Ê-XƠ-TÊ
1. VUA XẸT-XE GIÁNG CHỨC HOÀNG HẬU CỦA MÌNH (Et 1:1-22)
(Et 1:1-3). Trước tiên tác giả giới thiệu vua Xẹt-xe, đế quốc và kinh đô. Tên của vua trong tiếng Ba-tư là Khshayarsha, quả là khó đọc nên được phiên âm qua tiếng Hi-bá-lai là Ahasuerus (bản AV, RV, RSV), còn bản NIV dùng tên vua phiên âm qua tiếng Hi-lạp là Xẹt-xe, tên riêng này được sử dụng rộng rãi trong lịch sử thế tục. Đế quốc của vua trải rộng từ sông Indus ở Pa-kít-tan đến sông Thượng Ni-lơ vùng phía bắc Xu-đăng, gồm có 127 tỉnh, một con số đáng nể. Su-sơ xưa là thủ đô của Ê-lam, nay được Đa-ri-út là phụ vương của Xẹt-xe xây dựng lại, trở thành một trong những thủ phủ của vua. Hoàng thành nằm lọt trong trung tâm thành phố, với nền nâng cao hơn nền toàn thành phố, được củng cố trang bị để bảo vệ vua. Vào năm thứ ba đời vua (483 T.C.) những lực lượng chống đối tân vương tan rã, không còn nữa. Và đây là cơ hội tốt để triệu tập các cấp lãnh đạo về kinh đô.
(Et 1:4-8). Vua phô trương những của báu của hoàng gia suốt sáu tháng trời. Nhờ chinh chiến, thuế má và của nộp cống mà vua tích luỹ được một kho của cải khổng lồ. Nhưng không một ai lên tiếng đặt vấn đề về tính cách công minh chính trực của vua trong việc tom góp của cải này. Nhờ của cải vua có thể xây dựng một lực lượng quân sự hùng hậu, làm cho người ta thán phục. Nhưng tác giả xoay qua mô tả khung cảnh tiệc tùng với những lời lẽ đầy màu sắc với ngụ ý phê bình vua về chuyện vua tự phóng đại phô trương. Bữa tiệc là cao điểm của các ngày hội hè nhằm tạo ấn tượng nơi các cấp lãnh đạo dân sự lẫn quân sự vì lòng trung thành của họ rất cần thiết đối với sự yên ổn của đế quốc. Vua tiếp đãi rộng rãi tất cả nhân dân đương có mặt tại kinh đô Su-sơ, tất cả các quan trưởng, các thần bộc, các vị chức sắc đang viếng thăm vua. Những màn trướng với màu sắc của hoàng gia là màu trắng và tím, cùng với những vật dụng bằng vàng, bằng bạc đặt trên nền lát cẩm thạch tạo ra một khung cảnh rất đỗi lộng lẫy. Ngày nay người ta còn lưu giữ được một vài ly có chân làm bằng vàng trong thời đó. Mỗi món là một tác phẩm nghệ thuật riêng biệt. Tác giả nhấn mạnh chuyện khách khứa uống rượu tuỳ thích, còn rượu được cung cấp nhiều vô kể.
(Et 1:9-12). Tác giả không giải thích chuyện nữ giới dự tiệc riêng, cũng không nêu lý do khiến hoàng hậu Vả-thi từ khước xuất hiện trong buổi tiệc của vua. Thật ra lý do nào cũng đều là không thích đáng vì bà không có quyền gì cả. Bảy vị hoạn quan này được phép ra vào hậu cung của hoàng gia (Cong 8:27). Một tư liệu Ba-tư có ghi danh tánh bảy vị hoạn quan này. Vụ hoàng hậu từ chối không chịu góp mặt trong buổi tiệc làm bẽ mặt vua, do đó vua nổi giận.
(Et 1:13-20). Vì phải giải quyết vụ này, bảy vị quan cố vấn chịu trách nhiệm đề ra một biện pháp trừng phạt (lưu ý tầm quan trọng của số bảy 10, 14 so sánh Exo 7:14). Mê-hu-man đại diện cho bảy vị hoạn quan trả lời câu hỏi của vua. Ông này phổ thông hoá vấn đề một cách tinh khôn, ông vạch ra rằng hoàng hậu có ảnh hưởng trên nữ giới trong giai cấp quí phái, rằng tất cả các ông có mặt trong bữa tiệc có nguy cơ mất quyền hành đối với vợ. Ông kêu gọi sự đoàn kết giữa phái nam và đề nghị vua ra chiếu chỉ phế Vả-thi (kể từ đây bà mất chức vị hoàng hậu). Một khi vua ban hành chiếu chỉ về vụ này thì vua thu hồi được quyền hành trên hoàng hậu và như vậy vua cũng bảo đảm luôn quyền hành của giới mày râu trên vợ của họ. Rồi cũng cần chỉ định một người thay thế Vả-thi. Phần sách còn lại sẽ trình bày chuyện làm thế nào vị tân hoàng hậu lèo lái vua làm theo ý của mình.
(Et 1:21-22). Vì cớ mọi người đều nhất trí rằng đề nghị của Mê-hu-man là tốt nên họ đã soạn ra một sắc lệnh, dịch sắc lệnh đó ra các ngôn ngữ mà thực khách đang có mặt làm đại biểu. Quả là chuyện mỉa mai khi một ông vua cỡ Xẹt-xe cầm quyền trên 127 tỉnh (1) lại ký một sắc lệnh về vụ mọi người nam phải là người cầm quyền trên gia đình mình. Bất chấp cuộc phô trương hùng hậu về của cải và quyền thế vua Xẹt-xe phải công nhận là mình không có đủ quyền lực tại nội cung. Cũng rất là mỉa mai khi rêu rao rằng luật của nhà nước Ba-tư và Mê-đi là bất khả thu hồi trong khi đó luật lại được ban hành trong một thoáng hứng khởi của một ông vua ngất ngây trong men rượu.
2. Ê-XƠ-TÊ ĐƯỢC TUYỂN CHỌN LÀM HOÀNG HẬU (Et 2:1-18)
(Et 2:1-4). Đến khi giã rượu, vua nhớ lại những vụ việc trong đêm hôm trước tại buổi tiệc. Dầu có ân hận nuối tiếc đến đâu đi nữa vua vẫn không thể sửa đổi điều luật mà đích thân vua vừa ban hành. Quyền thế lớn lao của vua lại đụng phải một giới hạn khác. Tuy nhiên, khi nghe kiến nghị tuyển chọn một vị tân hoàng hậu, và khi nghĩ đến chuyện tất cả các thiếu nữ đẹp nhất đế quốc sẽ tụ họp trong hậu cung, vua cảm thấy phấn khởi. Điều lý thú là trong bộ Lịch sư của Herodotus có đề cập đến Hê-gai là một vị quan của Xẹt-xe (ix. 34).
(Et 2:5-11). Giờ đây tác giả cho nhân vật Mạc-đô-chê xuất hiện. Ông ta là một người thuộc chi phái Bên-gia-min (dù từ Do-thái là một biến thể của từ Giu-đa, kể từ thời hậu lưu đày, từ này chỉ về người Y-sơ-ra-ên thuộc mọi chi phái). Tổ tiên của Mạc-đô-chê là những nhân vật nổi danh: Kích, cha của Sau-lơ (ISa 9:1), Si-mê-i, bà con của Sau-lơ đã hết lòng ủng hộ Sau-lơ (IISa 16:5). Nội chuyện bị lưu đày qua Ba-tư cùng với vua Giê-hô-gia-kin vào năm 597 T.C. cũng đủ chứng tỏ gia đình này có địa vị, quyền hạn (IIVua 24:14-16). Tên riêng Mạc-đô-chê có liên quan với tên một vị thần của Ba-by-lôn là Marduk. Ít nhất có hai tên riêng phổ thông chuyển hoá từ tên thần Marduk. Trong một bản văn cổ thuộc thời này có đề cập đến một nhân vật tên là Marduku làm kế toán viên trong vòng du hành thanh tra, khởi hành từ Su-sơ. Có bằng chứng cho thấy Mạc-đô-chê là vị quan này. Ông đã nhận em họ mồ côi làm con nuôi. Đó là Ha-đa-sa nghĩa là ‘cây mia’, cũng được gọi là Ê-xơ-tê. Tên riêng trong ngôn ngữ Ba-tư này có nghĩa là ‘ngôi sao’, có lẽ nhằm chỉ về hoa của cây mia có hình ngôi sao. Ngoài ra, hai từ phát âm cũng từa tựa như nhau. Sự kiện Ê-xơ-tê dung nhan đẹp đẽ hình dáng kiều diễm là yếu tố chính làm thành tựu mục đích của Đức Chúa Trời và được xem là món quà quí báu của Đức Chúa Trời.
Sau khi đưa Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê vào câu chuyện, tác giả lại kể về những mệnh lệnh của vua và tiến hành thực hiện những mệnh lệnh đó. Trong đám đông đảo các thiếu nữ tập trung ở Su-sơ chỉ có Ê-xơ-tê được nêu đích danh. Ê-xơ-tê chiếm được cảm tình của Hê-gai từ trước khi được vua để ý. Từ Hi-bá-lai hese, là một từ quen thuộc trong giao ước bày tỏ sự thành tín và lòng yêu thương của Đức Chúa Trời. Ở đây từ này được dùng trong một bối cảnh thế tục. Hê-gai ưu đãi Ê-xơ-tê trong mọi mặt. Ông đặt cô vào vị trí ưu hạng bằng cách cho cô ở trong khu sang trọng nhất, và chọn thị nữ giỏi nhất phục vụ cô. Ê-xơ-tê không vì cớ được ưu đãi mà tự cao tự đại. Nhưng cô vẫn giữ kín gốc gác của mình. Mạc-đô-chê có quyền trên gia đình của mình chớ không như Xẹt-xe. Ông quan tâm đến Ê-xơ-tê đến độ mỗi ngày đến hoàng cung tìm hỏi tin tức của Ê-xơ-tê. Đó là bí quyết thành công của ông trong việc cai trị gia đình. Ê-xơ-tê vâng lời ông vì tình thương và lòng cảm phục.
(Et 2:12-18). Tất cả ứng viên vào chức vị hoàng hậu phải trải qua mười hai tháng tu sửa sắc đẹp bằng những mỹ phẩm nổi tiếng từ những nước ở phương đông (Sa 37:25). Tắm hơi, nhổ lông, nhổ tóc, làm trắng da, tẩm dầu thơm là một số biện pháp làm đẹp. Điều đáng buồn là dù sống trong xa hoa, nhung lụa như thế, hầu hết các cô chỉ được vua vời đến có một đêm để rồi kể từ đó bị bỏ rơi quên lãng trong kiếp sống cung nữ rỗi rãi ê chề. Cơ chế hậu cung cực kỳ vô nhân đạo và hạ giá trị nhân phẩm của phụ nữ.
Bởi sự nhân từ của Đức Chúa Trời Ê-xơ-tê thoát khỏi số phận đen tối đó. Cô không đòi hỏi một món quà gì nhưng sẵn sàng theo sự chỉ dẫn của Hê-gai và kết cuộc là cô được tán thưởng về mặt tinh thần lẫn nhan sắc. Năm thứ bảy đời Xẹt-xe (16) cũng là bốn năm sau khi Vả-thi bị phế (Et 1:3). Tê-bết, tháng thứ mười, thường là lạnh lẽo và mưa gió. Nhưng bất chấp những điều kiện bất lợi này Ê-xơ-tê vẫn được tuyển. Vua hài lòng đến độ lập tức vua đội mão miện cho cô, mở tiệc lớn đãi các quan trưởng và đánh dấu dịp này bằng một ngày nghỉ lễ và tặng quà cho mọi người. Kết quả là toàn dân vui mừng hớn hở.
3. MẠC-ĐÔ-CHÊ PHÁ HỎNG MỘT ÂM MƯU (Et 2:19-23)
Khi các nữ đồng trinh hiệp lại lần thứ nhì gây thắc mắc vì trước đây không thấy nói đến lần hội hiệp thứ nhất. Có vẻ như câu này nhắc lại chuyện trong câu 8 và gợi ý là chỉ một thời gian ngắn sau khi Ê-xơ-tê được chọn làm hoàng hậu. Sự kiện Mạc-đô-chê ngồi nơi cửa vua ngụ ý là có lẽ sau khi vua chọn Ê-xơ-tê vua cũng ban cho Mạc-đô-chê một chức vụ trong toà án. Ở Su-sơ, vì theo thông lệ ‘cổng thành’ là nơi mở phiên toà (thí dụ Ru 4:1-10). Trong khi hành chức nơi cổng thành Mạc-đô-chê nghe bàn tán về những chuyện trong cung. Bích-than có lẽ là Bít-tha (Et 1:10) và Thê-rết là hai hoạn quan đáng tin cậy đang phụ trách việc canh cửa hoàng cung âm mưu ám sát vua. Mạc-đô-chê tiết lộ vụ việc cho vua qua Ê-xơ-tê. Hai đương sự bị bắt, tra hỏi và xử tử. Người ta chính thức ghi vụ việc vào sách sử trước mặt vua. Tuy nhiên, vua lại không tưởng thưởng Mạc-đô-chê gì cả.
4. HA-MAN ÂM MƯU HẠI NGƯỜI DO THÁI (Et 3:1-15)
(Et 3:1-6). Vài năm sau (7) vua quyết định cất nhắc một trong các triều thần vào chức vụ cao bậc nhất trong đế quốc. Vua chọn một người tên là Ha-man, người A-gát chớ không chọn người đã cứu mạng sống của vua. Tên riêng A-gát gợi nhớ thời trị vì của Sau-lơ, con trai của Kích (ISa 9:1-2). Thuở trước vua Sau-lơ tha chết cho A-ga, vua A-ma-léc nên bị tiên tri Sa-mu-ên lên án (15:1-35). Độc giả người Do-thái hẳn sẽ thấy cuộc đối đầu đó tái diễn trong vụ đối đầu giữa Mạc-đô-chê (cũng là con trai của Kích) và Ha-man người A-gát. Mạc-đô-chê quyết tâm giành thắng lợi trong vụ này. Qua sự kiện vua Xẹt-xe ra lệnh cho các quan thần phải cúi chào Ha-man (có lẽ vua không biết xét tâm tính con người) cho thấy Ha-man không được lòng các quan trong triều cho lắm. Mạc-đô-chê không tán thành việc cất nhắc này nên không chịu cúi lạy Ha-man, dù rằng chắc hẳn ông dư biết rằng làm như thế là ông đang chuốc lấy rắc rối mà thôi, nhất là khi các quan chức trong triều tố Mạc-đô-chê với Ha-man. Nguồn gốc Do-thái không cấm cản Mạc-đô-chê tôn trọng người cầm quyền, nhưng sự trung thành với luật pháp của Đức Chúa Trời khiến cho người Do-thái trung thành với một quyền hành cao hơn quyền hành của loài người và cho phép họ phát huy khả năng nhận định độc lập. Nê-bu-cát-nết-sa và các quan chức trong triều vua Đa-ri-út gán cho thái độ này tội bất phục tòng (Da 3:12-23 6:5-9). Trong tinh thần bất mãn và thù hiềm, Ha-man lên kế hoạch trả thù. Ông nhận thấy nếu chỉ giết có một mình Mạc-đô-chê thì chẳng bõ công nên ông âm mưu diệt trừ toàn bộ dân Do-thái, và thế là tinh thần bài Do-thái ra đời. Một cuộc tính toan khát máu cỡ đó chứng tỏ Ha-man rất là vô lương tâm.
(Et 3:7-11). Hằng năm, trong tháng giêng, người ta gieo súc sắc để chọn những ngày thuận lợi cho những việc quan trọng. Người ta đào được một con súc sắc có chữ pur nghĩa là ‘thời vận’ còn lưu lại từ thời trị vì của Sanh-ma-na-se III, vua A-si-ri (858-824 T.C.), nhờ đó những chi tiết trong câu 7 được chứng minh là xác đáng. Qua nhiều thế kỷ, người ta sống lệ thuộc vào niềm tin nơi vận mệnh, điềm tốt, điềm xấu quyết định thời gian hành động. Đối với mục tiêu của Ha-man thì tháng chạp là tháng may mắn, có đủ thời gian cho ông phổ biến sắc lệnh của vua (mà Ha-man đã quyết định) trong toàn đế quốc. Khi thỉnh ý vua, ông cẩn thận hoàn toàn tránh không đề cập đến người Do-thái, chỉ mơ hồ nói là có một nhóm dân phản động, bất tuân luật pháp của đế quốc Ba-tư. Sự thật thì người Do-thái có phong tục tập quán riêng, nhưng Giê-rê-mi đã truyền lệnh cho họ phải sống hoà bình trong xứ lưu đày (Gie 29:7) và họ đã tuân thủ mạng lịnh đó. Ha-man vin cớ là phấn đấu cho quyền lợi tốt đẹp nhất của vua nên ông đề ra một kế hoạch loại trừ khỏi đế quốc thành phần nguy hiểm này và đề nghị một mối lợi về mặt tài chánh để thuyết phục vua. Khoản tiền Ha-man hứa chuyển vào kho bạc của vua là một số tiền khổng lồ. Như vậy là Ha-man giàu có vô cùng, đương nhiên là ông dự trù thu hồi lại qua việc tịch thu tài sản của đám người mà ông định xử tử (13).
Vua Xẹt-xe chẳng điều tra tìm hiểu vấn đề đó gì cả vì vua không mấy quan tâm. Thế là vua giao cho Ha-man xử lý và qua cử chỉ vua giao cho ông cái nhẫn con dấu, vua tuyên bố trao quyền hành pháp cho ông để ông tuỳ nghi hành động. Tác giả nêu đầy đủ danh tính gốc gác của Ha-man, với ẩn ý bình luận về uy thế của nhà chiến lược quỉ quyệt Ha-man, con trai của Ham-mê-đa-tha, người A-gát, kẻ cừu địch của dân Giu-đa. Vua tỏ ra lãnh đạm đối với khoản tiền Ha-man hứa hiến và vụ diệt trừ một số dân (không biết là bao nhiêu) trong đế quốc của vua. Vụ vua trút bỏ quyền hành của mình một cách vô trách nhiệm và vụ vua tin cậy Ha-man cách sai lầm không hề có ai phê bình chỉ trích cả.
(Et 3:12-14). Lập tức Ha-man thảo sắc lệnh cho người ta sao chép, dịch ra trong các thứ tiếng, đóng dấu bằng cái nhẫn của vua rồi gửi đến mọi miền trong toàn cõi đế quốc qua hệ thống bưu cục do vua Si-ru sáng lập. Hệ thống này gồm có đoàn kỵ binh dùng ngựa chạy tiếp sức, đóng chốt ở khắp nơi trong đế quốc để bảo đảm sự thông tin nhanh chóng (xem Herodotus v. 14 viii. 98). Nội dung sắc lệnh có phần lặp lại và rất cụ thể rõ ràng, được thông báo công khai rộng rãi để không một ai có thể viện cớ là chưa hề nghe đến sắc lệnh này. Ha-man rất là hài lòng về kế hoạch của mình nên ông cùng với vua thư giãn bên ly rượu, trong khi dân chúng thành Su-sơ kinh ngạc tự hỏi nội vụ thực sự là thế nào?
5. Ê-XƠ-TÊ THUẬN Ý CẦU THAY (Et 4:1-17)
(Et 4:1-5). Mạc-đô-chê đau buồn khi sắc lệnh của Ha-man được ban hành. Có phải vì tại ông đã không chịu công nhận sự cất nhắc của vua dành cho Ha-man mà dân Do-thái lâm nguy diệt chủng. Người Do-thái mặc tang phục và than khóc lớn tiếng khiến cho người ta nhận biết họ, nhận biết nguy cơ đe doạ họ và khiến người ta lưu tâm nghĩ ngợi về sắc lệnh bất ngờ này. Còn Mạc-đô-chê thì không thể liên lạc với Ê-xơ-tê nữa vì người mặc áo tang không được vào trong nội thành. Khi Ê-xơ-tê được tin ông để tang, bà gửi cho ông bộ y phục khác để thay thế tang phục, nhưng ông không chịu thay. Ê-xơ-tê buồn rầu lắm, chứng tỏ bà rất quan tâm và yêu thương ông. Rồi bà nhờ Ha-thác, là một người hầu hạ thân tín đi hỏi thăm sự tình.
(Et 4:6-11). Mạc-đô-chê tìm cách gom đầy đủ những chi tiết liên quan cần thiết. Rồi ông kể cho Ha-thác tất cả những điều ông biết kể cả con số chính xác về khoản tiền mà Ha-man hứa sẽ sung vào kho bạc của hoàng gia. Ha-thác cũng cầm về cho Ê-xơ-tê một bản sao của sắc lệnh, để Ê-xơ-tê biết chính xác văn bản. Ha-thác cũng chuyển về cho bà lời Mạc-đô-chê khẩn cấp yêu cầu bà xin ơn khoan hồng của vua. Câu trả lời của Ê-xơ-tê thổ lộ nhiều điều. Bà không có quyền đến gần ngai vua, đã ba mươi ngày qua vua không vời bà. Cũng như mọi người khác, nếu bà tự ý đến với vua, bà có thể bị xử tử trừ khi vua đưa cây phủ việt ra cho bà.
(Et 4:12-17). Mạc-đô-chê vẫn cho Ê-xơ-tê biết việc bà phải làm. Ông bảo cho bà biết rằng đừng tưởng là bà sẽ thoát chết dù đang làm hoàng hậu. Còn nếu bà không hành động thì sự giải cứu của dân Do-thái sẽ đến từ nơi khác. Chắc hẳn Mạc-đô-chê ngụ ý rằng Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ dân của Ngài và cũng ngụ ý rằng Ngài có mục đích sử dụng bà khi khiến cho bà được chọn làm hoàng hậu. Đây là đỉnh điểm thần học trong sách. Mạc-đô-chê tin rằng Đức Chúa Trời lèo lái các biến cố chính trị và đời sống của từng người mặc dù các bậc cầm quyền không công nhận Ngài. Ê-xơ-tê yêu cầu kiêng ăn ba ngày biểu thị bà cũng tin như Mạc-đô-chê vào Đức Chúa Trời là Đấng đáp lời cầu xin, dù rằng ở đây bà không nhắc đến danh của Ngài. Nhu cầu của bà là đủ can đảm để thực hiện công tác chủ chốt trong đời mình là cầu thay cho mạng sống của dân tộc mình, cho dù bà phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.
6. Ê-XƠ-TÊ CHỦ ĐỘNG (Et 5:1-8)
(Et 5:1-4). Đến ngày thứ ba Ê-xơ-tê chuyển quyết định thành hành động, vững tâm vì biết rằng toàn thể cộng đồng Do-thái ở Su-sơ hiệp nhất ủng hộ bà. Mấy ngày kiêng ăn dẫn đến sự hình thành một kế hoạch hành động. Điềm tĩnh trong dáng vẻ quí phái của hoàng hậu, bà Ê-xơ-tê bận triều phục đến đứng giữa các dãy cột trong hành lang cách xa ngai vua. Vua giơ cây phủ việt về hướng bà, thế là bà lại gần và bày tỏ lý do khiến bà đến yết kiến vua. Bà đưa tay rờ đầu cây phủ việt để xác nhận là bà đã được vua chấp thuận. Khi vua hỏi bà muốn xin gì dù xin phân nửa nước vua cũng cho (một thành ngữ không nên hiểu theo nghĩa đen), bà Ê-xơ-tê chỉ xin được mời vua và Ha-man đến dự tiệc tổ chức riêng cho hai người. Bữa tiệc sẽ tạo cơ hội cho bà dâng lên một lời thỉnh nguyện khẩn thiết chân thành. Việc mời luôn Ha-man là vị quan thân cận của vua dự tiệc là một quyết định táo bạo và khôn ngoan.
(Et 5:5-8). Vua vội vàng cho vời Ha-man chứng tỏ vua hài lòng về lời mời của Ê-xơ-tê. Về phần Ê-xơ-tê bà đã dọn tiệc đoán chừng vua sẽ nhận lời. Vua đang hồi thư giãn tính khí dễ chịu, nên vua xưng hô với bà khác, Ê-xơ-tê (chớ không phải hoàng hậu như trong câu 3) và tỏ vẻ sẵn sàng ban cho bà bất cứ điều gì bà xin sau bữa tiệc. Dầu vậy, Ê-xơ-tê không vội vã. Bà muốn họ trước tiên được tiếp tục hưởng thú vui như thế này một lần nữa, xong rồi bà sẽ dâng lên điều thỉnh cầu.
7. HA-MAN ÂM MƯU HẠI MẠC-ĐÔ-CHÊ (Et 5:9-14)
Niềm vui của Ha-man không dài lâu. Nhìn thấy bộ dạng Mạc-đô-chê bất mãn không chịu chào ông, sự hả hê trong lòng Ha-man biến thành thịnh nộ. Chắc chắn ông phải trả đũa. Nhưng trước hết ông lo khoe với bạn bè về những sự cao trọng của ông tại triều đình cọng thêm với tất cả những điềm may mắn về ơn huệ đặc biệt. Ha-man đặt ưu tiên trên của cải là rất có ý nghĩa. Ông tin chắc vào vị trí quan trọng của mình đến nỗi ông không hề ngờ là Ê-xơ-tê chống nghịch ông. Mạc-đô-chê người Do-thái là kẻ thù độc nhất khiến cho ông mất vui. Dù Ha-man đã có biện pháp diệt tất cả người Do-thái, ông vẫn nhanh chóng tán thành đề nghị của vợ và các bạn ông về việc dựng một cây trụ để treo cổ Mạc-đô-chê (so với Et 2:23). Hễ nghĩ tới chuyện này là đủ cho ông hài lòng sung sướng. Trụ hình cao quá mức (20m, 75 bộ) là đúng với kích cỡ to tát của người Ba-tư trong ngành xây dựng.
8.VUA TÔN VINH MẠC-ĐÔ-CHÊ (Et 6:1-14)
Điều lý thú là có một loạt những chuyện ngẫu nhiên nối tiếp nhau, ngoài khả năng tiên liệu, dẫn đến sự trả lời cho những lời khẩn cầu của dân Do-thái trong ba ngày họ kiêng ăn. Hành động của Ê-xơ-tê dù là có tính toán phản ánh một sự khôn ngoan siêu việt mà bà đã nhận được trong dịp kiêng ăn.
(Et 6:1-3). Đêm đó vua không ngủ được. Chuyện tầm thường này lại trở nên điểm tựa cho một loạt những sự việc. Vì không ngủ được vua mới được nghe đọc chuyện Mạc-đô-chê phá vỡ một vụ mưu sát vua. Biến chuyển nối tiếp là do biết ơn đối với người cứu mạng nên vua quyết định phải tưởng thưởng xứng đáng lập tức. Lẽ tự nhiên là vua phải hội ý với vị thủ tướng về một quyết định quan trọng cỡ đó.
(Et 6:4-14). Ha-man đến hoàng cung sớm vì ông cần cơ hội thỉnh vua về vụ xử tử Mạc-đô-chê. Nhưng ngay khi ông chưa kịp nêu ý nguyện của mình thì vua đã bàn chuyện hoàn toàn khác: làm thế nào để tỏ lòng tôn trọng một công dân xứng đáng. Ha-man tưởng người sắp được tôn vinh là chính mình ông nên ông hăm hở nêu ra hết mọi chi tiết theo như khát vọng của mình. Ông ước có thanh thế lẫy lừng, nghe người ta tung hô ông là người được vua tôn trọng, mặc y phục của vua, cỡi chính con ngựa của vua, và dĩ nhiên đóng vai một ông hoàng và thấy dân chúng kính bái mình như một ông hoàng.
Ông đoán sai hoàn toàn. Vua cũng không hề ngờ đến niềm mơ ước của ông, và không mảy may biết mức độ cay đắng chua chát mỉa mai mà ông phải chịu khi vua bảo ông tôn vinh Mạc-đô-chê thay vì đem xử tử. Kinh hoàng ghê gớm nhất là ông bị mất mặt trước công chúng vì tất cả bạn bè của ông đều biết vụ cây trụ hình cao sừng sững vươn trên nội thành, và họ cũng biết rõ Ha-man mưu tính giết Mạc-đô-chê. Thay vì bị đưa đi xử tử, Mạc-đô-chê trở về ngồi nơi cửa vua, vẻ điềm tĩnh trước mọi sự việc, nhưng hẳn là ngẩn ngơ đối với sự thay đổi nơi kẻ thù của mình. Riêng phần Ha-man, lòng ông chết điếng, vợ ông cũng không an ủi ông được, bầu không khí trong gia đình đổi khác. Họ nhìn và đoán ý nghĩa của những điềm báo nên họ không còn tin tưởng vào vận may của ông nữa. Giờ đây, tình thế biến chuyển nhanh, lính của hoàng gia đã đến trước cửa nhà để rước Ha-man đi dự bữa tiệc thứ hai do Ê-xơ-tê đãi. Ông đã hết thời rồi.
9. VUA TRUYỀN LỊNH TREO CỔ HA-MAN (Et 1:1-10)
(Et 7:1-4). Bầu không khí căng thẳng khi vua hỏi hoàng hậu Ê-xơ-tê đến lần thứ ba. Không còn lối nói thư giãn thoải mái như lần trước nữa, và trong câu Ê-xơ-tê trả lời cho chồng, xưng ông là vua, và dùng lối nói cung đình. Dầu vậy, bà vẫn phải nói ra sự thật. Ban mạng sống cho tôi... cho dân tộc tôi: lời thỉnh nguyện này gói ghém ẩn ý nghiêm trọng nên đương nhiên cuốn hút sự quan tâm mãnh liệt của vua. Ê-xơ-tê tránh không nói đến danh tánh Ha-man ở đây, nhưng bà ngụ ý đến khoản tiền khổng lồ đã trả cho vụ mua bán ngầm nay. Bị bán làm nô lệ còn có thể chịu đựng được, đằng này người Do-thái bị bán cho sự huỷ diệt, tàn sát và diệt chủng. Đó là nguyên văn những từ dùng trong chiếu chỉ (Et 3:13). Không một khoản tiền nào có thể bù lỗ cho vua một khi toàn dân Do-thái bị tiêu diệt. Ở đây Ê-xơ-tê nhấn mạnh đến lợi ích tốt nhất của vua và gợi ý là nhân dân quan trọng hơn của cải vô cùng.
(Et 7:5-10). Chẳng mấy chốc vua biết một tin choáng ngợp nữa. Ông khám phá rằng chính Ha-man đã âm mưu tàn sát hoàng hậu và đồng bào của bà. Cái khôn khéo của Ê-xơ-tê khi mời Ha-man đến dự tiệc giờ đây là rõ: ông trực tiếp lãnh án phạt đích đáng từ nơi vua dành cho kẻ thù nghịch, không phải riêng gì dân Do-thái mà còn là kẻ thù của vua nữa. Ê-xơ-tê không thể tiên đoán được vua sẽ phản ứng ra sao khi biết bà là người Do-thái. Trong cơn thịnh nộ, vua ra ngoài để đổi không khí và nghĩ cách đối phó với tình hình này. Còn Ha-man trong cơn tuyệt vọng mãi lo khẩn cầu hoàng hậu thương xót, nên ông quên giữ khoảng cách tiếp xúc trong nghi thức cung đình. Ông đến quá gần với hoàng hậu khiến vua nổi thạnh nộ hơn nữa. Quân hộ vệ hoàng gia tiến vào che mặt Ha-man, tức là coi như ông bị bắt. Một trong các quan tại hoàng cung là Ha-bô-na, có tên trong bảng liệt kê ở 1:10 trình với vua về trụ hình mà Ha-man đã dựng để treo cổ Mạc-đô-chê, là người đã tiết lộ để cứu mạng vua. Thế là đủ yếu tố cho vua quyết định. Ha-man không ngờ là ông đã chuẩn bị cho vụ xử tử chính mình, là chuyện xảy ra tức khắc sau đó. Coi như vua hả giận vì công lý đã được thi hành. Trong khi chiếu chỉ của Ha-man gây kinh hoảng (3:15) thì sự đảo ngược thời vận của ông chấm dứt bằng tử hình trên cây trụ mà ông đã dựng cho kẻ thù của mình, phục hồi lại cho vua và dân chúng sự an ổn trong tinh thần.
10. BIỆN PHÁP VÔ HIỆU HÓA CHIẾU CHỈ CỦA HA-MAN (Et 8:1-17)
(Et 8:1-2). Mặc dù Ha-man đã chết nhưng còn nhiều chuyện phải giải quyết nếu muốn cho đế quốc Ba-tư tiếp tục cường thịnh, nên tác giả cẩn thận giải quyết những vấn đề còn lại trong mấy chương cuối sách. Thuở xưa, ở vùng Cận Đông, tài sản của các tội phạm được sung vào tài sản hoàng gia (xem kế hoạch của Giê-sa-bên trong IVua 21:7-16). Vì vậy vua ban cho hoàng hậu Ê-xơ-tê toàn bộ tài sản của Ha-man là chuyện dễ dàng. Về phần Ê-xơ-tê, bà bày tỏ mối liên hệ giữa bà với Mạc-đô-chê và bà mang ơn Mạc-đô-chê ra sao. Lần trước khi vua vời Mạc-đô-chê vào triều là nhằm tôn vinh ông về những công trạng của ông mà thôi. Cuộc diễu hành mà Ha-man hằng ước mơ đã trở thành trò cười (Et 6:7-9). Vì vậy lần này vua trao cho Mạc-đô-chê cái nhẫn con dấu của vua và giao cho ông quyền cai trị đế quốc. Trong khi Ha-man lạm dụng quyền hành làm chuyện sai trái thì Mạc-đô-chê được xem là có triển vọng sẽ trung thành phục vụ vua lâu bền. Một kỳ vọng mà Ê-xơ-tê củng cố bằng cách giao cho ông quyền cai quản bất động sản của Ha-man. Các diễn biến liên tiếp kéo theo tình tiết trớ trêu vì giờ đây Mạc-đô-chê được cả địa vị lẫn tài sản của con người vốn thù nghịch dân Do-thái.
(Et 8:3-8). Còn phải giải quyết một vấn đề quan trọng hàng đầu nữa: chiếu chỉ của Ha-man còn sờ sờ trong sách luật pháp và vẫn còn hiệu lực nên cần có biện pháp hoá giải. Ha-man đã nhân danh vua phổ biến chiếu chỉ đó trong tất cả các tỉnh của đế quốc và chỉ một mình vua mới có thể thay thế, sửa đổi. Vì nhu cầu cấp bách, Ê-xơ-tê lại xuất hiện trước ngai vua một lần nữa. Lần này bà có đủ dạn dĩ để phủ phục nơi chân vua, khóc lóc nài xin vua vô hiệu hoá thủ đoạn của Ha-man đã toan mưu hại dân Do-thái. Một lần nữa, bà Ê-xơ-tê thận trọng chọn câu nói, bà không hề đả động đến luật lệ hiện hành, vì cớ có câu ‘luật pháp của nước Mê-đi và Phe-rơ-sơ không thể thay đổi’ (1:19). Vả lại, không nên làm mất thể diện của vua. Vua tán thưởng sự khôn ngoan và dũng cảm của bà bằng cách đưa cây phủ việt cho bà, ra dấu cho bà đứng dậy.
Dù rằng giờ đây bà rất được lòng vua, Ê-xơ-tê vẫn trình bày ý nguyện với tất cả lòng tôn trọng vua. Bà công nhận là bất cứ quyết định gì cũng phải là của vua. Chiếu chỉ nhân danh vua được truyền đến khắp nơi, nhưng bà cho là Ha-man là tác giả của nội dung, và do đó bà xin vua truyền một lệnh để bãi bỏ các thơ mưu mẹo của Ha-man. Đây là nước cờ xuất sắc của bà được tăng cường bằng câu than thở về tâm hồn đau đớn của bà về số phận của đồng bào, của gia đình. Vì Ê-xơ-tê thay mặt cho cả Mạc-đô-chê để thỉnh nguyện nên vua trả lời cho cả hai. Trước tiên vua chứng tỏ lẽ phải của mình bằng án phạt nghiêm khắc tối đa đối với Ha-man, rồi vua thuận ý cho phép ban hành một chiếu chỉ khác nhân danh vua mà phổ biến ra. Dù rằng lần này cũng vậy, vua giao cho phụ tá của mình viết nội dung. Trong khi Ê-xơ-tê cố tình tránh không nhắc đến sự kiện sắc luật của vua không thể thay đổi, thì vua lại nhắc đến. Một lần nữa tác giả móc nhẹ vào tính bất nhất của vua.
(Et 8:9-14). Lời lẽ ở đây vang vọng lại lời lẽ trong chiếu chỉ của Ha-man (Et 3:12-14) duy có nội dung là trái ngược. Luật lệ không thể thay đổi trở nên như thế đấy, tác giả vĩ đại của luật lệ cũng như thế thôi. Ha-man nổi lên nhanh rồi sụp đổ nhanh. Chiếu chỉ của ông mới ban ra trong tháng giêng thì đến tháng ba đã bị vô hiệu hoá bởi chiếu chỉ của Mạc-đô-chê, là người vốn bị ông thù ghét. Giờ đây Mạc-đô-chê điền thêm ngôn ngữ Hi-bá-lai vào bảng liệt kê các ngôn ngữ được sử dụng để viết chiếu chỉ. Những con ngựa chạy lẹ làng bảo đảm chiếu chỉ nhanh chóng được công bố ra khắp nơi.
Lưu ý là bản NIV lột được ý nghĩa của câu 11 chớ không như bản dịch NEB, JK và GNB. Phần đầu câu 11 không gây thắc mắc nào trong việc cho phép dân Do-thái họp lại tổ chức tự vệ, nhưng thắc mắc nổi lên với những túc từ của các động từ huỷ diệt, tàn sát và tuyệt diệt (làm cho hư mất). Ba động từ này trích trong chiếu chỉ của Ha-man (3:13). Trong đó túc từ của ba động từ này là ‘tất cả người Do-thái - già trẻ lớn bé, kể cả phụ nữ và trẻ em’. Còn trong chiếu chỉ của Mạc-đô-chê thì chỉ nói về quân cừu địch toan hãm hại. Ở đây cho phép người Do-thái chiếm đoạt tài sản nhưng chỉ giới hạn nội trong một ngày ấn định là ngày Mạc-đô-chê thấy là thuận lợi. Ở đây, người Do-thái được phép chống cự và đánh trả nếu họ bị tấn công. Trong khi chiếu chỉ của Ha-man truyền cho dân là phải tàn sát dân Do-thái hàng loạt bất kể lý do.
(Et 8:15-17). Ở Su-sơ, nơi chiếu chỉ phát xuất dân chúng nhiệt liệt hoan nghênh tân chính phủ và những nền tảng căn bản của chính phủ đó. Bầu không khí này trái ngược với sự kinh hoàng do chiếu chỉ của Ha-man gây ra (3:15). Mạc-đô-chê được tán thưởng trong bộ lễ phục với đầy đủ biểu chương của hoàng gia, vì dân chúng xét có thể tin cậy ông. Với khả năng hiểu biết tinh tế, ông thu hút được lòng mến chuộng của toàn bộ nhân dân (Ch 13:15) kể cả dân Do-thái, là nhóm người có mọi cơ hội để ăn mừng vì nay họ sống trong sự ưu ái thay vì trong nguy cơ bị sát hại. Dưới sự lãnh đạo của Mạc-đô-chê, dân chúng thuộc các dân tộc khác quay qua theo quốc tịch Do-thái, vì ước đoán là làm người Do-thái sẽ gặp nhiều thuận lợi. Thái độ của nhân dân một sớm một chiều thay đổi hoàn toàn là thế, và là một dấu hiệu sáng sủa cho tương lai của người Do-thái.
11. DÂN DO-THÁI THẮNG LỢI (Et 9:1-19)
(Et 9:1-4). Khi ngày định mệnh đến, ngày 13 tháng A-đa, dân Do-thái khắc phục kẻ thù của mình. Tác giả sơ lược kết cuộc của ngày đó để độc giả không còn hồ nghi gì nữa: nạn nhân trở thành người chiến thắng. Thật ra, ta có cảm tưởng như là hầu hết các lực lượng chống đối tan rã vì Mạc-đô-chê có uy tín đối với cả quần chúng lẫn giới lãnh đạo. Tác giả đặt nặng vấn đề quần chúng đâm sợ hãi đối với Mạc-đô-chê và dân Do-thái với ngầm ý là có một sự can thiệp siêu việt nào đó, như thế sự kính sợ Đức Chúa Trời đã xâm chiếm lòng họ khi vận mệnh của dân Do-thái bỗng nhiên đổi hướng. Người ta có ấn tượng là Mạc-đô-chê sẽ cầm quyền lâu dài. Ông là nhân vật có giá trị do đó người ta sẵn sàng ủng hộ ông.
(Et 9:5-10). Tuy nhiên không hoàn toàn tránh đổ máu được cho nên ở đây có ghi lại con số thương vong. Chắc chắn những con số này sẽ lớn hơn nhiều nếu người Do-thái ở vị thế nạn nhân hoặc nếu đại đa số quần chúng không có thiện cảm đối với quyền lợi chính đáng của họ. Chắc chắn vẫn còn đám người trung thành với Ha-man sẵn sàng ủng hộ sự lãnh đạo của các con trai của ông. Nòng cốt của lực lượng chống đối tại hoàng thành bị tiêu trừ trước tiên. Tác giả liệt kê danh tánh các con trai của Ha-man nơi đây nhằm nhấn mạnh Ha-man hoàn toàn thua cuộc, không còn một người nào ủng hộ đường lối của ông. Nhưng tài sản của gia đình người bị giết còn nguyên vẹn. Ba lần tác giả ghi rằng họ không mó tay vào tài sản (10,15,16). Họ chủ trương đúng theotổ tiên Áp-ra-ham là không làm giàu trên sự sa bại của kẻ thù của mình (Sa 14:23). Tinh thần tự chế bất thường như thế đương nhiên làm cho quần chúng chú ý ghi nhận và nhờ đó người Do-thái chiếm được lòng tin tưởng của nhân dân.
(Et 9:11-17). Vua thản nhiên đề cập đến số năm trăm người thiệt mạng, cọng với các con trai của Ha-man và số thiêt mạng ở các tỉnh chưa nắm rõ. Thái độ đó góp phần thúc giục hoàng hậu xin kéo dài thời gian đổ máu. Quả là khủng khiếp. Giờ đây đến phiên Ê-xơ-tê bày tỏ bà là một phụ nữ cứng như ‘thép’ khi bà xin bêu xác các con trai của Ha-man để biểu dương sự sụp đổ của nhà ông, và xin tiếp tục được tiểu trừ kẻ thù của người Do-thái tại thành Su-sơ ngoài nội thành. Để hoàn tất những việc này Ê-xơ-tê xin thêm một ngày, khiến cho ba trăm người nữa bị giết. Ở các nơi khác có 75.000 người bị giết bởi những người Do-thái liên kết với nhau để chống cự kẻ thù, hàm ý là chiếu chỉ của Ha-man vẫn được thi hành. Nếu coi tất cả 127 tỉnh đều có người Do-thái, bình quân mỗi tỉnh có sáu trăm người bị giết, con số này vẫn còn nhỏ hơn con số thương vong riêng tại Su-sơ. Như vậy người Do-thái được giải thoát khỏi kẻ thù nghịch. Cần kỷ niệm sự kiện họ được giải cứu, thế là người ta định ngày 14 tháng A-đa làm ngày lễ sau khi ngày 13 đáng sợ trôi qua trong an toàn. Dầu vậy tại Su-sơ ngày 15 mới là ngày ăn mừng vì Ê-xơ-tê có xin vua gia hạn thêm một ngày. Ở khắp nơi, người ta mở tiệc mời nhau ăn mừng không người nào bị bỏ sót. Thế là trong khi Ha-man âm mưu diệt sạch dân Do-thái thì kết cuộc là ông ràng buộc họ chặt chẽ với nhau hơn và tăng cường tinh thần tương thân trong cộng đồng của họ mỗi khi họ kỷ niệm sự kiện tính mạng họ đã từng bị đe doạ và họ đã được giải cứu với nhau.
12. NGUỒN GỐC LỄ PHU-RIM (Et 9:20-32)
(Et 9:20-22). Muốn cho một kỳ lễ được tồn tại với thời gian thì ngày lễ đó phải được xác minh trên giấy tờ. Lễ Vượt Qua, lễ Các Tuần Lễ (Ngũ Tuần) và lễ Lều Tạm đều được ấn định trong lịch tế lễ thờ phượng bởi luật pháp Môi-se (Phu 16:1-17). Giờ đây Mạc-đô-chê thêm lễ Phu-rim. Ông ấn định hằng năm biệt riêng hai ngày, 14 và 15 tháng A-đa, để làm lễ tạ ơn vì được cứu thoát khỏi hoạ diệt chủng. Sự giải cứu này tương đương với sự giải cứu khỏi Pha-ra-ôn thời xuất Ai-cập (Thi 106:10 Lu 1:71). Cả hai Lễ Vượt Qua và Phu-rim đều nói về sự thay đổi từ buồn khổ qua vui mừng, từ tang tóc qua hoan hỉ. Mạc-đô-chê ấn định là cần có tinh thần rộng rãi tiếp khách, chăm sóc người nghèo khó, ban cho cách dư dật trong thời gian dự lễ.
(Et 9:23-28). Một chi tiết tác giả chưa giải thích là tên của ngày lễ Phu-rim. Vì vậy ở đây ông tóm lược âm mưu của Ha-man. Trong âm mưu này Ha-man đổ súc sắc hay ‘thời vận, một từ không có trong ngôn ngữ Hi-bá-lai, vì vậy trong bản văn, từ này được đặt trong ngoặc kép. Người ta tìm thấy một con súc sắc thuộc về thời đó có khắc chữ puru (xem dẫn nhập), và nay họ đã xác định được ý nghĩa của từ đó nên cũng xác minh luôn là tác giả sách đã viết rất chính xác. Muốn định ngày cho công việc người ta gieo súc sắc để chọn ngày tốt. Đó là một tập tục lâu đời ở vùng Cận Đông cổ. Nhưng trong vụ này vận may không thành theo như đương sự tin tưởng. Như vậy, việc dùng từ Phu-rim (do từ pur cộng với tiếp vĩ ngữ số nhiều là im), ‘thời vận’, thẳng thừng phế bỏ chuyện tin vào vận may rủi, vì thực tế xảy ra không đúng với niềm mong mỏi của người tin vào số mệnh may rủi. Một lần nữa người Do-thái chứng minh rằng họ biết một nếp sống tốt hơn. Vì vậy mỗi một gia đình trong mọi thế hệ đều phải tổ chức lễ hội này, không bao giờ để cho mai một.
(Et 9:29-32). Ê-xơ-tê dùng uy tín của mình để tăng cường uy tín của Mạc-đô-chê: hoàng hậu Ê-xơ-tê... viết thơ hoặc ‘hạ chiếu chỉ’. Đến lúc này cần giấy tờ, văn bản với đầy đủ thẩm quyền để thiết lập lễ hội này trong toàn đế quốc đúng theo luật lệ. Mỗi một tỉnh nhận được một bản chiếu chỉ chính hiệu của hoàng gia với đầy đủ con niêm, dấu ấn. Thế là không một ai còn có thể biện bạch là mình chưa được thông báo. Từ Et 4:16 không còn nói đến kiêng ăn khóc than, nhưng đây là một trong những chủ đề của sách được nhắc lại và đây cũng là phương cách Ê-xơ-tê thực hiện để vững tâm nhận vai trò lãnh đạo. Vì vậy trong phần ôn tóm lược ở cuối chuyện tác giả nhắc lại sự kiêng ăn. Nhưng chắc trong chương trình thờ phượng của lễ Phu-rim từ đầu không có phần kiêng ăn, vì khía cạnh tiệc tùng ăn mừng được chú trọng hơn. Dầu sao, không có kiêng ăn chắc là không thể có tiệc tùng ăn mừng. Việc này được ghi chép vào các sách, có lẽ đây là bộ sách luật dùng để tham khảo ở Su-sơ. Những sự kiện lưu lại trong đó đều có chứng từ minh chứng là xác thực và hội đầy đủ phép tắc.
13. MẠC-ĐÔ-CHÊ THÀNH CÔNG (Et 10:1-3)
Sách chấm dứt với chi tiết về vua Xẹt-xe cũng như sách đã mở đầu với vua. Trong phần mở đầu, sách đề cập đến đế quốc trải rộng của vua (Et 1:1), ở đây tác giả đề cập đến một điểm rất ư thực tế, ấy là trong những vùng xa xôi hẻo lánh nhất cũng không trốn thuế được vì vua có đủ quyền lực để bắt người dân phải tuân theo ý muốn của mình. Dưới một thể chế chặt chẽ và độc tài như vậy nào ai dám mơ tưởng chuyện một người Do-thái sẽ làm cánh tay mặt cho vua. Chính vua Xẹt-xe đã cất nhắc Mạc-đô-chê lên địa vị tôn trọng, vinh hiển. Sử Biên Niên của hoàng gia Mê-đi và Ba-tư (xem Ba-tư và Mê-đi trong chương 1. Vì cớ đế quốc Mê-đi thành hình trước đế quốc Ba-tư nên bộ sử biên niên bắt đầu với sử đế quốc Mê-đi). Như vậy, Mạc-đô-chê đứng trong một vị thế thuận lợi để đại diện cho dân tộc của ông và để mưu tính lợi ích tốt nhất cho họ. Trong khi lúc trước, cũng dưới thời vua này họ hoàn toàn nằm dưới sự thao túng của một tay bạo ngược đến nỗi suýt bị diệt chủng. Nhờ Mạc-đô-chê mà nhân dân trong đế quốc lại được hưởng một cuộc sống yên ổn. Còn dân Do-thái thì cảm thấy sự sống của họ được bảo đảm dù rằng họ vẫn ở dưới sự đô hộ của ngoại bang.
Ông Phao-lô bảo đảm rằng ‘Vả, theo sự công bình Đức Chúa Trời, thì ắt là Ngài lấy điều khổ báo những kẻ làm khổ anh em, và cho anh em, là kẻ chịu khổ’ (IITe 1:6-7) có thể là do ông đã đọc sách Ê-xơ-tê. Trong cả hai sách, điều gây khốn khổ sóng gió là sự bách hại đối với dân của Đức Chúa Trời, là những người không thể tự vệ, không thể tự biện bạch bào chữa. Trải qua các thế kỷ, sự chống đối mãnh liệt vẫn kéo dài, và sự tranh chiến của chúng ta không phải với thịt và huyết (Eph 6:12). Đôi khi Đức Chúa Trời can thiệp với những việc lạ lùng, như Ngài đã làm trong thời Ê-xơ-tê. Dẫu vậy, dù Đức Chúa Trời có công khai binh vực cho quyền lợi chính đáng của người tin Chúa hay không thì bổn phận của Hội Thánh vẫn là phải vững vàng. Phao-lô chứng minh tính cách chính đáng trong công tác của mình qua sự tăng trưởng của Hội Thánh.
Trong các thế kỷ trước công nguyên, sự tồn tại của dân Do-thái là thiết yếu cho sự khai sinh của Hội Thánh. Sách Ê-xơ-tê trình bày về chuyện sống sót đó. Vì vậy đương nhiên sách Ê-xơ-tê là một sách trong kinh điển đối với người Cơ-đốc cũng như đối với người Do-thái.