THI-THIÊN (1-50)

MỤC LỤC

THI THIÊN ĐOẠN 1 ĐẾN 50

1. SỰ TƯƠNG PHẢN RÕ RỆT (Thi 1:1-6)

Thi Thiên dẫn nhập cho toàn bộ sách Thi Thiên.  Thứ nhất, đây là một thi thiên về đức tin (3d).  Đây là một lời hứa về sự thịnh vượng nhưng không phải là một lời bảo đảm về sự may mắn đánh đổi cho những hành vi tốt - Thi Thiên am hiểu cuộc đời quá rồi! (Thi 42:1-11  73:1-28).  Cũng như chúng ta vẫn lặp lại câu:  ‘Tôi tin Đức Chúa Trời Toàn năng là Cha’ nhưng nhận thấy rằng dường như lắm lúc cuộc đời có vẻ khước từ quyền làm cha lẫn sự toàn năng của Ngài nên câu 3 cũng là một dạng ‘tín điều’: thế giới này là của Đức Chúa Trời, và những ai ở cùng phía với Ngài thì chắc chắn cuối cùng sẽ hưởng phước hạnh (6).  Thứ hai, đây là một thi thiên cam kết: cam kết sống theo một phong cách khác biệt (1) và theo lời của Đức Chúa Trời (2).  Thật vậy, bài thơ này xây dựng chung quanh chủ đề ‘khác biệt’.

A1 Con đường phước hạnh (c.1)

B1 Tiếp tục trong luật pháp của Đức Chúa Trời (c. 2)

C1 Cây có trái tồn tại mãi (c.3)

C2 Rơm rác không tồn tại lâu (c.4)

B2 Không đứng nổi trong sự phán xét của Đức Chúa Trời (c.5)

A2 Con đường của sự diệt vong (c.6)

(Thi 1:1) Con đường phước hạnh: cuộc đời hiện tại  Tuỳ thuộc vào bản văn Phước có thể nghĩa là ở trong sự chúc phước của Đức Chúa Trời, hạnh phúc hoặc nguyện vọng được thoả đáp trọn vẹn, hoặc thực chất là đúng.  Cả ba nghĩa đều thích hợp trong câu này.  Nhưng phước hạnh và hạnh phúc đều là sản phẩm phụ của sự cam kết sống gắn bó với điều đúng.  Đi ... đứng ... ngồi.  Lối sống của chúng ta phải biểu thị sự khác biệt.

(Thi 1:2) Tiếp tục trong luật pháp của Đức Chúa Trời  Luật pháp, ‘sự dạy bảo’, như thể người phụ huynh giáo dục con em mình (Ch 3:1).  Vui thích ... suy ngẫm.  Đàng sau sự vâng lời tích cực của câu 1 là tâm trí cùng những cảm xúc kính sợ Đức Chúa Trời rèn luyện ngày và đêm trong lời của Đức Chúa Trời.

(Thi 1:3)  Sự tồn tại của cây ăn trái  Trồng (nghĩa đen ‘cấy’), nghĩa là được chuyển vào một vị trí mới (Thi 80:8 so sánh Co 1:13).

(Thi 1:4) Rơm rác chóng qua

(Thi 1:5) Không đứng nổi trong sự phán xét của Đức Chúa Trời  Đoán xét ... hội.  Trong kỳ xét xử cuối cùng của Đức Chúa Trời, những ai được Đức Chúa Trời kể là đúng, phải (công bình) trái ngược hẵn với những người đi theo ý riêng của mình và ngụ ý là không đem đời sống của mình vào vùng khải thi của Đức Chúa Trời.

(Thi 1:6) Con đường diệt vongsố phận cuối cùng  Quan phòng nghĩa đen là ‘biết’, đến mức độ thân thiết và yêu thương săn sóc.  Diệt vong, từ cuối, so sánh với từ đầu tiên phước (1) - đúng là một sự tương phản rõ rệt!

2. THẾ GIỚI CỦA NHÀ VUA (Thi 2:1-12)

Chủ đề được triển khai trong bốn phần câu phán: các vua chống nghịch Đức Chúa Trời và Đấng chịu xức dầu của Ngài (1-3), lời kêu gọi các vua nương náu mình nơi Đức Chúa Trời và phục vụ Ngài và tôn kính Con (10-12) xen giữa hai phần này là tiếng nói của hai nhân vật: Đức Chúa Trời phán về việc đưa Con lên ngôi cai trị (4-6), và tiếng Con nói về lời hứa của Đức Chúa Trời về sự cai trị thế giới (7-9).  Thi thiên này bắt rễ trong IISa 7:1-29, lời hứa dành cho Đa-vít về một danh lớn tột độ, một mối liên hệ cha con với Đức Chúa Trời và một triều đại đời đời.  Có lẽ người ta dùng thi thiên này để chào mừng ngày đăng quang của mỗi vị tân vương thuộc dòng họ Đa-vít để nhắc lại lý tưởng, nhưng lý tưởng chỉ được thành tựu trong ‘Con của Đa-vít nhưng vĩ đại hơn cả Đa-vít vĩ đại (Lu 1:31-33), cũng như nhắc đến sự từ khước ngày càng lan rộng trong khắp thế giới không muốn ‘người này cai trị trên chúng tôi!’ đạt đỉnh cao tại Gô-gô-tha (Cong 4:25-26  ICo 2:8).  Thế giới mà chúng ta đang sống hiện nay, dù lắm lúc có vẻ mềm mỏng và dễ dãi nhưng trong căn bản là thù ghét, chống đối và nổi loạn chống Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Christ.  Về mặt lịch sử, các vị vua trong dòng họ Đa-vít luôn luôn bị thế giới chung quanh đe doạ về căn bản, sự kiện này phản ánh sự chống đối của thế giới đối với Đức Chúa Trời về mặt tiên tri, thi thiên này báo trước về sự loại bỏ Chúa Giê-xu.

(Thi 2:1-3).  Âm mưu cách ích  nghĩa đenlằm bằm’.  Hình ảnh nơi đây có thể không đến nỗi là nổi loạn mà là bồn chồn, bất an.  Điều gì khiến cho thế giới mất yên ổn?  Câu 2 trả lời:  không thể nào có sự yên ổn khi mà họ loại bỏ Đức Chúa Trời và Đấng chịu xức dầu của Ngài.  Căn bản của bản chất sa ngã là thù địch chống Đức Chúa Trời (Co 1:21).  Chịu xức dầu (so sánh ISa 16:13  24:6  Es 11:1-9).  Xiềng xích ... còng.  Đó là Sa-tan lừa phỉnh dối gạt (Sa 3:1-5) những điều kiện để được phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã đề ra bị Sa-tan gán cho là những luật lệ thù địch cấm cản nhân loại không cho được tự do thật sự.

(Thi 2:4-6).  Đức Chúa Trời không bao giờ điều đình với những người nổi loạn, cũng không điều chỉnh theo những yêu sách của họ, Ngài chỉ làm một việc là tái xác định ý muốn của một vị vua: Vua của Ngài đã được tấn phong, thế thôi - cũng như trong Sáng Thế Ký sự nổi loạn trầm trọng không làm suy suyển quyền tể trị của Đức Chúa Trời một chút nào dù là chỉ một chấm một phết.  Cơn giận ... thạnh nộ, tức là nổi giận hầm hầm (cảm nhận được cơn giận) và sự bùng nổ của ngọn lửa thạnh nộ (cơn giận biểu thị ra).  Si-ôn nghĩa đen là nơi triều đại Đa-vít cai trị về phương diện tiên tri đó là tâm điểm của sự sáng tạo mới của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cơ Đốc (He 12:22-24). 

(Thi 2:7-9).  Một mối liên hệ làm con, một lời hứa về sự thừa kế, giao phó quyền hành.  Con ta.  Theo nghĩa bóng Đức Chúa Trời nhận Đa-vít và giòng họ làm con.  Ngày nay, ngày đăng quang của họ, mối liên hệ bắt đầu.  Khi dùng về Chúa Giê-xu trong sự phục sinh (Cong 13:32-37) thì ý nghĩa chủ yếu là Đức Chúa Trời đã công khai bày tỏ rằng xưa nay vẫn là như vậy rồi.  Hãy cầu ta.  Khác hẳn vị vua nổi loạn, Con sống phục tùng nương cậy vào Cha.  Vào lúc này Con chịu cám dỗ (Mat 4:8-10) và đắc thắng (26:39).  Cây gậy sắt... bình gốm.  Tương phản quyền thế độc tôn với tình trạng bất lực hoàn toàn. 

(Thi 2:10-12)  Phục vụ... hôn.  Không thể phục vụ Đức Chúa Trời nếu không có thuận phục Con!  Sợ hãi ... vui mừng ... run sợ.  Có sự khác biệt giữa tin cậy và tự phụ.  Những ai hôn Con sẽ mãi mãi nhận biết cần kính sợ Ngài cách phải lẽ và nhận biết có cơn thạnh nộ bất khả phân ly với sự thánh khiết của Ngài.  Phước (Thi 1:1).  Hãy nương náu.  ‘Ngoài Ngài chẳng có nơi nương náu nào: chỉ có nơi nương náu ở trong Ngài’ (Kidner).

3. CẦU NGUYỆN VÀ TIN CHẮC: MỘT THI THIÊN CHO MỘT NGÀY MỚI (Thi 3:1-8)

Thi thiên này có ý chính rất rõ ràng tức là sự cầu nguyện đem lại niềm tin chắc để đối diện với cuộc sống (4-6).  Nội dung thi thiên trước tiên chuyển động hướng về các câu này rồi toả đi.

A1 Nhu cầu: không có sự giải cứu (c.1-2)

B1 Xác quyết: sự bảo vệ của Đức Chúa Trời (c.3)

C   Cầu nguyện đem lại niềm tin chắc chắn (c.4-6)

B2 Kêu xin Đức Chúa Trời giải thoát (c.7)

A2 Giải pháp (c.8)

Thi thiên này rập theo sườn của IISa 15:13-17:24.  Cuộc chạy trốn khỏi Áp-sa-lôm kéo dài hai đêm.  Trong đêm thứ nhất Đa-vít rúng động nản lòng (1,2).  Nhưng phương thuốc giải trừ sự nản lòng là trước tiên khẳng định sự thật về Đức Chúa Trời (3) rồi kế đến là cầu xin Ngài cứu giúp (4).  Kết quả là một đêm dài ngủ nghỉ đầy phước hạnh (5) và đầy lòng tin tưởng mới mẻ để đối diện với một ngày mới (6).  Cũng như một ngày trước chấm dứt với lời cầu nguyện (4) thì một ngày mới bắt đầu với lời cầu nguyện xin Đức Chúa Trời giải cứu (7), vì Ngài luôn là kẻ thù của những ai thù nghịch Đa-vít:  như vậy, lời cầu nguyện với lòng vững tin căn cứ vào kinh nghiệm trong quá khứ  về ân sủng và sinh ra niềm tin chắc về tương lai (8).

(Thi 3:1-2).  Nhu cầukhông sự giải cứu  Đức Chúa Trời sẽ không giải cứu.  Đây là cú đấm chết người:  một thái độ (kẻ thù địch) biến thành hành động (dấy lên, vùng lên) và phản ánh quan điểm chung của công chúng - giờ đây ngay cả Đức Chúa Trời cũng không thể cứu Đa-vít!

(Thi 3:3).  Xác quyếtsự bảo vệ của Đức Chúa Trời  Nhưng Ngài, giọng nhấn mạnh.  Chọc thủng bầu không khí u ám trong câu 1, 2 là sự nhận biết mới mẻ về Đức Chúa Trời.  Ngài là sự vinh hiển của tôi.  Đa-vít đã bị lột hết những sự hào nhoáng thế tục nhưng không ai có thể cất lấy Đức Chúa Trời của ông được.  Ngước đầu lên (so sánh với IISa 15:30).

(Thi 3:7).  Kêu xin Đức Chúa Trời giải thoát  Hỡi Đức Giê-hô-va. (so sánh Dan 10:35).  Khi lặp lại tiếng kêu la lịch sử của Môi-se, Đa-vít bày tỏ niềm tin chắc rằng dù có vẻ như ông đang thua, thì sự thật ông và đoàn quân di tản với ông vẫn ở trong sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời.  Vả má ... bẻ gãy răng.  Vả má là một cử chỉ trách cứ (IVua 22:24), bẻ gãy răng là để khiến trở nên vô hại.

(Thi 3:8).  Giải pháp  ‘Sự giải cứu thuộc về Đức Giê-hô-va.’

4. CẦU NGUYỆN, NHẬN BIẾT, TIN CẬY, YÊN NGHỈ (THI 4:1-8)

Thi thiên này viết về ban đêm (8), có lẽ thi thiên này nằm trong thời gian Đa-vít chạy trốn khỏi Áp-sô-lôm (Thi 3:1-8), vào đêm thứ hai khi ông sẽ ngủ sơ sài và đang bị đe doạ.  Cũng như Thi Thiên 3, thi thiên này là một lời cầu nguyện chúng ta ghi nhận là đi vào chỗ cầu nguyện (1) là đi vào chỗ bình an (8) - dù rằng những áp lực vẫn còn như cũ (2) những người gièm chê (6) những người tuyệt vọng.  Nhưng trọng tâm của thi thiên này không phải là cầu nguyện mà là nhận biết (3) và tin cậy (4,5).  Qua trí tưởng tượng Đa-vít nói với những người gièm chê trong triều đình của Áp-sa-lôm về phần đầu nhận biết, còn ông nói phần sau với thuộc hạ đang xuống tinh thần trong lúc họ chuẩn bị đi ngủ.

(Thi 4:1) Lời cầu nguyện thực sự là một lời cầu nguyện cấp bách (1a), đặt cơ sở trên sự công bình của Đức Chúa Trời (1b), cụ thể (1c) và lệ thuộc vào lòng thương xót của Đức Chúa Trời (1d). 

(Thi 4:2)  Qua trí tưởng tượng ông kêu gọi đám người tụ họp quanh Áp-sa-lôm thôi đừng gièm chê sự oai phong của ông trong tư cách một vị vua, ông kêu gọi họ từ bỏ ảo tưởng về quyền lực và sự dối trá của họ (không phải thần giả).

(Thi 4:3)  Người nhơn đức (người tin kính), một từ chỉ về những người cùng Đức Chúa Trời thương yêu bằng tình yêu thương không hề thay đổi, đáp lại họ cũng yêu thương Ngài (so sánh IITi 2:19a).

(Thi 4:4-5)  Một lời dành cho đám người nản lòng trong trại quân của Đa-vít.  Khá e sợ, chẳng có gì phải chối là đang sợ, nhưng phản ứng phải lẽ là dùng thời gian về đêm để lặng lẽ cầu nguyện (4c), đến gần Đức Chúa Trời (5a) trong tinh thần dâng của lễ, tận hiến (của lễ thiêu), xưng tội (của lễ chuộc tội), thông công (của lễ thù ân) và trong tinh thần tin cậy (5b).

(Thi 4:6)  Đối phó với sự thối chí nản lòng bằng sự cầu nguyện xứng hợp. 

(Thi 4:7-8)  Lời làm chứng của Đa-vít:  sự cầu nguyện đem lại niềm vui mừng lớn lao hơn là đời này có thể đem đến, qua sự bình an và an toàn mà chỉ một mình Đức Chúa Trời mới có thể cung ứng được.

5. BỐI CẢNH ĐẠO ĐỨC CỦA MỘT BÀI CẦU NGUYỆN ĐẦY SỨC THUYẾT PHỤC (Thi 5:1-12)

Có lẽ thi thiên này là phần suy ngẫm của tác giả vào sáng thứ hai sau khi chạy trốn khỏi Áp-sa-lôm (Thi 3:1-8).  Không có lời tựa cho chúng ta bối cảnh lịch sử, nhưng thi thiên này chú trọng tới sự cầu nguyện mỗi buổi sáng (3) những phân đoạn viết về người công bình tìm kiếm Đức Chúa Trời xen kẽ với những phân đoạn viết về kẻ ác bị Đức Chúa Trời loại bỏ giúp phản ánh hoàn cảnh ‘trắng chọi đen’ và mặt đạo đức mà Áp-sa-lôm đã đẩy Đa-vít vào.

A1 Niềm tin tưởng nơi Đức Chúa Trời (c.1-3)

B1 Đức Chúa Trời loại bỏ kẻ ác (c.4-6)

C   Gắn bó với đường lối công bình của Đức Chúa Trời (c.7-8)

B2 Đức Chúa Trời trục xuất những người phản loạn (9-10)

A2 Niềm vui trong Đức Chúa Trời (c.11-12)

Thi thiên tập trung vào sự thờ phượng cách thánh sạch và cung kính cùng sự cầu nguyện để sống một cuộc đời công nghĩa (7,8).  Như vậy Đa-vít đứng vào vị trí tương phản với những người làm việc ác (4,5) và nói năng gian tà (9), rồi bày tỏ sự gắn bó của một người muốn nhận được sự trả lời cho lời cầu xin của mình (1-3) và muốn Đức Chúa Trời bảo vệ mình (11-12).

(Thi 5:1-3) Tin tưởng nơi Đức Chúa Trời Đấng nghe lời cầu nguyện  Cầu nguyện là (a) nói thành lời những vấn đề (sự suy ngẫm) (1)  (b) có bảo đảm là Đức Chúa Trời nghe lời cầu nguyện.  Chú ý trật tự trong câu (2)  Nghe ... vì ... tôi cầu nguyện.  (c) việc đầu tiên trong ngày:  buổi sáng (3a,b).  Ý ở đây không nghiêng về tính cách đều đặn (so sánh Es 50:4), mà là tính cách ưu tiên trong ngày (d) ngóng trông một lời đáp (3c).

(Thi 5:4-6,9) Đức Chúa Trời loại bỏ kẻ ác trục xuất những người phản loạn  Mỗi phân đoạn bắt đầu bằng chữ ‘Vì’ (trong NIV không có) nghĩa là (1-3) Đa-vít có thể mong đợi Đức Chúa Trời trả lời cho lời cầu nguyện của ông ‘vì’ ông không như kẻ ác (4-6) và ông cầu nguyện về một con đường công chính (8) ‘vì’ ông mong được phân biệt khỏi đám người phản loạn mà Đức Chúa Trời sẽ trục xuất (9,10).  Đây là tinh thần gắn bó của người cầu nguyện, gồm có tính tình (4,5a), hành vi (5b), lời nói (6a), những mối liên hệ (6b), sự thành tín (9a), sự chân thật (9b) và lời nói nữa (9cd). 10  Cầu xin như thế này có phải lẽ không?  Cũng như hầu hết những lời nguyền rủa (xem Dẫn nhập) đây là lời cầu xin Đức Chúa Trời làm điều Ngài đã khẳng định là trong bất cứ trường hợp nào Ngài cũng sẽ thực hiện - đó là vạch ra và trừng phạt tội lỗi và những kẻ phạm tội (10a, c) đó là làm cho kẻ cáo gian đúng chuyện mà họ muốn làm cho kẻ bị họ cáo gian (10b so sánh Phu 19:16-19), lời cầu nguyện này giao phó phần hành xử cho Đức Chúa Trời, không đề xướng một sự báo thù của cá nhân (Ch 20:22  Ro 12:19), động cơ thúc đẩy lời cầu nguyện này không phải là tư thù, nhưng là sự tổn thương liên hệ đến Đức Chúa Trời (10d).

(Thi 5:7)  Vì sao Đa-vít nói đến nhà Chúa trong khi đền thờ chưa được xây lên?  Vì (ISa 1:9,24) nơi Đức Chúa Trời ngự, dù chỉ là đền tạm (2:22  IISa 7:2) được mệnh danh là nhà.  Chú ý ơn thương xót đem chúng ta vào nơi thánh khiết với lòng cung kính là một ơn lớn biết bao.

(Thi 5:11-12) Niềm vui trong Đức Chúa Trời Đấng bảo vệ   Người công bình là người hoà thuận với Đức Chúa Trời.

6. NHU CẦU CÀNG LỚN LAO CÀNG AN TÂM HƠN (Thi 6:1-10)

Thi thiên này có đề cập đến những con người thù địch (7,8,10) gợi ý thi thiên này cũng nằm trong cùng một khung cảnh như Thi 3:1-8 xét tính cách khó nhọc của cuộc hành trình, nguy cơ của một sự tấn công và trách nhiệm đối với một đoàn người trong các độ tuổi và thuộc các tầng lớp xã hội (IISa 15:16,18,22) cũng chạy nạn với Đa-vít, nên Đa-vít bị mệt đuối là chuyện thường (16:14 17:29).  (Mặt khác, có lẽ lắm câu 2 đề cập đến một trường hợp lâm bịnh thực sự).  Trong tình trạng thể xác mất sức, tinh thần và tình cảm suy yếu, Đa-vít bộc lộ tâm can nỗi niềm, thi thiên này ghi lại tất cả những điều đó.  Sự thù địch của con người đã phá vỡ tuyến phòng thủ của ông (6,7) nhưng, ở cấp sâu thẳm hơn, là cơn giận của Đức Chúa Trời đem lại sự yếu đuối (2, yếu mỏn), kinh hãi (run rẩy, 2) và bối rối (3), theo nguyên văn là ‘kinh hoàng’ như (2).  Vì trong khi tinh thần suy sụp như vậy có lẽ Đa-vít nhớ lại rằng nếu ông không phạm tội với Bát-sê-ba (IISa 11:1-12:31) hẳn ông không bị bó tay khi con trai trưởng hãm hiếp em gái của Áp-sa-lôm (13:1-39).  Nếu ông giải quyết thoả đáng vụ Áp-sa-lôm, không để cho tính khí sôi nổi của Áp-sa-lôm tha hồ phát triển (14:1-15:37), thì có lẽ chẳng bao giờ Áp-sa-lôm làm loạn.  Cũng có thể Đa-vít cảm thấy trong cơn giận của Ngài Đức Chúa Trời đã quay lưng bỏ ông (4)!  Tuy vậy sự nguy khốn trầm trọng nhất phải khuất phục trước phương thuốc đơn giản nhất: lời kêu xin Ngài gia ân thương xót (2) liền đem lại sự vững lòng, tôi xin sự thương xót, Chúa đã nhậm lời (9).  Nếu nhờ lời cầu nguyện mà nhu cầu lớn nhất được thoả đáp, thì chẳng lẽ những nhu cầu nhỏ hơn không được thoả đáp như vậy sao (10)?  Nhờ lời cầu nguyện, sự kinh hãi của Đa-vít (1-3) trở thành sự kinh hãi của kẻ thù của ông (10) bối rối, theo nguyên văn là kinh hoảng, như trong câu (2,3) khi Đức Chúa Trời trả lời cho sự cầu nguyện của ông bằng cách trở lại với ông (4,5) là dấu hiệu kẻ thù phải bỏ đi (8,9) Đa-vít đã học được rằng khi ông yếu đuối (6,7) là lúc ông mạnh mẻ.

Chú giải. 4 Trở lại ‘xin hãy trở lại’. 5 Người ta thường trưng dẫn câu 5 để chứng tỏ là các nhân vật trong Kinh Thánh Cựu Ước không có niềm hi vọng gì sau cái chết (xem 49, 73), nhưng nơi đây Đa-vít viết về cái chết của một người cảm thấy mình đã lạc xa Đức Chúa Trời, cảm thấy mình là đối tượng của thạnh nộ của Đức Chúa Trời.  Về vấn đề này, Tân Ước vượt xa hơn tất cả những mặc khải của Cựu Ước (Mat 10:28).

7. PHƯỚC HẠNH CỦA MỘT LƯƠNG TÂM TRONG SÁNG (Thi 7:1-17)

Không rõ Cút là ai nhưng chúng ta biết Sau-lơ là một vị vua gốc Bên-gia-min (ISa 9:1), đương nhiên ông tập hợp nhiều người Bên-gia-min chung quanh mình (22:7), chúng ta cũng biết là miện lưỡi của những kẻ vu khống đã xúi giục ông chống nghịch Đa-vít (24:9  26:19).  Một hoàn cảnh tương tự như trong 18:10-24 là đủ cho các tay ‘Cút’ trên đời này khơi dậy trong Sau-lơ một nỗi sợ hoang tưởng đối với Đa-vít.  Nhưng Đa-vít biết rằng tất cả những lời cáo giác về tội bất trung đều là không đúng.  Dù có đứng trước toà án của Đức Chúa Trời (6,7,10-13), lương tâm của ông vẫn trong sáng (8b,9) những câu này là nồng cốt của thi thiên và là lời kêu gọi ‘giữ lương tâm trong sáng như giữa ban ngày’ (Cong 24:16  He 13:18  IPhi 3:16) qua mọi hoàn cảnh.

A1 Nơi trú ẩn hiện tại và sự cầu nguyện (c.1-2)

B1 Tội lỗi và hậu quả của tội lỗi (3-5)

C1 Đức Chúa Trời công bằng (c.6-8a)

D Một lương tâm trong sạch (8b-9)

C2 Đức Chúa Trời công bằng (c.10-13)

B2 Tội lỗi và hậu quả của tội lỗi (c.14-16)

A2 Dự tính tạ ơn và ca tụng Đức Chúa Trời (c.17)

Nhìn chung nội dung của thi thiên trình bày chủ đề quen thuộc là sự cầu nguyện giải quyết những cuộc khủng hoảng và đưa đến sự ca ngợi đối với những giải pháp.  Câu 3-5 và 14-16 công nhận rằng tội lỗi và hậu quả đi với nhau và trong trường hợp hiện tại Đa-vít sẵn sàng chịu đứng trước sự tra xét của công lý cách nghiêm minh.  Đây là cách thức tội lỗi ‘vận hành’ (14-16): tội lỗi có khả năng tác động trở ngược lại như thể một thực thể có sự sống trong mình.  Nhưng thật ra khi dường như tội lỗi đổ lại trên đầu thủ phạm thì đó là vì có Đức Chúa Trời công bình (6-8a), đầy thạnh nộ (10-13) một ngày kia mọi người sẽ ứng hầu trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng ngay trong hiện tại Ngài là Đấng có sẵn mọi phương tiện để hình phạt người không chịu vâng phục.  Với một quan điểm về tội lỗi như thế, và trước mặt Đức Chúa Trời như thể Đa-vít xác quyết sự vô tội của mình: đó là tính cách của một lương tâm trong sạch và phước hạnh dành cho lương tâm trong sạch.

(Thi 7:1-2) Nơi ẩn trú hiện nay sự cầu nguyện  Nương náu.  Sự giải cứu sẽ đến sau này (17) nhưng thực tại thì có sự bảo vệ.  Tất cả những kẻ... (1 không có trong bản tiếng việt) trở thành kẻ thù nghịch số ít (2), theo nguyên văn: ‘kẻo nó (kẻ thù nghịch) xé tôi, nghĩa là Đa-vít có nhiều kẻ thù nhưng có một kẻ thù đặc biệt, theo như tiêu đề có ghi.

(Thi 7:3-5) Tội lỗi hậu quảlời làm chứng của Đa-vít  Ở hoà hảo (4), bởi một hiệp ước cam kết sống hoà bình với nhau.  Hoặc vô cớ (4) có lẽ là ‘ ... thực sự tôi đã giải cứu kẻ vô cớ chống nghịch tôi’.  Đa-vít không trả thù mà còn lấy thiện trả ác (so sánh Mat 5:43-48  Ro 12:17-21).  Trong một thời gian dài sau khi Sau-lơ tính sát hại Đa-vít, Đa-vít vẫn phục vụ vị vua cuồng tín bằng tiếng đàn của mình và dưới những hình thức khác cách tận tâm (ISa 18:10-13  19:9  20:1  24:10-17  26:18,23 tiếp theo).  Làm cho tôi ngủ (5 không có trong bản tiếng việt), theo nguyên văn là ‘làm cho sự vinh hiển của tôi khựng lại’, nghĩa là công khai làm ô danh tiếng của tôi.

(Thi 7:6-8a). Đức Chúa Trời của công phiên toà chung cuộc  Đa-vít đề cập đến hội các dân tộc chứng tỏ là Đa-vít viết về sự xét xử cuối cùng.  Hiện tại, có thể vì lòng thương xót mà Đức Chúa Trời bỏ qua tội lỗi, nhưng đến cuối cùng thì không.  Đa-vít tin chắc vào sự vô can của mình đến mức ông dám xin Đức Chúa Trời mở phiên toà chung cuộc ngay trong hiện tại! 

(Thi 7:8b-9). Một lương tâm trong sáng trước mặt Đức Chúa Trời  Sự công bình (8), không phải là hoàn toàn vô tội, nhưng tương đương với lời xác quyết là mình ‘vô can’ đối với một lời cáo buộc.  Sự thanh liêm (8) nghĩa là sự công bình của ông không phải là chuyện rập khuôn theo mẫu mà thôi nhưng là một tình trạng, một tính cách của con người toàn diện.  Lòng dạ (9) - chỉ về ý tưởng, trí tưởng tượng, tình cảm và những phản ứng.

(Thi 7:10-13). Đức Chúa Trời của công Đấng giải cứu quan toà  ‘Đức Chúa Trời là cái khiên của tôi’ nguyên văn là - Ngài là người cầm khiên che tôi và là người binh vực tôi.  Hối cải (12), ‘ăn năn’.  Dù là đứng trước một Đức Chúa Trời như thế (9,11) có thể tránh được sự hình phạt với lòng ăn năn thống hối.

(Thi 7:14-16) Tội lỗi hậu quảkhông thể tránh được  Câu 14 mở đầu với từ ‘Kìa!’ - ‘Xem kìa, sự thể là như thế đấy!’, mối tương quan giữa tội lỗi và hậu quả.

(Thi 7:17) Dự định cảm tạ ca tụng  Nhờ có lương tâm trong sáng mà Đa-vít vững tin là tương lai sẽ khác hiện nay.

Ghi chú:  Tiêu đề, Shiggaion, xem Dẫn nhập.

8. ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA CHUYỆN KHÔNG QUAN TRỌNG (Thi 8:1-9)

Nếu bỏ câu 1c-2 thì những câu còn lại tạo thành một bài thơ rất cân đối với một chủ đề rõ rệt.  Phần mở đầu và phần kết tụng danh Chúa sang cả đóng khung hai đoạn thơ dài đều nhau luận về sự kiện Đức Chúa Trời chiếu cố công nhận và tôn trọng loài người (3-5) và về quyền cai trị trên toàn thể thế giới thọ tạo mà Ngài đã ban cho loài người (6-8).  Kinh Thánh Tân Ước xem đây là sự trị vì của Chúa Giê-xu trong hiện tại (Eph 1:2  He 2:5-9) và sự đắc thắng của Ngài trong tương lai (ICo 15:27), người được cứu chuộc sẽ đồng trị với Ngài (Kh 5:9,10).

Nhưng bởi đâu phát sinh ý tưởng Đức Chúa Trời chiếu cố cho con người cai trị thế giới?  Trả đoạn thơ mở đầu về chỗ cũ thì chúng ta sẽ thấy câu trả lời.  Đức Chúa Trời uy nghi (1c,d) nắm toàn bộ quyền hành trong tay Ngài.  Ngài chọn môi miệng của trẻ thơ, và em bé (2).  Có nên hiểu theo nghĩa đen không - một em bé làm im miệng kẻ thù?  Hoặc có phải Đa-vít dùng từ ‘bé sơ sinh’ theo nghĩa bóng để chỉ về những vật thể nhỏ bé, yếu đuối, bất lực?  Không làm sao xác định được, nhưng rõ ràng ông đã kinh nghiệm một trường hợp đáng nhớ nào đó về sự bất lực chế ngự được quyền lực.  Khi, về đêm (3), ông ngẫm nghĩ về điều này ông nhận thấy đây là chủ trương đặc biệt của Đức Chúa Trời.  Kích thích bao la vô tận của vũ trụ làm con người hoá ra bé tí, nhưng con người được Đức Chúa Trời chọn, ban cho sự vinh hiển và làm chủ thế giới - một việc trên nguyên tắc đã được thể hiện qua Chúa Giê-xu và sẽ còn được thể hiện qua con người được cứu nữa (He 2:5-9).  Nguyên tắc này thực sự được bày tỏ trong sự tuyển chọn lạ lùng của Đức Chúa Trời (ICo 1:26-28) và mỗi một người tin Chúa có thể kinh nghiệm điều đó trong tầm tay (IICo 12:9,10).

Chú giải.  1a  Chúa chúng tôi, nguyên văn ‘Đồng cai trị toàn quyền của chúng tôi’ trong câu 9 cũng vậy. 2 ‘Lập nên năng lực’ đặt sức mạnh của Ngài trên nền tảng chắc chắn.  Kẻ báo thu có thể nghĩa là người làm trả lại cho người làm hại mình những điều tổn thương thiệt hại (Gie 5:9) nhưng cũng có thể có nghĩa như ở đây là người hành động vì lợi ích của mình (Thi 44:16).

Đức tin có đấu tranh (9:1-10:18)

Thi 9:1-20 và 10:1-18 là một bài thơ với chữ cái của từ đầu câu đúng theo thứ tự bảng chữ cái (xem bài viết Văn Thơ trong Kinh Thánh) nhưng bị đứt đoạn.  Thiếu bốn chữ cái, hai chữ cái nằm sai thứ tự và một chữ cái đứng đầu từ thứ hai trong câu chớ không phải từ thứ một.  Đã có những nỗ lực thử phục hồi bài thơ này nhưng bài thơ theo hiện trạng gồm có ba phân đoạn, mỗi đoạn có sáu câu với chữ cái: 9:1-12  9:13-10:6  10:7-18.  Chủ đề là sự chống nghịch của kẻ ác (9:6,17,18  10:2,3,4,13,15).  Phân đoạn 1 (9:1-12), mở và kết với lời ca tụng (1-2,11) là một lời bình tĩnh xác nhận: kẻ ác đang hoạt động đây đó nhưng có Đức Chúa Trời đang ngự trên ngôi.  Nhưng trong phân đoạn 2, (9:13-10:6) cuộc sống bị náo loạn trong thực tế, nên có lời kêu xin Đức Chúa Trời thương xót (9:13) và chống cự (9:19).  Đức Chúa Trời ở cách xa (10:1), còn kẻ ác thì hùng hổ (10:2-6).  Chung cuộc thì rõ ràng chắc chắn rồi (9:15,16) dầu vậy sự nhận biết này không đem lại sự an ổn cần thiết trong hiện tại.  Tuy vậy phân đoạn 3, (10:7-18) cầu nguyện là phương sách hữu hiệu.  Kẻ gian ác (7-10) nghĩ là Đức Chúa Trời không quan tâm trong khi người cầu nguyện cầu xin Đức Chúa Trời hành động, vì Đức Chúa Trời không như ý họ nghĩ mà Ngài sẽ huỷ diệt và chung cuộc Ngài sẽ xét xử toàn thế gian (11-16).  Đức Chúa Trời sẽ nghe lời cầu nguyện người cô thế sẽ giành được quyền lợi của họ và không còn ai áp bức nữa (17-18).

9. NIỀM TIN VỮNG VÀNG (Thi 9:1-12)

A1 (c.1-2) Ca ngợi.

B1 (c.3-4) Vị vua công bình chính trực.

C   (c.5-6) Sự xét xử cuối cùng.

B2 (c.7-10) Vị vua công bình chính trực.

A1 (c.11-12) Ca ngợi.

Khi người gian ác cuối cùng bị lật đổ và không còn chống đối chúng ta được nữa thì không những đó là niềm an ủi cho chúng ta mà còn là điểm khởi đầu của chúng ta (5-6).  ‘Đức Chúa Trời vẫn ngự trên ngai’.  Nơi đây vua Đa-vít tưởng tượng đang ứng hầu trước toà án trong ngày xét xử (3,4) và, với động từ ở thì quá khứ, vua ghi lại quân thù phải bỏ chạy và chính mình vua được binh vực, rồi với những câu 7-10 ông trông đợi hành động của Đức Chúa Trời là Đấng đang tể trị.

(Thi 9:1-2)  Ca ngợicảm tạ Đức Chúa Trời  công việc lạ lùng, là những việc đòi hỏi quyền năng siêu nhiên.  Ngài.  Lòng vui mừng hơn hở phát sinh từ chỗ chứng kiến những công việc lạ lùng, giờ đây xoay chiều hướng về Đấng đã làm nên những công việc lạ lùng đó.  Danh của Ngài, là những điều Đức Chúa Trời đã khải thị về chính mình Ngài.  Dù đời sống lắm sóng gió còn sự phán xét tận cùng vẫn chưa ló dạng, nhưng vẫn có thể ca ngợi Đức Chúa Trời về chính bản thể của Ngài và về những việc Ngài đã thực hiện.

(Thi 9:3-4) Vị vua công bình chính trực, lật đổ binh vực  Trước mặt Chúa.  Sự hiện diện của Đức Chúa Trời là quá đủ (Kh 6:16).

(Thi 9:5-6) Sự xét xử cuối cùng  Sự xét xử của Đức Chúa Trời diễn ra đối với con người (danh tánh của họ), đối với công trình để hoàn thành (các thành trì của họ) và nơi chốn trong lịch sử (kỷ niệm).

(Thi 9:7-10) Vị vua công bình chính trực, xét xử cung ứng nơi trú ẩn  Mấy câu này lặp lại các chủ đề ngai, sự công bình và sự xét xử, trong câu 3,4, và triển khai sự binh vực mà Đức Chúa Trời đã thực hiện cho người thuộc về Ngài (4) rồi kết lại trong một lời xác định về sự an ổn của họ về mọi mặt.  Nói cách khác, những điều gì cuối cùng sẽ thành sự thực trong ngày xét sử tận cùng (vì Đức Chúa Trời đang ngự trên ngai) cũng là sự thực trong hiện tại ở một mức độ thoả đáng (vì Đức Chúa Trời vẫn luôn luôn ngự trên ngai).  9-10  Đức Chúa Trời là gì và chúng ta có thể làm gì.  Ngài là nơi trú ẩn và là đồn luỹ cao.  Từ này nhấn mạnh độ cao (không thể tới được), ‘an toàn tuyệt đối’.  Chẳng từ bỏ, động từ này được dùng ở thì ... để diễn tả bản tánh của Đức Chúa Trời không thay đổi.

(Thi 9:11-12) Ca ngợi  Đức Chúa Trời lên ngôi.  Sự xét xử cuối cùng sẽ khiến cho chức vị vua của Ngài lộ quá rõ (4,7), nhưng hiện nay Ngài đã là vua, Ngài đang cai trị dân của Ngài.  Các dân tộc cần rõ điều này.  Công việc tối cao là công bình sáng tạo của Ngài, sự cứu rỗi, sự bảo toàn.

10. NIỀM TIN (Thi 9:13-20)

Lời nài xin lòng thương xót (Thi 9:13) và câu hỏi vì sao? (10:1) nêu ra chủ đề của phần thứ hai của thi thiên.  Niềm tin vẫn vững vàng.  Không đặt căn bản nơi những vận hên xui may rủi của trần gian mà đặt căn bản nơi Đức Chúa Trời là Đấng vẫn ngự trên ngôi.  Nhưng những sóng gió trên đời này cũng là một sự thực và lắm lúc tưởng chừng thế giới mà chúng ta đang sống tưởng chừng thuộc về những người vô tín và thù địch.

A1 (c.13-14) Nhu cầu hiện tại: biến động cận kề.

B   (c.15-20) Những điều chắc chắn cho tương lai.

A2 (10:1-6) Nhu cầu hiện tại: Đức Chúa Trời dường như ở xa xôi lắm.

Thi 9:13-14 Nhu cầu hiện tại Biến động cận kề.  ‘Đấng đem tôi lên khỏi’ vừa mô tả nhân vật lẫn hành động.  Sự ‘kể lại’ đầy tin tưởng, tôi sẽ tỏ ra (1) điều biến qua sự ‘kể lại’ trong câu (14) tôi sẽ tỏ ra.  Nghịch cảnh hiện tại bóp nghẹt tiếng ca ngợi.  Nhưng lòng vẫn tin chắc là Đức Chúa Trời sẽ hành động - nhưng nếu Ngài hành động đôi chút ngay trong hiện tại thì đỡ biết chừng nào!  Giọng điệu của thi thiên này thật là thực tiễn!

(Thi 9:15-16). Hậu quả tất nhiên của tội lỗi  Đã lún xuống ... đã mắc vào (15).  Động từ ở thì hoàn tất diễn tả sự chắc chắn.  Bởi ơn thần hựu của Đức Chúa Trời, tội lỗi tương tự như cái bu-mơ-rang phản hồi... (16), kẻ ác đã tự gài bẫy (mà không ngờ!).

(Thi 9:17). Kẻ ác bị loại trừ Sẽ bị xô, thì tương lai.  ‘Âm phủ’, nơi người ta ở sau khi chết.

(Thi 9:18-20). Đức Chúa Trời không quên  Sự chắc chắn về tai hoạ tương lai (15-17) và sự giải cứu tương lai (18) không phải là đáp án cho những nghịch cảnh hiện tại.  Do đó, cần cầu nguyện (13).

11. ĐỨC CHÚA TRỜI DƯỜNG NHƯ QUÁ XA XĂM (Thi 10:1-6)

Thi 10:1-6 xem giải nghĩa Thi 9:13-20

Câu hỏi (1) không bài tỏ một thực tế có tính cách thần học (Thi 9:10) nhưng bày tỏ cảm giác riêng tư của một cá nhân.  Có thể chúng ta thường cảm thấy thiếu vắng sự hiện diện của Đức Chúa Trời nhưng phản ứng thoả đáng không phải là buồn rầu nhưng trình bày vấn đề đó với Đức Chúa Trời.  2-6  Đây là căn cơ của sự giằng co giữa đức tin và kinh nghiệm.  Đức tin bảo rằng chắc chắn kẻ ác sẽ mắc vào lưới của họ (9:15).  Nhưng trong thực tế (2) thường thường chính kẻ yếu bị mắc vào lưới quá nhiều trong khi đó kẻ ác cứ phây phây chẳng bị hình phạt mà còn tiếp tục tung hoành bao chuyện giả trá (3), vô thần thực dụng (4), phát đạt nhờ vô đạo đức (5ab) và tự mãn nguyện (5c-6).

12. TIN TRONG TINH THẦN CẦU NGUYỆN (Thi 10:7-18)

(Thi 10:7-11)  Vấn đề: kẻ ác ăn nói với giọng chống đối (7), với thâm ý sát hại (8,9), có sức mạnh nhưng nhẫn tâm tàn ác (10), và có tinh thần vô thần thực dụng (11).

(Thi 10:12-16)  Nguồn năng lực:  Cầu nguyện xin Đức Chúa Trời can thiệp để binh vực kẻ yếu thế và lẽ phải (12-13) đặt cơ sở trên sự kiện Đức Chúa Trời đã biết, nặng lòng và chuyên tâm cứu giúp người đang cần Ngài (14) và cầu xin Đức Chúa Trời chấm dứt quyền lực của kẻ ác, xét xử họ (15), và cầu xin sự phán xét cuối cùng sớm xảy ra (16).

(Thi 10:17-18)  Tin chắc: lời cầu nguyện đã được nhậm (17), kẻ yếu thế được giải cứu hoàn toàn (18).

Lời cầu nguyện mãnh liệt và thành khẩn như vậy gây ấn tượng mạnh mẽ.  Xin hãy chổi dậy (9:19  10:12), có vẻ như trách cứ Chúa ‘sao nỡ trì hoãn không hành động’ chớ quên (12) - cứ như thể là Ngài đã quên!  Điều gây ấn tượng mạnh mẽ là chẳng có việc gì được thực hiện ngoài sự cầu nguyện.  Cho dù tánh mạng có bị đe doạ chết người (9:13  10:8), cho dù kẻ thù có mạnh đến đâu (10:9), cầu nguyện là đủ, chỉ cần cầu nguyện, vì Đức Chúa Trời là vua (9:4,7), Ngài biết nhu cầu của chúng ta (10:14), và Ngài hứa làm nơi trú ẩn (9:9,10), giải cứu (9:13) và giúp đỡ (10:14).

13. ĐỨC TIN VÀ SỰ THẬT (Thi 11:1-7)

Những chuyện như trong ISa 18:8-19:7 là bối cảnh rõ ràng cho thi thiên này.  Tánh mạng của Đa-vít bị đe doạ hằng ngày.  Thi thiên gồm có ba phần.

(Thi 11:1-3) Sự bảo vệ của Đức Chúa Trời  Người ta khuyên Đa-vít nên chạy trốn là có cơ sở: vì có nguy hiểm thực sự (2) và vì cớ xã hội bất ổn nên không cách nào sắp xếp một cuộc sống an toàn được.  Dầu vậy, thay vì chạy trốn, Đa-vít xác định lòng tin cậy  Các nền (3), các ‘qui định căn bản’ cho phép xã hội vận hành.  Trong khi Sau-lơ quẩn trí thì những qui định đó bị thay đổi liên tục nên Đa-vít không làm sao biết trước để kịp tránh đừng vi phạm.  Nhưng cũng có những lý do vững vàng trong trường hợp tin cậy Đức Chúa Trời: trước giả nhấn mạnh từ nơi Đức Giê-hô-va (1). Một khi Đức Giê-hô-va là Đấng đáng tin cậy, thì tin cậy là một lối sống thoả đáng.

(Thi 11:4-6) Ơn thần hựu của Chúa  Ngài quan sát và xem xét từ ngai vàng (4).  Niềm tin cậy không bảo đảm một đời sống thảnh thơi dễ thở.  Trái lại sẽ đem lại những cuộc thử nghiệm cho người công bình, là người đã ‘thuận hoà với Đức Chúa Trời’ (5a), còn kẻ ác thì kinh nghiệm sự chống đối (5b-6).

(Thi 11:7) Ơn huệ của Đức Chúa Trời  Nhìn xem mặt Ngài là kinh nghiệm sự kiện Đức Chúa Trời ‘ngước mặt lên’, tức là Ngài chấp nhận cho người được ơn đến trước mặt Ngài.  Như vậy đức tin có ba mặt: đức tin chạy vào nơi trú ẩn an toàn (1) đức tin chấp nhận sự thử nghiệm trong cuộc sống như thể mục đích của Đức Chúa Trời (5a) và đức tin trông đợi kết cuộc đầy phước hạnh.  Đối với người công bình, những cuộc thử nghiệm của Đức Chúa Trời là đường dẫn dân sự tiến tới tiến vào sự hiện diện trực tiếp của Ngài (7).

14. CHIẾN TRANH BẰNG LỜI NÓI (Thi 12:1-8)

Thi thiên cân bằng hai loại ‘lời nói’: quanh mình Đa-vít nghe những lời nói dối trá, nịnh hót và giả hình hai lòng (2) nhưng cân bằng lại có những lời nói hoàn toàn trong sạch (6a), có giá trị tuyệt đối (6b bạc) và tuyệt đối không vướng vất một tí bất toàn nào (bảy lần 6c).  Đây là một sự chọn lựa mà người tin Chúa luôn luôn đối diện: chọn nghe theo lời nói của con người để bị lạc lối và mất hướng hoặc chọn nghe theo và yên nghỉ trên lời của Đức Chúa Trời.  Vì bất cứ lúc nào xã hội cũng có vẻ giống như trong câu 1, 2: không thuộc linh, không đáng tin cậy, thiếu chân thật, và chúng ta cần một nền tảng chắc chắn (6). 

Đáp lại sự sụp đổ của các thang giá trị trong xã hội (2) là lời cầu nguyện (1,3) xin sự giải cứu cho chính mình (1, xin cứu) và xin Đức Chúa Trời phán xét trên sự giả dối (3-4).  Cầu nguyện xin Đức Chúa Trời hành động để tẩy sạch xã hội (3) là phải lẽ, thật vậy, Đức Chúa Trời thừa nhận những lời cầu nguyện này bằng cách quyết tâm hành động (5).

Đáp ứng lại đối với lời của Đức Chúa Trời là tin cậy.  Vì lời của Ngài là hoàn toàn trong sạch, Ngài giữ vững lời nói của Ngài, quyết tâm hành động đáp ứng nhu cầu và chống lại những điều sai (5).  Đáp lại, chúng ta xác định niềm tin tưởng (7) dù rằng vấn đề vẫn còn gay cấn, nguy kịch như xưa (8).

Chú giải. 1 Người nhơn đức, xem Thi 4:3. 2 Tội lỗi của lời nói (tham khảo Es 6:5  Thi 34:12-13  Ro 3:13-14  Gia 3:2-6)  Dối trá, ‘lẫn nhau’, có thể nói là ‘hai lòng, hai mặt’.  5-8  Một khi điều Đức Chúa Trời hứa (5) nằm trong lời hoàn toàn trong sạch của Ngài (6), thì hãy tin cậy Ngài (7) ngay cả khi vấn đề vẫn còn đó (8). 5 khốn cùng ... thiếu thốn, tức là người bị chà đạp, người bị bóc lột lợi dụng. 6 Trong sạch, đặc biệt là sự trong sạch Đức Chúa Trời có thể chấp nhận.

15. TẦM THƯỚC MỚI CHO TẤT CẢ: SỰ BIẾN ĐỔI NHỜ CẦU NGUYỆN (Thi 13:1-6)

Cảnh trạng cũng tương tự như Thi 9:1-12:8 Đa-vít bị quân thù vây quanh, nhưng ở đây ông chỉ nghĩ đến một người thù địch (2,3).  Sự kiện Đa-vít không cầu xin Đức Chúa Trời hủy diệt người thù này cho thấy người thù địch này có lẽ là Sau-lơ (ISa 26:9 tiếp theo) hoặc Áp-sa-lôm (IISa 18:5).  Bài thơ này gồm có ba khổ trong thứ tự 5 dòng, 4 và 3 dòng: những khía cạnh của hoàn cảnh hiểm nguy (1,2) chuyển biến thành lời cầu nguyện khẩn thiết (3,4) và kết thúc trong sự an nghỉ êm ả nhờ kinh nghiệm sự biến đổi (5,6).  Nỗi bấn loạn đổi thành lời cầu thay và kết thúc trong niềm hoan hỉ.

(Thi 13:1-2)  Những hoàn cảnh hiểm nguy có những khía cạnh thuộc linh (Ngài sẽ hằng quên tôi?), riêng tư cá biệt (sự phấn đấu nội tâm và nỗi buồn khổ) và tình cảnh (kẻ thù chiếm ưu thế). 

(Thi 13:3-4)  Lời cầu nguyện cũng có những khía cạnh tương tự: thuộc linh (Hãy xem xét, Đức Chúa Trời lại ban ân huệ chớ không còn giấu mặt) (1), riêng tư cá biệt (ánh sáng, đổi mới), và tình cảnh (kẻ thù nghịch ... cừu địch).  Lời cầu nguyện phải lẽ trình bày với Đức Chúa Trời nhu cầu trong mọi khía cạnh.

(Thi 13:5-6)  Sự biến đổi cũng xảy ra trong những khía cạnh: thuộc linh, sự nhân từ Chúa thay cho ‘sự giấu mặt’ (1) riêng tư cá biệt, niềm hoan hỉ thay cho sự buồn khổ hoàn cảnh, sự đầy đủ của Đức Chúa Trời thay cho kẻ thù quá khích: đã làm ơn cho tôi ‘đã cung ứng cho tôi đầy đủ về mọi mặt’, nên hiểu là ‘hoàn toàn chắc chắn’, ‘ ... đã quyết định làm . . .’

Như vậy sự cầu nguyện đem lại một phương án tháo gỡ toàn bộ nan đề được Đức Chúa Trời nhất trí tham gia hoàn toàn.

16. TIẾNG NÓI: VÔ THẦN VÀ KINH NGHIỆM (Thi 14:1-7)

Sự nhấn mạnh trong câu 5a (nghĩa đen, ‘Kìa, họ thực sự kinh hãi’) gợi lại chuyện đã xảy ra tạo cơ hội cho thi thiên này được hình thành - có lẽ trong một trường hợp nào đó kẻ vô thần đối diện trực tiếp với sự hiện diện thực sự của Đức Chúa Trời giữa vòng dân sự của Ngài.  Chúng ta không có cách nào để xác định đó là trường hợp nào.  Phải chăng trước giả đang ngẫm nghĩ về chuyện xảy ra trong Xu 14:10-28  Sự vô thần này nghiêng nặng về thực dụng nhiều hơn là lý thuyết, không chú trọng chối bỏ những kinh nghiệm về Đức Chúa Trời cho bằng chú trọng chê bai là Ngài không thích hợp với thực tế.

(Thi 14:1)  Ngu dại, một con người không nhận thức được giá trị đạo đức hoặc những bổn phận trong xã hội (Es 32:6 tham chiếu ISa 25:1-43, đặc biệt là c.25), có tâm tánh hư hỏng, gớm ghiếc về phần thuộc linh (‘gớm ghiếc - đối với Đức Chúa Trời’), về mặt hành vi, họ không quan tâm làm việc lành.

(Thi 14:2)  vì cớ con người như vậy không tìm kiếm Đức Chúa Trời, kết quả là,

(Thi 14:3-4)  đương sự cố tình bội nghịch, trở nên ô uế, ‘băng hoại từ xấu đến tệ hại’, đối xử với dân của Đức Chúa Trời như thể con mồi và chính mình thì không cảm thấy cần đến Đức Chúa Trời (chẳng hề cầu khẩn Ngài).  Rõ ràng không kém là phương án giải quyết đối với những người này không phải là tranh luận nhưng chính là sự hiện diện của Đức Chúa Trời một cách rành rành không thể nhầm lẫn được ở giữa vòng dân sự của Ngài (5b) và dân sự của Ngài kinh nghiệm Ngài là nơi trú ẩn an toàn trong mọi nhu cầu (6b).  Đối phó với tình trạng không thuộc linh bằng tình trạng thật sự thuộc linh.

Thi thiên này ghi lại ba tiếng nói, tiếp sau mỗi tiếng nói là một lời bình luận: Người ngu dại (1a, b), bình luận (1c,d) Đức Chúa Trời (2-4), bình luận (5) Y-sơ-ra-ên (7a, b), bình luận (7c).  Lời cầu nguyện kết cầu xin sao cho sự kiện chỉ xảy ra một lần (5,6) được trở thành một sự thực thường trực (sự cứu rỗi) còn lời bình luận theo sau lời cầu nguyện là chính sự thực đó: dân của Đức Chúa Trời có bổn phận phải vui mừng trong Ngài ngay trong hiện tại.

17. LÀM  VỊ KHÁCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI: CHO PHÉP TÔI ĐẾN CHƠI VÀ LẠI NHÉ (Thi 15:1-5)

Thi thiên này không được xem là ‘bài kinh vào cửa’ do người muốn vào đền thờ để thờ phượng hỏi về những điều kiện qui định đối với việc này, tiếp theo sau là câu trả lời của thầy tế lễ.  Trọng tâm của thi thiên là ngụ (1), ở ... sống): làm thể nào được ở trong ‘đền tạm’ (chớ không phải đền thờ) của Ngài, được Ngài tiếp đãi như một vị khách trong gia đình của Ngài.  Điều kiện là sự thánh khiết, không có sự thánh khiết này thì không một ai được thấy Đức Chúa Trời (He 12:14), bao gồm cả hành vi, lời nói và mối liên hệ (2-3), các giá trị, sự ngay thẳng và sự hài lòng về mặt kinh tế tài chánh (4-5).

Chú giải. 1 Ngụ, ‘ở trong tư cách một vị khách’. 2 Đi, nếp sống ngay thẳng, ‘hoàn toàn’, không thể chê trách công bình, đúng theo Đức Chúa Trời. 5 Không hề rúng động nghĩa là bị đẩy ra khỏi chỗ của mình trong đền tạm của Ngài.

18. SỰ AN TOÀN VĨNH CỬU (Thi 16:1-11)

Không rõ sự việc gì đã thúc đẩy Đa-vít xin được bảo toàn (1) vì thi thiên chú trọng vào huyết (9-11) nên có lẽ cái chết đã phớt sát bên ông, hoặc trong một cơn bạo bệnh hoặc một hoàn cảnh nguy nan nào đó khiến ông băn khoăn về vấn đề an toàn của mình, như thế nào và đến khi nào.  Dầu sao đi nữa đây vẫn là chủ đề của thi thiên và cấu trúc của bài thơ này trình bày sứ điệp đó:

A1 (c.1) An toàn trong Đức Chúa Trời: một lời khẩn cầu.

B (c.2-4,5,8) Những bằng cớ của sự an toàn.

a1 (c.2) Đức Chúa Trời là toàn bộ phước lành của tôi.

a2 (c.5) Đức Chúa Trời là phần của tôi.

b1 (c.3) Tìm thấy sự vui thích nơi dân sự.

b2 (c.6) Tìm thấy sự vui thích nơi phần sản nghiệp.

c1 (c.4) Quyết tâm: tiêu cực.

c2 (c.7-8) Quyết tâm: tích cực

A2 (c.9-11) An toàn vĩnh cửu trong Đức Chúa Trời: một sở hữu.

(Thi 16:1) An toàn trong Đức Chúa Trời, một điều khẩn cầu  Sự an toàn bắt đầu ở chỗ chúng ta cầu xin và tìm kiếm nơi Đức Chúa Trời (1).

(Thi 16:2-8)  ba bằng cớ chứng tỏ đã sở hữu sự an toàn: Thứ nhất, vui mừng trong Đức Chúa Trời: (2) ngoài Ngài ra, ‘phước hạnh / sự an lành của tôi không quá tầm tay Ngài / không có ở đâu ngoài Ngài’, ‘Ngài là tất cả phước hạnh mà tôi cần’ - ‘Kính thưa Chúa Cứu Thế, mọi điều con cần là Ngài đấy thôi’ (5) nghĩa đen ‘Đức Chúa Trời là phần của tôi’ chén, dịch là phần (Thi 11:6), vận mệnh của cá nhân trong cuộc đời, vận may hoặc rủi.  Nói rằng:  Đức Giê-hô-va là ... cái chén của tôi tức là xác định rằng trong hoàn cảnh buồn khổ hoặc vui mừng Đức Chúa Trời vẫn nắm quyền hành trên thực tế (73:25-26).  Thứ hai, vui thích về dân của Đức Chúa Trời và vương quốc: (3) người thánh, ‘những người thánh khiết’, là những người Đức Chúa Trời đã ‘biệt riêng’ cho Ngài (6) đẹp đẽ, đồng nghĩa với vui thích (3), ở đây tác giả vui thích phần cơ nghiệp mà Đức Chúa Trời đã chia cho.  Thứ ba, vui thích về lẽ thật của Đức Chúa Trời.  Đa-vít từ khước không thờ phượng những thần khác (4c) hoặc không công nhận họ là thần (4d, tên), ông vui thích về những lời khuyên bảo dạy dỗ của Đức Chúa Trời (7) và qua những lời khuyên bảo dạy dỗ đó Đức Chúa Trời không ngớt là mục tiêu của ông trong đời sống (8, hằng để ... trước mặt) và là kinh nghiệm của ông (8b,c).

(Thi 16:9-11) Sự an toàn trong Đức Chúa Trời, một sở hữu  Sự an toàn có một phương diện đời đời: con người toàn diện, nội tâm (tấm lòng) và ngoại hình (thể xác), có thể nghỉ ngơi an toàn, ngay cả khi đối diện với cái chết (âm phủ / ‘Sheol’, nơi người chết tiếp tục sống) bên kia âm phủ có một con đường sự sống dẫn tới (theo nghĩa đen) ‘sự khoái lạc trọn vẹn’ trong sự hiện diện của Chúa (trước mặt Ngài) Xem Dẫn nhập ‘Hi vọng’.

Ngay cả khi Đa-vít sáng tác thi thiên này ông cũng vươn xa hơn kinh nghiệm bản thân: thí dụ, ông đâu có luôn luôn đặt Đức Chúa Trời ở trước mặt mình, cũng không phải ông không hề rúng động.  Cả ông lẫn những người đương thời đều nhận biết rằng thi thiên này là một lý tưởng chưa thể hiện.  Đúng vậy, cho nên, Kinh Thánh Tân Ước nhận thấy thi thiên này là một hình bóng về Chúa Giê-xu Cơ Đốc, các lý tưởng và mối hi vọng của thi thiên này đều được Ngài thể hiện, làm trọn (Cong 2:24-32) và qua Ngài niềm hi vọng tương tự đang chờ chúng ta (Ro 8:11).

19. KHÁNG NGHỊ TỚI TÒA ÁN TỐI CAO (Thi 17:1-15)

ISa 23:25 tt, cung cấp bối cảnh thích hợp cho thi thiên này.  Thi thiên ăn khớp với câu chuyện ở những chi tiết tác giả bị kẻ thù bao vây, một trong đám đó đặc biệt có ác cảm với ông (c.12 dùng đại danh từ số ít).  Có những chi tiết tương đồng với Thi 16:1-11 có lẽ mối nguy hiểm bộc bạch nơi đây chính là chuyện tác giả bị tử thần áp sát mà Thi Thiên 16 phản ánh.

Thi thiên này gồm ba lời cầu cứu:  Xin hãy nghe (1), Nhậm lời (6), Chờ dậy (13).  Lời cầu cứu thứ nhất (1-5) biện minh sự công nghĩa của tác giả lời cầu cứu thứ hai (6-12) tố cáo những kẻ thù tàn bạo lời cầu cứu thứ ba (13,14) xin Đức Chúa Trời hành động.  Tiếp theo sau lời cầu cứu thứ nhất và thứ ba là lời tự bạch của tác giả (6,15) (nhấn mạnh trên đại danh từ ngôi thứ nhất số ít, ‘Còn tôi . . .’) xác định lòng tin chắc là Đức Chúa Trời ghi nhận lời cầu cứu của mình và khải tượng sắp tới về Đức Chúa Trời (Thi 16:1,9-11).

(Thi 17:1-5) Lời cầu cứu đặt sở trên sự công nghĩa  Dĩ nhiên, nói chung Đa-vít không tự xưng mình là vô tội, nhưng trong trường hợp cụ thể này ông xác nhận ông vô tội, theo như những diễn biến trong mối quan hệ giữa ông và Sau-lơ cho thấy.  Ông đến trước mặt Đức Chúa Trời với lương tâm trong sạch (Ne 6:8-9  Cong 24:16) tiếng kêu chánh đáng của tôi (1), ‘Hãy nghe lời chánh đáng’, (Phu 1:16, (nghĩa đen) ‘và xét xử cách công bình’, khi kết án thì xác định giá trị của lẽ phải).  Vì vậy ở đây nói rằng ‘xin hãy nghe trong ánh sáng công nghĩa (của Ngài)’.  Ban đêm (3) là thời gian ý nghĩ lang thang và người ta dễ rơi vào hướng suy nghĩ lệch lạc (Thi 16:7 so sánh 36:4).  Miệng tôi, Kinh Thánh đặt nặng vấn đề ăn nói (4).  Trong mối liên hệ với Sau-lơ, lời tuyên bố phong vương của Đức Chúa Trời đối với người được Ngài xức dầu trở nên rào chắn kềm hãm Đa-vít trong khi những người chung quanh giục ông ra tay sát hại Sau-lơ (ISa 24:3-7  26:8 tiếp theo).  Đa-vít có được lương tâm trong sạch nhờ tuân theo phương hướng mà Đức Chúa Trời đã khải thị, đường lối của Ngài, không tẻ tách đi đâu cả (không xiêu tó) (5).

(Thi 17:6)  Động cơ thúc đẩy tác giả dùng lời cầu nguyện để đối phó với một cơn khủng hoảng là Đức Chúa Trời sẽ (luôn luôn) trả lời.  Đức Chúa Trời, ‘l, là từ cao siêu tôn quí nhất trong lời của Đức Chúa Trời.  Lời cầu nguyện đem nhu cầu của chúng ta đến thẳng với chính ‘Đức Chúa Trời’.  Cần nhớ là lời cầu nguyện còn đặt cơ sở trên những khoản khác nữa chớ không phải chỉ trên lương tâm trong sạch.  Trên cơ sở lòng tha thứ của Đức Chúa Trời (Thi 86:4,5), danh của Chúa Giê-xu Cơ Đốc (Gi 16:23), và những nhu cầu của chính  chúng ta (86:1), chúng ta cũng khẩn nài với Đức Chúa Trời với niềm tin vững vàng tương tự.

20. ĐA-VÍT TRÌNH BÀY NHU CẦU CỦA MÌNH VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI (Thi 17:6-12)

Dù cha của chúng ta am tường nhu cầu của chúng ta nhưng chúng ta vẫn cần cầu nguyện (Mat 6:6-13).  Chúa Giê-xu, dư biết nhu cầu rồi, nhưng Ngài vẫn hỏi, ‘Ngươi muốn ta làm gì?’ (Mac 10:51). 7  (nghĩa đen) ‘Xin khiến cho tình yêu thương của Ngài được kỳ diệu’:  kỳ diệu lạ lùng chỉ về quyền năng siêu nhiên của Đức Chúa Trời, còn tình yêu thương chỉ về tình yêu thương không hề thay đổi mà Ngài đã thề hứa dành cho chúng ta. 8  Con ngươi, y như khi chúng ta tự động hạ mí mắt để bảo vệ mắt của mình, Đa-vít mong muốn rằng Đức Chúa Trời cũng lập tức tự động phản ứng để bảo vệ ông.  Cánh (Thi 61:4 so sánh Ru 2:12) 9  Kẻ thù đe doạ tính mạng của Đa-vít. 11  tôi ... tôi, / ‘chúng tôi ... chúng tôi’.  Kidner, ‘chẳng mấy khi Đa-vít quên bạn đồng hành của mình.’ 12  (nghĩa đen) số ít, hoặc ‘mỗi người giống như’ hoặc ‘người đó giống như’.  (Xem Dẫn nhập ở trên).

21. LỜI KHẨN NÀI THỨ BA: XIN ĐỨC CHÚA TRỜI HÀNH ĐỘNG (Thi 17:13-15)

Đa-vít hoàn toàn mong đợi gươm của Ngài (quyền năng hình phạt) và tay của Ngài (hành động của chính Ngài). 14  Khỏi loài người tức khỏi thế gian nghĩa là con người hoàn toàn bị những giá trị của đời này...  chi phối nên không thể trông mong sự nhân hậu ở nơi họ. 14c,d  có thể như bản NIV nhưng chuyển từ kẻ thù của Chúa (14a,b) qua những người được Ngài bảo vệ, như vậy là huỷ mất tính cách trái ngược của câu này với câu 15.  Có lẽ là, ‘Và những điều Ngài đang chất chứa, ôi xin đổ đầy bụng họ!  Xin cho con cái họ được dư thừa!  Nguyện họ có của dư thừa để lại cho con cái của họ!’  ‘Những điều Ngài đang cất trữ’ là những sự hình phạt xứng đáng cho họ, và theo nguyên tắc của Kinh Thánh về cơ chế gia đình thì những sự hình phạt đó cũng chuyển đến dòng dõi của họ nữa (Xu 20:5).  Đa-vít không cầu nguyện trong tinh thần thù hận, trong câu 1 ông đã xưng nhận ông không phạm tội trong lời nói (1).  Trái lại ông tự nhận mình, nổi giận với cơn giận công bình của Đức Chúa Trời mà Ngài đã bày tỏ trên mọi bình diện. 15  ‘Về phần tôi’ nhấn mạnh trên đại danh từ tôi, tạo thế đảo ngược đối với phần trên.  Tương lai của kẻ thù của ông ở trong tay Đức Chúa Trời.  Họ sẽ ‘được thoả nguyện’ (14) có dư dật) với sự hình phạt mà Đức Chúa Trời đang chất chứa còn ông sẽ được thoả nguyện với sự hiện diện hiển nhiên của Đức Chúa Trời (giống) Đức Chúa Trời (so sánh Thi 11:7).  Tỉnh thức, dùng ở đây với ý sống lại (so sánh Es 26:19  Da 12:2  Thi 49:15  73:23-24  139:18).

22. ĐỨC CHÚA TRỜI Ở HẬU TRƯỜNG: ĐỨC CHÚA TRỜI NẮM QUYỀN KIỂM SOÁT (Thi 18:1-50)

Đọc xong tựa, rồi đọc hết thi thiên này có lẽ chúng ta thấy lời lẽ không ăn nhập gì với tựa.  Trong chuyện đời của Đa-vít, Đức Chúa Trời có bay ào ào, bay trên cánh chê-ru-bin để trợ giúp Đa-vít không (10)?  Đức Chúa Trời có khiến xảy ra bão tố để giải cứu dân của Ngài (Gios 10:11) nhưng trong trường hợp của Đa-vít thì không Đức Chúa Trời cho gió thổi đến (15) vạch ra một lối đi xuyên Biển Đỏ (Xu 14:21  15:10), nhưng đối với Đa-vít thì Đức Chúa Trời không có làm việc này.  Đa-vít được giải cứu qua những cách khác: một vụ càn quét của quân Phi-li-tin (ISa 23:26 tiếp theo), địa hình hiểm hóc (4:1-3), lương tâm còn nhạy cảm của Sau-lơ (24,26), và ngay cả cuộc trốn chạy (27:1).

Nhưng cái vẻ không khớp giữa lời lẽ của thi thiên và chuyện đời của Đa-vít lại là chính điểm.  Đứng ở đỉnh điểm sau khi được giải cứu (Tựa) và hồi tưởng lại mọi diễn biến, Đa-vít nhận biết là chính Đức Chúa Trời của Si-nai (7-8 so sánh Xu 19:18), Đức Chúa Trời hình phạt Ai Cập (9-12 so sánh 9:13 tiếp theo, 10:21 tiếp theo) và Đức Chúa Trời của biến cố bên bờ Biển Đỏ, đã hành động để giải cứu ông.  Đức Chúa Trời đã vận hành trong tinh thần thánh khiết, hình phạt và giải cứu.  Đây là ý nghĩa của cảnh tượng sinh động:  đằng sau mọi tình cảnh của ông đều có sự vận hành siêu nhiên của Đức Chúa Trời.  Đa-vít trốn vào hang đá của A-đu-lam (ISa 22:1) và vùng núi đá của dê rừng (24:2), nhưng nhìn lại phía sau ông thấy rằng Đức Chúa Trời luôn luôn là vầng đá và nơi trú ẩn của ông (2,46), rõ ràng là Ngài giấu sự vinh quang của mình đằng sau bức màn đen tối của hoàn cảnh nhưng vẫn nắm quyền cai trị từ ngôi của Ngài vì lợi ích của người phục vụ Ngài.

Dầu vậy câu chuyện vẫn chưa hết.  Giữa nhu cầu bức thiết của ông và quyền năng giải cứu của Đức Chúa Trời còn một mối dây ràng buộc: 3 Tôi kêu cầu ... được giải cứu 6 (nghĩa đen) ‘Tôi cứ kêu cầu ... cứ khóc lóc ... tiếng kêu cứu của tôi tiếp tục vang tới Ngài.’ 16 Từ trên cao Ngài giơ tay ra nắm tôi ... lời cầu nguyện biến đổi sự thể.  Phải chi ngày trước Đa-vít cứ ở tại cung vua Sau-lơ, ngay tại trung tâm của cơn bão tố (ISa 19:9-10), thì hẳn ông không phải trải qua những năm tháng nhọc nhằn trong hoang mạc vì Đức Chúa Trời vẫn dư sức bảo toàn ông tại đó mà.  Có bao giờ Đa-vít bình tâm nghĩ như thế không?

Câu 1-19 nhằm cho chúng ta thấy rằng quyền cai trị của Đức Chúa Trời đang chờ có lời cầu nguyện khởi động.  Trong câu 20-45 Đa-vít viết rõ về những bài học kinh nghiệm đã qua này, vì Kinh Thánh dạy chúng ta qua những cái nhìn lui để chúng ta có thể sống với tầm nhìn hướng tới trước.  Những câu này tự phân ra làm bốn phân đoạn, với những cụm từ dị biệt làm mốc:  ‘Đức Giê-hô-va và tôi’ (20-24  30-34) và ‘Chúa và tôi’ (25-29,35-45).  Nhìn tổng quát thì phân đoạn trước viết về cách thức vận hành của Đức Chúa Trời và phân đoạn sau cho thấy sự vận hành này ứng dụng như thế nào vào trường hợp của Đa-vít.  Nguyên tắc được xác định là Đức Chúa Trời ban thưởng cho người công nghĩa (20-24), và Đa-vít nhận thấy rằng hễ gặp trường hợp ông xét thấy mình công nghĩa thì Đức Chúa Trời biến hoàn cảnh tối tăm thành ra sáng sủa (25-29).  Vì vậy, chúng ta không nên chủ trương rằng đương nhiên Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho chúng ta, nhưng cần tích cực dấn thân vào con đường công nghĩa hầu cho chúng ta được hưởng phước hạnh của Ngài (Cong 5:32).  Trong câu 30-34 chúng ta biết rằng đường lối của Đức Chúa Trời là trọn vẹn (30) nên Ngài cũng nhằm khiến cho đường lối của tôi trọn vẹn (32).  Đa-vít làm chứng về việc làm thế nào mục tiêu này đã đạt được ở nơi ông nhờ Ngài ban năng lực và sự đắc thắng giữa bao nỗi nhọc nhằn (35-45).  Nhưng trong mọi sự Đức Chúa Trời vẫn nỗ lực nhằm khiến chúng ta trở nên giống như Ngài (tham khảo Ro 8:28  He 12:7-11).  Thi thiên chấm dứt trong câu (46-50) tương tự như phần mở đầu (1-3) với lời tán tụng Đức Chúa Trời là vầng đá và là Đấng giải cứu.

Nhìn chung thi thiên này tương tự như IISa 22:1-51.  Trong Tựa đề của thi thiên có ghi cụm từ quan trọng là tôi tớ của Đức Chúa Trời, như vậy qua chi tiết đó thi thiên này có sau bài thơ trong 22:1-51 và những từ đó được thêm vào trong quá trình biên tập, để tôn tặng Đa-vít (hoặc để tưởng nhớ ông).

(Thi 18:1-2) (A1) Tóm tắt lời cầu nguyện riêng, dâng lên cho Đức Chúa Trời giải cứu 1  Yêu mến, tình yêu thương nồng cháy (so sánh IVua 3:26 đầy lòng thương cảm), thường dùng để chỉ về tình yêu thương nồng cháy của Đức Chúa Trời dành cho dân của Ngài (Thi 103:13, thương xót), chỉ ở đây được dùng để diễn tả tình yêu của con người dành cho Đức Chúa Trời. 2  Vầng đá, ‘vách đá lởm chởm, dựng đứng’, vầng đá ... đồn luỹ, ‘là nơi an toàn nhất hạng’ (9:9), tất cả đều gợi ý là tác giả được đặt vào nơi cao, quá tầm với kẻ thù.  Sừng, biểu hiện cho sức mạnh toàn thắng.  Kidner viết:  ‘Qua hàng loạt lối nói ví này Đa-vít hồi tưởng lại những lần ông thoát nạn và toàn thắng ... và ông tìm hiểu ý nghĩa của những việc đó.’  Tôi nương náu.  Có đồn luỹ chắc chắn an toàn mà nếu không chạy vào đó trú ẩn thì thật là vô nghĩa.

(Thi 18:3-19) (B1) Đường lối còn ẩn giấu của Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh (Xem Dẫn nhập ở phần trước) Đức Chúa Trời toàn năng vẫn hành động vì lợi ích của Đa-vít, dù rằng sự vinh quang của Ngài bị giấu kín.  Dầu khi cuộc sống có vẻ rối reng nhất, sự hiện diện siêu nhiên của Đức Chúa Trời vẫn còn đó.

3-6  Sự hiện hữu không suy suyễn của lời cầu nguyện:  Tôi kêu cầu ... tôi được giải cứu (3).

4-5 Cuộc khủng hoảng đầy nguy cơ mất mạng

6  Lời cầu nguyện cụ thể này đối phó hữu hiệu với cơn khủng hoảng nhờ cầu nguyện với Đức Chúa Trời của giao ước (Đức Giê-hô-va), tác giả đã kinh nghiệm về Ngài một cách riêng tư (Đức Chúa Trời tôi), là Đấng ngự tại nơi ông có thể tiếp cận (đền của Ngài) và là Đấng nghe tiếng kêu cầu của từng cá nhân (tai Ngài).

7-15  Lời cầu nguyện kéo Đức Chúa Trời đáng kính sợ đến bên chúng ta, Ngài đích thân (9-12), hành động trong cơn thạnh nộ (7,8), và đầy quyền năng (13-15). Xem Dẫn nhập ở phần trước về lý do dùng những hình ảnh về các tai vạ ở Ai Cập, sự giáng lâm của Đức Chúa Trời ở Si-nai và biến cố tại Biển Đỏ.

16-19  Tất cả chỉ vì một cá nhân cũng quí báu và quan trọng đối với Đức Chúa Trời - chú ý từ tôi của tôi xuất hiện hai lần trong mỗi câu.

(Thi 18:20-45) (B2) Những đường lối được khải thị của Đức Chúa Trời 20-29  Từ mấu chốt là (20,24) tuỳ sự công bình của tôi ... tuỳ theo sự công bình của tôi là ‘dấu ngoặc đơn’ cho khổ thơ đầu trong phần này.  Sau đó vấn đề được tổng quát hoá (đối với kẻ trung tín ... trung tín ...  đối với kẻ thanh sạch ... thanh sạch,  25) rồi lại cụ thể hoá (ngọn đèn của tôi ... sự tối tăm của tôi, 28) trong khổ thơ thứ hai.  Nói cách khác chúng ta học tập nhận biết Đức Chúa Trời của chúng ta rất mực thước trong vấn đề đạo đức để rồi chúng ta mạnh dạn bước vào con đường phước hạnh bằng cách làm những việc vừa ý Ngài.  Đây không phải là sự cứu rỗi bởi việc làm, vì Đa-vít đã thuộc về Đức Chúa Trời, nhưng đây là vấn đề phước hạnh nhờ biết phục tòng là điều người được cứu vẫn cần đạt được.  20  Báo cho tôi, ‘giải quyết đầy đủ / đáp ứng trọn vẹn nhu cầu của tôi / đem lại cho tôi toàn bộ một phần thưởng.’  21-23  Không phải bỗng nhiên mà có phần thưởng, trái lại cần chuyên tâm quyết chí dấn thân vì sự thánh khiết, về mặt tích cực (giữ ... trước mặt tôi ... trọn vẹn) và tiêu cực phiếm diện (chẳng có làm ... nào có bỏ ... giữ lấy mình).  25  Trọn vẹn, ‘hoàn toàn’.  Trái nghịch ‘sự vi phạm của tôi,’ một loại tội lỗi đặc biệt trở nên cái bẫy sập cho Đa-vít.  27  Bị khốn khổ.  Thường thường, cũng như ở đây, dân của Đức Chúa Trời bị dày đạp bởi sự áp bức tàn bạo.  28-29  Đức Chúa Trời bảo đảm duy trì sự sống (đèn), hoàn cảnh thay đổi (tối tăm ... sáng), quyền lực trên người khác (đạo binh) và mọi vật (tường thành). 

(Thi 18:30-45)  Quay sang một lẽ thật khác về những đường lối đã được khải thị của Đức Chúa Trời.  Ngài là Đấng hành động cách công bình (20-29) cũng hành động có chủ đích:  Trọn vẹn trong các đường lối của Ngài (30).  Ngài cũng nhằm khiến cho đường lối của tôi trọn vẹn nữa (32).

Trong những câu thơ tiếp theo tác giả đan xen việc Đức Chúa Trời làm (30-31,35,39,43) lẫn với việc Đa-vít làm (32-34,36-38,40-42) bởi năng lực của Đức Chúa Trời ban cho.  Nói cách khác, muốn tiến đến sự trọn lành mà Đức Chúa Trời đang đề ra cho chúng ta, chúng ta cần sống hưởng ứng tương xứng với những việc Ngài đã làm cho chúng ta (Phi 2:12-13).  Điều này lý giải sự kiện phần này mở đầu bằng cụm từ lời của Đức Giê-hô-va đã được luyện cho sạch (30).  Khi Đức Chúa Trời bày tỏ ý muốn của Ngài là chúng ta phải vâng lời làm theo.  37-45  nói về chuyện khác không có liên hệ đến Sau-lơ, vì trong trường hợp đó Đa-vít không đuổi theo, không đánh trả ...   Có lẽ lắm các động từ dùng trong thì hiện tại đầy trọn chỉ về ‘ý tin tưởng chắc chắn’ hướng đến quãng thời gian ông lên ngôi vua sau khi được giải cứu khỏi Sau-lơ cho đến những cuộc thắng trận và đỉnh điểm của thời trị vì.

(Thi 18:46-50) (A2) Tóm tắt lời cầu nguyện riêng dâng lên cho Đức Chúa Trời Đấng giải cứu Một triều đại thắng lợi mà Đa-vít tin tưởng chắc chắn chẳng bao giờ xảy ra cho ông hoặc cho các vua kế nhiệm trong dòng họ của ông, nhưng chỉ được thể hiện khi ‘Người con của Đa-vít vĩ đại hơn cả Đa-vít vĩ đại’ tái lâm trong sự khải hoàn (Phil 2:9-11).

23. BA TIẾNG NÓI ĐỐI ÂM (Thi 19:1-14)

(Thi 19:1-6).  Tiếng nói của tạo vậtnghịch   Suốt qua không gian (1), thời gian (2) và địa cầu (4) thế giới thọ tạo ‘kể lại’ (1) rao truyền) sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo (1b). 4  Dây đo có nghĩa là ‘phân định quyền lực’.  Quyền lực này do mặt trời nắm giữ (Sa 1:16 c.5-6) mỗi ngày tái xuất hiện để thi thố quyền thế của mình, đi biểu dương lực lượng hùng hậu xuyên qua bầu trời, xen vào mọi ngõ ngách, không sót nơi nào.  Thế mà, nghịch lý một điều là dù vạn vật thọ tạo thao thao giảng (2) nhưng chẳng nói thành tiếng (3).  Thế giới thọ tạo kể lại nhưng chẳng thốt ra tiếng nói nào: thế giới thọ tạo nói với trực giác của chúng ta rằng có một Đức Chúa Trời vinh quang sáng tạo nên những điều kỳ diệu đến thế, nhưng thế giới thọ tạo bị giới hạn trong việc truyền ra thông điệp - vì không thể nói về bản thể của Ngài - và vì nội dung của sứ điệp đôi khi mâu thuẫn nhau, thí dụ vẻ đẹp trên đồi núi nói lên một nội dung khác hẳn sứ điệp của bão tố và hoả diệm sơn rao ra.

(Thi 19:7-10) Tiếng nói của lờitrọn vẹn  Đức Chúa Trời bỏ mặc cho chúng ta băn khoăn bất định trong tín ngưỡng qua thiên nhiên Ngài lên tiếng nói ở đây có sáu từ được dùng để chỉ về lời Ngài nói: luật pháp (7), tức là ‘lời giáo huấn’ chứng cớ / ‘lời chứng’, những điều Đức Chúa Trời làm chứng là có giá trị giềng mối (8), nói về những chi tiết nhỏ trong cuộc sống mạng lịnh, những điều yêu cầu phải tuân thủ điều răn, những quyết định có thẩm quyền sự kính sợ (9), đáng được tôn thờ, sùng bái.

Lời của Ngài có chín phẩm tính: trọn vẹn trong mọi phần, mọi mặt và toàn bộ đáng tin cậy (7), chắc chắn ngay thẳng (8), đúng đắn về mặt đạo đức sáng sủa, ‘trong sáng’, không bị ô nhiểm trong sạch (9), (Thi 12:6), sự trong sạch theo ý Đức Chúa Trời hằng còn đến đời đời, không thay đổi chân thật ... công bình, ‘thật ... đúng’, ăn khớp với chuẩn mức của sự thật quí (10), ‘đáng mơ ước’, có giá trị tự tại ngọt, đầy dẫy sự vui thích thật sự.

Lời của Ngài có bốn kết quả: bồi bổ (7), (35:17 so sánh Ru 4:15  Ca 1:16), phục hồi sự sống thật vì bị sự nguy hiểm đe doạ hoặc suy yếu vì buồn khổ làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan ngu dại có hai ý một ý không tốt là thiếu hẳn chuẩn mực đạo đức (Ch 7:7  14:15  22:3), và một ý tốt là ‘có thể giáo dục được’ (Thi 116:6  119:30  Ch 1:4), làm cho lòng vui mừng (8), giáo dục cảm xúc (tấm lòng) làm cho mắt sáng sủa (8), đôi mắt là cơ quan của sự ham muốn, sự đòi hỏi đối với những chuyện, những sự vật trong cuộc đời.  Lời của Đức Chúa Trời làm cho thấm nhuần chuyển đạt cho chúng ta những mục tiêu chính đáng, những giá trị xứng đáng.

(Thi 19:11-14) Tiếng nói của tội nhânlời cầu nguyện  Con người này chịu ảnh hưởng của lời Đức Chúa Trời.  Đương sự nhận thấy mình được cảnh cáo, ‘soi sáng’ và sung túc (phần thưởng lớn) nhờ vâng lời (11) đương sự chịu thuyết phục về tội lỗi và bằng lòng xin được tha thứ (12), đương sự nhận được khát vọng mới và mong mỏi được trở nên không chỗ trách được (13), ‘trọn vẹn’ trong mọi khía cạnh và toàn diện - như chính lời (7) và cụ thể là (14) vừa ý Đức Chúa Trời trong lời nói.  Nếu đương sự được đánh giá qua lời nói (7-10), thì há chúng ta lại không bị đánh giá theo cách đó sao?  Tạo vật lặng thinh nhưng chúng ta thì không được phép làm như vậy.  Làm thế nào duy trì một đời sống vâng phục như vậy?  Chỉ có thể nhờ đến chính mình Đức Chúa Trời là vầng đá - là Đấng có sức mạnh và là Đấng đáng tin cậy và qua lòng ưu ái của Ngài, Ngài là Đấng Cứu Chuộc, là người bà con gần nhất xem tất cả những nhu cầu của chúng ta như là nhu cầu của chính mình Ngài (Ru 3:13).

Chú giải. 3 Thế giới thọ tạo không nói thành tiếng, không có ngôn ngữ cũng không thể truyền thông, trao đổi, có thể khiến người ta phải liên tưởng nghĩ ngợi về một Đấng Sáng Tạo, nhưng không thể khải thị bằng lời nói theo như nhu cầu của chúng ta. 11 câu này đáng lẽ mở đầu với từ ‘Thật vậy, vì vậy . . .’ để chuyển qua phần ứng dụng vào một trường hợp cụ thể.  12,13  tội lỗi có thể là một trường hợp lầm lỡ (sai lầm), một trường hợp vi phạm mà không biết, hoặc một hành động cố ý làm trái lời của Đức Chúa Trời, Đấng cao cả quyền hành hơn chúng ta. 14 Miệng ... lòng, bên ngoài lẫn bên trong nội tâm.

24. TRƯỚC GIỜ LÂM TRẬN: THẮNG LỢI CỦA LỜI CẦU NGUYỆN VÀ ĐỨC TIN (ThI 20:1-9)

Thi thiên này thích hợp cho buổi lễ cầu nguyện và dâng tế lễ trong đêm trước ngày lâm trận (ISa 7:7-9  13:8-9).  Có nhiều tiếng người nói: một người cầu nguyện với Đức Chúa Trời cho anh (đại từ số ít, nam. 1-4,5c) hoặc vua (9a) một người khác nói theo thể xác định về tôi (5a,b,6-8).  Còn có thể nghe tiếng cầu nguyện đối đáp giữa thầy tế lễ với hội chúng (1-4,9).  Trong khi vua yên lặng cầu nguyện thì thầy tế lễ và hội chúng cầu xin Đức Chúa Trời nghe và nhậm lời cầu nguyện của vua (1,2).  Rồi khi của lễ được dâng lên thì họ cầu xin Đức Chúa Trời nhận của lễ (3) và xin Ngài khiến cho mọi kế hoạch của vua đạt thành quả (4).  Vua bày tỏ lòng tin cậy của mình và của quân đội (5a, b) thì thầy tế lễ và hội chúng (5c) cầu xin Đức Chúa Trời đáp ứng lời cầu nguyện của vua.  Đáp lời họ, một lần nữa vua xác định rằng cầu nguyện (6) và đức tin (7,8) là đường dẫn đến chiến thắng.  Thầy tế lễ và hội chúng kết thúc buổi lễ bằng cách tuần tự cầu nguyện (9) Đức Chúa Trời giải cứu vua và xin Ngài đáp lời cầu nguyện của họ.

Chú giải. 1 Giòng thơ thứ nhất (nghĩa đen) ‘ngày nguy nan’ khớp với giòng thơ cuối (nghĩa đen) ‘ngày chúng tôi kêu xin’.  Con đường dẫn đến niềm tin vững vàng và chiến thắng là đối phó với sự nguy nan bằng lời cầu nguyện. 2 Được an toàn là nhờ danh Đức Giê-hô-va (1,5,7), tức là những điều Ngài đã khải thị về chính mình Ngài.  Từ Si-ôn trở thành từ trên trời (6):  Đức Chúa Trời là Đấng ngự giữa dân của Ngài làm việc đó với tất cả sự vinh hiển, quyền năng, và thế lực của Ngài ở thiên đàng. 3 Đặt căn bản cho lời cầu nguyện trên những của lễ mà Đức Chúa Trời cho phép dâng lên, đối với chúng ta ngày nay thì lời cầu nguyện của chúng ta đặt cơ sở trên Gô-gô-tha. 7 Sự chiến thắng không phải nhờ nguồn tài lực ở trần gian nhưng nhờ tất cả những điều Đức Chúa Trời đã khải thị về chính mình Ngài - danh của Ngài.

25. SAU TRẬN CHIẾN: SỰ CHIẾN THẮNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG LAI (Thi 21:1-13)

Thi 20:1-9 xác nhận là chúng tôi sẽ reo mừng khi ngươi (vua) chiến thắng.  Nhờ những chiến thắng của vua giờ đây có sự vui mừng (1) và vinh hiển (5).  Như vậy lời cầu nguyện trước đây và lòng tin cậy đã được đáp ứng.  Thi thiên này là nội dung nghĩ ngợi về kinh nghiệm đó.  Câu mở đầu xác nhận rằng nhơn năng lực Ngài vua sẽ vui mừng (1) câu này khớp với câu cầu nguyện kết, Hỡi Đức Giê-hô-va, nguyện Ngài được tôn cao trong năng lực Ngài (13).  Tính cách quá khứ và tương lai của hai câu này cũng được phản ánh qua các cụm câu 2-7, nhìn lại chiến thắng, và câu 8-12 trông mong chiến thắng.  Đơn giản và dễ dàng nhất là hiểu rằng một mình vua nói suốt qua thi thiên này (trong câu 1-7 dùng đại từ số ít ngôi thứ ba).  Trong câu 2-7, Đức Chúa Trời trả lời sự cầu nguyện bằng cách ban phước cho cá nhân (3,4) và cho đất nước (5), như vậy lòng tin cậy đã được chứng minh là đúng (7).  Câu 8-12 viết về sự chiến thắng sắp tới của Đức Chúa Trời là một sự chiến thắng hoàn toàn, siêu nhiên, dứt điểm và không ai có thể chống cự nổi.

1 Tại vì sự cứu rỗi của Ngài, ở đây là sự cứu thoát về mặt thể xác khỏi mối nguy nan nào đó (Thi 20:1-9 phản ánh điều này).

2  Cầu xin, ‘mong muốn’, tham khảo (giòng trên) ước ao.  Sự cầu nguyện của vua là một điều cảm nhận tự đáy lòng.  Môi, sự ước ao này không bị bỏ lửng cách mơ hồ nhưng được cụ thể trong lời cầu thay.

3  Rước.  Động từ, ‘đi trước ai đó / đi đến một nơi nào đó trước’ được dùng ở đây về Đức Chúa Trời, Ngài ‘dự trù’ nhu cầu của chúng ta, chờ đợi chúng ta với những phước lành đã chuẩn bị sẵn ở tại nơi chúng ta đối diện với sự nguy nan.  Mão triều, (IISa 12:30).

4  Cầu xin Chúa sự sống, vì tánh mạng bị đe doạ.  Ngày lâu dài đời đời... , dùng trong ý bóng gió như thể ‘vua muôn năm,’ nhưng cũng như thường thấy trong các thi thiên vịnh về vua cụm từ này vô tình báo trước sự cai trị thực sự của Chúa Giê-xu cách vĩnh viễn, đời đời.

6  Trước mặt Chúa.  So sánh từ này (‘mặt’, đích thân hiện diện) với câu 9 (sự xuất hiện):  sự hiện diện của Đức Chúa Trời đem lại cho vua sự sống, còn đem đến sự chết cho quân thù của vua.  Sự hiện diện của Đức Chúa Trời vừa đem lại sự sống lẫn chiến thắng.

7  Sự nhân từ của Đấng chí cao, tình yêu thương trong giao ước.  Rúng động, tức là bị lật đổ khỏi ngôi vua.

8-12  Có người chủ trương rằng tiếng cười nói trong câu 2-7 nói về vị vua giờ đây cũng tiếng nói đó chuyển qua nói với vua về những cuộc chiến thắng bởi tay của Đức Chúa Trời.  Dầu sao ý nghĩa vẫn không bị ảnh hưởng chi, nhưng đơn giản và dễ dàng hơn thì nên xem đây là tiếng của vua nói về những cuộc toàn thắng sắp tới của Đức Chúa Trời như vua đã nói về những cuộc toàn thắng đã qua của Ngài (2-7).  Ác cảm của thế gian đối với Đức Chúa Trời và đối với người được xức dầu của Ngài đều như nhau (Thi 2:1-12).  Những lời lẽ đầy cảm tính này phát xuất từ miệng của Đa-vít là rất thích hợp vì Đa-vít được Đức Chúa Trời hứa ban cho quyền cai trị trên toàn cầu (2:7-9) còn đối với chúng ta thì những câu này khớp với niềm hi vọng trong Tân Ước (IITe 1:7-10  Kh 19:11-21).  Nhưng cũng đúng là quyền năng chiến thắng của Đức Chúa Trời bao trùm toàn bộ tương lai của chúng ta chớ không phải chỉ những biến cố trong ngày tận thế.  Từng giây phút tay của Ngài (sự hành động của chính Ngài, 8), sự hiện diện (đích thân xuất hiện, 9, xem 6) và cơn giận (từng cá nhân cảm nhận được, 9) ở bên chúng ta.

13  Sự khoái lạc thật (1) bộc lộ trong lời thỉnh cầu sao cho Đức Chúa Trời được vinh hiển, khi Ngài thực sự được vinh hiển rồi thì sự khoái lạc đã chuyển thành lời ca hát tôn vinh, ‘trổi nhạc’, đó là một kết quả theo lẽ tự nhiên.

26. MỘT NGƯỜI BỊ BỎ, NHIỀU NGƯỜI VUI MỪNG HỚN HỞ (Thi 22:1-31)

Kidner viết ‘Chẳng một Cơ-đốc nhân nào có thể đọc thi thiên này mà không phải đối diện với sự hi sinh trên thập tự giá một cách sinh động - đúng vậy, thi thiên này không mô tả một trường hợp ngã bệnh nhưng mô tả một trường hợp xử tử.  Công Vụ Các Sứ Đồ Cong 2:30 nhận định Thi 16:1-11 là lời tiên tri của Đa-vít.  Thi 22:1-31 cũng thuộc loại này.  Nếu, có thể lắm, Đa-vít sáng tác được bài thơ này vì đã kinh nghiệm một nỗi thống khổ nào đó, thì Đa-vít đã nhân nỗi thống khổ đó theo cấp số vô hạn để dọ dẫm tìm hiểu mức thống khổ của vị hoàng tử vĩ đại vô song của mình.  Dầu sao tác phẩm phát sinh từ nỗi thống khổ, đồng thời lại là lời tiên tri về nỗi thống khổ độc nhất, nay vẫn có thể tác động trên mỗi chúng ta trong những cơn thử thách trầm trọng triền miên.  Đến phiên mình, chúng ta cũng có thể học tập cầu cứu với Đức Chúa Trời (1-8,11-18), để tìm sự an ủi, sự vững tâm đối với những sự thật về chính mình chúng ta (9) và về những điều chúng ta học biết về lẽ thật (10) và để đối diện với tương lai với lòng tin cậy (22-31)vì Đức Chúa Trời sẽ chứng tỏ rằng Ngài là Đấng thành tín trung thực.  Tại đây chúng ta tìm thay toàn bộ những kinh nghiệm của mình: tình trạng cô đơn, hành vi thù địch, nỗi đau đớn buồn khổ, cái chết - vì Ngài đã chịu thử nghiệm trong mọi mặt y như chúng ta (He 4:15).

(Thi 22:1-10)  Bối rối ngỡ ngàng trong khi chịu khổ gồm có hai phần: (a) Lời cầu nguyện không có câu trả lời (1-5).  Đáp ứng cho lời cầu nguyện cấp thiết là sự câm nín lặng thinh (1,2).  Đây là chuyện trái ngược với bản tính của Đức Chúa Trời (3) và trái ngược với kinh nghiệm của những thế hệ trước kia (4,5).  1  Chúa Giê-xu hiểu rằng tiếng kêu cứu này mô tả về chính mình Ngài (Mat 27:46  Mac 15:34) chúng ta cũng phải hiểu như vậy.  Ngài làm gương mẫu cho chúng ta ở điểm này, trong cơn thống khổ cùng cực Ngài vẫn giữ vững niềm tin và Đức Chúa Trời vẫn là Đức Chúa Trời của tôi.  Nhưng kinh nghiệm của Ngài là một kinh nghiệm độc nhất, chỉ riêng một mình Ngài chịu.  Tác giả thi thiên viết rất chí lý rằng (Thi 37:25) ông chưa bao giờ thấy người công bình bị bỏ nhưng ở đây Đấng công bình trọn vẹn lại bị bỏ, trở nên đối tượng bị rủa sả vì chúng ta (Ga 3:13).  3  (nghĩa đen) ‘Ngài là Đấng thánh, lên ngôi trong những sự ca tụng của Y-sơ-ra-ên’.  Ở đây ý tưởng hết sức cô đọng: tự thân Ngài là thánh khiết (thế sao Ngài không cứu giúp người thuộc về Ngài đang chịu khổ?) Ngài uy nghi ngự trên ngai trong khi dân của Ngài ca tụng Ngài về những việc làm lớn lao mà Ngài đã thi thố (thế hiện nay những việc làm đầy quyền năng đó đâu rồi?).

(b)  Lòng tin cậy không được thoả đáp (6-9).  Câu (4,5) nhắc lại sự kiện, các bậc tiền bối tin cậy và cầu nguyện.  Đây là cơ hội khiến người đang chịu khổ nhận thấy rằng mình cũng đã tỏ lòng tin cậy nhưng chẳng thu hái được kết quả gì cả.  Trái lại lòng tin cậy khiến đương sự trở thành đối tượng cho người ta chế nhạo (6-8), ấy thế mà lòng tin cậy này được đích thân Đức Chúa Trời tạo nên cho cả một cuộc đời dài (9, Chúa khiến tôi tin cậy) và Ngài đã nhận được sự đáp ứng của đương sự (10, Đức Chúa Trời của tôi).  8  Ngài phó thác (Mat 27:43)  9,10  Kinh nghiệm gì nằm sau việc này?  Vì lý do nào đó, từ những ngày đầu trong đời đương sự biết là mình được giao cho Đức Chúa Trời.  Phải chăng chi tiết này phản ánh sự kiện Chúa Giê-xu sớm ý thức rằng đền thờ của Cha Ngài là nhà của Ngài?

(Thi 22:11-21) Khẩn nài Đức Chúa Trời gần bên  Phần này gồm hai lời khẩn nài xin Đức Chúa Trời đến bên đương sự và cứu giúp đương sự (11a, 19-21a) tiếp theo sau lời khẩn nài thứ nhất là phần mô tả tình cảnh cùng quẫn của đương sự: hoạn nạn cận kề, không có ai cứu giúp (11), kẻ thù hung bạo (12,13), sự đau đớn tột độ (14,15), sự gian ác leo thang (16,18).  Lời khẩn nài thứ hai công nhận năng lực của Đức Chúa Trời (19) nhưng sự chết đang vần vũ (gươm, 20), gây tổn hại cho cá nhân đương sự (sự sống quí báu của tôi, 20) và đưa đến một kết cuộc tàn nhẫn (chó ... sư tử ... bò, 20,21).  Sau đó, mọi chuyện thay đổi cách đầy kịch tính (21b, xem lề NIV) khi thình lình nhận biết Đức Chúa Trời phản ứng: Ngài trả lời cho sự cầu xin!  Trong khi dường như Đức Chúa Trời vắng mặt - hoặc ngay cả khi, theo như con người nhận định Đức Chúa Trời không còn hiện diện nữa (1), thì lời cầu nguyện linh nghiệm.  Trả lời cho câu hỏi: Sao Ngài lìa bỏ tôi? (1) là chớ đứng xa tôi (11).  12-18  (i)  Mường tượng cảnh thống khổ (12,13):  hình ảnh ‘thú vật’ diễn tả một sự tấn công thả dàn, không chút lương tri - chỉ có sức mạnh bất trị của bò đực và sự hung hăng tàn ác của sư tử.  (ii)  Trong cảnh thống khổ (14,15): kiệt sức, thể xác tơi tả rời rã (14), toàn bộ sức sống tan biến (trái tim), thay vào đó là sự kinh hãi rụng rời (tham khảo Gios 2:11  Exe 21:7), cơ thể mất hết nước và thái độ thù địch của Đức Chúa Trời (Chúa, 15) nhanh chóng đẩy đương sự vào chỗ chết (bụi tro).  (iii)  Sự thống khổ giáng xuống: hành động gian ác vỡ bờ, thể xác đương sự bị thương tích (16), người ta nhạo cười (17), chia chác các vật sở hữu của đương sự (18).  16c  Nhìn chung và xét vào chi tiết của phần này buộc lòng chúng ta phải nhận thấy ở đây mô tả sự thống khổ của Đấng Cứu Thế.  Đọc thêm Gi 19:23-24,28 thì chúng ta chẳng còn phân vân nghi ngại gì nữa.  Không chắc chắn lắm về hình thức dịch câu chúng nó ... đâm thủng nhưng dịch như thế là tránh chuyện sửa đổi quá nhiều nguyên bản Hi Bá Lai, bản LXX cũng dịch theo dạng này và dịch như vậy là thoả đáng cả hai mặt văn mạch lẫn sự ứng nghiệm.  21  Sự kiện đương sự thình lình nhận biết Đức Chúa Trời đáp ứng (nghĩa đen ‘Chúa đã nhậm lời tôi!’) xảy ra cách sống động.  Người chịu thống khổ dâng lên lời cầu nguyện:  ‘Hãy cứu tôi khỏi họng sư tử, khỏi các sừng của bò đực’ đang khi còn cầu nguyện thì hoàn cảnh thay đổi ‘ ... Chúa đã nhậm lời tôi!’  Lời nài xin đã được nhậm.  Mọi chuyện đều tốt đẹp. 

(Thi 22:22-31) Toàn cầu ca ngợi  Thoáng chốc lễ hội được tổ chức trong dân Y-sơ-ra-ên (22-26) và trên hoàn cầu (27-31):  Đức Chúa Trời đã trả lời sự cầu nguyện (24), dân nghèo được mời đến bữa tiệc (26) mọi người khác cũng đều được mời (29) và chuyện này sẽ được truyền tụng đến các thế hệ tương lai (30,31).  He 2:12 trích dẫn câu 22 trong tính cách một lời tiên tri về Đấng Mê-si, thật vậy, ngoài cái chết của Chúa Giê-xu không còn chuyện gì có khả năng dẫn đến kết quả tương tự - dân Y-sơ-ra-ên và các dân tộc trên toàn cầu được mời dự đại tiệc của Đấng Mê-si (Es 25:6-10a  Kh 19:9), quyền thống trị trên toàn cầu (Mat 28:18  Phi 2:9-11) và một thông điệp về sự công nghĩa của Đức Chúa Trời (31  Ro 1:16-17).  25-28  Do Chúa mà ra.  Đức Chúa Trời là căn nguyên và là đối tượng của sự ca tụng.  Hứa nguyện ... hiền từ.  Khi làm trọn một lời hứa nguyện người ta dâng một của lễ thù ân sau khi dâng của lễ họ tổ chức một bữa tiệc.  Người nghèo được mời đến dùng bữa tiệc này (Le 7:11,16  Phu 16:10-12).  29  Ý chung là mọi người bao gồm trong hai thái cực giàu và nghèo đều như nhau,  đều được hoan nghênh (29).  Thắc mắc còn đọng lại là phải chăng ở đây dùng từ bụi đất làm hình bóng về sự nghèo khó (Thi 113:7 so sánh ISa 2:8) hoặc về sự chết (Thi 30:9 so sánh Giop 7:21).  Trật tự ý tưởng trong câu khiến chúng ta nghĩ về ý thứ nhất còn cụm từ bụi tro sự chết (15) khiến chúng ta nghĩ về ý thứ hai.  30-31  Sự công bình của Ngài ... Đức Giê-hô-va đã làm việc ấy.  Cuối câu 21 Đức Chúa Trời phê chuẩn tất cả những gì người chịu thống khổ đã làm.  Do đó Ngài là chủ đề ca ngợi của đương sự (25).  Vì vậy, sứ điệp đương sự truyền đạt lại cho hậu thế là ‘những việc cao trọng của Đức Chúa Trời’ (Cong 2:11).

27. NGƯỜI CHĂN CHIÊN, BẠN ĐỒNG HÀNH VÀ CHỦ NHÀ (Thi 23:1-6)

Lời làm chứng về ba điểm, tôi không thiếu thốn gì cả (1), tôi không sợ tai hoạ nào (4) và tôi sẽ ở (6) đóng khung toàn bộ thi thiên này, với ba phần: chiên và người chăn (1-3), khách lữ hành cùng bạn đồng hành (4) và khách mới cùng chủ nhà (5,6), ba phần đó tuần tự trình bày về ơn dẫn dắt của Đức Chúa Trời, chủ trì kinh nghiệm trong cuộc sống, bảo vệ con người trên đường đời và ơn cung ứng của Ngài trong hiện tại và mãi mãi về sau.  1-3  Ba câu này chuyên biệt viết về những kinh nghiệm về sự dư dật (đồng cỏ xanh), sự yên bình (mé nước, nghĩa đen ‘chốn thư giãn về mọi mặt’) và đổi mới (phục hồi linh hồn tôi,  Thi 19:7).  Đằng sau các kinh nghiệm của chúng ta có nguyên tắc là Ngài chọn những lối đi công chính cho chúng ta, tức là những lối đi ‘đúng ý Ngài’, có ý nghĩa đối với Ngài.  Trong việc này Ngài hành động vì danh của Ngài, đúng theo bản tính của Ngài đã từng khải thị cho chúng ta.  4  Trái với từng trải vui mừng của chiên (1-3), con đường của khách hành hương đi qua những vùng đất hiểm trở.  Bóng của sự chết thực sự là ‘bóng đen dày đặc nhất’ dĩ nhiên bao gồm cả bóng đen của sự chết.  Nhưng trong những kinh nghiệm đó đại danh từ Ngài (ngôi thứ ba số ít) trong câu 1-3 trở nên Chúa (ngôi thứ hai số ít), ngụ ý về một sự gần gũi với từng cá nhân, và người dẫn dắt (2) đến bên cạnh (ở cùng tôi).  Bóng đen càng dày, Đức Chúa Trời càng ở gần!  Và Ngài đem lại năng lực, cây gậy và cây trượng.  Hai lần nhắc đến một vật dụng với ngụ ý nói về tính cách đầy đủ trọn vẹn.  Cây gậy (Le 27:32) có lẽ chỉ về sự bảo vệ cây trượng có lẽ chỉ về sự chống đỡ, nâng đỡ (Xu 21:19).  5,6  Dọn bàn ... trước mặt ... kẻ thù nghịch, so sánh IISa 17:27-29 khi Đa-vít có thể nhận biết bàn tay của Đức Chúa Trời qua sự cung cấp của Bát-xi-lai trước mặt Áp-sa-lôm.  Khi nhắc đến cả hoàn cảnh bất lợi (4) lẫn người thù địch (5) thi thiên xác nhận về sự chăm sóc của Đức Chúa Trời trong mọi cảnh ngộ nguy cấp.  Việc xức dầu lên đầu là một cử chỉ hoan nghênh tiếp đón còn chén đầy đến tràn ra là dấu hiệu tỏ rằng Đức Chúa Trời cung ứng sung túc dư dật.  Nhưng lòng tốt và tình yêu thương này sẽ còn duy trì mãi suốt cả đời người (nghĩa đen ‘cho đến hết chiều dài của chuỗi ngày’) và sau đó là ở trong nhà của Đức Chúa Trời đời đời.  Ở, ngụ là từ dùng theo truyền thống lâu nay theo ý của bản văn trong tiếng Hi Bá Lai, kể ra là đúng nhưng nghĩa đen là ‘tôi sẽ trở về ngôi nhà’ tức là khi các lối đi trên đời này (2,3), khi các trũng và các mối đe doạ (5) chấm dứt, thì đó là lúc về đến nhà thực sự.

28. QUYỀN VÀO CỬA (Thi 24:1-10)

Tham khảo ISa 5:1-6:21  IISa 6:1-23 về bối cảnh của việc Đa-vít thỉnh dời hòm giao ước về Si-ôn.  Quan trọng hơn là tính cách đồng nhất của chủ đề trên phương diện thần học:  chúng ta lấy quyền gì mà đến trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời (3-5) và Ngài lấy quyền gì để đến giữa chúng ta (7-10)?  Chúng ta chỉ dựa vào quyền hạn của sự thánh khiết để đến với Ngài (4) còn Ngài dựa vào quyền tối cao, sự vinh hiển, năng lực và quyền cứu chuộc (7-9).  1,2  Xây dựng cảnh trạng bằng cách xác định quyền làm chủ của Đức Chúa Trời trên thế giới của mình.  Vì Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời nên không một người nào dám tự tiện xâm phạm vào thế giới của Ngài hoặc đề nghị với Ngài những điều kiện vào cửa của mình.  Từ thuộc về Đức Giê-hô-va! biểu hiện ý nhấn mạnh.  Thế giới đúng là thuộc về Đức Chúa Trời.  Thế giới vật chất, động vật và con người (1) thuộc về Ngài vì chính Ngài đã tạo dựng nên (lập) và bảo trì (2, ‘đặt vững’, tiếp tục giữ cho vững bền, chắc chắn), vì nào ai khác ngoài Ngài có thể tạo ra lục địa từ lòng đại dương sùng sục sôi động hoặc giữ cho lục địa yên vị vững vàng đối phó với sức mạnh của các giòng thuỷ triều của đại dương (các nước lớn)?  (Sa 1:9-10).  3-6  Lên, đi lên đến chỗ ngự của Đức Chúa Trời (Xu 19:3), đứng, ‘đứng lên’, để thờ lạy (33:10), để trình bày một lý cớ (Thi 1:5), để binh vực lẽ phải của mình (Gios 7:12) trước mặt một Đức Chúa Trời với tầm cỡ đó.  Những điều kiện rất bao quát đầy đủ trong mọi bình diện: cá nhân, thuộc linh và xã hội (4, nghĩa đen ‘thề nguyện giả dối’ tức là cố ý đưa ra những lời hứa không thật tình) những điều kiện đó bao gồm: hành vi (tay) tâm tính (tấm lòng), trung thành với một mình Đức Chúa Trời (chẳng hướng linh hồn mình ... ), và không âm mưu trục lợi cho mình trong liên hệ với những người khác.  Những người như thế sẽ nhận được phước (5), và được quan toà tha bổng sau khi xét xử công minh.  Nhưng chúng ta đến trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng Cứu Rỗi, như vậy các điều kiện không nằm về phía chúng ta mà về phía Ngài, Ngài có chủ ý muốn cứu chúng ta.  6  Dòng dõi, một nhóm người liên hệ với nhau bởi những đặc điểm chung.  7-10  Liên tưởng đến cuộc diễu hành trong IISa 6:12-15.  Trả lời cho câu đề nghị mở cửa là câu yêu cầu trình ủy nhiệm thư, đưa đến câu trả lời rằng đây chính là Đức Chúa Trời, là Đấng đã giải cứu dân của Ngài và lật đổ quân thù (Xu 3:5-15  6:6,7  20:2), vị vua với tất cả sự vinh hiển oai nghi, là Đức Chúa Trời có toàn bộ năng lực hữu hiệu (8, có sức lực ... quyền năng ... mạnh dạn trong chiến trận) và nắm đầy đủ tất cả mọi quyền hành (10, Đức Giê-hô-va vạn quân).

29. NHỮNG BƯỚC SƠ ĐẲNG CẦN THỰC HIỆN TRONG NGÀY HOẠN NẠN (Thi 25:1-22)

Thi thiên này được sáng tác theo thể thơ mà những chữ cái đầu giòng hợp lại thành một từ, nhưng trong trường hợp bài thơ này từ đó không được đầy đủ nguyên vẹn vì thiếu mất hai chữ cái, người ta ép được một trong hai chữ cái vào bằng cách thay đổi dấu chấm câu trong bản văn Hi Bá Lai mà chúng ta thừa hưởng hiện nay và hoàn toàn loại câu 22, là câu nói về Y-sơ-ra-ên, ra khỏi khung của bài thơ này.  Tình trạng lủng củng này phản ánh tình trạng lủng củng trong nếp sống vì cớ những chuyện khó khăn, xáo trộn.  Dầu vậy sườn chính vẫn nguyên vẹn:

A1 (c.1-5) Tin cậy, hi vọng, cầu nguyện.

B1 (c.6-7) Cầu xin sự tha thứ.

C1 (c.8-10) Sự hướng dẫn dành cho tội nhân.

B2 (c.11) Cầu nguyện và sự tha thứ.

C2 (c.12-14) Sự dẫn dắt dành cho người kính sợ Đức Chúa Trời.

A2 (c.15-21) Tin cậy, hi vọng, cầu nguyện.

(Thi 25:1-5)  Tin cậy, hi vọng, cầu nguyện  Trong khi bị những người thù địch vô lương tâm vây quanh (2c, 3d, so sánh 19a), ông Đa-vít phản ứng bằng cách bày tỏ lòng tin cậy qua sự cầu nguyện (1, 2a), bằng cách cầu nguyện cụ thể (2b, c), và bằng cách an tâm tin tưởng vào những sự thật về Đức Chúa Trời (3).  Nhưng cầu nguyện trong tinh thần một người hết lòng dấn thân vào mọi đường lối của Đức Chúa Trời (4), mong mỏi được dạy bảo về mặt tinh thần (4, chỉ dẫn, ‘khiến cho tôi biết’ dạy bảo) và mong mỏi có một đời sống xứng đáng (5, dẫn dắt).  1  Hướng về Ngài, (Thi 24:4) tác giả nhận rằng duy chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng có giải pháp cho mọi nhu cầu.  2  Bị hổ thẹn, so sánh câu 3, niềm hi vọng bất thành.  4,5  Muốn có hành vi tốt cần có lẽ thật của Đức Chúa Trời (‘Khiến cho tôi biết’), cần tinh thần sẵn sàng học hỏi (xin dạy dỗ) và cần vâng theo (xin dẫn tôi).

(Thi 25:6-7)  Tội lỗi sự tha thứquá khứ  Không làm sao quyết tâm dấn thân theo lẽ thật của Đức Chúa Trời và sống cuộc đời thuận phục ý của Ngài (4,5) nếu không có ăn năn và trở về làm hoà với Ngài.  Khi Đức Chúa Trời nhớ lại Ngài là Đấng như thế nào (6) thì Ngài cũng sẵn sàng quên, không nhớ (7) chúng ta vốn là như thế nào.  6  Lòng thương xót và sự nhơn từ, là tình yêu thương trong lòng của Đức Chúa Trời (Thi 18:1) trong khi đó, sự yêu thương là tình yêu thương trong ý chỉ của Đức Chúa Trời, tức là điều Ngài đã tự buộc mình phải làm.  Ở đây dùng từ trong thể danh từ số nhiều có nghĩa là tình yêu thương đã hứa thực hiện cách đầy đủ nhất.  7  Các tội lỗi, những thiếu sót cụ thể vi phạm, là những tội thuộc loại có dự tính làm sai cố tình cố ý làm sai.  Tuỳ theo sự thương xót và lòng nhơn từ của Ngài.  Giá trị đạo đức căn bản của bản tính của Đức Chúa Trời là tìm được sự thoả lòng trong việc xoá bỏ quá khứ tội lỗi.

(Thi 25:8-10)  Đức Chúa Trời Đấng chỉ dạy  Khi ôn lại và nhớ ra thêm một số điều khác nữa về Đức Chúa Trời tác giả càng tin chắc rằng lời cầu nguyện của mình sẽ được Đức Chúa Trời đáp lại (4) và đường lối mà Đức Chúa Trời sẽ khải thị sẽ chan hoà tình yêu thương của Ngài.  Điều kiện của Đức Chúa Trời trong tất cả vụ này là chính bản tính của Ngài còn điều kiện bên phía con người là tội nhân phải khiêm nhường hạ mình (9, tức là những người đến trước mặt Ngài cách khiêm nhu) và phải tuân thủ giao ước.

(Thi 25:11)  Tội lỗi sự tha thứ hiện tại  Vì Đức Chúa Trời dẫn dắt những người khiêm nhu đến trước mặt Ngài, nên Đa-vít đứng vào hàng ngũ những người khiêm nhu nhất.  Tội lỗi không phải chỉ là chuyện trong quá khứ (6,7) mà cũng là chuyện hiện tại nữa.  Trong câu 6, 7 ông cầu xin Đức Chúa Trời thương xót, nhân từ và yêu thương trong câu 8 ông cầu xin Đức Chúa Trời chân thật, ngay thẳng giờ đây, tổng kết ông kêu cầu đến danh của Ngài, nghĩa là tất cả những điều mà Ngài đã khải thị về chính mình Ngài.  Tấm lòng và ý chí của Ngài (6), sự chân thật và sự ngay thẳng của Ngài (7,8) đều hiệp làm một, nhất trí trong hành động tha thứ tội lỗi (sự thối nát, bản chất suy đồi) cho dù tội lỗi nghiêm trọng đến đâu đi nữa.

(Thi 25:12-14)  Đức Chúa Trời Đấng chỉ dạy  Phước lành đổ dồn về cho bất cứ ai (12, Ai là người) kính sợ Đức Giê-hô-va:  Đức Chúa Trời sẽ chỉ dạy cho đương sự đường lối của Đức Chúa Trời ước vọng riêng tư của đương sự được thành tựu gia đình được an ổn được tương giao thông công với Đức Chúa Trời, và được Đức Chúa Trời dạy bảo về ý nghĩa của mối liên hệ trong giao ước với Ngài.

(Thi 25:15-21)  Tin cậy, hi vọng, cầu nguyện  15-16  Hai câu này liên hệ với nhau bởi ý tưởng là Đức Chúa Trời là giải pháp duy nhất:  Đa-vít chỉ chuyên chú nhìn Ngài không có một người nào khác ở với Đa-vít.  17-19  Trình bày cụ thể những nhu cầu của ông:  nội tâm, hướng thượng và bên ngoài chung quanh ông.  20-21  Như vậy, ‘chẳng có ai khác ngoài Đức Chúa Trời’ (15-16) đi bên cạnh ‘tất cả mọi nhu cầu của tôi’ (17-19) với tinh thần cầu nguyện, tin cậy, quyết tâm và trông mong ngưỡng vọng của tác giả.

(Thi 25:22)  Tầm nhìn bao quát hơn  Câu này hoàn toàn nằm ngoài khổ thơ theo thể này.  Vì Đa-vít là vua nên ông không bao giờ có thể quên phạm vi trách nhiệm rộng lớn hơn của một vị vua  cho dù những nỗi khó khăn trong đời sống cá nhân của vua có trầm trọng đến đâu.  Nhưng cũng như đối với những nan đề riêng tư, mối quan tâm chăm sóc của vua dành cho nhân dân được thể hiện qua sự cầu nguyện.  Nhân dân nên mong đợi nơi cấp lãnh đạo làm việc tối thiểu mà cũng là việc trước tiên đó cho mình.  Cầu nguyện là giải pháp hữu hiệu nhất: khỏi tất cả nỗi gian truân ...  Đức Chúa Trời có khả năng tìm ra giải pháp: từ cứu chuộc... dịch động từ ‘chuộc lại’ nghĩa là hoàn toàn trả món nợ của đương sự, giải phóng đương sự, chấm dứt mọi mối đe doạ.

30. LỜI CẦU CỨU CỦA MỘT LƯƠNG TÂM TRONG SẠCH (Thi 26:1-12)

Một lương tâm trong sạch là cơ sở cho lời cầu cứu với Đức Chúa Trời, không phải nhờ có việc lành mà Đức Chúa Trời ban phước, nhưng nhờ vào sự hài lòng đầy ân sủng của Đức Chúa Trời khi Ngài thấy chúng ta sống trong sạch.  Đối diện với người phạm tội (9), là những người quyết tâm hại mạng sống của ông (người đổ huyết), bày mưu tính kế và hành động một cách vô lương tâm (10), Đa-vít xét thấy mình vô tội đối với những lời tố cáo của họ mà cũng vô can đối với những nguyên nhân gây ra chuyện mà họ tố cáo.  Những chi tiết của bảng tự kiểm trong thi thiên phản ánh về những điều họ tố cáo ông: nếp sống của ông (đi theo, 3b), bạn bè (4: ngồi chung) và tín ngưỡng của ông trong thực tế (6-8).  Nhưng ông xét thấy lương tâm mình trong sạch đối với bản thân (3), đối với xã hội (4-5), và đối với phần thuộc linh (6-8).  Thi thiên mở đầu và chấm dứt với lời xác định là tác giả không có điểm nào đáng trách (1,11-12) và tác giả mời Đức Chúa Trời xem xét (2) rồi hành động (9,10), tác giả tập trung xưng nhận mình vô tội, trong nếp sống đối với nhân dân ông không có làm điều gì sai quấy (4,5), và trong nếp sống đối với Đức Chúa Trời ông đáp ứng đầy đủ yêu cầu (6-8).  Đa-vít có thể chân thành xưng nhận về một số tình huống như vậy thì chúng ta cũng nên thường xuyên phấn đấu để có thể xưng nhận như thế.  1  Tôi đã bước đi trong sự thanh liêm - một mức độ toàn hảo đụng đến mọi bình diện của cuộc đời và là đặc điểm của toàn bộ cuộc đời.  Thi thiên kết thúc với một lời xưng nhận không khác chi mấy (11) ngoại trừ trong ngôn ngữ Hi Bá Lai động từ được dùng trong thì khác, có lẽ động từ trong câu 1 diễn tả ý hồi tưởng lại chuyện đã qua còn động từ trong câu 11 diễn tả ý hướng về tương lai (‘Tôi sẽ đứng trên đường bằng phẳng’ (11)).  Một đặc điểm của lương tâm trong sạch là có khát vọng đối với tương lai.  2 Dò xét ... thử ... rèn luyện.  Nếu cần phân biệt cách thoả đáng, thì thứ nhất là thử nghiệm xem có trong sạch hay không (rà xét), thứ hai là thử nghiệm bằng và trong những hoàn cảnh của đời sống và thứ ba là thử nghiệm để loại bỏ những điều không trong sạch (luyện lọc).  6  Rửa.  Rửa tay trước công chúng là một cử chỉ tuyên bố mình vô tội vô can (Phu 21:6).  Trong sự vô tội, ở đây không gợi ý chỉ về môi trường, hoàn cảnh mà là tinh thần, đương sự thực hiện cử chỉ đó trong tinh thần ra sao.  Bàn thờ.  Các thầy tế lễ tắm rửa sạch sẽ trước khi vào đền tạm (Xu 30:17-21).  Đa-vít chấp nhận cho mình mức yêu cầu đối với các thầy tế lễ.  11  Bước đi (c.1).  Chuộc (Thi 25:22).  Thương xót, Đức Chúa Trời ban cho ân huệ một cách vô điều kiện, đầy ưu ái dù ông không xứng đáng gì cả.  12  Chân tôi đứng.  Có thể cụm từ này là một lời xác định đầy tin tưởng về sự an toàn trong tương lai (‘Chắc chắn chân tôi sẽ đứng vững’) sau khi sự khủng hoảng hiện tại qua đi, hoặc cũng có thể là một lời cam kết sẽ sống ‘ngay thẳng’, một lời tuyên bố trong tinh thần của cụm từ ‘Tại đây tôi đứng’ của nhà cải chánh Martin Luther.  Hội chúng đông đảo, có lẽ gợi ý về một từ không được dùng ở chỗ nào khác, hướng về một ngày khi mà hội chúng tụ họp lại để thờ phượng, và tại đó, đương sự làm chứng lại tình trạng thuộc linh của riêng mình (1c,d) để ngợi khen Đức Chúa Trời. 

31. YẾU TỐ CĂN BẢN: ĐỨC TIN HÀNH ĐỘNG BỞI LỜI CẦU NGUYỆN (Thi 27:1-14)

Kẻ ác, kẻ thù, cừu địch (2), ngày tai hoạ (5), kẻ thù nghịch (6), kẻ thù nghịch (11),  kẻ dấy nghịch (12), cùng với ước muốn trọn đời được ở trong nhà Đức Giê-hô-va (4  Thi 26:8), gợi ý là thi thiên này cũng bộc lộ những tình huống cấp bách như thi thiên trước.  Giọng điệu tin cậy toát ra từ toàn bộ thi thiên có thể phát xuất từ việc tác giả tự rà xét sau khi vụ việc xảy ra như thi thiên đã phản ánh, nhưng đây là niềm tin cậy nơi Đức Chúa Trời chớ không phải nơi sự công nghĩa của bản thân.

A1 (c.1-3) Xác quyết lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời.

B1 (c.4-6) Lời cầu xin thứ nhất về sự an toàn trong Đức Chúa Trời.

B2 (c.7-12) Lời cầu xin thứ hai về sự an toàn trong Đức Chúa Trời.

A2 (c.13-14) Lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời được khích lệ.

(Thi 27:1-3)  Xác quyết niềm tin nơi Đức Chúa Trời  1  Ánh sáng, dùng cách ví von, trái ngược với sự ‘tối tăm’ đang bao phủ sự khủng hoảng (Es 50:11  Gi 8:12).  Cứu rỗi, được cứu trong cơn khủng hoảng và ra khỏi cơn khủng hoảng.  Đồn luỹ ... , nơi mạng sống của tôi được bảo toàn.  2  Đa-vít đối diện với hạng người có xu hướng làm ác, tàn bạo (ăn nuốt, như thú dữ ăn mồi) và thù nghịch đối với ông.  Trong tình cảnh này ông nhận thấy đức tin (1) và sự cầu nguyện 4-5,7-9) là cách đối phó thoả đáng.  Họ đều vấp ngã, nhấn mạnh, ‘Chính họ (chớ không phải tôi!) sẽ vấp ngã’.  3  Nới rộng phạm vi đức tin - an toàn.  Lòng tôi sẽ chẳng sơ, ‘Tôi tiếp tục tin cậy / tin tưởng’.  Dù kẻ thù có trở nên đông đảo cỡ một đạo quân, và thái độ thù địch biến thành một cuộc chiến công khác thì đức tin vẫn là cách đối phó thoả đáng.

(Thi 27:4-6)  Tìm kiếm Đức Chúa Trời cớ chính mình Ngài  Không phải đức tin đã bảo vệ tác giả, nhưng chính Đức Chúa Trời là Đấng đương sự đặt niềm tin cậy đã bảo vệ tác giả.  Lời cầu nguyện (xin) và mục tiêu của Đa-vít (tìm kiếm) là được ở nơi Đức Chúa Trời ở (ở trong nhà Đức Giê-hô-va) và ngắm xem Ngài (nhìn xem).  Tìm kiếm điều này (4), ý của từ này đang trong vòng tranh cãi nghĩa thoả đáng nhất có lẽ là ‘mỗi buổi sáng’, thường xuyên đến trước mặt Ngài, dâng cho Ngài thời gian đầu tiên của mỗi ngày.  Nhà của Ngài là đền tạm (5, ‘trại’, tham khảo ISa 1:7-9, bên lề NIV), nơi Đức Chúa Trời ngự giữa vòng dân sự của Ngài (Xu 29:42-45).  Tưởng chừng mỏng manh, nhưng đền tạm là hòn đá ... cao, một nơi trú an toàn ngoài tầm quấy phá của mọi người, và là sự chiến thắng của tác giả (đầu tôi sẽ ... ngước cao).

(Thi 27:7-12)  Tìm kiếm Đức Chúa Trời cớ phước lành  Lời cầu nguyện xin được ở với Đức Chúa Trời (4) giờ đây triển khai thành lời cầu xin những phước lành mà chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể ban cho.  Lời cầu nguyện này đặt cơ sở trên một lời mời của Đức Chúa Trời.  (8) (xem lề NIV nghĩa đen ‘Lòng ta phán với ngươi, ‘Hãy tìm kiếm mặt ta’, Lạy Chúa, con tìm kiếm mặt Ngài đây’), tức là Đa-vít mở đầu bằng cách nhắc Đức Chúa Trời về lời Ngài đã từng kêu gọi nhân dân hãy tìm kiếm Ngài.  Lòng tôi, chớ không phải miệng tôi mà thôi, vì Đa-vít rất trân trọng lời kêu gọi của Đức Chúa Trời.  Sự cầu nguyện mở đầu bằng cách lập lại sự hoà thuận với Đức Chúa Trời: tìm kiếm ân huệ của Ngài (9, mặt Ngài) và được Ngài chấp thuận (chớ xô đuổi).  Sự cầu nguyện tìm cách biết, để rồi làm theo, ý muốn của Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh hiện tại (11, Chỉ dạy ... con đường ... kẻ thù nghịch) trước khi xin được bảo vệ an toàn trong hoàn cảnh đó (12, Cong 4:29).  Sự cầu nguyện thấm nhuần sự tin tưởng: Đấng tiếp trợ, Đấng cứu rỗi (9).  Dù cha mẹ bỏ tôi đi.  Cho dù loại tình cảm khắng khít nhất của con người có đến lúc cạn, tình yêu thương của Đức Chúa Trời vẫn tồn tại.

(Thi 27:13-14).  Sự tin tưởng nơi Đức Chúa Trời được khích lệ  Tôi vẫn tin chắc (nghĩa đen) là một lời tán thán, ‘Trừ phi tôi đã tin tưởng!’, nghĩa là thử nghĩ xem chuyện có thể ra sao nếu không có đức tin!  14  Niềm tin chắc của cá nhân là cơ sở để củng cố đức tin nơi những người khác.

32. CẦU XIN SỰ XÉT XỬ CÔNG BẰNG (Thi 28:1-9)

Những mối liên hệ giữa Thi Thiên này với Thi 26:112 và 27:1-14 gợi ý là Đa-vít vẫn còn trong tình trạng hiểm nghèo, mạng sống bị đe doạ, (c.3-5  26:9,10  27:2,12.  Trong cả ba thi thiên nhà của Đức Chúa Trời chiếm vị trí quan trọng: 26:6-8, là tụ điểm của tín ngưỡng của Đa-vít và 27:4,5 là tụ điểm của mối thông công giữa ông với Đức Chúa Trời, 28:2, là nguồn trợ giúp.  Mỗi thi thiên đều chấm dứt (26:12  27:14  28:9) với phần nhắc đến hoặc quan tâm đến, thành phần đông đảo của dân sự của Đức Chúa Trời.  Đối với Đa-vít, thời gian gặp hoạn nạn là thời gian tập trung chú ý vào Đức Chúa Trời và quan tâm đến nhân dân.  Nhưng riêng 28:1-19 có phần mô tả về tình cảnh của Đa-vít:  nếu Đức Chúa Trời không hành động (1) thì nỗi khốn khó của ông sẽ chấm dứt trong cái chết, và nếu ông chết trong hoàn cảnh hiện tại thì ông ta sẽ liệt ông đồng hạng với kẻ ác (3).  Ông không sợ chết nhưng ‘sợ chết trong sự sỉ nhục mà ông không đáng phải chịu’ (Kidner).

Cụm từ tiếng khẩn cầu của tôi (2,6) nối phần mở đầu và phần kết lại với nhau.  Trong câu 1, 2 tiếp theo lời cầu xin Chúa lắng nghe (1) là lời khẩn thiết kêu nài (2) trong câu 6-9, nhờ được nhậm nên sự khẩn thiết kêu nài phát sinh lời ca ngợi (6,7) và dẫn đến lời cầu nguyện cho dân sự của Đức Chúa Trời (8,9).  Với những câu thơ nằm trong thân bài, Đa-vít cầu xin Đức Chúa Trời đừng để ông rơi vào cùng một số phận với kẻ dữ (3), ông cầu mong họ phải nhận chịu những sự hình phạt xứng đáng (4), ông xác định rằng những sự hình phạt đó bộc lộ sự báo trả công bằng của Đức Chúa Trời (5).  Huyệt, chết vì cớ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (30:4  88:4), trong lúc Đức Chúa Trời giấu mặt của Ngài đi (143:7) (Es 14:15,19  Exe 32:18,23).  Ở  đây, cũng cùng ý đó xem câu 3.  2  Nơi chí thánh, ‘đền’, thông thường từ này được dùng để chỉ nơi chí thánh trong đền thờ xây trong thời Sa-lô-môn (IVua 6:16).  Đa-vít cầu cứu đến tận sự hiện diện của Đức Chúa Trời, theo như quyền hạn và năng lực của sự cầu nguyện cho phép.  3-5  Đa-vít tránh không làm bạn với kẻ dữ (Thi 26:4) và tìm cách thoát khỏi nanh vuốt của họ (27:12), nay ông mong mỏi được phân biệt khỏi sự nhục nhã mà họ phải gánh chịu.  Đức Chúa Trời báo trả cách công bằng nên lương tâm trong sạch của một con người cỡ Đa-vít (26:1-12) đương nhiên ông tự hoà đồng với sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và một cách vô tội vạ ông cầu mong rằng sự công bình được tự do thể hiện.  Nếu chúng ta cảm thấy bất bình đối với lời cầu nguyện mạnh bạo này thì chẳng phải tâm tánh của chúng ta đã đạt mức tao nhã, tinh tế, nhưng lương tâm của chúng ta chưa trưởng thành đúng mức.  Cầu xin cho kẻ ác bị sụp đổ là chính đáng chẳng thua gì cầu xin phước lành cho hội thánh (9) muốn cầu nguyện như vậy mà không phạm tội thì phải đạt mức thánh khiết cao hơn.

33. ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA SỰ VINH QUANG THÁNH (Thi 29:1-11)

Hữu hiệu nhất là để những lời thơ sôi động dũng mãnh cuồn cuộn lướt quanh bao phủ chúng ta cho đến nỗi sự vinh quang uy nghi của Đức Chúa Trời xâm chiếm tâm linh của chúng ta đến nỗi chúng ta cũng lớn tiếng hô vang: Vinh hiển thay (9).  Nhưng, cũng tương tự như những bài thơ đúng nghĩa trong các thể loại khác, muốn đạt được tác động dự trù trong chúng ta, bài thơ phải đến với chúng ta trong một hình thức có trật tự dễ hiểu.

A1 (c.1-2) Đức Chúa Trời ở thiên đàng.

B (c.3-9) Sự kỳ diệu của Đức Chúa Trời trong bão tố.

b1(c.3-4) Bão tố trên đại dương.

b2 (c.5-7) Bão tố ở phương bắc.

b3 (c.8-9b) Bão tố ở phương nam.

b4 (c.9c) Tiếng hô lớn: Vinh hiển thay!

A2 (c.10-11) Đức Chúa Trời trên địa cầu.

(Thi 29:1-2)  Đức Chúa Trời thiên đàngđối tượng của sự thờ phượng thiên đàng  Ngay cả những nhân vật cao trọng và đầy quyền lực đến nỗi được gọi là (nghĩa đen) ‘các con trai của Đức Chúa Trời’ (Giop 38:7) hoặc ‘các con trai của quyền lực tối thượng’ cũng phải công nhận sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, vì cớ tất cả những điều mà Ngài đã khải thị về chính mình Ngài (danh Ngài) và cũng phải (cúi xuống) thờ lạy Ngài trước sự vinh hiển của Ngài.  Như vậy họ lần lượt công nhận địa vị của Ngài là Đức Chúa Trời, bản thể đã được khải thị của Ngài và bản tánh thánh khiết của Ngài.

(Thi 29:3-9)  Sự kỳ diệu của Đức Chúa Trời biểu thị trong bão tố  Bão tố ở đại dương, đầy sức mạnh và uy lực (3,4) bão tố tiến vào bờ về phương bắc (Li-ban) (5-7) bão tố quét xuống phương nam (Ca-đe) (8, 9ab) những ai nhận biết Đức Chúa Trời ca ngợi:  Vinh hiển thay! (9c).  6  Si-ri-ôn, núi Hẹt-môn, trong rặng núi đâu lưng Li-ban, cao 2.774m (9.000 bộ Anh), là đỉnh cao nhất tại xứ Pa-lét-tin.  Ngay cả cấu trúc chắc chắn nhất trên thế giới cũng phải rung rinh chao đảo trước sự uy hiếp của bão tố.  8  Ca-đe, mũi cực nam của Giu-đa (Phu 1:19,46).  Như vậy, toàn xứ, từ bắc (5) chí nam (8) đều bị bão tố chế ngự không phải bão tố theo nghĩa đen mà thôi mà còn là tiếng của Đức Giê-hô-va, là điều mà bão tố biểu tượng9c  Đối với nhiều người bão tố là bão tố thôi, nhưng đối với những người mà Đức Chúa Trời đã tự khải thị thì bão tố biểu thị một phương diện của sự vinh quang của Đức Chúa Trời hơn.  Người tình cảm uỷ mị nói rằng  ‘Ở trong một khu vườn thì thấy gần trái tim Đức Chúa Trời hơn’ còn thực tế hơn thì Kinh Thánh xác định rằng chúng ta cũng gần trái tim của Chúa giữa trận gió lốc.

(Thi 29:10,11) Đức Chúa Trời trên địa cầuvua đời đời xét xử cách thánh khiết.  Nước lụt là ‘trận đại hồng thuỷ’ vì từ này chỉ được dùng trong Sa 6:1-9:29.  Một khi Đức Chúa Trời là tối cao trên thiên đàng về sự thánh khiết (1,2), cũng vậy, trên địa cầu Ngài là vị vua tối cao (10) xét đoán tội lỗi cách thánh khiết.  Nhưng chưa hết chuyện (y như trong trường hợp bão tố vậy khu vườn cũng có chuyện biểu tượng riêng của mình!).  Ngài cho dân sự của Ngài (11), đang ở trong một thế giới đáng bị hình phạt, sống bởi năng lực của Ngài và trong phúc lành hoà bình của Ngài tức là hoà thuận với Đức Chúa Trời, sống trong sự tương giao an lành, còn cá nhân được bình an hoặc hạnh phúc.

34. ÂN SỦNG TỪ ĐẦU ĐẾN CUỐI (Thi 30:1-12)

Từ đền thờ trong tựa đề đáng lẽ là ‘nhà’.  Đây có thể là nhà (cung điện) của Đa-vít (IISa 5:11), hoặc nhà của Đức Chúa Trời (7:5  IVua 6:1) hoặc nói về sự sử dụng thi thiên này tại đền thờ trong dịp tái cung hiến sau khi Antiochus Epiphanes làm ô uế đền thờ năm 165 T.C..  Nếu từ này chỉ về chính nhà của Đa-vít thì cảm giác an toàn (6) ở trong ông gia tăng nhiều lắm:  ông chiếm cứ được Si-ôn và củng cố thành luỹ này (IISa 5:6-7), quyền lực của ông đang bành trướng (5:10), quân đội hùng hậu, gia đình đông thêm (5:13 tiếp theo), cũng có lẽ ông chiến thắng người Phi-li-tin (5:17-25) trong thời gian đang tiến hành xây dựng nhà.  Nếu trong thời gian dễ nảy sinh kiêu ngạo này, bởi lòng thương xót của mình Đức Chúa Trời dùng bệnh tật để hạ Đa-vít xuống, như thể hất tách nước trong tay Đa-vít khi ông chưa kịp uống, thì lời lẽ trong thi thiên này khớp hoàn toàn với hoàn cảnh đó và Đa-vít học biết rằng, cho đến giờ này ông được an toàn là nhờ ân sủng, thì cũng nhờ ân sủng mà ông được dẫn dắt an toàn đến cuối cùng.  Khi ông cảm thấy an toàn (6) thì đó là lúc ông cần cầu xin sự thương xót (8).

(Thi 30:1-5)  Mạng sống lâm nguylời ca ngợi đáp lại sự nhậm lời cầu nguyện  Hẳn là có nhiều người trung thành với Sau-lơ phẫn uất đối với sự việc mà họ cho là Đa-vít đã cướp ngôi vua.  Khi họ thấy Đa-vít thất bại hẳn là họ hả hê biết bao!  Nhưng ông cầu xin và đã được chữa lành và được toàn mạng.  4,5  Đa-vít kêu gọi các thánh (những người quí mến của Đức Chúa Trời có lòng yêu thương đáp trả lại cho ông) hãy ca ngợi Đức Chúa Trời, không phải về những việc ông đã từng trải, mà ca ngợi Ngài về những điều Ngài đã tự khải thị: trong phạm vi bản thể của Đức Chúa Trời (thánh khiết ... thạnh nộ) có một điều nhanh chóng chuyển biến thành ơn huệ dài lâu.

(Thi 30:6-7)  Sự ngạo mạn thoả mãn đầy tính cách hiểm nghèo  Cảm thấy được an toàn (6) (đường bằng phẳng) cũng đem lại những mối nguy đặc thù, biến sự tin tưởng thành tự tin tự mãn, biến sự tin chắc thành tự cao tự đại (7).  Ơn huệ của Đức Chúa Trời khiến cho Đa-vít thịnh vượng, nhưng chỉ cần bóng của một đám mây che mặt Đức Chúa Trời là Đa-vít bối rối, ‘hoảng sợ’.

(Thi 30:8-12) Nguy hiểm đến tính mạnglời cầu nguyện được nhậm sự ca tụng tạ ơn  Kêu cầu ... nài xin là những động từ ở thể diễn biến, ‘tiếp tục, liên tục kêu cầu ... nài xin’ thương xót - ‘ân sủng’ (c.10).  Vì Đa-vít nghĩ rằng mình đang chết dần ở ngoài phạm vi ưu ái của Đức Chúa Trời (9 so sánh 5,7) nên ông không còn hi vọng gì cho cõi đời đời (Thi 73:24).  Nhưng phương cách duy nhất để tránh khỏi Đức Chúa Trời là chạy đến với Ngài, rồi lời cầu xin ơn thương xót sẽ phát sinh ra sự ca tụng và biến đổi (11), niềm vui nội tâm và ý thức đúng đắn về vị trí lâu dài của mình đối với Đức Chúa Trời (Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ... đời đời) (12).

35. NGÀY KHỦNG HOẢNG, NƠI CẦU NGUYỆN (Thi 31:1-24)

Đa-vít nhớ lại hai lần (1-8,9-17b) trong cảnh hoạn nạn nặng nề ông vận dụng phương sách cầu nguyện và phó thác mình cho Đức Chúa Trời, rồi Ngài đã nghe lời cầu nguyện của ông, Ngài đã vì ông mà hành động (21,22), khiến cho ông có cớ kêu gọi những người khác hãy trông cậy như vậy (23,24).  Vì vậy, chẳng những thi thiên này dạy chúng ta đối phó với những cơn khủng hoảng bằng lời cầu nguyện (1-18) mà còn bảo đảm về tính cách hữu hiệu của sự cầu nguyện (19-24).

(Thi 31:1-8) Đồn luỹ chống lại lưới bẫy  Kẻ thù đã giăng lưới bẫy (4) nhưng Đức Chúa Trời là một đồn luỹ Đa-vít đã đi vào đó với lòng tin cậy, sự cầu nguyện và quyết tâm trung tín với Đức Chúa Trời.  Trên nguyên tắc đây là phương sách để đối phó một cuộc khủng hoảng tinh thần cầu nguyện, tin cậy, tận tâm tận lực tìm kiếm Đức Chúa Trời.  2,3  Vầng đá ... vững chắc ... vầng đá, ‘vầng đá ... đồn luỹ ... vách đá thẳng đứng’, một nơi đứng chắc chắn, một nơi trốn an toàn và là một nơi chiếm cứ bất khả xâm phạm.  Danh.  Sự cầu nguyện đặt cơ sở trên tất cả những điều mà Đức Chúa Trời đã khải thị về chính mình Ngài, là những điều Ngài không bao giờ có thể chối bỏ vì Ngài là Đức Chúa Trời của lẽ thật (5).  5  Chuộc, cung ứng tất cả mọi điều cần thiết để giải thoát tôi (Thi 25:22  26:11).  6  Lòng tin cậy thật sự và triệt để trung thành với Đức Chúa Trời là những điều bất khả phân ly.  7  Từ niềm tin cậy và sự cầu nguyện phát sinh lòng tin chắc: mọi sự sẽ tốt đẹp vì ngay từ ban đầu Đức Chúa Trời đã đoái đến (thấy) và biết nỗi sầu khổ (Xu 2:25  3:7). 

(Thi 31:9-18)  ‘Tay Chúachống lạitay của họ  Giờ Đa-vít mô tả cách chi tiết cảnh ngộ khốn đốn của ông:  cuộc khủng hoảng làm cơ thể của ông hao mòn (9,10), bị đối phương khinh dể và bị bạn bè bỏ rơi (11) ông trở nên con người của quá khứ (12) bị những cuộc âm mưu đáng sợ bao vây (13).  Nhưng một lần nữa ông trả lời bằng sự tin cậy (14,15) và cầu nguyện (16,17).  Nhờ tin tưởng rằng kỳ mạng tôi ở trong tay Chúa mà ông có thể cầu nguyện (15, nghĩa đen) ‘giải thoát tôi khỏi tay kẻ thù nghịch của tôi’.  Tay của Đức Chúa Trời không phải là nơi miễn trừ chúng ta khỏi những khó khăn trong cuộc đời nhưng đó là nơi những sự khó khăn xảy ra cho chúng ta (Gi 10:28-29) không phải chúng ta được an toàn khỏi sự khó khăn mà được an toàn giữa khó khăn.  10  Vì cớ tội ác tôi.  Trong trường hợp này Đa-vít không thể tự nhận là vô tội được.  Theo một phương thức không xác định, tội lỗi là một yếu tố dẫn đến hoàn cảnh đó, nhưng ông vẫn có thể quay qua tìm kiếm Đức Chúa Trời với lòng tin cậy, lời cầu nguyện và hết lòng phó thác mình cho Đức Chúa Trời.  Chúng ta có thể cầu cứu Đức Chúa Trời không những chỉ vì bản thể của Ngài (3) và không những vì Ngài biết (7), nhưng cũng vì cớ hiện trạng của chúng ta (10-13) chúng ta có thể trông mong sự trả lời của Đức Chúa Trời đơn giản chỉ vì chúng ta đã cầu xin (17).  Hơn nữa, khi người công nghĩa, là người đã ‘hoà thuận lại’ với Đức Chúa Trời, là dân của Đức Chúa Trời, bị đe doạ, thì họ có quyền cầu xin cho kẻ thù bị sụp đổ (17-18).  Thi thiên gạt bỏ không chấp nhận những hành động trả thù nhưng xác tín về sự cầu xin báo trả, cầu xin cho những kẻ vô tín đang bắt bớ mình bị lật đổ bởi những biệc pháp công bằng của Đức Chúa Trời.  Trong những trường hợp này, chúng ta chịu sự quản lý của Le 19:18  ISa 26:10-11  Ch 20:22  25:21-22  Ro 12:18-21.

(Thi 31:19-24)  Sự kinh hoảng trái ngược với niềm hi vọng  Giờ đây Đa-vít nhìn lại cuộc khủng hoảng và kết luận.  Đức Chúa Trời che chở những người tin cậy (19,20), đáp lời người cầu xin (21,22) và luôn luôn sẵn sàng đối với tất cả các người thánh của Ngài (những người được Ngài yêu mến và cũng yêu mến Ngài), bảo toàn họ và ban cho niềm hi vọng chắc chắn (23,24).

Chú giải.  24.  Niềm hi vọng trong Kinh Thánh là một sự vững tâm tin tưởng về điều sẽ xảy ra nhưng không biết rõ sẽ xảy ra vào lúc nào.

36. RÊN SIẾC HOẶC CẦU NGUYỆN? (Thi 32:1-11)

Nếu lời cầu nguyện đủ khả năng giải quyết những nan đề nghiêm trọng nhất - tức là tội lỗi có thể tố cáo và lên án chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời (1-5) - thì há lời cầu nguyện chẳng có thể giải quyết tất cả mọi nan đề trong cuộc sống sao (6)?  Đó là chủ đề của thi thiên này, được triển khai qua một loạt những lời xác định (1-2,6,10) xen lẫn với những lời làm chứng (3-5,7-9) hoặc kêu gọi (11).  Có thể thi thiên này thuộc về thời Đa-vít phạm tội tà dâm với Bát-sê-ba.  Nếu đúng vậy thì câu 3, 4 cho thấy lương tâm của Đa-vít trĩu nặng vì mặc cảm tội lỗi và câu 5 khớp với câu xưng nhận thẳng thắn rõ ràng trong IISa 12:13, ‘Đa-vít nói với Giô-na-than, ‘Ta đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va.’  Na-than trả lời,’Đức Chúa Trời đã xoá tội vua.’  Ít nhất vụ việc này minh hoạ cho điều thi thiên xác định: lời cầu nguyện xưng tội lập tức dẫn đến sự tha tội.’

(Thi 32:1-2)  Phước hạnh khi được tha tội  Sự vi phạm ... tội lỗi ... gian ác, theo trật tự trên thì có nghĩa là ‘chống nghịch’ (cố tình coi thường ý muốn của Đức Chúa Trời mà mình đã tường tận), ‘tội lỗi’ (sự sai trật cụ thể trong ý tưởng, lời nói hoặc hành vi), ‘gian ác’ (sự méo mó trong phần đạo đức nội tâm của bản chất sa đoạ).  Đức Giê-hô-va không kể gian ác cho, Đức Chúa Trời không lưu giữ, không chừa lại một lời buộc tội nào còn người có tội cũng đã xưng nhận không giấu diếm gì cả.

(Thi 32:3-5)  Sự xưng tội sự tha tội cho sự rên siếc  Chú ý là cùng ba từ trong câu 1,2: công nhận tội lỗi, điều sai lầm tôi đã làm công nhận sự cố tình chống nghịch ở trong tôi - còn Đức Chúa Trời đụng đến tận gốc rễ của sự sa đoạ và tha thứ ‘tính chất gian ác’ trong tội lỗi của tôi.

(Thi 32:6-9)  Cầu nguyện giải pháp dành cho mọi người  Câu trả lời sẵn sàng của Đức Chúa Trời bao trùm một phạm vi rộng lớn hơn chớ không phải chỉ liên hệ đến một cá nhân hoặc đơn độc vấn đề tội lỗi: mọi người đều có thể cầu nguyện trong mọi tình thế bức thiết.  6  Bởi cớ ấy, tức là ngay cả tội lỗi cũng có thể được xử lý bằng lời cầu nguyện.  Người nhơn đức (người thánh, Thi 31:23), ‘là những người được Đức Chúa Trời yêu mến và chính họ cũng yêu mến Ngài.’  8,9  Nội dung câu 7 trở thành sự thật theo phương thức này: khi lời của Đức Chúa Trời được ban ra, chúng ta phải có chủ ý vâng theo.  Mắt ta sẽ chăm chú ... , không phải là lời đe doạ mà là một lời hứa sẽ dõi theo để chăm nom săn sóc.  Lời dạy dỗ của Đức Chúa Trời không phải là những lệnh truyền bâng quơ không nhắm riêng vào một người nào mà là những lời nói ân cầm của một Đức Chúa Trời đầy lòng quan tâm săn sóc.  Vì vậy, khi đáp ứng chúng ta không nên có thái độ thiếu hiểu biết của muông thú bị ép buộc vào khuôn khổ, nhưng cầm bộc lộ một sự vâng lời chan hoà yêu thương tương ứng với lòng yêu thương của Ngài.

(Thi 32:10-11)  Tình yêu thương bền vững bao bọc người tin cậy  Phước hạnh của người có địa vị được bao bọc có ba mặt: sinh hoạt đầy lòng tin cậy, có quan hệ căn bản là ‘hoà thuận với Đức Chúa Trời’ (công bình, 11), và thực tế đạo đức của một tâm tánh ngay thẳng.  Dầu vậy họ không được miễn trừ khỏi tai ương phiền muộn (so sánh nước lụt lan ra câu 6), nhưng khi những tai ương đó xảy ra, họ được bảo bọc trong tình yêu thương bền vững không bao giờ thất tín.

37. TÌNH YÊU THƯƠNG BỀN VỮNG TRONG SỰ SÁNG TẠO VÀ SỰ TUYỂN CHỌN (Thi 33:1-22)

Bài thơ với hình thức cầu kỳ này mở đầu và kết với hai khổ thơ mỗi khổ có sáu giòng (1-3,20-22) đóng khung bốn khổ thơ mỗi khổ có tám giòng (4-7,8-11,12-15,16-19).  Phần mở đầu kêu gọi hãy vui mừng trong Đức Chúa Trời, phần kết xác quyết về niềm vui mừng trong Đức Chúa Trời.  Các khổ thơ có tám giòng đi với nhau từng đôi một: hai khổ thơ thứ nhất tập trung vào công bình của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo, với tình thương bền vững chung thuỷ (5) là yếu tố thâm nhập khắp nơi, và quyền cai trị tối cao của Ngài trên mọi dân tộc (10) là kết quả tất yếu hai khổ thơ thứ hai tập trung vào sự tuyển chọn (12) và địa vị trong ơn thần hựu của những người đặt niềm hi vọng nơi tình yêu thương bền vững của Ngài (18).  Thi thiên chấm dứt rất chí lý với lời cầu nguyện xin tình yêu thương bền vững giáng trên chúng ta (22) vì đã là dân của Đức Chúa Trời mà lại muốn sống làm trọn theo ý của Ngài trong thế giới này thì chúng ta cần nhất trí với Thánh Linh là Đấng đem lại sinh khí cho chúng ta lẫn thế giới.

(Thi 33:1-3)  Tiếng ca ngợi  Bài hát và lời ca tụng, lời cảm tạ (ca tụng ‘dâng lời cảm tạ’), tiếng nhạc khí, và tiếng tung hô (tiếng reo vì vui mừng, ‘vui mừng la lớn tiếng’) - tất cả góp phần vào sự đáp ứng thoả đáng cho Đức Chúa Trời từ phiá những người hoà thuận với Đức Chúa Trời (công bình) trong nội tâm và sống ngay thẳng trước mặt Ngài trong đời này.  Bài ca mới, không hẳn là phải lạ thường nhưng mới mẻ, phát xuất từ sự nhận biết mới mẻ về Đức Chúa Trời là ai và Ngài là Đấng như thế nào.  Sự ca ngợi thật đòi hỏi sự nhận biết mới mẻ về Đức Chúa Trời, đòi hỏi niềm vui nhiệt thành lẫn biết sử dụng nhạc khí cách thành thạo.

(Thi 33:4-11)  Đức Chúa Trời trong sáng tạo  Vì giải thích lý do của lời kêu gọi ca ngợi ở trên: (i) đặc tính của lời của Đức Chúa Trời, đặc tính của Đức Chúa Trời, và của địa cầu (4-5) (ii) công trình của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo (6,7) (iii) sự tôn kính xứng đáng phải dành cho Đấng Tạo Hoá (8,9) (iv) quyền tối thượng của Đức Chúa Trời, quyền cai trị trên tất cả các dân tộc (10) và quyền định đoạt sắp xếp (11).  Hai khổ thơ trong phần này (4-7,8-11) kết hợp với nhau trong chủ đề Đấng Tạo Hoá cầm quyền cai trị tối cao cách dễ dàng trên thế giới thọ tạo, cả thế giới vật chất lẫn con người Ngài là chủ trên các dòng nước (7) và các dân tộc (10): các dòng nước tuôn theo lệnh của Ngài các dân tộc ở dưới quyền sử dụng bố trí của Ngài.  4,5  Trước khi có thể hiểu thế giới chung quanh chúng ta phải gặp Đấng đã tạo dựng nên thế giới.  Lời phán của Ngài (công cụ trong cuộc sáng tạo (6) là ngay thẳng tức là thẳng thắn trong cách nói và trong chủ ý, có giá trị hoàn toàn về mặt đạo đức, và hoàn hảo về mặt lẽ thật.  Thành tín.  Nhiều sự việc trong thế giới thọ tạo vẫn còn là bí hiểm đối với chúng ta: vì sao lại có động đất? Vì sao thiên nhiên ‘nhuộm trong máu đào từ răng đến móng’?  Trong mọi sự chúng ta được bảo đảm là Đấng sáng tạo trung thực với chính bản tính của Ngài và trung tín với phúc lợi của mọi vật mọi loài do Ngài sáng tạo.  Sự nhân từ biểu thị qua sự trật tự, vẻ đẹp, sự giàu có phong phú, các kho báu, mùa và thì tiết tuần tự diễn ra,...  trên địa cầu.  6  Lời ... miệng.  Bầu trời biểu thị đúng đắn ý tưởng của Ngài (lời) và là sản phẩm trực tiếp (miệng) của ý muốn của Ngài.  Hơi thở, ‘linh’ hoặc ‘Linh’, lời phán của Đức Chúa Trời đầy dẫy năng lực của Ngài để đem lại hiệu quả (9  Thi 104:7,30  Sa 1:3,6).  7  Các dòng nước, là thành phần ngang ngạnh trong thế giới sáng tạo được chọn để minh hoạ về quyền hạn tối thượng của Đấng Tạo Hoá (93:3,4).  8,10,11 Cựu Ước chủ trương Đấng Tạo Hoá không phải chỉ làm một việc là sáng tạo lúc ban đầu trái lại Ngài còn là chủ tối thượng cầm quyền trên các vật thọ tạo của ngài, đáng được mọi loài mọi dân trong thế giới tôn sùng kính trọng, và Ngài trực tiếp can dự vào sự điều hành mọi việc, ngăn trở và chế ngự, chi phối mục đích và bất khả phản kháng.

(Thi 33:12-19) Đức Chúa Trời trong sự tuyển chọn  Giữa vòng mọi vật mọi loài sáng tạo Đức Chúa Trời chọn một dân tộc để làm sản nghiệp của Ngài, ‘sở hữu’ (12), rồi khi Ngài duyệt xét lại tất cả mọi dân sống trên đất (13-15), Ngài nhận thấy những biện pháp của đời này nhằm đem lại sự an toàn đều là vô dụng (16,17): dù (vua) quyền lực (quân đội), lòng dũng cảm (chiến sĩ), năng lực hoặc những thiết bị (ngựa) đều không thể giải cứu.  So với mọi chiêu thức rình rang của quốc gia, quân binh với vũ khí đủ loại, thì biện pháp bảo toàn của Ngài dành cho những kẻ thuộc về Ngài đơn giản quá chừng!  Mắt của Ngài và tình yêu thương của Ngài (18), là đủ sức để đối phó và thắng hơn những nguy cơ đang đe doạ, có tính cách đời đời (sự chết) và tạm thời (nạn đói) (19), đời sống của chúng ta nhận được sự bảo toàn đó nhờ lòng kính sợ đối với Ngài và nhờ chúng ta tin cậy (trông mong tin tưởng một cách chắc chắn) rằng lòng nhơn từ của Ngài sẽ chăm sóc chúng ta (18).

(Thi 33:20-22)  Tấm lòng tin cậy  Dân của Đức Chúa Trời đồng có một lời làm chứng rằng (a) cần bền lòng hi vọng (trông đợi, tin tưởng cách chắc chắn) không phải vào kết quả tận cùng mà thôi - niềm hi vọng về cõi tương lai đời đời - mà cần hi vọng rằng trong mọi cảnh ngộ chắc chắn Ngài là Đấng cứu giúp chúng ta và là tấm khiên che chắn cho chúng ta (20) (b) tin cậy vui mừng.  Vui mừng là sản phẩm của lòng tin cậy đặt cơ sở trên những điều Đức Chúa Trời đã khải thị về chính mình Ngài (danh) và về bản tánh của Ngài (thánh), bởi đó Ngài không bao giờ có thể chối bỏ chính mình Ngài (21) (c) tính cách lệ thuộc của sự cầu nguyện (22).  Trong mọi việc Ngài làm đều dầm thấm tình yêu thương (5) và đặc biệt dành tình thương cho dân tuyển chọn của Ngài (18).  Cầu nguyện xin tình yêu thương này giáng xuống trên chúng ta là một lời cầu xin bao trùm tất cả mọi nhu cầu của chúng ta.

38. CẨM NANG SƠ ĐẲNG KHI KHỦNG HOẢNG (Thi 34:1-22)

Theo tựa đề thì thi thiên này nằm trong ISa 21:10-14.  Trên đường trốn khỏi Sau-lơ, Đa-vít lánh qua xứ Phi-li-tin đến với vua thành Gát, A-kích, là tên riêng của vua, còn tên A-bi-mê-léc trong thi thiên này là tên tức vị của vua (Sa 20:2  21:22  26:8).  Tuy nhiên, chẳng bao lâu, sự an toàn biến Đa-vít thành con tin (ISa 21:13, ‘trong tay họ’) vì người Phi-li-tin nhận ra ông là Đa-vít và nhận biết họ đang có một con tin sáng giá.  Nhờ giả bộ điên, mà Đa-vít được phóng thích, thế là ông thoát nạn.  Như vậy nếu chỉ căn cứ vào chuyện kể trong sách Sa-mu-ên thì chúng ta dám cho rằng ông thoát nhờ tinh khôn, mánh khoé.  Nhưng ngẫm nghĩ lại, Đa-vít nhận thấy là không hẳn như vậy: bí quyết giúp ông thoát nạn là Tôi đã tìm cầu Đức Giê-hô-va (4) ... Kẻ khốn cùng này có kêu cầu (6).  Sự khôn ngoan linh lợi không mở nổi lối thoát, nhưng chính Ngài đã giải cứu (4) ... Ngài giải cứu (6).

Thi thiên này cũng là một bài thơ theo thể các chữ cái đầu của các giòng thơ nằm theo đúng trật tự trong bảng chữ cái (xem Dẫn nhập) nhưng ở đây trật tự này không hoàn hảo lắm: thiếu một chữ cái, còn một chữ cái khác lại được dùng đến hai lần.  Không cách nào thống kê hết những nỗi khốn khó trong cuộc đời theo một trật tự nào cả, chúng ta không thể nhìn thấy toàn bộ hoặc toàn diện mọi chuyện.  Nhưng theo như toàn bộ câu chuyện đã được kể, thì đây là một bản cẩm nang sơ đẳng cho cuộc khủng hoảng.

Thi thiên này chia làm hai phần: câu 1-10, những bài học qua kinh nghiệm, chính yếu là Đa-vít làm chứng về kinh nghiệm riêng của mình và rút ra những kết luận câu 11-22, phần chỉ dạy về lẽ thật, cách đối diện tháo gỡ những cuộc khủng hoảng và xoay xở trong cuộc đời.

(Thi 34:1-2)  Quyết tâm ca ngợi luôn luôn  Luôn luôn - ngay cả khi ở trong nanh vuốt của A-bi-mê-léc - đáp ứng thích đáng là (không phải khôn lanh mà là) chúc tụng Đức Chúa Trời, tức là công nhận những sự vinh quang của Ngài vì cớ Ngài là Đức Chúa Trời khen ngợi, ‘mãi lo ca ngợi Đức Chúa Trời’.  Đây là sứ điệp dành cho người khốn đốn, là người ở dưới đáy của cuộc đời.

(Thi 34:3-6)  Làm chứng chia sẻ qui vinh hiển cho Đức Chúa Trời  Đức Chúa Trời trả lời cho sự cầu xin bằng cách giải cứu trọn vẹn (4) - và không riêng gì đối với Đa-vít, vì những ai tìm cầu Đức Giê-hô-va thì tìm được sự chói sáng nội tâm (5) họ không bao giờ chuốc lấy sự hổ thẹn, tức là không bao giờ trông đợi Đức Chúa Trời mà bị thất vọng.  Cũng chẳng phải Đa-vít có một đặc điểm nào hơn người khiến Đức Chúa Trời đáp lời ông khi ông tìm cầu Ngài, vì chính ông là kẻ khốn cùng, ở dưới đáy vực, nhưng khi ông kêu cầu thì Ngài nhậm lời (6).

(Thi 34:7-10)  Đúc kết bài học  Lời làm chứng của chúng ta chỉ có giá trị đối với người khác khi đặt nền tảng trên lẽ thật không hề thay đổi về Đức Chúa Trời.  Thế thì vì sao Đa-vít được hưởng kinh nghiệm đó?  Vì thiên sứ của Đức Giê-hô-va thường xuyên hiện diện sẵn sàng cứu giúp (7).  Khi thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với A-ga, thiên sứ nói về Đức Chúa Trời (Sa 16:11) ấy thế mà thiên sứ đó là chính Đức Chúa Trời (16:13 so sánh Xu 3:2,4  14:19,24  23:20-21  Cac 6:21,22  13:21,22).  Thiên sứ đặc biệt xuất hiện trong những trường hợp mà Đức Chúa Trời muốn hiện ra với dân tuyển chọn của Đức Chúa Trời và là một dấu chứng trong Cựu Ước về sự kiện ba ngôi trong bản thể đồng nhất của Đức Chúa Trời.  Như vậy bất cứ ai khác cũng có thể làm chứng như Đa-vít vì thiên sứ cắm trại (sống trong ngôi nhà dễ dàng di chuyển để cùng hành trình với dân của Đức Chúa Trời trong cuộc hành hương của họ trên trần gian này) với tất cả những người kính sợ Ngài.  Vì thế, có lời mời gọi mọi người hãy nhìn xem và nếm thử, rồi nương náu nơi Ngài (8), thì sẽ đầy đủ trong mọi mặt (9-10).

(Thi 34:11-14).   quyết sống tốt lành  Ta sẽ dạy tạo bầu không khí cho phần còn lại của thi thiên này.  Đây là những bài học Đa-vít muốn chia sẻ.  Trước tiên, bí quyết bất ngờ về một nếp sống tốt lành là: giữ lưỡi mình (13), và đề ra những mục tiêu tích cực về những việc làm đạo đức và đeo đuổi thực hiện, con cũng nhắm mục tiêu tránh không làm những việc vô đạo đức (14).  Trong triều đình của A-kích, Đa-vít giành được sự tự do bằng cách giả bộ và dối trá, nhưng một cuộc đời kính sợ Đức Chúa Trời tuân thủ lẽ thật của Ngài và tôn trọng các giá trị của Ngài.

(Thi 34:15-18).   quyết đối phó sự khó khăn  Phải đối phó với sự tấn công ào ạt của những nỗi khó khăn bằng hàng loạt những lời cầu nguyện.  Lời cầu nguyện của người công bình khiến cho Đấng giải cứu đến tiếp cứu chúng ta (17).  Vì cớ ở đây người công bình là trái ngược với kẻ làm ác (15,16) nên từ người công bình ở đây mô tả về mối liên hệ hoà thuận với Đức Chúa Trời lẫn sự dấn thân sống một đời sống công nghĩa, vì vậy (a) lời cầu nguyện có hiệu quả trong một đời sống công bình: (15, kêu cầu) đặc biệt là khi ‘cầu xin sự cứu giúp’ kêu la (17), có tính cách hoảng sợ, cấp bách và (b) Đức Chúa Trời tự động đồng hoá chính mình Ngài với những người bị ngập chìm trong nỗi thống khổ của cuộc đời (18).  Gần, có một mối liên hệ bà con gần nhất, không phải chỉ ở gần nhưng còn tích cực xem những tai ương của chúng ta là của Ngài (Le 21:23  Ru 2:20  3:12).

(Thi 34:19-22).   quyết được giải cứu  Có thể xem những câu này là phần bình giải về ‘người bà con gần nhất’.  Thực tế công nhận là người công nghĩa (hoà thuận với Đức Chúa Trời và dấn thân sống một cuộc đời ngay lành, 19) không được miễn trừ khỏi những nỗi khó khăn khốn đốn trong đời (nhiều tai hoạ) - nhưng vì Đức Chúa Trời ở gần chúng ta Ngài giải cứu chúng ta (19), Ngài giữ gìn (20), đứng về phe chúng ta chống lại kẻ thù chúng ta (21) trả hết mọi giá cần thiết để đáp ứng nhu cầu của chúng ta (chuộc, 22a  Thi 31:5), làm nơi trú ẩn an toàn cho chúng ta (22b).

39. PHẢN ỨNG ĐỐI VỚI NHỮNG ĐAU KHỔ KHÔNG ĐÁNG PHẢI CHỊU (Thi 35:1-28)

Lời thơ trong thi thiên này tuôn trào tự do chớ không theo một thể thơ nào hoặc một bố cục nào, cho nên thi thiên thuộc vào thời kỳ mà mọi sự thù nghịch và đau khổ chồng chất tưởng chừng bất tận.  Có lẽ thích hợp nhất là khi mà Sau-lơ căm thù Đa-vít một cách điên cuồng trong một thời gian dài vẻ mặt cau có buồn bực của vua lôi kéo nhiều người chung quanh đồng nhất hoà đồng với vua gia tăng mức khốn đốn của Đa-vít cách vô tội vạ.  Cũng như trong Thi 34:1-22, cầu nguyện là giải pháp cần và đủ duy nhất, nhưng trong cuộc khủng hoảng đó, sự nhậm lời đến ngay sau khi cầu xin: kẻ khốn cùng kêu cầu và Đức Chúa Trời nhậm lời người (34:6).  Còn ở đây, mặc cho đương sự khẩn thiết và bền lòng cầu nguyện, tình trạng thống khổ vẫn kéo dài vì Đức Chúa Trời còn trì hoãn chưa đáp ứng.  Cầu nguyện là trình cho Đức Chúa Trời những nhu cầu của chúng ta và cả thời dụng biểu của chúng ta cho Ngài và phục tòng chờ đợi Ngài hành động. 

Thi thiên này được chia làm ba phần căn cứ vào những lời hứa nguyện sẽ ca ngợi Đức Chúa Trời khi mây mù tan biến (9-10,18,27-28).  Trong mỗi phần ý tưởng lang thang từ chuyện này qua chuyện khác trong cùng một chủ đề: (a) cầu xin Đức Chúa Trời can thiệp (1-3,17,22-24a), (b) cầu xin Đức Chúa Trời báo trả (4-6,8,24b-26), và (c) lý do phải báo trả (7,11-16,19-21) mấu chốt của mỗi phần nằm trong những câu cuối của phần đó: vô cớ làm Đức Chúa Trời đau đớn khốn khổ (7), phản ứng kỳ lạ đối với hành vi tốt của Đa-vít (13,14), và sự tàn nhẫn bạo nghịch của cá nhân họ (19-21).  Như thường lệ trong những thi thiên thuộc loại này, chúng ta ngỡ ngàng trước nội dung chống lại đối phương cách mãnh liệt và giọng cầu nguyện tha thiết của Đa-vít.  Nên nhớ là có cơn giận thánh khiết, do chính Chúa Giê-xu bộc lộ (Mac 3:5), do các thánh trong Kh 6:9-10, và Eph 4:26 có nhắc đến.  Toàn bộ thi thiên này (cũng như tất cả các thi thiên tương tự là một lời cầu nguyện mà không có gợi ý gì hoặc lời nói, hoặc việc làm nào bộc lộ sự hung hăng bạo tàn của Đa-vít đối với những người đã làm khó dễ cho ông một cách cố tình và đáng tội.  Cũng như trong Thi 34:1-22, Đa-vít đối phó với cơn khủng hoảng, dù kéo dài trong thi thiên này, bằng lời cầu nguyện rồi giao phó tất cả cho Đức Chúa Trời.

(Thi 35:1-10)  Lời cầu nguyện trong cơn hiểm nghèo bất xứng  Lời nài xin Đức Chúa Trời can thiệp (1-3) dẫn đến lời cầu xin báo trả (4-6) và lời giải thích rằng kẻ thù đã hành động vô cớ (7).  Câu 8 lặp lại vấn đề xin báo trả, sau đó là lời hứa sẽ vui mừng hớn hở trong Đức Chúa Trời vì cớ Ngài giải cứu cách quyền năng (9,10).  Câu 1, 2 đề cập đến chiến trận và vũ khí nhằm chỉ về năng lực của Đức Chúa Trời, là năng lực mà toàn bộ lực lượng của kẻ thù cũng không kể đối phó cân phân được.  1  Cãi cọ.  Từ này thích hợp với các vụ kiện tụng.  Trước tiên Đa-vít xin Đức Chúa Trời thực hiện việc đáng phải làm vì đúng với lẽ phải.  Không thể xin Đức Chúa Trời làm một việc bất công, trái với lẽ phải.  Chinh chiến.  Dù rơi vào tình trạng nguy hiểm đến tánh mạng, Đa-vít không đề nghị sử dụng vũ khí.  Vì đó là việc của Đức Chúa Trời.  2,3  Khiên nhỏ và lớn, đồng nghĩa với nhau, tức là các vũ khí tự vệ cần thiết.  Giáo.  Đa-vít cầu xin Đức Chúa Trời tấn công lẫn phòng thủ và giải quyết những nhu cầu nội tâm của linh hồn và làm cho ông yên lòng nữa.  4  Hổ thẹn ... sỉ nhục, chuốc lấy sự sỉ nhục, trước mặt công chúng những điều mong đợi không thành nên thất vọng.  5  Trấu, hình ảnh biểu thị sự bất lực trước sự xét xử của Đức Chúa Trời.  Thiên sứ (đúng ra là ‘Vị Thiên sứ’), xem Thi 34:7.  Trong Thi Thiên Thiên sứ của Đức Chúa Trời xuất hiện ở hai chỗ mà thôi, để giải cứu (34:7) và để xua tan (35:5-6).  7,8  Ý muốn của Đức Chúa Trời luôn luôn được khải thị đáp lại những lời cầu nguyện xin báo trả.  Ngài tuyên phán rằng (Phu 19:18-19) chính những kẻ cáo gian sẽ phải lãnh những sự hình phạt mà họ dự định gán cho những người khác.  Trong những trường hợp này chúng ta thẳng thắn cầu xin rằng:  ‘Nguyện ý Chúa được nên’ tác giả thi thiên thực tế hơn, nên ông nói cụ thể nội dung của ý muốn đó!  10  Có ai giống như Ngài chăng?  Tham khảo Xu 15:11  Mi 7:18.

(Thi 35:11-18)  Lời cầu nguyện trong hoàn cảnh hiểm nguy bất xứng  Trong phần mở đầu khá dài (12-16) Đa-vít than thở rằng ứng trả cho những điều lành ông đã làm cho người ta họ trả lại cho ông toàn những điều gian ác.  Kế tiếp ông xin Đức Chúa Trời can thiệp (17) và ông hứa là sẽ ca ngợi Ngài khi được giải cứu (18).  Trọng tâm của thi thiên có giọng điệu buồn phiền: những người tưởng chừng là bạn hữu lại là những người cáo gian, vui mừng đối với sự hoạn nạn của Đa-vít và lòng sôi trào sự ghen ghét.  Trong phần này Đa-vít thưa với Đức Chúa Trời là Đấng Tối Cao (17) và hỏi Ngài thêm rằng Cho đến chừng nào?  Đương nhiên là Ngài mạnh hơn mọi kẻ thù, nhưng người dân thánh của Chúa đã dâng lên lời nài xin cần chuẩn bị tinh thần để phục tùng thời gian biểu của Ngài.  13  Lời cầu nguyện của tôi trở vào ngực tôi, có lẽ tác giả dùng biểu tượng khác lạ để diễn tả sự kiện lời cầu nguyện chưa được trả lời.  Nếu ‘ngực’ dùng để chỉ về ‘tấm lòng’ (Tr 7:9) thì câu này có thể nghĩa là mặc cho những cách đối xử của họ, bất giác ông vẫn nhận thấy mình đang cầu nguyện cho họ (Mat 5:44).  16  Kẻ ác tệ, người có hành vi và tâm hồn báng bổ, vô đạo, bội đạo mà Đức Chúa Trời gớm ghê: ở đây, họ hành động như thể Đức Chúa Trời không có ý kiến gì đối với hành vi của họ.  Hay nhạo báng ... ‘giống như những người vô đạo hay nhạo báng chung quanh, họ nghiến răng ...’  17  Chúa, ‘Đấng Tối Cao’.  18  Đức Chúa Trời hài lòng khi con người biết tạ ơn (Lu 17:15-16).  Lời hứa nguyện ca ngợi và cảm tạ thống nhất thi thiên này (9,28).

(Thi 35:19-18).  Lời cầu nguyện trong cảnh ngộ hiểm nghèo  Kẻ thù nghịch Đa-vít rất mưu mô và nhạo báng (19-21).  Trước những chuyện như vậy, Đức Chúa Trời im lặng sao (22-24)?  Phải chi Đức Chúa Trời nghe tiếng nài xin Ngài can thiệp (24-26) thì sẽ có ngày đám bạn hữu thực sự của Đa-vít sẽ ca ngợi Đức Chúa Trời (27-28).  Phần này điểm nhấn mạnh mới là sự công bình của Đức Chúa Trời (24).  Vì Ngài công bình nên Ngài phải hành động cho người bị thử thách cách ác liệt như thế.  19  Vô cớ (so sánh Gi 15:25).  Nheo con mắt.  Một cử chỉ bóng gió ranh mãnh.  22  Ngài đã thấy.  Chú ý sự liên hệ với câu 21 chúng ta sẽ thấy.  Cho dù họ có tự xưng tự nhận ra sao đi nữa, Đức Chúa Trời biết sự thật và lẽ phải của mọi chuyện.  Chúa, ‘Tối Cao’.  Trong câu 17 danh xưng này chỉ về quyền kiểm soát của Ngài trên thời gian biểu ở đây, chỉ về sự kiện Ngài là chủ tể trên kẻ thù.  27  Đa-vít có nhiều kẻ thù nhưng cũng không quên rằng ông cũng có nhiều bạn hữu - đây là điểm hoá giải tình trạng cô đơn do những lời cáo gian gây ra.  Rồi sẽ có một ngày họ sẽ là những người đầu tiên ca ngợi Đức Chúa Trời là Đấng đã giải cứu Đa-vít.

40. MỘT ĐỨC CHÁU TRỜI, HAI THÁI ĐỘ (Thi 36:1-12)

Cấu trúc của thi thiên này lột tả sứ điệp:

A1 (c.1) Kẻ gian ác: triết lý của họ.

B1 (c.2-4) Đặc điểm của kẻ ác.

C (c.5-8) Đặc điểm của Đức Chúa Trời.

B2 (c.9-11) Những người biết Đức Chúa Trời.

A2 (c.12) Kẻ ác: số phận của họ.

Theo thi thiên này, chúng ta đứng trước một sự lựa chọn.  Sự lựa chọn đó quyết định đời sống hiện nay và số phận tương lai của chúng ta: sự lựa chọn đó là đường hướng phản ứng của chúng ta đối với sự khải thị của Đức Chúa Trời.  Từ khước sự khải thị của Đức Chúa Trời là tự ép buộc mình phải nghe theo ý riêng của mình và buộc phải sống một cuộc đời vô giá trị tiếp nhận sự khải thị của Đức Chúa Trời sẽ vui hưởng cuộc sống, được rạng rỡ, tiếp trợ và che chở.

(Thi 36:1)  Triết của kẻ ác  Nghĩa đen. ‘Lời nói chống nghịch của kẻ ác nói trong lòng tôi’.  Trong lòng tôi, hoặc ‘Tôi biết nhờ trực giác’ hoặc ‘tự thân tôi, tôi biết’.  Nghĩa thứ nhất nhấn mạnh tác giả nhận thức việc đó là chuyện có thật nghĩa thứ hai, lý thú hơn, làm chứng rằng chính tác giả cũng không thoát khỏi tiếng nói nội tâm này.  1b  Vấn đề không phải nằm ở chỗ Đức Chúa Trời có hiện diện hay không, nhưng ở chỗ đương sự có quan tâm công nhận hay không không phải công nhận Ngài hiện hữu, nhưng công nhận Ngài có quyền hành.  Đây là quan điểm của vô số người trong mọi thời đại còn đối với người tin Chúa, đôi lúc họ cũng chủ trương theo kiểu đó - không thành văn, không thành tín điều nhưng trong hành vi.

(Thi 36:2-4)  Đặc điểm của kẻ ác  Trong nội tâm, nghe theo, làm theo ý tưởng của chính mình, về mặt đạo đức tự mãn (2) lộ ra ngoài, lời nói và hành vi (3), chương trình, mục tiêu và giá trị (4) đều là xấu xa gian ác.  3,4  Không kính sợ Đức Chúa Trời thì không có một tiêu chuẩn khách quan nào cho cuộc sống.  Gian ác, một từ bao quát từ những việc làm sai trật đến sự bội đạo.  Khôn ngoan, nếp sống khôn ngoan trong đời dẫn đến thành công thật.  Không gớm ghiếc, ‘không loại trừ, loại bỏ’, trong tâm trí cũng như trong hành vi.

(Thi 36:5-8)  Đặc điểm của Đức Chúa Trời:  5  Sự nhân từ, tình yêu thương bắt nguồn từ sự quyết tâm của ý chí, ‘một tình yêu thương không hề thay đổi’.  Đến tận, ‘là ở tại’, không phải ở đâu xa, nhưng chót vót trên cao, là một điều lớn lao, cao hơn bất cứ một điều gì trên đời này.  Sự thành tín, sự kiên định bền chắc trong bản tánh của Đức Chúa Trời đã được khải thị, tính cách đáng tin cậy khi Ngài hứa.  6  Công nghĩa... công bình, miêu tả sự thánh khiết của Ngài về đạo đức trên nguyên tắc và về những hành vi công bằng trong thực tế.  7-8  Đức Chúa Trời đối xử với toàn thế giới cách rộng lượng trong tình yêu thương (so sánh 5) Ngài bảo vệ (7), ban cho dư dật sung túc, phước lạc (8, như các dòng sông trong vườn Ê-đen, Sa 2:10).

(Thi 36:9-11).  Đặc điểm của những người biết Đức Chúa Trời  Lời mô tả (5-8) trở thành lời làm chứng: đời sống của người biết Đức Chúa Trời là một đời sống thật, có Đức Chúa Trời san sẻ sự sống ánh sáng, tất cả những điều khiến cho đời sống được thoả mãn và an ổn.  Thấy, kinh nghiệm và vui hưởng.  10  Biết, hưởng mối quan hệ thân thiết với.  Làm ơn... công bình, là những thuộc tính của chính Đức Chúa Trời.  Những người biết Ngài cầu xin Ngài san sẻ cho họ chính mình Ngài (IIPhi 1:3,4).  11  Chân ... tay, biểu tượng cho sự chinh phục và quyền lực của cá nhân.  Chúng ta sống trong một thế giới chủ trương chinh phục và thống trị.  Xô đuổi, làm cho trở thành vô gia cư, làm cho cuộc sống bất ổn định.

(Thi 36:12).  Số phận của kẻ gian ác Tại nơi ấy.  Phải chăng thi thiên này nói về một trường hợp sụp đổ cụ thể của kẻ ác?  Hoặc, phải chăng Đa-vít viết về ngày xét xử của Đức Chúa Trời một cách đầy sinh động?  Trường hợp thứ hai này có vẻ xác đáng hơn.

41. CẨM NANG SƠ ĐẲNG KHI PHẦN THUỘC LINH CÁ NHÂN CÓ XUNG ĐỘT (Thi 37:1-40)

Những chữ cái đầu dòng của bài thơ này nằm trong một trật tự hầu như hoàn hảo (xem Dẫn Nhập), có thể xem thi thiên này là một bài bình giải về những câu cuối của Thi 36:1-12 - lời cầu xin Đức Chúa Trời chống lại ‘chân và tay’ thù địch và lời xác định rằng hễ họ tấn công ở đâu là họ gặt thất bại ở đó.  Bài thơ bộc lộ sự căng thẳng thường xảy ra trong những đời sống có đức tin gây ra bởi những số phận trái khoáy của người ‘công bình’ ở trần gian này - người công bình là những người sống cuộc đời có mối liên hệ ‘hoà thuận với Đức Chúa Trời’ - và số phận của kẻ ‘gian ác’, đối với người vô thần thực tiễn thỉ Đức Chúa Trời có thể hiện hữu nhưng không thích hợp với thực tế.  Thi thiên này chia làm bốn phần dài tương đối như nhau, phần thứ hai, ba, bốn có mở đầu đồng dạng:  Kẻ ác lập mưu (12), Kẻ ác mượn (21), Kẻ ác rình rập (32).

(Thi 37:1-11)  Khi gian thịnh vượng: cách giải quyết  Tác giả định hình khung cảnh bằng cách nêu lên các hướng cuộc đời (c.1 trái ngược câu 3), và sự kiện dường như người gian tà thành công trong đời (7) con người làm điều bình thường thì bị khốn khổ nên sinh lòng ghen tị (1), phẫn uất (8) và đêm hoài nghi về chuyện người công bình nhu mì sẽ hưởng đất đai làm sản nghiệp (9,11).  Thái độ cần có là bình tĩnh và hài lòng (1,7,8), tin cậy và cứ sống đạo đức cách tích cực (3,5), lặng lẽ nhẫn nại, và tin chắc vào kết quả cuối cùng (10,11).  Những mệnh lệnh này đặt cơ sở trên sự kiện người bất lương chỉ tồn tại nhất thời (2), còn phước lành của Đức Chúa Trời là chắc chắn (4-6), tận cùng mọi chuyện sẽ được xử lý đúng theo lẽ phải (9-11).  3  Tin cậy Đức Giê-hô-va, hoặc vun quén, nuôi dưỡng lòng trung tín (đối với Đức Chúa Trời và những lời giáo huấn của Ngài) như người chăn chiên chăm sóc bầy.  4  Điều lòng mình ao ước, những điều ‘thỉnh nguyện’, niềm ao ước dẫn đến lời cầu xin. 5  Hãy phó thác và nhờ cậy, tức là tích cực trong những việc đó.  6  Công bình ngươi, sự thật là lẽ phải ở về phía đương sự lý đoán ngươi Đức Chúa Trời sẽ xử đúng với lẽ phải cho đương sự . 7  Hãy yên tịnh ... kiên nhẫn chờ đợi.  Sự ‘lặng lẽ bình tĩnh’ (trong lời nói và việc làm) bày tỏ niềm tin cậy kết hợp với (...)  9  Trông đợi, chờ đợi trong tinh thần hi vọng đầy lòng tin cậy.  11  Người hiền từ.  Là những người ở dưới đáy cuộc đời nhưng họ trực diện đối phó với cảnh ngộ một cách bình tĩnh vì biết rằng họ đang ở dưới quyền tể trị của Đức Chúa Trời.

(Thi 37:12-20).  Khi sự gian ác trở nên thù địchcái nhìn sáng suốt  Câu 1-11 nhận xét rằng cuộc đời có lắm bất công.  Giờ đây câu 12-20 đưa ra một khung nền khác: kẻ vô thần thực tiễn được thành công nên sinh ra chống báng và tấn công người công bình (12,14).  Tuy nhiên, trong hoàn cảnh càng đầy những mối đe doạ đáng sợ đó, thì mọi sự việc không hẳn như người ta tưởng:  Đức Chúa Trời không phải là một quan sát viên thụ động ở rỗi Ngài đã chọn đứng bên cánh nào, và Ngài đã quyết định giáng tai hoạ trên kẻ ác (13), bảo đảm rằng những sự chống báng của họ sẽ trở lại hại họ (15) vì họ cũng là kẻ thù của Ngài tất nhiên họ phải bị hư mất (20).  Mặt khác, dầu sao hiện tại người công bình cũng giàu có phong phú hơn kẻ ác (16) vì quyền lực của kẻ ác sẽ bị bẻ gãy, còn Đức Chúa Trời là sức mạnh hiện tại của người công nghĩa Ngài thông công mật thiết với họ và chăm sóc họ (18) không có tai hoạ nào trong trần gian này có thể tiêu diệt họ vì họ có nguồn cung ứng riêng (19).  Ý chính của phần này là chúng ta cần tập sống với sự hiểu biết sâu sắc sáng suốt thay vì tin vào dáng vẻ bề ngoài của cuộc đời.  14  Khốn cùng ... thiếu thốn, người bị áp bức thua thiệt và người bị bóc lột.  17  ‘Cánh tay’, quyền lực, sức mạnh và khả năng riêng.  18  Trọn vẹn, con người có cuộc đời chân thực hoàn toàn cả trong nội tâm lẫn bên ngoài và toàn diện.  Biết (so sánh Thi 1:6), ở dưới sự quan phòng và chăm sóc thân thiết của Ngài. 

(Thi 37:21-31).  Khi sự gian ác suy vongdấn thân tận lực  Một trong những cái nhìn sáng suốt của phần trên là người công nghĩa giàu có phong phú hơn.  Phần này triển khai ý đó.  Tánh rộng rãi phân biệt người công nghĩa với kẻ gian ác (21,26).  Họ có thể ban cho rời rộng vì (22 bắt đầu với từ ‘Vì’) họ có tương lai bảo đảm, một lối đi vững chãi (23) và hiện tại được cung ứng đầy đủ (25, so sánh 28,29).  Đằng sau tâm trạng thư giãn đối với những đòi hỏi và những mối đe doạ của cuộc đời có yếu tố chìm là phước hạnh của Đức Chúa Trời, sự hài lòng, lòng nhân từ và sự thành tín của Đức Chúa Trời nâng đỡ giữ gìn, người công nghĩa kinh nghiệm được những điều này nhờ dấn thân đeo đuổi nề nếp mà họ đang sống (27), dấn thân vun quén tánh mà họ đã có (28) và duy trì phẩm chất trong lời ăn tiếng nói lẫn trong nội tâm (30-31).  Trái ngược với sự bực dọc, ghen tị và tức giận mà câu 1-11 đã cảnh giác chúng ta là tinh thần dấn thân đeo đuổi.  Chúng ta cần có tinh thần này trước tiên khi cuộc đời đem mọi chuyện bất công ra mà thử thách chúng ta.  22  Người công nghĩa ban phát rộng rãi vì họ có niềm hi vọng chắc chắn khiến họ không nặng lòng lo âu cho tương lai.  23,24  Dù bước người công nghĩa đã được củng cố cho vững chãi nhưng không có nghĩa là họ không vấp ngã.  Lối đi vẫn trải đầy chông gai và bẫy ngầm, nhưng bàn tay dẫn dắt cũng không buông lơi họ ra.  25  Có thể lắm tác giả luôn luôn nhìn thấy việc này nhưng thực tiễn hơn thì chúng ta nên hiểu theo câu 24, tức là hiểu với ý ngầm là ‘về lâu về dài’.  26  Dòng dõi người được phước, xem Xu 20:6  Ch 20:7  Cong 2:39  ICo 7:14.  28  Không từ bỏ, liên quan với lòng (Thi 36:5), những người Ngài yêu thương và đáp lại họ cũng biết yêu thương Ngài.  31  Luật pháp, ‘sự dạy dỗ, giáo huấn’.

(Thi 37:32-40).  Khi sự gian ác không bền lâuyên tâm vững chí  Ở đây xác định một nguyên tắc là Đức Chúa Trời bảo đảm một kết cục phước hạnh cho người công nghĩa (những người ‘hoà thuận với Ngài’) chẳng có mối đe doạ nào là đáng sợ nữa vì rốt cuộc chính người gian ác bị huỷ diệt mà (32-34).  Do đó, con đường dẫn tới chỗ sở hữu đất (34) đơn giản chỉ có tin cậy (chờ đợi) tức là trông chờ kết cuộc một cách vững tâm, cọng với sự vâng lời tức là giữ đường lối của Ngài.  Câu 35, 36 ghi lại một trường hợp cụ thể trong kinh nghiệm của tác giả cho thấy cuối cùng kết cuộc của những người đó là như vậy (37,38).  Trong khi chờ đợi Đức Chúa Trời cứu rỗi (giải cứu), bảo vệ, hỗ trợ, và giải thoát những người nương náu nơi Ngài (39,40).  34  Hưởng được đất (9,11,22,29,34).  Tất cả những câu này đều dùng cùng một động từ.  Dịch là sở hữu (nhận được, Kinh Thánh tiếng Việt cũ) thì đúng hơn là thừa hưởng.  Đức Chúa Trời ban cho dân của Ngài đất hứa, nhưng khả năng và quyền hạn giữ đất thường bị đe doạ, từ phiá kẻ thù trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, từ phiá những thành phần hám lợi chuyên áp bức bóc lột trong phạm vi từng cá nhân.  Vì vậy điều họ ao ước mong muốn vô cùng là quyền hạn và khả năng giữ đất được bảo đảm.  Ý nghĩa đầu tiên của thi thiên này là như vậy, nhưng rộng rãi hơn thì thi thiên này nhắm đến ngày của Đấng Mê-si và thời kỳ tái tạo.  37  Người ngay thẳng, con người chân thật chân chính (c.18).  38  Kẻ vi phạm, ‘những người chống nghịch, nổi loạn’, cố tình khinh miệt ý muốn của Đức Chúa Trời mà họ dư biết.

42. ĐỨC CHÚA TRỜI NỔI GIẬN, ĐỨC CHÁU TRỜI GIẢI CỨU (Thi 38:1-22)

Hai câu đầu và hai câu cuối tóm lược chủ đề và sự kỳ diệu của thi thiên này.  Khi Đức Chúa Trời bất bình, Ngài nổi thạnh nộ (1, cơn thạnh nộ bùng nổ), nóng giận (1, như ngọn lửa) các mũi tên liền bay vụt ra găm vào kẻ can tội (2), nhưng khi cần Ngài hiện diện, cần Ngài ở gần (21), cần Ngài giúp đỡ và giải cứu (22) thì chúng ta cũng cầu cứu với chính Đức Chúa Trời này.  Chỉ có ơn huệ của Đức Chúa Trời mới giải thoát chúng ta khỏi sự phế bỏ của Đức Chúa Trời.  Nếu có một thi thiên nào có chủ ý cảnh giác chúng ta về tội lỗi bằng cách mổ xẻ những hậu quả của tội lỗi đó chính là thi thiên này.  Tội lỗi khiến cho Đức Chúa Trời bất bình, và khiến cho người phạm tội canh cách nặng lòng, thay thế sự bình an yên ổn bằng thương tích, khiến cho mất tinh thần, lòng bất an và thể xác đau đớn (1-8).  Tội lỗi gây buồn chán u ám, làm ù lì, cô lập chúng ta khỏi bạn bè, nhen nhóm tinh thần thù địch (9-12) đẩy chúng ta đến chỗ không còn lý cớ gì để bào chữa nữa (13, 14).  Nhưng tội lỗi không có khả năng đáng sợ, cánh cửa cầu nguyện, cũng không đủ sức đẩy chúng ta ra khỏi chỗ ăn năn (15-18).

(Thi 38:1-12)  Con dốc tuột xuống sâu  Dưới sức nặng của tội lỗi Đa-vít lần lần tuột sâu.  Đức Chúa Trời hoá ra kẻ thù địch (1,2) Đa-vít hoàn toàn mất sức (5-10) và mất hết bạn bè (11).  Kẻ thù âm mưu hại ông (12).  1-4  Có thể Đa-vít dùng triệu chứng của bệnh tật (3,5-8,10,17) để mô tả sự dày vò của mặc cảm tội lỗi.  Nhưng những chi tiết miêu tả nơi đây rất sống động và thể xác ông đau buốt nên chúng ta cần hiểu là trong trường hợp này ông bị hình phạt vì tội lỗi dưới dạng một chứng bệnh thực sự.  1  Nổi thạnh nộ ... nóng giận, xem phần trên.  2  Đa-vít ‘phải gánh chịu’ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (các mũi tên) - được biểu hiện qua bệnh tật, cơn đau, bị phế bỏ (11), bị chống đối (12) - và sự chống đối của chính Đức Chúa Trời (tay).  Găm ‘rơi xuống trên mình ông’.  3  Cơn giận, ‘nỗi bất bình’, có tính cách mãnh liệt.  Thịt tôi, ‘tình trạng lành lặn’.  An nghỉ, ‘bình yên an ổn’.  Tội lỗi, việc làm sai quấy cụ thể.  4  Gian ác, ‘vi phạm’, nội tâm lệch lạc, bản chất sa đoạ.  Vượt qua đầu tôi, như khi chết đuối.  5-8  Mấy câu này triển khai câu 3, mô tả một thể xác bị dày vò.  Không phải tất cả các chứng bịnh đều là một hình thức trừng phạt tội lỗi, nhưng một số chứng bịnh đúng là loại này.  Tuy nhiên mỗi khi mắc bịnh đều là thời gian để tự rà soát lại chính mình.  Trong trường hợp này thì có đường dây liên hệ rõ ràng không còn hồ nghi vào đâu được.  Các chi tiết miêu tả chuyển từ những triệu chứng bịnh tật trong thể xác qua những triệu chứng bịnh tâm thần.  5  Thối tha ... chảy lở, ‘hôi hám ... nhiễm trùng’.  Khờ dại, ‘ngu xuẩn’.  Hêt sức là ngu dại.  6  Khòm cúp xuống, ‘co giật (một cách đau đớn)’.  8  Mệt nhọc và rêm, ‘yếu đuối, đờ đẫn’.  La hét (như sư tử gầm thét).  Bồn chồn, ‘lòng bất an, bấn loạn’.  9-12  Câu 1-4 tập trung bàn về sự kiện bịnh tật là dấu chứng tỏ sự chống đối của Đức Chúa Trời giờ đây đến vấn đề phế bỏ của con người và sự đe doạ mà bịnh tật đã khởi sự.  Đồng thời, dù bài cầu nguyện không mạch lạc lắm nhưng có hướng về Đức Chúa Trời.  9  Chúa, ‘Đấng Chủ Tể’, như trong câu 15,22.  Đức Chúa Trời ‘công bố quyền năng tối thượng của mình hầu như chính yếu là bằng cách bày tỏ lòng nhân từ và thương xót’ (Book of Common Prayer).  10  Thêm những triệu chứng bịnh tật khác: hồi hộp, mòn mỏi, thị giác không còn rõ ràng. 11  Một chi tiết xốn xang.  Thông thường khi có chuyện cần đến tình thân của bạn hữu thì chính chuyện đó lại đẩy bạn hữu tránh xa đương sự.  Chúng ta không biết nói gì hoặc làm gì vì sự lo nghĩ về chính mình lấn át mối quan tâm dành cho người có nhu cầu.  Nhưng trong cơn bối rối người ta không cần nghe những câu văn vẻ dài dòng - chỉ cần một cái siết tay chặt chẽ, chỉ cần sự hiện diện của một trái tim cảm thông.  Bạn tôi, ‘những người thân yêu của tôi’, có mối quan hệ gần gũi hơn là những người bạn đồng trang lứa, đồng hành, đồng sở.  Bà con, ‘người bà con gần nhất’ (so sánh Thi 34:18), những người có bổn phận phải xem sự khó khăn khốn đốn của đương sự như là của chính họ.  12  Đáng buồn là có những người chuyên lo tìm cơ hội để trêu tức, tiên đoán tình trạng trầm trọng hơn và lập kế hoạch với chủ ý lừa đảo.

(Thi 38:13-22)  Lối đi lên  Phần này được xây dựng theo cùng một mô hình như câu 1-12 nhưng giờ đây thi thiên tiến dần vào khung cảnh mới.  Lời cầu cứu (1,2) nhằm thoát khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trở nên một lời cầu cứu kém mạch lạc trong câu 9.  Nhưng giờ đây, dù hoàn cảnh vẫn chưa thay đổi, tâm trạng đã thay đổi trở nên tích cực: Đa-vít tỏ ra tin cậy, trông đợi sự trả lời của Đức Chúa Trời (15), Đa-vít thực sự ăn năn xưng tội (18) (chớ không phải chỉ rên rỉ về tội lỗi) của mình và kêu cầu xin Chúa cứu (22).

13-16  Đối với những lời nói ra nói vào nhằm chống lại Đa-vít, Đa-vít không đáp lại một lời (12-14) nhưng chỉ thưa trình với Đức Chúa Trời (15-16).  Ông nói với Đức Chúa Trời (15, ‘Đức Giê-hô-va’, Đức Chúa Trời của giao ước về tình yêu thương, về sự cứu rỗi và về thẩm quyền xét xử và hình phạt) về sự im lặng của mình (13,14) và về niềm hi vọng chắc chắn của mình (15) ông biết rằng Chúa (‘Đấng Chủ Tể’) là Đức Chúa Trời của tôi, sẽ trả lời (tham khảo Ca 3:19-33).  14  Chẳng có lời đối lại tức là chọn, quyết định im lặng không đối đáp, chớ không phải không biết đối đáp ra sao.  15  Tác giả quyết định sự im lặng (14) không đối đáp là vì ông đã chọn con đường tin cậy, vững tâm và cầu nguyện (15-16).  Để lòng tin cậy tức là hi vọng chắc chắn.  17-20  Lời cầu nguyện ghi trong câu 16 tuôn ra trong cơn cấp bách ‘vì tôi gần sa ngã ... ‘ (17).  Trước hết, cấp bách là vì ông không thể chịu đựng đối phó lâu hơn nữa và kế đến là vì sự ‘đau đớn / buồn khổ’ (17, từ này bao gồm cả hai ý) luôn luôn còn đó.  Rồi đến phiên điều này là kinh nghiệm thường trực của ông vì ông ‘tiếp tục xưng tội’ và ‘tiếp tục buồn rầu về’ sự gian ác tôi (xem 4) và về tội lỗi tôi (xem 3).  Chính hành động đem tất cả những điều này đến với Đức Chúa Trời khiến ông cảm thụ cách mãnh liệt hơn sự áp bức đè nặng trên ông.  Ngoài ra, còn có sự chống đối mãnh liệt, sự thù ghét vô cớ và sự phỉ báng trái khoáy (19).  Nhưng đồng thời, giờ đây không còn tinh thần lo nghĩ thái quá về mình như trong câu 5-8 bầu không khí sáng sủa hơn - chắc chắc vì ông đã tiến đến chỗ ăn năn xưng tội.  21,22  Lời cầu cứu cuối cùng xưng danh Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của giao ước (21,1,15), và Chúa là Đức Chúa Trời chủ tể (22,9,15).  Đức Chúa Trời là Đấng đã từng đến Ai Cập vì Ngài biết dân của Ngài đang đau đớn khốn khổ (Xu 3:7, dùng cùng một từ với 17) vẫn vậy, không thay đổi Ngài là Đức Chúa Trời tự khải thị cho người ta biết Ngài, và cho phép người ta tiếp nhận Ngài làm Đức Chúa Trời của riêng cá nhân họ, sẽ không bao giờ thất tín, bất trung trong mối tương quan đó.  Chúa là Đấng Chủ Tể sẽ giải cứu.

43. VẤN NẠN NÓNG BỎNG (Thi 39:1-13)

Cảnh ngộ tương xứng với Thi 38:1-22  im lặng đối diện với đám người bu quanh nhìn xem (38:12,13  39:2), hành động của Đức Chúa Trời chống lại tội lỗi (38:1-3  39:9-11), hi vọng trong Chúa mà thôi (38:15,21,22  39:7).  Nhưng tụ điểm thì khác.  Trong Thi Thiên 38 bịnh tật phơi bày tội lỗi ra, khiến cho đương sự thấy cần được tha thứ trong Thi Thiên 39 bịnh tật khiến cho sự nhận thức rằng cuộc đời thật là ngắn ngủi, khiến cho đương sự mong ước được hưởng đôi chút tươi sáng (13) trước khi cuộc đời chóng qua chấm dứt. 

Cuộc đời ngắn ngủi và nỗi buồn đối với sự chết thâm nhập xuyên suốt Kinh Thánh đến nỗi sự khải thị đầy đủ về thế giới bất tử không xoá được.  Sự sống quí báu lắm.  Tình yêu thương, những niềm vui trong cuộc sống có thể thăng hoa nhưng không thể thay thế.  Nỗi buồn tan tác là ‘nỗi buồn chồng chất lên buồn’ (Phi 2:27), chính chúng ta dù biết chắc về thiên đàng rồi, chúng ta cũng không thể đón cái chết trong tinh thần thư thái bình thản hoàn toàn.  Trong IISa 12:22-23 Đa-vít than khóc về cái chết của một con trai sơ sinh của mình dù biết là có ngày cha con sẽ hội ngộ còn ở đây Đa-vít than thở rằng chính sự sống của ông ở trần gian này có thể bị tước mất.

(Thi 39:1-3)  Một tình trạng im lặng căng thẳng  E ngại nói điều không đáng trong thời gian khủng hoảng.  Cho dù áp lực có thể tăng gia (2,3) vấn đề làm chứng trước mặt kẻ ác vẫn quan trọng (so sánh Thi 73:15).

(Thi 39:4-6)  Vấn nạn nóng bỏng  Câu 4 tác giả nêu câu hỏi ‘đến lúc tôi qua đời rồi phải không?’ dưới dạng một câu thơ.  Trước mặt những người không cùng niềm tin ông cảm thấy không nên nêu câu hỏi này vì, với tương lai là thiên đàng (49:15  73:24) sao ông lại còn sợ hoặc không chấp nhận sự chết?  Nhưng câu hỏi vẫn cứ tuôn ra và Đa-vít đối diện với sự kiện là sự sống trên trần gian này ngắn ngủi, bất định và mong manh (5-6).

(Thi 39:7-11)  Đức Chúa Trời niềm hi vọng của tôi  Ở đây trông đợi và trông cậy cùng một nghĩa.  Đa-vít băn khoăn hỏi, ‘Tôi sắp chết phải không?’ (4), nhưng giờ đây ông thấy tương lai trong tầm nhìn chính xác hơn.  Có lẽ ông mắc bịnh vào thời kỳ cuối (10, nghĩa đen ‘kết liễu’) nhưng ông đã được hưởng một quãng thời gian ở trần gian tương tự như mọi người khác, tức là hưởng hết thời gian mà Đức Chúa Trời phân định cho ông.  Ông vững tâm tin cậy rằng đời sống này - dài ngắn ra sao chăng nữa cũng đều là do Đức Chúa Trời ấn định.  8  Xin hãy giải cứu ... chớ làm tôi.  Trong cơn khủng hoảng Đa-vít hoàn toàn dựa vào sự cầu nguyện.  Nếu Đức Chúa Trời không trả lời sự cầu nguyện, thì đám người phê bình chỉ trích ông sẽ cười nhạo (38:15,16) và đám người ngu dại (người thiếu nhận thức đạo đức và thuộc linh) sẽ chế nhạo.  9  Lặng lẽ thuận phục dưới bàn tay hành động của Đức Chúa Trời (so sánh 2). 

10,11  Sự hình phạt của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi là một trong những lý do khiến đời sống trên trần gian bị tước mất (so sánh 90:5-9), vì vậy Đa-vít nặng lòng lo nghĩ mong mỏi được tha thứ chớ không phải được lành bịnh (8).

(Thi 39:12-13).  Cầu xin ánh sáng  Cuộc sống trên trần gian tất nhiên có ngày phải kết liễu trong thời gian chờ đợi sự kiện đó ông mong mỏi được phấn khởi (hồi sức).  12  Chúng ta trình nhu cầu của mình cho Đức Chúa Trời qua lời cầu nguyện kêu cầu, về tình trạng bất lực của mình khóc, nước mắt, bày tỏ tình trạng cấp bách của chúng ta.  Người lạ ... khách ngụ, Đức Chúa Trời khiến cho dân của Ngài trở nên như ‘người ngoại quốc, người lạ, người thuê đất’ ngay trong xứ của Ngài cho họ (Le 25:23), người lạ (người ngoại nhập) là người đến tá túc trong xứ, xin tạm cư trong xứ khách lạ, ‘người chiếm ngụ’ là người không có toàn quyền sở hữu và sử dụng đất đai xứ sở.  Đức Chúa Trời yêu thương ‘khách lạ’ của Ngài (Phu 10:19) ban cho họ sự an toàn và quyền hạn trên đất.

44. ĐÃ TỪNG CHỜ ĐỢI...TIẾP TỤC CHỜ ĐỢI. (Thi 40:1-17)

Trong Thi 38:1-39:13 Đa-vít chờ đợi trong tinh thần cầu nguyện (38:15  39:7) trong thời gian khủng hoảng vì tội lỗi (38:3 39:8) và trong khi đối diện với sự hiểm độc của quần chúng (38:16  39:8).  Giờ đây thời gian chờ đợi đã qua (1-3) lòng tin cậy đã được chứng minh là đúng (4-5) tiếp theo là Đa-vít dấn thân tuân thủ ý muốn của Đức Chúa Trời (6-8) Đa-vít hứa làm chứng trước quần chúng (9-10) nhưng Đa-vít vẫn còn cảm thấy kém cỏi và cần Đức Chúa Trời giúp đỡ cấp bách (11-13).  Ông thấy rằng Đức Chúa Trời cần hành động công khai để khiển trách (14-15) và để ban niềm vui mừng (16).  Với ước vọng này đối với tương lai, Đa-vít lại chờ đợi trông mong: dù Đa-vít có hành động trong quá khứ rồi, hiện nay vì cớ nhu cầu của ông, ông mong Chúa hành động gấp để giải cứu ông (17).

(Thi 40:1-3)  (A1)  Cuộc mong chờ hiệu quả  Chỉ mong chờ mà thôi (trong niềm hi vọng và tin chắc, 1) dẫn đến khiến cho ông được giải cứu, an toàn, đổi mới và gây tác động hữu hiệu trên quần chúng (2-3).  1  Tôi nhịn nhục trông đợi đúng ra là ‘Tôi chỉ chờ đợi mà thôi’.  2  Vũng bùn lấm, tức là bất định, cũng có thể là ‘ồn ào / tiêu điều’.  Mới, ‘tươi mới’.  Lắm người.  Cách chúng ta phản ứng đối với cuộc đời là lời làm chứng có sức thuyết phục mạnh mẽ.  Không có gì mạnh mẽ hơn thái độ trông chờ đầy tin cậy.  Nhờ đó lắm người phải nhìn thấy (ghi nhận) bị thuyết phục phải kính phục Đức Chúa Trời là Đấng đáp ứng niềm tin (sợ) và có lòng tin (nhờ cậy) nơi Đức Chúa Trời.

(Thi 40:4-5).  (B1)  Ghi nhận những hành động của Đức Chúa Trời trong quá khứ  Phước hạnh đi liền theo lòng tin cậy về vô số những chương trình và hành động của Đức Chúa Trời.  4  Kẻ kiêu ngạo ... kẻ theo sự dối trá.  Hai thái độ không thể chấp nhận: thứ nhất là làm ra vẻ ta đây dư năng lực quyền hạn, thứ hai là ăn nói không đúng sự thật để thoát nạn.  Công việc lạ lùng là những việc có dấu ấn siêu nhiên, khiến cho người ta phải thấy là có Đức Chúa Trời đằng sau những việc đó.  Không thể sắp đặt trước mặt Chúa.  Đúng ra là ‘Không thể so sánh với Ngài!’

(Thi 40:6-13).  (CThái độ tối quan trọng  Ba khổ thơ (6-8,9-10,11-13) liên kết với nhau qua một ý chung là tình ý nội tâm: tấm lòng vâng phục (8), tấm lòng làn chứng (10), tấm lòng rúng động (12).  Những điều kỳ diệu của Đức Chúa Trời (5) đòi hỏi phải sự đáp ứng.  Không có nghi thức nào đáp ứng đủ mức cả (6), chỉ có thái độ hết lòng hết sức làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời (7-8).  Có lòng tin kính cũng không đủ cầm tiến tới sự công khai làm chứng (9-10).  Nhưng khi làm việc này thì dù không mời ý tưởng sau đây vẫn xuất hiện, ‘Có thể duy trì việc này không?’ vì cuộc đời vẫn hăm he, tội lỗi vẫn đe doạ, còn lòng quyết tâm giảm thiểu suy yếu (12).  Nhưng câu 12 có hai ngoặc đơn là câu 11 và câu 13: cửa cầu nguyện vẫn rộng mở.  6  So sánh Thi 51:16-17.  Không thích ... không đòi.  Đức Chúa Trời giúp Đa-vít nhận thấy rằng sự giải cứu như vậy (1-3) đòi hỏi một sự đáp ứng hoàn toàn của cá nhân ông.  Sỏ tai ... so sánh Es 50:4 (một động từ khác), sự sáng tạo của một khả năng tiếp nhận sự khải thị của Đức Chúa Trời.  7  Cuộn sách.  Một bản chiếu chỉ về cuộc phong vương (Thi 2:7 so sánh Phu 17:14-20) hoặc về một lời thề nguyện (\Thi 101:1-8) xác định vương quyền của Đa-vít.  Qua một lời tái xác quyết, Đa-vít khẳng định sự dấn thân tận lực của mình đối với lý tưởng này.  Rốt cuộc, chỉ Đấng Mê-si mới thể hiện đầy đủ lý tưởng đó và He 10:5-10 viết về sự phế bỏ những lễ nghi dâng tế lễ và công nhận công lao của Chúa Giê-xu đã làm trọn toàn bộ những yêu cầu của luật pháp.  9,10  bày tỏ quyết tâm cho tương lai, tiếp theo sau những lời xác định trong câu 6-8.  Vì vậy mà ‘tôi đã quyết định truyền tin... chẳng ngậm miệng... quyết định chẳng giấu...’ ... Những phước hạnh đến với Đa-vít nhờ lòng tin cậy (1-5) nhằm đưa đến một đời sống thánh khiết trong tương lai (6-8) và môi miệng biết làm chứng (9-10).  Nhưng cần dựa vào sự cầu nguyện để có thể thể hiện đời sống đó và công việc đó (11,13) vì sự yếu đuối của chính mình (12) sẵn sàng nhanh chóng phá đổ tất cả mọi lời cam kết và hứa nguyện của chúng ta.

(Thi 40:14-16).  (B2)  Cầu xin Đức Chúa Trời hành động trong tương lai  Đức Chúa Trời đã vì Đa-vít mà đích thân hành động (4,5) giờ đây ông mong mỏi Ngài sẽ hành động để chỉnh đốn những kẻ sai quấy trong quần chúng.  Sự chống đối của người khác (14,15) có thể phá hoại những ý định tốt đẹp của ông, rồi những người tin kính đã cùng Đa-vít chịu đựng mọi chuyện, họ cũng như ông, cần hưởng ơn thương xót mới mẻ của Ngài.  14  Mắc cỡ ... hổ thẹn ... bị sỉ nhục, đồng nghĩa với thất vọng và mang tai tiếng trong quần chúng.  Cầu nguyện chống lại sự sai quấy (14) và cầu nguyện cho lẽ phải (16) là chính đáng.  Đa-vít nêu gương tốt cho chúng ta trong việc này, nhưng cần có một tâm linh trong sạch thánh khiết mới có thể cầu nguyện như vậy.

(Thi 40:17).  (A2)  Vẫn trông đợi  Đa-vít nhận biết rằng mình không đủ năng lực (khốn cùng, quỵ  dưới gánh nặng của cuộc sống, bị đè bẹp) và thiếu quyết tâm bền chí (thiếu thốn, dễ xao động nghiêng ngả).  Vì vậy, dù trong quá khứ lòng thương xót của Đức Chúa Trời có lớn lao đến đâu, thì hiện nay, khi dòng đời còn tiếp diễn Đa-vít biết rằng chúng ta vẫn luôn luôn cần đến lòng thương xót mới mẻ từ trời (so sánh He 7:25) và tại trần gian này.

45. PHƯỚC HẠNH TRONG NGUYÊN TẮC VÀ TRONG KINH NGHIỆM (Thi 41:1-13)

Các vấn đề bịnh tật, tội lỗi, sự thù địch và sự ly gián liên kết thi thiên này với các Thi 38:1-40:17 và có lẽ với thi thiên này tác giả hồi tưởng lại một trong những tính chất hiểm độc và phản trắc - của cuộc thử thách dài đăng đẳng.  Nhưng đặc biệt là thi thiên này căn cứ vào kinh nghiệm (11,12) thử áp dụng một nguyên tắc (1-3): một thái độ quan tâm chăm sóc đối với kẻ yếu sẽ khiến cho Đức Chúa Trời đáp lại bằng sự chăm sóc của Ngài.  Có đúng vậy không?

(Thi 41:1-3).  (A1)  Ơn huệ của Đức Chúa Trời, trên nguyên tắc  Mối quan tâm dành cho người nghèo in dấu sâu đậm trong Kinh Thánh Cựu Ước (Xu 22:21  23:9  Le 19:10,33  Phu 10:18).  Ch 14:21  19:17 là lời hứa về ơn phước báo đáp cho người quan tâm chăm lo cho người nghèo (so sánh Mat 5:7  18:33).  Ở đây, lời hứa bao gồm sự giải cứu khi gặp tai hoạ (1), sự bảo vệ và phục hồi, phước hạnh trong hiện tại, nơi trú ẩn, sức lực và sự an ủi khi bịnh tật (2-3).  1  Khốn cùng.  Chính yếu là thiếu những nguồn lợi tức ở đời này nhưng cũng thiếu hụt những bất lợi trong những phương diện khác nữa.  ISa 30:13 tiếp theo là một trùng hợp cụ thể biểu thị thái độ của Đa-vít trong vấn đề này nhưng rõ ràng ông cảm thấy mình có quyền trông mong nhận được phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho người có lòng quan tâm chăm lo cho người khác.  3  Cải dọn giường ... ‘Trong khi người bị bịnh liệt giường liệt chiếu, Chúa sẽ dọn giường, thay chiếu cho người’, một bức tranh ấm cúng về sự chăm sóc của Đức Chúa Trời. 

(Thi 41:4).  (B1)  Cầu xin ân sủng của Đức Chúa Trời cớ phạm tội  Sau khi xác định phước hạnh của Đức Chúa Trời dành cho người quan tâm chăm sóc kẻ yếu trước tiên Đa-vít cầu xin phước lành của Đức Chúa Trời trong việc chữa lành căn bịnh tội lỗi.  Thương xót, ‘ơn huệ/ ân sủng’.  Xin chữa lành linh hồn tôi, toàn bộ con người tôi.  Tội lỗi ví như một bịnh trong cuộc sống của kẻ phạm tội, mà còn có tính cách chống nghịch Đức Chúa Trời, phạm tội cùng Ngài.

(Thi 41:5-9).  (CSự căm ghét, lừa dối, ngồi đôi mách, phản trắc Với hai khổ thơ (5-6,7-9) tác giả làm sáng tỏ vấn nạn chính mà thi thiên này nhằm giải toả: sự chống đối của con người, và nhất là lòng phản trắc của một người bạn mà mình tin cậy.  ‘Phải chăng bạn hữu của bạn đang khinh khi, bỏ rơi bạn?  Hãy cầu nguyện trình dâng cho Đức Chúa Trời.’  8  Một thứ bịnh ác, (nghĩa đen) ‘một chuyện của Bê-li-an’.  Từ ‘Bê-li-an’ chỉ về đạo đức sai trật, hành động phi pháp trong xã hội, và bội đạo trong phần thuộc linh.  Cần luôn luôn hiểu từ này dựa theo khúc Kinh Thánh.  Ở đây thích hợp nhất là tác giả đã có hành động chống lại Đức Chúa Trời nên Ngài nổi giận.

(Thi 41:10).  (B2)  Cầu xin ân sủng cớ những người chống đối  Ơn thương xót của Đức Chúa Trời phục hồi sự sống sẽ tạo cơ hội cho ông trả thù.  Nhưng tác giả khẳng định rằng sự trả thù là việc Chúa lo còn Đa-vít trong những chỗ Kinh Thánh khác cẩn thận tránh, không đề cập đến vấn đề này.  Vì vậy, trong khi về một phương diện thì ông dễ dàng mắc phải tội lo báo thù (IVua 2:5-6), thật là khó tin khi mà tác giả lại trắng trợn cầu xin ân sủng để đeo đuổi chính việc cấm kỵ đó.  Tuy nhiên, trong cương vị vua, ông có thể xin Đức Chúa Trời ban cho ông một sức sống mới để có thể làm trọn bổn phận của một vị vua là tẩy trừ khỏi xứ những kẻ gian ác (Thi 101:8).

(Thi 41:11-12) (A2)  Kinh nghiệm ơn huệ của Đức Chúa Trời  Đa-vít nhận được phước mà Đức Chúa Trời đã hứa (so sánh 1-3).  Kẻ thù của ông không được phép thắng hơn ông trái lại, vì cớ lòng chân thật của ông, ông được hưởng ân huệ của Đức Chúa Trời.

Chú giải. 11 Thắng, ‘tiếng reo đắc thắng’. 12 Thanh liêm, không phải là hoàn toàn vô tội, nhưng chân thật trong vấn đề đang bàn tới, đó là mối quan tâm chăm lo cho người túng thiếu (1). 13 Một câu kết hiệu đính cho quyển thứ nhất của sách Thi Thiên (72:18 tiếp theo, 89:52  106:48 và Dẫn Nhập).

46. TỪ NIỀM TIN ĐẾN NIỀM TIN (Thi 42:1-43:5)

Chẳng hiểu vì sao hai thi thiên này bị tách riêng vì thực sự chỉ là hai phần của bài thơ.  Một câu điệp khúc cân đối liên kết ba khổ thơ có cùng độ dài tương đương (42:6,12  43:5), rồi đến những từ tương tự trong các khổ thơ như ‘đương khi người ta hằng hỏi tôi’...  (3,10) ‘buồn thảm’, trong khổ thơ thứ hai và thứ ba (42:9  43:2), đề tài triển khai đồng nhất.  (a)  Trong 42:1-5 (‘nỗi khao khát của niềm tin’), những ký ức của quá khứ xói mạnh vào nỗi đau hiện tại.  Lối nói bóng trong câu 1,2 biểu thị nỗi khao khát về Đức Chúa Trời cách sâu đậm.  (b)  Trong 42:6-11 (‘sự phục hưng của niềm tin’) lối nói bóng về bão tố (7) biểu thị cảnh hiểm nguy hiện tại, nhưng niềm tin nhìn những ngọn sóng trong cơn bão đó là ngọn sóng của Đức Chúa Trời, tình yêu thương của Ngài còn đó (8), Ngài vẫn là hòn đá của tôi (9).  (c)  Trong 43:1-5 (‘sự đáp ứng của niềm tin’) lối nói bóng về một toán người đi cứu hộ (3) biểu thị sự tin tưởng chắc chắn đối với tương lai.  Đức Chúa Trời hiện nay đang là đồn luỹ của tác giả thì chính Ngài sẽ đưa dẫn ông về đến nhà (3-4).

Thi thiên này có thể bắt nguồn từ nhiều bối cảnh.  Tác giả nhớ lại những buổi lễ thờ phượng xưa kia ở đền thờ (42:4), giờ đây ông đang ở tại một vùng xa xăm về phía bắc xứ Pa-lét-tin (42:6), chỉ có sự hành động của Đức Chúa Trời mới có thể đem ông trở về (43:3), những kẻ thù chiến thắng và chế nhạo vây quanh ông (42:3,9-10).  Có thể là một trong những lần kẻ thù bắt dân đi đày (thí dụ IIVua 14:14  24:14).

(Thi 42:1-5).  Quá khứ đã mất Tác giả bộc lộ nỗi buồn khổ của mình với Đức Chúa Trời, cùng với những ký ức về chuỗi ngày tươi đẹp hơn hiện nay (2-4).  Tình cảm mãnh liệt, nhớ nhung ray rứt ở nơi ông (1,2) là một lời trách cứ đối với tình yêu thương quá hời hợt trong chúng ta.  2  Nêu thắc mắc hoặc đặt nghi vấn không có gì là sai cả: Khi nào? ... Vì sao? (9  Thi 43:2) ... Ở đâu? (3,10), tỏ lòng mong mỏi sao cho nỗi khổ này sớm chấm dứt (khi nào?), tỏ ý ngỡ ngàng đối với nỗi khổ, không hiểu nguyên nhân phải chịu khổ (vì sao?), không thể nào nhìn thấy đó là việc của Đức Chúa Trời (ở đâu?).  Nhưng câu hỏi ‘Ai?’ trong Es 42:24 chỉ dẫn chúng ta đến một hướng yên lòng và đáng tin tưởng hơn.  5  (cùng với 11  Thi 43:5).  Tác giả xử lý nỗi khổ bằng cách nói với lòng mình về Đức Chúa Trời là Đấng bảo đảm tương lai - vì, theo Kinh Thánh thì niềm hi vọng luôn luôn bày tỏ niềm tin chắc về kết cuộc tốt đẹp.  Cũng như nhiều bản dịch khác, bản NIV hiệu đính đôi chút 42:5 nên trong cả ba lần câu điệp khúc đều y như nhau (5,11  43:5).  Ở đây, theo đúng nguyên nghĩa là ‘ ... Tôi sẽ ca ngợi Ngài về sự cứu rỗi của mặt Ngài.’ - tức là chỉ cần Đức Chúa Trời để mắt nhìn đến với lòng ưu ái là mọi nỗi khốn khổ hiểm nguy đều biến đổi thành sự giải cứu.

(Thi 42:6-11).  Hiện tại khốn đốn. Hoàn cảnh đang đe doạ (7) nhưng niềm tin đang lúc phục hưng: Đức Chúa Trời vẫn còn là Đức Chúa Trời của tôi (6), bão tố là thác nước lớn của Chúa ... lượn sóng của Chúa (7) tình yêu thương của Ngài vẫn có thật tác giả vẫn tiếp tục ca ngợi và cầu nguyện (8) những câu hỏi có vẻ như câu than van, bộc lộ nỗi buồn và có vẻ như không có câu giải đáp trở thành cơ hội, không phải để xót xa về chính mình, mà để cầu nguyện (9-10).  6  Dùng lại cụm từ mở đầu, ‘Đức Chúa Trời tôi ôi’ - bày tỏ là giữa cơn khủng hoảng tác giả vẫn giữ vững niềm tin bằng cách tập trung  nhớ về Đức Chúa Trời.  7  Những nỗi khổ không phải do bàn tay xa lạ.  Đó là những lượn sóng của Ngài.  9  Niềm tin nói ‘Hòn đá của tôi’, nhưng kinh nghiệm nói ‘bị bỏ quên’.  Mọi sự tuỳ thuộc vào chuyện nghe theo tiếng nói nào.  11  (Theo nghĩa đen) ‘ ... ca ngợi Ngài, (là Đấng) cứu rỗi của mặt tôi và là Đức Chúa Trời của tôi’, nâng khuôn mặt chán nản lên (43:5 cũng vậy).

(Thi 43:1-5).  Tương lai mong đợi  Tác giả tiếp tục cầu nguyện, xin giải cứu, xin phục hồi tác giả tiếp tục nhìn đời với con mắt thực tiễn duy trì thế cân bằng giữa những vấn nạn hiện tại với niềm hi vọng cho tương lai.  1  Binh vực duyên cớ, tuyên bố kết quả của sự xét xử cho thấy tôi có lẽ phải.

2  Xem thêm 42:9.  Tác giả đã nắm vững sự kiện Đức Chúa Trời là hòn đá (đồn luỹ) nhưng lại có cảm giác bị Ngài bỏ rơi: tin chắc về Đức Chúa Trời, nhưng lại bị đời vùi dập.  3,4  Ánh sáng và sự chân thật được dùng để nói bóng về một toán cứu hộ đang tìm kiếm người bị nạn.  Trong thực tế, con đường chính đáng thật sự đưa chúng ta vượt qua hết muôn vàn gian nan trong cuộc đời đến phước hạnh là sống trong sự soi sáng dẫn dắt của Đức Chúa Trời và quí trọng lẽ thật của Ngài.  Chú ý đến sự gần gũi tăng dần: núi ... nơi ở ... bàn thờ ... Đức Chúa Trời - một chuyến trở về nhà, từng chặng, từng bước một.

47. KHI CUỘC ĐỜI LẮM NỖI BẤT COONGMAF ĐỨC CHÚA TRỜI LẠI NGỦ QUÊN (Thi 44:1-26)

Cũng như trong 42:1-43:5, ở đây đức tin đối diện với những tai ương của cuộc đời mà trong lòng tác giả cảm thấy mình không có làm điều gì sai quấy đáng phải chịu gian truân khổ ải như vậy (17-19).  Nhưng khác một điểm là 42:1-43:5 trình bày vấn nạn trên bình diện cá nhân, còn Thi Thiên 44 trên bình diện quốc gia, dân tộc, có lẽ tác giả sáng tác thi thiên này cho ngày toàn dân hiệp nguyện.

A1 (c.1-3) Đức Chúa Trời trong quá khứ.

B1 (c.4-8) Lời làm chứng về niềm tin chân chính thực sự.

C (c.9-16) Lời than vãn: hiện tại gian truân khổ ải.

B2 (c.17-22) Lời làm chứng về sự kiện hành vi đã thay đổi.

A2 (c.23-26) Đức Chúa Trời trong tương lai.

Đường lối của Đức Chúa Trời quả là bí hiểm.  Thường thường theo cái nhìn của con người thì không thể lý giải những nỗi gian truân khổ ải trong cuộc đời, vì những điều đó thường cũng trái ngược với những điều Đức Chúa Trời đã bày tỏ về Ngài.  Biện pháp duy nhất là chạy đến với Đức Chúa Trời qua lời cầu nguyện. 

Có thể sắp xếp thi thiên dưới dạng đọc đối đáp từng người hoặc đọc chung.  Câu 4,6,15 chẳng hạn là câu đọc của một cá nhân vì dùng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít thanh gươm của tôi, có lẽ chính mình vua là người hướng dẫn dân sự hiệp nguyện dưới thể đối đáp.

(Thi 44:1-3).  Đức Chúa Trời trong quá khứ: ức về phước hạnh  Toàn thể hội chúng đồng thanh nhắc lại quá khứ: tổ phụ đã thuật lại những việc làm của Đức Chúa Trời, các dân tộc bị bại trận, không phải bởi nỗ lực của con người nhưng bởi bàn tay của Đức Chúa Trời.  2  Bàn tay.  Biểu tượng về sự kiện Đức Chúa Trời đích thân hành động.  Khi mới bắt đầu công cuộc chinh phục, thì xứ trước mặt họ là ‘xứ Đức Chúa Trời ... ban cho các ngươi’ (Phu 4:1), nhưng đến cuối cuộc chinh phục thì ‘Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên toàn bộ xứ mà Ngài đã thề ban cho tổ phụ của họ’ (Gios 21:43 so sánh 80:8-11  Am 2:9,10),  3  Chắc chắn là họ chiến đấu để chiếm hữu xứ, vì chiếm hữu những điều Ngài đã hứa có nghĩa là thừa hưởng nhờ vâng theo những mạng lịnh của Ngài.  Dầu vậy họ biết rằng không phải bởi ... gươm của họ nhưng nhờ tay của Ngài (đích thân hành động), cánh tay (năng lực của chính Ngài), và mặt của Ngài, ân huệ của Đức Chúa Trời được bày tỏ rõ ràng cho dân của Ngài.  Yêu mến, ‘được chấp nhận với lòng ưu ái’.

(Thi 44:4-8).  Duy trì niềm tin chân thật, chính đáng  Vua (4, 6) và nhân dân (5,7) thay phiên nhau và đồng thanh với nhau (8) làm chứng là họ không hề đi lệch khỏi sự hiểu biết chân thật về Đức Chúa Trời (4) và họ luôn luôn phụ thuộc vào Ngài (5) họ hiểu năng lực thuộc cõi đời này là vô dụng (6) họ cũng hiểu sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời rất hữu hiệu (7).  Vì vậy mà họ rất hãnh diện nói về Ngài (8).

4  Họ không ỷ lại vào niềm tin của tổ phụ nhưng họ tiếp nhận làm niềm tin của chính mình: từng cá nhân có lòng trung thành (với Vua), từng cá nhân có lòng tôn kính (Đức Chúa Trời).  Chúa ban lịnh, xem lề NIV.  ‘Truyền lịnh’, một sự cầu cứu trực tiếp với Đức Chúa Trời là Vua.  Giải cứu, từ này ở dạng số nhiều gợi ý là ‘tất cả mọi dạng giải cứu’.  6,7  Sự nương cậy nơi Đức Chúa Trời là Vua bộc lộ trong câu 4,5 phát xuất từ sự chối bỏ khả năng của mình (6) và công khai thừa nhận quyền năng hữu hiệu của Đức Chúa Trời (7).  ‘Cứu chúng tôi khỏi kẻ cừu địch’, ban sự chiến thắng trên quân thù.

(Thi 44:9-16).  Hiện tại gian truân khổ ải  Bài tụng ca đối đáp tiếp tục: phần của trong câu 9,11,13,15 và phần của hội chúng trong câu 10,12,14.  Tất cả đồng thanh trong câu than vãn kết (17).  Sự từ bỏ của Đức Chúa Trời dẫn đến sự thất bại của con người kẻ thù có thái độ và hành động (13,14) phù hợp với thái độ và hành động của Đức Chúa Trời (11,12).  Sự sỉ nhục đạt mức tận cùng (15,16).  Mọi chuyện dường như chẳng còn ý nghĩa gì (9-12), danh tiếng tốt hoàn toàn biến mất (13,14), chỉ còn lại sự hổ thẹn (15,16).  Các động từ trong những câu 9-14 ở ngôi thứ hai số ít nhấn mạnh sự sống của họ trực tiếp phát xuất từ tay của Đức Chúa Trời.  Chúng ta cũng phải hiểu mọi kinh nghiệm của chúng ta, dù vui hoặc buồn, theo ý hướng này.  Có người thấy rằng phân biệt giữa sự ‘điều động trực tiếp’ của Đức Chúa Trời với sự ‘cho phép’ của Đức Chúa Trời, nhưng Kinh Thánh Cựu Ước không khuyến khích hiểu theo hướng này.  Một khi Đức Chúa Trời điều động mọi việc, thì dù là có lúc trong dòng đời của mình chúng ta không hiểu nổi tất cả chúng ta cũng nên tin cậy nơi Ngài và chạy đến với Ngài xin Ngài cứu giúp khi chúng ta bị tràn ngập dưới bao nỗi khổ.  12  Trước những nỗi gian nan họ đã gánh chịu không những chẳng một ai hiểu được thái độ thù địch của Đức Chúa Trời, mà về phía Đức Chúa Trời kể như Ngài cũng không có lợi gì cả.  Không đáng giá chi ‘không có lợi gì’.

(Thi 44:17-22).  Duy trì hành vi phải lẽ  Lời xưng nhận niềm tin của riêng cá nhân (4-8) nay được bổ sung bằng lời xưng nhận về sự trung thành trong thái độ và hành vi (18) - ấy thế mà chỉ thấy tai hoạ kéo đến (19) lòng tin chân thật và nếp sống đạo chân chính lại lãnh án tử hình làm phần thưởng (20-22).  Vua lên tiếng trong câu 17, 20 hội chúng lên tiếng trong câu 18,21 rồi họ đồng thanh trong câu 19,22.  Chúng ta có phép băn khoăn bất bình về tình trạng bất công và bất bình đẳng trong cuộc đời.  Sự xứng đáng và sự tưởng thưởng thường không tương xứng nhau (Thi 73:2-14).  Đáng buồn là con người thường vin vào thực tế này mà chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời yêu thương nhân từ còn ở đây vua và nhân dân phản ứng bằng cách đến với Đức Chúa Trời, trình dâng lời chứng thực, bày tỏ nỗi niềm bất an, và dâng lời cầu thay (23-26).  Chúng ta cần học tập biến những nỗi băn khoăn ngỡ ngàng thành động lực đẩy chúng ta đến với Đức Chúa Trời thay vì kéo chúng ta xa khỏi Ngài.  17  Giao ước ở đây có nghĩa là nghĩa vụ vâng theo tuân thủ những điều mà giao ước đã ràng buộc chúng ta.  19  Chó rừng ở trong những nơi hoang phế tàn tích và lục lọi moi móc thức ăn nơi xác chết ngoài trận địa.  22  Vì Chúa, tức là kết quả của lòng trung thành của chúng tôi đối với Ngài.

(Thi 44:23-26).  Đức Chúa Trời của tương lai: tiếng kêu cầu cứu  Tất cả đồng thanh cầu cứu.  Họ cầu nguyện đối phó lại tình trạng mà họ xem là Đức Chúa Trời án binh bất động và bỏ rơi họ (23-24) họ trình bày cảnh khốn đốn cùng cực của mình và kêu nài Đức Chúa Trời hành động vì họ biết rằng lòng yêu thương của Ngài vẫn như xưa, không hề thay đổi (25-26).  23  Lời cầu nguyện mạnh dạn.  25  Mỗi cá nhân chúng ta đều là quí trọng đối với Đức Chúa Trời nên chúng ta có thể đến với Ngài trình bày nhu cầu của mình.  26  Chuộc, ‘trả cái giá’, tức là Ngài cung ứng tất cả mọi thứ cần thiết để đáp ứng nhu cầu của chúng tôi dựa vào nguồn năng lực của Ngài.  Sự nhân từ, tình yêu thương bởi ý chí, Đức Chúa Trời đã tự ý ràng buộc chính mình vào nghĩa vụ yêu thương.

48. KHI NHÀ VUA LÀ CHÚ RỄ (Thi 45:1-17)

Quả là một sự kiện cao trọng (1) - một vị vua hết sức xứng danh với ngôi vị của mình, trong ngày thành hôn!  Thi thiên này gồm có bảy phần:

A1 (c.1) Sự hồ hởi phấn khởi của tác giả đối với vua.

B1 (c.2) Vẻ đẹp của vua.

C1 (c.3-5) Cuộc chinh phục của vua.

D (c.6-9) Toàn bộ sự vinh hiển của vua.

B2 (c.10-11) Vẻ đẹp của cô dâu.

C2 (c.12-15) Đám rước cô dâu.

A1 (c.16-17) Thi sĩ chúc mừng vua.

Bài thơ này được sáng tác vào dịp đám cưới thực sự của một vị vua do lòng tôn sùng của thi sĩ đối với vị vua cai trị trên trần gian này, cũng như tất cả những thi thiên về vua, thi thiên này viết về một vị vua cao cả, siêu việt hơn các vua ở trần gian, đó là Đấng Mê-si mà ai nấy đều mong đợi, nơi Ngài có mọi vinh quang hiển hách.  Cũng vậy, thi thiên viết cách rõ ràng về cô dâu của Đấng Cứu Thế, về địa vị thực sự, vẻ đẹp và sự tận tuỵ dâng hiến (IICo 11:2  Eph 5:27  Kh 14:4  19:7  21:9).

(Thi 45:1-2).  Tình cảm nồng nhiệt của thi đối với vua  Vị vua, hoặc ‘một vị vua!’, tức là một vị vua rất xứng đáng làm vua.  2  ‘Xinh đẹp’ hoặc ưu việt - biểu lộ cụ thể và chính yếu qua cách ăn nói phong nhã (Lu 4:22  Gi 7:46).  Vì vậy, tức là cách ăn nói của vua chứng tỏ vua được Đức Chúa Trời ban phước.

(Thi 45:3-5).  Cuộc chinh phục của vua: quyền cai trị trên toàn cầu  Các vua chinh phục các nước nhờ chiến tranh, do đó mà ở đây dùng nhiều từ quân sự, y như trong trường hợp ‘vị vua bình an’ trong Es 9:3,4,6.  Nhưng trong thực tế cuối rốt (Thi 149:1-9) các dân tộc các quốc gia bị chinh phục bởi gươm từ miệng Ngài (Kh 1:16  19:11-16) và bởi khí giới của phúc âm (Eph 6:15-17). Chân thật (Gi 18:37).  Hiền từ và công bình, trong nguyên ngữ Hi Bá Lai hai danh từ này được đặt ở vị trí áp cạnh, có nghĩa là ‘công nghĩa trong khía cạnh chính yếu là nhu mì’ (Xa 9:9  Mat 11:29  IICo 10:1  Phi 2:7-8).

(Thi 45:6-9).  Toàn bộ sự vinh hiển của vua  Vua được vinh hiển trong bảy lãnh vực: (i) Bản thể của Ngài (6).  Nhiều người đề nghị một số hiệu đính bản văn ở câu này, không phải vì câu văn mơ hồ, nhưng vì muốn tránh không tôn tặng đôn vua vào vị trí thần thánh.  Nhưng bản văn không có gì sai trật, lệch lạc.  Sự kiện Đấng Mê-si là Đức Chúa Trời, lại cũng tôn thờ Đức Chúa Trời vốn là một chi tiết đầy bí ẩn đối với thời Cựu Ước (7) thì phải chờ thời Tân Ước mới được sáng tỏ trong Chúa Giê-xu (Eph 1:17  He 1:8), (ii) Sự cai trị ngay thẳng của Ngài (6,7): đối với quần chúng trong chỗ công khai quan trọng (bính quyền) và đối với cá nhân, bản thân (ưa ... ghét) vua thánh khiết mọi bề, (Es 11:3-5), (iii) Người có giá trị hơn loài người (7).  Bề ngoài Ngài là một con người ở giữa loài người (Đức Chúa Trời của Chúa ... đồng loại của Chúa), nhưng bên trong Ngài còn có bản thể thần (Đức Chúa Trời) được xức dầu và đó là điều bí mật (Lu 4:18), (iv) Phong cách cao sang đầy sức thu hút (8  IICo 2:14), (v) Vị trí cao sang của Ngài (8) ở nơi đó mọi sự bên ngoài đều bày tỏ sự giàu có và mọi sự bên trong đều làm cho vua hài lòng.  (vi) Quan quân hầu cận của Ngài đều là những người đáng tôn trọng (9), các vị vua trên thế giới đều sẵn sàng cung ứng cho quan quân và gia nhân trong triều.  (vii) Lãnh vực đem lại vinh hiển cho vua là cô dâu sẽ làm hoàng hậu (9).  Bản liệt kê này bắt đầu với việc vua ngự trên ngôi (6) và chấm dứt với sự kiện cô dâu ngồi bên cạnh vua (9).

(Thi 45:10-11).  Vẻ đẹp của dâu, nhiệt thành đối với vua  Sa 2:24 nhấn mạnh là qua hôn nhân một hậu tự nam sẽ trở nên một người chồng ở đây nhấn mạnh chuyện hậu tự nữ trở thành một người vợ (Nghe, suy nghĩ ... lắng tai).  Dù xuất thân là công chúa (13), giờ đây công chúa phải dành trọn lòng tôn kính vua, đáp ứng tình yêu của vua (ái mộ, ‘muốn sở hữu’), cảm nhận sự cao trọng của Ngài (tôn kính) và công nhận địa vị của Ngài (Chúa của con).

(Thi 45:12-15).  Đám rước dâu về cung điện  Cô dâu phục tùng vua hoàn toàn (11), nhưng giờ đây được cao sang vô cùng!  Thần dân của vua (12, so sánh 5) cũng là thần dân của cô dâu, cô dâu hưởng đầy đủ mọi sự vinh hiển huy hoàng (13), nhưng trên hết, được liên hiệp trọn vẹn với vua (14) và chung sống với vua trong cung điện (15).  Cuộc dâng lễ vật của Ty-rơ (12) là hình bóng về thời kỳ của Đấng Mê-si (Thi 87:4  Es 23:1-18).  Ty-rơ điển hình cho thế gian tự phụ tự mãn hãnh diện về sự độc lập và khả năng tự lo liệu của mình, thêm với tánh ưa tích luỹ dồn chứa của cải một cách vô liêm sỉ.  Nhưng rồi đây, sẽ có ngày các vua thế gian sẽ đem của cải của mình mà dâng nộp cho vua (Kh 21:24).

(Thi 45:16-17).  Thi chúc mừng vua  Dù quá khứ có lừng lẫy huy hoàng đến đâu, vua cũng hướng về tương lai, về dòng dõi hậu tự là những người sẽ thực hiện quyền cai trị của Ngài trên toàn thế giới.

49. ĐỨC TIN VÀ SỰ KIỆN (Thi 46:1-11)

Có nhiều người liên hệ thi thiên này với Thi 47:1-9 và 48:1-14 và gợi ý rằng thi thiên viết về một buổi lễ hằng năm trong đền thờ kỷ niệm và diễn dịch vương quyền của Đức Chúa Trời trên thế gian (như ngày Thăng Thiên, chẳng hạn xem 47:5).  Một lễ hội thuộc loại này đương nhiên đặt cơ sở trên sự chiến thắng của Đức Chúa Trời đối với ‘thế gian’ trong cuộc xuất hành và trên niềm hi vọng cho tương lai cuối rốt và đỉnh điểm là Ngày của Chúa (Xem Dẫn Nhập).  Nhưng có những người khác vạch ra rằng cụm từ Hãy đến nhìn xem (8) biểu thị một lời mời đến xem xét quan sát thực sự một cuộc chiến thắng trong thực tế thay vì chỉ xem một cuộc biểu diễn (so sánh 48:12-13, đi... đếm ... chăm xem).  Chủ trương theo đám thứ hai này thì một biến cố cỡ cuộc chiến thắng của Đức Chúa Trời trên San-chê-ríp (Es 36:1-37:38) là một bối cảnh xứng hợp với thi thiên này: các quốc gia trong khối đế quốc A-si-ri liên kết nhau chống lại Si-ôn và khám phá ra Si-ôn là đối thủ đáng nể.

Thi thiên gồm có phần tuyên xưng đức tin (1-6) và phần sự kiện xác thực niềm tin (8-10).

(Thi 46:1-6). (a) Tin tưởng nơi sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời (1,2): cho dù thế giới có sụp đổ, Đức Chúa Trời vẫn hiện diện để bảo vệ (nơi nương náu) và giúp đỡ.  (b) Tin tưởng nơi mục đích của Đức Chúa Trời (3,4): ngay cả những thảm hoạ làm rung chuyển đất cũng là một dòng sông, nằm trong địa giới có mục đích đem lại niềm vui cho thành nơi Đức Chúa Trời ngự.  (c) Niềm tin nơi quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời (5,6): vừa khi Đức Chúa Trời truyền phán cơn bão do các quốc gia gây nên lập tức ngưng.  1  Nơi nương náu để trốn tránh trong đó, sức mạnh để đối phó với sự thử thách, sự hỗ trợ chực sẵn bên cạnh.  3,4 Động từ có trong câu 4 được thêm để thông ý cho bản văn Hi Bá Lai.  Nhưng nên xem câu này là một câu bình giải cho câu 3: các cuộc biến động của nước dù sôi động và gây thiệt hại ra sao cũng chỉ là một con sông.  Ngay cả một thảm hoạ có quy mô vũ trụ cũng hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát và mục đích của Đức Chúa Trời (5,6).  Còn lực lượng thù địch, sự nổi dậy của các dân tộc (6) cũng vậy thôi.  Đức Chúa Trời chỉ cần lên tiếng là quyền tể trị của Ngài có tác dụng triệt để.  5  Vừa rạng đông, khi trời sáng, rựng sáng, đến buổi sáng.  (Xu 14:24  IIVua 19:35).  7  Ở cùng chúng tôi ... là nơi nương náu.  Câu điệp khúc (so sánh 11) đóng khung chuyển động trong khổ thơ ở trên.  Vì cớ Ngài là nơi nương náu (1) nên chúng ta chạy đến với Ngài còn Ngài là Đấng ngự ở trong (5), nên Ngài đến với chúng ta.  Vì vậy mà chúng ta hát rằng Ngài ở cùng chúng tôi và Ngài cũng là nơi nương náu của chúng tôi (là nơi bất khả xâm phạm, nơi cao nhất, an toàn tối đa) đó là nơi chúng ta tìm được sự an ninh.

(Thi 46:8-10).   Đức Chúa Trời đã xử lý hiểm hoạ một cách thành công: chiến tranh chấm dứt và các phương tiện gây ra những cuộc chiến  khác đã bị huỷ phá.  Tiếng nói có quyền trên mọi người (6), giờ đây ra lịnh ngưng nghỉ (10a) và bày tỏ cho họ biết về Ngài (10b,c).  Thi Thiên 46 mời đến xem xét sự huỷ diệt của kẻ thù, còn Thi 48:1-14 mời đến tham quan một thành còn nguyên vẹn.  9  Xe, những quân xa chở vũ khí.  10  Hãy yên lặng, ‘hãy thư giãn’.  Ta sẽ, đúng ra nên dùng thì hiện tại vì trong thực tế hiện tại chính Đức Chúa Trời tối cao cho phép họ ngưng nghỉ.

50. MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI, MỘT VUA, MỘT DÂN TỘC (Thi 47:1-9)

Sự toàn thắng của Đức Chúa Trời trên thế giới (46:8,9) không nhằm làm cho nhân loại tuyệt vọng nhưng vui mừng.  47:1-9 kêu gọi thế giới ca ngợi tán thưởng Đức Chúa Trời (1).  Câu 2 bắt đầu bằng từ ‘Vì’ đưa ra lý do của lời kêu gọi.  Đức Chúa Trời là Vua trên hoàn vũ.  Những việc đầy tình thương và đầy quyền năng mà Ngài đã làm cho Y-sơ-ra-ên chứng tỏ Ngài là Vua của thế giới (3,4).  Vì vậy có thể lập lại những sự thật về Đức Chúa Trời chí cao (5).  Giờ đây đợt kêu gọi thứ hai bắt đầu theo trình tự cũ: kêu gọi ca ngợi (6, so sánh 1), nêu lý do, Ngài là Vua hoàn cầu (7-8, so sánh 2). dân tộc được ưu đãi (9, so sánh 3-4) và Đức Chúa Trời được tôn vinh (9, so sánh 5).

Nhưng, điểm nhấn mạnh trong đợt hai khác với đợt một: bởi ơn thần hựu và tuyển chọn (3,4) mà dân Y-sơ-ra-ên được đề cao trên các dân tộc trong câu 9 các dân tộc, do Vua làm đại diện, được gộp vào làm dân của Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, giao ước với Áp-ra-ham được thực thi và tất cả các dân tộc trên thế gian đều được phước (Sa 12:1-3).  Nếu Đức Chúa Trời ngự lên, ‘thăng lên’, thì phải có sự kiện Đức Chúa Trời ‘ngự xuống’ để đoạt lấy sự đắc thắng, đây là chi tiết gợi ý cho chúng ta về bối cảnh của thi thiên này, có lẽ là cuộc xuất hành (Xu 3:8) cũng có thể là sự đắc thắng của Đức Chúa Trời trên những kẻ thù của Đa-vít (Thi 18:9) hoặc (hợp tình hơn hết) là vụ San-chê-ríp (Es 36:1-37:38).  Nhưng qua mọi chi tiết trong thi thiên này Cựu Ước hướng cái nhìn vào tương lai đầy hào quang với cuộc giáng thế quan trọng của Đức Chúa Trời trong Đấng Cứu Thế để gom con cái của Đức Chúa Trời đang bị tan lạc (Gi 11:52 so sánh Es 19:23-25  60:1-3  66:20), và đến ngày thăng thiên quan trọng hơn nữa trong tương lai là khi Đấng Cứu Thế thực sự nhận ngôi vị Vua, (Eph 1:20-23) trong ngày cuối rốt (Phi 2:9-11).

51. ĐÂY LÀ ĐỨC CHÁU TRỜI CỦA CHÚNG TA. (Thi 48:1-14)

Thi Thiên này tiếp tục trong bầu không khí vui mừng sung sướng vì sự giải cứu lớn lao, nhưng có vài điều khác với mấy thi thiên trước, Thi 46:1-11 tập trung vào sự giải toả mối đe doạ, 47:1-9 tập trung vào những mục đích đầy ân sủng của Đức Chúa Trời đối với kẻ thù đã huỷ diệt, còn Thi Thiên 48 nhấn mạnh vào điểm thành thoát nạn bình an vô sự (12,13).

A (c.1-2) Đức Chúa Trời vĩ đại và thành trì vui mừng của Ngài.

B1 (c.3-7) Đức Chúa Trời vĩ đại hành động.

B2 (c.8-10) Kinh nghiệm về sự vĩ đại của Đức Chúa Trời.

A2 (c.11-14) Thành vui mừng và Đức Chúa Trời vĩ đại của thành.

Có thể thi thiên này được trình diễn tại một buổi lễ trong nhà thờ.  Chúng ta có thể nhận thấy điều này cách dễ dàng qua nội dung của thi thiên (9), cũng không thể nào không cảm nhận được tính cách mới mẻ, gần gũi của biến cố vừa kinh nghiệm qua những chi tiết mô tả về sự thất trận của các vua (3-7), qua lời tuyên bố chúng tôi đã thấy (8) và qua lời mời đi xem xét tình trạng nguyên vẹn của thành (12,13).  Thi thiên này viết về hiểm hoạ đã qua và hiện tại được giải cứu hoàn toàn.  Kinh nghiệm này không xa lạ gì đối với chúng ta, vì hiện tại chúng ta là dân sống trong Si-ôn thật (He 12:22) và lắm lúc chúng ta cũng nhận thấy những mối hiểm nguy khiến cho chúng ta kinh hãi hoảng sợ gặp phải sức đối kháng mạnh mẽ nơi Đức Chúa Trời thường xuyên hiện diện với chúng ta.

(Thi 48:1-2).  Đức Chúa Trời đại thành vui mừng của Ngài  Không phải, ‘Phước hạnh cho chúng ta biết bao vì chúng ta được sống trong thành trì được củng cố vững chắc trên núi!’, nhưng ‘Đức Giê-hô-va lớn biết bao trong thành của Ngài, trên núi thánh của Ngài,’ thật vậy, Ngài là Vua vĩ đại!  Núi thánh của Ngài, ‘núi của sự thánh khiết của Ngài,’ là nơi Ngài ngự với sự thánh khiết trọn vẹn.  Của cả thế gian, tác nhân đem lại sự vui mừng cho thế giới, thể hiện đúng theo lời hứa trong giao ước với Áp-ra-ham (Thi 47:9).

(Thi 48:3-7).  Đức Chúa Trời đại hành động  Liền theo câu trên là lời xác định về sự kiện Đức Chúa Trời ngự và bảo vệ thành (3).  Vì kìa (4) đưa ra một chứng cớ cụ thể: sự kiện các vua tháo chạy vì thua trận (4,5) được gợi hình bằng sự chuyển bụng đau đẻ (6) và bão tố (7). 3  Nơi nương náu, thành luỹ an toàn nhất (46:7).  4  Các vua (2:2), hình bóng về sự chống đối liên tục của thời gian đối với dân của Đức Chúa Trời nhưng ở đây biểu thị đợt tiến công của đạo quân đa quốc gia do San-chê-ríp đứng đầu (Es 10:8).  5  Sững sờ, ở đây là ‘kinh ngạc tột độ’ đến nỗi họ ‘tháo chạy trong kinh hãi’.  6,7  một lối nói hình bóng để diễn tả cảm xúc trong nội tâm, bị tác động kế tiếp bởi một lực lượng bên ngoài, mà bão tố được dùng làm hình bóng.  Các tàu bè của Ta-rê-si, đủ khả năng đối phó với biển cả, một thành tựu lớn lao nhất của con người trong ngành hàng hải, trở nên vô nghĩa trước những luồng gió của Đức Chúa Trời.

(Thi 48:8-10).  Kinh nghiệm về sự đại của Đức Chúa Trời  So sánh họ thấy (5) với chúng tôi đã thấy (8): hai phản ứng khác nhau trước cùng một cảnh tượng!  Họ thấy rồi kinh hoảng còn chúng ta thấy thì được an toàn trong Đức Chúa Trời.  9  Tôi tưởng đến, ngẫm nghĩ, suy ngẫm.  Cũng có thể dịch là ‘chúng tôi mường tượng’ (như trong một vở kịch) nhưng ý tưởng ‘để gợi trong tâm trí một hình ảnh / để dựa vào đó mà nghĩ ngợi’ đã được diễn tả đúng mức (Thi 50:21 so sánh Es 10:7),  10  Tay biểu tượng cho sự kiện đích thân hành động.  Sự công bình, đúng theo quan điểm của Đức Chúa Trời.

(Thi 48:11-14).  Thành luỹ vui mừng Đức Chúa Trời đại của thành  Một kết cuộc đầy kịch tính: dân thành vui mừng hớn hở và thành bình an vô sự (11-13), nhưng ngoài ra không thêm một chi tiết nào về thành nữa - vì thành làm chứng về Đức Chúa Trời là Đấng luôn luôn dẫn dắt dân của Ngài (14).  11  Sự đoán xét, những điều Đức Chúa Trời ‘xét là đáng phải làm’.  14  Đến kỳ ‘chết’ một lối nói mạnh bạo diễn tả tính cách bất biến của Đức Chúa Trời: Ngài sẽ chẳng bao giờ bỏ chúng ta, và cũng xác định là Đức Chúa Trời giải cứu chúng ta khỏi hiểm hoạ mất mạng trong tay kẻ thù thì chắc chắn Ngài sẽ giải cứu chúng ta khỏi chính sự chết.

52. SỰ CỨU RỖI CỦA ĐỨC CHÁU TRỜI VÀ NIỀM HY VỌNG ĐỜI ĐỜI (Thi 49:1-20)

Có lẽ vì cớ những từ kết của Thi Thiên 48 mà thi-thiên này được sắp vào đây.  Có đúng là khi chính sự chết đe doạ chúng ta thì chúng ta có thể trông cậy Đức Chúa Trời là Đấng hướng dẫn chúng ta?  Câu trả lời đầy giọng hân hoan là:  Đức Chúa Trời sẽ chuộc linh hồn tôi khỏi quyền âm phủ (15).  Các câu Thi 6:5  30:9  88:4-5 cũng thường được trích dẫn để chứng tỏ là tác giả Kinh Thánh Cựu Ước không ấp ủ một niềm hi vọng nào về thời gian sau cái chết, nhưng những câu này đều là lời nói của những người hiểu rằng (dù hiểu đúng hoặc sai) mình sắp chết vì cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, bị dứt bỏ khỏi Đức Chúa Trời.  Không có hi vọng gì trong cái chết đó, nhưng rõ ràng là họ không nói về tất cả mọi cái chết, mà chỉ nói về chính trường hợp của họ.  so sánh với 73:1-28 phân biệt rõ ràng các trường hợp: cái chết không có hi vọng (13,14) và cái chết trong hi vọng, đầy hi vọng (15).  Con người có thể chết như một con thú (12) hoặc có thể chết trong sự hiểu biết (20).  Đây là câu giải đáp cho vấn nạn của toàn thể nhân loại (1-4) mà tác giả thi thiên tìm cách lý giải.  Trước hết, ông nêu ra sự kiện là mọi người đều phải chết (5-12).  Rồi ông bắt đầu lý luận từ khởi điểm là sự áp bức của những người giàu có, của cải của họ cho họ quyền lực hù doạ người khác (5-6) rồi ông bắt đầu tự an ủi với ý tưởng là của cải không mua được mọi sự (7-9): với sự chết mọi số tiền chuộc mất giá trị.  Tất cả đều như nhau, khôn ngoan hoặc khờ dại, đều chết (10) rồi của cải trên đời này không mua được gì khác ngoài ra nấm mộ là cái còn tồn tại một thời gian lâu dài (11).  Nhưng, thứ hai, (13-19) chết không phải là hết: còn phải tính đến những số phận ở bên kia nấm mộ.  Sự tự lực, tự lo liệu rất được thán phục trên trần gian này, dẫn đến sự chết và sự rữa nát, trong khi những người có mối liên hệ thuận hoà với Đức Chúa Trời có thể hi vọng vào sự cứu rỗi và sự hiện diện của Đức Chúa Trời (13-15).  Do đó, không nên rúng động trước những sự bất bình đẳng trong đời sống (16) sự chết là một bàn tay ban bằng giỏi và trái ngược với những điều họ kinh nghiệm trên trần gian, không có tia sáng nào cho những người như vậy bên kia nấm mồ (17-19).  2  Hạ lưu và thượng lưu, tốt hơn nên hiểu là ‘toàn thể mọi người đều như nhau.’  Khôn ngoan, thông sáng, có hiểu biết ý thức, câu 20 trở lại với ý này - hiểu biết rằng có một sự sống khác quyền lực và thế lực không có đất dụng võ trong sự sống đó tự lực, tự lo liệu là không thể nhận được sự sống này (13) chỉ có thể nhờ Đức Chúa Trời cứu chuộc mà có được (15).  4  Tai ... giải.  Nghe trước khi nói.  Hiểu biết đến mức có khả năng tháo gỡ những vấn nạn về sự sống và sự chết phải là hiểu biết đến từ sự nghe lời của Đức Chúa Trời.  6  Đây là lần đầu tiên tác giả đề cập đến (cũng xem 13) ý tưởng mấu chốt về niềm tin cậy.  Sự ỷ lại vào chính mình là kẻ thù của cuộc sống phước hạnh sau khi chết.

7-9  Chuộc... giá chuộc, từ thứ nhất nhấn mạnh khía cạnh thương lượng giá cả, từ thứ hai nhấn mạnh khía cạnh cung ứng nhu cầu.  Nhưng không thể mua sự sống đời đời bằng bất cứ một giá nào cả.  Anh em mình.  Nguyên bản Hi Bá Lai là ‘ngay cả anh em mình’ nghĩa là ngay cả trong trường hợp tình yêu thương thúc đẩy đương sự nỗ lực hết mình không tiếc một cái gì cả đối với người anh em của mình.  Có trường hợp đóng tiền chuộc khỏi án tử hình (Xu 21:30) - nhưng không thể chuộc sự sống khỏi chính tay sự chết!  10  Ngu dại, người vô tâm vô tư đối với cuộc đời và các nghĩa vụ trong đời, người xem mình là trọng tâm và không bao giờ nhìn xa hơn những mối lợi gần cận.  Điên cuồng, vô cảm đối với những lẽ thật thuộc linh.  11  Tư tưởng bề trong chúng nó.  Ý tưởng nội tâm, thầm kín.  Tầm nhìn của họ chỉ loanh quanh trên trần gian này đến nỗi - trớ trêu thay! - ‘Họ lấy chính tên mình mà đặt cho đất ruộng của mình!’  13  Xem câu 6.  14  Âm phủ ... âm phủ, nơi ở của người đã rời khỏi đời này.  Người ngay thẳng.  Người có thể qua đời trong tinh thần thuận hoà với Đức Chúa Trời (Dan 23:10). họ đã sống cuộc đời đúng theo đường lối của Đức Chúa Trời (IVua 15:5), được Đức Chúa Trời chấp thuận (Giop 1:1), được Đức Chúa Trời cứu rỗi (Thi 7:10).  Quản hạt, thiên đàng đổi ngược mối liên hệ trước kia ở trần gian trong câu 5 (so sánh Lu 16:22-25).  Sáng ngày, buổi sáng (Thi 17:15), thức dậy sau khi chết.  15  Chuộc, Đức Chúa Trời sẽ có cách đáng giá chuộc cho con người dù con người hoàn toàn bất lực trong việc này (7).  Âm phủ, nơi ở của người sau khi chết có quyền hạn tiếp nhận và giữ lại những người chưa được chuộc (14).  Tiếp rước y như trong Sa 5:24  IIVua 2:1  Thi 73:24.  20  Thi Thiên này chú trọng bàn về người giàu, nhưng lẽ thật ở đây ứng dụng cho mọi giới: chẳng phải vì cớ có của cải mà không được hưởng sự sống đời đời đầy phước hạnh, nhưng chính vì thiếu nhận thức khôn ngoan (c.3).

53. THA BỔNG NHƯNG CẢNH CÁO (Thi 50:1-23)

Cảnh trạng trong thi thiên này là Ngày Phán Xét cuối rốt, toàn thiên ha (1, nhân loại) bị triệu đến hầu toà trước mặt Đức Chúa Trời.  Đặc biệt là nhân dân trong giao ước (4,5) phải chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời là quan toà (6).  Họ được gom thành hai thành phần: thành phần trong nghi thức tôn giáo bên ngoài (8) nhưng xao lãng sự tạ ơn, vâng lời và cầu nguyện (14,15), và thành phần thuộc làu luật pháp (16) nhưng không tuân thủ (17-21).  Thi Thiên chấm dứt (22,23) với lời kêu gọi hai thành phần này sửa đổi lại. Phần chính của bài thơ (7-21) có cùng một ‘dạng’ với buổi Lễ Lập Giao Ước trong Xu 24:3-8 trong lễ đó có nghi thức tế lễ và đổ huyết (c.4-6) rồi nghi thức đọc luật pháp (c.7,8).  Vì vậy thi thiên này rất thích hợp với lễ hội tái xác nhận giao ước, tạo cơ hội và khung cảnh cho mọi người tự rà soát niềm tin nếp sống của mình.

(Thi 50:1-6).  Triệu tập phiên toà  Sau khi xác định nơi lập phiên toà, quan toà và những người binh vực (1-2), thì ba giọng nói lần lượt thay phiên nhau lên tiếng: Đức Chúa Trời đến để phán xét (3) Ngài đến trong tư cách Đức Chúa Trời thánh khiết của Si-na-i trong lửa và bão tố (so sánh Xu 19:16-18) và sự phán xét bắt đầu từ nhà của Đức Chúa Trời (4 so sánh IPhi 4:17).  Khi phiên toà bắt đầu, quan toà đòi dân của Ngài đến trình toà (5,6).  1  Đấng quyền năng, Đức Chúa Trời, Đức Giê-hô-va.  Chỉ có một chỗ khác trong Kinh Thánh Gios 22:22 dùng ba danh xưng này cùng một lúc, đó là khi các chi phái bên kia sông Giô-đanh bị lên án là đã bỏ Đức Chúa Trời, nên họ dùng ba danh xưng này cùng một lúc để xác quyết niềm tin của họ đối với Đức Chúa Trời.  Do đó, ba danh xưng này dùng cùng một lúc ở đây cũng rất thích hợp vì thi thiên này bàn về lòng trung thành.  3  Không nín lặng.  Sự xét xử sẽ diễn ra công khai, xác định rõ ràng, chớ không phải một việc mập mờ khiến cho người ta không nhận biết đó là việc xét xử của Đức Chúa Trời.  4  Các từng trời ... đất (so sánh Phu 4:26  ISu 16:31  Thi 69:34 tiếp theo Es 1:2  Gie 2:12).  Ở đây thế giới thọ tạo đến làm nhân chứng ở phiên toà, vì đã từng lặng lẽ chứng kiến mọi hành vi (xem thêm câu 6). 5  Các người thánh.  Từ này gộp chung hai ý: ‘người yêu dấu của Đức Chúa Trời’ và ‘người được biệt riêng cho Đức Chúa Trời’.   Giao ước ... tế lễ. (Xu 24:3 tiếp theo).  6  Nếu các từng trời đã chứng kiến những sai phạm của loài người (4), thì cũng đã chứng kiến sự công bình của Đức Chúa Trời và có thể xác nhận rằng Ngài đáng làm quan toà.

(Thi 50:7-21).  Sự buộc tội  Hai phần luận tội đi tiếp sau lời hiệu triệu (8-15,16-21). 7  chứa toàn là những chủ đề của thời xuất hành: Dân ta nhắc lại Xu 7:16, tuyển dân Y-sơ-ra-ên là con trưởng nam của Đức Chúa Trời, là đối tượng của sự cứu chuộc (4:22), Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời ngươi, phản ánh 20:2, danh xưng của Đức Chúa Trời cứu chuộc.

8-15  Thành phần chủ trương trong nghi thức là những người miệt mài dâng của lễ (8) nhưng hiểu lầm mục đích của của lễ.  Họ lầm tưởng rằng chính họ đã làm giàu cho Đức Chúa Trời (9-13) rồi họ không sống đáp ứng với Đức Chúa Trời với lòng biết ơn, vâng lời và sự cầu nguyện đầy tin cậy (14,15).  8  Đức Chúa Trời không thể quở trách những việc Ngài đã truyền lịnh làm, và nếu chỉ xét về mặt các món dâng làm của lễ thì có điều gì đáng phải chê trách.  Người chủ trương theo nghi lễ rất câu nệ, kỹ tính.

9-13  Nhưng họ rơi vào hai cái bẫy: thứ nhất là Đức Chúa Trời cần đến những món mà họ đang có (9-11), và thứ hai là Đức Chúa Trời lệ thuộc vào những của lễ mà họ dâng (12,13).  Ý tưởng cho rằng tôn giáo là chuyện con người vươn lên đến Đức Chúa Trời, phục vụ Ngài và cung ứng cho Ngài là điều sai lầm nặng nề nhất của các chuyện sai lầm trong tôn giáo.  13  Các tôn giáo đa thần chung quanh dân Y-sơ-ra-ên vào thời xưa tin rằng các thần sống nhờ của lễ mà họ dâng lên.  Nay chúng ta phạm đúng sự sai lầm này nếu chúng ta để cho sinh hoạt tôn giáo bề ngoài chiếm vị trí quan trọng. 

14,15  Trái lại niềm tin chân chính là đáp ứng trong tinh thần biết ơn (về ơn lành, lòng thương xót của Đức Chúa Trời... ) vâng phục (làm trọn lời thề ước trong giao ước là tuân thủ lời truyền phán của Đức Chúa Trời, Xu 24:7), trong tinh thần cầu nguyện (tin cậy rằng Đức Chúa Trời sẽ đáp ứng đầy đủ trong mọi cảnh ngộ khó khăn trục trặc) và trong tinh thần thờ phượng, tôn sùng (qui về Ngài sự vinh hiển xứng đáng thuộc về Ngài).

16-21  Thành phần chủ trương trong giáo điều.   Họ thận trọng nói cho đúng những điều đáng nói (16) nhưng nếp sống trong thực tế lại trái ngược với điều họ nói (17-21).  Họ ghét lời của Đức Chúa Trời (17) và không tuân thủ mạng lịnh của Ngài (18a - điều răn thứ tám, 18b - điều răn thứ bảy, 19 - điều răn thứ chín) họ làm phật ý Ngài vì họ câu nệ những hình thức trống rỗng tại nhà thờ, rồi cố tình bất vâng phục Ngài trong cuộc sống, thoả hiệp trong các mối tương quan liên hệ, thối nát trong lời ăn nói, còn trong gia đình thì thiếu lòng yêu thương.  Và ngoài ra, họ còn xây dựng một quan điểm thần học là Đức Chúa Trời yên lặng là vì Ngài nhịn nhục (21), họ chủ trương rằng đối với vấn đề đạo đức Ngài cũng bất cần y như họ vậy.

(Thi 50:22-23).  Lời cảnh cáo  Đức Chúa Trời nhịn nhục với lòng thương xót.  Bản án xứng đáng được đẩy lùi vào tương lai, còn cửa cứu rỗi vẫn rộng mở (21-23).  22  Quan toà cảnh cáo thành phần những người có nếp sống không đi đôi với lời nói (16-21).  Sai lầm ở chỗ là họ quên Đức Chúa Trời chớ không phải họ xao lãng luật pháp.  Họ quên rằng Đức Chúa Trời đang hiện diện với họ, thấy hết những hành vi bất kính của họ, họ quên rằng Ngài là Đấng Thánh đã truyền lịnh cho họ phải trở nên giống như Ngài (Le 19:2).  23  Quan toà cảnh cáo những người câu nệ nghi thức rằng niềm tin thật là đáp ứng đối với những việc làm của Đức Chúa Trời (so sánh c.14), và sống có ý thức (23, ‘người nào hành động một cách có ý thức trong con đường của sự sống’).  Cuối cùng, thi thiên bắt đầu với chuyện Đức Chúa Trời triệu tập một phiên toà xử án (1-6) giờ đây chấm dứt với lời của Đức Chúa Trời hứa ban cho sự cứu rỗi (23).

Lên đầu trang