với thế gian thù địch và đoạ đày này.  Cầu nguyện là hình thức đầu tiên mà chúng ta hưởng ứng một cách thực tiễn đối với quyền hành tối cao của Đức Chúa Trời: nếu thật sự Ngài là Đức Chúa Trời của 93:1-5, không còn việc nào ưu tiên hơn việc chạy đến với Ngài khi đối diện với cuộc đời đầy náo động (94:1-3).

2. Tin vui mừng về sự cứu rỗi (Thi 95:1-96:13)

Trong 95:1-11 hội thánh ca hát và thờ phượng, trong 96:1-13 hội thánh ca hát và chia sẻ.  95:1-11 hoàn toàn viết về hội thánh nhận biết Đức Chúa Trời là hòn đá, Vua và Đấng Sáng Tạo, Đấng Thiết Lập và Chăn Bầy, là Đấng mà ai nấy đều phải phục tòng.  Trong 96:1-13 hội thánh vẫn ca hát nhưng ngày sau đó đi ra làm chứng về Đức Chúa Trời độc nhất, đáng cho mọi người ca ngợi và Ngài đang ngự đến trong tư cách một vị quan xét của hoàn cầu.  95:1-96:13 bàn về mối liên hệ giữa vương quyền của Đức Chúa Trời với các ‘thần’ (95:3  96:4,5) và đây là nét đặc thù của hai thi thiên này.  Dầu vậy, cũng như Phao-lô quyết đoán về các vua chúa trong ICo 8:5, tác giả của hai thi thiên này không tẻ tách khỏi niềm tin nơi Đức Chúa Trời độc nhất đâu.  Nhiều lực lượng thần linh ở tản mác khắp nơi trong thế giới sa ngã này – có cả một ‘Chúa của đời này’ (IICo 4:4) – vì những thần đó cũng tác động trên dân sự của Đức Chúa Trời một cách mãnh liệt về những chuyện lầm lạc nên nếu nhắc lại sự kiện Đức Chúa Trời là Đấng Tối Cao (Thi 95:3) còn các ‘thần’ chỉ là những con số không vô giá trị (96:4,5) thì vẫn là việc đáng phải làm.

Đức Chúa Trời độc nhất các thần  Hai thi thiên này đặc biệt viện dẫn sự sáng tạo làm bằng cớ về một Đức Chúa Trời độc nhất.  So sánh với Đấng Tạo Hoá, các ‘thần’ khác là (không phải là élohim mà là) élihim (96:5) tức là nhái sự thật.  Họ chẳng phải là ‘thần thánh’ gì cả, chẳng có giá trị gì cả.  Trái lại Đức Chúa Trời là Đấng cầm quyền điều hành trên địa cầu (95:4-5).  Theo niềm tin ngoại giáo thì ‘thần’ Moléc kiểm soát các vực sâu, thần Ba-anh kiểm soát các ngọn núi, thần Tiamát kiểm soát biển cả đại dương.  Nhưng theo Kinh Thánh thì Đức Chúa Trời nắm quyền kiểm soát tất cả, và tất cả thuộc về Ngài vì Ngài đã sáng tạo ra tất cả.

Thi 95:1-11  Đức Chúa Trời độc nhất dân sự của Ngài

Cấu trúc của Thi Thiên 95 như sau:

A1 (c.1-2) Kêu gọi thờ phượng với niềm vui.

B1 (c.3-5) Giải thích về sự vĩ đại của Đức Chúa Trời.

A2 (c.6) Kêu gọi thờ phượng với lòng tôn kính.

B2 (c.7a-c) Giải thích về đặc ân của chúng ta.

A3 (c.7d) Kêu gọi vâng lời.

B3 (c.8-11) Giải thích về những hậu quả nghiêm trọng.

Đối với dân của Ngài Đức Chúa Trời là (i) Đấng Giải Cứu (1), theo ý ‘Hòn đá cứu rỗi’ trong Xu 17:1-7, năng động và đáng tin cậy, nguồn của sự sống, cứu thoát khỏi sự chết.  (ii) Đấng Chăn Bầy (6-7).  Đấng Tạo Hoá chúng tôi nơi đây không có ý nói về vấn đề sáng tạo vạn vật nhưng nói về cách Ngài lập dân sự để thuộc về Ngài.  Họ được lập vững vì Ngài đã quyết tâm lo toan cho họ: Đức Chúa Trời của chúng tôi, không phải chúng tôi đã chọn Ngài nhưng vì Ngài đã dấn thân vì chúng tôi Ngài có chương trình chu cấp cho họ: đồng cỏ (Dan 10:33,34), chính tay Ngài chăm sóc họ.  (iii)  Đấng Ban Luật Pháp (7-11).  Đức Chúa Trời kêu gọi những người được cứu vâng phục Ngài (7) và Ngài nghiêm chỉnh ban hành và thi hành luật pháp của Ngài, rồi nếu dân của Ngài bắt phục tòng thì Ngài áp dụng kỷ luật, vì toàn bộ một thế hệ (10) đã đánh mất phước hạnh vì không vâng lời (He 3:12-19).  Họ không chịu nghe lời Ngài, không chịu khuất phục trước ý muốn của Ngài hoặc không chịu học tập lẽ thật của Ngài, và kết quả là họ không được hưởng thiên ý và sự an nghỉ của Ngài dành cho họ.  Câu 8 đề cập đến sự cố cụ thể trong Xu 17:1-7 để làm thí dụ cho tình trạng thiếu lòng tin cậy.  Họ đã có quá nhiều bằng chứng bảo đảm là có thể tin cậy Đức Chúa Trời chu cấp trong mọi cảnh ngộ (12:1-16:26) nhưng khi đối diện với thung lũng có vẻ khô hạn, họ quay phắt từ tin cậy qua nghi ngờ, y như người Pha-ri-si trong thời Tân Ước nhắm mắt làm lơ trước mọi việc mà Chúa Giê-xu  đã thực hiện và từ chối không chịu tin  trong khi đó lại đòi hỏi một dấu lạ khác.

(Thi 96:1-13).  Đức Chúa Trời độc nhất phúc âm của Ngài

Cấu trúc của Thi Thiên 96 như sau:

A1 (c.1-2a) Kêu gọi toàn thế giới thờ phượng.

B1 (c.2b-3) Một mạng lịnh đối với hội thánh.

C1 (c.4-6) Một lời giải thích của Đức Chúa Trời độc nhất.

A2 (c.7-9) Kêu gọi toàn thế giới thờ phượng.

B2 (c.10) Một mạng lịnh đối với hội thánh.

C2 (c.11-13) Một lời giải thích của Đức Chúa Trời sắp đến.

Những người vui mừng trong Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi (95:1) cần quảng bá ra tin mừng về sự cứu rỗi, mời gọi thế giới ca ngợi danh của Ngài (2), tức là đáp ứng với những điều Đức Chúa Trời đã khải thị về chính mình Ngài, tiến vào trong sự hiện diện của Ngài (sự hoa mỹ ở nơi thánh Ngài) bằng những lễ vật mà Ngài ấn định (7-9) - hưởng ứng danh của Ngài (8,  c.2), đi vào hành lang của Ngài (8), được an toàn trước sự hiện diện thánh khiết của Ngài (9), và thờ phượng Ngài với lòng kính sợ đúng mức.  Nhưng tin mừng cũng gồm cả tinh thần mong đợi trông chờ (11-13).  Đoán xét nghĩa là ‘ổn định mọi việc cho đúng’ - trời đất, biển, thế giới thọ tạo, loài người và cõi thiên nhiên.  Trong sự cứu rỗi chung cuộc Ngài không quên một chi tiết nào trong mọi điều Ngài đã sáng tạo.

3. Sự công nghĩa nhìn thấy được, sự cứu rỗi đem lại vui mừng (Thi 97:1-98:9)

Các thi thiên này nhẹ nhàng đan thắt mối liên quan giữa vương quyền của Đức Chúa Trời với sự thánh khiết hoặc sự công nghĩa của Ngài (93:5  94:15,21,23  95:7  96:9,13).  Giờ đây mối liên quan này đạt đỉnh điểm với ngôi của sự công nghĩa (97:2), sự công bố của sự công nghĩa (97:6), sự kêu gọi đến với mưu tìm sự công nghĩa (97:10-12), sự khải thị đã qua và sắp tới về sự công nghĩa (98:2  98:9).  Các thi thiên này bày tỏ rõ ràng sự công nghĩa của Đức Chúa Trời là đáng kính sợ (97:2-5), những điều Ngài yêu cầu là rất nghiêm ngặt (97:10), số phận của người thờ hình tượng là như thế nào (97:7), dầu vậy các thi thiên này vẫn đậm nét âm sắc vui mừng hớn hở (97:1,8), ca hát và reo vui (98:1,4,7).  Làm sao sự vui mừng và sự phán xét, bài ca của con người và sự công nghĩa của Đức Chúa Trời có thể hoà nhập như vậy?  Câu giải đáp là nhờ sự cứu rỗi đã hoàn thành (98:1-3): Đức Chúa Trời có danh thánh (97:12) kêu gọi dân sự của Ngài mưu tìm sự thánh khiết là Đức Chúa Trời có khí giới thánh (98:1), Ngài đem đến cho họ sự cứu rỗi.

(Thi 97:1-12).  Vui mừng đối diện với những yêu cầu của sự thánh khiết Hoàn cầu và Si-ôn chia sẻ chung một niềm vui (mừng rỡ - vui vẻ - vui vẻ - mừng rỡ) – bất kể sự công nghĩa của Ngài là đáng sợ và có năng lực huỷ diệt (2-7), bất kể những yêu cầu của sự công nghĩa của Ngài (9-12): vì sự trái ngược nổi bật rất rõ giữa kẻ thù nghịch và người yêu thương, giữa sự huỷ diệt và sự bảo toàn, giữa sự vinh hiển mà mọi người đều thấy và ánh sáng chỉ người công bình mới được hưởng, giữa số phận của người thờ hình tượng và niềm vui của người công bình.  2  Mây, Đức Chúa Trời của Si-nai (Xu 19:16-19).  Sự công bình và sự ngay thẳng, cả hai đều bày tỏ về sự thánh khiết (Es 5:16): sự công nghĩa là sự thánh khiết được biểu hiện trong những nguyên tắc đúng đắn ngay thẳng là sự thánh khiết được biểu hiện trong những quyết định và những hành động đúng đắn.  3  Lửa.  Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời chống lại tội lỗi bằng năng lực huỷ diệt (Xu 3:3-5  19:16-18,20 so sánh Le 9:24).  Chính lửa của Si-nai đã làm bốc cháy của lễ thiêu đầu tiên do dòng tế lễ A-rôn dâng và chính lửa này đã cháy mãi trên bàn thờ: một của lễ đền tội đã làm thoả mãn sự thánh khiết.  4  Rúng động, không phải trong tư cách thế giới thọ tạo trước mặt Đấng Sáng Tạo mà là thế gian tội lỗi trước mặt Đấng Thánh (Cac 6:22  13:22  Es 6:5).  7  Hình tượng, những thần không phải là thần, chẳng có giá trị gì cả trong Thi 96:5.  10  Yêu mến, liên hệ đến từ chỉ về tình yêu thương không hề thay đổi của Đức Chúa Trời, có nghĩa là ‘những người được Ngài yêu mến và yêu mến Ngài’. 11  Bủa ra.  Hi Bá Lai ‘đã được gieo ra’ tức là đã trồng sẵn cho họ gặt hái, thu hoạch.  Trong mọi cảnh ngộ vẫn có thể hưởng sự công nghĩa.  12  Danh Thánh của Ngài, ‘kỷ niệm / nhớ lại sự thánh khiết của Ngài (so sánh Xu 3:15).

(Thi 98:1-9).  Niềm vui mừng đặt sở trên sự cứu rỗi đã hoàn tất Thi thiên này làm sáng tỏ vấn đề trong Thi 97:1-12.  Qua sự cứu rỗi đã hoàn tất cho Y-sơ-ra-ên các dân tộc trên thế giới thấy sự cứu rỗi của họ (3).  Thi thiên gồm có ba phần bắt đầu với câu 1,3,7:  c.1-3 sự cứu rỗi đã hoàn tất và ca ngợi Đấng Cứu Rỗi c. 4-6 toàn thế giới vui mừng vì có vua của hoàn cầu  c.7-9 ca ngợi Đức Chúa Trời sắp đến là Đấng hoàn thành những mục đích công bình của mình.  Ai nấy đều nhận biết và chứng kiến sự cứu rỗi mà Ngài đã thực hiện.  Toàn thế giới góp giọng ca và dùng nhạc khí để trổi tiếng reo mừng cho Đức Giê-hô-va, là Vua.  Biển và đất, sông và núi - toàn thế giới thọ tạo - liên kết với các dân tộc trên thế giới mà tung hô Đức Chúa Trời là Đấng sẽ đến xét xử thế gian (9), sắp xếp toàn bộ thế giới vào đúng kỷ cương.  1  Những sự lạ lùng, những điều phát xuất từ cõi siêu nhiên - như danh ‘Lạ Lùng’ (Es 9:6 so sánh Sa 18:14 (khó = lạ lùng), Gie 32:17).  Tay ... cánh tay, những hành động trực tiếp cộng với năng lực của Ngài.  2  Sự cứu rỗi ... sự công bình.  Đức Chúa Trời xét xử cách công bình như thế nào (Thi 97:2-5,6-7) thì Ngài cũng thực hiện sự cứu rỗi cách công bình như vậy.  Sự cứu rỗi của Ngài làm trọn tất cả những yêu cầu của sự công bình thánh của Ngài.  3  Trật tự ý tưởng ở đây rất quan trọng: bởi tình yêu thương dành cho Y-sơ-ra-ên mà thế giới được cứu.  7-9  Chú ý ở đây cũng mô tả cùng một cảnh tượng như  96:11-13.  Lý do khiến Kinh Thánh có khuynh hướng mô tả bối cảnh thiên nhiên là Đấng Sáng Tạo yêu thích cõi thiên nhiên thọ tạo (Sa 1:31), không phải trên bình diện con người mà toàn bộ.  Rồi đây, đến kỳ chung cuộc, khi Chúa Giê-xu trở lại, trời mới đất mới sẽ là dấu chứng đời đời về lòng yêu thương của Ngài (Eph 1:3-10).

4. Đức Chúa Trời thánh khiết và nhân từ (Thi 99:1-100:5)

Thi Thiên 99 kêu gọi ca ngợi và thờ phượng Thi Thiên 100 đáp ứng lời kêu gọi với toàn thể thế giới đến, bước vào và ca ngợi.  Cả hai thi thiên tập trung vào bản tánh của Đức Chúa Trời (xem dẫn nhập 93:1-100:5) là sự thánh khiết (99:3,5,9), nhân từ, yêu thương và thành tín (100:5).  Đặc quyền của dân tộc được Xuất Ai Cập (95:7) nay trở thành đặc quyền của toàn thể các dân tộc trên thế giới (100:3).

Thi 99:1-9.  Kêu gọi thờ phượng

(Thi 99:1-3).  Ân sủng của Đấng Thánh  Với điệp khúc về sự ‘thánh khiết’ (3, 5, 9) thi thiên này gồm có ba phần.  Phần một viết toàn là sự vĩ đại của vị Đại Vương các dân tộc run sợ đất rúng động trước mặt Ngài.  Dầu vĩ đại và đáng sợ, Đức Chúa Trời ngự ở Si-ôn, ở giữa vòng dân của Ngài, ngự trên ngôi ân sủng, vì Ngài ngự giữa chê-ru-bin, chân của Ngài đặt trên ‘ngôi thi ân’- nơi Ngài phán truyền với dân sự (Xu 29:42-46) và xá tội cho họ (25:17-22  Le 16:15 tiếp theo).  Sự vĩ đại của Ngài nằm ở phương diện Ngài là Đức Chúa Trời đầy ân sủng.

(Thi 99:4-5).  Luật pháp của Đấng Thánh.  Vua yêu thích luật của Ngài, đã lập ra (ở giữa vòng dân sự), và đã nêu gương thực thi theo luật bằng những hành động của Ngài.  Liên hệ đến bản tính của Ngài, câu 4a nghĩa đen là: ‘năng lực của vua yêu mến sự công bình’ - nghĩa là quyền năng tối cao của Đức Chúa Trời là vua hoàn toàn dốc đổ vào điều phải.  Chúng ta được gọi là Gia-cốp không với ý đề cao chút nào, vì với tên gọi mới, và bản tánh mới (Y-sơ-ra-ên) lắm lúc chúng ta cũng vẫn sống theo tánh cũ của Gia-cốp.  Luật pháp được ban ra không nhằm rập theo khả năng của chúng ta nhưng như thể giơ lên trước những bước chân chao đảo của chúng ta tấm gương phản ánh ý muốn toàn hảo của Đức Chúa Trời.  Nhưng những ai đối diện với sự ràng buộc trong luật của Đức Chúa Trời thì cũng thường xuyên sống trong ân sủng, vì chính ‘Gia-cốp’ được mời không những ca ngợi mà thờ phượng nơi bệ chân của Ngài, ngôi thi ân.

(Thi 99:6-9).  Thông công với Đấng Thánh.  Môi-se, A-rôn và Sa-mu-ên được nêu danh không phải vì họ được đặc ân nhưng vì họ là những người đặc biệt giữa vòng những người họ phục vụ.  Thi thiên nêu danh họ làm thí dụ cụ thể về đời sống đi với Đức Chúa Trời: (i) cầu nguyện và nhận được sự trả lời (6) : dấu chứng tiên quyết của dân sự thuộc về Đức Chúa Trời là mối thông công của họ với Đức Chúa Trời qua sự cầu nguyện (Phu 4:7  Thi 65:2  138:1-3).  Các động từ này ngụ ý: ‘thái độ quả quyết của họ là kêu xin, và Ngài liên tục trả lời’.  (ii)  Nghe và vâng lời (7).  Dân của Đức Chúa Trời sống theo lẽ thật siêu nhiên, lời của Đức Chúa Trời.  (iii)  Tha thứ vàsửa trị (8).  Tha thứ, ‘mang lấy tội’ nhìn lui đến Le 16:22 và nhìn vào tương lai đến Es 53:12 và Gi 1:29.  Nhưng cũng có vấn đề hình phạt vì tha thứ mà không có sửa trị sẽ làm cho chúng ta lờn, còn sửa trị mà không có tha thứ khiến cho chúng ta tuyệt vọng.  Tha thứ mà không có kỷ luật biến chúng ta thành trẻ con hư kỷ luật mà không có tha thứ sẽ là tan nát cõi lòng của chúng ta.  Nhưng vận dụng cả hai thì bảo đảm rằng chúng ta có thể coi tha thứ là việc chắc chắn, và chúng ta không bao giờ xem nhẹ tội lỗi. 

(Thi 100:1-5).  Dân của Đức Chúa Trời trong sự hiện diện của Ngài

A1 (c.1-2)  Ba lời mời: hãy reo vang, thờ phượng, đến trước mặt Ngài.

B1 (c.3)  Ba lời xác nhận: Đức Chúa Trời ... đã sáng tạo chúng ta là ... của Ngài.

A2 (c.4)  Ba lời mời: hãy vào ... cảm tạ ... tôn vinh.

B2 (c.5)  Ba lời xác nhận về bản tánh của Đức Chúa Trời: Toàn thiện ... bác ái ... thành tín.

Ba động từ với độ gần cận càng tăng (1-2) kêu gọi chúng ta trước tiên là tung hô Ngài (reo vang), rồi đến thờ phượng Ngài trong đền của Ngài và cuối cùng an nghỉ trong sự hiện diện của Ngài.  Chúng ta làm những điều đó với lòng vui mừng, sung sướng với tiếng ca hát vì chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng chúng ta cho Ngài và chúng ta thuộc về Ngài như thể chiên trong sự chăm sóc của người chăn tốt.

Một lần nữa các động từ với độ gần cận tăng dần (4) đưa chúng ta đến với Ngài: cổng đền, sân đền và sự thực hữu của Đức Chúa Trời với danh tánh mà chúng ta đã biết và chúng ta tôn vinh cảm tạ Ngài về những sự thật về Ngài (5): trong Ngài có sự hoàn thiện, có tình yêu thương không hề thay đổi mà Ngài đã quyết tâm yêu thương chúng ta, có sự thành tín đối với những việc xảy ra trong đời sống của chúng ta.

Lên đầu trang