NÊ-HÊ-MI

MỤC LỤC

NÊ-HÊ-MI

1. NÊ-HÊ-MI KHÔI PHỤC TƯỜNG THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM (Ne 1:1-7:73)

Hầu như toàn bộ phân nửa đầu của sách Nê-hê-mi (chương 1-7) hoàn toàn viết về công cuộc tái thiết tường thành Giê-ru-sa-lem.  Ở một mức độ nào đó, phần sách này trình bày khía cạnh chính trị hoặc xã hội tương ứng phần nào với phần tường thuật của E-xơ-ra là phần nghiêng nặng về những cải tổ trong tôn giáo.  Mặc dù dĩ nhiên là hai phần này không nhất thiết phải tách rời nhau.  Phần lớn câu chuyện dựa trên lời kể của Nê-hê-mi vì dùng đại danh từ ngôi thứ nhất.  Nửa thứ hai của sách này (chương 8-13) xây dựng trên rất nhiều nguồn tư liệu, và trình bày đỉnh điểm công tác của hai nhà cải cách trong sự khôi phục phần thuộc linh của cộng đồng cùng những vấn đề liên quan.

Những vụ việc được tường thuật trong phần này xảy ra vào năm 446-445 T.C. (so với Exo 1:1), sau khi E-xơ-ra đến Giê-ru-sa-lem khoảng mười hai hoặc mười ba năm.  Còn đối với những việc xảy ra trong thời gian mười hai năm này thì chúng ta chỉ có thể ước đoán thôi (xem Ne 1:4 ở dưới).  Một lần nữa chúng ta thấy rằng mục đích của tác giả là tập trung viết về những việc mà ông nhận thấy có ý nghĩa thần học quan trọng trong lịch sử cứu chuộc của dân tộc.  Ông quan tâm xoáy vào chuỗi diễn biến nhân quả theo sự điều động của Đức Chúa Trời thay vì dùng những cách thức thông thường để nối kết các sự kiện lại với nhau theo kiểu của sử gia ngoài đời.

1. Nghề nghiệp của Nê-hê-mi (Ne 1:1-11)

Nê-hê-mi làm quan tửu chánh của vua (11), là người được tin cậy trong triều đình.  Hẳn ông cũng phục vụ trong vai trò người thân cận tinh tế có một ảnh hưởng lớn trên vua khi đóng góp và bàn luận trong chỗ riêng tư không chính thức.  Từ đầu câu chuyện không có chi tiết nào gợi ý rằng ông dự định từ bỏ địa vị được ưu ái này để chia xẻ số phận với những người đồng hương Do-thái ở Giê-ru-sa-lem xa xôi và tầm thường.

Qua chuyện thăm hỏi thông thường (2), ông biết một số tin về những tai hoạ mới xảy ra.  Những tin tức đó tác động mạnh mẽ trên ông (4).  Cho nên đây không phải là sự xâm lăng tàn phá của quân Ba-by-lôn 140 năm về trước.  Có lẽ lắm đây là những chuyện đề cập trong Exo 4:7-23, là chuyện được ghi vào đó đúng theo trật tự diễn biến trong lịch sử.  Không rõ vào lúc này E-xơ-ra còn có mặt ở Giê-ru-sa-lem hay không (dường như trong nỗ lực xây lại tường thành không thành công này không có ông).  Nhưng nếu ông có mặt thì chúng ta có thể hiểu được vì sao về sau ông không thể hoàn tất công tác (xem bình giải 7:25).

Phản ứng của Nê-hê-mi khi nghe những tin này cho thấy ông cảm biết rằng Đức Chúa Trời kêu gọi ông phục vụ trong một lãnh vực hoàn toàn mới mà địa vị và công việc đã đào tạo và chuẩn bị ông một cách độc đáo cho công tác mới này.  Việc này biểu thị cụ thể qua sự việc ông cảm nhận rằng dân tộc và ông là một (4,6-7).  Thế rồi ông cầu nguyện về vấn đề này trong bốn tháng trời (Ne 2:1).  (Hiển nhiên ở đây chúng ta chỉ có phần tường thuật sơ lược).  Thời gian chờ đợi dài như vậy chứng tỏ ông tin rằng mình được kêu gọi và cũng chứng tỏ ông bền tâm dấn thân vào con đường này.

Bài cầu nguyện của Nê-hê-mi (5-11) chịu ảnh hưởng sâu đậm những nghi thức thờ phượng truyền thống.  Trước hết, ông tập trung hướng về Đức Chúa Trời của các từng trời rồi xưng tội của ông và của cả dân tộc (6-7).  Sau đó ông mới nói tóm tắt về những lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời (8-9) làm căn bản cho hai điều ông cầu xin.  Nói chung, ông cầu nguyện cho vận mệnh của dân tộc và đặc biệt là cho việc ông sẽ thỉnh cầu với vua được đúng phép.  Nếu chúng ta xem Exo 4:1-24 là bối cảnh của chuyện này thì 4:21  mối hiểm nghèo đang rình đợi, nhưng vận may cũng có thể đang chờ người dám đánh tiếng xin tiếp tục công tác tái thiết đó.  Trong tình huống đầy bất trắc này, dù là một người rất năng động, Nê-hê-mi cũng khôn ngoan giao phó cho Đức Chúa Trời định đoạt thời điểm và cách thức đánh tiếng với vua về việc này.

2. Nê-hê-mi đến Giê-ru-sa-lem. (Ne 2:1-3:32)

Sự thể các kẻ thù của Nê-hê-mi được đề cập trong câu 10 và câu 19-20 dứt khoát tách chương này thành hai phần.  Trong phần đầu, Nê-hê-mi đã hành động với niềm tin chắc rằng Đức Chúa Trời đang vận hành để đáp lời cầu nguyện của ông trong phần thứ hai, khi bắt đầu gặp chuyện mà ông chưa rõ ngọn ngành thì  ông tỏ ra thận trọng đáng phục.

(Ne 2:1-10).  --mi nhà vua. Chúng ta không rõ có phải Nê-hê-mi cố ý biểu lộ nỗi buồn khổ trên gương mặt để nhử vua hỏi về đời tư của ông hay không (1-2).  Dầu sao, khi vua hỏi câu thứ nhất, thì câu trả lời của ông chưa có gì cụ thể cả, vì ông còn dọ dẫm để biết chắc đây là thời điểm của Đức Chúa Trời.  Đoán chừng câu hỏi kế tiếp của vua báo hiệu là đã đến lúc rồi, ông vội cầu nguyện ngắn gọn về những điều ông đã cầu nguyện trong mấy tháng qua (4) đồng thời ông tâu với vua nguyện ước của mình.  Thấy vua nhanh chóng phê chuẩn lời thỉnh cầu của mình (6), ông đâm dạn dĩ tiếp tục giãi bày vài nhu cầu khác một cách cụ thể hơn.  Việc này minh hoạ sự quân bình giữa lòng tin cậy nơi quyền tể trị của Đức Chúa Trời thể hiện qua sự cầu nguyện là phản ứng phải lẽ cùng trách nhiệm của con người qua việc làm tương xứng là lập kế hoạch kỹ lưỡng.  Cũng cần ghi nhận rằng Nê-hê-mi tin rằng Đức Chúa Trời có thể dùng con người để cung cấp cho ông mọi phương tiện ông cần dùng đến (8).

Chú giải.  10  Theo một tài liệu phát hiện ở Ai-cập thì San-ba-lát, kẻ thù không đội trời chung của Nê-hê-mi, là tổng đốc Sa-ma-ri.  Chính ông đặt cho các con trai mình tên riêng ghép với danh Yahweh.  Theo Exo 4:1-24, chúng ta có thể suy đoán rằng có lẽ lâu nay ông tạm thời kiêm cai trị người Giu-đa và có lẽ đó là lý do khiến ông tị hiềm Nê-hê-mi.  Tô-bi-gia có những quan hệ cá nhân gần gũi tại Giê-ru-sa-lem (so với Ne 6:17-19  13:4-5), biết đâu ông làm khâm sai cho San-ba-lát tại Giê-ru-sa-lem trong ‘thời kỳ lâm thời’ này?

(Ne 2:11-20).  --mi thẩm định tình trạng tường thành Giê-ru-sa-lem Sau khi về đến Giê-ru-sa-lem, Nê-hê-mi thử thi hành công tác của mình một cách thận trọng.  Trước hết ông đích thân âm thầm tìm hiểu công tác (11-16).  Rõ ràng ông đang ước tính mức độ của công tác to tát này (so với Lu 9:57-62  14:28-32).  Thứ hai có nhiều dấu hiệu cho thấy rằng ông tin rằng Đức Chúa Trời đã sai ông đến đây nên ông kêu gọi dân chúng hợp lực thực hiện công tác này (17-18).  Họ nhất trí ủng hộ xác quyết rằng con đường ông đi là đúng.  Sự kêu gọi của cá nhân thường được đức tin của tập thể xác nhận (Cong 13:1-2).  Cuối cùng ông không chuyển hướng khi bị chống đối mà đối phó bằng cách khẳng định rõ ràng rằng ông đã được kêu gọi để thực hiện những việc đó, rồi ông giao phó cho Đức Chúa Trời phần kết vì Ngài là Đấng đã khởi xướng (19-20).

Chú giải.  19  Theo các bi văn, chúng ta biết rằng Ghê-sem người Ả-rập là một vị vua rất có thế lực trong vùng sa mạc, ảnh hưởng của ông lan rộng đến biên giới phía nam và phía đông của nước Giu-đa.  Không rõ động cơ nào khiến ông  có thái độ thù địch như vậy, trong khi đó động cơ của San-ba-lát và Tô-bi-gia thì lộ rõ ràng.  Kinh Thánh cũng đề cập đến ông ít hơn những người này.

Ne 3:1-32. Xây lại tường thành. Danh sách những người tham gia xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem được đặt ở đây nhưng được liệt kê vào lúc công tác đã hoàn tất (Ne 6:6-15).  Mặc dù không có sự đề cập trực tiếp đến Nê-hê-mi nhưng rõ ràng chúng ta chương này bày tỏ tài năng tổ chức và lãnh đạo của ông.  Công việc tiến hành từng đoạn tường thành theo hướng ngược chiều kim đồng hồ từ Cửa Chiên và về hướng Cửa Chiên (1,32) ở góc đông bắc của thành.  Từ câu 16 trở đi, nội dung tường thuật có phần khác đôi chút.  Có lẽ theo phần tường thuật ở trên người ta tái thiết tường thành theo đúng chân tường cũ.  Đến đây họ khởi sự xây tường thành theo ranh giới mới.  Dường như phần tường phía đông của thành phố, nhìn xuống thung lũng Kít-rôn bị tàn phá nặng nề (2:14) cho nên để tiết kiệm thời gian, người ta xây tường thành mới trên một lằn ranh lùi lên cao hơn trên con dốc.  Chú ý đến chi tiết tường thành giờ đây sát nhà những người tình nguyện xây thành (23-30). Cho nên chính họ đứng ra xây đoạn tường đó.

Cái nhìn toàn cảnh này bày tỏ nhiều điều.  Trước tiên là sự đồng tâm nhất trí của dân chúng tiến hành công tác tại khoảng bốn mươi công đoạn.  Công trình to tát như thế khó lòng tiến hành và hoàn tất nếu không có người điều hành tốt, phối hợp chặt chẽ với cái nhìn nhanh nhạy để nhận định và tiên liệu công việc tiến hành ở những chốt lân cận.  Thứ hai động cơ và mối quan tâm của những người tham gia công trình không giống nhau.  Có người tham gia vì quan hệ gia đình, có người tham gia với tư cách cá nhân, một số người với tư cách là công dân trong quận, một số khác tham gia vì địa vị của họ trong xã hội, nhưng còn một số khác vì có tay nghề.  Ngoài ra, trong nhiều trường hợp dân sự tham gia xây tường ở những địa điểm có lợi cho họ.  Hai điểm đầu minh hoạ rất chí lý về tính cách hiệp một và đa dạng đặc trưng trong công tác của Hội Thánh (so với Ro 12:3-8  ICo 12:4-27  Eph 4:1-13).  Cuối cùng, cũng cần ghi nhận về mức độ tham gia công tác nơi nhiều người, ngoại trừ vài người nhất quyết không mó tay vào (5).  Kỳ dư hầu hết ai nấy đều hoàn tất công tác giao phó cho họ, có một số người còn tiếp tục công tác tại một đoạn tường nữa (1,19-21,24,27,30).

3. Chống đối chồng chất. (Ne 4:1-6:19)

Đáng chú ý là mỗi giai đoạn trong công tác của Nê-hê-mi đều gặp chống đối, mỗi giai đoạn đều có một câu dẫn nhập như nhau ‘khi chúng hay rằng’ (so sánh câu 1,7  Ne 2:10,19  6:1,16).  Trong lúc công việc đang tiến triển thì sức chống đối càng mãnh liệt hơn và phần mô tả biện pháp đối phó cũng công phu hơn.

(Ne 4:1-5).  Sự nhạo báng Ở đây San-ba-lát và Tô-bi-gia cường điệu sự nhạo báng của họ trong chương 2:19 nhằm làm nản lòng đám người đang xây dựng (5) và làm vững chí những người ủng hộ họ (2).  Nê-hê-mi phản ứng bằng cách cầu nguyện (4-5) giao phó vấn đề đó cho Đức Chúa Trời.  Đó là một điều đáng ca ngợi vì ông nhận biết rằng Đức Chúa Trời sẽ báo ứng chớ không phải ông.  Dầu vậy, đối với người tin Chúa, có những cảm nghĩ khác thế chỗ cho những cảm nghĩ mà Nê-hê-mi đã bộc lộ (so sánh Mat 5:43-48  18:21-22  Ro 12:14-21), vì công trình cứu rỗi của Chúa Giê-xu đã bảo đảm rằng cuối cùng tình yêu thương đắc thắng.  Đương nhiên lúc đó Nê-hê-mi chưa thể nhận thức tới mức độ này.

(Ne 4:6-23).  Sự đe dọa Khi mới làm được phân nửa công trình, Nê-hê-mi phải đối phó với hai cuộc khủng hoảng.  Một mặt đám nhân sự góp công xây dựng có cơ nản chí vì công tác quá to tát (10) và vì gia đình của một số người cư ngụ trong các làng ngoài thành nghe nói quân thù đang chuẩn bị tấn công.  Vì vậy đám thân nhân này cứ nài nỉ họ bỏ việc xây dựng mà trở về nhà (11-12).  Mặt khác quân thù tăng cường lực lượng và đe doạ tấn công (7).  Khó lòng xác định sự đe doạ này có thật hay không (theo luật pháp Ba-tư thì có lẽ đe doạ như vậy là bất hợp pháp).  Nhưng đối với những người đã kinh nghiệm vụ cấm cản trong Exo 4:23 thì dù hiện tượng mới manh nha đó có cơ lặp lại trong lịch sử khiến họ thấy là tình hình rất ư là bất ổn.

Phản ứng của Nê-hê-mi đối với tình trạng rối reng này bày tỏ một mẫu mực lãnh đạo sáng suốt.  Ông uyển chuyển quyết định một cách hợp lý là tạm ngưng công trình để củng cố tinh thần dân sự trở lại (13-14 xem bên dưới) và để tổ chức cuộc phòng thủ (16-20).  Rồi ông khuyến giục dân bằng cách nhắc lại truyền thống, sử dụng những phương pháp và lời lẽ vốn có hiệu quả trong lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa.  Chỉ có thể trưng dẫn vài chi tiết cụ thể chớ không thể nêu ra hết.  Thí dụ so sánh c.14 với Xu 14:13-14, c.15 với 15:14-16 và c.20 với 14:14 và Cac 6:34.  Như vậy bằng cách hướng tâm trí bấn loạn của dân sự vào luồng tư duy quen thuộc, Nê-hê-mi đã biến nỗi sợ hãi và mặc cảm yếu đuối của họ thành cơ sở của đức tin.  Rồi theo như mấy câu cuối đoạn xác định, ông nêu gương làm trước.

Chú giải.  12-13  Nên dịch mấy câu này là ‘Khi những người Do-thái trú ngụ rải rác các nơi cạnh quân thù nhiều lần đến nài nỉ rằng “Hãy trở về với gia đình”, tôi liền đứng ra tổ chức phòng thủ tại những nơi trống trải sau bức tường ở những chỗ thấp nhất và tôi khiến dân sự  sắp hàng theo họ hàng, tay cầm gươm...’.  Nói cách khác là Nê-hê-mi tập trung dân sự dưới dạng cưỡng bức nhập ngũ theo như chế độ của dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa, rồi ông cổ võ tinh thần của họ như kiểu Môi-se, Giô-suê, và các lãnh tụ cỡ lớn khác khi đứng trước nghịch cảnh quá ư áp đảo.  16  số người của tôi không chỉ về đám người tham gia xây dựng một cách tổng quát nhưng chỉ về nhóm người ít hơn đã được huấn luyện quân sự, và hoàn toàn chịu trách nhiệm với Nê-hê-mi (Ne 5:10,16).

Những nan đề kinh tế hội. Dù ở đây không nói rõ nhưng có lẽ vì công trình xây dựng bức tường cần nhân lực trong mùa hè (6:15) nên đến lúc này một cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra dù rằng có thể chuyện này đã ngấm ngầm nảy nở từ ít lâu này.  Mấy câu cuối chương (14-19) viết về thời gian sau nhưng lại nằm ở chương này vì liên quan đến cùng một vấn đề.

(Ne 5:1-13).  Tháo gỡ vấn đề nợ nần Trong câu 2-4 có ba lời khiếu nại, tự sự, còn câu 5 tổng kết vấn đề của cả ba.  Câu một viết về vợ của họ có lẽ nhằm tỏ ý rằng các bà nhận thức rõ nỗi khổ sắp tới trong thời gian chồng đi vắng vì công tác ở Giê-ru-sa-lem còn họ phải tự xoay xở ở nhà.

Nhóm thứ nhất (2) gồm các gia đình không sở hữu mảnh đất nào cả.  Vì vậy vừa khi chồng đi xây dựng tường thành Giê-ru-sa-lem là ở nhà họ thiếu thốn ngay vì không có người đi làm thuê.  Nhóm thứ hai (3) gồm những gia đình đã phải cầm cố đất đai.  Họ có cơ mất tất cả nếu hằng năm đất đai còn lại không sản xuất đủ để trả nợ.  Còn nhóm thứ ba dường như lâm vào cảnh nơ nần vì thuế má, họ phải vay mượn để đóng thuế.  Đối với cả ba nhóm này, sự bất công xã hội có tính chất nghiêm trọng hơn vì chủ nợ lại là người Do-thái (1,5).  Số nợ chồng chất trầm trọng tới mức có nguy cơ họ phải tự bán mình làm nô lệ.

Cho vay có lãi không đến nỗi bất hợp pháp, nhưng luật pháp chỉ cho phép cho vay có lãi trong thời hạn ngắn vì luật pháp quan tâm bảo vệ người quá nghèo trong những trường hợp vay dài hạn (Xu 21:2-11  Le 25:1-55  Phu 15:1-18).  Như vậy trong tình thế cấp bách bất ngờ hiện nay, làm ăn kiểu này không cứu giúp gì cho ai cả, trái lại còn đi ngược với toàn bộ chủ trương mà Nê-hê-mi đang nỗ lực thực hiện (6-8).  Vì thế ông thách thức phần đạo đức của giới chủ nợ trước mặt công chúng và chính ông cũng thật thà công nhận sơ sót của chính mình trong vụ này (10).  Nhờ đó ông dập tắt tất cả mọi lập luận dựa trên luật pháp và đề cao tinh tuý đạo đức của luật pháp theo cách thức các vị tiên tri thời thượng đã áp dụng.

(Ne 5:14-19).  Chính bản thân --mi nêu gương tốt .Để minh hoạ cho nguyên tắc sống hào phóng trong xã hội thay vì lo trục lợi Nê-hê-mi nêu ra đường lối ông áp dụng cho cá nhân ông suốt mười hai năm làm tổng trấn - một chi tiết lần đầu tiên tiết lộ cho chúng ta (14).  Thời gian này dài hơn thời gian trù liệu trong Ne 2:6, rồi kể như chúng ta không biết thêm chi tiết gì khác trong thời gian cuối năm thứ nhất trở về sau.  Như vậy, một lần nữa ở đây nhấn mạnh sự kiện tác giả tuyển lọc kỹ các dữ kiện trước khi đưa vào Kinh Thánh.

Chú giải.  19  Cụm từ đặc thù trong các bài cầu nguyện của Nê-hê-mi là ‘xin nhớ đến tôi’ (6:14  13:14,22,29,31).  Đây là lần thứ nhất ông dùng cụm từ này.  Bài cầu nguyện này cùng hầu hết các bài cầu nguyện đều thuộc vào thời gian lâu năm sau vụ xây tường thành.  Dường như về sau, khi ôn lại, Nê-hê-mi cảm thấy là tập thể Do-thái ở Giê-ru-sa-lem chưa đánh giá đúng mức công trạng của ông.

Bất kể lời đe doạ đối với bản thân, Nê-hê-mi vẫn hoàn tất công tác xây dựng tường thành Rõ ràng ba phân đoạn trong chương này được dành để viết về cùng một vấn đề biểu thị qua lời đe doạ trong câu cuối của phân đoạn (9, 14, 19).  Không như tình thế trong chương 4, ở đây chính bản thân Nê-hê-mi bị đe doạ.  Dầu vậy, công trình xây dựng vẫn kết thúc trong thắng lợi (15-16).

(Ne 6:1-9).  San-ba-lát tính chuyện diệt --mi. Khi San-ba-lát thất bại trong nỗ lực đầu tiên nhằm dàn xếp một cuộc họp với Nê-hê-mi (2-4), ông quay sang áp dụng biện pháp vu khống trá hình (5-7).  Lời tố cáo của ông chẳng đặt trên cơ sở lý cớ vững chãi nào cả.  Nhưng một lần nữa ông hi vọng rằng đám cộng sự viên của Nê-hê-mi còn nhớ rõ vụ việc trong Exo 4:1-24 đến độ họ sẽ làm áp lực khiến Nê-hê-mi hoà hoãn.

(Ne 6:10-14).  -bi-gia tìm cách hạ giá trị của --mi Mối liên hệ chặt chẽ của Tô-bi-gia ở Giê-ru-sa-lem tạo điều kiện cho ông đứng đầu lực lượng chống đối Nê-hê-mi.  Nhiều chi tiết trong vụ này còn mù mờ lắm, nhưng mục đích dường như là dụ hoặc đe doạ Nê-hê-mi khiến cho ông sợ đến nỗi phải trốn vào đền thờ, không những chỉ vào đền thờ mà thôi, nhưng còn trốn vào nơi thánh nữa.  Dù sau đó nếu ông toàn mạng ra khỏi đền thờ thì nội chuyện ông là một dân thường mà dám vào nơi thánh là nơi chỉ có thầy tế lễ mới đặt chân vào cũng đủ gây chia rẽ trầm trọng giữa ông với hàng giáo phẩm đầy uy thế.  Cả sự đề xướng lẫn nội dung hành động đều khiến Nê-hê-mi tin rằng một lời tiên tri kiểu đó không thể nào đến từ Đức Chúa Trời, một mặt vì sự đề xướng không ổn, mặt khác vì hướng hành động hoàn toàn không hợp với tâm tư tính tình của một người cỡ Nê-hê-mi.

(Ne 6:15-19).  Hoàn tất công trình Phần chính của phân đoạn này nằm trong câu 17-19.  Dẫn vào hai câu này là cụm từ trong thời gian ấy, một mốc khá mơ hồ đánh dấu điểm chuyển tiếp từ chuyện xây tường thành đến chuyện cải tổ nội bộ của xứ Giu-đa.  Ở đây, đúng theo lẽ thường, đứng đầu giới chống đối là những nhân vật có địa vị trong Giu-đa, là những người mong muốn bảo toàn mối giao hảo tốt với các dân láng giềng trong mục đích thương mại cũng như vì những lý do riêng tư khác trong xã hội.

Do đó, chúng ta không thể coi nhẹ tầm cỡ của sự thắng lợi được nhắc đến cách khiêm tốn trong câu 15.  Phản ứng hợp lẽ của các nước láng giềng (16) cũng được nêu ra vừa đủ để minh chứng lời thỉnh nguyện và kêu gọi của Nê-hê-mi trong Ne 2:17 đã thành sự thực.  Thế mà không có một lời tự đề cao ở đây - bức tường được xem như là khung sườn của cơ chế không hơn không kém.  Điều đáng nói là thái độ và nếp sinh hoạt của một số dân sống bên trong thành.  Phần kết của chương này đã sớm sủa gợi ý về những mối hiểm nghèo của họ.  Và như vậy câu chuyện hướng chúng ta đến nhu cầu cải tổ và tiếp liền sau đó là những biện pháp cải tổ.

4. Nhu cầu gia tăng cư dân tại Giê-ru-sa-lem (Ne 7:1-73)

Khi nhận thấy những nguy cơ đó, Nê-hê-mi áp dụng những biện pháp ngắn hạn trước mắt nhắm bảo đảm an ninh cho thành phố (1-3).  Tuy nhiên về lâu về dài, thành phố cần có một lực lượng cư dân đông đúc hết lòng ủng hộ những tiêu chuẩn và những nguyên tắc mà Nê-hê-mi chủ trương.  Do đó ông vận dụng một biện pháp mạnh là tổ chức một cuộc di dân cỡ lớn từ thôn quê vào thành Giê-ru-sa-lem.  Để làm cơ sở cho việc này ông quyết định sử dụng bảng liệt kê danh sách những người hồi hương trong đợt đầu tiên (Exo 2:1-70).  Chúng ta biết là từ dạo đó trở đi vẫn có những đám khác hồi hương.  Nhưng bảng danh sách đó được lập lại trong văn cảnh nàylàm nổi bật điểm quan trọng trong thần học là cư dân trong thành của Đức Chúa Trời trực tiếp và liên tục liên đới với tập thể đã từng trải sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời qua lần xuất hành thứ hai.

2. TÁI XÁC NHẬP GIAO ƯỚC (Ne 8:1-10:39)

Mãi đến chương 11 phần tường thuật trong chương 7 mới được nối lại.  Giữa hai chương này là ba chương quan trọng viết về sự phục hồi phần thuộc linh của cộng đồng dưới sự đồng lãnh đạo của E-xơ-ra và Nê-hê-mi.  Trong khi chương 7 chứng minh rằng tự thân gạch và vật liệu xây dựng không đủ sức bảo đảm cho tương lai, thì mấy chương này chứng tỏ thêm rằng tự thân cuộc gia tăng dân số trong thành của Đức Chúa Trời với một đám dân thuộc đủ thành phần cũng không bảo đảm được điều gì cả.  Chỉ khi có một dân tộc kinh nghiệm sự giải cứu và đổi mới của Đức Chúa Trời, chỉ có dân tộc tiếp nhận được luật pháp  của Ngài (chương 8) biết công nhận mình lệ thuộc vào Ngài (chương 9) và hết lòng dấn thân sống một cuộc đời trung tín vâng lời Ngài (chương 10) thì dân đó mới có thể bảo đảm những cơ chế đã đề ra phục vụ đúng mục đích.

1. Đọc luật pháp (Ne 8:1-18)

E-xơ-ra tái xuất hiện ở đây gây ra điểm thắc mắc.  Sách Nê-hê-mi viết về chuyện xảy ra khoảng 13 năm sau khi E-xơ-ra về đến Giê-ru-sa-lem, vậy mà trong thời gian mười ba năm đó không nghe đả động gì đến ông.  Phải chăng chúng ta cần hiểu là đến giờ này, sau khi phần công tác chính của Nê-hê-mi đã hoàn tất, thì E-xơ-ra mới có thể khởi sự thực hiện phần chính trong nhiệm vụ của mình hoặc chúng ta cần lý giải theo hướng khác?

Có thể có ý kiến bất đồng chung quanh vấn đề này.  Cho nên cần thận trọng khi đề xướng hướng giải quyết.  Tuy nhiên, đáng chú ý là phần tường thuật riêng của Nê-hê-mi đến đây cũng ngưng ngang (nối tiếp ở chương Ne 12:31) và phần tường thuật trong chương này có những nét đặc trưng tương đồng với tư liệu E-xơ-ra được dùng trong Exo 7:1-10:44.  Vì vậy có ý kiến cho rằng trước kia, phần chuyện E-xơ-ra đọc luật pháp nằm trong tư liệu E-xơ-ra.  Khá lý thú đấy!  Vị trí của phần chuyện này có lẽ nằm giữa E-xơ-ra chương 8 và chương 9.  Có lẽ người biên soạn bộ sách hai quyển này đã ghép phần chuyện này vào vị trí hiện tại trong Nê-hê-mi nhằm nhấn mạnh những ý thần học đã nêu ở trên trong phần dẫn nhập vào Ne 8:1-10:39 và cũng nhằm chứng tỏ rằng rốt cuộc phải gộp chung chức vụ của cả hai nhà cải tổ vĩ đại và xem đó là một việc làm của Đức Chúa Trời để phục hồi dân sự của Ngài.  Phải xem sự ban cho luật pháp là một hành động đầy ân sủng ở điểm cao của công cuộc phục hồi chớ không phải là một điều kiện để được phục hồi.  Căn cứ vào E-xơ-ra 4, chúng ta thấy rằng lắm khi hai sách này chú trọng xây dựng chủ đề chớ không tôn trọng trật tự thời gian.

Dù có lý giải nguồn cội của chương này như thế nào đi nữa, thì chương này nằm ở vị trí hiện nay chứa đựng nhiều bài học về việc dạy luật pháp cho một cộng đồng trong giáo hội và thái độ tiếp nhận luật pháp của cộng đồng đó.

(Ne 8:1-6).  Đọc luật pháp. Phân đoạn này trình bày một bầu không khí vui vẻ nhờ dân chúng thiết tha học hỏi và giáo sư vui lòng dạy cùng có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của họ.  Dân chúng chủ động mời E-xơ-ra đem sách luật pháp đến (1) toàn thể dân chúng hội họp lại để nghe đọc luật pháp (câu 2 nhấn mạnh điều này).  Họ chờ nghe đọc luật pháp với thái độ háo hức nhưng kỉnh kiền (6) suốt thời gian dài họ chăm chú lắng nghe phần đọc luật pháp và phần giải nghĩa luật pháp (3).  Kết quả cho thấy rằng thái độ đó chuẩn bị sẵn tấm lòng khiến lời của Đức Chúa Trời tác động tối đa trên người nghe.

Về phần E-xơ-ra, chẳng những ông nhanh chóng đáp ứng lời thỉnh nguyện của dân chúng (2) mà còn chọn nơi đọc luật pháp cho thuận lợi nhất.  Ông không chọn sân đền thờ, mà chọn một nơi tụ họp dễ dàng cho mọi người (3) và quang đãng nhất (4) hầu cho không một người nào bị cản trở không tham dự được.  Ngoài ra, khi mời những nhân vật ngoài hàng giáo phẩm tham gia với ông trong công tác này (4) có vẻ như ông muốn tạo ấn tượng là luật pháp không ưu tiên dành riêng cho hàng giáo phẩm.

(Ne 8:7-12).  Giải nghĩa luật pháp. Phân đoạn này có hai cảnh trái ngược nhau.  Khi dân chúng hiểu ý nghĩa của luật pháp (8,12) thì trước tiên là họ khóc lóc (9) rồi sau đó họ vui mừng (12).  Nguyên nhân khiến họ khóc lóc không phải chỉ vì lâu nay luật pháp quá xa lạ đối với họ tới nỗi nay họ mới nghe đọc, mà do những lời giải nghĩa của E-xơ-ra và người Lê-vi nhiều hơn (7-8), vì những người này khiến họ nhận thức một cách mới mẻ về giá trị của luật pháp Đức Chúa Trời khi ứng dụng vào hoàn cảnh thực tế của họ.  Theo như trường hợp trong Exo 9:1-2 có lẽ E-xơ-ra (là người đầu tiên) khởi xướng phương pháp bình giải Kinh Thánh, nhờ đó ông chứng minh rằng trong những phần Kinh Thánh bị xem là lỗi thời có các nguyên tắc dạy về ý chỉ của Đức Chúa Trời vẫn còn giá trị vô thời hạn.  Kết quả là lương tâm của dân chúng bị cáo trách vì giờ đây họ khám phá rằng nếp sống của họ quá thấp so với chuẩn mực mà Đức Chúa Trời yêu cầu.

Dầu vậy, đây không phải là sứ điệp chính hoặc duy nhất của luật pháp trong Cựu Ước hoặc của toàn bộ Kinh Thánh.  E-xơ-ra nhắc họ rằng đây là ngày thánh (9-11), là ngày họ nên đặc biệt ôn lại những việc làm đầy ân sủng và sự giải cứu mà Đức Chúa Trời đã thực hiện cho dân Y-sơ-ra-ên trong quá khứ ông cũng nhắc họ rằng sự vui mừng của Đức Chúa Trời là nguồn cội ban cho họ sức mạnh (10), bởi đức tin họ liên kết chính mình với những kinh nghiệm của tổ tiên.  Nhờ nhắc nhở họ như vậy E-xơ-ra đem cảm nghĩ thất bại của họ, là một cảm nghĩ rất chính đáng, vào toàn cảnh rộng lớn hơn, đó là ân sủng và sự mời gọi của Đức Chúa Trời.  Sau khi nghe đọc lời của Đức Chúa Trời thì đương nhiên là phải xưng nhận tội lỗi (chương 9), nhưng sự đáp ứng đầu tiên phải là vui mừng tiếp nhận lời của Đức Chúa Trời (10-11).  Đây là một tiến trình đáp ứng tương tự như trong Cong 2:37-39.  Điều này cũng minh hoạ cho sự thật là giáo điều chính thống về thẩm quyền của Kinh Thánh là không đủ đem lại hiệu quả.  Muốn hiệu quả cần có phần giải nghĩa trung thành với tư tưởng chính thống là cội nguồn.  Rồi cũng cần có phần ứng dụng của lý trí trong tinh thần kỉnh kiền.  Lý trí đem những giá trị bền vững trong Kinh Thánh ứng dụng vào những hoàn cảnh đổi thay của cộng đồng đương thời.

Chú giải.  10  Bản NIV dịch là Nê-hê-mi nói trong khi bản Hi-bá-lai chỉ ghi rằng ‘ông nói’.  Theo văn cảnh thì lẽ ra chủ từ là E-xơ-ra.

(Ne 8:13-18).  Ứng dụng luật pháp. Nhận thấy toàn thể cộng đồng bày tỏ tinh thần tiếp nhận luật pháp, giới lãnh đạo quay sang E-xơ-ra xin thêm phần chỉ dẫn chi tiết (13).  Xét thời điểm trong năm, chương Kinh Thánh có thể áp dụng cách thực tế nhất đối với họ trong lúc này là Le 23:1-44, trong đó qui định nghi thức cử hành Lễ Lều Tạm (nhà lều, 14).  Sở dĩ có sự rao báo hô truyền ra (15) là vì họ làm theo 23:4.  Trong bản luật pháp không có liệt kê các loại cây kể ở đây (chỉ có làm những nhà lều mới là y như đã chép).  Nhưng lời chỉ dẫn về vật liệu làm nhà lều ở đây chứng tỏ là đối với những giới mạng có tính cách tổng quát trong luật pháp, giới lãnh đạo thấy họ cần phải đưa ra phần áp dụng trong thực tế.  Qua kỳ lễ này, dân chúng vui mừng nô nức làm theo sự chỉ dẫn vì họ đã ý thức được ý nghĩa và giá trị của những luật lệ này đối với hiện tại của họ (16-18).  Một lần nữa câu 17 gợi ý rằng họ vui mừng một phần là do họ hiểu một cách mới mẻ về truyền thống lâu đời trong lịch sử của họ.

2. Xưng tội. (Ne 9:1-37)

Trong bối cảnh tổng quát của chương 8-10, sự xưng tội (9) xảy ra sau khi nghe đọc lời Kinh Thánh (8).  Đây là bước chuẩn bị cho phần tuyên hứa tuân thủ luật pháp (chương 10).

(Ne 9:1-5a).  Hội họp để xưng tội. Điểm đáng chú ý trong phân đoạn này là vắng tên của Nê-hê-mi và E-xơ-ra.  Phân đoạn nhấn mạnh về sự kiện mỗi cá nhân góp phần chịu trách nhiệm về lời nói, thái độ (1) và hành vi (2) trong những tội lỗi đã phạm trong quá khứ cũng như chịu trách nhiệm về tình trạng khốn đốn của cộng đồng hiện nay.  Vì vậy hai nhóm người Lê-vi (ở những chỗ khác không thấy nói đến những người này) hướng dẫn buổi thờ phượng và xưng tội của dân chúng (4-5).

(Ne 9:5b-37).  Lời cầu nguyện xưng tội. Nhờ hiểu một cách mới mẻ về Đức Chúa Trời mà có sự xưng tội chân thành và đây đúng là khởi điểm của bài cầu nguyện này.  Từ thuở ban đầu, Đức Chúa Trời đã tự khải thị Ngài là Đấng đáng ca ngợi và chúc tụng (5b).  Công cuộc sáng tạo chứng tỏ chỉ một mình Ngài là Chúa (6) Ngài đã chọn Áp-ram, hứa ban xứ cho ông một cách nhưng không, và Ngài chứng tỏ Ngài là Đấng công bình vì Ngài đã giữ đúng lời hứa (7-8) Ngài cũng chứng tỏ Ngài xứng với uy danh của mình (10) qua việc Ngài giải phóng dân sự khỏi Ai-cập và cứu họ tại Biển Đỏ (9-11).  Như vậy, ba phân đoạn đầu trong bài cầu nguyện này dùng từ bao quát để nói về ân sủng và thiện tâm rộng lượng của Ngài.  Ba phân đoạn này làm nền tảng tương phản mạnh mẽ cho những điều sơ lược trong mấy câu kết thúc bài cầu nguyện (32-37) mà cộng đồng nhận biết trong hoàn cảnh hiện tại của họ.

Cuộc hành trình trong sa mạc được nhắc đến ở đây như thể một tiếng chuông mới gióng lên (12-21).  Đối lại sự cung ứng đều đặn và nhân hậu của Đức Chúa Trời (12-15), là sự phản loạn của dân sự (16-18).  Dầu vậy, sự thể này vẫn bày tỏ một khía cạnh khác trong bản tánh của Đức Chúa Trời, đó là lòng thương xót (17b).  Vì bất kể mọi sự phản loạn của họ, Đức Chúa Trời cung ứng cho họ và bảo toàn họ (19-21) để rồi đến cuối cùng đưa họ vào xứ mà Ngài đã hứa ban cho họ lâu đời về trước (22-25).

Phần mô tả cuộc sống trong xứ (26-31) chịu ảnh hưởng lời mô tả ở nhiều chỗ trong sách Các Quan Xét và ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng sách Các Vua.  Ở đây chúng ta không thể xác định cụ thể những sự cố vì nội dung xoáy vào bản tánh phản loạn cố hữu của dân sự và cung cách đối phó của Đức Chúa Trời.  Bài cầu nguyện này nêu ra ba vụ bất phục tòng của dân sự và hậu quả là họ bị phó cho quân thù (26-27a,28a,29-30).  Trong hai lần đầu, họ kêu xin Đức Chúa Trời, Ngài giải cứu họ do lòng thương xót (27b,28b).  Dầu vậy, trình tự này không còn diễn ra trong lần thứ ba, có lẽ vì cớ câu 29-31 viết về cuộc xâm chiếm của Ba-by-lôn, mà tình trạng này vẫn còn đó khi họ cầu nguyện bài này ngoại xâm vẫn còn cầm quyền nên sự khôi phục kể như chưa hoàn tất (36-37).

Từ câu 32 trở đi, bài cầu nguyện chuyển hướng từ cầu thay qua cầu xin khôi phục thay vì tỏ ý mong chờ sự đáp lời cho những lời kêu xin ở trên.  Đặt cơ sở trên tất cả những diễn biến trong quá khứ, lời cầu xin này thổi một bầu không khí đầy hi vọng là Đức Chúa Trời sẽ cảm động rồi sẽ hành động để giải phóng dân của Ngài ra khỏi ách nô lệ hiện nay và một lần nữa Ngài sẽ cho phép họ sống tự do trong xứ Ngài đã ban cho họ đúng theo như lời Ngài đã hứa từ ban đầu.  Sự xưng tội của dân chúng là một bước quan trọng dẫn đến tiến trình phục hồi.  Đây là vấn đề chung của các chương này.

3. Hứa nguyện tuân hành luật pháp (Ne 9:38-10:39)

Ne 9:38. Trong chương này dân sự cam kết (1) tuân thủ luật pháp về một số phương diện, hầu hết, dù không phải tất cả, là liên hệ đến việc ủng hộ đền thờ và những người phục vụ đền thờ (29-39).  Trong hoàn cảnh hiện tại, sự cam kết này là một phần trong đỉnh cao của chức vụ của E-xơ-ra và Nê-hê-mi.  Sự cam kết này cũng biểu thị lòng dân sự tha thiết muốn sống xứng đáng với các vị tiền bối là những người đã kinh nghiệm ơn phục hồi của Đức Chúa Trời.  Cam kết như vậy là một sự đáp ứng đối với những việc Ngài đã hoàn thành cho họ, chớ không phải là điều kiện tiên quyết để được phục hồi.

Tương tự như trường hợp hai chương trước, bối cảnh lịch sử nguyên thuỷ không rõ ràng.  Nhiều học giả ghi nhận rằng hầu hết những điểm thoả thuận có vẻ nằm trên căn bản bắt buộc xoá bỏ những tệ nạn mà Nê-hê-mi đã xử lý từng việc, từng phần một trong chương 13.  Vì vậy họ kết luận rằng mãi về sau mới diễn ra sự cam kết trong chương này.  Nếu thế, ở đây cũng vậy, người biên soạn đã gộp tư liệu theo chủ đề chớ không theo thứ tự thời gian.  Xem phần nhận định dẫn nhập cho chương 8-10 và chương 8 ở trên.  Cũng chú ý là chuyện kể bị ngưng ngang ở chương 7 được tiếp nối ở chương 11.  Như vậy chứng tỏ chương 8-10 là một khối riêng biệt.

(Ne 10:1-39) xem giải nghĩa Ne 9:38

(Ne 10:1-28).  Danh sách người hiệp ước. Bảng liệt kê này gồm đầy đủ nhân vật cùng chức vụ của họ.  Đa số đều được nhắc đến trong hai sách này và họ là những người có địa vị và uy tín trong cộng đồng (trong bản Hi-bá-lai bảng liệt kê này chen vào giữa một câu văn gồm 9:38 và 10:28-29).  Chủ điểm nơi đây dường như là mỗi cá nhân dù nam hoặc nữ đều có trách nhiệm tiếp nhận cho chính mình những giá trị đặc thù của toàn thể luật pháp.

(Ne 10:29-39).  Chi tiết của bản thoả hiệp. Câu 29 xác nhận một cách tổng quát rằng dân sự quyết định từ nay trở đi tuân hành luật pháp của Đức Chúa Trời.  Những câu tiếp theo đề cập chi tiết việc tuân hành luật pháp nghĩa là như thế nào trong những trường hợp cụ thể (chắc chắn là những điều gần đây bị coi thường).  Một sự tuyên bố mơ hồ về thiện chí chưa đủ: sự tuyên xưng đức tin cần được diễn dịch biểu thị qua một đời sống thay đổi trông thấy trong thực tế qua cách sống và những việc làm cụ thể.

Các chi tiết của từng điều khoản trong bản thoả hiệp và sự tương quan của những điều khoản đó với bộ luật trong Ngũ Kinh rất phức tạp nên không thể mô tả đầy đủ ở đây.  Điểm chung cần ghi nhận là tất cả các điều khoản đó đều liên quan tới bộ luật thành văn trong Ngũ Kinh nhưng được trình bày dưới dạng diễn nghĩa làm sáng tỏ ý nghĩa và có tính cách cập nhật hoá.  Đây là cách thức giáo huấn đặc thù của E-xơ-ra.  Như vậy, rõ ràng giới lãnh đạo cộng đồng này đã biết vận dụng cách dạy mới của ông.

3. CỦNG CỐ (Ne 11:1-13:31)

1. Cư dân mới của Giê-ru-sa-lem (Ne 11:1-20)

Phần mở đầu của chương này nối lại câu chuyện tạm ngưng ở cuối chương 7.  Tuy nhiên, chương này không còn là phần tự thuật của Nê-hê-mi nữa mà thuộc về một tư liệu khác.  Điều này chứng tỏ là dù phần lớn sách trình bày chuỗi biến cố theo quan điểm của một người nhưng một số người đương thời cũng có cùng một quan điểm và một chủ trương như ông về những nét chính trong chương trình hoạt động của ông.

Tình trạng dân cư của Giê-ru-sa-lem thưa thớt được giải quyết bằng một cuộc bốc thăm (người ta tin rằng ý muốn của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua cuộc bốc thăm với sự chủ trì của thầy tế lễ, Ne 10:34).  Một phần mười (so với 10:37-38) số dân ở thôn quê bằng lòng dọn về Giê-ru-sa-lem (1-2).  Danh tánh của họ được ghi lại trong tinh thần cảm kích, biết ơn (3-19), vì đối với nhiều trường hợp chắc là việc này vừa bất tiện vừa bất lợi.  Câu 20 đương nhiên là một câu kết của bảng danh sách đặc biệt này.

Hầu hết các danh tánh liệt kê ở đây cũng có trong ISu 9:2-17.  Khi so sánh kỹ chúng ta sẽ thấy là cả hai bản đều không theo đúng nguyên bản.  Ngoài trật tự trình bày tổng quát ra (người Giu-đa, 4b-6 người Bên-gia-min, 7-8 giới lãnh đạo ngoài hàng giáo phẩm, 9 thầy tế lễ, 10-14 người Lê-vi, 15-18 người gác cửa, 19), chúng ta nên thận trọng đối với những chi tiết khác.  Dầu vậy, điểm lý thú đáng chú ý là phần mô tả có những từ đầy hương vị quân sự (cụ thể như c.6,9,14) như vậy trong cuộc tái định cư số dân này, mục tiêu phòng thủ có vẻ không bị lãng quên.

2. Bảng danh sách bổ túc (Ne 11:21-12:26)

(Ne 11:21-36)

Ne 11:20 là câu kết tự nhiên của bảng danh sách chính (chú ý là câu này dẫn vào phần câu chuyện tiếp  12:27 một cách tự nhiên).  Tại đây có cơ hội để thêm những bảng danh sách khác dù là không trực tiếp liên quan đến vấn đề tăng dân số cho Giê-ru-sa-lem.  11:21-24 bổ túc cho bảng danh sách chính, 11:25-36 liệt kê một số làng mạc nằm ngoài thành Giê-ru-sa-lem còn 12:1-26 tổng hợp nhiều bảng danh sách liệt kê các thầy tế lễ và người Lê-vi.  Như vậy, dù bảng danh sách này không nhất thiết liên hệ với hướng chính của câu chuyện trong phần sách này, các bảng liệt kê đó vẫn góp phần trong phạm vi riêng vào sự mô tả cộng đồng đang tái ổn định.

Tại đây không có dự định phân tích chi tiết này vì quá phức tạp, nhưng chúng ta nên chú trọng bàn đến một số vấn đề tổng quát.  Trước tiên là có các làng mạc liệt kê trong 11:25-36 nằm ngoài địa phận tỉnh Giu-đa trong thời đó.  Dường như liệt kê rộng rãi như vậy để hàm ý hồi tưởng với nỗi tiếc nuối thời kỳ vinh quang ngày xưa (so sánh Gios 15:1-63) và rồi khơi dậy niềm hi vọng về một tương lai tuyệt mỹ.  Tình trạng thiếu nhất quán giữa thực tại và tầm rộng lớn phong phú của những lời hứa của Đức Chúa Trời là yếu tố sinh tử trong niềm tin của những người thuộc về Đức Chúa Trời trong mọi thời đại như He 11:13-16 trình bày rõ ràng.

Thứ hai, Ne 12:1-26 đề ra một lối nhìn ký thú, tức là tổng hợp viễn cận cảnh trong lịch sử gộp lại bên nhau - thế hệ lưu đày hồi hương đầu tiên đặt sát bên cạnh thế hệ lưu đày hồi hương thời E-xơ-ra và Nê-hê-mi.  Câu 26 trình bày rõ ràng lối tổng hợp này (Giê-hô-sua là thầy tế lễ thượng phẩm trong thời tái thiết đền thờ thứ hai, so sánh Exo 3:2 và 5:2) nhưng các thầy tế lễ và người Lê-vi liệt kê trong bảng danh sách trước đó thuộc về cả hai thế hệ này.  Phương thức cộng ép các bảng liệt kê vì mục đích thần học là phương thức thông dụng trong thời đó và trong thời Tân Ước nữa (Mat 1:1-17).  Phương thức này gợi ý rằng đằng sau mớ bòng bong của dòng lịch sử, tầm nhìn của con mắt đức tin có thể phát hiện rằng ý chỉ của Đức Chúa Trời được thực hiện và tiến hành cách trật tự.

Chú giải.  Ne 12:22  Đa-ri-út người Phe-rơ-sơ: lối xác định danh tánh độc đáo này có lẽ nhằm phân biệt Đa-ri-út người Phe-rơ-sơ tức là Đa-ri-út I (đền thờ được tái thiết trong thời của vua này) với Đa-ri-út người Mê-đi trong Da 5:30, là một nhân vật khá bí ẩn dường như cai trị trước thời ‘Si-ru người Phe-rơ-sơ’ (6:28).

(Ne 12:1-26) xem giải nghĩa Ne 11:21-36

3. Khánh thành tường thành và kết quả (Ne 12:27-13:3)

(Ne 12:27-47). Cuối cùng chúng ta đứng ở cao điểm trong chức vụ của Nê-hê-mi, đó là lễ khánh thành tường thành Giê-ru-sa-lem mà tiến trình tái thiết đã chi phối nội dung trong phân nửa đầu của sách.  Người biên soạn tổng hợp nhiều tư liệu tự thuật của Nê-hê-mi với một tư liệu khác để trình bày sự hiệp một ăn mừng của dân chúng.  Họ chia làm hai đoàn đồng đều đi diễu hành (31-36,38,40-42).  Sau khi rời thành qua cổng Thung Lũng, hai đoàn đi nửa vòng quanh thành ngược chiều nhau rồi trở vào thành lại và cùng nhau thờ phượng ca ngợi Đức Chúa Trời trong đền thờ (40).  Niềm vui mừng của họ được nhấn mạnh trong câu 43 thật là mãnh liệt không có gì sánh bằng.  Đây là một  nhắc nhở lành mạnh về lẽ thật của Kinh Thánh, là triển vọng của niềm vui mừng loại này góp phần củng cố tinh thần của chúng ta trong lúc khó khăn (Ro 5:2-5  8:18-25  He 12:2).

Tuy nhiên, khác với chuyện thần thoại, kết cuộc hạnh phúc không chấm dứt sách.  Sách còn tiếp tục (Trong ngày đó  Ne 12:44  13:1) giải quyết những vấn đề mà chúng ta dễ bỏ qua coi như là chuyện thường tình, tức là việc cung cấp tài chánh để đài thọ việc điều hành tại đền thờ (12:44-47) và sự tẩy thanh hội chúng qua việc vâng theo luật lệ của Đức Chúa Trời (13:1-3).  Dường như tác giả ngụ ý nói rằng niềm vui mừng trong nội một ngày không bao giờ lâu bền nếu không thực hiện những việc tầm thường đó.  Mặc dù cao điểm của sự thành công sẽ lưu lại trong trí nhớ, nhưng thước đo thực sự của mức tiến triển thuộc linh trong đời sống của một cá nhân cũng như của tập thể là mức độ thay đổi trong việc kể như bình thường.  Nội dung câu chuyện ở đây nhấn mạnh nếu không có tiến bộ trong những việc đạt mức bình thường thì những sự thành công trên đỉnh cao, những lễ hội sẽ nhanh chóng phai mờ khỏi trí nhớ.

(Ne 13:1-3) xem giải nghĩa 12:27-47

4. Những cải cách kết thúc (Ne 13:4-31)

Kể như sách Nê-hê-mi chấm dứt trong tình trạng bất ưng, không ngưng ngang với một tiếng nổ vang trời mà tàn lụi dần trong tiếng khóc nỉ non.  Tất cả những tệ nạn đề cập trong chương cuối này đều đã được xử lý rồi.  Mặc dù các nhà cải tổ đã tận tình tận lực cố gắng nhổ sạch, xoá bỏ, trừ tiệt, nhưng những tệ nạn đó vẫn ngóc đầu chổi dậy.  Nhờ một câu nói riêng mà chúng ta biết bối cảnh của những chuyện trong chương này là thời gian Nê-hê-mi là tổng trấn nhiệm kỳ II (6-7).  Cho nên có lẽ ít nhất là mười lăm năm đã trôi qua sau phần chính của sách (5:14) dù là những mốc thời gian trong câu 4,6,15,23 coi như không xác định gì cả.  Có vẻ như sách này tự vạch ra sự thất bại của chính mình.  Do đó sách nhắc chúng ta rằng cho dù cơ chế và guồng máy tốt đẹp đến đâu (như vừa nêu trên đây) chẳng có điều gì có thể thay thế việc cần đổi mới những khuynh hướng tự nhiên đã bị hư hỏng trong lòng người.

Phân đoạn 12:44-13:3 mô tả một cách lý tưởng sự chăm nom bảo trì đúng mức các phòng ốc trong đền thờ, sự phục vụ và nhân sự tại đền thờ và sự trong sạch tinh khiết của cộng đồng.  Hầu hết phần còn lại của chương 13 chú trọng đến những thất bại trong hai lãnh vực này câu 4-14 viết về những thất bại đối với đền thờ còn câu 15 trở đi viết về vấn đề kém trong sạch thuần khiết của cộng đồng (dù rằng c.15-22 viết về vấn đề tuân thủ ngày sa-bát thì mối liên hệ với chủ đề có phần lỏng lẻo hơn những phần khác).  Lối hành văn cũng vẫn mạnh mẽ và màu mè như trước.  Nhìn chung phần tường thuật này không cần bàn giải nhiều.  Riêng đối với vấn đề những cuộc hôn nhân dị chủng lại xảy ra (23-27) thì cần nêu rõ rằng dường như vấn đề này thu gọn trong một địa phương, trẻ em nói tiếng Ách-đốt (24) gợi ý là có lẽ vấn đề chỉ xảy ra trong vùng biên giới phía tây của tỉnh Giu-đa.  Trước kia E-xơ-ra đã xử lý những trường hợp chính (Nê-hê-mi tóm lược trong c.25 xem thêm Exo 9:2,12).  Do đó ở đây Nê-hê-mi có thể xử lý rải rác những trường hợp cá biệt.

Mối quan tâm sâu xa trong chương này cũng là tính cách thuần khiết đặc thù của cộng đồng.  Trước những áp lực vũ bão từ bên ngoài, có nguy cơ là cộng đồng sẽ thoả hiệp hoà đồng đến nỗi sự làm chứng của họ hoá ra yếu ớt và vô hiệu quả.  Vì vậy cần ràng cộng đồng lại với nhau cho chặt chẽ, vững bền với cốt lõi bằng sự thờ phượng Đức Chúa Trời một cách phải lẽ tại đền thờ nơi Ngài đã chỉ định.

Hội Thánh của Chúa cũng còn đối diện với những vấn đề đó dù là dưới dạng khác.  Dầu vậy, những nguyên tắc làm cơ sở cho cách đối phó vẫn như nhau: lãnh đạo vững vàng thấu đáo và nếp sống phân biệt rõ ràng dứt khoát của cộng đồng.  Một khi đứng trong một thế vững mạnh và chắc chắn rồi thì họ có thể giang tay tiếp đón nững người ngoại cuộc với tinh thần tha thứ.  Nhưng nếu họ đang ở trong tình trạng yếu đuối kém cỏi thì đôi bên đều sẽ chìm lỉm thôi.

Lên đầu trang