2 SỬ-KÝ

MỤC LỤC

IISỬ KÝ

1. SA-LÔ-MÔN (IISu 1:1-9:31)

Đa-vít được ca ngợi là vị vua vĩ đại nhất của Y-sơ-ra-ên, và thời trị vì của ông là thời đại hoàng kim.  Sách Sử Ký nhấn mạnh về điểm này (ISu 10:1-29:30).  Vì thế các thế hệ không có đặc ân sống dưới triều vua Sa-lô-môn đều đặc biệt quan tâm đến mọi diễn biến sau khi vị vua vĩ đại qua đi và con trai ông là Sa-lô-môn lên kế vị.

Trong IISu 1:1-931 chúng ta nên để ý đến hai vấn đề đặc biệt.  Vấn đề thứ nhất là trong những điểm tương đồng giữa hai thời trị vì, chúng ta có thể thấy các nguyên tắc do Đa-vít đề ra rồi Sa-lô-môn cùng những vị vua biết chăn dắt dân sự của Đức Chúa Trời đều phải tuân theo.  Vấn đề thứ hai là có khi những điểm dị biệt giữa hai thời trị vì, thì lý do không phải vì Sa-lô-môn sơ xuất thất bại, nhưng vì những thành quả của Đa-vít còn dở dang (tác giả loại bỏ các thất bại đó).  Con thực hiện điều cha chưa làm xong, thế là con trở thành một nửa kia của vị vua lý tưởng của Đức Chúa Trời.  Thời đại hoàng kim bao gồm cả hai triều vua.  Trên hết, Đa-vít không được xây dựng đền thờ vì ông là con người của thời chiến, nhưng công tác này được giao cho Sa-lô-môn vì ông là người của thời bình.

1. Sa-lô-môn được vững mạnh (IISu 1:1-17)

Đức Chúa Trời làm việc qua Sa-lô-môn cũng như qua Đa-vít (IISu 1:1).  Hai triều vua này hợp thành một khuôn mẫu cho thấy cách Đức Chúa Trời cai trị dân sự của Ngài.  Tuy nhiên, từ liệu ‘người của thời yên nghỉ’ không ngụ ý Sa-lô-môn thụ động trong vấn đề đức tin, nghĩa là chờ cho Đức Chúa Trời làm mọi sự trái lại các chương mở đầu này cho biết ông là người có mối liên hệ sống động với Đức Chúa Trời, với dân sự của ông, với các nước láng giềng, nhất là ông  nhiệt thành đối với dự án xây dựng đền thờ.

(IISu 1:1-6).  Sa-lô-môn tìm kiếm Đức Chúa Trời. Ngay từ đầu tác giả tỏ ý nhân vật Sa-lô-môn của ông là một kiểu mẫu bên cạnh Đa-vít.  Tác giả bỏ qua (1) các biện pháp không mấy tốt đẹp mà Sa-lô-môn áp dụng để củng cố ngai vàng (IVua 2:1-46).  Toàn dân Y-sơ-ra-ên (2) tập hợp chung quanh vị vua mới như họ đã tập họp chung quanh vị vua trước (ISu 11:1-12:40).  Bên cạnh một Sa-lô-môn minh hoạ cho quyền cai trị của Đức Chúa Trời trên dân sự, còn có một Sa-lô-môn tìm kiếm Đức Chúa Trời (5) như bất cứ một tín đồ nào khác đang cần Chúa và tìm kiếm Ngài.  Như trong thời Đa-vít, hòm giao ước tượng trưng cho ân điển của Đức Chúa Trời, và bàn thờ tượng trưng cho sự đáp ứng của con người đối với Đức Chúa Trời được đặt ở hai nơi khác nhau (15:1-3  16:37-40).  Tác giả chú trọng viết về của-lễ mà Sa-lô-môn dang mà thôi (trái với IVua 3:15).  Tác giả cũng nhắc chúng ta nhớ rằng đền tạm và bàn thờ do Bết-sa-lê-ên làm trong thời Môi-se, Sa-lô-môn sẽ cho làm cái mới để thay thế cả hai (IISu 4:1-11a).

(IISu 1:7-13).  Sa-lô-môn cầu xin phước hạnh. Qua khải tượng của Sa-lô-môn, chúng ta thấy rõ mối tương quan giữa ân điển và đức tin.  Đáp lại lời truyền dạy của Đức Chúa Trời, Sa-lô-môn dâng lên một bài cầu nguyện rất chuẩn.  Trong lời cầu nguyện, ông quan tâm đến bản tánh của Đức Chúa Trời (những việc Ngài đã làm, Ngài đã phán thì Ngài sẽ làm và những điều chỉ một mình Ngài có thể ban cho, các câu 8-10) ông cũng nói đến tình trạng bất xứng của ông và nhu cầu của dân sự.  Câu trả lời của Đức Chúa Trời (11-12) báo trước những điều Chúa Giê-xu sẽ nói trong Mat 6:33 là chúng ta phải tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công nghĩa của Ngài.

(IISu 1:14-17).  Sa-lô-môn thịnh vượng giữa vòng các nước  Trong sách Các Vua lời nhận định về những mối bang giao thương mại và ngoại giao với các quốc gia khác được đặt vào phần cuối đời Sa-lô-môn (IVua 10:26-29).  Nhưng ở đây tác giả đem đặt vào giai đoạn đầu thời trị vì của Sa-lô-môn để bày tỏ một trong những cách ông củng cố thế lực, trước khi ông bắt tay vào công tác chính là xây dựng đền thờ.  Đây cũng là một nét đặc thù của thời ‘yên nghỉ’, trong đó thái độ thù địch nhường lại cho trao đổi thương mại và chiến tranh nhường lại cho hoà bình.  Những đặc điểm tương phản với triều đại Đa-vít giúp cho Sa-lô-môn đứng bên cạnh cha mình như là hai khía cạnh của chế độ quân chủ lý tưởng.

2. Sa-lô-môn chuẩn bị xây dựng đền thờ (IISu 2:1-18)

Phương án xây dựng bao gồm đền thờ và cung điện, nhưng một lần nữa tác giả tập trung vào cuộc xây dựng đền thờ và bỏ qua các chi tiết về cung điện (IVua 7:1-12).  Tác giả cũng bỏ qua 5:3-5, vì ông đã giải thích lý do Đa-vít không được phép xây dựng đền thờ rồi (ISu 17:1-27  22:7-10  28:2-3).

Giữa hai câu viết về lực lượng lao động do Sa-lô-môn chiêu mộ là hai bức thư của Sa-lô-môn và Hi-ram xứ Ty-rơ gởi cho nhau.  Sa-lô-môn cần đến sự giúp đỡ của Hi-ram trong một công trình mới, với tầm cỡ to lớn nhất, trong lãnh vực không mới chút nào cả - tức là tôn giáo cổ kính của dân Y-sơ-ra-ên.  Cũng là các nghi lễ cũ (4 so sánh Xu 30:7-8  40:23  Dan 28:1-29:39) và vật liệu cũng như trước (7 so sánh Xu 35:35) thậm chí có cả quản đốc tương tự như Ô-hô-li-áp (13-14 so sánh 35:34).  (Các chi tiết trong câu 10,14,18 khác với các chi tiết trong IVua 5:11,13  7:14 hình như thỉnh thoảng tác giả sách Sử Ký vận dụng các tư liệu khác.  Về vấn đề Sa-lô-môn có áp dụng chế độ cưỡng bách lao động đối với dân Y-sơ-ra-ên hay không, xin xem 5:13-18).

Một nét đặc thù nữa của tác giả là ông ghi lại cho chúng ta lời nói của Hi-ram trong các câu 11-12, tương tự như ông ghi lại câu nói của nữ hoàng Sê-ba trong IISu 9:8.  Họ cho chúng ta biết thế giới bên ngoài công nhận rằng có sự hiện diện của Đức Chúa Trời và phước hạnh của Ngài ở Y-sơ-ra-ên một khi đất nước ở dưới quyền cai trị của vị vua do Đức Chúa Trời chọn.

3. Xây dựng đền thờ (IISu 3:1-5:14)

IISu 3:1-17

Theo sách Sử Ký thì người ta nhớ đến Sa-lô-môn nhờ đền thờ (chớ không phải nhờ tất cả những chuyện khác có ghi chép trong sách Các Vua).  Các công tác của ông đều ở dạng tóm lược nên công tác xây dựng đền thờ cũng được rút gọn từ phần tư liệu dài trong IVua 6:1-7:51.  Vì tác giả thường cho rằng độc giả của ông đã am tường mọi chuyện đó.  Mục đích của toàn thể dự án là chuẩn bị một khung cảnh xứng đáng cho Đức Chúa Trời bày tỏ sự hiện diện và sự vinh hiển của Ngài ở giữa vòng dân sự Ngài.  Dường như toàn thể phân đoạn này dẫn thẳng đến IISu 5:13-14 với ý là ‘sau khi Sa-lô-môn làm điều này, điều kia, điều nọ, thì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời hiện ra’.

Ngôi đền thực thụ Vị trí xây dựng (1) mang nhiều ý nghĩa.  Tại vị trí này Đa-vít chứng kiến cả cơn giận lẫn lòng thương xót của Đức Chúa Trời (ISu 21:16).  Còn trong thời rất xa xưa, Áp-ra-ham cũng kinh nghiệm về Đức Chúa Trời tại đó (Sa 22:14 bản RSV chép ‘trên núi của Đức Giê-hô-va có sắm sẵn’ hoặc ‘sẽ thấy Ngài’, chỉ có một câu Kinh Thánh khác đề cập đến núi Mo-ri-a, đó là 22:2).  Cũng tại đó, lâu đời về sau, khi nhìn thấy hài nhi Giê-xu, Si-mê-ôn nói ‘mắt tôi đã thấy sự cứu rỗi của Ngài’ (Lu 2:30).

Khi tường thuật ngắn gọn ngôi đền là nơi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sắp hiện ra (xem câu cuối cùng phân đoạn này IISu 5:14), lẽ dĩ nhiên là tác giả bắt đầu từ lối vào (4).  Có thể hình dung lối vào là một cái tháp, chiều cao gấp sáu lần chiều rộng (theo bản RSV) nhưng rất có thể kích thước của cả hai chiều cao và rộng đều là hai mươi như trong bản NIV.  Cổng vòm dẫn đến Nơi Thánh là sảnh đường chính (5-7), từ đó dẫn đến Nơi Chí Thánh (8) là nơi đặt Chê-ru-bim (10-13).  Tác giả nhấn mạnh đến cả số lượng và chất lượng của những món trang hoàng.  Phạt-va-im (6) là địa danh, đến nay chưa định vị được, nhưng vàng ở đó có giá trị cao, như vàng ròng và vàng luyện ở câu 4 và 5 sáu trăm ta-lâng (8) là số lượng khổng lồ năm mươi siếc-lơ trong câu 9 có thể nghĩa là số vàng lá dùng để mạ vàng các đầu đinh (đinh làm bằng vàng thì không thực tế).  Cũng có một bức màn giữa Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh trong đền tạm (Xu 26:31-33).  Rõ ràng cấu trúc của Sa-lô-môn cũng tuân theo các nguyên tắc của Môi-se, tuy nhiên về chi tiết thì có khác.  Cuối cùng là bên ngoài đền thờ, có hai trụ đứng độc lập tên là Gia-kin và Bô-ách (15-17).

(IISu 4:1-11a).  Đồ đạc.  Ở đây cũng nhấn mạnh đến nguyên tắc.  Đền tạm và đền thờ đều có bức màn trong Nơi Thánh, cũng thế cả hai cấu trúc đều có bàn thờ (1).  Bàn thờ cũ có chiều dài 5 thước, ngang 5 thước và cao 3 thước (Xu 38:1-2), còn bàn thờ mới có chiều dài 20 thước, ngang 10 thước và cao 10 thước.

Từ trong đền thờ bước ra, bàn thờ sẽ là món đồ nổi bật đầu tiên.  Sau đó là ‘Biển” (2-5) đứng tránh sang một bên (10), rồi đến mười cái chậu (6) rồi khi quay mặt nhìn vào Nơi Thánh ta thấy mười chân đèn (7) và mười cái bàn (8).  Ngày xưa đền tạm chỉ có mỗi thứ một cái, và ở những chỗ khác trong Kinh Thánh, tác giả sách Sử Ký cũng viết như vậy (IISu 13:11), do đó từ đây trở đi, truyền thống của người Do-thái là đền thờ có mỗi thứ mười cái mới và một cái làm từ hồi đầu.

(IISu 4:11b-22).  Tóm lược công việc. Phân đoạn này ghi lại IVua 7:39-50 cách chi tiết hơn, kể cả nhiều vật dụng không được nhắc đến trước kia, đồng thời cũng cho thấy số lượng rất lớn đồng cũng như vàng được sử dụng (18), và khiến chúng ta chú ý đến sự hợp tác giữa Sa-lô-môn và Hu-ram-A-bi.  Về một ý nghĩa thì cả hai đều được kể là người chế tạo ra các đồ dùng này (18), cũng như Môi-se và Bết-sa-lê-ên cùng chịu trách nhiệm chế tạo đền tạm (Xu 33:22-23).

IISu 5:1-14

Tất cả đều đến đền thờ. Thành quả của Sa-lô-môn: khi đền thờ được xây dựng xong, các vật dụng của Đa-vít đã biệt riêng để dâng mới được đem vào (1).  Đức Chúa Trời chủ xướng: món đồ ngự nơi chỗ quan trọng nhất trong nơi thờ phượng này là hòm giao ước.  Hòm này tượng trưng cho ân điển, sự hiện diện và giao ước của Ngài sẽ được rước vào ngự trong đền thờ (2-10).  Thời gian làm lễ khánh thành đền thờ là nhằm tháng bảy, rất thuận lợi (3), tức nhằm Lễ Lều Tạm, đó là lúc đã ‘gặt hái xong hoa quả mùa màng’ và ai nấy đều ca ngợi Đức Chúa Trời vì Ngài vẫn thành tín trong vấn đề cung ứng thực phẩm.  Đền tạm thực sự được đưa vào đền thờ mới (5) biểu thị các nguyên tắc cũ được thể hiện cách mới mẻ.  Cụm từ chúng vẫn còn ở đó cho đến ngày nay (9) cóthể ngụ ý ‘từ lúc đó trở đi’ (trên thực tế thì đến thời của tác giả, hòm giao ước đã không còn nữa).  Nhưng đúng ra cụm từ này trình bày các nguyên tắc thuộc linh.  Sách Hê-bơ-rơ chương 8-9 cho thấy ý nghĩa của các nguyên tắc này vẫn duy trì trong thời Tân Ước.

Hầu hết phân đoạn này được trích từ IVua 8:1-11, ngoại trừ câu 11-13 là của tác giả để liên kết các nghi thức này với nghi thức thời Đa-vít khi ông rước hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem trong ISu 15:1-16:43.  Từ liệu hết thảy xuất hiện nhiều lần: trong một nước Y-sơ-ra-ên lý tưởng, mọi sự được liên kết với nhau chung quanh các nguyên tắc này (3) và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sẽ được biểu thị giữa vòng họ y như lúc hoàn thành đền thờ (11-13) và đền tạm (Xu 40:34-35).

4. Lễ khánh thành (IISu 6:1-7:22)

Như chương 5, các chương này viết rất sát với IVua 8:1-9:28.  Tác giả sách Sử Ký quan tâm đến những biến cố trong chương này nhiều hơn là quan tâm đến đền thờ - một toà nhà.  Hai phần ba bản tường thuật ghi chép lại lời cầu nguyện của Sa-lô-môn và sự trả lời của Đức Chúa Trời.  Theo một quan điểm thì Sa-lô-môn trung thành làm theo các nguyên tắc do Đa-vít đề ra.  Dân sự của Đức Chúa Trời sẽ tìm được phước hạnh khi họ hợp nhất chung quanh một vị vua trung tín do Đức Chúa Trời chọn lựa (IISu 6:3  ISu 16:2).  Tuy nhiên, ông cũng thực hiện những điều Đa-vít không thực hiện được trong khi phải chiến đấu để lập quốc, đánh chiếm Giê-ru-sa-lem và rước hòm giao ước về, thì triều của Sa-lô-môn diễ ra với sự hiện diện thường trực của hòm giao ước trong một ngôi đền cố định.

(IISu 6:1-11).  Lễ khánh thành bắt đầu. Rõ ràng Đức Chúa Trời tán thành việc làm của Sa-lô-môn, vì vinh quang của Ngài đầy dẫy đền thờ (IISu 5:13-14), câu nhận định này (1-2) dẫn vào bài diễn văn (4-11) rồi bài diễn văn đưa vào bài cầu nguyện dài (14-42).  Bóng tối trong Nơi Chí Thánh không có cửa sổ tượng trưng cho Đức Chúa Trời vô hình không thấy được (1 so sánh Xu 20:21).  Cũng thế, hòm giao ước, biểu tượng cho sự hiện diện của Ngài trong đền thờ (2,11) biểu thị rằng dù Ngài ngự trên trời, nhưng Ngài luôn hiện diện trên trái đất này tỏ mình cho những kẻ cầu nguyện cùng Ngài (từ c.14 đến hết c.42).

Sa-lô-môn không có lời chúc phước nào khác cho dân sự ngoài việc ca tụng sự vĩ đại của Đức Chúa Trời.  Đức Chúa Trời là Đấng giữ lời hứa, cụ thể là những lời hứa đối với Đa-vít (4).  Giao ước Ngài chọn thành này và vị vua này có giá trị tương đương với giao ước Ngài lập với Môi-se lúc ra khỏi Ai-cập (5-6, đây là cách trưng dẫn hiếm thấy, lắm lúc ta tưởng đâu tác giả sẽ trưng dẫn cuộc xuất hành, thì ông lại không trưng dẫn - đối với ông giao ước này bao trùm cả giao ước tước, y như đền tạm nằm gọn trong đền thờ).  Đức Chúa Trời trù hoạch rồi Ngài thực hiện liên tiếp qua Đa-vít và Sa-lô-môn (7-10) và không có gì ngạc nhiên khi hòm giao ước là tâm điểm của thời đại mới này, cũng như thời đại của Môi-se (11).

(IISu 6:12-21).  Lời cầu nguyện tiếp xúc với Đức Chúa Trời. Trong phần đầu của bài cầu nguyện, Sa-lô-môn toàn nói về Đức Chúa Trời là Đấng vô song (14), ông nhắc lại với Ngài nhiều điểm mà ông đã nói với dân về Ngài trong phân đoạn trước, ông nói thêm rằng Ngài cần tấm lòng vâng phục (16) và nói rõ làm thế nào ông hiểu Ngài là Đấng ngự trên đất với loài người (18) phù hợp với sự mô tả về tay và miệng của Ngài (4,15), giờ đây mắt và tai của Ngài luôn luôn mở rộng để nghe lời cầu nguyện của dân sự (19-21).  Chính vì vậy mà mục tiêu chính của đền thờ là chứa hòm giao ước (giao ước và lời hứa ân điển của Đức Chúa Trời, 11) và là nơi thắp hương (tượng trưng cho lời cầu nguyện so sánh câu 18-21với IISu 2:6 bản RSV).

(IISu 6:22-42).  Sự cầu thay Với sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời ban cho, và vì toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời, Sa-lô-môn dâng lên lời cầu nguyện quan trọng này.  Lời cầu nguyện đề cập đến nhiều tình huống trong thực tế và những tình huống có thể xảy ra.  Tương tự như hầu hết các chương 6-7, chương này cũng trích từ ICác Vua.  Nhưng chương này đặc biệt phù hợp với các thế hệ sau cũng như thế hệ cùng thời với tác giả, là khi những tình huống dự kiến đã trở thành sự thật.  Đây là lời cầu nguyện thay cho lời cầu xin.  Sa-lô-môn cầu thay cho dân Y-sơ-ra-ên để họ không đón nhận các phước hạnh một cách thụ động, mà họ tích cực cầu nguyện để nhận được phước hạnh.  Đền thờ và hòm giao ước sẽ nhắc cho mọi thế hệ biết mỗi cá nhân cần phải ‘kinh nghiệm sự hiện diện của Đức Chúa Trời’.  Mọi người phải học tập cầu nguyện hướng về nơi này, không nhất thiết là phải hướng về đền thờ thể chất, nhưng tấm lòng và tâm trí luôn luôn tập trung hướng về ý nghĩa của đền thờ.

Có thể xem bảy tình huống được liệt kê ở đây liên hệ đến công lý (22-23) thất trận (24-25), hạn hán (26-27), đói kém vì nhiều nguyên nhân (28-31), những người ngoài Y-sơ-ra-ên tìm kiếm Đức Chúa Trời (32-33), ‘chiến đấu’ vì công nghĩa (34-35) và bị lưu đày vì tội lỗi (36-39).  Dĩ nhiên có những vấn đề đặc thù đối với địa lý và lịch sử Y-sơ-ra-ên, nhưng tất cả đều có những trường hợp tương ứng đối với dân của Đức Chúa Trời trong mọi điều kiện về văn hóa, khí hậu và thời đại.

(IISu 7:1-10).  Lời bằng lửa.  Dù ở cuối mỗi lời cầu nguyện đều có nói đến sự vinh quang của Đức Chúa Trời hiện ra, nhưng điều này không có nghĩa là sự vinh quang của Đức Chúa Trời hiện ra hai lần (trong cả hai câu 1 và 3 chúng ta có thể đọc là ‘ngọn lửa lẫn sự vinh quang’).  Nhưng rõ ràng câu 3 cho biết rằng giờ đây lửa và sự vinh quang của Đức Chúa Trời bao phủ đền thờ cũng như đầy dẫy bên trong đền thờ đến nỗi mọi người có thể nhìn thấy.  Điều này khẳng định rằng Sa-lô-môn đã thực hiện mọi dự án theo đúng ý muốn của Đức Chúa Trời.  Nhưng ngọn lửa còn nhiều ý nghĩa hơn nữa.  Điều mà Đức Chúa Trời tán thành vào giờ này là sự sử dụng đền thờ lần đầu tiên theo đúng ý định của Ngài, tức là Ngài gặp gỡ dân của Ngài qua lời cầu nguyện của Sa-lô-môn.  Như vậy đây là dấu chứng cho dân Y-sơ-ra-ên kinh nghiệm và ghi nhớ.  Cách trả lời này khác với cách trả lời riêng tư mà Ngài dành cho Sa-lô-môn (12-22).  Vào những lần gặp gỡ tương đối quan trọng giữa Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên lửa đều giáng xuống:  Vào thời Môi-se (Le 9:24), Đa-vít (cũng tại vị trí này, ISu 21:26) và Ê-li (IVua 18:38).  Một lần nữa tác giả đặt Đa-vít và con trai của ông vào cùng một khung, là hai người đồng công trong kế hoạch của Đức Chúa Trời (10).

Bảy ngày mừng lễ khánh thành đền thờ (9) được tổ chức trước khi tổ chức ‘kỳ lễ tháng thứ bảy’ (IISu 5:3) tức là Lễ Lều Tạm.

(IISu 7:11-22).  Đáp lời bằng sự khải thị. Sự trả lời bằng lửa có tính chất tạm thời nhưng công khai cho mọi người đều biết, còn sự trả lời bằng khải tượng - cũng có thể coi như một cuộc đàm đạo, một cuộc gặp gỡ mà Đức Chúa Trời dành cho Sa-lô-môn có tính cách riêng tư, nhưng trở thành tài sản lâu dài chung cho mọi người.  Khải tượng này là câu trả lời, tuy súc tích nhưng đủ ý nghĩa, giải đáp cho toàn thể chương 6.  Câu 12 khẳng định lời Sa-lô-môn nói về đền thờ trong 6:1-11.  Các câu 13-14 chấp nhận lời cầu nguyện về bảy phương diện trong 6:22-42 (mặc nhiên nói về một dân tộc xưng bằng danh Ngài và hưởng được một xứ, do đó không thể áp dụng đoạn này một cách khinh xuất trong thời đại Tân Ước được).  Câu 15-16 khẳng định mắt Ngài, tai Ngài và danh Ngài thực sự ngự trong đền thờ (6:18-21,40).  Các câu 17-18 khẳng định 6:14-17.  Đại từ ngươi chỉ về Sa-lô-môn (ở số ít).  Trong sách Các Vua ông phạm tội và cuối cùng thì không có người trong dòng họ ngồi trên ngai vua, còn trong sách Sử Ký ông làm trọn ý muốn Đức Chúa Trời, do đó Y-sơ-ra-ên không hề thiếu người cai trị.  Nhưng trong các câu 19-22 nhắc lại lời thỉnh cầu thứ bảy của Sa-lô-môn (6:36-39), thì đại danh từ các ngươi ở số nhiều, nghĩa là cả Y-sơ-ra-ên nữa, như vậy dù Sa-lô-môn có bất tuân Đức Chúa Trời hay không thì chắc chắn Y-sơ-ra-ên có bất tuân Đức Chúa Trời.  Ngoài ra, chính tác giả và độc giả thực sự chứng kiến xứ và đền thờ bị đe doạ và dân tộc thật sự mất xứ và mất đền thờ.  Rồi họ cũng chứng kiến sự khôi phục nhờ lời cầu nguyện (6:37-39).  Mấy câu kết thúc cũng tóm tắt quy luật nhân quả căn bản và quy luật này chiếm vị trí khá quan trọng trong chủ trương của tác giả: nếu con vâng phục, con sẽ thịnh vượng nếu con không vâng phục, con sẽ đau khổ nếu con ăn năn, con sẽ được tha thứ.

5. Sự vĩ đại của Sa-lô-môn (IISu 8:1-9:31)

Tác giả viết phần lớn phân đoạn này sát với sách IVua 9:10-10:29, nhưng bỏ ICác Vua 11, vì sự ngu dại và thái độ phản nghịch của Sa-lô-môn trong những năm cuối đời đã đẩy ông trệch khỏi hình ảnh mô tả về một triều đại lý tưởng.  Tác giả cũng xử lý y như thế trong trường hợp của Đa-vít (ISu 29:21-30).  Một lần nữa, cha và con là hai mặt của cùng một đồng tiền.  Đáng chú ý là cả hai cha con chẳng ai đứng riêng một mình, nhưng cả hai đều đứng trong vị thế ràng buộc với dân Y-sơ-ra-ên và nhờ họ dân Y-sơ-ra-ên được phước (so sánh IISu 7:10).

(IISu 8:1-10).  Thế lực của Sa-lô-môn Xem như chúng ta thừa biết chuyện Sa-lô-môn tặng một số thành cho Hi-ram (IVua 9:10-14) và xem như chúng ta chấp nhận rằng tác giả không tìm cách hiệu đính bản văn của sách Các Vua đã bị hư hỏng (như một số người đề xướng), thì ý đơn giản nhất của câu 1-2 là Hi-ram trả lại các thành này vì ông không thích (theo sách Các Vua).  Còn theo khúc Kinh Thánh này thì Sa-lô-môn công nhận đúng là phải tu bổ các thành đó lại.

Các câu này mở đầu phân đoạn viết về việc Sa-lô-môn dùng thế lực của mình để mưu ích cho dân tộc.  Câu 3-4 ghi lại chiến dịch quân sự duy nhất của ‘nhân vật thời bình’.  Đây là việc xác lập biên giới cực bắc.  (Việc phát triển một cảng bên bờ Biển Đỏ ở biên giới cực nam, 17-18 có thể là chiến dịch quân sự tương ứng và ngụ ý xác định biên cương lãnh địa của Sa-lô-môn đã ám chỉ trong IISu 7:8).  Các thành trì trong mấy câu 4-6 cho biết Sa-lô-môn lo trang bị, phòng thủ và cung ứng cho đất nước rất chu đáo.  Người Ca-na-an còn sống sót bị bắt làm dân công tương phản rõ rệt với sự tự do, độc lập của những người Y-sơ-ra-ên chính cống (7-10).  Dưới quyền cai trị của vị vua thế lực như vậy, dân của Đức Chúa Trời được hưởng phước hạnh.

(IISu 8:11-16).  Sự thờ phượng của Sa-lô-môn. Phân đoạn này mô tả đầy đủ hơn IVua 9:25.  Có thể câu mọi việc Sa-lô-môn làm đều vì đền thờ Đức Giê-hô-va (16) tương ứng cho IISu 2:1, như vậy câu này kết thúc phần chính yếu của sách (dài gần bảy chương) viết về chuyện Sa-lô-môn xây dựng đền thờ.  Tác giả đề cập đến vị hoàng hậu Ai-cập của Sa-lô-môn ở đây vì bà có cơ lâm nguy do ở quá gần với sự ‘thánh khiết’ của đền thờ, vì ‘hễ cái gì tiếp cận với hòm đều là thánh’ (chớ không phải chỉ có nơi nào đặt hòm, câu 11).  Hiểm hoạ do vật thánh gây ra được minh hoạ trong câu chuyện U-xa trong thời Đa-vít (ISu 13:1-14).  Sách Sử-ký không nói rõ mối nguy đe doạ bà vì bà là người ngoại bang, hoặc là một phụ nữ, hoặc là người không được phép (như U-xa) sách không chủ ý đặt vấn đề về phía bà mà đặt vấn đề về phía đền thờ.  Tuy nhiên, dù Sa-lô-môn không phải là thầy tế lễ, nhưng ông được phép làm nhiều điều đối với đền thờ (12-15).  Ông tuân theo những mạng lịnh của Môi-se (13) và những luật lệ của Đa-vít (14).  Nhưng nội việc nhắc đến các nhân vật vĩ đại đó cho chúng ta thấy những điều ông truyền dạy (15) cũng có giá trị tương đương với luật lệ của Môi-se và Đa-vít.  Những điều ông thực hiện nhằm thiết lập nề nếp cơ bản cho dân sự thờ phượng Đức Chúa Trời.

(IISu 8:17-18).  Danh tiếng của Sa-lô-môn. (8:17-9:12)  Chắc chắn Ê-xi-ôn Ghê-be (IISu 8:17) biểu thị phạm vi thế lực của Sa-lô-môn (8:3-4), nhưng nơi này cũng là một trong các cảng đem của cải vào nước cho ông (cũng như Phạt-va-im trong 3:6, chưa ai định vị được Ô-phia, vàng ở đây là loại vàng tốt).  Còn 8:17-18 cũng nhắc chúng ta nhớ lại vị thế của Sa-lô-môn giữa các nước láng giềng chẳng hạn như Ê-đôm và Ty-rơ.  Chuyến viếng thăm của nữ hoàng Sê-ba chắc cũng do động cơ thương mại, vì Sa-lô-môn nắm quyền kiểm soát các thương lộ của nhiều quốc gia.  Nhưng lý do chính thức nêu lên ở đây là vì danh tiếng của ông (9:1) nhất là vì các thành qua và sự khôn ngoan của ông (9:5).  Về chuyến viếng thăm này tác giả ghi lại bài nói tuyệt mỹ của bà ca ngợi Sa-lô-môn - không phải chỉ ca ngợi ông mà là tôn vinh Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng nên một mẫu người như ông, và mừng cho dân tộc nhờ ông mà được hưởng lợi ích lớn lao (9:8).  Một lần nữa Hi-ram được nhắc đến vì đầy tớ ông lãnh nhiệm vụ nhập cảng những đồ quý giá vào Y-sơ-ra-ên (bạch đàn hương là laọi gỗ chưa ai biết rõ, nhưng chắc chắn đây là loại gỗ quí), nhưng rõ ràng là tác giả muốn chúng ta nhớ lại ở đầu phân đoạn dài này, ông cũng ca tụng Sa-lô-môn bằng những lời lẽ tương tự như những lời của nữ hoàng Sê-ba (2:11).

1-12 (xem giải nghĩa  8:17-18)

6. Sự giàu sang của Sa-lô-môn (IISu 9:13-28)

Vàng tiêu biểu cho của cải trong vương quốc của Sa-lô-môn.  Sau khi đền thờ, ngai vua và cung vua đã hoàn tất và bọc vàng xong (17-20), số vàng dư được dùng để chế ra những tấm khiên trang trí cho Cung Rừng Li-ban (15-16).  Nhưng tác giả chưa nói rằng sự xa hoa sang trọng này hầu như chỉ tồn tại được một thế hệ (12:9-11), và ông cũng không xác định cung điện đó là toà nhà nào (IVua 7:1-12), ông chỉ quan tâm vạch ra cho chúng ta thấy các vật dụng trang trí đó có giá trị rất lớn.  Những loại hàng nhập cảng đắt tiền do đội thương thuyền Ty-rơ - Y-sơ-ra-ên (21) chuyển về là những nét tô điểm cuối cùng cho bức tranh về sự giàu sang, khôn ngoan và quyền thế của Sa-lô-môn thêm phần hoàn hảo (22-28).  Không rõ món hàng thứ năm là con khỉ (21) hoặc ‘con công’ (bản AV), cũng không rõ ‘đoàn tàu Ta-rê-si’ (21, bản RSV) thực sự đi đến Ta-rê-si (Tây-ban-nha) hoặc đây chỉ là các thương nhân buôn bán đường dài.  Một lần nữa, tác giả lập lại IISu 1:15 để nhắc chúng ta nhớ của cải của Sa-lô-môn cũng làm cho dân tộc của ông giàu có lên (27).

7. Sa-lô-môn băng hà (IISu 9:29-31)

Tác giả viết phần cuối cùng về chuyện Sa-lô-môn theo IVua 11:41-43 với ba mục đích: kết thúc chương 9, bỏ qua phần lớn mọi chuyện khác (tức là chuyện Sa-lô-môn sa sút về mặt đạo đức) và như vậy thời trị vì này kết thúc tốt đẹp.  Các câu này đề cập đến các tài liệu tham khảo khác không chỉ để kiểm tra mức chính xác, mà cũng tăng thẩm quyền cho các tác phẩm của các tiên tri.  Và một lần nữa các câu này liên kết Sa-lô-môn với cha của ông vì lời lẽ trong văn bia của Đa-vít cũng tương tự như ở đây (IISu 29:29).

2. CÁC VUA (IISu 10:1-36:23)

Sa-lô-môn chưa kịp mồ yên mả đẹp cho mà vương quốc vinh quang của ông đã tan rã.  Vương quốc sụp đổ theo đường rạn nứt cũ: đường ranh từ đông sang tây chạy ngang phía bắc Giê-ru-sa-lem, phía nam là chi phái Giu-đa, Bên-gia-min và Si-mê-ôn (từ lâu đã hoà nhập vào chi phái Giu-đa) và đương nhiên kể cả những người thuộc chi phái Lê-vi sống giữa vòng các chi phái này.  Nhưng nhìn chung, người ta cho là sở dĩ chia rẽ là vì chi phái của Đa-vít chống lại các chi phái còn lại cho nên miền nam gọi là ‘Giu-đa’ còn các chi phái khác tự nhận là Y-sơ-ra-ên (10:16).

Sự thể này dẫn đến chuyện lủng củng khi dùng tên Y-sơ-ra-ên trong các chương sử ký còn lại.  Theo đúng nghĩa thì từ này dùng để chỉ dân Đức Chúa Trời một cách tổng quát, cả miền bắc lẫn miềm nam.  Về mặt chính trị thì từ này ám chỉ vương quốc phía bắc.  Khi chỉ về dân chúng thì từ này không có gì xấu, vì đúng là người Y-sơ-ra-ên vẫn sống tại đó (11:13-17  28:9-25  30:11  IVua 19:18) ngay cả Giê-rô-bô-am - vị vua đầu tiên ở miền bắc - cũng làm theo ý muốn Đức Chúa Trời khi ông chống nghịch lại Rô-bô-am (IISu 10:15  11:4).  Nhưng bình thường từ này có nghĩa xấu khi chỉ về sự cai trị và các vua miền bắc cứ khăng khăng duy trì một chế độ tách khỏi triều đại Đa-vít, và đền thờ của Sa-lô-môn, nhất là khi họ không còn chính nghĩa nữa (13:8-12) hoặc tệ hơn là khi các vua như A-háp và gia đình ông không chỉ từ bỏ lý tưởng của Đa-vít và Sa-lô-môn, mà còn du nhập các thần ngoại bang vào nước (23:17  IVua 16:30-33).

Tuy nhiên tác giả sách Sử Ký chỉ nhắc đến miền bắc khi dòng lịch sử của miền bắc và miền nam gặp nhau, vì dòng dõi Đa-vít kéo dài trong ba trăm năm với hai mươi đời vua.  Mục tiêu của tác giả là chứng tỏ cho chúng ta các vua kế vị có tuân theo lý tưởng của Đa-vít và Sa-lô-môn hoặc bỏ qua, và chứng minh phước hạnh hoặc sự hình phạt xảy đến thích đáng như thế nào.

1. Rô-bô-am (IISu 10:1-12:16)

IISu 10:1-19

Ngay từ những ngày đầu tại ngôi, Rô-bô-am đã hành động ngu dại đến độ Đức Giê-hô-va phán rằng miền bắc chống nghịch lại ông là đúng (IISu 10:15  11:4).  IVua 12:1-24  14:21-31 chỉ nêu ra những điểm xấu của ông.  Tác giả sách Sử Ký dựa vào các tư liệu khác thêm rằng sau thảm bại đầu tiên, có một thời gian ông cai trị rất thành công, rồi sau thảm bại thứ nhì, ông ăn năn và được phục hồi.  Ông cưới nhiều vợ trong hoàng tộc Đa-vít (IISu 11:18-21) nhưng những cuộc hôn nhân này vẫn không giúp ông trở nên một nhà lãnh đạo theo tầm cỡ của Đa-vít được, cho nên sách Các Vua đã làm đúng khi ngụ ý phê bình thời trị vì  của ông nhìn chung là không thành công.  Còn tác giả sách Sử Ký, dù cũng kết luận như vậy nhưng phần tường thuật có phần quân bình hơn, có đưa vào một qui trình mẫu cho phần sách còn lại (12:14): đó là tội lỗi sinh ra khổ nạn, còn lòng ăn năn đem lại phước hạnh.

Vương quốc bị chia cắt Từ xưa, Si-chem đã là một vị trí quan trọng về phương diện chính trị và tôn giáo, cũng là nơi thích hợp cho cuộc triệu tập hội chúng của ‘toàn thể Y-sơ-ra-ên’ để tấn phong vua (1, bản RSV).  Nhân tố đầu tiên trong ba yếu tố đem lại sự rắc rối cho Rô-bô-am (coi như độc giả am tường bối cảnh trong IVua 11:26-40) là chính bản thân Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, người rất có uy tín (2).  Với tư cách là nhà lãnh đạo tài năng, ông cùng với các chi phái đưa ra yếu tố thứ hai là thuế khóa và cưỡng bách lao động (4).  Đáng lẽ yếu tố thứ hai này không ảnh hưởng đến người Y-sơ-ra-ên chính thống (IISu 8:9) nhưng hoá ra là có (10:18  IVua 5:13-14  11:28).

Rô-bô-am tham khảo ý kiến của các vị niên trưởng cũng như của giới trẻ trong ban cố vấn, nhưng ý kiến của thành phần cố vấn trẻ tuổi bộc trực đã thắng thế.  Ông hành động ngược lại với nguyên tắc của Kinh Thánh là tôn trọng người già cả (so sánh Es 3:4-5), dù rằng, nói cho ngay, thành phần cố vấn trẻ tuổi cùng thời với ông (8) cũng xấp xỉ tứ tuần rồi (IISu 12:13).  Nhận thấy Rô-bô-am không chịu nhượng bộ, Giê-rô-bô-am và các chi phái miền bắc nổi loạn.  Thế là yếu tố thứ ba xuất hiện.  Tiên tri A-hi-gia đến quở trách Rô-bô-am (IVua 11:29-39).  Đức Chúa Trời đã báo trước rằng cuộc nổi loạn sẽ xảy ra, và chuyện đã xảy ra (15).  Mỉa mai thay tiếng la hét nổi loạn là thái cực của ISu 12:19.  Đã không chịu nhượng bộ, Rô-bô-am lại cử đúng quan đặc trách cưỡng bách lao động vụ (trong tất cả các quan) đi thi hành ngay việc cưỡng bách lao động, mà người dân đang căm phẩn nhất, thế là hậu quả thảm khốc xảy ra (18).

IISu 11:1-23. Sự vâng phục của Rô-bô-am. Một lần nữa Rô-bô-am thử thống nhất Y-sơ-ra-ên bằng vũ lực, nhưng bị Đức Chúa Trời ngăn cấm  nên Rô-bô-am rút quân về (1-4).  Sự vâng phục đáng khen này đúng là nguyên nhân dẫn đến phước hạnh: chương trình xây dựng đồn luỹ (5-12), sinh hoạt tôn giáo bùng nổ (13-17) và hoàng gia phát triển (18-23).  Chuỗi thành kiên cố (6-7) dường như nhằm tạo một tuyến phòng thủ chống lại cuộc xâm lấn từ phía nam (IISu 12:1-4) chớ không phải chống lại vương quốc miền bắc (dù Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am đánh nhau không ngớt 12:15).  Tác giả ghi lại chuyện Giê-rô-bô-am dựng lên một tôn giáo khác thay thế (IVua 12:25-33) vừa đủ để lý giải cho làn sóng người Y-sơ-ra-ên kính sợ Đức Chúa Trời bỏ miền bắc di cư xuống miền nam.  Tượng con bò biểu tượng cho Đức Giê-hô-va (so sánh Xu 32:4) là một việc quá sai lầm rồi, còn thêm một con dê biểu tượng cho một thần địa phương nào đó thì càng sai lầm trầm trọng nữa (15).  Con cái của Rô-bô-am không những đông đúc mà theo tiêu chuẩn của chúng ta thì họ hoàn toàn thuộc hoàng tộc (18,20).  Dầu vậy, ở đây tác giả coi đó là đức hạnh so với bản tính buông tuồng của Sa-lô-môn trong vấn đề tình dục (IVua 11:1-8).  Còn trong câu 23 đọc là cưới nhiều vợ cho con trai mình nghe hợp lý hơn là đọc ‘cầu hỏi các thần của vợ mình’ (JB).

Sự vâng phục và dĩ nhiên là phước hạnh kéo dài được ba năm (17) - không đủ sức thay đổi bản cáo trạng cuối cùng dành cho ông là Rô-bô-am làm điều ác (IISu 12:14).

IISu 12:1-16. Những năm cuối đời của Rô-bô-am Câu 1a bộc lộ tánh kiêu ngạo và tự phụ, trái với lòng khiêm nhường và tin cậy.  Chính tánh tiêu ngạo và tự phụ đã đưa đẩy ông thẳng vào tội lỗi ở câu 1b và tiếp theo là sự hình phạt trong câu 2-4.  Si-sắc, người sáng lập triều đại thứ hai mươi hai, đã thống nhất nước Ai-cập lại (mỉa mai thay khi so với sự chia rẽ mà Rô-bô-am đã gây ra cho Y-sơ-ra-ên) và bành trướng thế lực của ông về phía bắc, chắc chắn với sự thông đồng của Giê-rô-bô-am và các vua Ê-đôm và A-ram (IVua 11:14-40).  Tác giả không dùng sách Các Vua để viết phần này (3-8).  Theo tư liệu khác của tác giả thì đạo quân này rất lớn, dù tác giả chép là sáu vạn (3) nhưng chúng ta nên đọc là ‘sáu ngàn’ còn theo tài liệu của Si-sắc thì có hơn 150 thành bị chiếm.  Giê-ru-sa-lem không bị chiếm, vì thế lời tiên tri ở câu 7 được ứng nghiệm và Rô-bô-am phải lột sạch những báu vật của đền thờ và cung điện (9) để nộp cho Si-sắc mới cứu được Giê-ru-sa-lem.

Biến cố có ảnh hưởng lâu dài nhất trong thời Rô-bô-am là vương quốc bị chia cắt (chương 10).  Trước đây, tác giả viết về những sự kiện trong đời Rô-bô-am minh hoạ cho nguyên tắc ‘vâng phục dẫn đến phước hạnh’ (chương 11) và bây giờ viết về những sự kiện minh hoạ ‘sự bất phục dẫn đến hình phạt’ và ‘lòng ăn năn mang lại sự phục hồi’.  Trong chương 12 tác giả dùng nhiều từ ngữ điển hình để minh giải nguyên tắc này, thí dụ như sự bất trung (2) được đáp lại bằng sự từ bỏ trong câu 5 (cũng xem câu 1) và sự hạ mình (6, 7,12) và câu 6b cho thấy ý nghĩa của sự thật lòng thú nhận và ăn năn - cụm từ ‘Đức Giê-hô-va là công bình’ hoặc ‘công chính’ có nghĩa là ‘chúng ta sai lầm’.  Lẽ đạo này đặt nền tảng trên lời cầu nguyện của Sa-lô-môn (IISu 6:24-25) và câu trả lời của Đức Chúa Trời (7:14).  Mặc dù phước hạnh ở chương 11 và sự phục hồi của chương 12 (có lẽ vấn đề này tuỳ thuộc nhiều vào còn sự lành ở Giu-đa (12  11:13-17) và tuỳ thuộc vào tấm lòng ăn năn của vua), Rô-bô-am vẫn lưu danh cho đời sau là một vị vua làm cho vương quốc bị chia cắt và một vị vua làm điều ác (14).

2. A-bi-gia (IISu 13:1-14:1)

IISu 13:1-22

Sách Sử-ký viết về A-bi-gia nhiều hơn sách Các Vua gấp ba lần sách Các Vua nhận định vua là vị vua làm ác (IVua 15:1-8).  Chắc chắn ảnh hưởng của mẹ vua không thể nào tốt (IISu 15:16).  Nếu không nhờ sự kiện trong sách Sử Ký thì ông chỉ là một vua tầm thường.

Cuộc chiến tranh giữa bắc-nam không phải nhằm dành quyền cai trị toàn thể đất nước, mà chỉ là chuyện giành chiếm đất đai nhỏ nhoi.  Trong cuộc chiến này Giu-đa có vẻ thắng thế hơn (4a,19).  Nhưng trong trận mô tả ở đây A-bi-gia lại thất trận.  Tác giả đưa ra số liệu trong câu 3 là để cho thấy quân số của A-bi-gia ít hơn  nhiều (xem phần dẫn nhập).  Nhân dịp này ông đọc một bài phát biểu đáng lưu ý, vì gói ghém vài nguyên tắc căn bản của nền thần đạo của tác giả sách Sử Ký.

Trước hết, bài nói này kêu gọi toàn thể Y-sơ-ra-ên (4) dù Giê-rô-bô-am được nhắc tên trước hết, song ông bị hạ xuống là người thứ ba, như thể ông không có mặt ở đó (6,8).  Vấn đề quan trọng là lòng trung thành của dân sự, nếu họ trung thành với Đức Giê-hô-va thì họ phải công nhận rằng Ngài đã giao quyền cai trị cho dòng họ Đa-vít bằng giao ước muối (5, chắc là có nghĩa ‘đời đời’  xem Dan 18:19).  Trong triều vua trước, đã có chuyện sai lầm, một bên nổi loạn, một bên ngu dại (những tên du đảng ở câu 7 hoặc tập họp chung quanh Rô-bô-am và ‘thuyết phục’ ông, hoặc tập họp chung quanh Giê-rô-bô-am chống lại Rô-bô-am. vấn đề A-bi-gia nhắm đến vẫn là một).  Trong hoàn cảnh ngày trước thì cuộc nổi loạn nằm trong kế hoạch của Đức Chúa Trời.  Nhưng giờ đây mọi chuyện đã trở lại bình thường: có vua thuộc dòng Đa-vít lên ngôi cai trị, có sự thờ phượng thật trong đền thờ Sa-lô-môn, cho nên tìm cách thay thế hai điều này là không có lý do chính đáng (8-12).

Trong trường hợp này không những Giu-đa có lý về mặt thần đạo, mà họ cũng có thái độ đúng đắn (14b, 18), vì thế tác giả bỏ phần kết luận trong sách Các Vua (IVua 15:3) và kết thúc chương bằng cách nêu ra những điểm tích cực chứng minh Đức Chúa Trời ban phước cho A-bi-gia (19-21).

1 (xem giải nghĩa IISu 13:1-22)

3. A-sa (IISu 14:2-16:14)

IISu 14:2-15

Giống như trường hợp của A-bi-gia, tác giả tường thuật về A-sa dài gấp ba lần bản tường thuật trong sách Các Vua (IVua 15:9-24).  Bản tường thuật này cũng có nhiều chi tiết phức tạp khiến độc giả thời nay bối rối.  Phần lớn nằm trong vấn đề về niên đại, dù cũng có nhiều điểm phức tạp về giáo lý.  Để tiện tham khảo, bảng niên đại dưới đây tính từ lúc vương quốc bị chia cắt.

Theo bản tường thuật thì dường như chúng ta có những niên đại như sau:

Năm 20           A-sa lên ngôi (IISu 12:13  13:2)

Năm 30           Mười năm hoà bình chấm dứt (14:1)

Năm ??            Xê-rách xâm lăng (14:9)

Năm 35           Lễ thề hứa (15:10)

Năm 55           Chiến tranh bùng nổ (15:19)

Năm 56           Ba-ê-sa tấn công (16:1)

Năm 59           A-sa lâm bệnh (16:12)

Năm 61           A-sa băng hà (16:13)

Bảng niên đại này có vấn đề rắc rối là theo IVua 16:6 và 8 thì Ba-ê-sa qua đời năm 46.  Vì vậy thay thế là một bảng niên đại khác với những năm đề cập trong IISu 15:19 và 16:1 không tính theo thời trị vì mà tính theo thời điểm vương quốc bị chia đôi:

Năm 20           A-sa lên ngôi (12:13 13:2)

Năm 30           Mười năm hoà bình chấm dứt (14:1)

Năm 35           Chiến tranh bắt đầu = Xê-rách xâm lăng (14:9

            = 15:19), Lễ thề hứa (15:10)

Năm 36           Ba-ê-sa tấn công (16:1)

Năm 59           A-sa lâm bệnh (16:12)

Năm 61           A-sa băng hà (16:13)

Bảng niên đại này rất khớp, nhưng cũng có vấn đề riêng, cụ thể như theo cách xác định niên đại ở đây (theo thời điểm vương quốc bị chia đôi) thì 15:19 và 16:1 chỉ là thí dụ duy nhất, hơn nữa các câu này nói rõ rằng những năm này tính theo triều vua A-sa, chớ không tính theo thời điểm vương quốc bị chia cắt.  Vấn đề vẫn chưa được giải quyết.  Các vấn đề liên hệ khác sẽ được bàn đến sau (15:11,19  16:12 và phần ‘chú giải về niên đại’ ở 16:1-14).

Tấm lòng của vua Sau khi trích trong IVua 15:11 câu nhận định A-sa làm điều ... ngay thẳng (2), tác giả vận dụng tư liệu khác để trình bày về đời sống thánh thiện đó trong câu IISu 14:3-15:15.  A-sa tỏ ra biết vâng phục Đức Chúa Trời trong các vấn đề thuộc lãnh vực tôn giáo (2-5) lẫn quân sự (6-8) nên được phước hạnh, và từ quen thuộc yên nghỉ được sử dụng hai lần (6,7  ISu 22:9).  Cũng vậy tác giả thích dùng từ tìm kiếm (4 so sánh câu 7) và tác giả viết về Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của cá nhân A-sa, Đức Chúa Trời trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên và là Đức Chúa Trời của toàn thể dân tộc (2,4,7).

Quân đội của A-sa chiêu mộ và thành lập bị thử thách nặng nề khi một đạo quân đông đảo hơn loán chiếm Giu-đa.  Đạo quân này dường như đông vô số (nhưng xem phần dẫn nhập) vì cớ dân sự của Đức Chúa Trời ít oi hơn nên họ phải nương cậy Ngài.  Không xác định được danh tánh của kẻ thù - nhiều người cho rằng đó là quân Ai-cập (so sánh IISu 16:8) do tướng Nu-bi-an chỉ huy.  Những lời đáng ghi nhớ trong câu 11 cho thấy sự khủng hoảng này nghiêm trọng lắm.  Và cũng như mọi lần khác, vua đặt niềm tin cậy nơi Đức Chúa Trời và rõ ràng Đức Chúa Trời là Đấng chiến thắng quân thù (12-14).

IISu 15:1-19. Lời phán của Đức Giê-hô-va. Một lần nữa phần lớn chương này (15:1-15) viết theo một tư liệu khác không phải sách Các Vua.  Thoạt nhìn thì tiên tri A-xa-ria xuất hiện sau khi A-sa chiến thắng có vẻ như lời tiên tri của A-xa-ria dẫn đến cuộc cải tổ một lần nữa, lập lại và sâu rộng hơn lần cải tổ trong 14:2-7 và nghi lễ này có cả các chiến lợi phẩm (11).  Mặt khác, cũng có thể câu 1-15 trình bày chi tiết cuộc cải tổ đã thực hiện trong 14:2-7.

Trước hết sứ điệp của A-xa-ria xác định rõ ràng nhất chủ trương của tác giả về thưởng phạt (2).  Dù đây là lời tiên tri (8), nhưng những động từ trong phần chính (3-6) có thể hiểu ở thì quá khứ hoặc tương lai.  Thường người ta hiểu những câu này nhắc lại chuyện trong thời các quan xét, vừa khớp với những chi tiết mô tả ở đây, vừa chuyên về chủ đề ‘thưởng phạt’: hồi đó (4), cũng như bây giờ (2) đều có cùng một vấn đề chung đó là tìm kiếm và gặp được.  Đáng chú ý một điều là Đức Chúa Trời, Đấng phán qua A-xa-ria, rõ ràng là Đức Chúa Trời của vua, của dân sự và của tổ phụ họ (14:2-7). Kết quả của lễ thề hứa trong năm thứ 15 đời A-sa (10) bao quát nhiều phương diện (chú ý từ ngữ tất cả và toàn the trong các câu 8-15), và một lần nữa đây là vấn đề tìm kiếm Đức Chúa Trời (12,13,15).

Một lần nữa tác giả dựa vào sách Các Vua (IVua 15:13-15) mà viết các câu kết.  Có hai vấn đề xuất phát từ những câu này.  Có vẻ như câu 17 mâu thuẫn với IISu 14:3 tuy nhiên 14:2-8 viết về Giu-đa, còn Y-sơ-ra-ên trong câu này rất có thể là lãnh thổ phía bắc mà A-sa chiếm được sau này (so sánh c.8).  Câu 19 dường như mâu thuẫn với IVua 15:16,32, nhưng chắc chắn các câu này ám chỉ đến cuộc ‘chiến tranh lạnh’ lâu dài giữa A-sa và Ba-ê-sa, chỉ bùng nổ với cuộc tấn công ở IISu 16:1.

IISu 16:1-14. Tiếng nói của thế giới.  Cuộc tấn công của Ba-ê-sa (1) là cuộc thử thách A-sa và ông đã thất bại.  Vương quốc miền bắc và nước lân bang A-ram thù địch với nhau trong suốt giai đoạn này về mặt chính trị Giu-đa thương lượng với A-ram là chuyện khôn ngoan, A-sa có thể trả giá cho cuộc thương lượng đó (lấy ở đâu ra?).  Đã có một tiền lệ cho ông rồi và cuộc thương lượng này cũng thành công (2-6).  Hẳn là thế giới cho rằng đó là việc tất nhiên thôi.  Nhưng về mặt thuộc linh đó là bước khởi đầu trong con đường ông không tìm kiếm Đức Giê-hô-va (12).  Theo các câu kế tiếp thì có một tiên tri khác xuất hiện và qua những điều xảy ra (7-10) chúng ta thấy bài học ở đây là sự khôn ngoan của A-sa dường như đem lại kết quả tốt, nhưng nương cậy Đức Chúa Trời còn có kết quả tốt hơn vị tiên tri nhắc lại bài học tin cậy, một lẽ đạo chính yếu trong Kinh Thánh, đồng thời ông cũng gợi lại quá khứ để khẳng định, và ông tuyên bố rằng vấn đề thưởng phạt là điều chắc chắn đây là lần đầu tiên , do bản tánh nổi loạn mà một vị vua của Đức Chúa Trời ngược đãi tiên tri của Đức Chúa Trời.  Hành động này phù hợp với tính ương ngạnh của ông trong câu 12b.

Chú giải về niên đại.  Nếu theo đúng như 16:1 (năm thứ 36 đời A-sa, bản niên đại 1 ở trên) thì ông lâm bệnh (năm 39 câu 12) chứng tỏ hình phạt đến khá sớm.  Dầu vậy vẫn chưa tháo gỡ được vấn đề do bảng niên đại đó gây ra, cũng không lý giải được điều xảy ra trong năm 35 (IISu 15:19), cũng không lý giải được vì sao Ha-na-ni nói tiên tri rằng A-sa bị trừng phạt bằng giặc giã chớ không bằng bệnh hoạn (16:9).  Mặt khác, nếu thời gian trong 16:1 là năm thứ 36 của vương quốc (bảng thời gian 2), thì các vấn đề trên đều tháo gỡ được, nhưng những vấn đề chung quanh bảng thời gian này vẫn còn đó.  Dầu vậy bảng niên đại đó có thể chứng minh rằng nguyên nhân dẫn đến hậu quả không đến nỗi nhanh chóng và rõ ràng như người ta thường nghĩ.

4. Giô-sa-phát (IISu 17:1-21:1)

IISu 17:1-19

Trong một vài phương diện, bản tường thuật về thời trị vì của Giô-sa-phát rất giống như bản tường thuật về thời trị vì của phụ vương, nhưng không có phần cuối buồn thảm về sự nổi loạn kéo dài, cũng không có vấn đề rối reng chung quanh bảng niên đại đầy lủng củng của triều vua A-sa.  Bản tường thuật này đầy đủ hơn nhiều và nêu ra hai điểm nổi bật.  Bốn mươi câu đầu trong IVua 22:1-54 kể chuyện Giô-sa-phát liên minh với A-háp (IISu 18:1-34) còn mười câu cuối tóm tắt tổng quát về triều đại của ông, phần này trong sách Sử Ký dài gấp đôi chứng tỏ tầm quan trọng của ông.  Hơn nữa, không phải các biến cố chính mà sách Sử Ký viết dựa theo sách Các Vua, cả dài lẫn ngắn (IVua 22:1-40,48-49) làm cho Giô-sa-phát nổi bật, thậm chí tác giả sách Sử Ký còn thêm vào hai phần có những lời phản đối của các vị tiên tri.  Tuy nhiên sau khi xem xét kỹ lưỡng, tác giả coi ông là vị vua tốt, cao trọng, thậm chí coi ông như là Sa-lô-môn thứ hai.

Sự cao trọng của Giô-sa-phát. Sau khi dẫn nhập với nửa câu trong IVua 15:24, tác giả mô tả Giô-sa-phát là người tốt lành và cao trọng.  Hai điều đặc biệt đan dệt với nhau: sức mạnh và thịnh vượng, luôn luôn được coi là phước hạnh nhờ tấm lòng trung tín tìm kiếm Đức Chúa Trời (2-6).  Có thể đọc câu 3 là ‘ông bước đi theo đường lối đầu tiên của tổ phụ mình’ tức là A-sa (RSV).  (Năm thứ ba trong câu 7 là năm A-sa qua đời, và sau thời gian cha con đồng trị thì Giô-sa-phát cai trị một mình xem phần ‘chú giải về niên đại’ bên dưới).  Như vậy, chương trình dạy đạo (7-9) truyền đạt cho dân chúng lòng kính mến của ông đối với Đức Chúa Trời và luật pháp của Ngài (4).  Ông trở nên giàu có và được tôn trọng giữa các dân tộc (10-11) cũng như trong xứ Giu-đa (5), bảng liệt kê về quân đội (12-19) bổ túc cho các chi tiết quân sự trong câu 1-2.  Chúng ta có thể thấy một sự phát triển tương tự trong bản thân của Giô-sa-phát.  Rõ ràng ông nuôi dưỡng niềm tin nơi Đức Chúa Trời của chính bản thân ông.  Đức tin của ông là đức tin có việc làm (Gia 2:22), là một niềm tin năng nổ chớ không phải uỷ mị.: ông tìm kiếm...  Đức Chúa Trời... và làm theo điều răn Ngài (4).  Ông vâng phục đến độ Đức Chúa Trời ban phước cho dân sự dưới thời trị vì của ông.

Chú giải về niên đại.  Ở đây thời trị vì của Giô-sa-phát (IISu 17:7  20:31) được tính từ lúc A-sa lâm bệnh và thời gian ‘đồng trị’ bắt đầu vào năm 873/872 T.C. sách IIVua 3:1 8:16 tính thời trị vì của Giô-sa-phát ngắn hơn, tính từ lúc A-sa qua đời năm 870/869 T.C.

IISu 18:1-34. Chiến dịch chống lại Ra-mốt Ga-la-át. Tác giả viết chương này theo cốt truyện IVua 22:1-54, nhưng có đề cập đến sự cao trọng của Giô-sa-phát (IISu 18:1) và bữa tiệc tỏ lòng tôn trọng ông (18:2).  Hai chi tiết này chỉ là những điểm thay đổi nho nhỏ đầu tiên trong nhiều điểm được thay đổi nhằm tôn phong vua niềm nam là nhân vật chính yếu chớ không phải là vua miền bắc bản tường thuật này kết thúc bằng các biến cố và một lời tiên tri chỉ liên quan đến Giô-sa-phát (19:1-3) chớ không liên quan gì đến A-háp cả (như trong IVua 22:36-39).

IISu 18:1 nhìn lại chương 17, một phần dẫn nhập tích cực còn 18:1 hướng về một loạt những chuyện không mấy ưng ý.  Sự liên minh qua cuộc hôn nhân của con trai Giô-sa-phát là Giô-ram với con gái của A-háp là A-tha-li sẽ đem lại nhiều rắc rối không dứt.  Cuộc liên minh quân sự (18:3) này rõ ràng là thiếu khôn ngoan.  Đến cuối, chuyện cho biết thành Ra-mốt Ga-la-át bị rơi vào tay kẻ thù A-ram (18:30).  Vì thế chúng ta thấy khung mẫu của A-sa được lập lại trong con trai của ông: tức là khởi đầu tốt nhưng diễn tiến lại sai lầm dại dột, trong trường hợp thứ nhất vị tiên tri nói ‘ngươi không được liên kết với A-ram chống lại Y-sơ-ra-ên’ (so sánh 16:1-9 Ha-na-ni), còn trong trường hợp thứ hai, vị tiên tri nói ‘ngươi không được liên kết với Y-sơ-ra-ên chống lại A-ram’ (so sánh 19:1-3 Giê-hu, con trai của Ha-na-ni).

Tuy nhiên, Giô-sa-phát không phải là một bản sao của A-sa.  Tiên tri Mi-chê ám chỉ đến cá tính của ông trong câu 16.  Ông quan tâm đến hết thảy Y-sơ-ra-ên trong tinh thần một người chăn bầy và ông tin rằng phương thức thực hiện là hợp tác với A-háp (18:3), và ông cho rằng những điểm dị biệt giữa ông và A-háp không thành vấn đề.  Tiên tri Sê-đê-kia nói liên kết là đúng cho dù sau đó diễn biến chứng tỏ ông nói sai (18:10,34), tiên tri Mi-chê nói cuộc liên minh này không đạt được gì cả và ông còn tiết lộ nhiều diễn biến đáng sợ ở hậu trường (18:16-22), còn tiên tri Giê-hu cho rằng dù có tấm lòng bao dung, rộng lượng, Giô-sa-phát cần nhanh nhạy phân biệt và cần cương quyết cứng rắn hơn (19:2 so với Mat 10:16).

Trong 19:1-3  có hai vấn đề khác về các lời tiên tri này.  Theo lời tiên tri của Mi-chê, Giô-sa-phát thực sự trở về nhà bình yên (trở về bình yên nơi cung điện mình, các lời này giống như trong IISu 18:16).  Đối với lời tiên tri của Giê-hu, chúng ta thắc mắc là Đức Chúa Trời nổi giận khi nào và như thế nào trong thực tế.

(IISu 18:4-11).  Công cuộc cải tổ chính đáng của Giô-sa-phát. Các câu này coi như chung một bè với chương 17.  Cả hai phân đoạn đều không dựa vào tư liệu trong sách Các Vua, và cả hai đều quan tâm đến thành tích của Giô-sa-phát trong cương vị một vị vua cao trọng và tốt lành như Sa-lô-môn.  Phân đoạn này quan tâm đến lề lối cai trị với sự khôn ngoan.  Vì sao tách đôi hai phân đoạn như vậy?  Có thể phần chỉnh đốn này được thực hiện nhằm tránh cơn giận đe doạ trong 19:2, nhưng cũng có thể xem đây là một chương trình tương ứng với chương trình của A-sa.  Bài tường thuật về A-sa cũng có cuộc cải tổ thứ hai thực hiện sau khi có sứ điệp của tiên tri (15:8-15).

Nhìn chung thì câu 6-10 phù hợp với tinh thần của các điều luật trong Phu 16:18-17:13.  Giô-sa-phát quan tâm đến mức đích thân thực hiện công tác gợi lại hình ảnh của Sa-mu-ên trong ISa 7:15-17.  Cung cách đó cũng bộc lộ rõ tâm tánh của ông.  Ông là người quan tâm sâu xa đến lợi ích của dân.

 (IISu 20:1-30).  Giu-đa bị xâm lăng. Chỉ có sách Sử Ký tường thuật vụ này.  Giữa bài tường thuật này và các biến cố ở IIVua 3:1-27, có nhiều điểm giống nhau, nhưng cũng có nhiều khác biệt quan trọng.  Khó có thể xem cuộc tấn công mô tả ở đây là ‘cơn giận của Đức Chúa Trời’ thông báo trong IISu 19:2, vì coi như đây là chuyện Đức Chúa Trời cho phép xảy ra để chứng minh Ngài là Đấng cứu rỗi, chớ không phải là Đấng đoán phạt.

Vẫn không rõ về danh tánh và gốc gác của quân xâm lược, nhưng dù sao đây là đạo quân không lo (2) từ hướng Biển Chết tiến đến.  Điều đầu tiên đáng nói về vị anh hùng của chúng ta (vì đích thực là như vậy) là Giô-sa-phát hoảng sợ (3). Câu chuyện cho biết ông thấy vấn đề cam go biết dường nào có lẽ vì ông thiếu lòng dũng cảm, cho nên tác giả sách Các Vua không coi ông là vị anh hùng.  Nhưng sự sợ hãi đã đẩy ông đến chỗ phải ‘tìm kiếm Đức Giê-hô-va’, hơn nữa cũng cho ông thấy cả dân tộc hiệp lại chung quanh ông tìm kiếm Đức Chúa Trời (3-4, RSV) - chắc chắn đây là kết quả của người chăn ân cần chăm sóc dân như các chương 17 và 19 đã mô tả.

Trong lời cầu nguyện trước mặt hội chúng, ông nhắc đến sự kiện trong quá khứ với những nhân vật như Sa-lô-môn (9,  6:28,34), Đa-vít (6  ISu 29:11-12), Giô-suê (7a) và Áp-ra-ham (7b) và ứng dụng vào các sự kiện hiện tại (10-11).  Đỉnh điểm của bài cầu nguyện là khi Giô-sa-phát bày tỏ sự yếu đuối của mình, vì đây là điều kiện cần thiết để được ban phước (12).  Sự kiện đáng chú ý không kém là sự trả lời của Chúa qua môi miệng của Gia-ha-xi-ên, một người Lê-vi.  Câu trả lời này cũng trích dẫn một câu trong Phu 20:2-4 ‘Hãy yên lặng và nhìn xem vinh hiển của Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi’ (17, bản RSV).  Các biến cố diễn ra vào sáng hôm sau chứng tỏ cho Giô-sa-phát vấn đề ‘đức tin có việc làm’.  Đây cũng là nét đặc thù trong đức tin của A-sa khi gặp một hoàn cảnh tương tự.  (‘Chúng tôi nương cậy nơi Ngài và nhân danh Ngài chúng tôi đi’, IISu 14:11 AV), về phía Đức Chúa Trời, thì sự đại thắng đem vinh hiển cho danh của Ngài (20-26).

(IISu 20:31-37).  Cuối thời trị vì của Giô-sa-phát Một lần nữa sách Sử Ký và sách Các Vua (IVua 22:41-50) gặp nhau ở IISu 20:31, dù có nhiều điểm khác nhau.  Phân đoạn này gây ra bốn điều thắc mắc.  Câu 31 hình như khác với IIVua 3:1 và 8:16.  Xin xem phần chú giải về niên đại của IISu 17:1-19.  Câu 33 khác với 17:6, dù tác giả và độc giả vào thời đó không thấy có gì trục trặc trong các câu này Giô-sa-phát là người dẹp bỏ ‘các nơi cao’, dù vậy hai mươi lăm năm sau các nơi cao đặc biệt này thoát khỏi tầm kiểm soát của ông.  Có thể sách các vua Y-sơ-ra-ên (34) không phải là ‘sách Các Vua’ trong Kinh Thánh của chúng ta.  Các câu 35-37 đọc nghe khác với IVua 22:48-49, có thể các câu này mới là phân nửa đầu của chuyện, chuyện một cuộc hợp tác ngu dại khác với vương quốc miền bắc.  Thế là sau khi đức tin đắc thắng trong IISu 20:1-30 vẫn còn những chuyện nhắc lại sự yếu đuối cố hữu của Giô-sa-phát.  Sách Các Vua vào chuyện ở ngay sự cố vỡ tàu và cho thấy cuối cùng vua đã thấm thía bài học này và không chịu ký kết với nhà A-háp một hiệp ước nào nữa.  Sự thiệt hại đến mức đó là quá lắm rồi, chương 21 sẽ minh chứng.

IISu 21:1-20. Giô-ram. Bài tường thuật dài gấp hai lần phần tường thuật trong sách Các Vua (IIVua 8:16-24) và nhấn mạnh về sự tồi tệ của vị vua xấu xa.  Câu 2-4 nêu rõ điểm tương phản của vua này với vị vua trước một gia đình đông con và giàu sang mà Đức Chúa Trời ban cho Giô-sa-phát lại là nạn nhân đầu tiên của đứa con độc ác lên ngôi kế vị (4  Cac 9:1-6 là một tiền lệ, nhưng không chính đáng).  Ngai vua mà Giô-ram kế vị là ‘Y-sơ-ra-ên’ theo ý nghĩa tốt (2,4) nhưng đã trở thành ‘Y-sơ-ra-ên’ theo ý nghĩa xấu (6, xem phần dẫn nhập và lời mở đầu cho IISu 10:1-36:23).  vì đâu có sự thay đổi này?  Chính yếu là cuộc hôn nhân của ông với con gái A-háp, nàng A-tha-li kèm theo cuộc hôn nhân này là sự giao du thân mật giữa hai hoàng gia (chú ý các tên riêng trùng lặp nhau trong hai hoàng gia gây ra khá nhiều bối rối), và nhất là việc miền nam du nhập tín ngưỡng của ngoại bang đã từng thịnh hành ở miền bắc.  Thay vì noi gương nhân đức của cha mình (12) thì Giô-ram lại trầm mình trong những nhược điểm của cha, vì chính Giô-sa-phát đã dại dột thiết lập và nuôi dưỡng những mối liên hệ đó.

Dù Giô-ram bất trung, nhưng giao ước của Đức Chúa Trời đã lập ngăn trở Ngài tiêu diệt con cháu Đa-vít đúng mức họ phải chịu (7).  Tuy nhiên, vẫn phải xử lý tội lỗi và chính Chúa thực hiện điều ấy.  Điều ngạc nhiên là sách Các Vua không đề cập gì đến lá thư của Ê-li (11-19).  Ê-li không phải là ‘văn sĩ tiên tri’, ông cũng không thi hành chức vụ tiên tri ở miền nam.  Tuy nhiên, thư của ông mô tả tình trạng tại miền nam này rất giống với ‘miền bắc’.  Ông trình bày minh bạch về vấn đề thưởng phạt (‘Vì ngươi đã phạm tội, nên ngươi phải chịu phạt’).  Và tác giả đưa ra trường hợp cụ thể kèm theo: các câu 8-11 và 16-17 chép về những tai hoạ do chính những hành vi tội lỗi của ông và do sự lãnh đạo sai lạc của ông đối với người khác.  Ông mất tất cả mọi điều ông hằng ao ước - quyền lực, gia đình, sức khoẻ, sự tôn trọng, tất cả những điều làm dấu chứng về phước hạnh của Đức Chúa Trời ban cho con người biết vâng phục.  Khi ông qua đời, chẳng ai tôn trọng và thương tiếc ông.  Tác giả cho rằng không một ai muốn biết thêm tí gì về ông nữa (đối chiếu 16:11  20:34).

5. A-cha-xia (IISu 22:1-9)

Ở đây tác giả sách Sử Ký cô đọng IIVua 8:25-9:29.  Trong phân đoạn này, bản NIV chua tên A-cha-xia trong IISu 21:17 và con số hai mươi hai và cháu gái ở câu 2 để làm sáng tỏ những điểm có thể bị hiểu lầm trong các bản dịch khác.

Đây là chuyện về vị vua xấu xa thứ hai lên ngai kế vị làm sáng tỏ tình trạng tan nát ở Giu-đa trong giai đoạn này là do ảnh hưởng của miền bắc (3-4), nhất là ảnh hưởng của A-tha-li.  Trước hết trong vai trò hoàng hậu, rồi sau đó là hoàng thái hậu, cộng với cá tính cứng rắn của mình, bà nắm được nhiều quyền lực trong tay.  Có những điểm tương đồng giữa cuộc liên minh ở câu 5 và cuộc liên minh trong thời trước suýt làm mất mạng sống Giô-sa-phát là ông nội của ông (chương 18).  A-cha-xia cũng giống như Giô-ram, là thái cực của Giô-sa-phát (9 so sánh 21:12).  Có lẽ sự kiện nổi bật nhất trong cả hai triều vua này là sự sụp đổ của A-cha-xia (7).  Giê-hu là người thực hiện sự báo oán trên A-cha-xia, và theo sách Các Vua thì việc ông tiêu diệt A-cha-xia cùng đoàn tuỳ tùng là một hành động khát máu, ngoài lề kế hoạch chính là tẩy sạch miền bắc.  Nhưng theo quan điểm của miền nam, thì cách Giê-hu xử lý nhà A-cha-xia cũng có ý nghĩa quan trọng như khi ông xử lý nhà A-háp:  Vụ thảm sát do Giô-ram gây ra trong 21:4 rồi chính gia đình ông phải gánh chịu hậu quả trong 21:16-17, thì bây giờ trình tự này tái diễn.  Khi A-cha-xia chết thì có nghĩa là Đa-vít không còn con cháu nào có thể kế vị được (9) và giao ước đời đời của Đức Chúa Trời với Đa-vít (21:7) hầu như thất bại.  Nhưng chuyện của Giô-ram bày tỏ cho chúng ta biết Đức Giê-hô-va kiểm soát các biến cố đó, thì ở đây cũng vậy, trong trường hợp của A-cha-xia các biến cố xảy đến là do Đức Chúa Trời ‘ấn định’ (7, bảb RSV).  Thực ra, đối với sự sụp đổ của A-cha-xia, chúng ta nên hiểu là ‘những chuyển biến’ do Đức Chúa Trời đưa đến, như ở trong 10:15 (và so sánh ISu 10:14).

Các câu 8-9 không giống như trong sách Các Vua.  Trong một vài mức độ nào đó, hai sách có thể ăn khớp với nhau: có thể A-cha-xia qua đời trước gia đình và đoàn tuỳ tùng của ông, như IIVua 9:1-10:35 chép, và có thể ở đây độc giả đã biết ông được chôn cất tại Giê-ru-sa-lem (IIVua 9:28).

6. A-tha-li (IISu 22:22:10-23:21)

IISu 22:10-12

Phân đoạn này bắt đầu bằng cái chết của A-cha-xia và kết thúc bằng cái chết của mẹ ông là A-tha-li.  Nhưng thời trị vì của bà khác thường.  Tác giả không giới thiệu, cũng không kết luận về sự trị vì của bà bằng những lời lẽ quen thuộc thường dùng.  Bà chẳng thuộc về dòng họ Đa-vít, cũng chẳng thuộc về vương quốc Giu-đa.  Trong khi bà chiếm đoạt ngai vua, thì bà đâu có ngờ rằng một em bé đang làm vua thật trong đền thờ (IISu 23:3,7,10).  Tác giả chỉ dành một nửa câu nói về số năm trị vì của bà, trong khi ông dành trọn một chương để viết về cái ngày bà chết.

Sự suy vi của Giu-đa từ thời chồng và con của bà nay xuống đến mức cùng tột.  Trong thời trị vì của Sau-lơ hai thế kỷ về trước, tình hình cũng như vậy, và đây là mối hiểm hoạ triền miên.  Dân của Đức Chúa Trời đã bán rẻ giá trị của mình để đổi lấy giá trị của các nước lân cận theo tà đạo, cho đến khi chỉ còn có nhà Đa-vít giải cứu họ.  Đây là lần thứ tư tất cả thành viên của hoàng tộc bị tàn sát, chỉ một người sống sót (22:10-11 so sánh 21:4,16-17  22:8), nhưng hành động độc ác này cũng cho thấy là trong kế hoạch của Đức Chúa Trời thì người cuối cùng, không ai nghĩ tới sẽ là người được Đức Chúa Trời chọn lựa, như Đa-vít thuở xưa (ISu 2:15).  Đừng quên liên tưởng tới Lu 1:1-80.

IISu 23:1-21 (xem giải nghĩa IISu 22:10-12)

Tác giả viết phần lớn chương 23 dựa theo IIVua 11:1-21, nhưng theo quan điểm riêng của ông.  Cuộc đảo chánh của Giê-hô-gia-đa ảnh hưởng sâu rộng hơn người ta tưởng.  Ông tập họp các nhà lãnh đạo có uy tín lại quanh ông (IISu 23:1), triệu tập hội chúng từ khắp xứ Giu-đa (23:2), tuyên bố điều ông đang làm là do uy quyền của Đức Chúa Trời (23:3), giới thiệu Giô-ách là vua (23:11) đây là những điểm nổi bật của sách Các Vua.  Những điều bị ba triều vua liên tiếp đánh mất nay được phục hồi, những điều này đã được Đức Chúa Trời và những người trung thành của Ngài bí mật bảo tồn (cụ thể là chính bản thân Giô-ách). Để khẳng định lại mối liên hệ với Đức Chúa Trời, họ lập lại giao ước ba lần (23:1,3,16).  Cuộc đảo chánh được dân ủng hộ rộng rãi (23:12) điểm giây phút chung cuộc của A-tha-li và phế bỏ đường lối, tư duy và sự cai trị của bà để trở lại với các nguyên tắc của Đa-vít và Môi-se (23:16-18).  Vì thế cả ngôi nước và đền thờ được phục hồi lại đúng theo tính cách và phẩm chất ấn định.  Cuộc cách mạng (nói theo thường tình) mang lại niềm sung sướng và thanh bình (23:18-21).  Xét theo khả năng của con người thì đó là chuyện may mắn trong đường tơ kẻ tóc.

7. Giô-ách (IISu 24:1-27)

Khi Giô-ách lên ngôi cai trị, một lần nữa ‘vương quốc của Đức Giê-hô-va’ nằm trong tay con cháu Đa-vít (13:8, bản RSV), sau khi trải qua ba triều vua chịu sự thao túng của con gái A-háp.  Giô-ách là vị vua đầu tiên trong ba vị kế tiếp nhau cai trị tốt, mặc dù phải đợi đến thời Ô-xia đất nước mới trở thành một cường quốc.

(IISu 24:1-16).  Khởi đầu tốt đẹp Tác giả tóm tắt phân nửa đầu thời trị vì của Giô-ách trong mấy câu mở đầu, vì theo sách Sử Ký thì gia đình (3) là phần thưởng Đức Chúa Trời ban cho người biết vâng phục (2).  Và còn thêm một lý do nữa đối với trường hợp này: hoàng gia tưởng như bị tuyệt diệt trong bốn lần qua, nay bắt đầu gây dựng lại.

Lập tức, Giô-ách phục vụ Đức Chúa Trời qua công trình tu sửa đền thờ, và Đức Chúa Trời đã ban thưởng cho ông.  Bối cảnh cho phân đoạn này là IIVua 12:1-21.  Hãy tạm gác qua một bên mấy câu khác lạ trong 5b-7.  Tác giả mô tả công tác tu sửa khá chi tiết và dễ hiểu.  Có ba câu cần bình giải: đó là thuế má (9) nộp theo luật trong Xu 30:11-16 và 38:25-26 niềm vui mừng (10) trong công việc tu bổ đền thờ, xác định công tác này cũng tương tự như công tác dựng đền tạm thời Môi-se (36:4-7) và công tác xây dựng đền thờ thời Đa-vít và Sa-lô-môn (ISu 29:1-9), và cũng nhắc lại phản ứng của dân sự đối với sự kiện Giô-ách lên ngôi (IISu 23:1).  Cho đến khi tu sửa xong đền thờ, họ mới chế tạo các đồ dùng (14) - vì trước đó mọi khoản tiền đều dành cho công trình chính yếu này (IIVua 12:13).

Trong các câu 5b-7, người Lê-vi trì hoãn công tác thu thuế có thể là vì chính Giô-ách khởi xướng thu thuế nên họ đợi ông đóng góp một cách hào phóng, như Đa-vít đã làm.  Vì bà A-tha-li và các con trai bà lột nhẵn kho đền thờ (7 nghĩa là cộng sự, thuộc hạ, xem IISu 22:10) nên đền thờ không có ngân sách để tu bổ đền thờ.  Dường như họ đã đạt được một giải pháp dung hoà: ‘cuộc thu thuế’ (5) đã trở thành ‘cuộc dâng hiến’ (8-9). Thần học của sách Sử Ký đặt nặng vấn đề tìm kiếm Chúa’ nên có lẽ uy tín Giô-ách càng tăng khi ông cho rằng (câu 6, đòi hỏi) thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa cũng phải có tinh thần ‘tìm kiếm’ Chúa,

(IISu 24:17-27).  Kết thúc xấu xa Một lần nữa sách Sử Ký dựa theo IIVua 12:1-21.  Sách này cũng mô tả khuôn mẫu thường tái diễn trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, trước hết là A-tha-li, rồi đến Giô-ách trong IISu 24:1-16, rồi Giô-ách ở 24:17-27, đưa Y-sơ-ra-ên qua những thăng trầm giống như Sau-lơ, rồi đến Đa-vít và Sa-lô-môn, kế đến là Rô-bô-am.

Khi ảnh hưởng của Giê-hô-gia-đa không còn, thì Giô-ách bắt đầu thay đổi (17 so sánh câu 2).  Các quan trưởng Giu-đa, có thể thuộc phe cánh cũ của bà A-tha-li (7), tái xuất hiện, dẫn dụ vua và dân sự đi sai lạc (17-18).  Con trai của Giê-hô-gia-đa được linh cảm truyền rao cho Giô-ách một sứ điệp rõ ràng và thẳng thắn y như sứ điệp của các tiên tri khác, với những lời lẽ đặc thù của tác giả sách Sử Ký.  Nét đặc thù rõ rệt nhất là lìa bỏ (một từ trong nguyên ngữ): c.18 dẫn đến c.20, rồi đến c.24, kế đó là c.25, tất cả các câu này liên kết với nhau theo nguyên tắc ‘báo trả’.  Giô-ách ra lịnh ‘sát hại’ Xa-cha-ri (21, bản RSV) và giết ông này (22).  Rồi chính ông trở thành nạn nhân của một vụ âm mưu và bị giết (25).  Sự báo trả của Đức Chúa Trời là chuyện không thể tránh được.  Sự báo trả là chuyện phức tạp hơn nhằm nhắc dân Y-sơ-ra-ên về khả năng và tác dụng của sự ăn năn mà Đức Chúa Trời đã sai các tiên tri đến truyền dạy (19).

8. A-ma-xia (IISu 25:1-28)

Cũng như cha mình, A-ma-xia khởi đầu tốt nhưng kết thúc lại xấu.  Chuyện của A-ma-xia có điểm khác biệt rất bổ ích: trong khi Giô-ách cần người hướng dẫn vững vàng, thì A-ma-xia nhận được sự hướng dẫn rõ rệt và thẳng thắn của Đức Chúa Trời qua một tiên tri.  Việc này có chép trong IIVua 14:1-29, nhưng sách Sử Ký (15-16) viết đầy đủ hơn.

(IISu 25:1-13).  Khởi đầu tốt đẹp. Cụm từ lòng không được trọn lành có thể có nghĩa là lúc đầu A-ma-xia làm tốt nhưng  sau ông sai lạc.  Nhưng có lẽ lắm ngay từ đầu ông không vững lòng tin cậy Đức Chúa Trời như c.6,9 gợi ý.  Theo câu 4 chắc chắn ông cẩn thận giữ mình trong phạm vi của luật pháp (Phu 24:16), nhưng ông không trọn vẹn tin cậy Đức Chúa Trời nên đã gây ra những hậu quả đáng tiếc (xem câu 13 bên dưới).

IIVua 14:7 là cơ sở cho bài tường thuật chi tiết về chuyện A-ma-xia chiến tranh chống Ê-đôm.  Vì nhận thấy mình ít quân (so sánh IISu 14:8, phần ghi chú ngoài lề, 17:14-18) nên ông tuyển lính đánh thuê từ miền bắc.  Thế là vị tiên tri thứ nhất trong hai tiên tri ở đoạn này quở trách ông.  Kinh nghiệm của A-bi-gia (13:8-12) và A-sa (14:11) có thể cho ông biết lý do.  Ông than van là mất mát tiền bạc nếu ông hành động cho đúng.  Có lẽ đây là dấu hiệu về niềm tin nửa vời ở trong ông, nhưng dẫu sao ông cũng vâng lời sửa lại điều sai lầm.  Kết quả là một bài học đáng kể.  Thông thường sách Sử Ký đưa ra những trường hợp điển hình xảy ra rất đơn giản và cấp tốc để xác chứng cho luật nhân quả.  Vì thế ở đây chiến thắng là kết quả của lòng vâng phục (11-12).  Nhưng thường thì cuộc sống không giản đơn đến thế, lòng vâng phục của A-ma-xia cũng châm ngòi cho cơn giận của đội quân đánh thuê, vì họ mất cơ hội vơ vét của cải ở Ê-đôm - đó là động cơ chính khiến họ đăng ký đánh thuê - nên họ trút cơn giận lên Giu-đa (10,13), đánh giết dân chúng và cướp bóc của cải.  Tai hoạ có vẻ vô cớ (xem bình giải ở c.4) tương tự sự khốn khó mà Gióp đã phải trải qua, không có câu trả lời đơn giản theo hướng A-ma-xia đòi hỏi (7-9).  Vì vậy ông hoàn toàn hoài nghi đối với sứ điệp của vị tiên tri thứ hai.

(IISu 25:14-28).  Kết thúc xấu. Vị tiên tri thứ hai quở trách ông về việc du nhập các thần ngoại bang vào nước (15).  Coi như tiên tri không chỉ quở trách ông về hành động vô lý vô nghĩa (vì sao lại thờ những thần vừa mới làm cho dân của họ thất trận đắng cay?).  Có lẽ ông cho rằng vì các thần đó đã về phe với ông nên ông mới chiến thắng.  Ông gạt bỏ lời khuyên chí lý đó để tìm đến những lời khuyên tâm đắc (16-17 so sánh với Rô-bô-am 10:8 và A-háp 18:7) rồi lao vào cuộc chiến tranh thứ hai, lần này chống lại Y-sơ-ra-ên.  Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến này: A-ma-xia ao ước trả thù đội quân đánh thuê Y-sơ-ra-ên về sự tàn phá do họ gây ra (13), thái độ tự tin thái quá sau chiến thắng lần thứ nhất (19, Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên thấy rõ thái độ này) và có lẽ Đức Chúa Trời nhằm trừng phạt về tội ‘tìm kiếm’ các thần Ê-đôm (20 so sánh các câu 15-16).  Hậu quả là Y-sơ-ra-ên xâm chiếm chiến thắng và bắt A-ma-xia đem về nước, còn Giê-ru-sa-lem bị cướp phá (21-24).

Câu 25 phản ảnh một tình huống đặc biệt khác thường (xác định thời gian của miền nam có liên quan đến miền bắc).  A-ma-xia bị bắt giam ở Sa-ma-ri trong mười năm, cho đến khi Giô-ách băng hà, ông mới được trở về Giê-ru-sa-lem tiếp tục trị vì thêm mười lăm năm nữa.  Trong lúc đó dân Giu-đa lâm vào một tình trạng xưa nay chưa từng thấy: đó là có vua mà như không, nên họ lập con trai ông là Ô-xia lên làm nhiếp chính, (26:1).  Những kẻ mưu sát ông đã lập lại bản án của Giô-ách, cha ông (24:25) và cũng chứng tỏ rằng sự báo trả không phải lúc nào cũng nhãn tiền - trong trường hợp này, dường như họ ấp ủ mưu đồ này ít nhất là hai mươi lăm năm (27).

9. Ô-xia (IISu 26:1-23)

Trong sách Các Vua ông tên là A-xa-ria, nghĩa là ‘Đức Giê-hô-va cứu giúp’, ở đây Ô-xia nghĩa là ‘Đức Giê-hô-va mạnh sức’.  Đặc biệt tên riêng này phù hợp với bài tường thuật của tác giả, trong bài dù có đề cập nhiều đến sự cứu giúp, nhưng đề cập sức mạnh nhiều hơn (so sánh câu 8).  Khi cha ông bị bắt, ông lên làm nhiếp chính lúc mười sáu tuổi.  Mười năm sau, cha ông trở về, ông đồng cai trị với cha.  Mười lăm năm sau A-ma-xia bị ám sát, ông cai trị một mình trong hai mươi bảy năm còn lại của thời trị vì lâu dài.  Trong thời gian này ông đánh chiếm và phục hồi Ê-lốt (1-2).  Thành tích này chứng tỏ Đức Chúa Trời hài lòng về ông, còn khi ông bị bệnh phung vào lúc cuối đời (21), chứng tỏ Đức Chúa Trời bất mãn về ông, và sách Các Vua hầu như chỉ viết về Ô-xia với hai sự việc này (IIVua 14:21-22  15:1-7).  Điều này cho thấy đây cũng là một triều vua khởi đầu tốt đẹp và kết thúc buồn thảm như hai triều vua trước.  Xa-cha-ri ảnh hưởng tốt trên giai đoạn đầu thời trị vì của Ô-xia, làm chúng ta nhớ lại trường hợp của Giô-ách (chịu ảnh hưởng của Giê-hô-gia-đa, so sánh câu 5 với IISu 24:2).  Tuy nhiên, Ô-xia là vua vĩ đại hơn Giô-ách lẫn A-ma-xia.  Lịch sử cho chúng ta biết ông và Giê-rô-bô-am II, vị vua đồng thời ở miền bắc, thực sự có thế lực và thạnh vượng, nhờ gặp thời siêu cường quốc A-si-ri suy sụp.  Kinh Thánh cho chúng ta biết Ê-sai được ban cho khải tượng Chúa ngồi trên ngai ‘vào năm vua Ô-xia băng hà’ (Es 6:1), khải tượng này đánh dấu chung cuộc của thời trị vì dài năm mươi hai năm và kết thúc một kỷ nguyên quan trọng.

(IISu 26:1-15).  Khởi đầu tốt đẹp. Công trình xây dựng Ê-lốt là dấu chứng cho biết Đức Chúa Trời ban phước và cũng làm chứng về Ô-xia có đạo đức tâm tánh tốt nên Đức Chúa Trời ban phước.  Như vậy là lãnh thổ được nới rộng, thương mại phát triển mạnh hơn lúc nào hết kể từ thời Sa-lô-môn (IISu 8:17-18).  Mọi việc đó chứng tỏ Ô-xia là người có khải tượng.

Sách Sử Ký mô tả nhân cách của ông là nền tảng cho các thành tựu đó: khi so sánh ông với A-ma-xia, tác giả không có ác ý chỉ trích A-ma-xia (4) nhưng tập trung vào những việc tốt lành mà vua đã thực hiện tác giả dùng cụm từ ‘tìm kiếm Đức Chúa Trời’ (5) để cho biết lòng sốt sắng của cá nhân Ô-xia, và lời chỉ dạy của Xa-cha-ri trong cùng một câu này cho thấy Ô-xia thật sự khiêm nhường chịu tiếp nhận lời khuyên tốt.  Kết quả là vô số phước hạnh đến với dân sự qua con người nhìn xa thấy rộng này.  Phước hạnh không chỉ tập trung trong lãnh vực quân sự, nhưng cũng nằm trong lãnh vực nông nghiệp là nền tảng cho đời sống kinh tế dân tộc (6-15).  Căn bản cho tất cả những điều đó là ba từ then chốt được lặp lại hai lần (7-8,15).  Đó là: giúp đỡ, danh tiếng, cường thạnh (hoặc đầy sức mạnh).

(IISu 26:16-23).  Kết thúc xấu Quyền lực của Ô-xia (‘mạnh mẽ trong Chúa’) đẩy ông đến chỗ sụp đổ (16) sách Các Vua cho chúng ta biết ông bị bệnh phung, còn sách Sử Ký cho biết thêm về nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này.  Việc đốt hương trong đền thờ (16) là nhiệm vụ đặc biệt của các thầy tế lễ (Xu 30:1-10).  Chính vì khinh thường qui định này mà vị vua đầu tiên ở miền bắc bị lên án (IVua 12:28-13:5).  Thử đốt hương thôi cũng đủ phạm tội rồi (18), lại còn giận dữ khi bị khiển trách, vì vậy mà Ô-xia bị hình phạt (19)

Sự báo trả không thể đến nhanh hơn nữa.  Nhưng trong trường hợp này có nhiều điểm khác những trường hợp trước.  Ông không bỏ Đức Chúa Trời như bao nhiêu người khác trước ông.  Ông đi vào tận trong chỗ đầu não thâm cung nhất của tín ngưỡng Y-sơ-ra-ên, rồi tại đó, chớ không phải đâu khác, hành động của ông bộc lộ sự bất trung trong nội tâm (18).  Ông không thể đổ lỗi cho tuổi trẻ non nớt, ông là một người dày dạn kinh nghiệm.  Chứng bịnh hành hạ ông không phải là bịnh phung theo nghĩa thông thường thời nay, nhưng đây là một tình trạng của da, không cho phép ông xuất hiện trước đám đông ở Y-sơ-ra-ên.  Ông không được đến đền thờ và cung điện (21), không phụng sự dân chúng trong suốt quãng đời còn lại.  Lời của Phao-lô trong ICo 9:27 cũng gói ghém một sự cảnh cáo rất xác đáng.

10. Giô-tham (IISu 27:1-9)

Giô-tham làm như Ô-xia, cha mình đã làm (2), ông không thất bại như Ô-xia lúc cuối đời.  Thời trị vì của ông rất giống với thời trị vì của cha ông trong cuộc sống một cách tổng quát, trong nếp sống công nghĩa, trong tầm ảnh hưởng và thế lực đạt được (6).  Ông xây dựng thành phố, thôn quê.  Ông thắng trận và nhận triều cống từ các nước ngoài.  Tác giả nêu cao những dấu chứng về phước hạnh, bỏ qua sự kiện kém sáng sủa  là cuộc tấn công của Y-sơ-ra-ên (so sánh IIVua 15:37).  Ông viết toàn những chuyện tốt đẹp, tươi sáng trong thời Giô-tham cho tới nỗi qua một thời gian 170 năm kể từ thời vua A-bi-gia, Giô-tham là vị vua đầu tiên không lưu lại một điểm xấu nào trong lịch sử.  Sau ba đời vua liên tiếp với thời đầu tốt đẹp và kết thúc xấu trước đây, thì Giô-tham là vua đầu tiên trong ba đời vua có sắc thái đơn thuần nhưng chẳng may triều đại của con trai ông hoàn toàn thảm bại.

Cụm từ còn dân sự (2) khiến cho vị vua công nghĩa càng nổi bật lên.  Sách Sử Ký không chỉ viết về thời trị vì của các quốc vương đã chứng minh cho nguyên tắc giản đơn là vâng lời thì được thưởng còn bất phục thì bị trừng phạt..  Trong thời vua Giô-ram (IISu 21:19-20) và A-tha-li (23:21) đã có những người dân tốt bất mãn với nhà vua tồi tệ, còn giờ đây dân lại thối nát mặc dù có vua tốt.  Vì vậy, dân tộc vẫn được ban phước vì cớ đời sống công nghĩa của Giô-tham, và không bị đoán phạt tội lỗi cho đến chừng ‘đấng ngăn trở ... bị đem đi khỏi’ (IITe 2:7).  Khi A-cha lên ngôi, sự suy đồi của vua cũng như của dân sự nhanh chóng biểu lộ.  Môi-se đã báo trước về sự suy đồi của họ rằng: ‘Chớ có tự khoe nơi lòng mình rằng ta sẽ được cứu dù ta đi theo sự cứng lòng của ta’ (Phu 29:19).  Tự hào như vậy là sai lầm nghiêm trọng (xem bên dưới).

11. A-cha (IISu 28:1-27)

Tác giả sách Sử Ký viết lại bài tường thuật trong IIVua 16:1-20, và làm nổi bật nét tương phản giữa cha và con.  Đang kể về Giô-tham không tì vết, đột nhiên ông viết về A-cha, một vị vua chẳng có một điểm nào tốt đẹp cả thậm chí ông còn tệ hơn ba vị vua thời A-tha-li trước đó một thế kỷ.  Bản tường thuật này xoáy mạnh vào lòng bất trung của ông (22) và cho biết sự thờ phượng các thần của dân ngoại bang đã thay thế sự thờ phượng Đức Chúa Trời (24-25).  Giờ đây lòng bất trung của dân sự cũng bộc lộ công khai, và theo lời tiên tri của Môi-se, hậu quả xảy ra là họ bị ‘nhổ ... và bị ném vào một xứ khác’ (Phu 29:28).  Như vậy, triều vua A-cha vừa gợi nhớ lòng bất trung của vương quốc miền bắc lúc bắt đầu ly khai, đồng thời báo trước cuộc lưu đày sẽ xảy ra trong 130 năm nữa.

Chẳng mấy khi tác giả viết về vương quốc miền bắc, nhưng ở đây tác giả trình bày hai diễn biến ở miền bắc.  Vì đã từ khước quyền cai trị của nhà Đa-vít lâu đời rồi nên cuối cùng các vua Y-sơ-ra-ên bị quân A-si-ri đánh bại và bắt đi lưu đày.  Đúng ra, tác giả không đề cập đến biến cố đó, nhưng chỉ cho biết miền bắc bây giờ không có vua.  Tuy nhiên, khác với các vua của họ, dân chúng miền bắc vẫn là một ‘cộng đồng’ và họ ăn năn tội lỗi khi Đức Chúa Trời sai tiên tri đến cáo trách tội lỗi của họ.

Như vậy, miền nam bây giờ tồi tệ như miền bắc ngày xưa, còn miền bắc sẵn lòng hưởng ứng sự cải chánh như miền nam trước đây.  Lòng người sẵn sàng cho Ê-xê-chia nhập cuộc, một Sa-lô-môn thứ hai, và cho sự phục hồi của ‘toàn thể Y-sơ-ra-ên’.

(IISu 28:1-8).  Cảnh tù đày Xưa nay không có vị vua nào tệ hại như A-cha.  Trừ câu 1a ra, tác giả không có lời dẫn nhập nào.  Bốn câu đầu kể tội bất trung của ông càng ngày càng nặng.  Các tội đó còn ghê tởm hơn tội của dân Ca-na-an, trong khi vì cớ tội lỗi quá mà dân Ca-na-an bị trục ra khi Y-sơ-ra-ên đến xứ Ca-na-an (3) thì chẳng có gì lạ khi đến phiên người Giu-đa cũng bị trục ra khỏi xứ như vậy (5,8).

Các đợt tấn công của A-ram và Y-sơ-ra-ên, dù theo IIVua 16:5-9 thì không thắng, nhưng cũng đủ gây tác hại để tác giả sách Sử Ký xây dựng quan điểm của mình.  Về một mặt, đợt lưu đày này là điềm báo trước cho cuộc lưu đày lớn hơn nữa sắp đến.  Về mặt khác, các câu 5-6 coi như phản ảnh lời nói của A-bi-gia trong IISu 13:11-12 và 15-17: vì họ từ bỏ Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, nên họ bị thất trận, bị chém giết và bị nộp vào tay kẻ thù - Y-sơ-ra-ên thể nào, Giu-đa cũng thể ấy.

(IISu 28:9-15).  Các nước láng giềng Về nhiều mặt, cảnh tượng ở Sa-ma-ri rất đáng chú ý.  Trước hết chẳng những tại đó có một vị tiên tri thật, mà lời nói của ông còn có uy tín nữa (9,13).  Kế đến là thực tế hiện trái ngược với lời tự hào của vua A-bi-gia xưa kia, chứng tỏ là Giu-đa cũng đáng tội như Y-sơ-ra-ên xưa kia vậy (xem câu 5-6 ở trên).  Tuy nhiên, vị tiên tri không có ý nói giờ đây Y-sơ-ra-ên không đáng trách, trái lại, Đức Chúa Trời nổi giận với cả hai vương quốc (9,11,13).  Sau đó là sự xuất hiện của các nhà lãnh đạo ở Sa-ma-ri (12) cho biết chế độ quân chủ đã kết thúc ở miền bắc nhờ đó con đường hiệp nhất với ‘các anh em’ ở miền nam đã mở ra cho dân chúng miền bắc (8,11,15 bản NIV làm cho điểm này yếu hẳn khi dùng từ bà con và người đồng hương so sánh 11:4).  Câu 13 chẳng những bày tỏ sự hối tiếc về vụ này mà còn gợi ý về sự thể toàn dân miền bắc cảm thấy có lỗi trong vụ này.  Cuối cùng hành động tốt trong câu 15 liên hệ đến dân chúng ở Sa-ma-ri và Giê-ri-cô báo trước một hành động thiện tâm trong chuyện ẩn dụ của Chúa Giê-xu ở Lu 10:25-37.  Cả hai vụ này bày tỏ ân điển của Đức Chúa Trời có thể làm cho dân của Ngài phải kinh ngạc, bối rối như thế nào.

(IISu 28:16-27).  A-cha cầu viện A-si-ri Như vậy, miền bắc vẫn còn hi vọng, trong khi đó vương quốc Giu-đa của vua A-cha suy sụp tới mức thấp nhất.  Các đợt tấn công của dân Phi-li-tin làm chúng ta nhớ lại thời Sau-lơ, và trong tình cảnh này thì chỉ có vua thật của Đức Chúa Trời mới cứu được dân tộc (hồi đó là Đa-vít và sau này là Ê-xê-chia).  Nhưng hiện nay dân sự và vua đều phản loạn (19), và bởi vì họ không chịu tìm kiếm sự giúp đỡ từ Đấng duy nhất có thể giúp đỡ họ, nên chẳng có gì lạ khi A-si-ri gây khó khăn cho A-cha thay vì giúp đỡ (16,20,21).  Cuối cùng ông kêu cầu các thần ngoại bang, thậm chí ông còn đóng cửa đền thờ (22-25), và như vậy miền nam đã rơi vào một tình trạng tương tự như miền bắc khi xưa (IISu 13:8-9).  Tuy nhiên, vẫn còn một tia hi vọng, ấy là lúc ông chết có người vẫn còn sáng suốt không chôn cất ông trong lăng tẩm của các vua (27).

12. Ê-xê-chia (IISu 29:1-32:33)

Kinh Thánh vể chuyện về Ê-xê-chia theo hai cách khác nhau.  Khi tác giả sách Sử Ký viết lại chuyện trong sách Các Vua, ông triển khai bốn câu viết về cuộc cải tổ tôn giáo của Ê-xê-chia (IIVua 18:3-6) thành tám mươi bốn câu (IISu 29:1-31:21) và rút gọn phần cuối (IIVua 18:7-20:21) còn 1/3 (IISu 32:1-33).  Ông làm như vậy không phải chỉ vì ông quá quan tâm đến đền thờ.  Trong chương 28, ông ám chỉ đến sự đe doạ gia tăng liên tục của A-si-ri.  Thời kỳ A-si-ri suy nhược đến độ vua Ô-xia có thể lợi dụng cơ hội đó để bành trướng thế lực của mình đã qua lâu rồi.  Hiện nay A-si-ri đang càn quét các nước nhỏ ở vùng Cận Đông, kể cả Y-sơ-ra-ên nữa.  Cho nên, khi đọc ba chương đầu viết về Ê-xê-chia, chúng ta nên đặt vào bối cảnh của một cuộc xân lăng cận kề (32:1).

Trong thời trị vì của A-cha, Giu-đa đang ở bên bờ vực sụp đổ, còn Y-sơ-ra-ên đã tan nát.  Thời trị vì của Ê-xê-chia mở một cơ hội mới cho cả hai vương quốc, y như lúc thời trị vì của Sau-lơ kết thúc.  Trong phân đoạn này cụm từ như tổ phụ Đa-vít đã làm (29:2) lẫn toàn bộ đoạn 29-31 gợi nhớ nhiều về thời kỳ của Sa-lô-môn vì có nhiều điểm và việc làm tương đồng với các việc làm của Sa-lô-môn trong các chương 7-9. Đối với tác giả, Ê-xê-chia là vị vua vĩ đại nhất trong triều đại Đa-vít kể từ thời hoàng kim đó.

(IISu 29:1-19).  Thanh tẩy đền thờ Trong khi Giô-tham được ví sánh với Ô-xia, Ô-xia được ví sánh với A-ma-xia (IISu 27:2  26:4), thì Ê-xê-chia được ví sánh với Đa-vít trước đó mười ba đời (2) và từ câu 3 trở đi, những hoạt động của ông rõ ràng rất giống với những việc làm của Sa-lô-môn.  Có lẽ công cuộc này được khởi sự vào ngày mồng một đầu tiên của năm đầu tiên thời trị vì, thay vì ngay sau khi Ê-xê-chia lên ngôi (3,17).  Vào dịp này, ông long trọng nói chuyện với các nhà lãnh đạo tôn giáo - tức những người Lê-vi (5) - ông kêu gọi họ tu sửa lại những hư hỏng trong đền thờ do A-cha gây ra.  Vì sợ tai hoạ nên A-cha quay sang thờ các thần khác.  Nhưng Ê-xê-chia tuyên bố rõ ràng lòng bất trung là nguyên nhân chính dẫn đến hoạn nạn bao gồm nỗi sợ hãi, kinh hoàng và sự khinh miệt (8), như Giê-rê-mi đã viết trong Gie 29:18, và lần đầu tiên cả miền nam và miền bắc (9) đều nếm biết cảnh lưu đày.  Giờ đây có người trung tín lãnh nhiệm vụ làm vua và có người trung tín cai quản đền thờ nên đất nước tránh được cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (10-11).  Tất cả những vật đã làm ô uế đền thờ đều bị đốt đi trong thung lũng phía đông thành Giê-ru-sa-lem (16  IISu 15:16).  Công việc thanh tẩy kéo dài đến mười sáu ngày (17, xem phần bình giải 30:3 bên dưới)

(IISu 29:20-36).  Lập lại sự thờ phượng tại đền thờ Nghi lễ mở cửa đền thờ bắt đầu bằng cách dâng của-lễ (20-24) của-lễ chuộc tội nhằm tẩy sạch quá khứ, và của-lễ thiêu nhằm biệt riêng tương lai ra thánh.  Các câu 21 và 24 có thể ám chỉ của-lễ chuộc tội dâng lên để chuộc tội cho ngai vua, đền thờ và dân tộc (thuộc miền nam), nhưng Ê-xê-chia dâng của-lễ chuộc tội cho cả hai vương quốc.  Kế đến tác giả mô tả sự ca ngợi của những người thờ phượng (25-30), mục ca ngợi này diễn ra cùng lúc với mục của-lễ thiêu (27).  Sau đó, toàn thể hội chúng đem dâng lễ vật (31-36).  Vào các kỳ lễ tương tự trong thời Môi-se, Đa-vít và Sa-lô-môn, tinh thần sẵn sàng dâng hiến, dâng hiến cách rộng rãi và vui mừng đều là nét đặc thù.  Ai ai cũng nhận thấy chính Ê-xê-chia khởi động phong trào quần chúng này.  Rồi ông giảng giải các lời tiên tri đã nói (kể cả Đa-vít!).  Những lời này là lời của Đức Chúa Trời (25) tất cả mọi việc đều do Đức Chúa Trời đưa đẩy khiến xảy ra (36).

(IISu 30:1-12).  Kêu gọi giữ Lễ Vượt Qua  Sau khi đền thờ mở cửa lại, kỳ lễ hằng năm đầu tiên được tổ chức trong đền thờ là Lễ Vượt Qua.  Sách Các Vua không đề cập đến lễ này cho nên một số người cho rằng tác giả sách Sử Ký bịa ra để binh vực cho sinh hoạt ở đền thờ vào thời của ông và để tăng phần vĩ đại cho bức tranh về Ê-xê-chia.  Nhưng chẳng một ai có cơ sở để chứng minh chuyện này.  Trong khi đó, nội dung của chương này hoàn toàn phù hợp với nỗ lực của vua Ê-xê-chia trong việc hợp nhất nhân dân bắc nam qua kỳ lễ.  Vì thế, hơn mọi kỳ lễ khác, Lễ Vượt Qua thích hợp để khai mở một giai đoạn mới cho dân tộc (5).  Không phải bỗng dưng mà vua quyết định lễ vào tháng hai thay vì vào tháng một, như kiểu Giê-rô-bô-am khi ông khởi xướng một tôn giáo khác cho vương quốc phía bắc khi miền bắc ly khai khỏi miền nam (IVua 12:32-33).  Ai nấy đều nhất trí rằng trong nhiều mặt, không thể chuẩn bị kịp để giữ lễ đúng ngày qui định (IISu 3:1-17  29:17).  Vì vậy, họ vận dụng điều khoản của luật pháp nhân nhượng cho giữ Lễ Vượt Qua muộn hơn một tháng (Dan 9:9-11).  Điều khoản này áp dụng cho những người ‘bị ô uế’ về mặt nghi thức, thí dụ như chạm đến xác chết, hoặc sống xa nhà - vận dụng điều khoản này là rất đúng đối với một dân tộc xa cách Đức Chúa Trời và bị ô uế vì tiếp xúc với tà đạo.

Lời lẽ của bài kêu gọi (6-9) rất tương tự với những lời vua nói chuyện với các cấp lãnh đạo tôn giáo (IISu 29:5-11).  Bài kêu gọi này hướng về tất cả dân Y-sơ-ra-ên (6, bản RSV) ở miền nam lẫn miền bắc.  Trong khi tác giả sách Sử Ký xoáy mạnh vào sự thưởng phạt nhãn tiền thì một khía cạnh tích cực lộ rõ.  Đó là mỗi thế hệ có cơ hội khởi đầu một cách mới (8).  Dân chúng ở miền bắc không nhất trí hưởng ứng sự kêu gọi của vua Ê-xê-chia.  Còn với số người hưởng ứng đến dự lễ thì chính là ân điển của Đức Chúa Trời đã đem họ về (nói theo như 29:36).

(IISu 30:13-27).  Cử hành Lễ Vượt Qua Họ giữ lễ Bánh Không Men và Lễ Vượt Qua chung với nhau.  Tên của một trong hai lễ đều có thể chỉ về cả hai lễ.  Có thể các thầy tế lễ hổ thẹn về nhiều điều (15).  Dù vì lý do gì đi nữa sự kiện này đặt nặng nhu cầu có sự lãnh đạo của vua, đồng thời cũng nhắc nhở rằng trong đường lối làm việc của Đức Chúa Trời thì cả vương quyền lẫn chức tế lễ đều cần thiết.  Những điểm bất thường trong nghi thức hành lễ trong 15-20 (tin chắc tác giả không bịa thêm làm gì, xem bình giải 30:1-12) là tất nhiên trong hoàn cảnh lạ thường hi hữu này, tức là chỉnh trang đền thờ và thống nhất dân tộc.  Nhưng Ê-xê-chia vượt lên trên nghi thức (như một Sa-lô-môn thứ hai), ông vượt qua chữ nghĩa để nhìn thấy tinh tuý của luật pháp, ông căn cứ theo 7:14 mà cầu nguyện cho dân sự.  Ông cũng nhắc lại những câu đó trong câu 27, là đỉnh điểm của lời cầu nguyện này.  Giữ lễ thêm bảy ngày nữa ở câu 23 khiến chúng ta nhớ lại kỳ lễ khánh thành đền thờ đầu tiên (7:8-10) và đây là lần đầu tiên kể từ thời Sa-lô-môn, các đại diện của toàn thể Y-sơ-ra-ên đến tham dự.

(IISu 31:1-10).  Dâng hiến rộng rãi Cuối cùng họ dẹp bỏ các thần tượng giả đối, là thần hứa cuội về sự thịnh vượng nhưng không có khả năng thực hiện (1).  Nhờ trở lại với Đức Chúa Trời, Đấng chân thần mà họ có thể dâng hiến rộng rãi.  Ê-xê-chia dự trù là tiếp tục thờ phượng Đức Chúa Trời theo như vừa khôi phục các tốt đẹp.  Giống như Đa-vít và Sa-lô-môn (ISu 23:1-26:32  IISu 8:12-14) ông bổ nhiệm các thầy tế lễ và ấn định công tác cho người Lê-vi.  Ông cũng phân phát những vật dụng cần thiết cho họ thực hiện nhiệm vụ (ISu 29:3  IISu 9:10-11).  Ông cũng yêu cầu dân sự cung ứng trợ cấp cho họ (2-4).  Cũng như các dịp lễ quan trọng trước đây, dân sự dâng hiến rộng rãi, và không giảm sút theo thời gian.  Đền thờ mở cửa vào tháng thứ nhất, đến tháng thứ hai, họ kỷ niệm Lễ Vượt Qua, tháng thứ ba họ bắt đầu thu hoạch thóc lúa (Lễ Ngũ Tuần) đến tháng thứ bảy xong mùa thu hoạch nho (Lễ Lều Tạm, 5-7).  Ê-xê-chia chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên, như ông tổ vĩ đại của ông đã từng làm (8  6:3  ISu 16:2) về tấm lòng dâng hiến rộng rãi mà chính họ đã chứng kiến (10  29:6-9 so sánh Xu 36:2-7).

(IISu 31:11-21).  Quản trị trung thành Khi dân sự đã bằng lòng ‘trợ cấp cho người phục vụ’, Ê-xê-chia quay sang vấn đề kho chứa (11-13), sự phân phối đến các thành (14-18) và các vùng nông thôn (19).  Dù có vẻ tầm thường nhưng công việc quản trị cũng là việc phục vụ đền thờ tương đương như những công việc khác trong đền thờ (21) nên được thực hiện cách hết lòng như bất cứ công tác nào khác.  Thói quan liêu cũng dễ trở nên kẻ thù của đời sống thuộc linh, nhưng có sự khác biệt giữa một cách thức quản trị gây cản trở cho đời sống thuộc linh với cách thức quản trị tốt đẩy mạnh sự phát triển thuộc linh.

(IISu 32:1-23).  Cuộc xâm lăng của A-si-ri Ê-xê-chia lên ngôi làm vua ‘vì cớ cơ hội hiện lúc này’ (Et 4:14) - cơ hội trong hai mặt.  Về mặt quốc gia, đây là thời điểm thần hựu để vua khôi phục đức tin cho dân chúng ở miền bắc và miền nam.  Về mặt quốc tế, bộ máy chiến tranh của người A-si-ri đã tiến đến trước cổng, và các chiến dịch của IIVua 18:17-19:36 mà tác giả kể rút gọn lại thành một cuộc tấn công duy nhất đang đe doạ phá huỷ xứ Giu-đa, một thực thể chính trị.  Chương này chủ yếu viết về mối đe doạ này và chúng ta phải hiểu chương này trong tầm ảnh hưởng của các cuộc cải tổ tôn giáo chép trong các chương 29-31.  Sách Các Vua xác định thời gian vào năm thứ mười bốn đời vua Ê-xê-chia (IIVua 18:13), còn sách Sử Ký lại viết rằng cuộc tấn công này xảy ra sau khi Ê-xê-chia trung tín thực hiện mọi điều (1).

Cuộc tấn công này gặp phải sức kháng cự mãnh liệt (2-8).  18:14 không phải là một biểu thị của lòng sợ hãi mà là một cách kéo dài thời gian để tổ chức hệ thống phòng thủ chép trong IISu 32:1-8.  Đối với một số người tại Giê-ru-sa-lem thì đây là một phương án tự lo thay vì tin cậy Đức Chúa Trời (Es 22:8-11), nhưng đối với Ê-xê-chia thì đây là hình thức biểu lộ sự tin cậy nơi Ngài.  Nội dung những lời nhắn gửi của San-chê-ríp (9-15) chứng tỏ ông hiểu biết về kẻ thù quá ít.  Điều ông cho là sỉ nhục Đức Chúa Trời thì lại là tấm lòng vâng phục Ngài (12).  Thực sự người A-si-ri mới là người sỉ nhục Đức Chúa Trời (16-19, nhắc lại Thi 2:2), vì họ xúi giục dân của Ngài tin rằng chắc chắn giờ đây Đức Chúa Trời sẽ không ra tay binh vực cho danh của Ngài nữa.  Chính vì vậy mà lời cầu nguyện trong câu 20 được thiên sứ huỷ diệt trả lời (so sánh ISu 21:15  Xu 12:12) bằng cách giáng một tai hoạ không rõ tính chất là thế nào, nhưng lịch sử thế gian có ghi lại tai hoạ này và vụ mưu sát San-chê-ríp.  Chú ý đến cách thức của sự báo trả cho việc thiện, việc ác, cùng cách thường thuật về mỗi trường hợp.  Để thưởng cho công cuộc cải tổ trước đó mười bốn năm (như đã nói ở trên), Đức Chúa Trời ban phước cho Ê-xê-chia bằng cách giải vây cho ông.  Còn San-chê-ríp bị hình phạt vì tội xâm lăng xứ Giu-đa hai mươi năm về trước.  Sách sử Ký rút gọn toàn thể câu chuyện, và kết thúc câu chuyện bằng những dấu chứng đặc trưng cho biết Đức Chúa Trời vui lòng, dân Y-sơ-ra-ên được hưởng thanh bình (22) và Ê-xê-chia được nổi danh (23).

(IISu 32:24-33).  Cuối triều vua Ê-xê-chia Có thể các biến cố này xảy ra cùng lượt với các biến cố vừa mô tả, thay vì xảy ra sau: ‘vào lúc này Ê-xê-chia lâm bệnh ...’.  Giống như phân đoạn trước, qua phần mô tả về vị vua vĩ đại nhất kể từ Sa-lô-môn, tác giả khuyến cáo chúng ta không nên xem thường luật thưởng phạt.  Không thấy tác giả viết về một tội lỗi nào khiến cho vua lâm bệnh (24a).  Trái lại ông được chữa lành nhờ cầu nguyện và có một dấu hiệu cho biết vua sắp lành (24b tác giả kể như chúng ta đã am tường IIVua 20:1-11).  Sự kiêu ngạo dẫn đến cơn thạnh nộ (25), có lẽ là cuộc xâm lăng vừa mô tả ở trên, nhưng lòng hạ mình dẫn đến sự rút lui của quân xâm lăng (26).  Ê-xê-chia cao trọng như Sa-lô-môn (27-29).  Sự khôn ngoan Đức Chúa Trời ban cho ông được cụ thể hoá qua hệ thống dẫn nước ngầm nổi tiếng chẳng bao giờ cạn, dẫn nước thẳng vào thành phố.  Đây là ‘dòng nước Si-lô-ê mà cha ông chê, từ khước vì không tin cậy Đức Chúa Trời (30, Es 8:6).  Tuy nhiên, ông vẫn có thể thất bại khi bị thử nghiệm, như lúc sứ giả người Ba-by-lôn đến, bề ngoài có vẻ như quan tâm đến dấu lạ thiên văn mà Đức Chúa Trời ban cho ông, nhưng cũng có thể họ thăm dò tìm kiếm liên minh chính trị (31  IIVua 20:12-19).  Dầu vậy khi nói về cái chết của Ê-xê-chia, tác giả mô tả ông là một người xuất chúng và ngay lành.

(IISu 33:1-20).  Ma-na-se.  IIVua 21:1-9 vạch trần tất cả sự nhu nhược của Ma-na-se.  Còn những chi tiết sách Sử Ký bổ sung chỉ xoáy thêm vào thôi.  Ông và cha ông tương phản nhau rõ rệt, cũng như cặp Giô-ram và A-cha vậy: một bên tốt, một bên xấu, rồi một bên rất tốt, một bên rất tệ.  Nhưng tác giả sách Sử Ký trình bày hình ảnh khác.  Chuyện Ma-na-se ăn năn thay đổi trình tự trên.  Thay vì trình bày hậu quả về lâu về dài của một thời trị vì hoàn toàn tội lỗi, tác giả trình bày hậu quả nhãn tiền về những tội lỗi trong phân nửa đầu thời trị vì.  Và như vậy trong cùng một đời vua chúng ta thấy kiểu mẫu của A-cha rồi đến kiểu mẫu của Ê-xê-chia, rồi cũng phản ảnh một cặp tương phản trong thời lịch sử xa xưa, đó là Đa-vít kế tiếp Sau-lơ, và báo trước thời kỳ tương lai là khi sự phục hồi kế tiếp cảnh lưu đày.

(IISu 33:1-9).  Tội lỗi của Ma-na-se. Người ta thường tưởng rằng một triều vua lâu dài như vậy, thậm chí còn lâu dài hơn cả triều vua Ô-xia, là dấu hiệu về phước hạnh từ Đức Chúa Trời.  Vì thế dường như thời gian trị vì có vẻ không phù hợp với vị vua độc ác, xấu xa theo như sách Các Vua mô tả.  Vì vậy chẳng có gì lạ khi tác giả sách Sử Ký viết thêm các câu 11-20.  Nhưng trước hết tác giả mô tả vua độc ác còn hơn cả ông nội mình là A-cha, ông tin phù thuỷ, bói khoa, đền thờ trước đây chỉ bị đóng cửa, giờ đây thực sự bị làm ô uế (so sánh Phu 18:9-13).  Chắc chắn Ma-na-se theo những thói tục này không phải chỉ vì ông đã sa đoạ mà ông xem tôn giáo là phương tiện để đạt được ý đồ chính trị, đó là củng cố địa vị của mình.  Ông không chịu học bài học lịch sử để nhận biết đó là con đường ngắn dẫn đến cảnh mất nước (2, 8).  Thậm chí ông còn ngu dại hơn người Ca-na-an trong hành động tự huỷ diệt này (9).

(IISu 33:10-20).  Ma-na-se ăn năn. Tội lỗi của Ma-na-se nhiều và trầm trọng đến độ sách Các Vua nói về lâu về dài, năm mươi năm sau khi ông qua đời, tội lỗi đó chắc chắn sẽ huỷ hiệt Giu-đa và Giê-ru-sa-lem (IIVua 23:26-27  24:3-4).  Tác giả sách Sử Ký quan tâm đến các hậu quả trước mắt nhiều hơn, đỉnh điểm là tội không vâng theo lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời (10), nên lập tức sự nhục nhã xảy ra ở câu 11.  Rõ ràng cảnh tù đày này báo trước chuyện dân Y-sơ-ra-ên sẽ bị đế quốc Ba-by-lôn bắt làm phu tù trong một thời gian dài.  Có nhiều bằng chứng cho biết trong thời trị vì của mình, Ma-na-se bị bắt buộc phải thần phục A-si-ri, nhưng nhiều lần ông làm phản nên bị trừng phạt.

Cuộc cải tổ diễn ra sau khi ông ăn năn là dấu hiệu đặc thù về phước hạnh của Đức Chúa Trời (14-17).  Bài cầu nguyện của Ma-na-se (18-19, so sánh 13) bây giờ không còn nữa còn bài cầu nguyện của Ma-na-se trong sách Nguỵ Kinh có vẻ như được biên soạn thêm về sau.  Trong Tân Ước có một câu Kinh Thánh rất phù hợp với trường hợp này.  Đó là câu Phao-lô viết về lòng thương xót của Đức Chúa Trời đối với ‘người nặng tội nhất’ trong ITi 1:15-16.

(IISu 33:21-25).  Am-môn Đây là bài tường thuật ngắn nhất trong sách Sử Ký và phần tường thuật này chẳng khác gì phần phụ đính cho bài tường thuật trước.  Sách Sử Ký kể lại chuyện Am-môn phá huỷ công trình của Ma-na-se trong phân nửa thời trị vì, đồng thời kể lại chuyện Giô-si-a, con trai Am-môn điều chỉnh những lỗi lầm của Am-môn.  Sách Các Vua thì coi như Am-môn cộng thêm tội của mình vào tội của Ma-na-se, còn Giô-si-a điều chỉnh lại những sai lầm của hai triều vua đó.  Chúng ta không biết thêm gì nữa về âm mưu trong câu 24 và không biết chắc chắn ai là dân bản xư trong câu 25.

13. Giô-si-a (IISu 34:1-35:26)

IISu 34:1-33

Phần tường thuật về Giô-si-a trong sách này dài tương đương với phần tường thuật trong sách Các Vua (IIVua 22:1-23:30), nhưng nhấn mạnh vào những điểm khác mặc dù tác giả cả hai sách đều coi ông là bậc vĩ nhân.  Theo sách Các Vua thì tất cả cuộc cải tổ của ông đều liên quan đến việc khám phá ‘Sách Luật Pháp’.  Tác giả chỉ viết sơ qua về Lễ Vượt Qua nổi tiếng mà vua đã tổ chức, nhưng mô tả vua là vị vua vĩ đại nhất trong các vua Giu-đa và trong lịch sử của dân tộc (23:25).  Đối với tác giả sách Sử Ký, thì thời trị vì của Ê-xê-chia là thời quan trọng hơn, và kể từ triều vua này trở đi, Giu-đa bắt đầu suy vi.  Cho nên ông không thể ca tụng quá đáng những công tác tốt lành (việc thiện) của Giô-si-a (35:26) và vua đã thực hiện những công việc này lâu rồi mới tìm thấy sách Luật Pháp trong đền thờ.

Niên đại xác định trong 34:1-8 (năm thứ 8,12,18 triều vua Giô-si-a) khiến chúng ta phải xét lại xem thời điểm khởi đầu cải tổ trong sách Các Vua và trong sách Sử Ký có khác nhau không.  Các nhà bình giải không nhất trí được việc phân biệt sách nào trình bày theo thứ tự niên đại và sách nào trình bày theo biểu đồ.  Trong cả hai trường hợp, bối cảnh câu chuyện là quyền lực A-si-ri suy thoái, nên Giô-si-a được tự do hành động, Giu-đa không còn bị kiềm chế như trước nữa (Giô-si-a không được hưởng tinh thần đoàn kết của ‘toàn thể Y-sơ-ra-ên’ trong thời của Ê-xê-chia), đồng thời dẫn đến việc các cường quốc khác xưng hùng xưng bá, trong đó phải kể đến Ai-cập và Ba-by-lôn (35:20-21  36:5-6).

(IISu 34:1-13).  Giô-si-a, nhà cải chánh Tác giả sách Sử Ký bổ túc đầy đủ cho IIVua 22:1-7 về hai phương diện:  Giô-si-a có lòng sốt sắng trước khi khởi công tu sửa đền thờ, và một khi thực hiện công tác, ông áp dụng những phương pháp làm việc triệt để - ngay cả Ê-xê-chia cũng không được ca tụng là có lòng tin kính không hề lệch lạc như Giô-si-a (2).  Cụm từ khi ông còn tre chắc chắn biểu thị việc cá nhân ông lo tìm kiếm Đức Chúa Trời trong thời gian trước khi lên hai mươi tuổi (đến năm thứ mười hai, c.3).  Các cuộc cải tổ đầu tiên của ông có ảnh hưởng sâu rộng (4-7) người A-si-ri cai trị miền bắc Y-sơ-ra-ên bị tấn công ở nhiều mặt trận khác nên không thể đương đầu với thế lực của Giô-si-a lan rộng đến miền bắc (6).

(IISu 34:14-33).  Tìm thấy sách Luật Pháp Việc khám phá ra sách Luật Pháp có thể là phần thưởng cho lòng sốt sắng của Giô-si-a, nhưng lại là một phần thưởng có tác động cáo trách mạnh mẽ.  Chúng ta không rõ đây là sách gì, bị thất lạc trong thời kỳ nào.  Đa số các quan điểm cho rằng đây là một phần của Phục Truyền Luật Lệ Ký hoặc toàn bộ Phục Truyền Luật Lệ Ký.  Chương 12,16,27,28 của Phục Truyền Luật Lệ Ký có liên hệ với những việc tiếp theo ở đây.  Cũng có thể sách bao gồm phần lớn Kinh Torah, tức năm quyển sách đầu trong quyển Kinh Thánh của chúng ta.

Một nét đặc trưng khác trong tâm tánh của Giô-si-a là (so sánh câu 2) ông tích cực tìm kiếm Lời Đức Chúa Trời (21).  Câu trả lời của nữ tiên tri Hun-đa rất khác thường (23-28) vì các lời rủa sả chép trong sách (Phu 27:1-28:68 cũng chép trong Le 26:1-46) là rủa sả về tội của thế hệ trước thời Giô-si-a (25), còn hình phạt lại xảy đến sau đời của ông (28).  Ông sẽ được chôn cất bình yên, có ý nói là ông không phải trải qua kinh nghiệm Giê-ru-sa-lem thất thủ, dù là ông tử thương ngoài chiến trường (IISu 35:23-24).  Nhưng dân tộc thì không được miễm trừ như vậy.  Tấm lòng của dân không giống như tấm lòng của vua.  Trong trường hợp khác triều vua trước, tác giả dùng cụm từ hết thảy dân sư (30) để mô tả tinh thần sẵn sàng nhất trí, nhưng bây giờ ông từ ‘khiến’ khi viết về việc họ cam kết phụng sự Đức Chúa Trời (32-33)

(IISu 35:1-19).  Kỷ niệm Lễ Vượt Qua.  Trong IIVua 23:21-23 chỉ có ba câu dành cho việc đặc biệt này.  Đối với Giô-si-a, sau khi tái lập giao ước giữa Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời thì đương nhiên phải tổ chức lễ này (IISu 34:29-32).  Ông muốn tuân thủ ngày tổ chức lễ và các nghi thức cho thật đúng (1-4).  Việc đặt lại hòm giao ước (3) trong đền thờ (đem hòm giao ước ra lúc nào?  Tại sao không đem trở lại sớm hơn?) có thể nghĩa là ông chủ tâm tái diễn cảnh khánh thành đền tạm hoặc đền thờ đầu tiên.  Có thể tác giả sách Sử Ký coi Ê-xê-chia là cao trọng hơn Giô-si-a, nhưng vua Giô-si-a sắm sửa súc vật làm của-lễ hậu hỉ hơn Ê-xê-chia (6-9) và ông cử hành mọi nghi lễ đúng theo qui định của Môi-se (12) chớ không chỉ theo những qui định thời Đa-vít (15).  Đây là trường hợp duy nhất trong toàn bộ lịch sử thời quân chủ (18).

(IISu 35:20-26).  Giô-si-a băng hà. Tác giả dùng IIVua 23:29-30 và tư liệu riêng để viết phần tường thuật về sự qua đời của vua Giô-si-a mười ba năm sau đó.  Ông liên hệ cái chết này với sự không vâng phục, dù là trong một trường hợp khác thường.  Cạt-kê-mít (20) là điểm gặp gỡ giữa A-si-ri và liên minh Ai-cập để đối phó với Ba-by-lôn, một cường quốc đang bành trướng thế lực.  Dù Giô-si-a đúng hoặc sai khi ông quyết định đứng vào một trong hai phe, thì lời nói của vua Ai-cập cũng được xem như sứ điệp của Đức Chúa Trời (22 so sánh IISu 36:23  IIVua 18:25  Gi 11:49-52 để biết thêm về trường hợp Đức Chúa Trời dùng những con người không ai ngờ đến để truyền lại lời của Ngài).  Chắc là Đức Chúa Trời dùng một cách nào đó để xác chứng sứ điệp này, nhắc nhở ông phải lưu tâm đến.  Khi ông qua đời, dân chúng tỏ lòng thương tiếc ông vô cùng.

14. Các vua cuối cùng (IISu 36:1-23)

Sách Sử Ký kết thúc bằng cách sắp xếp lại phần tường thuật của sách Các Vua về bốn triều vua cuối cùng của chế độ quân chủ.  Ở Giu-đa, kế vị Giô-si-a là ba người con trai và một cháu nội.  Ở đây tác giả chỉ dùng tước hiệu của các vua này (so sánh ISu 3:15-16  IIVua 24:17).  Không có chi tiết nào thêm về con trai cả là Giô-ha-nan.  Người con thứ tư là Sa-lum lên ngôi kế vị đầu tiên, lấy tước hiệu là Giô-a-cha.  Ba tháng sau, Ê-li-a-kim người con thứ hai lên ngôi, tước hiệu là Giê-hô-gia-kim.  Mười một năm sau, Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim lên ngai lấy tước hiệu là Giê-hô-gia-kin.  Cuối cùng người con trai cuối cùng của Giô-si-a là Ma-tha-nia lên ngai lấy tước hiệu là Sê-đê-kia.  Những lần thay đổi này đều có liên quan đến các diễn biến trên chính trường quốc tế.  A-si-ri suy vi đến chặng cuối, Ba-by-lôn nôn nả muốn A-si-ri sụp đổ nhanh chóng Ai-cập thì không muốn.  Đến năm 609 T.C., nội trong thời gian vài tháng, Giô-si-a tử trận, Giô-a-cha bị truất phế, Giê-hô-gia-kim lên ngôi, tất cả đều do bàn tay của Ai-cập.  Nhưng bốn năm sau tại chiến trận Cạt-kê-mít, Ai-cập bị người Ba-by-lôn đánh bại.  Năm 597 T.C., chính người Ba-by-lôn truất phế Giê-hô-gia-kin và đưa Sê-đê-kia lên làm vua trong những năm cuối cùng của chế độ quân chủ cho đến khi Sê-đê-kia cũng phản nghịch và bị đày đi khỏi xứ.

Nếu tác giả sách Sử Ký loại bỏ khá nhiều điều như thế, thì cũng đáng chú ý đến những chi tiết ông thêm vào.  Tác giả không kể lại cái chết của các vua này, nhưng từng vị vua lần lượt biến khỏi ngai vua, và chế độ quân chủ của dòng họ Đa-vít sụp đổ là như vậy.  Đền thờ Sa-lô-môn cũng bị cướp bóc và tàn phá như thế.  Và rõ ràng là mặc dù những sự sụp đổ này biểu thị cho bất cứ sự hình phạt lâu dài nào, thì cũng vẫn là một sự báo trả nhãn tiền về tội lỗi của thế hệ sau chót.  Dầu vậy, qua mọi cuồng phong đảo điên, dân tộc lẫn đất nước vẫn sống sót.  Đây là chuyện rõ ràng trong các câu kết của sách, cho dù sách có kết thúc với IISu 36:21 chăng nữa, hoặc không có mấy câu tái bút ghi về sự khôi phục thời vua Si-ru.

(IISu 36:1-4).  Giô-a-cha. Vào thời Giô-si-a, đế quốc A-si-ri đã thống trị vùng Cận Đông hơn một thế kỷ.  Nhưng đến những năm cuối cùng, A-si-ri bị Nê-cô, vua Ai-cập đẩy lùi.  Giô-si-a tử trận khi đương đầu với vua này (35:20-24).  Không hiểu vì sao mà ba người con trai lớn của Giô-si-a bị bỏ qua (có thể Giô-ha-nan đã chết) và người con thứ tư lên ngôi lấy tước hiệu là Giô-a-cha.  Tiền phạt vạ trong câu 3 chắc chắn là phải rút từ kho đền thờ ra (7,10,18) và ba tháng sau Nê-cô truất phế Giô-a-cha và đưa em ông là Giê-hô-gia-kim lên ngôi thay thế.  Chức tế lễ và chế độ quân chủ sắp đến hồi kết thúc.  Việc Giô-a-cha bị đày ải qua Ai-cập là một trong các dấu hiệu báo trước cuộc lưu đày khổng lồ sắp đến.

(IISu 36:5-8).  Giê-hô-gia-kim. Trong thời trị vì của Giê-hô-gia-kim, Ba-by-lôn nắm quyền kiểm soát những vùng vốn thuộc quyền Ai-cập (IIVua 24:7).  Có thể không phải đến cuối thời trị vì của mình Giê-hô-gia-kim mới phải thần phục Ba-by-lôn (6).  Có người nghĩ là câu 6 ngụ ý đó.  Rồi cũng có thể ông không hề bị đem qua Ba-by-lôn, rồi cũng không có chuyện qua đời tại đó (24:1,6).  Nhưng hai lần tác giả sách Sử Ký dùng từ nặng mùi đoạ đày.  Cụm từ qua Ba-by-lôn ám chỉ sự hình phạt, câu 6 ám chỉ đến vua và câu 7 ám chỉ đến của cải trong đền thờ.  Như vậy, cuộc lưu đày, vương quyền chấm dứt, đền thờ không còn, đó là những bóng đen ngày càng to.

(IISu 36:9-10).  Giê-hô-gia-kin. Triều vua Giê-hô-gia-kin còn ngắn gọn hơn hai triều vua trước nhiều.  Hình như vì ông làm phản nên vua Ba-by-lôn sai bắt ông đày qua Ba-by-lôn (IIVua 24:10-12).  Một lần nữa đối với tác giả điều quan trọng duy nhất là của cải trong kho của đền thờ và dân chúng bị đem qua Ba-by-lôn.

(IISu 36:11-21).  Sê-đê-kia. Bảng tường thuật về triều vua Sê-đê-kia hoà nhập vào chuyện mất nước lần cuối.  Tội lỗi của ông bị vạch trần ra (12), tuy cũng tiêu biểu cho tội lỗi của dân tộc nữa (14).  Các cuộc cải tổ của Giô-si-a trước đây, nay ngụ ý nhắc lại, thực sự không gây được ảnh hưởng gì cả, rồi giọt nước chót làm tràn ly nước đầy là họ không chịu lắng nghe và tin sứ điệp của Đức Chúa Trời (16).  Qua những từ thường được nhắc lại trong IISu 7:14, thì họ không hạ mình (12), không trở lại (13) và đương nhiên là không được chữa lành (phương thuốc, 16).  Ở đây xoáy mạnh vào sự kiện là Đức Chúa Trời điều động mọi việc này (15-17) và chính Ngài khiến cho toàn dân trong vương quốc của Đa-vít và mọi thứ còn sót lại trong đền thờ Sa-lô-môn bị đưa qua Ba-by-lôn (18,20).  Chỉ có dân nghèo nhất được để lại (IIVua 24:14), nhưng theo tác giả sách Sử Ký thì vùng đất đó coi như bỏ hoang, không người ở.

Tuy nhiên, các câu 20-21 cho biết Đức Chúa Trời có ý định bảo tồn số dân Do-thái tàn dư tại Ba-by-lôn là dân của Ngài, bởi xứ và đất đai của Ngài vẫn còn đó.  Cuộc tàn phá chẳng qua chỉ là một kỳ nghỉ sa-bát dài hạn bù cho những năm bị bỏ qua, đồng thời cũng cho biết Ngài không nói sai, nhưng những biến cố này xác chứng cho lời của Ngài là chắc chắn.

(IISu 36:22-23).  Tái bút. Đây là những câu mở đầu cho sách E-xơ-ra, thêm vào ở đây (chưa biết ai thêm vào) để liên kết hai dòng lịch sử với nhau.  Thực ra, sách Sử Ký không cần các câu này mới hoàn thành sứ điệp của mình, vì hai câu trước đã gói ghém lời hứa về sự khôi phục dân tộc, đất nước.

Lên đầu trang