GIÓP

MỤC LỤC

GIÓP

1. LỜI MỞ ĐẦU (Giop 1:1-2:13)

Lời mở đầu gồm năm cảnh xếp đặt cách khéo léo: cảnh thứ nhất, thứ ba và thứ năm (Giop 1:1-5,13-22  2:7-13) diễn ra trên đất cảnh thứ hai và thứ tư (1:6-12  2:1-6) diễn ra trên trời.  Gióp và các nhân vật khác trên đất vẫn không biết chuyện xảy ra trên trời chỉ có chúng ta là độc giả được phép biết nguyên do bí ẩn đằng sau nỗi khổ đau của Gióp.

(Giop 1:1-5). Cảnh 1:  Gióp nhân cách công bình chính trực trong ông. Gióp không phải người Y-sơ-ra-ên, ông là ‘dân phương đông’, tức là phía đông sông Giô-đanh (Út-xơ là Ê-đôm, phía đông nam Y-sơ-ra-ên).  Tuy nhiên, ông là người thờ phượng Đức Chúa Trời chân thần, dù ông dùng danh xưng Ê-lô-him (Đức Chúa Trời) chớ không dùng danh xưng Đức Giê-hô-va là tên riêng của Đức Chúa Trời.  Gióp là người không thể khiển trách nghĩa là không thể chê trách ông ở một điểm nào, chớ không phải ông hoàn toàn vô tội.  Nhờ đức ngay lành thánh thiện ông có một gia đình lý tưởng: gồm bảy trai và ba gái, tổng cộng là mười người con, con số mười tượng trưng cho tính cách đầy trọn, vẹn toàn (chúng ta thấy tài sản của ông cũng tượng trưng bằng con số này).  Trong thế giới thời tổ phụ, lừa cái quý hơn lừa đực vì lừa cái cho sữa, và các chú lừa con cũng quý hơn lừa đực.  Tuy nhiên, đối với các con trai và các con gái của ông thì lại khác!  Mỗi đứa con trai đều có nhà riêng: vì có một người cha giàu có như Gióp họ có thể sống như những ông hoàng.  Khi họ tổ chức kỷ niệm sinh nhật, thì Gióp lo liệu cho họ hầu không có điều gì bất xứng xảy ra giữa vòng những người tham dự các bữa tiệc. Với tư cách là gia trưởng, Gióp làm thầy tế lễ dâng của lễ kẻo e con cái ông vô tình nói hay làm điều gì bất xứng chăng.  Toàn cảnh cho thấy gia đình ông sống hoà thuận và yên lành, nhưng bức tranh về sự giàu có tột bực, sung túc tột bực và thận trọng tột bực đã ngầm nhuốm màu u ám của bạo lực nhanh chóng phá tan cảnh an lạc thái bình tột bực này.

(Giop 1:6-12). Cảnh 2:  Cuộc hội họp trên trời. Trái với các cuộc hội họp của gia đình trong sạch này, trên trời diễn ra một cuộc hội họp nghiêm trọng hơn của các con trai Đức Chúa Trời.  Họ là những người hầu việc Đức Chúa Trời, tức là các thiên sứ (so sánh Es 6:1  Gie 23:18,22), trong số đó có ‘Vị Sa-tan’ (không phải là ‘Sa-tan’).  Vị Sa-tan này không phải là ma quỷ, mà là một trong các tôi tớ của Đức Chúa Trời (tên riêng Sa-tan có nghĩa là ‘địch thủ’, xem bản NIV).  Tức nhiên vị Sa-tan này là địch thủ của Gióp, nhưng trong cảnh này Sa-tan không phải là địch thủ của Đức Chúa Trời vì Sa-tan làm mọi việc tuỳ theo sự chấp thuận của Đức Chúa Trời và không thể làm được điều gì nếu Đức Chúa Trời không cho phép.  Nhiệm vụ thường trực của vị Sa-tan là nghe ngóng và quan sát địa cầu cho Đức Chúa Trời.

Gióp là một mẫu người mà Đức Chúa Trời có thể hãnh diện trong Cựu Ước, ít người được gọi bằng danh hiệu cao quý là tôi tớ ta (thí dụ: IISa 7:5  Es 42:1).  Vị Sa-tan không nghi hoặc gì về tình trạng công bình chính trực của Gióp vấn đề vị Sa-tan nêu ra là liệu Gióp sống tốt chỉ vì sự công nghĩa hoặc vì phần thưởng sẽ được nhờ sống công nghĩa.

(Giop 1:13-22). Cảnh 3:  Đợt thử thách thứ nhất. Trong cảnh này có bốn sứ giả đến báo cho Gióp bốn tai hoạ.  Các tai hoạ đến từ mọi phía (hai tai hoạ do thiên nhiên gây ra, còn hai tai hoạ khác do con người): dân Sê-ba (15) đến từ phía nam (Sê-ba) dân Canh-đê (17) đến từ hướng bắc sấm sét (ngọn lửa từ Đức Chúa Trời, 16) trong các trận bão thổi từ Địa Trung Hải ở phía tây và cơn gió mạnh (19) từ sa mạc thổi ở phía đông.  Chúng ta thấy các tai ương làm Gióp choáng ngợp đến nỗi ông chưa kịp định thần sau cú sốc này thì cú sốc khác đã đến.

Phản ứng của Gióp là không đổ lỗi cho thiên tai hoặc đổ lỗi cho kẻ thù (Đức Giê-hô-va cất đi) ông cũng không quên các phước hạnh của Đức Chúa Trời (Đức Giê-hô-va ban cho) ông cũng không nhắm mắt làm ngơ trước những điều xảy đến (chấp nhận) nhưng ông ca tụng Đức Chúa Trời về những điều tốt lành và những điều dữ (21).  Như vậy chứng tỏ Đức Giê-hô-va đúng khi tin cậy Gióp.

Lòng mẹ mà Gióp sẽ trở về lúc chết có thể hiểu là bụi đất mà con người được nắn nên.

(Giop 2:1-6). Cảnh 4: cuộc hội họp trên trời lần thứ hai. Đức Giê-hô-va loan báo rằng Gióp vẫn nhân đức, nghĩa là đời sống ông vẫn không có chỗ nào đáng chê trách như trước.  Đến lúc này vị Sa-tan nhìn nhận rằng Gióp chịu đựng nổi mọi đau khổ đến từ bên ngoài miễn là chính thân thể của ông không bị đau đớn.  Vị Sa-tan nói nếu bản thân Gióp bị hại thì vấn đề sẽ khác đi.  Câu lấy da đền da (4) có thể nghĩa là Gióp cứu được mạng sống mình là vì cung kính chấp nhận cái chết của đám con mình nhưng cũng có thể nghĩa là nếu Đức Chúa Trời đụng đến bản thân Gióp, thì Ngài sẽ thấy rằng Gióp đụng đến Ngài bằng cách rủa sả Ngài.

(Giop 2:7-13). Cảnh 5: đợt thử thách thứ hai. Chuyện kể trượt nhanh đến cao điểm khi cảnh bốn chuyển sang cảnh năm.  Cảnh bốn kết thúc với việc vị Sa-tan lui ra khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và đầu cảnh năm là vị Sa-tan hành hại Gióp.  Ngay sau khi được Đức Chúa Trời cho phép, vị Sa-tan liền hành hại Gióp, không có khoảng thời gian chuyển tiếp gì cả.

Gióp ra ngoài thành đúng theo nghi thức.  Để bộc lộ nỗi cô đơn và tình cảnh điêu tàn, ông tự tách mình khỏi xã hội và tự hoà đồng với rác rến.  Trong khi ngồi tại đó các vết lở loét đau nhức hành hại ông (7) nên ông thường lấy những mảnh sành trong đống rác để gãi cho đỡ ngứa.  Chắc chắn các vết lở loét này là một chứng bệnh ngoài da (so sánh Giop 7:5  30:30), không có đủ dữ kiện để kết luận cách cụ thể hơn rằng đây là bệnh cùi hoặc bệnh chân voi.  Gióp còn biểu hiện nhiều triệu chứng khác nữa như sụt cân (19:20), sốt (30:30), ác mộng (7:14) và mất ngủ (7:4), các triệu chứng này cũng có thể là tình trạng thần kinh xáo trộn, căng thẳng chán chường gây ra chớ không phải do bệnh da.  Còn các câu khác miêu tả sự đau đớn của ông có lẽ chỉ là lối nói bóng bẩy mà thôi, chẳng hạn như khi ông than thở rằng xương cốt ông mục nát (30:17) hoặc đang bị thiêu đốt (30:30).

Chắc hẳn bà Gióp cảm thấy chồng đã làm hại bà cách kinh khủng vì lòng tôn sùng đạo của ông đã dẫn đến hậu quả là bà mất mười đứa con, mất địa vị trong xã hội và phương kế sinh nhai.  Ấy thế mà bà buộc lòng phải chung thuỷ với ông mặc dù nay mặc cảm tội lỗi đeo cứng bà vì mối liên hệ giữa bà và ông.  Phải chăng vì căm giận Đức Chúa Trời về những điều Ngài làm cho Gióp hoặc vì mong muốn nỗi khốn khổ của Gióp sớm chấm dứt mà bà xúi Gióp rủa sả Đức Chúa Trời (9) để sớm lãnh cái chết.  Gióp không quở trách bà đã xúi ông ăn nói lộng ngôn, nhưng ông quở trách bà vì bà nói như kẻ ngu dại (xem lề bản NIV).  Ông có ý nói bà là người bất kính, tầm thường, không thấu hiểu lẽ thật phía sau các biến cố.  Còn Gióp có vẻ là người quý tộc, dù hiện nay ông đã mất hết của cải, ông thực sự không rõ lắm về tình cảnh của dân nghèo muôn thuở (so sánh 30:2-8).  Gióp trả lời cho vợ là Đức Chúa Trời có quyền tự do ban cho điều tốt hoặc điều khó khăn cũng như Ngài có quyền tự do ban cho và cất đi (so sánh 1:21).  Đây không phải là cam chịu theo ý muốn của một Đức Chúa Trời xa lạ nhưng là một niềm tin cậy rằng Đức Chúa Trời biết điều Ngài đang làm.  Khi viết câu: Gióp không phạm tội trong lời nói (10), tác giả không có ý nói ông phạm tội trong tư tưởng, nhưng ông muốn nói rằng Gióp phủ nhận điều vị Sa-tan đã khẳng định là nếu thân thể ông bị hành hại ông sẽ rủa sả Đức Chúa Trời.

Là một tộc trưởng nhiều uy thế (1:3), Gióp có bạn hữu ở các nước khác, dù chúng ta chưa xác định được quê hương của họ.  Chúng ta không nghi ngờ gì về thiện ý của họ đối với Gióp nhưng điều lạ lùng là khi thấy Gióp bị khổ đau dường ấy mà họ không an ủi ông lời nào cả.  Họ không nói với ông lời nào, nhưng xử sự như thể chết rồi.  Họ tin rằng họ đang bày tỏ niềm thông cảm (và việc chúng ta yên lặng lắng nghe người khác trong cơn phiền muộn của đương sự cũng rất có ích cho đương sự), nhưng thái độ đau buồn thầm kín của họ trong bảy ngày bảy đêm (13) chỉ là thái độ ghẻ lạnh mà thôi.  Đúng như lời họ nói sau này, họ tin rằng trong mức độ nào đó Gióp đáng phải chịu khổ đau như hiện nay.  Họ mặc nhiên chấp nhận chủ trương thần học chính thống cho rằng mọi khổ đau xảy đến là do con người phạm tội.

2. CUỘC ĐỐI THOẠI (Giop 3:1-31:40)

1. Gióp phát biểu lần thứ nhất bày tỏ nỗi buồn của mình (Giop 3:1-26)

Với lời độc thoại thứ nhất của Gióp, chúng ta có cảm tưởng như thình lình bị xô ra khỏi khung cảnh uy nghi của thiên sử thi và sự trao đổi thảo luận trong phần dẫn nhập (chương 1-2) để rơi vào khung cảnh đầy kịch tính và xao động của bài thơ (Giop 3:1-42:6), từ phần mô tả sự đau đớn bên ngoài đến nỗi khổ sâu kín trong Gióp.  Lời phát biểu chuyển động từ quá khứ (3-10) đến tương lai (20-26) từ kinh nghiệm của bản thân Gióp (3-19) đến kinh nghiệm của con người nói chung (20-22).

Lời phát biểu không đề cập đến ý nghĩa của sự khổ đau, không nêu lên vấn đề Gióp có đáng chịu khổ đau hay không, cũng không truy tìm căn nguyên của khổ đau.  Gióp không đổ lỗi cho mình, cũng không đổ lỗi cho Đức Chúa Trời.  Mãi về sau ông mới làm điều này, nhưng ở đây chúng ta chỉ thấy Gióp, một người sôi sục trong nỗi khổ đau cùng cực.

(Giop 3:3-10).  Rủa sả ngày hoài thai ngày sanh. Lời rủa sả luôn luôn nhắm vào tương lai, nhưng Gióp tuyệt vọng đến độ rủa sả quá khứ.  Dĩ nhiên, rủa sả quá khứ là hoàn toàn vô hiệu, vì không thể nào thay đổi được quá khứ.  Ông ao ước xoá tan ngày hoài thai và ngày sanh của ông (4-6a) (thi ca coi hai sự kiện này là một) để ngày này không có trong niên lịch (6b, c) ông ước chi các pháp sư có bùa ếm những ngày này thành những ngày không may hầu cho cha mẹ không hoài thai ông hoặc sanh ra ông (8a, 10a). 

8  Vài thầy pháp ngày xưa tin rằng họ có thể xách động Lê-vi-a-than, quái vật ở biển (so sánh Thi 104:26  Es 27:1) và con rồng là loài có thể nuốt mặt trời, do đó tạo ra tình trạng tối tăm trong nhật thực.

(Giop 3:11-19).  Ao ước chết lúc sanh ra. Lời phát biểu của Gióp chuyển từ nỗi tuyệt vọng đến thắc mắc.  Vì rõ ràng là chẳng có ai rủa sả cái ngày ông ra đời nên ông xoay qua chất vấn, nếu ông buộc phải ra đời, vì sao ông không được chết lúc mới lọt lòng (11a) hoặc ít nhất là chết lúc còn bé (16).  Đối với ông trong lúc này thì chết ngọt ngào hơn là sống, và ông so sánh cảnh yên tịnh, an nghỉ ở âm phủ với nỗi lo lắng, phiền muộn hiện tại của ông (13-19).

14  Các vua vùng Cận Đông thường khoe rằng họ đã tái thiết các đô thị nổi tiếng bị đổ nát đời xưa.

(Giop 3:20-26).  Điều ẩn của nỗi khổ đau. Gióp tiếp tục nêu lên vấn nạn bao quát hơn.  Lúc này ông không chỉ thắc mắc tại sao ông vẫn phải sống, một khi đã phải ra đời, mà ông thắc mắc vì sao người ta không thể chết khi họ đã sẵn sàng chết (20-23).  Trong những câu cuối (24-26) ông trở lại nói về mình.  Toàn thể đoạn thơ kết thúc với cùng một ý xuyên suốt từ đầu đến cuối: trái với điều lòng ông ao ước là được yên nghỉ ở âm phủ, cuộc sống của Gióp không bình yên, không an tịnh, cũng không yên nghỉ, mà chỉ có sự rối loạn (26).

23  Trước kia, hàng rào bảo vệ của Đức Chúa Trời trên đời sống ông (so sánh Giop 1:10) khiến cho ông giàu có nhưng giờ đây ông muốn chết, nên ông chỉ có thể thấy rằng việc Đức Chúa Trời bảo toàn mạng sống của ông chỉ là một cách kéo dài sự khổ đau mà thôi hàng rào đã trở thành bức tường ngục tù chớ không còn là bức tường bảo vệ nữa. 

25  Nỗi lo sợ trước kia của Gióp về tai hoạ có thể sẽ xảy đến giải thích sự kiện ông hết sức lo liệu để bảo đảm gia đình ông không vướng vào tội lỗi (1:5 so sánh 15:20-26).

2. Ê-li-pha phát biểu lần thứ nhất: ‘Hãy kiên nhẫn mọi việc sẽ tốt đẹp’ (Giop 4:1-5:27)

Tương tự như các bạn khác của Gióp, Ê-li-pha có ý định nâng đỡ Gióp trong cơn khốn khó, và chẳng có người bạn nào đem lại cho Gióp niềm an ủi bằng Ê-li-pha.  Nhưng lời ông nói cũng chứa đựng sự mỉa mai như các lời nói khác của các bạn khác vì tác giả không chấp nhận quan điểm có tính cách giáo điều của đám bạn này là mọi trường hợp khổ đau đều là thích đáng nên tác giả cố ý mô tả sự an ủi của họ là ác độc.

Điểm chính Ê-li-pha muốn nói với Gióp là: Chúng tôi biết rõ ông là người tin kính.  Vì thế ông không nên ngã lòng vì rốt cuộc chẳng bao giờ người trong sạch phải chịu khổ.  Bây giờ ông đang chịu khổ là vì ông chưa trọn vẹn nên ông cần được ‘sửa trị’ và ‘kỷ luật’ (5:17), nhưng mọi chuyện này sẽ sớm chấm dứt vì ông vốn là người tốt (4:6).  Tóm lại, sứ điệp của ông đối với Gióp là: ‘Chỉ cần kiên nhẫn mọi việc sẽ tốt đẹp’.

(Giop.4:2-6). Ông người tin kính. Lời mở đầu của Ê-li-pha cho thấy ông thật sự quan tâm đến Gióp ông có thái độ tôn trọng Gióp và thiếu điều xin lỗi Gióp trước khi nói (2a).  Ông không tỏ vẻ khinh miệt Gióp khi nhắc lại rằng biết bao lần chính Gióp đã an ủi kẻ khác trong cảnh ngộ tương tự (3-4) ông nhẹ nhàng trách Gióp: ‘Nhưng bây giờ hoạn nạn xảy đến cho ông, thì ông rối lòng’ (5).  Lý do khiến Gióp hi vọng Đức Chúa Trời sớm phục hồi ông chính là lòng sùng đạo chân thành động viên người khác.

(Giop 4:7-11).  ‘Người tội chẳng bao giờ mất’. Khi mô tả kẻ ác, Ê-li-pha không có ý nói Gióp là một người ác trong đám họ.  Trái lại, ông nói với Gióp rằng không có lý do gì khiến Gióp phải lo lắng vì Gióp không phải là kẻ ác, tức là kẻ gieo buồn rầu và gặt khổ đau (8, so sánh Os 10:13  Ga 6:7).

(Giop 4:12-21).Nhưng ngay cả người tin kính cũng không trọn vẹn Để chứng minh lập luận cho rằng người tin kính cũng không trọn vẹn, Ê-li-pha kể lại và rút ra kết luận (17-21) từ một dị tượng ban đêm (12-16).  Ê-li-pha cho rằng mình khá uyên bác với khả năng hiểu biết vấn đề tiên tri.  Có lẽ tác giả muốn chọc cười một chút với chuyện Ê-li-pha xưng là do Đức Chúa Trời khải thị trong khi hầu hết những người thường không có chút vốn liếng thần học nào cũng mặc nhiên biết rằng: ‘Loài người hay chết há công bình hơn Đức Chúa Trời ư?’ (17).  Cho dù câu này được dịch là: ‘Loài người hay chết có thể nào công bình (tức là, tuyệt đối vô tội) trước mặt Đức Chúa Trời chăng?’, thì ý tưởng này thường và chẳng có gì là bí hiểm.  Hơn nữa, nêu vấn đề này ra thì không phù hợp với trường hợp của Gióp.  Vì sự khốn đốn ông đang phải chịu không phải là chuyện nhỏ nhoi sơ sài vì chưa đạt mức trọn vẹn tuyệt đối trái lại ông hoàn toàn bị triệt phá, điêu tàn.  Dù ông không bị giết (bị huỷ diệt như kẻ ác ở câu 9), nhưng trong một số phương diện ông còn thảm hại hơn kẻ ác vì ông muốn chết, nhưng Đức Chúa Trời nhất quyết bắt ông sống (Giop 3:20-23).

14  Ê-li-pha thấy chiêm bao hoặc thấy dị tượng khi còn thức tỉnh khiến cho ông hoảng sợ vì tiếp xúc với sự hiện hữu của thế giới siêu nhiên. 

18  Ngay cả các cơ binh trên trời tức các thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng không tuyệt đối tin cậy được (ở đây không có ý nói về các thiên sứ ‘ác’) huống chi loài người là loài khác với thiên sứ tức là loài có thể chết trong vòng một ngày thì lại càng không thể tin cậy được (20a) và là loài tầm thường (so với thiên sứ) đến nỗi có thể chết đi mà chẳng có ai biết đến (20b) và chẳng bao giờ đạt đến sự khôn ngoan mà Ê-li-pha và các bạn khác đã có (21).

(Giop 5:1-7).  ‘Khổ đau điều tất yếu Ê-li-pha không tin nổi chuyện Gióp muốn chết (như Gióp nói trong chương 3) nên giờ đây ông cho rằng chắc Gióp đang tìm cách thoát khỏi nỗi khổ đau.  Ê-li-pha nói nếu đây là điều Gióp đang tìm kiếm, thì ông nên bỏ cuộc đi, vì không có quyền lực nào, kể cả các thiên binh, có thể giải thoát ông khỏi sự hình phạt này.  Đau khổ là chuyện đương nhiên đối với con người con người luôn luôn gây phiền muộn cho chính mình (nên dịch c.7 là: ‘Chính con người gây khổ đau cho mình’).

Chủ đề nhân quả rất rõ ràng trong trường hợp kẻ ngu dại (2) là kẻ bị tiêu diệt vì oán giận và đố kỵ.  Ê-li-pha không chủ ý nói Gióp là kẻ ngu dại, nhưng chúng ta phải cau mày trước vẻ vô tình của Ê-li-pha đối với nỗi bất hạnh của Gióp khi ông nói nhà của kẻ ngu dại bị rủa sả (3 so sánh 25)!  Ông muốn nói ở đây là ngay cả người công bình như Gióp cũng không hy vọng hoàn toàn thoát khỏi nỗi khổ đau - sự đau buồn không tự thân mà có (6) nhưng do con người gây ra (7).

(Giop 5:8-16).  ‘Mọi điều ông thể làm giao phó trường hợp của ông cho Ngài Ê-li-pha trở lại vấn đề ông bàn ở trên: Gióp vốn là người tin kính nên Gióp đừng ngã lòng (Giop 4:2-6) rồi khuyên Gióp phải kiên nhẫn: Ê-li-pha nói nếu ở hoàn cảnh ông, tôi sẽ giao duyên cớ của tôi vào tay Đức Chúa Trời (8) vì Ngài có thể thay đổi số phận (11-16).  Trong phần trình bày cách sống động về công việc của Đức Chúa Trời, Ê-li-pha bị lôi cuốn vào giọng diễn thuyết.  Phần lớn những điều ông đề cập đến đều không thích hợp với hoàn cảnh của Gióp điểm duy nhất liên can đến Gióp là kẻ thấp hèn và kẻ nghèo thiếu (11, 15) có thể hy vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ thay đổi số phận bất hạnh hiện tại một cách thần kỳ.

8  Ít ra Ê-li-pha nói được một điều hợp lý là: ‘Nếu là tôi, tôi sẽ kêu cầu Đức Chúa Trời’.  Đây là lời khuyên của bạn bè mà Gióp đã làm theo, dù thực ra nếu không có Ê-li-pha khích lệ Gióp vẫn sẽ kêu cầu Đức Chúa Trời.  Duyên cớ của ông là nỗi bất hạnh hiện tại và vụ việc của ông về phương diện pháp lý mà chúng ta sẽ nghe Gióp nêu ra cho Đức Chúa Trời nhiều lần trong các lời phát biểu sau này (so sánh 7:20-21  10:18-22  13:20-23). 

11-16  Trong các câu này, chúng ta thấy sự tàn phá của Đức Chúa Trời được đóng khung trong các hành động cứu rỗi của Ngài (10-11,15), cho nên tác dụng chính yếu của bức tranh mô tả về việc làm của Đức Chúa Trời là đem hi vọng đến cho kẻ nghèo (16 so sánh Lu 1:51-53).

(Giop 5:17-27).  ‘Nếu ông tìm cầu Đức Chúa Trời, Ngài sẽ phục hồi ôngÊ-li-pha khuyên Gióp rằng nếu ông kiên nhẫn chờ đợi thì sẽ thấy sự khổ đau mà ông đang chịu chỉ nhằm rèn luyện mà thôi (17) và ‘Đấng làm cho thương tích cũng là Đấng chữa lành vết thương’ (18).  Ê-li-pha cố tình kết thúc lời phát biểu ở điểm tích cực.  Ông tưởng đâu (thiệt là mỉa mai) ông đang gia ơn cho Gióp khi nhận định rằng kể ra tình cảnh của Gióp còn phước đấy!  Ông nói: ‘Phước cho người được Đức Chúa Trời sửa phạt’ (17), cứ như thế ông có quyền bảo với Gióp rằng mất gia đình và của cải là chuyện phước hạnh biết bao.

Tuy nhiên, thực tế không hoàn toàn lạc quan đến thế: Gióp phải đáp ứng mấy điều kiện.  Ông không được xem thường kỷ luật của Đấng Toàn Năng (17) và phải nghe theo lời khuyên của Ê-li-pha và ứng dụng cho bản thân mình (27).  Nhìn sơ qua, thì các điều kiện này không có vẻ gì là khó đáp ứng, nhưng lẽ dĩ nhiên là Gióp không thể nào chấp thuận.  Làm sao Gióp có thể chấp nhận kỷ luật của Đức Chúa Trời được một khi ông không coi nỗi khốn khổ mà ông đang chịu là biện pháp kỷ luật mà là chuyện bất công ác độc  Làm sao ông áp dụng lời khuyên của Ê-li-pha cho chính bản thân ông được khi ông biết những lời nói đó chỉ là sản phẩm của tư duy thần học và hoàn toàn không đúng với kinh nghiệm trong thực tế?

3. Gióp phát biểu lần thứ hai: ‘Đức Chúa Trời ôi, xin để tôi yên’ (Giop 6:1-7:21)

Lời phát biểu của Ê-li-pha không đụng đến nan đề của Gióp chút nào cả.  Vì thế nhìn chung coi như Gióp lờ đi.  Đây là nét đặc thù của sách, với mấy người góp chuyện nhưng không ăn nhập gì với nhau.  Rõ ràng là sách muốn vạch ra những nỗi khó khăn trong việc đem thần học phổ biến vào đời sống thực tế.

Có ba chuyển động chính trong phần phát biểu linh động này.  Trong phần thứ nhất, Gióp không chủ ý nói riêng với ai cả (Giop 6:1-13), ở đây Gióp vượt quá phạm vi của ông trong chương ba.  Trong chương ba ông ước là phải chi ông không hề ra đời, và thắc mắc rằng, một khi buộc lòng ông phải ra đời tại sao cứ bắt ép ông phải tiếp tục sống.  Và bây giờ ông mong được chết ngay tức khắc (6:8-9).  Trong phần thứ hai (6:14-30), Gióp nói với các bạn của mình, trách cứ rằng họ ăn gian đối với ông một điều mà ông vẫn tưởng sẽ nhận được từ nơi họ: tức là niềm thông cảm trong tình thân.  Trong phần thứ ba (7:1-21) bất ngờ ông hướng về Đức Chúa Trời.  Ông không đòi hỏi Đức Chúa Trời điều gì cả ngoại trừ ông xin Ngài để cho ông yên thân để ông sống cho hết những ngày còn lại mà không bị đau đớn nữa.  Nhưng, dĩ nhiên chuyện đâu có đơn giản như thoạt nhìn vì nội chuyện ông yêu cầu Đức Chúa Trời bỏ mặc ông thì thực ra ông đang đến cầu khẩn Ngài.

(Giop 6:1-13).  ‘Nguyện Đức Chúa Trời giết tôi chết đi!’ Lúc đầu Gióp thực sự không nói với Đức Chúa Trời, mà ông chỉ ao ước một cách tuyệt vọng là Đức Chúa Trời mau chóng kết thúc cuộc đời khổ đau của ông đi.  Câu 8-9 là câu quan trọng trong phân đoạn này: ‘Ôi! Chớ chi lời sở cầu tôi được thành, và Đức Chúa Trời ban cho tôi điều ao ước, chớ chi Đức Chúa Trời đẹp lòng chà nát tôi’.  Gióp cảm thấy rằng nếu ông được chết liền lúc này trước khi sự đau khổ đẩy ông rơi vào tội phỉ báng thì ít nhất ông cũng được an ủi là không từ chối các lời phán, các điều răn của Đấng Thánh.

Ê-li-pha kêu gọi Gióp hãy kiên nhẫn, nhưng muốn kiên nhẫn phải có năng lực, nhưng giờ đây Gióp chẳng còn chút năng lực nào (11-13).  Ê-li-pha nhận biết tầm cỡ của gánh nặng đang đè lên Gióp.  Phải chi có thể đem sự khổ đau của ông lên cân thì sẽ thấy là nặng hơn cát biển (3) cho nên chẳng có gì lạ khi ông ăn nói mãnh liệt như vậy (hoặc đúng hơn là ‘tuyệt vọng’).  Gióp không xin lỗi về chuyện gì cả, cũng chẳng thừa nhận điều gì.  Đúng như trong lời mở đầu (1:21  2:10), ông công nhận rằng nỗi khổ đau của ông rốt cuộc là do Đức Chúa Trời ở đây trong đoạn thơ này sự đau đớn của ông là hậu quả của mũi tên tẩm thuốc độc của Đấng Toàn Năng (Shaddai) còn nỗi kinh khiếp của Đức Chúa Trời dàn trận nghịch cùng ông (4).  Không phải sự đau đớn thể xác hoặc sự dày vò tinh thần đè bẹp ông xuống mà vì ông nhận thức rằng ông đã trở nên kẻ thù của Đức Chúa Trời.

5-6  Gióp kêu la là có lý do, cũng như con lừa hí lên hoặc con bò rống lên vì nhu cầu của chúng không được thoả mãn.  Nhu cầu của Gióp không được thoả mãn - ít nhất là Ê-li-pha không thoả mãn Gióp, vì lời nói của Ê-li-pha nhạt nhẽo, và lời khuyên của ông còn khó nuốt hơn là lòng trắng trứng gà (6).

11-13  Gióp cảm thấy yếu đuối là do tình trạng tâm lý yếu đuối chớ không phải vì thể xác yếu đuối.  Ông không còn năng lực nội tại lòng tự trọng đã bị xói mòn vì ông không tìm thấy ở trong ông một nguyên nhân nào khiến Đức Chúa Trời đối xử với ông cách nhẫn tâm như vậy.

(Giop 6:14-30).  ‘Các ông đám bạn hữu không tin cậy Gióp vừa mới than chẳng còn chút năng lực nào cả (13), thế mà giờ đây ông chuyển giọng cay đắng và mỉa mai công kích đám bạn.  Nỗi buồn khổ biến thành cơn giận.  Mở đầu ông gián tiếp mô tả họ qua hình ảnh dòng suối lúc có nước lúc không hoặc là khe suối cạn không hề có nước khi người ta cần nước.  Ông lên án họ vì họ không trả món nợ bằng hữu là chân tình hoặc ‘trung thành’, tức là trung thành với bạn bè và chấp nhận tình bạn cách vô điều kiện trong nghịch cảnh cũng như thuận cảnh.  Nhưng bạn của ông hiểu lòng trung thành theo ý khác.  Họ bày tỏ thiện cảm và nâng đỡ ông nhưng rất duy thực.  Họ không thể nói: ‘Dù phải hay trái, bạn vẫn là bạn của tôi’.  Khi mà nỗi khốn đốn của Gióp chứng tỏ rành rành là ông đã sai trái và ông đang bị Đức Chúa Trời sửa trị vì việc làm sai trái nào đó của ông.  Chẳng lẽ họ bỏ qua những bằng cớ mắt thấy tai nghe cùng vốn liếng tri thức của mình để vực Gióp trong khi mà họ tin rằng ông chỉ là một người tự xưng mình công bình cách giả mạo sao? 

21  Gióp than rằng các bạn của ông sợ nếu gần gũi với ông quá thì họ cũng sẽ bị Đức Chúa Trời đoán phạt.  Họ không đối xử với ông trong vai một người bạn mà là một người đi mượn tiền: họ khuyên đủ điều, nhưng không chìa ra đồng nào cả (22-23)! 

24  Gióp yêu cầu họ vạch cho ông thấy vì tội ác nào mà ông phải chịu khổ đau.  Chỉ cần họ làm việc đó là ông nín lặng.

(Giop 7:1-21) Hỡi Chúa! Sao Ngài để tôi sống?’ Một lần nữa, Gióp cầu chết cách mãnh liệt, nhưng lần này lời cầu chết đan xen với kinh nghiệm của ông về cuộc đời phù phiếm và khốn khổ của con người nói chung và đi kèm với lời van xin Đức Chúa Trời để cho ông chết bình yên.

(Giop 7:1-10).   Đến đây Gióp bộc lộ tâm trạng tuyệt vọng của chính mình về cuộc sống làm người nói chung: số phận chung của con người chỉ là lao dịch khổ nhọc (1). Bây giờ nỗi thất vọng không khiến ông tức giận mà khiến ông than vãn về cuộc sống lao khổ vô ích.  Các ngày của ông trôi nhanh như con thoi của thợ dệt (6) cũng là thời gian của nhân loại nói chung cuộc sống chẳng qua chỉ như hơi thở (7) là phần số của con người và sự kiện người ta xuống mồ rồi không trở về (9) cũng là chuyện chung của nhân loại.  Thế mà nghịch lý thay cuộc sống ngắn ngủi đến thế lại có thể buồn tẻ như vậy.  Cái chết - là biến cố mà Gióp hằng mong mỏi - thì dường như bị đình hoãn vô thời hạn đến nỗi ông trở nên như một tên nô lệ mong trời tối (2).  Biến chuyển duy nhất mà ông biết đến là tình trạng vảy chốc trên người ông, ngày càng cương mủ, rồi một ngày kia vỡ ra (5).

(Giop 7:11-16).   Gióp có hai lý do cho lời thỉnh cầu kỳ lạ: xin Đức Chúa Trời để ông ở một mình (16).  Lý do thứ nhất là cuộc đời khốn khổ của ông chịu nhiều đau đớn (1-5) lý do thứ hai là cái chết cận kề (6-10).  Ông không còn gì để mất nữa.  Nhưng điều ông than phiền là Đức Chúa Trời không bỏ mặc ông mà lại còn đối xử với ông như quái vật từ vực thẳm trong cổ tích, Yam (biển cả) hoặc Tannin (quái vật vực sâu), bị Đức Chúa Trời bịt miệng (so sánh Giop 38:8-11  Es 51:9).  Thật buồn cười khi Đức Chúa Trời nghĩ rằng Gióp có thể đe doạ vũ trụ của Ngài, thế nhưng ông vẫn bị Ngài chằm chặp canh chừng y như đối với các thế lực gây rối loạn khác (12).

(Giop 7:17-18).   Khi cay đắng nhại lại Thi Thiên 8, Gióp quay về với chủ đề bất cân xứng (12).  Trong Thi 8:1-9, câu ‘Loài người là gì?’ tỏ ý thán phục biết ơn khi so sánh con người với vũ trụ này thì con người vốn nhỏ bé lại được Đức Chúa Trời quan tâm.  Trong sách Gióp, câu ‘Loài người là gì?’ là lời trách móc Đức Chúa Trời vì Ngài chú ý đến loài người không phải vì lợi ích cho họ mà chỉ để kiểm soát liên tục, tra khảo tàn nhẫn, đối xử ác nghiệt vô lý và hành hạ họ một cách bịnh hoạn.

(Giop 7:19-21).   Gióp chẳng là gì cả chỉ là một trong đám người vô nghĩa.  Giả sử ông thực sự có phạm tội liệu tội ấy có phương hại gì tới Đức Chúa Trời đến nỗi Ngài phải trừng phạt ông nặng nề đến thế không?  Dầu sao thì chẳng bao lâu ông cũng chết.  Nếu Ngài hoãn thi hành bản án một thời gian thì Ngài có thiệt hại gì chăng?  Không phải tội lỗi là chuyện vụn vặt, không đáng kể, nhưng việc làm bị gán cho là tội lỗi và vì việc đó mà ông phải chịu đau khổ, thì không thể nào đáng cho Đức Chúa Trời quan tâm tới mức đó.  Sao Ngài không ‘bỏ qua’ (thay vì tha thứ) các việc mà người ta cho rằng Gióp đã vi phạm?  Chúng ta nên chú ý là Gióp không thú nhận tội lỗi nào cả.

4. Binh-đát phát biểu lần thứ nhất: ‘Nếu ông vô tội ông không chết đâu’ (Giop 8:1-22)

Như tất cả các bạn khác, Binh-đát tin rằng khổ đau là sự hình phạt và cái chết của các con của Gióp chứng tỏ rằng họ có tội.  Ê-li-pha cho rằng trên căn bản Gióp là người công nghĩa dù ông tạm thời bị Đức Chúa Trời sửa phạt vì một số lỗi lầm mà con người không thể nào tránh nổi.  Nhưng Binh-đát không tin tưởng bằng Ê-li-pha là Gióp công nghĩa.  Ông tỏ lời an ủi Gióp nhưng với điều kiện: ‘nếu ông trong sạch và ngay thẳng’ (6).  Binh-đát không thù hằn gì Gióp, nhưng ông thúc giục Gióp tra xét lương tâm mình vì chỉ có sự vô tội mới giải cứu ông khỏi các tai nạn.

Phần lớn bài phát biểu của Binh-đát (8-19) triển khai chủ đề không có hậu quả nào mà không có nguyên nhân cái chết của kẻ ác minh hoạ cho chủ đề này.  Ông kết thúc bài phát biểu với ý tưởng khá hào hứng (20-23), và sứ điệp ông nói với Gióp là: ‘Nếu ông vô tội, ông chắc không chết đâu’.

(Giop 8:2-7).  ‘Cái chết của các con của ông Trên căn bản Binh-đát quan niệm rằng Đức Chúa Trời không bóp méo công lý (3).  Nếu Đức Chúa Trời đem khổ đau đến thì chắc chắn là vì cớ tội lỗi và chắc chắn là đích đáng.  Trường hợp của con cái Gióp củng cố cho quan điểm của Binh-đát: ‘Nếu con cái ông phạm tội cùng Ngài, thì Ngài đã phó chúng nó vào hình phạt của tội lỗi’ (4).  Trái lại, chính Gióp không chết, cho nên chắc chắn ông không phạm tội gì đáng phải chết, Gióp chỉ cần cầu nguyện ngửa trông Đức Chúa Trời (5), nếu ông trong sạch và ngay thẳng, lời cầu nguyện của ông sẽ được nhậm.  Đối với Binh-đát mọi chuyện rất rành rọt: số phận con người hoàn toàn phù hợp với phẩm giá của họ.

(Giop 8:8-19).  Không khói nào không lửa, như trường hợp của kẻ ác đã chứng minhBinh-đát vin vào truyền thống (như Ê-li-pha đã làm trong 5:27) bởi vì với số vốn kinh nghiệm riêng của mình ông không thể nào lý giải nan đề thần học trong nỗi khổ đau của Gióp.  Với hai phân đoạn, (11-13,14-19) mỗi phân đoạn đều kèm theo lời kết luận riêng, Binh-đát dùng hình ảnh trong cõi thiên nhiên để mô tả số phận của những kẻ vô tín.  Ông muốn nói ở đâu có hình phạt, thì ở đó chắc chắn có tội lỗi.  Phần thứ nhất minh chứng cho quan điểm này bằng hình ảnh cây cối chết khô vì thiếu nước, đồng thời cũng nói bóng về số phận của kẻ ác.  Phần hai mô tả niềm tin tưởng của kẻ ác là mong manh và không bền bỉ như màng nhện (14-15), và hình ảnh cây tróc gốc nói bóng về sự huỷ diệt kẻ vô tín.

(Giop 8:20-22).  ‘Ông vẫn còn hy vọng Binh-đát kết thúc với một ý đầy hy vọng: ‘Đức Chúa Trời không loại trừ người trọn vẹn’ (20).  Và rõ ràng ông tin rằng Gióp có thể đúng là mẫu người đó.  Nhưng đối với tình cảnh của Gióp thì sự khôn ngoan của Binh-đát thật nông cạn và còn có tính cách mỉa mai thâm độc nữa.  Vì nếu Gióp làm theo lời Binh-đát khuyên là ‘cầu khẩn cùng Đấng Toàn Năng’ (5) và dùng lòng sùng kính của mình để tự thoát ra khỏi cảnh khổ đau, thì liệu ông có vô tình chứng tỏ rằng vị Sa-tan có lý khi cho rằng Gióp kính sợ Đức Chúa Trời chỉ vì lợi lộc?

5. Gióp phát biểu lần thứ ba: ông nhìn nhận là không thể ép buộc Đức Chúa Trời xử sự công bình (Giop 9:1-10:22)

Với các chương này chúng ta bước vào bầu không khí căng thẳng hơn.  Qua các chương này và cho đến lúc này chúng ta nghe lời phát biểu mạnh mẽ nhất của Gióp về cảm giác bất lực (chẳng hạn Giop 9:3-4,14-20,30-31) và cảm tưởng bị mắc bẫy (9:15,20,27-31).  Trên hết, chúng ta thấy ông tin rằng trong suốt cuộc đời của ông Đức Chúa Trời thực sự không quan tâm đến lợi ích của ông mà chỉ nhằm buộc tội ông: đây là điều Ngài giấu trong lòng ... Nếu tôi phạm tội, Chúa sẽ tra xét tôi’ (10:13-14).  Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Gióp kết thúc phần phát biểu bằng cách nhắc lại niềm ao ước là ông không hề chào đời (10:18-19 so sánh 3:3-13) và nài xin Đức Chúa Trời để ông yên thân trong vài ngày còn lại trước khi chết (10:20-22 so sánh 17:16).

Tuy nhiên, bài phát biểu này không phải đơn giản lập lại bài trước.  Vì ở đây Gióp cũng bắt đầu khơi ra vấn đề làm sao minh oan, nghĩa là có cách nào chứng tỏ cho mọi người thấy rằng rốt cuộc ông không sai trái gì cả.  Ông thừa nhận không thể hy vọng vào việc nài ép Đức Chúa Trời xác nhận ông vô tội (9:2), vì vậy đến cuối bài phát biểu nỗi vô vọng đó đẩy ông vào tình trạng tuyệt vọng mù mịt (10:15-16).  Nhưng nỗi tuyệt vọng đó biến thành một khát vọng mà ông sẽ theo đuổi cho đến cùng, khát vọng này có sức thu hút ông càng ngày càng mạnh với đà diễn tiến của sách (so sánh 13:13-23  16:18-21  19:23-27  23:2-14).

Gióp không có ý nói Đức Chúa Trời bất công, dù một vài câu có thể bị hiểu như thế (9:16,20,22,24,30-31  10:15).  Thật ra, ý của ông là khó lòng ép uổng Đức Chúa Trời hành động - dù là xin Ngài đứng ra minh oan cho ông thì cũng chỉ là việc vô vọng thôi.  Nỗi khổ đau hiện nay của ông là bằng cớ lặng lẽ chứng tỏ cho hàng xóm láng giềng rằng chắc hẳn ông là một người tội lỗi ghê gớm vì như  các bạn của ông, họ cũng tin vào giáo lý báo trả tức là khổ đau là vì can tội.  Vì thế sự minh oan mà Gióp cần và mong mỏi không phải chỉ là một bản tuyên rao đơn giản là ông vô tội mà là phục hồi ông vào địa vị trong xã hội cách công khai, chữa lành bịnh cho ông và trả lại tài sản cho ông.

(Giop 9:2-13).  ‘Tôi không thể buộc Đức Chúa Trời minh oan cho tôi’  Khi nêu câu hỏi: ‘Loài người hay chết làm thế nào công nghĩa trước mặt Đức Chúa Trời?’, Gióp không có ý nói như Phao-lô sẽ nói về việc làm thế nào được ‘xưng công bình’ hoặc công nghĩa trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng ý của Gióp là làm thế nào một người công bình có thể được Đức Chúa Trời ‘xác nhận là công nghĩa’ hoặc minh oan trước mặt mọi người.  Vì Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời chẳng phải là loài người sự thông sáng và quyền năng vô hạn của Ngài (4) được biểu thị trong việc Ngài kiểm soát vũ trụ này.  Gióp tập trung nói về các việc làm của Đức Chúa Trời đầy quyền năng nhưng trong phương diện tiêu cực - Ngài di chuyển núi non, làm rung động trái đất, làm tắt ánh sáng của ngôi sao (5-7) - không phải nhằm mô tả Ngài là Đức Chúa Trời của sự hỗn độn, nhưng nhằm nhấn mạnh rằng Ngài toàn quyền tự do hành động, hoặc ban cho phước hạnh hoặc giáng hoạ.  Vì Đức Chúa Trời có toàn quyền tự do nên người ta không thể nào hiểu được Ngài (Ngài làm những việc lớn lao không sao dò xét được 10), Ngài không chịu trách nhiệm với ai cả (‘Ai sẽ nói với Ngài rằng: Chúa làm chi vậy?’ 12) và không ai kềm chế Ngài được (Đức Chúa Trời không hồi cơn giận của Ngài, nếu Ngài quyết tâm giữ ý định đó 13). 

3  Ở đây có dáng dấp một toà án, có nguyên đơn tố cáo và có bị cáo đối chất bằng những câu hỏi.  Giả dụ Gióp kiện Đức Chúa Trời ra toà, nói bóng vậy thôi, Gióp e ngại là ông sẽ không thể nào trụ được trước những câu hỏi đối chất và những lý lẽ của Đức Chúa Trời.  9  Không thể định vị và nhận diện bốn ngôi sao này, nhưng chắc chắn đây là các vì sao rực rỡ nhất giữa đám tinh tú.  13  Ra-háp là tên riêng (như tên riêng Lê-vi-a-than) của một con quái vật cổ tích gây hỗn độn sống dưới biển.  Theo chuyện dân gian không được chép trong Kinh Thánh thì vào thời kỳ sáng tạo Đức Chúa Trời đã phải tuyên chiến với quái vật này (26:12  Thi 89:10  Es 51:9).

(Giop 9:14-24).   tại toà án, Đức Chúa Trời cũng sẽ minh oan cho tôi Gióp tưởng tượng như  đang kiện Đức Chúa Trời ở toà án để buộc Ngài đưa ra một phán quyết trước công chúng là Gióp ‘vô tội’.  Nhưng thật ra đó là chuyện hoàn toàn bất khả thi vì làm thế nào một con người hay chết tầm thường lại có thể chọn lời ăn tiếng nói hoặc ‘lý luận’ chống lại Đức Chúa Trời được?  Hơn nữa, ông xoay sở ra sao để có thể kiện tụng Đức Chúa Trời ra trước pháp lý, làm sao ông có thể chắc chắn là thật sự Đức Chúa Trời đang lắng tai nghe, vì hiện giờ Ngài đang chà nát Gióp bằng một trận bão (16-17)?  Dù là Gióp vô tội, ông cảm thấy chắc chắn có lúc ông có thể lỡ lời ăn nói khiếm nhã, và như thế là chính miệng lưỡi của ông buộc tội ông (20).

(Giop 9:25-35).  ‘ cần đưa ra xét xử trước pháp không?’ Đến đây phần độc thoại chuyển qua phần nói với Đức Chúa Trời.  Bắt đầu Gióp ngẫm nghĩ về những ngày khốn khổ (25-26), ông nhận thấy rằng nỗi khổ đau của ông thường xuyên nhắc rằng Đức Chúa Trời xem ông là người can tội (27-28) và Ngài tiếp tục chủ trương như vậy bất kể Gióp có làm gì để chứng tỏ mình vô tội chăng nữa (29-31). Như vậy ông có thể làm gì đây?  Ông có thể tìm cách loại bỏ cảm nghĩ buồn khổ khỏi tâm trí (27), hoặc ông có thể thử minh oan bằng cách thề thốt là ông vô tội (28-31).  Nhưng cả hai biện pháp đều không có hy vọng thành công, nên ông ta đành rút về với ý nghĩ kiện Đức Chúa Trời ra trước công lý (32-35).

32-35  Tính chuyện đối đầu với Đức Chúa Trời trên phương diện pháp lý thì không ổn ở điểm là hai bên không cùng một bản thể (32).  Gióp cần có một người đứng ra phân xử, làm người trung gian giữa hai bên, là người có thể đặt tay trên hai bên trong một cử chỉ hoà giải (hoặc trong một cử chỉ chứng tỏ người đó có quyền hạn trên cả hai bên).  Nhưng dĩ nhiên là không một vị trung gian nào có tầm cỡ đó.  Vì vậy Gióp nói rằng: ‘Thôi được, tôi sẽ đứng ra tự lo liệu vụ kiện này.  Nhưng tôi không có đủ can đảm khơi dậy một cuộc tranh chấp với Đức Chúa Trời trừ phi Ngài hứa rằng Ngài không đem sức mạnh vượt bực của mình ra mà làm cho tôi khiếp đảm (34-35).  Trong chương 10 Gióp nói đến những từ ông sẽ dùng (hoặc, đúng ra là những từ ông quyết dùng) trong cuộc tranh chấp mà ông đang mường tượng ở đây.

(Giop 10:1-22) Tôi sẽ nói trong cơn cay đắng của lòng tôi Cũng như trong nhiều bài phát biểu khác của Gióp, bài này kết thúc với lời cầu cứu mãnh liệt thẳng đến Đức Chúa Trời.  Gióp không chấp nhận chỉ nói về Đức Chúa Trời ở ngôi thứ ba nhưng ông biết rằng vụ việc của ông liên hệ đến chính Đức Chúa Trời cho nên ông phải nói thẳng với Đức Chúa Trời.  Bài phát biểu này gồm bốn phần: dự tính (1-2) ôn lại động cơ thúc đẩy Đức Chúa Trời đối xử với Gióp trong cách thế đó (3-7) sự mâu thuẫn giữa mục đích thật và mục đích thoạt nhìn của Đức Chúa Trời khi Ngài tạo dựng nên Gióp và bắt ông phải sống (8-17) và lời cầu khẩn xin được giải phóng khỏi sự hiện diện nặng nề của Đức Chúa Trời (18-22).

(Giop 10:1-2)  Gióp dự tính kiện Đức Chúa Trời ra trước công lý về vụ này.  Đúng theo như một luật sư đứng trước toà, ông yêu cầu bên kia trình bày những điều cáo buộc ông (2).

(Giop 10:3-7).  Qua ba câu hỏi, Gióp đoán già đoán non về những động lực đằng sau cách xử sự của Đức Chúa Trời đối với ông.  Có lợi gì cho Đức Chúa Trời không (3)?  Chắc chắn Đức Chúa Trời chẳng thu được lợi lộc nào qua sự việc Ngài xử tệ với Gióp.  Chẳng lẽ Đức Chúa Trời chỉ có tầm nhìn bằng cỡ của con người đến nỗi Ngài đối xử với Gióp cách thiển cận như thế sao (4)?  Chẳng lẽ Đức Chúa Trời chỉ còn sống thêm một thời gian quá ngắn đến nỗi Ngài phải ra tay hành động gấp gáp để chống lại Gióp như vậy sao (5-6)?

(Giop 10:8-17).  Trong phân đoạn này có phần mô tả rất hay việc Đức Chúa Trời tạo dựng và bảo toàn Gióp (8-12): Ngài đã nắn ông như nắn đất sét, quậy ông như quậy sữa thành phô ma, đem dệt xương và gân của ông như người thợ dệt và ban cho ông sự sống.  Dầu vậy, lâu nay có vẻ như Ngài ấp ủ một mục đích hoàn toàn đen tối khác (13): gán tội ác cho Gióp.  Ở đây không phải Gióp công nhận mình đáng tội ý ông muốn nói là cho dù ông xấu xa hoặc vô tội (15), ‘mối quan tâm’ của Đức Chúa Trời dành cho ông là biến ông thành đích nhắm cho Ngài tấn công (so sánh Giop 7:20).

(Giop 10:18-22).  Phải chăng ông chào đời để làm đích nhắm?  Giờ đây ông hoàn toàn vô hy vọng một mặt ông không biết làm sao đến gần Đức Chúa Trời cầu xin Ngài sự minh oan (9:11), mặt khác ông cảm thấy bị kềm kẹp trong cơn giận của Đức Chúa Trời là Đấng làm cho ông khốn khổ mặc cho ông có vô tội hoặc có tội (10:7).  Cho nên chẳng có gì lạ khi tinh thần Gióp lại tuyệt vọng như chúng ta đã chứng kiến trong chương 3, xen lẫn với lời cầu cứu vì mất sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà chúng ta thấy trong 7:16,19.

6. Sô-pha phát biểu lần thứ nhất: ‘Ăn năn đi!’ (Giop 11:1-20)

Ít có thiện cảm nhất trong ba người bạn là Sô-pha.  Nội dung lời phát biểu của ông rất đơn giản: Gióp bị khốn khổ vì Đức Chúa Trời biết Gióp phạm tội ngầm, phạm tội cách kín đáo (6), vì vậy lo ăn năn đi (13-14)!

(Giop 11:1-6).  ‘Đức Chúa Trời biết ông phạm tội cách ngấm ngầm kín đáo Sô-pha là con người vị nguyên tắc, ông nhất trí với Gióp về ngọn nguồn thật sự là vấn đề tội lỗi.  Nhưng không thấy Gióp phạm tội gì rõ ràng  công khai, như vậy hẳn ông ta phạm tội ngấm ngầm, kín đáo sao đó đến nỗi chỉ có Đức Chúa Trời phát hiện.  Gióp tự hào rằng niềm tin của mình là trong sạch, rằng trước mặt Đức Chúa Trời ông tinh ròng (4), nhưng Đức Chúa Trời biết sự thật trái ngược và bằng cách nào đó Sô-pha cũng biết nữa - là Gióp thật ra là một người gian tà.  Có lẽ tội lỗi của ông lớn quá đến nỗi dù Đức Chúa Trời đã hình phạt đến cỡ đó, Ngài vẫn còn quên hoặc bỏ sót một số tội của ông (6).  Biết đâu chừng sự hình phạt này hoá ra còn nhẹ đấy!

(Giop 11:13-20).   vậy, ông phải ăn năn đi!’ Đến đây Sô-pha thử thuyết phục Gióp ăn năn để được phước.  Trong khi Ê-li-pha chỉ ướm lời nhắc nhở, thì Sô-pha nói dứt khoát, quyết đoán.  Ông nói rõ ràng rằng sự phục hồi phụ thuộc hoàn toàn vào việc Gióp có chịu ăn năn thật sự hay không: chỉ khi nào Gióp làm theo lời khuyên của ông thì Gióp mới còn chút ít hy vọng.  Gióp phải dâng trọn tấm lòng của mình cho Đức Chúa Trời, tập trung tâm trí hướng về Đức Chúa Trời và không yên tâm hài lòng với những biểu hiện bề ngoài của sự ăn năn, rồi ông phải cầu nguyện (13) và từ bỏ hành vi xấu xa hiện nay.

Kết quả là lương tâm của ông sẽ trong sáng (ông sẽ ngước mặt lên) và ông sẽ cảm thấy an ninh (ông sẽ đứng vững vàng 15).  Nhưng qua bài phát biểu này độc giả nắm bắt được khía cạnh mỉa mai khôi hài vì tất cả những điều mà Sô-pha khuyên Gióp phải làm thì suốt đời Gióp đã thường xuyên thực hiện (Giop 1:1).

7. Gióp phát biểu lần thứ tư:  ‘Sự khôn ngoan’ của các bạn và sự công bình của Đức Chúa Trời (Giop 12:1-14:22)

Bài phát biểu quan trọng này của Gióp đứng vào phần cuối vòng đàm luận thứ nhất, tức là ông đáp lời mỗi bạn của mình sau khi họ phát biểu.  Bài phát biểu gồm có hai phần chính: trong phần thứ nhất, Gióp nói với các bạn của mình (12:2-13:18), trong phần thứ hai, ông thưa chuyện với Đức Chúa Trời (13:19-14:22).  Tâm trí của ông thường xoay chiều, bỏ các bạn của ông hướng về Đức Chúa Trời, ngay cả trong phạm vi lần thứ nhất.  Ý chính của toàn bộ bài phát biểu là: Tôi không muốn dính dáng đến các bạn là những thầy thuốc vô ích nữa (13:4), tôi muốn thưa chuyện với Đấng Tối Cao (13:3).

(Giop 12:2-25) Sự khôn ngoan của các bạn so với sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (12:2-13:9) Ở đây Gióp nói chung với các bạn chớ không phải riêng với Sô-pha là người cuối cùng vừa phát biểu xong.  Ông cho rằng các bạn chẳng khôn ngoan gì hơn ông (12:2-12), rồi ông so sánh sự khôn ngoan của họ với sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (12:13-25).  Lần đầu tiên ông tỏ vẻ khinh thường các bạn.  Mở đầu ông chế nhạo họ rằng: ‘Sự khôn ngoan chết chóc nơi các ông sẽ chấm dứt thôi, nhưng tôi không thua kém gì các ông đâu’ (3).  Như vậy, thực sự ông cho rằng ông hơn họ sở dĩ ông khôn ngoan hơn họ là nhờ kinh nghiệm.  Có một điều ông biết mà họ không biết: đó là có lúc người công bình chịu khổ, cũng vậy có lúc hành vi của người gian ác lại không bị hình phạt (4-6).

7-12  Ở đây Gióp không nói với các bạn nhưng ông mỉa mai vì nội dung những lời ông đoán là họ sẽ đáp lại. Ông nói rằng họ chủ trương quá đơn giản về các đường lối hành xử của Đức Chúa Trời.  Tất cả quan điểm của họ về tội lỗi và sự hình phạt đơn giản đến độ thú vật cũng biết rồi.  Chính miệng các bạn đã rành rẽ nói những câu 10-11 và chính họ xác nhận rằng người già cả có sự khôn ngoan (12).  13-25 Nội dung của bài ca này trình bày về năng lực tàn phá của Đấng Tối Cao.  Đây là bài ca cho thấy mảng hiểu biết mới của Gióp (3).  Đức Chúa Trời mà nay ông đã kinh nghiệm không phải là Đấng quản trị một vũ trụ hoàn toàn trật tự ổn định, nhưng Ngài là một thần lập dị mà chúng ta không thể hiểu thấu đáo, cũng không thể thuần hoá Ngài được.  Đặc điểm nổi cộm nhất nơi Đức Chúa Trời này là Ngài đảo lộn trật tự đang yên ổn.  Trong những bài ca khác (như bài của Ê-li-pha trong 5:9-16) những cuộc đảo lộn đó nhằm mục đích đem sự cứu rỗi và chỉnh lại một tình trạng bất công.  Như trong trường hợp này những đợt chấn động do Đức Chúa Trời gây nên chẳng nhắm vào mục đích đạo đức hoặc lợi ích nào cả.

(Giop 13:1-3).  Trên hết tất cả Gióp muốn tranh luận với Đức Chúa Trời ông dùng ngôn từ của toà án.  Mục đích của ông là để tháo gỡ một điều bất hoà giữa Đức Chúa Trời và ông chớ không hẳn là muốn thắng kiện.  Ông không chủ trương một vụ kiện nhằm lên án Đức Chúa Trời về sự bất công của Ngài khi Ngài không minh oan cho ông nhưng ông nhằm yêu cầu Đức Chúa Trời cứ lên án ông đi, có vậy ông mới được nghe những điều bất mãn của Ngài đối với ông (13:23).

(Giop 13:4-12).  Dầu vậy ông vẫn còn chuyện muốn nói với các bạn.  Ông nói rằng cách hành xử của họ, ông vẫn dùng ngôn từ pháp lý, làm chứng dối về Đức Chúa Trời.  Mặc dù Gióp còn nhiều nghi hoặc về sự công bình của Đức Chúa Trời, ông tin chắc rằng Ngài sẽ trừng phạt các bạn về lối nói thiên vị và thiếu khách quan (13:10).  Thà họ nên lắng nghe ông nói thì hơn (6), không hẳn là nghe những lời ông nói với cá nhân họ (7-12) mà là nghe những lời ông tranh luận với Đức Chúa Trời (13:13-14:22).  Nhưng trước khi bước vào cuộc tranh luận cách sôi nổi ông muốn cho họ biết rằng hẳn là Đức Chúa Trời không hài lòng khi phát hiện rằng (9) trong khi họ tìm cách biện minh cho đường lối của Ngài đối với ông, họ đã xoay qua nói không thật về tội lỗi và sự trừng phạt.  Hệ thống thần học nào không có chỗ đứng cho những từng trải của Gióp, tức là vấn đề chịu khổ của người công nghĩa, thì chẳng qua chỉ là một mớ dối trá thôi, và nói dối trá về Đức Chúa Trời thì thật là kinh khủng.  Qua một loạt câu hỏi hùng biện (7-9, 11) ông tỏ ý ngạc nhiên về chuyện dối trá nhằm phục vụ lẽ thật.

(Giop 13:13-19).  Cuối cùng Gióp muốn giải thích với các bạn về ý của bài phát biểu ông sắp trình với Đức Chúa Trời (13:20-14:22).  Trong chương 7 ông cầu xin Đức Chúa Trời thôi đừng chú trọng tới ông nữa, trong chương 9-10 cũng vậy.  Nhưng ở đây ông xông xáo một vào ngõ mạo hiểm hơn và ông dám yêu cầu Đức Chúa Trời tranh luận với ông (22).  Quả là nguy hiểm (14), đúng là tự huỷ (15) nhưng Gióp tin chắc ông có lẽ phải (18).

(Giop 13:20-28).  Đức Chúa Trời bất mãn Gióp về những điều ? (13:20-14:22) Lời Gióp phát biểu với Đức Chúa Trời gồm hai luồng ý chính.  Trước tiên (13:19-27) ông yêu cầu Đức Chúa Trời phơi bày ra ánh sáng những bất mãn của Ngài đối với Gióp kế đến (13:28-14:22) ông yêu cầu một việc, khá mâu thuẫn với luồng ý trên, Đức Chúa Trời buông tha ông để ông được chết yên ổn.  Trước đây Gióp đã nêu ra cả hai yêu cầu này.

19-27  Trước tiên Gióp yêu cầu Đức Chúa Trời ra hầu toà nhằm mục đích là tuyên bố Gióp vô tội (19).  Ông đề ra hai điều kiện để tôn trọng sự công bình (20): thứ nhất, Đức Chúa Trời phải rút tay của Ngài đang đè trên ông và thứ hai, Ngài phải chấm dứt không làm cho ông kinh hãi bằng những sự đe doạ của Ngài nữa (21).  Chỉ khi đó, Ngài mới có thể bắt đầu vụ kiện, hoặc nếu Ngài muốn thì để ông kiện (22).  Gióp sử dụng ngôn từ của toà án yêu cầu Đức Chúa Trời nêu ra bản cáo trạng (23).  Dĩ nhiên, ông không ngụ ý công nhận ông có phạm một tội nào đó nhưng qua sự kiện đó ông có ý nói rằng ‘những điều mà Đức Chúa Trời cho là tội của ông đã phạm’.  Đối với Gióp thì có vẻ như Đức Chúa Trời cố tình xé bé ra lớn, chẳng có chuyện gì cũng khuấy nên chuyện (25), hình phạt ông về những sự sai lầm trong thuở ấu thơ (26) và như chúng ta đã nghe rồi (thí dụ 3:23) giới hạn ông, gò ép ông (27).

Ở đây trọng điểm chuyển từ Gióp sang nhân loại (như  trong 13:20-28).  Đương nhiên Gióp vẫn diễn giải về chính mình nhưng, như ông đã từng làm, ông chuyển cảm xúc và những kinh nghiệm riêng tư sang cho toàn thể nhân loại (so sánh 3:20  7:1-10).  Chủ điểm của đoạn này là con người không có gì đáng cho Đức Chúa Trời quan tâm soi mói như Gióp đang bị soi mói.  Trước sự kiện cuộc đời con người quá ngắn ngủi thì đáng lẽ Đức Chúa Trời bỏ qua tội lỗi của họ là hợp lý hơn: vì họ khó lòng ảnh hưởng đến trật tự của thế giới (4).

(Giop 14:1-22).   Sự tương phản giữa niềm hy vọng của cây cối với niềm hy vọng của nhân loại về sự sống bên kia cái chết nhấn mạnh ý của câu 5.  Sự sống của con người có một kết cuộc nhất định và không thể gia giảm.  Một cây xanh có thể hy vọng một sự sống mới (7) còn đối với con người thì chẳng có chút hy vọng nào cho đến chừng không còn các từng trời (12), mà theo như Gióp biết thì chẳng bao giờ có chuyện đó.  Ý tưởng của Gióp giao động bên rìa niềm hy vọng về sự sống lại: ước chi âm phủ hoá ra chẳng phải là một nơi yên nghỉ chung cuộc mãi mãi vô phương trốn thoát mà chỉ là một nơi để trốn khỏi cơn giận và sự soi mói của Đức Chúa Trời (13), mà chỉ là một nơi phục dịch nhọc nhằn nhưng có ngày sẽ chấm dứt (14)!  Ước chi Đức Chúa Trời sẽ vui lòng đem con người trở về từ âm phủ sau khi Ngài thôi không tìm tòi moi móc những tội lỗi họ đã phạm, và sau khi Ngài niêm những sự vi phạm của họ trong một cái túi (16-17).  Nhưng Gióp cho rằng đó chỉ là hy vọng hão huyền và ông đưa ra một câu hỏi: ‘Nếu một người chết thì có sống lại không?’ (14).  Không!  Như núi non bị xói mòn, đất thịt bị nước cuốn đi, thì ngay cả những niềm hy vọng vững vàng nhất của con người cũng bị bào mòn bởi thực tế phủ phàng của sự chết (18-19).  Con người chẳng có hy vọng gì mà rốt cuộc Đức Chúa Trời thắng con người (20) và đẩy con người xuống âm phủ trong cô đơn.  Ở đó con người không biết chuyện gì đang diễn ra trên đất, dù là con cái họ có đạt danh vọng chăng nữa họ cũng hoàn toàn không biết (21).  Trong tình trạng bị cô lập như vậy họ chỉ cảm thấy cơ thể của họ bị đau đớn (22).  Niềm hy vọng của Cơ Đốc nhân về sự sống lại trong chiều hướng riêng đã đáp ứng niềm mơ ước mong manh của Gióp.  Dù rằng Gióp sẵn sàng đợi cõi đời đời để được minh oan, nhưng trong chuyện đời của ông những điều xảy đến ở trên đất này mới đáng kể. 

Một việc đầy kịch tính đã diễn ra trong phần phát biểu này.  Sau khi cực lực đòi Đức Chúa Trời đem ông ra khỏi tình cảnh khốn khổ càng sớm càng tốt, và sau khi quả quyết rằng không có hy vọng tranh luận với Đức Chúa Trời, ông lại làm một việc cực kỳ nguy hiểm và bất khả.  Giờ đây ông chính thức buộc Đức Chúa Trời phải báo cáo về những tội lỗi mà ông đang gánh chịu hình phạt.  Lời yêu cầu này một khi đã nêu lên thì không thể rút lại.  Ông Gióp không ra toà để xin ân xá, hoặc xin ơn thương xót nhưng để phục hồi lại tiếng tốt cho mình.  Ông không tin Đức Chúa Trời có lòng tốt cũng không tin tưởng gì lắm vào sự công bình của Ngài.  Nhưng ông mãnh liệt tin rằng mình vô tội nên ông chắc chắn rằng sớm muộn gì ông cũng sẽ được minh oan.

Dĩ nhiên, những lời lẽ tố tụng này được dùng cách dự tưởng.  Nhưng không phải hoàn toàn là lối nói văn vẻ bóng bẩy mà là những lời lẽ của tình cảm xuất phát từ cảm xúc, bộc lộ tình trạng bất hoà hợp với Đức Chúa Trời.  Sau khi sống tin kính suốt cả đời, Gióp bỗng nhiên thấy cuộc đời sụp đổ tan tành và ông tập ăn nói kiểu khác chua chát hơn để phát biểu về tình trạng hỗn độn trong thế giới của mình.  Đến nước này thì phải dùng giọng điệu thúc ép và phân rẽ, thách thức và thắng bại

8. Ê-li-pha phát biểu lần thứ hai.  ‘Coi chừng số phận của kẻ ác’ (Giop 15:1-35)

Ê-li-pha nói với Gióp trong phần thứ nhất trong bài phát biểu này (2-16)  trong phần thứ hai (17-35) ông luận bàn khá gián tiếp hơn về số phận của kẻ ác.  Trong phần thứ hai này Ê-li-pha ngụ ý rằng Gióp không phải là hạng người đó nên ông không có gì phải lo sợ.  Vì vậy, toàn bộ bài phát biểu này nhằm khích lệ Gióp, và Ê-li-pha vẫn giữ lập trường như trong lần phát biểu thứ nhất (chương 4-5).

Theo cái nhìn của Ê-li-pha thì Gióp có hai điều sai lầm: một sai lầm có tính cách tri thức và một sai lầm có tính cách đạo đức.  Sai lầm có tính cách tri thức là ông không nhận biết rằng ngay cả con người hoàn toàn nhất cũng bị xem là vấy bẩn qua cái nhìn của Đức Chúa Trời (14-16).  Gióp sai khi nghĩ rằng mình ở trên mức bình thường (9) và Gióp sai khi công kích quan điểm thần học truyền thống để bênh vực cho kinh nghiệm riêng của mình (4).  Sự sai lầm có tính cách đạo đức là ông không gánh chịu nỗi khổ đau của mình một cách can trường và kiên nhẫn.  Nếu lúc đầu ông chịu khổ vì một sự vi phạm nào chăng nữa thì vi phạm đó xem ra nhỏ nhoi so với sự sai lầm hiện tại trong cách suy nghĩ và trong cách xử sự của ông.  Ông phạm tội chống chính mình (6) vàchống Đức Chúa Trời (13) khi ông nói về Đức Chúa Trời cách cay đắng và cách phiếm diện như vậy.  Chính bài phát biểu đầy tức giận của Gióp là bằng cớ chứng tỏ ông sai lầm (12-13) người thật sự khôn ngoan ăn nói điềm tĩnh.  Không phải Ê-li-pha liệt Gióp vào hạng kém hơn là con người, nhưng ông không thể nào thấy rằng Gióp là một con người mà ông có thể đem lý lẽ ra mà tranh luận.  Gióp là một con người đang bị tổn thương và đang nổi giận bảo Gióp nhịn nhục tức là yêu cầu ông hãy giả bộ.  Nếu như Gióp yên lặng chịu khổ thì hoá ra ông chấp nhận sự xét đoán của Đức Chúa Trời đối với ông, và ông chỉ có thể xử sự như vậy khi ông từ bỏ sự thật về mình.

(Giop 15:2-16).  Lời phát biểu dại dột tội lỗi của Gióp Với những lời tri thức hư không (2), Gióp đã không cư xử như một người khôn ngoan.  Hơn nữa, khi ông yêu cầu Đức Chúa Trời minh oan và khi luận về năng lực tàn phá của Đức Chúa Trời theo giọng điệu đó (có lẽ Ê-li-pha đang nghĩ đến 12:13-25) tỏ ra ông là người vô tín (4 ông huỷ sự kính sợ Đức Chúa Trời).  Những điều ông phát biểu phát xuất từ sự sai lầm này (5 sự gian ác của ông) chớ không phải từ thần đạo chân chính. 

7-16  Ê-li-pha lập lại rằng Gióp đã không xử sự cách khôn ngoan nhưng đã để cho lưỡi của mình đưa đẩy vào tội lỗi.  Với tất cả vốn liếng khôn ngoan mà Gióp tự hào (thí dụ 12:3  13:1), ông không khôn ngoan như người đầu tiên, A-đam (Ex 28:12-14 vì người đầu tiên trên núi thánh của Đức Chúa Trời).  Gióp cũng không được dự nghe những điều bàn tính của Đức Chúa Trời (8) như các tiên tri là những người được biết những dự định bí mật của Đức Chúa Trời (Gie 23:18,22), ông cũng không có sự khôn ngoan của các bạn vì họ lớn tuổi hơn ông (10).  Không có gì phải hổ thẹn vì ít nhiều gì ông cũng còn bất toàn ngay cả thiên sứ (thánh dồ) cũng không trọn vẹn (15) vì ông không thể nào trọn vẹn tuyệt đối nên đương nhiên ông phải chấp nhận sự hình phạt ở một mức độ nào đó. 

16  Ê-li-pha không có chủ ý nhục mạ cá nhân Gióp khi ông mô tả con người là gớm ghiếc và thối nát đơn giản đây chỉ là một nhận xét tổng quát về nhân loại, dĩ nhiên là có phần quá đáng so với sự trong sạch của Đức Chúa Trời. 

(Giop 15:17-35).  Cuộc đời khốn khổ số phận kinh hãi của người gian ác Trong hình ảnh trình bày lịch sử cuộc sống của kẻ ác, phần thứ nhất (20-26) mô tả lo âu của đương sự khi đang sống với nỗi lo sợ cái chết, còn phần thứ hai (27-35) viết về số phận chung cuộc của đương sự, tức là đương sự sẽ chết trước hạn định (31-33).  Từ đầu Ê-li-pha vẫn chủ trương rằng Gióp không thật sự gian ác, vì vậy đây không phải là chân dung của Gióp.  Gióp không bị đau đớn cực lòng trọn đời (20), và không như họ, ông không thọ thai điều ác, sinh sản ra sự xấu xa giả trá (35).  Như vậy ông cần biết rằng mình không nằm trong thành phần kẻ vô đạo (34) và ông phải thận trọng để đừng nhập bọn với họ qua thái độ chống đối Đức Chúa Trời (25).  Dĩ nhiên, có nhiều ý kiến vềhai phần chính trong bức chân dung này.

9. Gióp phát biểu lần thứ năm: ‘Chẳng lẽ tôi sẽ qua đời mà không được minh oan?’ (Giop 16:1-17:16)

Cho tới nay đây là lời phát biểu rời rạc nhất của Gióp.  Trong những lần trước ý tưởng phát biểu đạt đỉnh điểm với chương 12-14.  Kể từ đó trở đi ông thật sự không còn điều gì mới mẻ để phát biểu.  Lần này ông lập lại nhiều vấn đề: ông chỉ trích lời phát biểu của các bạn (16:2-6), rồi ông nói với chính mình, than thở về những đợt tấn công của Đức Chúa Trời (16:7-17), ông hình dung vụ minh oan có hy vọng trở nên hiện thực (16:18-22), ông than van vì các bạn (17:1-10) rồi ông than van là biết đâu chừng ông sẽ qua đời mà không được minh oan (17:11-16).  Khác hẳn chương 12-14 chủ từ ở đây luôn luôn là Gióp chớ không phải nhân loại chung chung.

(Giop 16:2-6).   Chủ từ chính đây lời nói tình trạng thiếu năng lực của lời nói.  Trong chương 12 cũng có phần mở lời tương tự, nhưng ở đây ôn hoà hơn, và phần lớn là bày tỏ bất mãn đối với những lời phát biểu của đám bạn.

(Giop 16:7-17).   Trong khi Gióp kể lại những hành động thù địch của Đức Chúa Trời đối với ông, cảm xúc thay đổi từ một nỗi bất bình sang cảm giác bị áp bức.  Ông nghĩ về những đợt tấn công của Đức Chúa Trời như thể sự tấn công của nhiều thành phần thù địch: một con thú hoang (9-10), một người phản trắc (11), một tay đô vật (12), một tay bắn cung (12c-13a), và nhà kiếm thuật (13b-14), y như một cuộn phim quay nhanh một chuỗi những cảnh bạo động, cảnh này vừa xong cảnh kia ập đến.

(Giop 16:18-22).    nhiên Đức Chúa Trời chưa đáp ứng yêu cầu của Gióp tức chưa liệt ra những điểm Ngài cáo buộc ông (13:23).  Gióp vẫn chờ đợi, trong khi chờ đợi ông thử lý luận theo một hướng khác.  Ông đã bị Đức Chúa Trời tấn công một cách sai lầm, và có lẽ ông sẽ chết vì sự tấn công này.  Vì vậy ông kêu gọi đất là một khi ông qua đời rồi thì đất hãy báo thù huyết cho ông đối với Đức Chúa Trời!  Tiếng kêu ‘Ôi đất, chớ lấp huyết ta!’ (18), cũng tương tự như tiếng kêu la khi A-bên bị giết cách phi luật pháp (Sa 4:10).  Dĩ nhiên là phải chờ cho đến khi Gióp chết rồi đất mới đáp lời cho ông được.  Dầu vậy, ngay bây giờ, trong lúc ông còn sống, ông có một người làm chứng, một người biện hộ, một người cầu thay ở trên trời (19-20).  Ông không thể hiểu nhân vật này là Đức Chúa Trời vì Gióp tin rằng trước sau Đức Chúa Trời vẫn chỉ là kẻ thù địch ông mà thôi (7-14).  Đại diện cho Gióp trên thiên đàng là sự phản kháng của ông, một sự phản kháng xác định ông vô tội, và yêu sách của ông là Đức Chúa Trời phải trình bày những lý do khiến Ngài tấn công ông (Giop 13:18-19,22-23).  Cho dù ông không trông mong nhận được sự trả lời trong lúc còn sống, sự thật về tình trạng vô tội của ông đã nằm trong sổ sách tại toà án ở thiên đàng.  Cái chết của ông qua bàn tay sát hại của Đức Chúa Trời, khi chuyện này xảy đến sẽ là một bằng cớ chung cuộc xác chứng rằng ông là nạn nhân của một vụ án xử oan.

Gióp tin chắc rằng mình có lẽ phải, nhưng ông không hy vọng làsẽ được minh oan trong thời gian ông còn sống.  Theo kiểu lần phát biểu trước, ở đây ông chuyển qua luận về cái chết của mình vì đó là một chuyện chắc chắn trong tương lai của ông và ông cảm thấy cái chết đang đến gần.  Toàn bộ chương này xoay quanh sự trái ngược giữa ‘niềm hy vọng’ và ‘cái chết’.  Nhưng xen lẫn với những lời bộc lộ vô vọng đó vẫn có những lời phê bình gay gắt dành cho các bạn.

(Giop 17:1).  Gióp không đứng bên ngưỡng cửa của sự chết theo nghĩa đen (so sánh 16:22), nhưng về mặt tâm lý thì ông đã nằm trong nanh vuốt của sự chết ông cảm thấy như thể cái huyệt dành cho ông đã được đào xong. 

(Giop 17:2).  Chính những lời chế giễu gièm pha của những người chung quanh khiến tinh thần ông suy sụp.  Những lời chế giễu gièm pha đó cụ thể cáo buộc rằng ông chịu khổ như thế là xứng đáng. 

(Giop 17:3).  Vì không có người nào bảo đảm rằng ông vô tội nên ông phải xin Đức Chúa Trời để ông đứng ra bảo đảm cho chính mình (bảo lãnh). 

(Giop 17:5).  Câu này tối nghĩa, dường như trình bày Đức Chúa Trời là một người phô trương, mời các bạn đến dự tiệc trong khi đó bỏ đói con cái (trong trường hợp này là Gióp).

(Giop 17:8-10).  Ở đây nói về quan điểm của các bạn.  Là những con người ngay lành như họ, họ kinh hoàng trước những hiện trạng của Gióp và vùng lên tố cáo kẻ vô tín (Gióp).

(Giop 17:11-16).   Gióp lại rơi vào tình trạng tuyệt vọng, nhưng sự tuyệt vọng không cướp khỏi ông niềm tin chắc ông vô tội ông tuyệt vọng vì không biết đến bao giờ ông mới được xác chứng là vô tội.  Ông còn gì để mà trông mong?  Ông mất gia đình rồi và chỉ có thể trông mong gia nhập gia đình giòi bọ ở bên kia thế giới (14).  Nếu sự trông mong của ông chỉ có thế, khó lòng xem đó là hy vọng, phải không?  Ông xuống tinh thần đến thế, không phải vì ông đang mang một căn bệnh hiểm nghèo mà vì không có dấu hiệu nào về sự minh oan mà ông yêu cầu.

10. Binh-đát phát biểu lần thứ hai:  luận thêm về số phận đáng sợ của kẻ ác (Giop 18:1-21)

(Giop 18:1-12) Ngoài phần mở đầu dành cho Gióp thì toàn bộ bài phát biểu này chỉ tả số phận của kẻ ác.  Có thể hiểu Binh-đát tiên báo về tương lai của Gióp nhưng chắc hợp lý hơn thì chúng ta nên hiểu bài phát biểu thứ hai của Binh-đát theo hướng của bài phát biểu lần thứ nhất, tức là ông trình bày một hạng người không phải là Gióp.  Ông vẫn xác quyết về những chủ trương quen thuộc, nhưng ông mô tả một cách quá đáng, hoặc trắng hoặc đen một cách quá cực đoan buộc lòng chúng ta phải cho rằng những chủ trương đó và giáo lý của ông là không có tính thuyết phục.  Binh-đát muốn thế giới là một nơi có thể tiên đoán và có nề nếp.  Ông thấy Gióp đang đối phó với một cuộc chiến giữa giáo lý và kinh nghiệm, cho nên Gióp tự tàn phá đấy thôi.  Ông thấy lo ngại trước sự đòi hỏi của Gióp về một nền thần đạo mới: ‘chẳng lẽ phải dời đá đi khỏi chỗ của nó sao?’ (4).

Với phần mô tả về số phận của kẻ ác (Giop 15:20-35) Ê-li-pha tập trung nói về nỗi kinh hãi và bất an mà kẻ ác phải chịu đựng suốt đời.  Ở đây Binh-đát tập trung nói về những ngày chung cuộc của kẻ ác, bị sự chết giăng lưới bắt (8-10), bị trục xuất ra khỏi nơi cư ngụ và bị đưa đến trước mặt Chúa của thế giới bên kia (14). 

(Giop 18:13-14).   Trong huyền thoại cổ sự chết được xem một vi vua cai trị thế giới bên kia cái chết.  Con đầu lòng của sự chết là một trong các hậu tự của mình, thí dụ như các bệnh tật, và những nỗi kinh hãi là thuộc hạ của sự chết, chuyên lo giành giật người ta khỏi sự sống để đưa vào thế giới của sự chết.

Trong bức chân dung về kẻ ác có nhiều điểm song hành với kinh nghiệm của Gióp (thí dụ: 13,15,19,20).  Dù những điểm đó được nêu ra cách vụng về nhưng không nhằm nhấn mạnh Gióp là một tội nhân, nhưng nhằm cảnh báo ông về những chuyện sẽ xảy đến nếu hành vi của ông không thay đổi (như Binh-đát đã khuyên ông trong 8:5-7).  Chân dung của kẻ ác này có trở thành hiện thực đối với Gióp hoặc không là chuyện do chính Gióp chọn lựa.

11. Gióp phát biểu lần thứ sáu: ông phản ứng cách giận dữ (Giop 19:1-29)

Trong bài phát biểu này Gióp nói với các bạn trong phần mở đầu, phần giữa và phần cuối (2-6,21-22,28-29).  Xen giữa các phần đó là lời than phiền (7-20) và lời bộc lộ điều ước ao, nhận biết và mong muốn (23-27).

(Giop 19:1-6).  ‘Các bạn, kẻ thù địch của tôi cần biết những điều này Ở đây Gióp nói vì buồn khổ thì ít mà vì tức giận thì nhiều.  Ông không có ý nhận rằng ông cảm thấy bị các bạn ‘đè bẹp’ (2), nhưng ông nhận định rằng họ là kẻ thù địch ông, họ tìm cách đè bẹp ông bằng những lý lẽ của họ.  Họ đã tìm cách hạ nhục ông nhưng không được (3).  Ông không thừa nhận là ông có phạm một tội lỗi nào cả nhưng ông phản kháng rằng dù ông có phạm tội đi nữa, thì ông vẫn không phạm tội đối với họ cho nên họ tấn công ông như  vậy là bất công (4).  Nếu họ cố tình coi ông là kẻ thù với lối lập luận là ông bị hạ nhục với những nỗi khổ đau như thế là bằng cớ chứng tỏ ông có phạm tội (5) thì họ nên biết rằng kẻ sai quấy không phải là ông, mà là Đức Chúa Trời là Đấng đã làm hại ông (6).

(Giop 19:7-12).  ‘Việc sai quấy Đức Chúa Trời đã gây ra với tôi Với câu 7-12 Gióp mô tả việc làm sai quấy của Đức Chúa Trời đối với ông qua một loạt những cảnh tấn công kinh dị: một người dân ở thành phố bị mất cắp nhưng chẳng có ai đến cứu giúp cả dù ông ta lớn tiếng cầu cứu (7) một người đi đường không đi tới được nữa vì đường đi bị chận mà trời sụp tối rồi (8) một ông hoàng bị nhà cầm quyền ở nước ngoài hạ nhục (9) một cây xanh bị đốn hạ hoặc bị nhổ trốc rễ (10) một người phát hiện bạn hữu của mình đã trở nên kẻ thù của mình (11) một vị vua hoặc một thành trì bị quân thù vây đánh (12).

(Giop 19:13-20).  Trong câu 7-12 chẳng ngoài ra những cảnh bạo lực còn trong mấy câu này chẳng ai dang tay cứu giúp, cũng khônh lên tiếng binh vực cả.  Đây đúng là sự thật mà Gióp đang kinh nghiệm câu 7-12 là cách ông mô tả cảm xúc do sự thật đó gây ra.  Gióp duyệt lại những người quen biết ông ông nhìn từ trong, từ bà con ruột thịt và những người quen biết (13-14) đến đám gia nhân làm việc trong nhà ông (15-16) rồi đến vợ và các anh em (17), rồi lại hướng ra vòng ngoài ông nhìn đám trẻ con trong xóm (18) và tất cả những người biết ông (19).  Nhìn đến ai ông cũng thấy họ xa lánh và cô lập ông.  Chính Đức Chúa Trời là Đấng gây ra sự thể này, không phải trực tiếp mà gián tiếp qua vụ làm cho ông đau khổ.  Vì trong cái nhìn của những người quen, sự đau khổ của ông chứng tỏ ông là một tội nhân kinh khủng, bất kể số vốn liếng mà họ tưởng là đã biết về ông trước nay.  Liên hệ với hạng người như vậy là nguy hiểm lắm.  Những đợt Đức Chúa Trời tấn công ông dẫn đến hậu quả là ‘xương cốt tôi sát vào da và thịt tôi’ (20).  Bình thường, xương là dàn khung cho cơ thể của con người, còn thịt và da được đắp quanh xương nay tinh thần của Gióp xuống thấp đến nỗi ông kiệt quệ tưởng chừng như dàn xương chẳng còn chút sức lực nào cả.

(Giop 19:21-22).Hỡi các bằng hữu tôi, hãy thương xót tôi!’ Kể cũng lạ là giờ đây Gióp xin các bạn thương xót ông, sau khi ông đã nhiều lần chê bai chỉ trích họ (thí dụ Giop 6:15-17  12:2-3  13:2).  Nếu hiểu rằng ông không xin họ thương xót trong nghĩa thông thường, mà xin họ thôi đừng dùng lời nói mà hành hạ ông nữa.  Hiểu như vậy thì câu nói đó hợp lý hợp tình hơn.

(Giop 19:23-27).  Điều Gióp ao ước nhận biết mong muốn Khía cạnh được nhấn mạnh trong lời nói bất hủ này là Gióp mong muốn rằng trong khi ông còn sống (trong thể xác của tôi: 26) ông được phép nhìn Đức Chúa Trời mặt đối mặt, như thể nhìn đối thủ trong một phiên xử tại toà án, nhờ đó lời ông yêu cầu về việc minh oan cho tiếng tốt của ông được bố cáo.

Gióp không tin rằng Đức Chúa Trời sẽ chấp thuận lời yêu cầu của ông để ra toà, vì vậy ông ao ước rằng có cách nào đó ghi chép lại lời ông tự nhận là vô tội để lời đó còn tồn tại lâu dài sau khi ông qua đời và có ngày sẽ được giải toả.  Nhưng ao ước rằng nguyện vọng chính đáng của ông có thể được ghi lại trên ‘bản khắc chữ’ bằng dụng cụ sắt ( thay vì ghi trên cuộn giấy da, như bản dịch NIV) (24) là ước vô vọng, vì lời thề thốt tự nhận về tình trạng vô tội của ông đã đến tai thiên đàng là hình thức duy nhất ghi lưu vĩnh viễn (so sánh 16:19-20).

Theo Gióp biết thì Đức Chúa Trời là kẻ thù nghịch của ông (so sánh 6:4  10:8-14  13:24  16:7-14  19:7-12), ông sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy điều tốt lành nữa (7:7), chẳng bao lâu nữa là ông sẽ chết (7:21  10:20  16:22), ông sẽ bị Đức Chúa Trời sát hại (12:15  16:18) v.v...  Nhưng ông mong muốn được tranh luận với Đức Chúa Trời (13:3,22) với hy vọng là có thể tự minh oan trước khi chết.  Đó là lý do khiến lòng ông hao mòn trong ông (27).  Từ trước tới nay ông chưa hề tin rằng ông sẽ được minh oan nhưng nay ông nói ông biết (25), dù rằng sự minh oan này chỉ xảy ra sau khi ông qua đời.  25-27  Có lẽ nên dịch mấy câu Kinh Thánh chủ chốt này là: ‘Nhưng tôi biết rằng Đấng vô địch của tôi vẫn sống và cuối cùng Ngài sẽ lên tiếng bênh vực tôi trên cõi đời này, dù là sau khi đã bị lột da.  Dầu vậy, tôi mong muốn được nhìn thấy Đức Chúa Trời trong khi còn sống, được đích thân thấy Ngài, tận mắt thấy Ngài, chớ không phải là một người xa lạ’.  Không có chút hy vọng gì ‘Đấng vô địch’ của Gióp là Đức Chúa Trời vì lâu nay Ngài vẫn là kẻ thù của ông chắc chắn là chỉ có lời tự nhận về tình trạng vô tội của ông mới là lời làm chứng cho ông ở thiên đàng (16:17).  Cũng như tại toà án ở trên đất này, người thắng kiện là người có quyền nói sau cùng, ông tin rằng lời thề của chính mình sẽ là lời nói sau cùng và có sức thuyết phục.  Nhưng, dĩ nhiên việc đó chỉ có thể xảy ra sau khi da tôi, tức xác thịt này, đã bị tan nát (26) tức là sau khi ông qua đời.  Đó là điều ông cho rằng sẽ diễn ra.  Nhưng điều ông muốn là tiếng tốt của ông được cứu vãn trong khi ông còn sống.

(Giop 19:28-29).  Các bạn , sao các bạn cũng phải sợ Mấy câu này toát ra một giọng điệu bực tức chớ không phải giọng nôn nóng trong câu 25-27.  Gióp chưa đạt mức độ an tâm tin cậy vững chắc nơi Đức Chúa Trời dầu ông đã mạnh mẽ xác định niềm tin tưởng rằng ông có lẽ phải, cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ông gay gắt chỉ trích những người còn nặng lòng nghi ngờ ông.  Các bạn của ông cứ tiếp tục ‘miệt thị’ ông, tức là kết án ông về những hành động sai đặng cho rằng nguyên nhân gây ra những nỗi khổ đau mà ông đang lãnh chịu nằm ở trong con người ông nghĩa là ông chính là tác giả của những sự bất hạnh đã đổ trên ông.  Toàn là những chuyện dối trá nên chính các bạn phải sợ gươm của sự chết Gióp không làm điều gì sai quấy đáng phải hình phạt cả nhưng các bạn thì đã làm điều sai!  Họ đã buộc tội ông một cách bất công, và đó là tội ác có nguy cơ là họ sẽ phát hiện ra rằng sự hình phạt đáng dành cho chính họ.

12. Sô-pha phát biểu lần thứ hai: ‘Ông phải ăn năn bằng không thì bị huỷ diệt’ (Giop 20:1-29)

Tương tự như bài phát biểu thứ hai của Binh-đát hầu hết bài phát biểu thứ hai của Sô-pha tập trung vào vấn đề sự diệt vong của kẻ ác (4-28).  Nhưng khác Ê-li-pha (số phận của Gióp không phải là số phận của kẻ ác), Sô-pha vẽ ra bức tranh về những chuyện Gióp không thể tránh thoát nếu không thay đổi tận gốc.

(Giop 20:1-3).  Một lời đáp đối với những điều Gióp tự nhận Sô-pha cho rằng Gióp làm cho ông rúng động và dẫu rằng lối nói của ông khuôn sáo, lời tự nhận có vẻ đúng sự thật.  Vì nếu Gióp đúng thì mọi điều Sô-pha chủ trương và bênh vực đều sai.

(Giop 20:4-11).  ‘Kẻ ác đối diện với sự huỷ diệt hoàn toàn biết bao!’ Gióp than phiền rằng các bạn của ông tìm cách sỉ nhục ông (Giop 19:3).  Giờ đây Sô-pha tuyên bố rằng ông bị sỉ nhục hoặc ‘mất danh dự’ (3) vì điều mà ông gọi là Gióp đang giáo huấn ông (trách móc) nên ông vận dụng lý trí để đáp lời (trí khôn, 4).  Nhưng thật ra, căn cứ vào nội dung phát biểu lần này thì lý luận của ông chỉ dựa vào truyền thống mà thôi.

Ấn tượng căn bản ở đây là ‘vắng mặt’ hoặc ‘biến mất’ (nhất là trong c.7-9).  Kẻ ác hết hiện hữu nữa, như chất đốt trong đống lửa (7a), như giấc chiêm bao không làm sao tìm lại (8), hoặc như ai đó biến mất khỏi gia đình và bè bạn (7b,9).  Dù kẻ ác có rạng danh hoặc nổi bật đến đâu cũng không thành vấn đề, cho dù có nổi danh đến tận trời cao (6).  Kẻ ác trong chương này là người gây tổn hại cho người khác trong cộng đồng, chớ không nhất thiết là người vô đạo hoặc phi luân thường lễ nghĩa.

(Giop 20:12-23).  Làm điều sai quấy không lợi lâu bền Cảnh tượng chính ở đây là ‘ăn’.  Miệng, lưỡi, họng, bao tử, nội tạng, bụng đều được nhắc tới.  Có cả những chuyện nếm, nuốt, ói mửa, mút và ăn.  Rồi cũng có thức ăn, ngon ngọt, dầu, mật, chất béo.  Nhưng tất cả những thực phẩm mà kẻ ác đưa vào bụng không đem lại lợi ích lâu bền cho mình.  Thực phẩm ăn vào không bồi bổ cho thể xác trái lại gây ra cái chết của kẻ ác.  Có một cảnh tượng là thức ăn có vị ngon ngọt nhưng sinh chua trong bao tử và gây ói mửa (12-15).  Một cảnh tượng khác là thức ăn hoá ra chất độc chết người (16-19).  Cảnh tượng thứ ba là kẻ háu ăn đến nỗi ăn sạch mọi thứ có thể ăn được để rồi sau đó chết vì đói (20-22).

(Giop 20:24-29).  Kẻ ác không thể thoát khỏi sự diệt vong chung cuộc Ở đây dồn dập nhiều cảnh tượng, như trong một cơn ác mộng, để minh hoạ rằng chung cuộc kẻ ác không có cách nào thoát khỏi sự diệt vong.  Có một cảnh tượng quân sự (nếu kẻ ác thoát chết vì một loại vũ khí thì sẽ chết vì một loại vũ khí khác nguy hiểm hơn, 24-25), và một cảnh tượng có đậm màu pháp lý (kẻ ác lãnh án tử hình do sự làm chứng của trời và đất, 27).  Đương sự bị cơn giận của Đức Chúa Trời tiêu diệt (26) rồi nước lụt cuốn đương sự lẫn toàn gia trôi mất (28).

Đến cuối bài phát biểu Sô-pha có còn nói về Gióp nữa không?  Hoặc ông bị bài phát biểu cuốn hút nên nói cường điệu hoa mỹ như vậy?  Đúng là ông rất sành đối với những cảnh có tính cách kịch tính, nhưng chẳng lẽ ông mô tả những cảnh tượng đó để doạ Gióp sao?  Gióp đã trải qua một cơn ác mộng kinh hoàng không kém những cảnh tượng mà Sô-pha mô tả, và ông chẳng cần có người chỉ bảo rằng thông thường người công nghĩa có triển vọng tiếp nhận số phận đó từ kẻ ác.  Ông cũng chẳng cần, còn Sô-pha thì cần, ai chỉ bảo rằng hình ảnh mô tả ở đây không mấy đúng với thực tế.

13. Gióp phát biểu lần thứ bảy: ‘Kẻ ác thịnh vượng còn người công nghĩa chịu khổ đau’ (Giop 21:1-34)

Cả ba bài phát biểu của các bạn trong đợt thứ hai tập trung bàn về số phận của kẻ ác, riêng Sô-pha trong bài phát biểu cuối của đợt này cho rằng kẻ ác chỉ được hưởng thành quả của tội lỗi của họ trong một thời gian ngắn ngủi.  Gióp đáp rằng: ‘Không phải vậy, kẻ ác sống suốt cuộc đời trong thịnh vượng rồi chết an ổn’ (13).  Quan điểm của Gióp cũng cực đoan không kém, nhưng có vẻ sát với thực tế của cuộc sống hơn.

(Giop 21:2-6).  ‘Này các bạn, nghe tôi nói đây Gióp phải yêu cầu họ nghe ông nói về vấn đề này vì tất cả đều nhất trí chống lại ông.  Đối với Gióp niềm an ủi đáng kể hơn tất cả mọi lời phát biểu là họ bằng lòng lắng tai nghe ông nói ít nhất một lần (2).  Chắc chắn là họ sẽ tiếp tục chế nhạo (3) vì ông chẳng than phiền với con người mà với Đức Chúa Trời, vả lại ông cũng không trông mong người ngay dành thiện cảm cho ông trong trường hợp xứng đáng.  Nếu họ thực sự chịu nghe ông nói (hãy xem xét tôi 5) họ sẽ sửng sốt đối với những điều ông tiết lộ về đường lối điều hành vũ trụ này, rồi họ sẽ đưa tay bụm miệng trong một cử chỉ bày tỏ sự kinh ngạc trong im lặng.  Khi trầm ngâm ngẫm nghĩ về sự kiện kẻ ác được phép thịnh vượng trong thế giới của Đức Chúa Trời cũng đủ làm cho chính Gióp kinh hãi (6).

(Giop 21:7-16).  ‘Kẻ ác thịnh vượng, sao lại như vậy?’ Gióp bác tất cả những điều các bạn đã phát biểu kẻ ác sống thọ (7), được nhìn tận mắt sự thành đạt vững lập của con cái (8), thú vật của họ không hề bị hại (10), rồi ngay cả khi họ phỉ báng Đức Chúa Trời (14-15) họ vẫn sống.  Gióp cay cú nhai lại cảnh tượng thịnh vượng của người công nghĩa mà Ê-li-pha đã vẽ ra (Giop 5:17-27).  Nội trong ba câu Gióp phản bác ý của Sô-pha (7 so sánh 20:11), Binh-đát (8 so sánh 18:19) và Ê-li-pha (9 so sánh 5:24).  Gióp không màng đến dạng thịnh vượng của kẻ ác (16),  nên trong mỗi câu đề cập đến sự thịnh vượng của hạng người này ông đều có ý nói rằng: ‘Vì sao lại cho phép chuyện xảy ra như thế?’ (7).

(Giop 21:17-21).  Kẻ ác chịu khổ thường đến mức nào?’ Gióp bác bỏ ý của Sô-pha (20:5) và nói rằng: ‘Chẳng mấy khi kẻ ác chịu khổ (7)’.  Ông mường tượng các bạn đáp rằng: ‘Ơ, nếu chính kẻ ác không bị khốn khổ, thì con cái họ bị khổ’.  Nhưng Gióp nói tiếp rằng: ‘Nếu có luật báo trả thì phải áp dụng luật đó với những người đáng bị báo trả!’.

(Giop 21:22-26).  ‘ tốt hoặc xấu cũng chẳng khác nhauCó lẽ câu 22 cũng là (như câu 19) một câu trích dẫn lời nói của các bạn họ ngụ ý cho rằng Gióp đang chỉ trích sự khôn ngoan và công bình của Đức Chúa Trời.  Gióp trả lời rằng dường như trong thực tế sống tốt hoặc xấu chẳng dẫn đến sự khác biệt nào trong cuộc sống tất cả đều chịu chung một số phận.  Ở đây ông có ý so sánh sự thịnh vượng của kẻ ác (23-24) với sự cay đắng trong linh hồn của con người công nghĩa (25).  Trái lại, có vẻ như ông muốn nói rằng xét về phương diện chết thì chẳng có điểm khác biệt nào giữa vòng con người để mà lý giải việc họ đồng chịu một số phận, cũng y như vậy, về phương diện việc sống cũng không có sự khác biệt nào đáng kể.

(Giop 21:27-34).  Kinh nghiệm của con người chứng tỏ Gióp đúng Gióp đoán biết hướng nghĩ ngợi của các bạn (27) trong khi họ mô tả số phận của kẻ ác: kẻ ác chịu khổ - Gióp đang chịu khổ - như vậy Gióp thuộc vào hàng ngũ kẻ ác.  Dầu vậy kinh nghiệm chung của con người chứng tỏ niềm tin tưởng của các bạn như vậy là sai.  Gióp nói rằng cứ hỏi bất cứ người khách lữ hành nào, là sẽ nghe họ trả lời rằng kẻ ác được thoát khỏi ngày tai hoạ (30).  Chẳng một ai tố cáo tính hạnh của kẻ ác trước mặt họ (31), chẳng một ai báo trả kẻ ác về những việc làm của họ.  Khi sống lúc chết hàng ngàn người tôn trọng họ đến cả mộ của họ cũng được canh phòng chống bọn trộm cướp mồ mả.

14. Ê-li-pha phát biểu lần thứ ba: Sự xấu xa nghiêm trọng nhất của Gióp (Giop 22:1-30)

Trong vòng phát biểu thứ nhất, các bạn đưa ra những quan điểm riêng của mình trong vòng phát biểu lần thứ hai, tất cả xoáy vào số phận của kẻ ác, giờ đây vào vòng phát biểu thứ ba (Giop 22:1-31:40), khó lòng lần ra lập luận hợp lý của các bài phát biểu.  Coi như Ê-li-pha nói mâu thuẫn với quan điểm bạn của mình.  Binh-đát chỉ nói được phần dẫn nhập của bài phát biểu (25:1-6) còn Sô-pha chẳng nói được gì nữa.  Có khả năng là một phần sách trong nguyên bản bị mất nhưng căn cứ vào phần sách còn lại như hiện tại thì dường như các bạn chẳng có ý gì mới lạ để phát biểu nữa.

(Giop 22:2-11).  Sự gian ác của ông chẳng nghiêm trọng lắm sao?’ Theo một phương diện thì bài nói của Ê-li-pha ở đây cũng tương tự như bài phát biểu lần thứ nhất (chương 4-5): ông tin rằng Gióp sẽ được giải cứu nhờ sự thanh sạch của tay ông (30).  Ông khuyên Gióp là hãy hoà thuận với Đức Chúa Trời (21).  Nhưng ở những phương diện khác Ê-li-pha có vẻ khá mâu thuẫn với quan điểm của mình trước đó: có vẻ như ông cáo buộc Gióp về vô số tội ác (5), đặc biệt là những chuyện bất công đối với người khác (8-9).  Trong toàn bộ cuốn sách đây là những lời lên án Gióp một cách cụ thể nhất, tàn nhẫn nhất và bất công nhất, nghe cũng lạ tai lắm vì trong đám bạn bè thì chính Ê-li-pha lại là người thốt ra những lời lẽ này.  Vì ông tin rằng Gióp thực sự đã lấy của cầm của anh em mình một cách vô cớ (6), không cho kẻ khát uống khi họ xin nước, không ban bánh cho kẻ đói khi họ xin ăn (7), đuổi kẻ goá bụa đi tay không, bẻ gãy nơi nương nhờ của kẻ mồ côi (9) nên ông không thể nào phát biểu theo như nội dung trong chương 4-5 được.  Như vậy dường như Ê-li-pha muốn nói rằng một khi không tìm ra nguyên nhân của sự khổ đau trong những việc làm vì Gióp  chẳng có làm gì sai quấy nên có lẽ Gióp phạm tội qua những việc thiếu sót không thực hiện.  Đúng là Gióp không lột áo quần của kẻ nghèo, nhưng chắc ông đã không cho người nghèo khổ áo quần để mặc, vân vân...  Không phải Đức Chúa Trời xét đoán Gióp về sự công bình của Gióp (4) nhưng về những việc đáng lẽ phải làm mà Gióp đã không làm.

(Giop 22:12-20).  ‘Đức Chúa Trời khả năng nhìn thấy tội lỗi kín đáo của ông Thoạt đầu chính Sô-pha là người cáo buộc Gióp là một kẻ phạm tội một cách kín đáo (11:5-6), nhưng giờ đây chúng ta thấy Ê-li-pha cảnh báo Gióp rằng chắc chắn Đức Chúa Trời thấu triệt những tội lỗi trong những việc mà Gióp thiếu sót không làm mà ông vừa nêu ra ở trên.  Gióp không thể nào thoát khỏi tầm nhìn thông suốt của Đức Chúa Trời (13).  Chính kẻ ác nhận thấy rằng không thể nào thoát khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời dù rằng tạm thời nhà họ đầy dẫy... những vật tốt (18), họ đã bị truất đi trước hạn định (16), trước sự vui mừng của người công nghĩa (19-20).  Đức Chúa Trời đã phanh phui tội lỗi của họ ra.  Ngài cũng sẽ làm như vậy đối với Gióp.

(Giop 22:21-30).  Làm thế nào để ông được giải cứu Ê-li-pha lại phát biểu tương tự như trong chương 4-5.  Trên căn bản ông đứng về phía Gióp với hy vọng là Gióp được hoà thuận với Đức Chúa Trời.  Mượn ý trong bài phát biểu lần thứ nhất của Binh-đát (8:5-6), Ê-li-pha động viên Gióp trở lại cùng Đấng Toàn Năng (23) nghĩa là ăn năn, tìm được sự vui sướng nơi Đấng Toàn Năng (26), cầu nguyện và làm trọn lời hứa nguyện (27).  Rồi mọi việc Gióp làm đều sẽ thịnh vượng (28) và ông cũng sẽ đem phước hạnh đến cho người khác, như ông từng làm trong quá khứ (4:3-4).  Không như mấy bài phát biểu cuối của các bạn, bài phát biểu này kết thúc với ý phấn khởi - nhưng Gióp lại đáp ứng  với giọng tuyệt vọng trầm trọng hơn.

15. Gióp phát biểu lần thứ tám: ‘Lẽ ra Đức Chúa Trời phải thường xuyên sẵn sàng để gặp con người’ (Giop 23:1-24:25)

Trong bài phát biểu này có hai vấn đề chính.  Vấn đề thứ nhất là Gióp nhắc lại lời ông yêu cầu Đức Chúa Trời minh oan cho ông đi đôi với điều ông cảm nhận sâu sắc là vô hy vọng gặp được Đức Chúa Trời (23).  Vấn đề thứ hai, tình cảnh của người nghèo vô tội so với sự thịnh vượng của người giàu có, một tình trạng mà dường như Đức Chúa Trời không hề có một biện pháp cải thiện nào (chương 24).  Tóm lại, dù Gióp tin rằng nếu ông có thể đến gặp Đức Chúa Trời thì ông sẽ được minh oan, nhưng ông cảm thấy tuyệt vọng đối với viễn cảnh minh oan, vì rõ ràng Đức Chúa Trời không ấn định một thời hạn để sửa sai lại những việc bất công.

(Giop 23:2-17).  ‘Ôi, ước tôi biết tìm được Ngài nơi nào Gióp tin rằng hễ ông tìm gặp được Đức Chúa Trời thì vấn đề minh oan sẽ được giải quyết.  Đức Chúa Trời sẽ không dùng vũ lực đối với ông nhưng Ngài sẽ nghe ông giãi bày nỗi oan uổng của mình (6) rồi Ngài sẽ tha bổng ông (7).  Nhưng không cách nào đến gần Đức Chúa Trời được: Ngài không ở phía trước, cũng chẳng ở phía sau, không có ở bên trái cũng chẳng có ở bên phải (8-9).  Dầu vậy, tuy ông không thể tìm gặp Đức Chúa Trời, nhưng ông biết rằng Đức Chúa Trời có thể tìm gặp ông (Chúa biết con đường tôi đi10) và nếu Đức Chúa Trời quyết định thử nghiệm ông, ông sẽ như vàng qua cuộc thử nghiệm, được xác chứng là vô tội (10-11).  Nhưng Đức Chúa Trời xử sự cách không công bằng cũng không đúng luật lệ.  Ngài làm theo điều Ngài muốn (13) chung qui chỉ có Gióp là phải chịu khổ trong bóng tối tăm.  Ông đang đấu tranh chống một đối thủ vượt quá tầm với của ông và ông không thể nào thắng được nhưng ông nhất định cứ tiếp tục đấu tranh (17).

(Giop 24:1-25). sao Đức Chúa Trời không giữ thời điểm ấn định cho sự xét xử?’ Gióp nhận thấy rằng không phải trên đời này chỉ có một mình ông lo phiền.  Xét chung trong nhân loại, người vô tội lẫn người can tội, ông ngạc nhiên sao Đức Chúa Trời không ấn định thời điểm xét xử (1), là lúc xử lý những sự bất công trong guồng máy cai trị thế gian. 

Thứ nhất, vì sao cứ để mặc cho người nghèo khổ vô tội chịu khổ đau dai dẳng như thế?  Người ta dời lấn địa giới của người nghèo (2 so sánh Phu 19:14), người ta chiếm đoạt súc vật của người nghèo (2b-3) người ta làm nhục người nghèo (4) đẩy họ đến tình trạng phải đi mót trong các ruộng (6), đi ngủ không có đủ đồ đắp thân (7-8), làm việc với tiền công rẻ mạt (11).  Cảnh tượng thật là xúc động nhưng Đức Chúa Trời lại không xúc động trước cảnh tượng đó, có vẻ như Ngài chẳng quan tâm gì đến tiếng kêu than của người nghèo khó (12).

Thứ hai, vì sao kẻ ác vẫn được phép thành công thịnh vượng một cách bất công như thế mãi (13-17)?  Bọn sát nhân và gian dâm là bọn ưa thích sự tối tăm hơn là ánh sáng được cho sống dù bạn của họ chỉ là những sự hãi hùng trong bóng tối tăm (17) và lẽ ra họ phải ở với các bạn đó trong cõi âm ty.  Qua những vấn đề này Gióp không chỉ nghĩ ngợi về bản thân nhưng nghĩ ngợi về đường lối mà Đức Chúa Trời cai trị toàn cõi thế giới này.

18-25  Một số người cho rằng giọng điệu lý luận trong các câu này khác xa với giọng điệu của Gióp nên chúng ta có thể đoán rằng chắc đây là phần phát biểu của các bạn.  Chính các bạn mới là người nói rằng người có tội chẳng khác gì bọt trên mặt nước (18), rằng cõi âm ty sẽ sớm đem họ đi (19), rằng người ta không nhớ đến họ lâu dài (20), rằng cho dù họ có vẻ quan trọng đến đâu họ sẽ sớm bị cắt như gié lúa trong mùa gặt (24).  Có lẽ thoạt tiên các câu này thuộc về chương 25 tức là phần phát biểu của Binh-đát bị đặt sai chỗ, hoặc đây là phần Gióp dẫn lời phát biểu của các bạn (trong bản dịch RSV có thêm câu: ‘Các bạn nói rằng’ ở đầu câu 18 và xem câu 18-25 là lời nói của các bạn).

16. Binh-đát phát biểu lần thứ ba: ‘Làm thế nào một người được xem là công bình trước mặt Đức Chúa Trời?’ (Giop 25:1-6)

Trong bản văn ở phần này có chuyện bất bình thường.  Bài phát biểu của Binh-đát chỉ có năm câu mà lại thiếu phần khai mở thường lệ.  Còn thiếu hẳn bài phát biểu của Sô-pha trong khi đó Gióp phát biểu liên tục ba bài (chương 26,27-28,29) mà các bạn không xen vào một tiếng nào cả.  Một số câu nói trong bài phát biểu của Gióp không có giọng điệu của Gióp gì cả.  Cho nên có lẽ thoạt tiên bài phát biểu của Binh-đát bao gồm Giop 25:2-6 và 26:5-14.  Còn nội dung bài phát biểu của Binh-đát hiện nay thì nhuốm nặng tư tưởng của Ê-li-pha, nhất là ý tưởng cho rằng nếu so với Đức Chúa Trời thì trên thế giới chẳng có gì là hoàn toàn trong sạch cả (4-6 so sánh 4:17-19).  Hố sâu ngăn cách nhân loại với Đức Chúa Trời được Binh-đát làm nổi bật qua mấy câu đầu (2-3) nói về quyền năng của Đức Chúa Trời với số đạo quân nhiều vô kể.  Đề tài về quyền cai trị toàn năng của Đức Chúa Trời được bàn tiếp trong 26:5-14 như thể các câu này cũng là của Binh-đát.

17. Gióp phát biểu lần thứ chín: ‘Lời khuyên của các bạn là vô dụng’ (Giop 26:1-14)

Dường như trong chương 26 hiện nay thì chỉ có phần khai mở của bài phát biểu của Gióp, trong đó Gióp chế nhạo Binh-đát là những điều ông nói đều chẳng ích lợi gì.  Phần đáp lời của Gióp sẽ phù hợp nếu bài phát biểu vừa rồi của Binh-đát bao gồm cả Giop 26:5-14 trong đó ông nhấn mạnh về quyền năng của Đức Chúa Trời.  Khi đó Gióp đáp lời với ý là bạn nói với tôi về sự uy nghi của Đức Chúa Trời thì tốt thôi nhưng đối với một con người như tôi không có quyền hạn gì cả thì điều đó có ích gì đâu (2)?  Đối với một con người như tôi đã bị coi là thiếu khôn ngoan (3) thì chuyện ông ca ngợi sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (7,12) có ích gì cho tôi đâu?  Có lẽ bài phát biểu của Gióp tiếp tục trong chương 27.

(Giop 26:5-14).  Thật ra lẽ các câu này thuộc về Binh-đát trong bài phát biểu lần thứ ba.  Qua các câu này ông nói về sự khôn ngoan và quyền năng của Đức Chúa Trời.  Là Đấng có quyền năng sáng tạo vũ trụ bằng cách treo địa cầu vào cõi không gian không điểm tựa (7).  Ông đề cập đến một số những khía cạnh trong cuộc sáng tạo, một số điều không có trong sách Sáng Thế Ký, thí dụ như những trụ của các từng trời (11), và vẽ chân trời theo hình vòng tròn (10).  Cũng có những điểm nằm trong các câu chuyện sáng tạo khác, như chuyện sáng tạo là cuộc chiến thắng của Đức Chúa Trời trên những con quái vật gây ra sự hỗn độn (Ra-háp, 12 con rắn bay, Lê-vi-a-than, 13).  Đương nhiên quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay.  Ngài ém nước trong các đám mây (8) là những bọc dựng nước trên bầu trời, và Ngài che khuất bề mặt của mặt trăng (9) trong các tuần trăng.  Nhưng điểm chính là bằng cớ về sự vĩ đại của Đức Chúa Trời mà con người nhận biết và nhìn thấy đều chỉ là những phần ngoại vi trong công trình của Ngài, và chỉ chuyển lại tiếng thì thầm yếu ớt của quyền năng sấm sét của Ngài (14).  Con người không thể hy vọng hiểu Đức Chúa Trời thật sự mà chỉ có thể hiểu biết lờ mờ về Ngài mà thôi.

18. Gióp phát biểu lần thứ mười: Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (Giop 27:1-28:28)

Ở đây chúng ta lại gặp vấn đề ai là người phát biểu những chương này.  Trong Giop 27:2-12 chúng ta nghe giọng điệu đích thực của Gióp, không nghi ngờ gì nữa nhưng có lẽ phần còn lại của chương 27 và trọn chương 28 không phải là lời lẽ của ông.  Chắc chắn là ông không lập lại những ý tưởng chán ngắt của các bạn về số phận của kẻ ác (27:13-23). Có lẽ 27:13-28:28 nguyên thuỷ là bài phát biểu thứ ba của Sô-pha, vì những chủ đề chúng ta tìm thấy ở đây như số phận của kẻ ác (27:13-23), sự khôn ngoan bí ẩn của Đức Chúa Trời (28:1-27) và bổn phận của con người là phải làm lành lánh dữ (28:28) đều đã được Sô-pha bàn đến lần trước trong 11:7-20.

(Giop 27:2-12).  ‘Tôi sẽ không từ bỏ lòng chân thật của mình Đức Chúa Trời đã không đối xử với Gióp cách công bằng (2), và dù các bạn vẫn cho là Gióp sai trái (5), Gióp vẫn khẳng định là ông công nghĩa (6).  Ai bài bác sự vô tội của Gióp thì chịu sự rủa sả của Gióp và sẽ chịu số phận của kẻ ác (7-10).  Giờ đây, Gióp nhận biết nhiều về những đường lối bí ẩn của Đấng Toàn Năng đến nỗi ông có thể dạy lại bất cứ người nào về những điều ông đã học được qua kinh nghiệm.  Qua thời gian nghe Gióp phát biểu lẽ ra chính các bạn cũng đã học hỏi được nhiều, dầu vậy những lời phát biểu của họ vẫn vô nghĩa lạ lùng (12).

(Giop 27:13-23).  Số phận của kẻ ác Sau phần Gióp tự biện minh cách nồng nhiệt, phần này khá nhàm chán với những ý tưởng theo truyền thống về số phận kẻ ác mà chúng ta đã đọc qua.  Sự thể này cho phép chúng ta kết luận rằng có lẽ phần này không còn là bài phát biểu của Gióp mà là của Sô-pha.  Ở đây hình dung số phận của kẻ ác qua những sự việc xảy đến cho chính bản thân đương sự, cho tài sản và cho gia quyến của đương sự: con cái chết vì gươm giáo hoặc vì trận dịch (14-15), của cải bị phó cho người khác công nghĩa hơn (16-19), trong khi bản thân đương sự thì bị cuốn đi như một cơn gió lốc hoặc một vụ lũ lụt hoặc một trận gió đông đầy sức tàn phá (20-23).  Rõ ràng, phần lớn số phận của kẻ ác đã xảy ra cho Gióp.  Như thế phần này phù hợp với thái độ của Sô-pha suốt cuốn sách: ‘Thực ra Đức Chúa Trời đã bỏ quên mất một số tội lỗi của ông’ (11:6).

(Giop 28:1-18) ‘ thể tìm được sự khôn ngoan đâu?’ Chủ đề của bài thơ hùng tráng này là con người không thể nào đạt được ‘sự khôn ngoan’.  Không phải là loại khôn ngoan thực dụng dạy trong sách Châm Ngôn nhưng đây là khả năng thấu triệt thế giới và trật tự điều hành thế giới này.  Vận dụng sự khôn ngoan về hướng đó quả là phù hợp với ý của tác giả sách Truyền Đạo, là người nhấn mạnh rằng con người ‘không thể nào hiểu những việc Đức Chúa Trời đã làm từ  thuở ban đầu đến thời chung kết’ (Tr 3:11 so sánh Giop 8:17).  Kể ra lời lẽ bài thơ này mà xuất phát từ Gióp thì nghe cũng quá lạ vì mãi sau khi Đức Chúa Trời truyền phán dạy bảo ông (chương 38-41) rồi ông mới công nhận những ý tưởng trong bài thơ này (so sánh 42:3).  Thêm một lý do nữa khiến người ta cho rằng thoạt tiên bài thơ này là lời phát biểu của Sô-pha. 

Đồng ý là giữa sự khôn ngoan của con người và Đức Chúa Trời có một khoảng cách rất lớn, nhưng không cần phải hạ thấp sự khôn ngoan của con người để đề cao, tăng độ cho sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.  Bài thơ mở đầu dưới dạng một bài hát ca ngợi tài trí của con người (1-11) rồi sau đó tiếp tục xác định rằng dầu vậy con người vẫn không với tới sự khôn ngoan thật được chỉ có một mình Đức Chúa Trời có sự khôn ngoan đó (12-27).  Con người không được phú cho ‘sự khôn ngoan’ mà là sự hiểu biết luật lệ của Đức Chúa Trời: đối với con người khôn ngoan, là sống trong sự kính sợ Đức Chúa Trời (28).

(Giop 28:1-11).  Chỉ một thí dụ điển hình được chọn để nêu ra: con người có khả năng khai thác mỏ kim khí ẩn sâu trong lòng đất.  Ở đây đề cập đến bốn loại kim khí (1-2).  Ở trong lòng đất người ta sử dụng đèn (3).  Người thợ đào mỏ làm việc đơn lẻ và nhiều hiểm nghèo: bị treo lơ lửng và đung đưa (4) trong khi người ta đưa thợ thuyền xuống hầm mỏ.  Trong ngành khai thác mỏ có một khía cạnh mâu thuẫn: trên mặt đất việc đồng áng được tiến hành cách êm đềm yên ổn, trong khi đó bên dưới mặt đất có thể người ta đang hùng hổ phá dời những chướng ngại vật chận đường tiến tới mỏ kim khí (5, 9).  Với sự khôn ngoan của mình con người đã làm ra những ngõ ngách trong lòng đất mà chim chóc hoặc dã thú không hề ngờ đến (7-8) và đã đặt mình vào vị trí làm chủ địa cầu (11).

(Giop 28:12-28).  Nói trắng ra thì sựkhôn ngoan điều không phải cứ tìm tòi lùng sục được, đây không phải sự khôn ngoan của con người trong lãnh vực kỹ thuật.  Tác giả bài thơ không cho chúng ta biết liền ý của ông, nhưng ông để bầu không khí phập phồng đạt cao điểm trong khi đó ông dần dà cho thấy là không có cách nào tìm được sự khôn ngoan này.  Không biết tìm đến nơi nào (12), không biết kiếm qua lối nào, cách nào (13) không thể dùng vàng bạc hoặc đá quí màđịnh giá sự khôn ngoan (15-19).  Toàn cõi thế giới cũng không biết tìm sự khôn ngoan ở đâu (14).  Ngay cả những quyền lực siêu nhiên của sự trầm luân (cõi âm ty), và của sự chết cũng chỉ nghe đồn về sự khôn ngoan mà thôi (22).  Nhưng Đức Chúa Trời biết (23) vì đó là sự khôn ngoan của chính mình Ngài, với sự khôn ngoan đó Ngài thiết lập cõi thọ tạo này (24-27).  Con người không thể đạt được sự hiểu biết siêu nhiên với những mục đích và những luật lệ chi phối vũ trụ này.  Tuy nhiên con người được phú cho một dạng khôn ngoan khác là dạng khôn ngoan thực dụng hơn, dễ huy động hơn.  Đó là sự khôn ngoan trong hành động: kính sợ Đức Chúa Trời, nghĩa là niềm tin chân thật, và tránh điều ác (28) là sự khôn ngoan đối với con người.  Giả định như chương này là lời cuối cùng của Sô-pha nói với Gióp thì ông nhằm bác bỏ điều Gióp tự nhận là có Gióp hiểu ‘đường lối của Đấng Toàn Năng’ (27:11) và nhằm khuyên Gióp đừng tìm kiếm sự khôn ngoan mà hãy tìm sự công nghĩa.

19. Gióp phát biểu lần thứ 11: ông ngẫm nghĩ về những nỗi khổ của mình (Giop 29:1-31:40)

Bài phát biểu kết thúc và hùng hồn của Gióp gồm có ba phần.  Trong phần thứ nhất, ông ôn lại, với giọng nhớ nhung tiếc nuối, quãng đời phước hạnh của mình ngày xưa, trước khi tay của Đức Chúa Trời giáng bổ trên ông (chương 29).  Trong phần thứ hai, ông tả vẽ, với giọng lâm ly thống thiết với tình trạng cô đơn và kiệt quệ của ông hiện nay (chương 30).  Trong phần thứ ba, với giọng bất cần ông tự nguyền rủa về nhiều chuyện, với đỉnh điểm là lời ông cầu mong thống thiết là lời kêu xin của ông được nghe lọt tai và ông được minh oan (chương 31).  Ông hoàn toàn không đếm xỉa đến sự hiện diện của các bạn, mà ông cũng chẳng hướng về Đức Chúa Trời mà phân trần thỉnh cầu.  Ông hoàn toàn nói về chính mình, và chính vì ông tập trung vào một chủ đề đơn độc như vậy mà phần phát biểu này là phần cảm động nhất và gây ấn tượng sâu đậm nhất trong toàn bộ cuốn sách.

(Giop 29:1-25)  ‘Tôi nhớ tiếc những ngày tháng đã qua biết chừng nào!’ Phần hồi tưởng đầy nuối tiếc về quá khứ này bổ sung cho chúng ta một số chi tiết trong cuộc đời của Gióp không có trong phần dẫn nhập.  Phần này cũng vén màn cho chúng ta thấy cảnh sống của một thời đã qua, một cuộc sống với những mối liên hệ đầm ấm và cao trọng.  Vào thời đó Đức Chúa Trời còn chăm sóc ông (2), ông còn sung sức còn tráng kiện (4), bầy súc vật của ông đông đảo đến nỗi bước đi của ông ngập trong chất béo, cây ô-li-ve sai trái đến độ những bàn ép dầu ô-li-ve đục trong đá tuôn ra cả dòng dầu như suối (6).  Vào thời đó ông được trọng vọng như  một tù trưởng, hoặc trưởng thôn, trong làng.  Trong buổi họp của các trưởng thượng tại chỗ công cộng (nghĩa đen là cổng thành, 7-10) ý kiến của ông có giá trị nhất.  Vào thời đó, ông có khả năng giúp những người bị thiệt thòi, những người nghèo khó và mồ côi (12), những người hấp hối (13),  các goá phụ (13b), những người khiếm thị và khuyết tật (15), những khách lạ cần có người bảo lãnh (16b).  Trong câu 18-20 và 21-25 cũng lập lại hai chuyện này tức là sự an ổn của chính mình ông cùng vai trò hàng đầu và hữu dụng trong xã hội.  Chú ý là đối với Gióp phước hạnh trong cuộc sống của ông trước kia không phải chỉ bao gồm sự thạnh vượng vật chất và địa vị cao trọng trong xã hội, mà còn một điều quan trọng không kém đó là khả năng mưu ích cho những người lâm cảnh thiếu thốn (đối chiếu với Ê-li-pha trong 22:6-9).  Chắc chắn, so với Đức Chúa Trời thì không thể có một người nào công nghĩa cả (Ro 3:10), nhưng giả vờ cho rằng con người xấu xa cùng tột hoặc không bao giờ có thể mô tả con người là vô tội hoặc công nghĩa thì cũng sai.

(Giop 30:1-31) Nhưng giờ đây họ chế nhạo tôi Khi so sánh tình cảnh của Gióp hiện nay với cuộc sống trước kia, thì ông thấy rằng sự khác biệt lớn tột độ.  Cuộc sống của ông trước kia có cả một mạng lưới tương quan hài hoà (với Đức Chúa Trời, với đồng bạn và với những người bị thiệt thòi) nhưng nay những mối tương quan đó tiêu tan rồi.  Giờ đây người ta đối xử với ông một cách khinh miệt (1-15,24-31), còn Đức Chúa Trời thì loại bỏ ông rồi (16-23).  Tuy nhiên, trên một khía cạnh, tất cả những chuyện đó đều phát xuất từ một mối vì chính là do việc làm của Đức Chúa Trời mà ông bị con người khinh miệt.

(Giop 30:1-8). Chúng ta đọc thấy ba lần chép Nhưng nay, còn hiện nay (1,9,16) vì hai cảnh sống của Gióp tương phản nhau quá mức.  Thoạt tiên Gióp tỏ ra kẻ cả đối với những người khinh dể ông: họ là con cái của kẻ ngu xuẩn, cha của họ chẳng có tên tuổi (8), là dân nghèo nàn trong vùng, dùng lá cây và rễ cây làm thực phẩm.  Há chẳng phải chính họ là lớp người mà xưa kia Gióp từng giúp đỡ sao?  Đúng vậy, và chính vì lý do này mà Gióp bị xúc phạm trước sự khinh miệt của họ.  Ngay cả những người trước kia được ông đối xử cách nhân hậu nay cũng quay lại chống ông và xem ông thấp thỏi hơn họ.  Chính sự vô ơn của họ làm cho ông tức giận.

(Giop 30:9-15).  Giờ đây Gióp là đối tượng gièm chê của những người trước kia đã được ông cứu giúp.  Họ lại còn tấn công ông nữa (12,14), không phải tấn công về mặt thể xác mà qua cách đối xử của họ khiến ông cảm thấy như ông là một thành trì bị vây hãm (14).

(Giop 30:16-23).  Ngoài sự nhục nhã mà ông đang gánh chịu từ ban đầu ông còn bị sự đau đớn thể xác dày vò nữa.  Cả ngày lẫn đêm cơn đau bấu lấy ông như thể móng vuốt của một con thú dữ (16-17).  Tất cả đều do Đức Chúa Trời gây nên (19), dầu vậy, bao nhiêu lần ông cầu cứu Ngài thì Ngài vẫn cứ như là không nghe thấy gì cả (20) vì Đức Chúa Trời cũng tương tự như con người, đã trở mặt đối xử với ông cách tàn ác (21) và rồi đây chắc chắn Ngài sẽ đưa ông đến chỗ chết (23).

(Giop 30:24-31) Dù tin rằng chẳng ích lợi gì, Gióp vẫn phải kêu la cầu cứu (24).  Ông đáng được cứu giúp vì ông đã từng cứu giúp cách hào phóng (25) nhưng khi ông mong mỏi điều tốt lành, thì điều tai hại lại đến (26).  Phần phát biểu này kết thúc với lời nhắc lại sự nhục nhã của ông trong cái nhìn của con người, đó cũng là vấn đề ông đã bàn đến từ đầu.  Ông bị hội đồng nhân dân của thành loại bỏ (28) để ông làm bạn với thú hoang (29).  Da của ông bị xạm đen vì chứng bịnh (28,30) còn điệu nhạc trong cuộc sống trước kia của ông nay trở thành điệu nhạc tang tóc (31).

(Giop 31:1-40) Ôi, ước chi tôi bản cáo buộc của đối thủ của tôi!’ Phần cuối trong bài phát biểu của Gióp là một lời ‘phản bác’, trong đó ông phản bác bất cứ tội ác nào mà ông có thể bị cáo buộc.  Ông chỉ có thể thốt ra những lời tự nguyền rủa như vậy khi mà ông hoàn toàn tin chắc mình vô tội cho nên không có gì lạ khi chương này đạt cao điểm (35-37) với lời khẩn cầu Đức Chúa Trời nghe ông phân trần và cứ hình phạt ông về bất cứ việc làm nào đáng phải phạt.  Ông yêu cầu Đức Chúa Trời là ít nhất Ngài cũng nên báo cho ông biết những điều Ngài cáo buộc ông rồi ông sẽ hãnh diện đeo bản cáo trạng đó trên mình, rồi đáp lại ông sẽ đưa ra những lời biện minh đầy sức thuyết phục.  Mọi trường hợp vi phạm (ngoại trừ sự thờ hình tượng 26-28) mà Gióp giả thiết đều là những tội nghịch cùng người hàng xóm láng giềng, dầu vậy cũng là những tội nghịch cùng Đức Chúa Trời.

(Giop 31:1-4).  Dù tội gian dâm còn được đề cập ở những câu sau nữa (9-12), ở đây Gióp khẳng định là ông không phạm tội đó dù là dưới hình thức thèm muốn gái đồng trinh, dù đó là thói thường của những ông chủ có nhiều kẻ ăn người làm cỡ Gióp.  Ông đã lập ước với mắt tội lỗi phát xuất từ chủ ý trong nội tâm chớ không phải chỉ là hành vi lộ ra bên ngoài.

(Giop 31:5-8).  Một lần nữa, tội lỗi là điều xảy ra trong tâm hồn trước (7).  Mấy câu này đề cập đến bàn cân (6) và mùa màng thất thu là một hình thức hình phạt về tội gian dối (8) nên có lẽ trước tiên Gióp nghĩ đến sự dối trá và lừa gạt (5) trong khi buôn bán trao đổi hàng hoá.

(Giop 31:9-12)  Trong thời các tổ phụ gian dâm bị xem là trọng tội (gớm ghê, đáng bị quan xét xử phạt) vì tội này coi thường tài sản của người khác và có nguy cơ tạo rắc rối trong vấn đề thừa kế.  Bản văn bộc lộ niên đại qua chuyện người nam phạm tội gian dâm là do sự quyến dụ của người nữ (và như vậy trong một khía cạnh do lỗi của người nữ) và xem chuyện vợ của can phạm bị hạ nhục là sự hình phạt cho chính can phạm.  Còn riêng chúng ta thì chúng ta chú trọng đề cao giá trị của lòng chung thủy hơn và đòi hỏi là chỉ kẻ phạm tội phải chịu hình phạt mà thôi.

(Giop 31:13-15)  Gióp tự hào là ông đã vượt lên trên thói tục đương thời và đã đối xử với đám tôi tớ trong vị thế những con người có quyền lợi chớ không phải theo cách của xã hội đương thời là cho phép ông xem họ như những món đồ thuộc quyền sở hữu của ông.

(Giop 31:16-23).  Gióp đã mô tả thiện cảm của ông đối với người nghèo, các goá phụ, trẻ mồ côi và khách lạ, tức là thành phần đặc biệt bị thiệt thòi trong xã hội thời xưa (Giop 29:12-16).  Ở đây ông khẳng định là ông đem cả trẻ mồ côi vào nhà riêng của mình (18) và nêu vấn đề là nếu ông có giá tay lên chống nghịch kẻ mồ côi những tưởng rằng ông có thể xử bất công với họ mà chẳng ai làm gì được ông, thì nguyện sự báo trả giáng xuống trên bàn tay đã giơ lên một cách bất công và nguyện cánh tay của ông bị gãy rời khỏi khớp (22).

(Giop 31:24-28).  Giờ đây Gióp xoay qua những tội trong nội tâm (1-4): âm thầm ham muốn của cải giàu sang (24-25), thờ lạy mặt trời và mặt trăng (26-27), hài lòng trước sự thất thế sụp đổ của kẻ thù (29- 30), cố tình làm ngơ đối với nhu cầu của kẻ khác (31-32) hoặc giả hình (33-34).  Ông chủ ý nguyền rủa chính mình nếu ông đã làm bất cứ một việc nào trong những việc này.  Dù trước kia ông giàu vô kể, nhưng ông tự hào là không bao giờ ông để cho của cải trở nên một thứ hình tượng chiếm vị trí của Đức Chúa Trời.

(Giop 31:26-27).  Trong bản liệt kê các loại tội lỗi, thờ hình tượng là tội duy nhất trong lãnh vực tín ngưỡng.  Trong thời cổ người ta coi chuyện thờ các vì tinh tú trên trời là bình thường.  Nhưng đối với Gióp thờ phượng như vậy là phục vụ vật thọ tạo chớ không phải Đấng sáng tạo.

(Giop 31:29-30) Trong thời của Gióp vui mừng trước tai hoạ của kẻ thù không phải là thiếu đạo đức.  Đôi khi các tác giả thi thiên cũng bộc lộ nỗi vui mừng khi kẻ thù bị hình phạt (thí dụ: Thi 54:7  118:7  137:8-9).  Nhưng Gióp sống theo tinh thần của luật pháp là chủ trương giúp đỡ kẻ thù (Xu 23:4-5 so sánh Ch 20:22 24:17-18  25:21-22).

(Giop 31:31-32)  Dường như ở đây Gióp nghĩ đến những trường hợp nghèo thiếu mà có thể ông giả lơ không biết.  Thật ra, ông đã giúp đỡ cách hào phóng không phải chỉ những trường hợp nghèo thiếu lộ liễu (16-21) nhưng luôn cả những trường hợp mà chỉ một mình ông được biết.

(Giop 31:33-34)  Gióp không nhận là ông đã phạm bất cứ một tội nào có tính cách giả hình.  Ý của ông nơi đây là ‘nếu có lần nào tôi phạm tội rồi tìm cách giấu diếm tội đó’ (như A-đam đã làm) (xem lề của bản NIV).

(Giop 31:35-37)  Gióp kết thúc bản tuyên ngôn trang trọng về tình trạng vô tội của mình bằng cách nói rằng ‘Nầy là dấu hiệu tôi ký’, như thể trong một bản khai báo viết trên giấy.  Ông mong mỏi có được bản cáo trạng liệt kê những tội Đức Chúa Trời lên án ông để đối chiếu với lời tuyên ngôn vô tội của ông.  Khi đó ông sẽ không bị làm nhục vì sự cáo buộc của kẻ buộc tội.  Ông biết chắc là khi đó ông sẽ được chứng tỏ là vô tội nên ông sẽ đội bản cáo trạng lên đầu như đội mão miện (36).  Ông sẽ đến gần Đức Chúa Trời không phải trong tư cách của một can phạm mà là một kẻ vô tội, ông sẽ giải thích những điểm người ta còn có thể cáo buộc ông (37).

(Giop 31:38-40)  Gióp tự nguyền rủa lần cuối cùng cách khá lạ lẫm, sau cao điểm và phần tóm tắt bài phát biểu trong 35-37.  Ông nói rằng nếu ông chiếm hữu đất đai bằng cách áp bức những người chủ đất hợp pháp thì nguyền cho ông phải bị hình phạt (39).

3. CÁC BÀI PHÁT BIỂU CỦA Ê-LI-HU (Giop 32:1-37:24)

1. Ê-li-hu phát biểu lần thứ nhất: ‘Khổ đau là một sự cảnh cáo từ Đức Chúa Trời’ (Giop 32:1-33:33)

Đa số các học giả cho rằng bốn bài phát biểu của Ê-li-hu là phần sách được viết thêm về sau.  Khá lạ là phần dẫn chuyện không giới thiệu Ê-li-hu, nhưng có lẽ tác giả cố tình giới thiệu ông một cách bất ngờ ở phần cuối sách như vậy.  Càng đáng lạ hơn là phần kết cũng không nhắc đến ông (Giop 42:7-17), trong khi có nhắc đầy đủ các bạn khác.  Hơn nữa, các bài phát biểu của Ê-li-hu khiến cho Đức Chúa Trời tạm hoãn trả lời cho Gióp, lẽ ra đến tiếp liền chương 31, câu: ‘Lời của Gióp đến đây là hết’ (31:40).  Đến khi Đức Chúa Trời đáp lời (chương 38-41) thì Ngài nói như không có chuyện gì xen vào cản trở.  Vì thế người ta thường tin rằng nhân vật Ê-li-hu là sáng tác của một tác giả sùng đạo trong thời sau này.  Ông ta không hài lòng khi các bạn của Gióp không thể đánh bạt lập luận của Gióp, rồi ông cũng không hài lòng về phần trả lời của Đức Chúa Trời vì không có điểm cụ thể dứt khoát nào cả.

Có lẽ có thể xem phần phát biểu của Ê-li-hu ra một thế trung dung giữa quan điểm của Gióp và quan điểm của các bạn.  Các bạn lập luận rằng Đức Chúa Trời công bằng, rằng Gióp bị khổ đau chứng tỏ là Gióp đã phạm tội và Đức Chúa Trời đang hình phạt ông vì cớ tội đã phạm.  Gióp bác bỏ cả hai lập luận này, ông xác định rằng sự khổ đau của ông không phải là hậu quả của tội lỗi, và vì vậy Đức Chúa Trời bất công.  Ê-li-hu lên tiếng tỏ ý phản đối cả Gióp lẫn các bạn (32:10-12  33:1-12 so sánh 32:2-3), rồi ông lập luận rằng khổ đau là kỷ luật.  Nghĩa là không nhất thiết khổ đau là biện pháp trừng phạt tội lỗi đã phạm mà có thể là một hình thức cảnh cáo nhằm ngăn cản đương sự khỏi phạm tội. 

(Giop 32:1-5). Ê-li-hu tự giới thiệu Rõ ràng, người trẻ tuổi Ê-li-hu rất tức giận (từ này được lập lại bốn lần trong câu 2,3,5 bản NIV bỏ đi một lần trong câu 2).  Ông tức Gióp vì Gióp ‘tự xưng mình công bình hơn Đức Chúa Trời’ (2).  Đây là một lời phê bình nghiêm trọng hơn là nội dung bản dịch NIV (chứng tỏ mình công bằng thay vì chứng tỏ Đức Chúa Trời công bằng).  Ý của Ê-li-hu là nói về tính cách hợp lý trong điều Gióp tự nhận, tức là trong cuộc đấu tranh này nếu ông cho rằng ông có lẽ phải, ông đúng thì đương nhiên Đức Chúa Trời sai.  Thật ra Gióp không hề nói trắng ra như vậy nhưng đây là một lời kết đi đúng theo lập luận.  Ê-li-hu cũng tức ba bạn vì họ không tìm ra cách nào phản bác Gióp (3) tức là họ không thể thuyết phục được Gióp rằng Đức Chúa Trời không hề sai trái.

(Giop 32:6-22).  Ê-li-hu quyền phát biểu Với toàn bộ phần này Ê-li-hu tự giới thiệu cách dài dòng và viện dẫn lý do khiến ông góp phần vào cuộc tranh luận.  Ê-li-hu công nhận là ông trẻ tuổi nên ông tỏ ý tôn trọng sự khôn ngoan của những bậc cao tuổi (6-7), nhưng ông tìm được lòng can đảm từ niềm tin tưởng rằng Đức Chúa Trời dựng nên mọi người, với khả năng  khôn ngoan như nhau (8).  Vì thế, không phải chỉ có người cao tuổi mới khôn ngoan (9) và ông không e ngại khi nói lên những điều mình biết (10).  Ông cũng được thúc giục góp lời vào câu chuyện vì thấy sự yếu kém trong lập luận của các bạn (11-12).  Theo Ê-li-hu nhận thấy thì dường như họ bàng hoàng trước lập luận của Gióp và họ nghĩ rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới đánh đổ lập luận của ông được (13).  Rồi ông quay sang Gióp (15) và nói rằng ông sẵn sàng phát biểu rồi (16-17) vì ông đầy ắp lời nói (18) và trí ông muốn nổ tung vì vô số ý tưởng (19) và những nỗi bực bội cần được giải toả (20).  Cuối cùng ông báo trước là ông không thiên vị đối với ai cả (21) - rốt cuộc Gióp là người bị ông nói nặng nhất - ông nói là ông không biết nịnh bợ, vì vậy Gióp nên chuẩn bị nghe ông nói thẳng (22).

(Giop 33:1-7).   sao Đức Chúa Trời gây ra khổ đau  Ê-li-hu tiếp tục tự giới thiệu một cách dài dòng.  Ông không tự hào là ông có một sự khôn ngoan đặc biệt nào ngoài sự khôn ngoan mà con người có sự sống, hơi thở của Đấng Toàn Năng (4, so sánh 32:8) có thể đạt được.  Ông yêu cầu Gióp đáp lời ông (5).  Ông nói rằng chẳng có gì là khó khăn cho Gióp đâu, vì ông, Ê-li-hu, sẽ không áp dụng một chiến thuật bằng vũ lực nào theo cách của Đức Chúa Trời vì ôngcũng chỉ là một con người, được tạo nên từ một nhúm đất sét (6).  Ông không có ý tỏ ra mình hơn Gióp khi ông nói rằng ông không cần sợ hãi ngại ngùng tôi (7, bản Diễn Ý) nhưng ông muốn so sánh sự yếu đuối của mình với năng lực của Đức Chúa Trời đang gây ra nỗi khổ đau nơi Gióp.

(Giop 33:8-13).  Gióp có nói là Đức Chúa Trời khước từ không xử công bằng cho ông Đức Chúa Trời không chấp nhận ông vô tội, Đức Chúa Trời hành xử như một kẻ thù nghịch đối với ông (10-11) chớ không phải một quan toà vô tư.  Ê-li-hu chủ ý chứng tỏ Gióp không đúng (12), không phải bằng cách lý luận như các bạn đã làm để chứng minh Gióp là một người phạm tội, nhưng bằng cách chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời gây ra sự khổ đau vì những mục đích khác, nhất là để cảnh báo con người tránh khỏi tội lỗi trong tương lai.  Qua chủ trương đó, Ê-li-hu tin là ông có thể giữ vững chủ trương Đức Chúa Trời công bằng và Gióp vô tội (so sánh 12,32).

(Giop 33:14-18)  Ê-li-hu minh hoạ ý nghĩa của ông về sự khổ đau bằng những cơn ác mộng.  Đó là một trong những phương cách Đức Chúa Trời dùng để phán với con người, dù con người không luôn luôn nhận ra (14).  Đức Chúa Trời dùng ác mộng để cảnh báo con người khiến con người biết sợ tránh làm những điều sai quấy trong tương lai và tránh kiêu ngạo (17) đó là một dạng khổ đau mà Đức Chúa Trời áp dụng để ngăn ngừa những sự khổ đau trầm trọng hơn và sự chết (18).

(Giop 33:19-28).   Sự đau đớn về phần thể xác (21-22) cũng được Đức Chúa Trời dùng cho cùng một mục đích: để ‘tôi luyện’ hoặc để cảnh báo đương sự về tội lỗi (19) chỉ cần lời cầu xin của một trong vô số các thiên sứ có nhiệm vụ cầu thay (23-24) là đương sự lành bịnh và dâng lời cảm tạ trước công chúng vì sức khoẻ được phục hồi (so sánh Thi 22:22-25).  Rồi đương sự xưng tội (27) dù chỉ mới là trong giai đoạn trù tính chớ chưa thực sự phạm tội qua hành động.

(Giop 33:29-33).   Ê-li-hu đề nghị Gióp đáp lời (32) hoặc nếu không thì nghe ông tiếp tục nói (31, 33).  Ông nhắc lại rằng mục đích của ông không phải buộc tội Gióp là một kẻ phạm tội nhưng để biện bạch cho ông (32b) rằng khổ đau mà ông đang chịu là một hình thức kỷ luật của Đức Chúa Trời.

2. Ê-li-hu phát biểu lần thứ hai: ‘Gióp sai khi cáo buộc Đức Chúa Trời bất công’ (Giop 34:1-37)

Ê-li-hu không còn nói thẳng với Gióp nữa giờ đây ông kêu gọi các nhà thông thái (2) có thể chính là mấy người bạn của Gióp (nếu vậy thì Ê-li-hu tỏ ra khá mỉa mai) hoặc là nhóm người đông đảo hơn đang đứng chung quanh nghe chuyện.  Điểm chính của ông trong bài phát biểu này là một khi Đức Chúa Trời là Đấng công bằng (10), thì hễ Gióp chỉ trích Đức Chúa Trời về những việc Ngài làm hoặc không làm là Gióp sai.  Vậy là Ê-li-hu bỏ qua không xét đến hoàn cảnh đặc biệt của Gióp và ông chỉ lo nói trên bình diện tổng quát.

(Giop.34:1-9)  Ê-li-hu nhắc lại điều Gióp tự nhận: ‘Tôi vô tội’ (5a so sánh Giop 27:6) và điều ông nhận định về Đức Chúa Trời: ‘Đức Chúa Trời không xét công bình cho tôi’ (5b so sánh 27:2).  Ông xin thính giả cho biết xem có bao giờ họ gặp một người như Gióp là người uống lời nhạo báng như nước (7) và là người phê bình rằng Đức Chúa Trời đã xử ép ông, nên ông tự đặt mình vào hàng ngũ những kẻ ác, là những người cũng cho rằng Đức Chúa Trời bất công.  Theo ý Gióp, Ê-li-hu nói một cách rất bất công rằng: ‘Chẳng ích lợi chi cho loài người khi tìm cách làm hài lòng Đức Chúa Trời’ (9).  Thật ra, Gióp có nói rằng kẻ ác có thể thoát khỏi sự hình phạt (21:7-34) và tai hoạ đổ xuống người tốt lẫn người xấu xa (9:22-24), nhưng riêng ông, ông vẫn trung tín sống đạo hạnh dù nếp sống đó không có lợi gì cho ông cả.

(Giop 34:10-15)  đây Ê-li-hu nói rằng Đức Chúa Trời không bao giờ bất công (10-12) vì vậy Gióp sai khi gán cho Đức Chúa Trời bất cứ một hình thức bất công nào.  Đối với Ê-li-hu, sự công bình của Đức Chúa Trời là hệ quả đương nhiên của sự kiện Ngài là Đấng Sáng Tạo toàn năng (13-14).  Nhưng chủ trương như vậy cũng khá nguy hiểm vì như vậy có nghĩa là nói ‘có quyền lực là có lẽ phải’, ‘lẽ phải thuộc về kẻ mạnh’.

(Giop 34:16-30).  Ê-li-hu tiếp tục luận rằng Đấng cai quản trụ không thể nào bất nghĩa.  Đức Chúa Trời là Đấng công nghĩa và quyền năng (17).  Ngài có quyền xét xử các vua và giới quí tộc (18), phá tan họ mà không cần tra xét (24) vì Ngài đã am tường từng bước đi của họ (21).  Ngài có thể lật đổ họ ban đêm (25).  Những hành động đầy quyền năng của Ngài hoàn toàn phù hợp với sự công bình của Ngài.  Ngài không thiên vị các bậc vua chúa hoặc giới giàu sang (19), Ngài ban thưởng cho mọi người tuỳ theo việc họ làm (25) và đánh hạ người gian ác vì sự xấu xa của họ(26) vì họ đã bất tuân luật pháp của Ngài (27) và đã áp bức người nghèo (28).  Vì vậy nếu có lúc Đức Chúa Trời im lặng và không minh oan khi có người yêu cầu thì ai là người dám lên án Ngài và dám kết luận rằng Ngài bất công (29)?

(Giop 34:31-37)  Gióp liên tục đòi được minh oan mắc thêm tội phản loạn ngoài số tội đã phạm (37) như vậy đặt Đức Chúa Trời vào thế sai trái.  Đến đây Ê-li-hu giả thiết là nếu có một người bị hình phạt vì tội lỗi của mình, sau đó ăn năn (31-32).  Theo ý Ê-li-hu thì thần học của Gióp không cho Đức Chúa Trời cơ hội tha thứ kẻ ăn năn, vì Gióp muốn là hễ ai chịu khổ đau dưới bàn tay của Đức Chúa Trời thì người đó đòi hỏi Ngài minh oan và khước từ sự tha thứ (33).  Nhưng nói như thế là bất công đối với Gióp vì Gióp không chủ trương rằng tất cả mọi trường hợp khổ đau đều là người vô tội.

3. Ê-li-hu phát biểu lần thứ ba: ‘Lẽ ra Gióp không nên ta thán mà nên kêu cầu Đức Chúa Trời’ (Giop 35:1-16)

(Giop 35:1-8).  Ở đây có vẻ như Ê-li-hu lại nghĩ đến câu nói mà ông cho là của Gióp trong Giop 34:9, tức là: ‘Chẳng ích lợi chi cho con người khi tìm cách làm hài lòng Đức Chúa Trời’.  Thật ra Gióp không chủ trương như vậy, mà Gióp cũng không nêu câu hỏi này: ‘Tôi có lợi gì trong trường hợp tôi không phạm tội?’ (3).  Chính Ê-li-hu tưởng tượng ra câu nói đó thôi.  Dầu vậy ông vẫn trả lời câu hỏi đó cho Gióp rằng sống công nghĩa với mục đích mưu cầu lợi lộc là sai (7).  Vì Đức Chúa Trời là Đấng vĩ đại vô cùng nên Ngài không mấy quan tâm đến những chuyện diễn ra trên đất (5) cho dù đó là những điều ác (6,8).

(Giop 35:9-16).  Vì Gióp than van rằng Đức Chúa Trời đã đoạt lấy lẽ phải của ông (27:2), Ê-li-hu nêu vấn đề là vì sao Gióp chưa được giải thoát khỏi nỗi khổ đau.  Ông đưa ra trường hợp những người bị áp bức, họ kêu than vì sự áp bức đè nặng (9).  Họ không luôn luôn được giải thoát, vì sao vậy?  Vì sự kêu than của họ còn thiếu vắng một yếu tố.  Đó là một lời kêu than bất định và họ không hướng lời kêu than đến Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên họ, là Đấng có thể thay đổi số phận, khiến cho người ta hát vui mừng trong ban đêm (10) và là Đấng có thể ban cho con người sự khôn ngoan lớn lao hơn là loài thú vật và chim chóc (11).  Đức Chúa Trời không trả lời cho họ vì họ không chủ tâm cầu cứu Ngài (12) những kêu than của họ hoàn toàn trống rỗng, Đức Chúa Trời không quan tâm đến (13).  Ê-li-hu cho rằng đối với Gióp cũng vậy.  Gióp chỉ than van về sự khổ đau của mình mà không cầu cứu đến Đức Chúa Trời (14-16).  Một lần nữa Ê-li-hu nói sai vì Gióp vẫn thường hướng về Đức Chúa Trời, nói thẳng với Ngài về vấn đề của mình!

4. Ê-li-hu phát biểu lần thứ tư: ca ngợi quyền năng vàsự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (Giop 36:1-37:24)

Bài này gồm hai phần.  Trong phần thứ nhất, Ê-li-hu nhắc lại rằng khổ đau là kỷ luật còn trong phần thứ hai ông ca ngợi quyền năng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trong cuộc sáng tạo, và vì vậy mà Đức Chúa Trời có quyền cai trị vũ trụ về mặt tinh thần.

(Giop 36:2-25).  Ê-li-hu vẫn muốn trình bày về Đức Chúa Trời (2) và qui sự công nghĩa về cho Đấng Tạo Hoá (3) nghĩa là chứng minh rằng Gióp không bị xử oan.  Vì Đức Chúa Trời vượt trên nhân loại, nên Ê-li-hu phải tìm sự khôn ngoan cho mình từ xa (3).  Dầu sao điều đó cho phép ông xưng nhận rằng Ngài trọn vẹn trong sự hiểu biết, tức là hoàn toàn đúng, không phải là toàn tri!

(Giop 36:5-16).  Ê-li-hu bắt đầu bằng cách xác định giáo lý thông thường về sự báo trả (6).  Chủ trương của riêng ông về sự báo trả lộ rõ khi ông khảo sát trường hợp người công bình rơi vào tình cảnh khổ đau, một vấn đề rất gần gũi với tình cảnh riêng của Gióp.  Trong những trường hợp đó, người công nghĩa (8) bị trách phạt về sự vi phạm của họ và được lịnh phải quay lưng từ bỏ tội lỗi (10).  Như vậy khổ đau là kỷ luật của Đức Chúa Trời (như ông đã nói trong Giop 33:15-30).  Nếu người công nghĩa đáp ứng những lời cảnh báo, thì số phận của đương sự là vui vẻ tốt đẹp (11), bằng không thì đương sự sẽ chịu chung số phận với kẻ ác và chết đi kém hiểu biết nghĩa là không học hỏi được điều gì qua kỷ luật của Đức Chúa Trời.  Người không thờ Đức Chúa Trời, khi khổ đau, thì chỉ tức giận mà không cầu cứu Đức Chúa Trời (13) họ chết yểu trong tình cảnh đáng hổ thẹn (14).  Trái lại người thờ Đức Chúa Trời, sẵn lòng nghe lời giáo huấn của Đức Chúa Trời qua những nghịch cảnh nên họ được giải thoát (15-16).

(Giop 36:17-25).  Ê-li-hu hi vọng rằng Gióp thuộc vào hàng ngũ những người công nghĩa nhưng ông e ngại rằng Gióp lại là thành phần không học hỏi được điều gì qua nỗi khổ đau nên sẽ lãnh án phạt dành cho kẻ ác (17).  Một lời kêu la tuyệt vọng trống trơn (chớ không phải sự giàu có và thế lực, như trong bản dịch NIV câu 19) không thể giải cứu Gióp (so sánh 35:9,12), ông cần cầu cứu với Đức Chúa Trời, ông cần nhớ ca tụng Đức Chúa Trời về những việc làm của Ngài trong khi ông cầu xin Ngài giải cứu.

(Giop 36:26-33).  Bài thơ xuất sắc này ca ngợi năng lực và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời có nghĩa lý ở đây chỉ vì Ê-li-hu tin rằng chính năng lực sáng tạo của Đức Chúa Trời mà Ngài có quyền cai trị thế giới về mặt đạo đức (so sánh 34:10-15).

(Giop 36:27-33).  Mưa và những làn chớp kỳ diệu vì là một trong những phương tiện Đức Chúa Trời dùng để xét đoán các dân tộc (31a) vì cùng một trận mưa mà khả năng đem lại ích lợi (31b) nhưng cũng có khả năng phá hoại (33b).

(Giop 37:1-5).  Tiếng sấm cũng không phải đơn thuần là một hiện tượng trong thiên nhiên mà cũng là tiếng của Đức Chúa Trời, bí hiểm, không lường trước được và gây kinh hãi hoảng sợ.

(Giop 37:6-13).  Những trận bão mùa đông ngăn cản người ta làm việc và giam hãm thú hoang trong hang của chúng (7-8) chẳng những chỉ biểu thị quyền hành kiểm soát của Đức Chúa Trời đối với những hiện tượng (12) có khả năng chế ngự cả con người lẫn thú hoang nhưng cũng biểu thị sự khôn ngoan của Ngài trong cách sử dụng những hiện tượng đầy năng lực đó cho nhiều mục đích, hoặc sửa trị hoặc ban phước lành (13).

(Giop 37:14-24).  Quyền năng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời cũng được bày tỏ qua những hiện tượng trong mùa hè: những lằn chớp trong cơn giông mùa hè (15), những đám mây quân bình cách tinh vi tỉ mỉ (16), luồng gió nóng từ phía nam (17), bầu trời đỏ lửa như đồng (18) và ánh sáng chói chang từ mặt trời mùa hè (21).  Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời vượt trổi hơn sự khôn ngoan của Gióp vô cùng đến nỗi ngay cả sự vận hành của những hiện tượng đó Gióp cũng không hiểu thấu (15-16,18) chớ đừng nói đến chuyện kiểm soát.  Sự uy nghi kinh khủng của Đức Chúa Trời lớn lao đến nỗi hoàn toàn không thể đến gần Ngài được (22).  Cho nên với giọng châm biếm Ê-li-hu nhờ Gióp dạy chúng tôi biết điều chúng tôi phải thưa cùng Đức Chúa Trời (19), nhưng tiếp liền ông lại cho rằng không thể nào thưa chuyện Đức Chúa Trời được ‘vì tại dốt nát, chúng tôi chẳng biết bày tỏ lời gì với Ngài’ (19b).  Gióp không chủ trương theo quan điểm này vì suốt từ đầu đến cuối, nhiều lần ông yêu cầu Đức Chúa Trời phải trả lời cho những điều ông khiếu nại, thưa kiện.  Sự kiện Đức Chúa Trời đích thân hiện ra trong chương sau bác bỏ cách hữu hiệu quan điểm này.

4. ĐỨC CHÚA TRỜI TRUYỀN PHÁN (Giop 38:1-42:6)

Các lời truyền phán của Đức Chúa Trời có tầm quan trọng, không những vì cớ nội dung mà còn vì cớ Ngài lên tiếng vào lúc này.  Vấn đề là Gióp, người nhất quyết kêu nài Đức Chúa Trời (dù là phát xuất từ cơn giận và thất vọng) rốt cuộc thấy Đức Chúa Trời đàm luận với mình, dẫn đến kết quả là giải toả tâm trạng bấn loạn nơi ông.  Nhưng cũng đáng chú ý đến các lời truyền phán này, vì cớ những điều bị bỏ qua hoặc có đề cập đến.  Trước tiên một điểm lạ và có ý nghĩa là Đức Chúa Trời không nhắc đến bất cứ một lỗi lầm nào của Gióp, ông cũng không bị khiển trách về lối ăn nói ‘hung hăng hùng hổ’ (Giop 6:3).  Điểm lạ thứ hai là những điều được đề cập đến.  Nội dung hoàn toàn chẳng biện minh cho đường lối hành xử của Đức Chúa Trời đối với con người gì cả mà chỉ bàn về trật tự trong thiên nhiên, thế giới thọ tạo.  Khi nói về trật tự của vũ trụ và công cuộc sáng tạo thú vật, Đức Chúa Trời không nhằm dạy Gióp về cõi thiên nhiên và chắc chắn là không muốn làm cho ông kinh ngạc sững sờ trước những bằng cớ về quyền năng và trí thông minh sáng suốt của Ngài (vì lâu nay Gióp không hề mảy may nghi ngờ về những điều đó).  Nhưng khi cùng ông ngẫm nghĩ lại tính cách phức tạp và huyền bí của thế giới mà đã được dựng nên, Ngài muốn ông nhận thức rằng trật tự trong cõi thiên nhiên đi song  đôi với trật tự đạo đức trong vũ trụ.  Phần lớn mọi chuyện đều nằm quá tầm hiểu biết của con người, một số có vẻ ghê tởm phù phiếm hoặc đáng sợ, nhưng toàn bộ đều là công trình của Đức Chúa Trời khôn ngoan là Đấng đã dựng nên thế giới theo hiện trạng nhắm đến những mục đích của Ngài.

1. Đức Chúa Trời truyền phán lần thứ nhất: ‘Suy nghĩ về sự huyền bí của công cuộc sáng tạo’ (Giop 38:1-40:2)

Đức Chúa Trời nêu hàng loạt câu hỏi cho Gióp không phải để làm bẽ mặt ông nhưng để thách thức ông biết xem xét lại mớ tri thức của ông đối với thế giới mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên và biết ngẫm nghĩ lại tính huyền bí của thế giới đó.  Đức Chúa Trời lưu ý Gióp về mười điểm đặc trưng trong cõi thiên nhiên (38:4-38) làm thí dụ điển hình cho tính huyền bí của cõi thiên nhiên và chín chủng loại động vật (38:39-39:30) để minh hoạ về tính huyền bí của sự sống thọ tạo.  Phần cuối (40:2) nhắc chúng ta rằng cuộc đối thoại giữa Đức Chúa Trời và Gióp được lồng vào lối văn tố tụng (38:3) vì Gióp đã yêu cầu Đức Chúa Trời ra toà (31:35).  Tuy nhiên, cuộc đối thoại không nhằm xác định can tội hoặc vô tội mà khiến ông hiểu sự thật về sự sống trong vị thế ông là một con người thọ tạo trong công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời.

(Giop 38:1-3). Dẫn nhập Rốt cuộc Gióp cũng nhận được câu trả lời mà ông hằng mong ước (31:35).  Dĩ nhiên, hẳn là Gióp tưởng đâu phiên toà sẽ diễn ra trong khung cảnh tương đối yên tĩnh, nào ngờ Đức Chúa Trời truyền phán từ giữa một cơn lốc.  Lâu xưa nay gió lốc vốn là một biểu tượng về sự khải thị của Đức Chúa Trời (thí dụ tham khảo Thi 18:7-15  Na 1:3  Xa 9:14) cho nên dù cảnh tượng có kinh khiếp đến đâu Gióp vẫn hiểu rằng Đức Chúa Trời không còn bác bỏ các yêu sách của ông nữa.  Ngài không có ý coi thường khả năng hiểu biết của ông khi chê rằng ông không hiểu chương trình ý định  của Ngài trong việc điều hành vũ trụ (2 các mưu định ta).  Ngài cũng không chất trên Gióp sự khinh khi miệt thị nhưng khuyến khích ông thắt lưng như kẻ dõng sĩ và vận dụng hết tâm trí để hiểu mục đích của Ngài đằng sau cuộc đối thoại này.

(Giop 38:4-38). Các hiện tượng của trời đất  4-7  Ở đây mô tả trái đất như  một cao ốc có nền móng và đá góc nhà được xây dựng đúng theo đồ án có thước dây để đo đạc theo nhạc nền của các vì sao mai tức là các thiên sứ.  8-11  Ở đây tả vẽ biển thoát thai từ bụng mẹ (8), rồi Đức Chúa Trời lấy mây trời làm áo mà mặc cho biển (9).  Nhưng biển là một lực lượng nguy hiểm nên Ngài phải ấn định giới hạn, ngăn chận biển lại bằng cửa và tấm chắn (10).  12-15  Ngay cả sự xuất hiện của hừng đông cũng vượt quá tầm hiểu biết của Gióp (12).  Có lẽ bản dịch NEB có lý khi loại bỏ không đề cập đến kẻ ác trong các câu 13,15 vì không hợp lý, và xem như những từ đó đề cập đến các vì tinh tú như ‘các vì sao trong giải Hoa Tiêu’ ‘tuần tự tắt lịm’ khi hừng đông ló dạng (15).  16-18  Bên dưới mặt đất là cả một lĩnh vực sáng tạo con người chưa hề biết đến: các nguồn của biển, các nguồn của vực sâu thẳm (Sa 7:11) đưa nước vào biển, còn âm phủ được mô tả là một thành trì có cửa ngõ và có những ‘người gác cửa’ (17, NEB), những người ‘canh gác xứ tối tăm’ (bản dịch JB), âm phủ (thay vì đất) trải rộng mênh mông (18).  19-21  Ở đây ví ánh sáng và tối tăm như con người, có chỗ ở riêng để trở về khi đến giờ.  Gióp không làm sao biết đường để đưa hai ‘nhân vật’ này về nhà (20).  22-23  Các nhà kho chứa tuyết và mưa đá (22) là hai thứ dành cho ngày chiến trận (23 so sánh Xu 9:22-26  Gios 10:11  Es 30:30) cũng là những điều vượt quá tầm hiểu biết của Gióp.  4-27  Các con kênh cho nước mưa chảy từ nhà chứa ở trên trời (25) nhắc chúng ta nhớ lại các ‘cửa sổ’ (đập) ở trên trời đều mở ra trong trận đại hồng thuỷ (Sa 7:11).  Một đề tài mới được gói ghém trong câu 26-27 và sẽ được triển khai trong chương 39: phần lớn những chuyện trong thế giới thọ tạo không vì cớ con người mà xảy ra nhưng vì những bộ phận khác trong công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời, hoặc đơn giản là chỉ vì Đức Chúa Trời muốn như thế.  Trong hai câu này là chuyện mưa rơi trên vùng hoang vu, không có người ở (26).  28-30  Mưa, sương, nước đá phải có một nguồn gốc đâu đó, nhưng Gióp không biết.  31-33  Bằng cách nào mà bảy vì sao trong chùm sao Rua (Thất tinh, bản dịch Diễn Ý) được kết với nhau?  Vì lý do nào mà các vì sao trong chùm sao Cầy (Thiên Lang, bản dịch Diễn Ý), một tay thợ săn đeo dây nịt và thanh gươm, được buộc vào với nhau (31)? Cho dù các vì sao có đem lại ảnh hưởng gì đi nữa, Gióp vẫn không thể ảnh hưởng trên ngôi sao, cũng không thể hiểu các qui luật thiên nhiên đang khống chế sự chuyển động của ngôi sao (33).  34-38  Gióp không thể nào ảnh hưởng trên sự xuất hiện của tia chớp hoặc trên một trận mưa khi Đức Chúa Trời nghiêng bình đựng nước ở trên trời (37).

(Giop 39:1-33).  Thú vật trong cuộc sáng tạo.  Ở đây tập trung đề cập đến những con thú vô ích, bí hiểm và chống nghịch con người chớ không nói đến những con thú quen thuộc và ích lợi cho con người (như chiên, lừa và lạc đà).  Những con thú đó cũng là một bộ phận trong cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời.  Đối với sự khổ đau cũng vậy: dĩ nhiên đôi khi sự khổ đau có mục đích rõ ràng, nhưng lắm lúc thật là bí hiểm, và gây tổn thương cho con người không kém những loài thú hoang.  Dầu sao, khổ đau cũng nằm trong qui trình trật tự của Đức Chúa Trời đối với thế giới, và Ngài biết rõ việc làm của Ngài khi Ngài làm ra khổ đau.

1-3  Điểm quan trọng ở đây không phải là chuyện Gióp không thể nuôi no các sư tử tơ (2), hoặc Đức Chúa Trời là Đấng cung cấp mồi cho quạ (3), mà là sự kiện một bộ phận lớn trong thế giới thọ tạo hiện hữu hoàn toàn độc lập khỏi con người.

4-7  Dê rừng và nai.  Con người không can thiệp chi được vào sinh hoạt của dê rừng và nai.  Con người không biết và không giúp gì cho hai loài này trong việc sinh đẻ và nuôi con.

8-11  Con lừa rừng được Đức Chúa Trời cho miễn khỏi phục vụ con người (8), sống tự do dù khó khăn và hoàn toàn coi như vô ích đối với con người.  Lừa rừng khác với anh em họ của mình là lừa nhà lừa nhà phục vụ con người suốt qua các đường phố ồn ào (10).

12-15  Giữa bò nhàvà bò rừng  thì sự khác biệt còn lớn lao hơn.  Bò rừng là một con thú có sức mạnh lớn nhất trong các loài thú có móng (đã bị tuyệt chủng từ thế kỷ thứ XVII S.C.).  Nếu cho rằng với sức mạnh cỡ đó con thú này cũng hữu dụng không kém cho loài người thì thật là lố bịch.

16-21  Một số loài thú sống tự do, hoang dã và không thể dạy thuần được một số khác như con đà điểu (chim lạc đà) trông thật là khôi hài.  Ở đây nói về quan niệm chung cho rằng đà điểu đối xử với con cách tàn nhẫn và vô tâm.  Thật ra, đà điểu chỉ bỏ trứng của mình lúc ban ngày.  Đêm đến cả con trống lẫn con mái thay phiên nhau ấp trứng.  Đức Chúa Trời cũng đã đựng nên những con thú với những hành động vô nghĩa lý - không theo tiêu chuẩn của con người, dĩ nhiên.

22-28  Con chiến mã không hoàn toàn vô dụng đối với con người, nhưng sức mạnh và sự gan dạ trùm lên nó một vẻ bí hiểm.  Đối với con thú quen thuộc gần gũi như vậy con người vẫn thấy khó lòng hiểu thấu đáo.  Ai có thể xác định bởi đâu loài ngựa có sức mạnh đến thế (22) làm sao nó dám cười nhạo trước sự kinh hãi (25) và nôn nóng xông vào trận địa (28)?

29-33  Diều hâu và chim ưng thỉnh thoảng xuất hiện trong tầm nhìn của con người (30) nhưng thường thường hai loại chim này sống tại những nơi hiểm hóc loài người khó lòng lai vãng (31-32).  Những con chim này có vẻ vô dụng, ăn mồi sống và dơ bẩn.  Dầu vậy Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng và ban cho chúng bản năng thiên phú (sự khôn ngoan, 29).  Nếu Gióp chấp nhận những sự kiện đó thì ông có thể chấp nhận sự kiện là ít nhất trong một số trường hợp khổ đau của con người đến từ sự khôn ngoan vô biên của Đức Chúa Trời.

(Giop 39:34-35).  Kết luận Đức Chúa Trời chẳng bao giờ coi thường Gióp cũng không bao giờ dùng lý luận để buộc ông phải thuận phục (so sánh Giop 38:3).  Ngài đơn giản kết thúc bài nói thứ nhất với lời kêu gọi Gióp, trong tư cách bên nguyên cáo, trả lời cho Ngài.

(Giop 39:36-38).  Gióp trả lời lần thứ nhất: ông không ý kiến Ở đây Gióp không bày tỏ sự khuất phục, sự mất mặt hoặc chấp nhận thất bại.  Ông nhất trí là ông không xứng đáng (không ra gì, 37) vì bài nói của Đức Chúa Trời đã vạch ra cho ông thấy khả năng hiểu biết của ông rất hạn hẹp.  Dầu vậy, ông vẫn chưa có ý kiến gì để trả lời, vụ kiện vẫn còn y nguyên.  Đức Chúa Trời truyền cho ông trả lời, nhưng nói như Gióp tức là ông mời Chúa tiếp tục truyền phán.  Ông đặt tay che miệng lại (37) vì ông chưa biết nói thêm điều gì cả.

2. Đức Chúa Trời truyền phán lần thứ hai: ‘Hãy suy ngẫm về quyền năng trong cuộc sáng tạo’ (Giop 40:1-41:25)

(Giop 40:1-9).  Dẫn nhập Đức Chúa Trời không dùng sức mạnh để doạ nạt Gióp vì Gióp vẫn luôn luôn công nhận rằng Đức Chúa Trời mạnh hơn ông (thí dụ: Giop 9:15-19) và vấn đề chủ chốt ở đây là sự công bằng của Đức Chúa Trời chớ không phải sức mạnh.  Chúa muốn nói rằng tự thân ông không thể giành được sự minh oan.  Phải là người có quyền lực (cánh tay, 4) như Đức Chúa Trời đang nắm quyền kiểm soát vũ trụ mới có thẩm quyền đưa ra những phán quyết trong lãnh vực đạo đức.  Minh oan cho một con người là việc của Ngài, vậy là Gióp đã cố sức thử làm công việc của Đức Chúa Trời khi nằng nặc đòi minh oan.

(Giop 40:10-19).  --mốt Chương này bàn tiếp chủ đề trong chương 39, nhưng thay vì bức tranh miêu tả ngắn gọn về công cuộc sáng tạo loài thú vật, ở đây miêu tả với giọng văn đầy thiện cảm hai con thú: Bê-hê-mốt, một con thú hung hăng nhất trong các loài sống trên cạn và Lê-vi-a-than, một con thú đáng sợ nhất sống dưới biển.  Chương trước, nghiêng nặng về khía cạnh bí hiểm trong công cuộc sáng tạo loài thú còn ở đây nghiêng về khía cạnh đáng sợ nhưng hùng dũng nơi hai con thú do Đức Chúa Trời sáng tạo.  Bê-hê-mốt (‘con thú to lớn’) được nhận dạng là con cá sấu, con trâu rừng, con hà mã hoặc một con thú trong chuyện thần thoại.  Lời lẽ mô tả Bê-hê-mốt và Lê-vi-a-than nặng tính cách cường điệu của thi thơ, nhưng chủ ý vẫn là miêu tả những con thú có thật, và cũng là biểu tượng cho sự hỗn độn.  Sự kiện Đức Chúa Trời dựng nên chúng chứng tỏ Ngài cầm quyền kiểm soát bất cứ lực lượng nào có khả năng đe doạ vũ trụ của Ngài. 

Bê-hê-mốt là một trong những công trình sáng tạo đầu tiên của Đức Chúa Trời (14) câu này nhắc lại ý Sa 1:21 ‘các loài cá lớn’ được đề cập đến đầu tiên.  Thực phẩm chính của nó là cỏ (10) nơi ở là đám lau sậy trong vũng bùn lầy ở mé sông (16).  Kể ra hơi lạ khi đề cập núi non cung ứng thực phẩm cho nó (15) dù người ta biết rằng hà mã có lên bờ tìm thức ăn.  Hà mã có sức mạnh theo kiểu truyện cổ tích (11-13) nên con người không thể chế ngự nó được  (14b) cũng không ai bắt được nó rồi cột nó lại bằng một sợi dây xỏ qua mũi (19).  Nước lụt dâng cao trong dòng sông không làm nó sợ, và ‘dầu sông Giô-đanh có trôi vào họng, nó cũng chẳng lo ngại gì’ (18).  Ngay cả cái đuôi, dù ngắn và nhỏ, cũng mạnh mẽ như cây bá hương (12).

(Giop 40:20-28).  -vi-a-than (40:20-41:25) Có người cho rằng  Lê-vi-a-than là cá heo, cá ngừ hoặc cá voi.  Nhưng đa số thì cho là cá sấu.  Trong truyện thần thoại của dân Ca-na-an nó mang tên là Lotan, một quái vật bảy đầu ẩn trong các vực sâu.  Kinh Thánh Cựu Ước có đề cập đến sinh vật thần thoại này (thí dụ Thi 74:13-14  Es 27:1).  Như vậy tương tự như Bê-hê-mốt, ở đây  Lê-vi-a-than tượng trưng cho sự hỗn độn. 

(Giop 40:20-28).  Về mặt thực tiễn (40:20-41:2)  Lê-vi-a-than không hữu dụng cho lắm đối với con người.  Người ta không bắt được nó (Giop 40:20) hoặc thuần hoá nó (21), cũng không thể thuần hoá nó để nuôi làm gia súc (22), lại không thể bắt nó phục vụ con người (23), càng không thể dùng nó để làm bạn, để mua vui cho trẻ em (24).  Người ta không dùng nó làm thực phẩm được (25) vì không bắt được nó (26).  Ai dại dột đưa tay bắt nó sẽ không bao giờ dám bắt lần thứ hai (27).  Chỉ thoáng thấy bóng dáng của nó là ngay cả những tay săn bắn lành nghề cũng lảng tránh (28).  Giop 40:1-2 gói ghém một lời bàn là một khi người săn bắn gan dạ còn kinh hãi bỏ đi khi nhìn thấy Lê-vi-a-than, thì chỉ có người điên mới dại dột đến độ muốn xáp lại gần Đức Chúa Trời.

(Giop 41:1-2) xem giải nghĩa 40:20-28

Giop 41:3-25. Lời lẽ trong phần này mang đậm sắc thái cường điệu và tưởng tượng trong thi ca, không nên coi đây là những nét vẽ tả chân.  Áo choàng (41:4) là lớp vảy cứng phần dưới bụng, nhất là cái đuôi, đều tựa như mảnh sành lởm chởm miểng nhọn (41:21) và khi nó di chuyển trong nước thì nước động như đang sôi trong một cái nồi (41:22).  Nhưng ‘một ngọn lửa ra từ miệng nó’ (41:12) thì có lẽ hoàn toàn không nên hiểu theo nghĩa đen.  Bài thơ ca ngợi vua của các loài thú kiêu hùng nhằm nhấn mạnh một điểm chính là con người ghê sợ và căm ghét tính cách vĩ đại và kinh dị của sinh vật này.  Lời tuyên phán của Đức Chúa Trời đạt đỉnh cao ở đây, và Gióp nắm bắt đúng: sự khổ đau tương tự như Bê-hê-mốt, như  Lê-vi-a-than đầy bí hiểm và gây kinh hoàng, dầu vậy vẫn là một bộ phận trong cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời và vẫn có nét huy hoàng riêng biệt.

3. Gióp đáp lời lần thứ hai: những lời yêu sách biến thành những lời tôn thờ (Giop 42:1-6)

Khi Gióp đáp lời cho Đức Chúa Trời lần thứ nhất (39:36-38) thì thật ra là ông từ chối trả lời.  Còn lần thứ hai này thì khác, qua lần này ông không tranh chấp với Đức Chúa Trời nữa.  Vì bây giờ ông công nhận Đức Chúa Trời có quyền hành động như Ngài đã làm và, dù rằng Gióp không nói ra, Ngài có quyền đem khổ đau đến trên người vô tội.  Như vậy điều mới mẻ mà Gióp nhận thức là Chúa có thể làm được mọi sự (2), không phải vì cớ Ngài toàn năng mà là Ngài có một mục đích trong mọi việc Ngài làm.  Sự khổ đau của Gióp có ý nghĩa đối với Đức Chúa Trời cho dù Ngài không có cách nào để giải thích hoặc biện minh với ông.  Lỗi lầm của Gióp là đòi hỏi một câu giải đáp cho vấn nạn khổ đau, vì như thế là xâm phạm vào một lĩnh vực vượt ngoài tầm hiểu biết của con người: ‘Tôi đã nói những điều tôi không hiểu’ (3).

Trong câu 10-17 Đức Chúa Trời minh oan cho Gióp, nhưng quan trọng hơn đối với Gióp là sự kiện ông thực sự được giáp mặt với Đức Chúa Trời vì ông đã kêu xin đối chất với Ngài.  Sự kiện Đức Chúa Trời phá vỡ bầu không khí lặng thinh và nói chuyện với Gióp quả là quí báu hơn bất cứ sự minh oan nào.  Sự kinh nghiệm của bản thân về Đức Chúa Trời (giờ đây, mắt tôi đã thấy Ngài, 5) vượt lên trên nỗi khổ đau, cô đơn, và cảm nghĩ về sự bất công cũng như vượt lên trên lý thuyết suông về Đức Chúa Trời (tai tôi có nghe đồn về Ngài, 5).

Gióp có khinh chê chính mình không (6)?  Từ chính mình (tôi) không có trong nguyên bản Hi Bá Lai, nên có lẽ lắm Gióp gớm ghê những lời lẽ hung hãn mà ông đã nói với Đức Chúa Trời.  Và ông ăn năn về điều gì (6)?  Không phải là ăn năn về một tội lỗi nào đó, vì từ đầu chúng ta biết Gióp không phạm tội gì.  Ông chỉ có thể ăn năn về những lời lẽ quá đáng mà ông đã thốt ra hoặc về sự dốt nát của mình.  Nhưng rõ hơn, có lẽ nên hiểu nguyên từ đã được dịch là gớm ghê là ‘tan chảy’ tức là ‘tôi tan chảy ra vô nghĩa, không còn là gì nữa’.  Đó là cảm nghĩ của một vật thọ tạo trước mặt Đấng Tạo Hoá, và hiểu nguyên từ ăn năn là ‘an ủi’ tức là ‘tôi được an ủi dù rằng tôi còn ngồi  trong tro bụi’ (so sánh 2:8).  Gióp vẫn ở trong nỗi khổ đau, vẫn ngồi trên đống tro, nhưng nỗi cay đắng đã tan biến, tinh thần hết căng thẳng qua lần giáp mặt với Đức Chúa Trời.

4. Kết chuyện (Giop 42:7-17)

Vì sao chuyện của Gióp chưa kết thúc ở đây?  Vì Gióp có yêu cầu minh oan nghĩa là Gióp xin Đức Chúa Trời phô bày trước công chúng là ông công bình và không có gì đáng bị hình phạt cả.  Nhiều người cho rằng phần kết hạnh phúc sáng sủa làm mất giá trị sách Gióp, vì có vẻ như sách cũng ủng hộ giáo lý xưa cũ về vấn đề tội lỗi và khổ đau.  Há chẳng phải phần kết của sách này minh chứng cho quan điểm thần học của các bạn là công nghĩa được thạnh vượng sao?  Không, vì các bạn khăng khăng ông rằng người công nghĩa luôn luôn thạnh vượng còn kẻ ác luôn luôn hư mất.  Trường hợp của Gióp chứng minh là không phải ‘luôn luôn’ là như vậy.  Kết cuộc này chứng tỏ Đức Chúa Trời vui thích trong việc giáng phước trên những người phục vụ Ngài cách trung thành.  Đây là một dạng phần thưởng, đây là ân sủng của Đức Chúa Trời chớ không phải buộc lòng Ngài phải hành động như vậy.

(Giop 42:7-9).  Được minh oan trước mặt các bạn Trong cảnh trào phúng thú này Đức Chúa Trời nhấn mạnh với các bạn rằng chính Gióp, chớ không phải họ, mới là tôi tớ của ta (lặp lại 4 lần!) và chính Gióp, chớ không phải họ, mới là người nói về ta cách xứng đáng (7).  Rồi sự thể lật ngược khá khôi hài vì phải nhờ đến lời cầu thay của Gióp là người công bình vẫn còn trong cảnh khổ đau các bạn ông mới khỏi bị hình phạt vì sự ngu dại của họ (8-9).  Những người tưởng đâu mình xứng đáng hơn Gióp lại là những người cần được tha thứ còn Gióp, chẳng những được minh oan trước mặt họ mà còn trở nên người đấu tranh bảo vệ họ.  Các bạn ông đã nói những lời tôn vinh kính trọng đối với Đức Chúa Trời thế làm sao họ lại bị lên án là ngu dại?  Có thể chỉ vì các bạn đã nói về Đức Chúa Trời trong ngôi thứ ba, người thứ ba, như là một món đồ, trong khi Gióp khăng khăng đòi giáp mặt Đức Chúa Trời để thưa chuyện.  Trong nỗi khổ đau mà chỉ có thể nói loanh quanh về Đức Chúa Trời thì quả là ngu dại.

(Giop 42:10-17).  Được minh oan trước mặt thiên hạ Đối với các bạn Gióp đã được minh oan, nhưng đối với bà con và đồng bào trong thành thì bằng chứng về sự kiện Đức Chúa Trời minh oan cho ông là sự phục hồi tài sản.  Ngài đã ban lại cho ông nhiều gấp đôi (12) khi trước có lẽ ngầm ý là đền bù cho những sự mất mát khổ đau mà Gióp đã vô cớ phải chịu (so sánh Xu 22:4).  Gióp đã được an ủi qua lần giáp mặt với Đức Chúa Trời (xem phần bình giải c.6 ở trên), nay ông lại được bà con an ủi (11).  Họ tặng ông tiền bạc và một cái vòng vàng (11) là dấu chứng về lòng ưu ái tín nhiệm mà họ dành cho ông chớ không phải nhằm phục hồi của cải cho ông vì ông đã giàu có đến nỗi mấy người con gái cũng nhận được phần gia tài (thường thường con gái chỉ được hưởng gia tài khi không có con trai nối dõi Dân Số 27).  Chuyện kết thúc với phần ghi chú đặc thù của những câu chuyện thời các tổ phụ trong Sáng Thế Ký: sống rất thọ, qua đời khi tuổi thọ rất cao, đó là phước hạnh cuối cùng của Đức Chúa Trời.  Cảnh này đưa chúng ta trở về với lối sống chăn nuôi ngoài đồng là cảnh mở màn của sách.  Trong thế giới đặc thù đó dù rất xa xưa, rất khác với xã hội của chúng ta có lần đã diễn ra một bi kịch của con người thuộc về mọi thời đại.

Lên đầu trang