E-xơ-ra và Nê-hê-mi
Dẫn nhập
Mặc dù trong các bản Kinh Thánh tiếng Anh, tiếng Việt, E-xơ-ra và Nê-hê-mi là hai tác phẩm riêng biệt, nhưng trong bản nguyên ngữ thì hai sách này chỉ là một nên chúng ta cần nghiên cứu hai sách này chung với nhau. Chẳng những đây là một sự kiện chắc chắn trong truyền thống Do-thái từ thời cổ (có lẽ giáo hội Cơ-đốc đã chủ xướng việc tách làm hai sách) mà chính nội dung của cả hai sách cũng xác chứng như vậy. Đặc biệt là nửa phần cuối sách Nê-hê-mi làm đỉnh cao cho mọi việc chép trong phần trước kể cả công tác của E-xơ-ra theo như vai trò nổi bật của ông trong Ne 8 cho thấy rõ. Dù Ne 1:1 rõ ràng là câu mở đầu cho phần tiếp theo trong sách, nhưng câu này cũng là một câu ngắt chuyện chẳng khác gì Exo 7:1 là câu đầu tiên giới thiệu về E-xơ-ra.
Kỳ dư chúng ta không dám quyết đoán rằng hai sách này đều do tác giả hai sách Sử Ký viết. Rõ ràng hai sách này được xem là phần tiếp của câu chuyện trong sách Sử Ký vì các câu mở đầu sách E-xơ-ra lập lại những câu cuối của sách Sử Ký. Dù vậy, một chi tiết này thì không đủ để kết luận là E-xơ-ra, Nê-hê-mi và sách Sử Ký đều do một tác giả. Hơn nữa, cả hai tác phẩm đều tỏ ra quan tâm đến một số vấn đề giống nhau, nhất là những sinh hoạt và nhân sự phục vụ trong đền thờ ở Giê-ru-sa-lem. Nhưng vì cả hai đều là sản phẩm của một cộng đồng tương đối ít người và chính họ cũng ở trong tầm ảnh hưởng của đền thờ nên nếu có hiện tượng trùng lặp như thế thì cũng không lạ gì. Do đó các học giả chưa nhất trí với nhau về điểm này. Cũng may là tình trạng bất định này không ảnh hưởng gì tới sự bình giải E-xơ-ra và Nê-hê-mi. Do đó, chúng ta sẽ tiến hành bình giải hai sách này độc lập khỏi sách Sử Ký.
Bối cảnh lịch sử
Vì tác giả viết E-xơ-ra và Nê-hê-mi dưới hình thức một câu chuyện lịch sử nên chúng ta cần thâu thập một số chi tiết về bối cảnh của hai sách và xét đến diễn biến của những sự việc bao quát mà hai sách có đề cập đến để có thể hiểu rõ hơn phần đóng góp của hai sách này vào dòng lịch sử trong Kinh Thánh.
Hai sách Các Vua thuật lại một trang lịch sử lâu dài của hai nước Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Nước Y-sơ-ra-ên duy trì một nền tự chủ độc lập cho đến năm 722 T.C. rồi bị đế quốc A-si-ri thôn tính (IIVua 17). Còn vương quốc Giu-đa bé nhỏ dưới quyền cai trị của các vua thuộc dòng dõi Đa-vít, có thủ đô là Giê-ru-sa-lem tồn tại thêm được khoảng 150 năm trong tư cách một nước độc lập, với những thời gian thịnh suy thăng trầm lẫn lộn. Dầu sao, cần nhớ là bất cứ thông tin nào về Y-sơ-ra-ên trong thời đầu đều nhờ sách Các Vua mà đến được với chúng ta.
Vào năm 587 T.C., Giu-đa cũng phải chịu cùng một cảnh ngộ như nước láng giềng Y-sơ-ra-ên ở phương bắc, mặc dù lần này họ rơi vào tay Ba-by-lôn là nước đã thay chân A-si-ri làm bá chủ thế giới thời bấy giờ. Khó lòng tả vẽ đầy đủ sự tan hoang do các cuộc chinh phạt của người Ba-by-lôn đã gây ra. Nhiều người, cụ thể là giới lãnh đạo và quyền thế bị lưu đày ở Ba-by-lôn. Ngay cả đền thờ đã từng là trung tâm của tôn giáo và sự đoàn kết dân tộc cũng bị san bằng và những vật dụng có giá trị đều bị đem đến đền thờ của dân Ba-by-lôn chiến thắng. Vị vua đương thời cũng như vị vua tiền nhiệm đều cũng bị bắt đi (IIVua 25:7; 24:15). Thế là hoàng triều ăm ắp hi vọng kể từ thời Đa-vít (IISa 7) không còn nữa. Ngay cả lãnh thổ này cũng chỉ đáng làm một tỉnh lỵ xa xôi của đế quốc Ba-by-lôn. Trước sự sụp đổ đồng loạt của những thể chế trọng yếu, tưởng chừng nước Giu-đa cùng với tôn giáo đặc thù của mình đành chôn số phận trong những trang sách sử như một số nước lân cận trong thời đó vậy. Sách Ca-thương nắm bắt được cảm nghĩ bất lực và vô vọng này.
Chúng ta không biết rõ về tình hình ở Giu-đa lẫn ở Ba-by-lôn trong suốt năm mươi năm kế tiếp, gọi là thời kỳ lưu đày. Tuy nhiên hiển nhiên là trong đám dân bị lưu đày có một số người không những phấn đấu để sống còn về mặt thể xác và xã hội, mà họ còn nhận ra rằng Đức Chúa Trời chưa đoạn tuyệt với họ. Thật vậy, trong khía cạnh thần học một số người khám phá ra rằng các biến cố bi thảm này chẳng những không nằm ngoài tầm kiểm soát của Đức Chúa Trời mà còn là việc làm của Ngài. Nhờ nhận thức như vậy và ráng học những bài học đau xót này nên cũng có một số người trong cộng đồng lưu đày đã quan tâm đọc kỹ các tác phẩm thánh rồi lo bảo tồn và cuối cùng tăng gia số lượng sách thánh với những tác phẩm thành hình theo mức độ nhận biết mới trên đây.
Năm 538 T.C., khởi điểm của sách E-xơ-ra, báo trước một sự thay đổi lớn lao chẳng những đối với tương lai của cộng đồng Do-thái bị lưu đày mà còn đối với toàn bộ lịch sử của vùng Cận Đông cổ đại. Si-ru người Ba-tư nhanh chóng leo hết các bậc thang quyền lực trong nước rồi tung ra một loạt các cuộc chinh phạt rộng lớn trong thời gian qua, nay tiến vào Ba-by-lôn trong chiến thắng để trở thành vị cầm quyền độc tôn trên đế quốc Ba-by-lôn cũ. Thế là đế quốc Ba-tư mà ông tạo dựng trở thành một đại cường quốc trên thế giới trong khoảng hai thế kỷ tiếp theo. Lắm lúc quyền lực của các hoàng đế Ba-tư bao trùm cả một vùng từ Ai-cập cho đến Ấn-độ, dĩ nhiên với nhiều biến động. Có thời đầy ắp bạo động và nổi loạn trong nội bộ; còn nước Ai-cập không phải là một nước luôn luôn thuận phục dưới quyền thống trị của họ, và một số các trận đụng độ giữa họ với các thế lực lân cận như Hi-lạp chẳng hạn, đã trở thành huyền thoại. Không phải tất cả các vị vua của đế quốc này đều tài giỏi như Si-ru, Đa-ri-út và Ạt-ta-xét-xe là ba vị vua chúng ta thường gặp trong sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi.
KHÁI QUÁT VỀ NHỮNG SỰ KIỆN CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN XỨ THÁNH

Dầu vậy, có hai điểm quan trọng cần lưu ý. Thứ nhất, đối với người Ba-tư, lãnh thổ Giu-đa quan trọng hơn là họ tưởng lúc đầu, vì Giu-đa nằm ở vị trí chiến lược bên cạnh biên giới lắm biến động của Ai-cập. Vấn đề mà đế quốc quan tâm là duy trì sự trung thành của vùng này. Thứ hai, vì có ích cho quyền lợi của họ nên người Ba-tư thực hiện chính sách chiếm lòng trung thành đó bằng cách cho các dân tộc chịu qui phục họ một mức độ độc lập về các vấn đề tôn giáo và luật pháp. Dĩ nhiên họ cũng tỏ ra áp bức và độc ác như người A-si-ri và Ba-by-lôn khi cần, nhưng song song với đường lối này họ cũng có chính sách tự nguyện hồi hương như sách E-xơ-ra mô tả.
Như chúng ta sẽ thấy dưới đây, các tác giả Kinh Thánh không mấy chú trọng đến những vấn đề rộng lớn này. Dầu vậy, những vấn đề này có ảnh hưởng nhiều đến thái độ của họ đối với nền chính trị quốc tế, và có lẽ đáng kể hơn là họ xây dựng một khung cảnh cho những nhân vật của họ hoạt động. Những thực tế của tình hình giới hạn những nhân vật này trong những việc làm thiết thực và trong mức độ mong đợi. Do đó khi đọc chúng ta chỉ nên tìm tòi những chuyện trong giới hạn mà họ có thể kể lại. Nền độc lập của dân tộc chắc chắn còn là một giấc mơ xa vời. Điều cần thiết trong lúc này là phải tìm cách vận dụng những tiêu chuẩn và chân lý tôn giáo vốn thích hợp trong những hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt vào tình hình mới của một cộng đồng tôn giáo nhỏ bé nép dưới bóng của một đế quốc ngoại bang lớn trên thế giới.
Bối cảnh
Sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi nằm ở điểm nào trong bối cảnh tổng quát này? Vì nhiều lý do, không dễ trả lời những câu hỏi này như người ta tưởng
Cũng như đối với nhiều sách Kinh Thánh khác, cần lưu tâm đến hai khung tầng khác nhau. Thứ nhất, rõ ràng là có bối cảnh của các sự kiện được mô tả và đây là khung tầng giản đơn nhất. Hầu hết các thông tin cần thiết liên quan đến điều này sẽ được đề cập đến trong những điểm thích hợp ở phần bình giải dưới đây. Tuy nhiên có một điểm sẽ không bàn đến được là thời điểm mà E-xơ-ra đến Giê-ru-sa-lem. Theo Exo 7:7, E-xơ-ra hành trình về Giê-ru-sa-lem vào năm thứ bảy của triều vua Ạt-ta-xét-xe, nhưng Kinh Thánh không xác định vị vua nào trong số ba người cùng mang tên này. Vì chuyện E-xơ-ra được thuật lại trước chuyện Nê-hê-mi nên người ta thường cho rằng đó là vua Ạt-ta-xét-xe I, và kết luận là E-xơ-ra đi Giê-ru-sa-lem vào năm 458 T.C.. Tuy nhiên độc giả cũng nên biết rằng có một số học giả cho rằng đó là vua Ạt-ta-xét-xe II (vì vậy niên đại định cho E-xơ-ra là năm 398 T.C.) và như vậy ông đến Giê-ru-sa-lem sau Nê-hê-mi. Một số những bộ bình giải khác chủ trương theo niên đại này nên rõ ràng là cần sắp xếp lại nhiều dữ liệu ngay cả trong khung tầng căn bản về lịch sử. Tuy nhiên, hiện nay chủ trương này không còn phổ cập như xưa nữa. Bộ bình giải này cũng không theo chủ trương này. (Vấn đề này được mô tả đầy đủ trong những tác phẩm có liệt kê trong mục tài liệu đọc thêm).
Thứ hai, khi đọc một sách lịch sử, nên xem xét tìm tòi bối cảnh và mục đích của tác giả hoặc của người biên soạn tác phẩm dưới hình thức hiện có. Rõ ràng việc này được thực hiện về sau, đôi khi muộn hơn nhiều so với những sự kiện mô tả trong sách. Thí dụ, khi đọc các sách Phúc Âm thì hiển nhiên là chúng ta phải tìm hiểu những điểm nhấn mạnh , mỗi cá nhân tác giả nhấn mạnh, và chúng ta có thể làm được điều này bằng cách so sánh cách trình bày của tác giả này với cách trình bày của tác giả nọ. Chúng ta có thể ghi nhận những điều được đề cập đến hoặc bị bỏ qua, trật tự trình bày khác nhau ở chỗ nào... Chúng ta tìm hiểu những điều mỗi tác giả muốn trình bày cho chúng ta về Chúa Giê-xu và phương cách họ dùng để chuyển đạt bài học.
Sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi cũng áp dụng cùng một nguyên tắc đó. Rõ ràng tác giả vận dụng một số tư liệu khác nhau và ông không luôn luôn sử dụng tất cả những dữ liệu sẵn có. Cũng vậy, trong phần bình giải có nhiều chỗ tác giả sắp xếp dữ liệu theo cách riêng và vì những lý do ích lợi của ông. Nhờ nghiên cứu những vấn đề này chúng ta có thể nhận ra những điểm tác giả quan tâm nhấn mạnh nhiều nhất để trình bày cho độc giả.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu như vậy, chúng ta cũng vấp phải những vấn đề khác, chính yếu là không thể xác định niên đại của sách, do đó cũng không xác định được đối tượng ban đầu của sách. Có một quan điểm cho rằng những câu chuyện trong sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi (khoảng từ Exo 7 - Ne 13) được biên soạn vào khoảng năm 400 T.C.; rồi khoảng một thế kỷ sau đó, người ta bổ sung Exo 1-6 khiến hai sách này có dạng như hiện nay. Nếu đúng như vậy thì căn cứ vào những tư liệu khác chúng ta biết rằng điều quan tâm của những chương mở đầu là về hình thức và cách thể hiện sự thờ phượng chính thống của cộng đồng Do-thái đối kháng lại những chủ trương của một nhóm người đang bành trướng, về sau có tên là phái Sa-ma-ri-tan. Vì thế chúng ta cần nhận thức rằng sự khôi phục đền thờ được trình bày dưới dạng một khuynh hướng thờ phượng chân chính kế tục và nối kết với sự thờ phượng ban đầu của người Y-sơ-ra-ên, và cộng đồng này đã củng cố được sự hiện hữu của mình giữa sự chống đối của phe phái mạo nhận khác. Ngày nay, sự kiện này cho Hội Thánh nhiều bài học hữu ích, là những Hội Thánh ở những nơi đang đấu tranh để duy trì sự hiện hữu của mình trong một môi trường thù địch, nhất là vì những sự kiện làm nền tảng đức tin của chúng ta cách chúng ta một quãng thời gian khá dài.
Những chủ đề chính
Sau khi nhận định như vậy, chúng ta có thể rút ra một số chủ đề trong hai sách này. Chúng ta nêu ra những vấn đề này ở đây không phải để trình bày mọi điều mà hai sách này dạy nhưng chỉ nhằm vạch ra vấn đề và hướng giải quyết để chúng ta nhớ vận dụng đến khi đọc hai sách này.
Một quan điểm thần học về lịch sử
Điểm đầu tiên cần nhấn mạnh là tác giả chọn lọc rất kỹ những chi tiết để viết vào sách. Thí dụ cụm từ ‘sau những việc này’ trong Exo 7:1 gói ghém một khoảng thời gian trên năm mươi năm. Hầu hết những hoạt động của E-xơ-ra nằm gọn trong khoảng thời gian là mười hai tháng. Còn về Nê-hê-mi, chúng ta biết những hoạt động năng nổ của ông trong một năm hoặc hơn một năm, nhưng sau đó chúng ta không biết gì hơn cho đến hơn mười hai năm sau khi ông đến Giê-ru-sa-lem với tư cách là tổng trấn lần thứ hai. Cũng vậy, những câu Kinh Thánh trong Ne 12:26 và 47 dường như nối liền thế hệ của những người hồi hương đầu tiên với công việc của những người hồi hương sau đó hai thế hệ hoặc hơn nữa. Rõ ràng đây không phải là lịch sử khoa học hiện đại. Nhưng tác giả nhìn giai đoạn này từ quan điểm về sự tể trị của Đức Chúa Trời trên một tiến trình mở đầu với sự việc tái gây dựng dân sự trong xứ sở rồi sau đó cải tạo họ. Tác giả chỉ viết về những chi tiết có góp phần xây dựng tiến trình này. Đôi khi chúng ta cũng cần học tập hướng tầm nhìn của chúng ta khỏi chuỗi diễn biến hạn hẹp của mọi biến cố hằng ngày đôi khi dễ gây chán ngán để có thể nhận thức những mục đích lớn lao hơn của Đức Chúa Trời trong đời sống và trong thế giới của chúng ta. Với tầm nhìn rộng mở đó, chúng ta có thể nhận thấy rõ hơn phần đóng góp của chúng ta vào tổng thể.
Tính liên tục
Trong cảnh lưu đày gian truân mịt mù vừa sơ lược ở trên, thì điều quan trọng đối với những người trở về Giê-ru-sa-lem và những người nối gót họ là biết chắc rằng họ đang đeo đuổi cùng một niềm tin của tổ tiên. Họ còn có thể tin cậy nơi những lời hứa mà chúng ta đọc trong các sách trong phần đầu của Cựu Ước không? Họ còn có thể nhờ cậy nơi Đức Chúa Trời để Ngài cứu giúp và dẫn dắt như Ngài đã làm cho các thế hệ trước đó không? Vì tình trạng của họ khác xa tình trạng trước kia nên họ còn có thể tự nhận là dân Y-sơ-ra-ên không? Trong phần bình giải sẽ đề cập đến nhiều trường hợp điển hình cho vấn đề này và chắc chắn là chúng ta còn khám phá được nhiều điều hơn. Tác giả vận dụng một số cách thức như mô tả cuộc hồi hương từ chốn lưu đày, tiến trình tái thiết đền thờ, cách trang bị đền thờ và ban nhân sự phục vụ ở đền thờ nhằm khôi phục lại lòng tin tưởng nơi độc giả và định hướng cho họ về mặt tôn giáo.
Có lẽ quan trọng hơn cả là vị trí của sách luật pháp, luật pháp của Môi-se (tác giả dùng nhiều tên gọi khác nhau nhưng tất cả đều chỉ về một sách). Tuy nhiên, xưa kia phần lớn sách luật pháp, tức là Ngũ Kinh (từ Sáng Thế Ký đến Phục Truyền) được viết cho một dân tộc đang sống trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác, tức là khi đó họ là một quốc gia có chủ quyền có toàn quyền tổ chức nội bộ của mình. Có lẽ vì vậy mà nhiều người xem luật pháp như là một văn tự chết. Như chúng ta sẽ thấy sau này, chính E-xơ-ra đã góp phần khai triển những phương pháp giải kinh, dạy họ rút ra những nguyên tắc tiềm ẩn trong Kinh Thánh rồi áp dụng một cách mới mẻ vào thời đại của họ. Quả là một cách thức rất cần thiết cho họ cũng như cho chúng ta. Theo đuổi những sự dạy dỗ của sách này (dĩ nhiên là sách này dạy về ân điển, sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời và bản chất của đức tin cũng như dạy về ‘luật pháp’ đúng nghĩa) đã cho họ, cũng như cho chúng ta, một phương cách để nhận biết về Đức Chúa Trời. Đây chính là sợi dây quan trọng nhất trong việc thiết lập mối hiệp thông giữa chúng ta với đức tin của những người đi trước chúng ta.
Tiến trình khôi phục
Ba phần chính ở đầu hai sách này (Exo 1-6; 7-10; Ne 1-7) có cùng một khung: một người hoặc một nhóm người được phép từ Ba-by-lôn trở về Giê-ru-sa-lem để thực hiện một sứ mệnh đặc biệt, khi tiến hành công tác họ gặp sự chống đối dưới nhiều hình thức, nhưng cuối cùng họ thắng để ít ra cũng hoàn thành phần chính của công tác. Tự thân khung này cũng là một sự khích lệ độc giả kiên nhẫn và trung tín cũng như cảnh giác đối với những nan đề bên ngoài có thể lũng đoạn họ.
Tuy nhiên phần cuối của tác phẩm có hơi khác (Ne 8-13). Trọng tâm của phần này là đọc luật pháp, sau đó là sự xưng tội và hứa nguyện giữ luật pháp của Đức Chúa Trời (Ne 8-10). Nhưng sau đó mặc dù có buổi lễ mừng công tác thành công (Ne 12:27-43) còn có những nỗ lực không mấy thành công nhằm vận dụng các giá trị của đỉnh điểm này vào cuộc sống thường ngày. Đây là chuyện đương nhiên không thể tránh được. Từ đây chúng ta có thể rút ra hai điều. Thứ nhất, rõ ràng sự ‘tái xác nhận giao ước’ trong Ne 8-10 được xem là đỉnh cao của sự hoạt động của Đức Chúa Trời qua các nhà cải chánh chớ không phải là điều kiện. Sau này, độc giả còn thấy rằng dù họ cần trung tín vâng lời, nhưng đây không phải là phương tiện để nhận được ân huệ của Đức Chúa Trời, mà là hình thức họ hưởng ứng một cách vui mừng về việc Đức Chúa Trời biến đổi và khôi phục cộng đồng của họ. Thứ hai, dân sự của Đức Chúa Trời không thể duy trì tình trạng hưng phấn thuộc linh cao độ mãi mãi. Thật vậy, những giây phút này sẽ mất giá trị nếu không vận dụng vào nếp sống, lòng trung tín và sự vâng lời một cách thường xuyên hằng ngày trong những chuyện ‘bình thường’ như chuyện dâng hiến tài chánh để hầu việc Đức Chúa Trời. Phần kết thúc sách có phần hụt hẫng bất như ý vì Ne 13 cho thấy rằng trong thực tế nếu không có trợ lực thì việc này quả là khó khăn hơn cả.
Những mối quan hệ
Hầu như cả hai sách này (ngoại trừ Ne 9:32-37) đều trình bày các vua Ba-tư qua lăng kính tích cực. Từ chuyện vua Si-ru đáp ứng sự thúc giục của Đức Chúa Trời trong câu đầu tiên của sách E-xơ-ra, đến sự xác nhận của Đa-ri-út cho phép tái thiết đền thờ (Exo 6:6-12 so với câu 14) đến việc Ạt-ta-xét-xe giao nhiệm vụ cho E-xơ-ra (Exo 7:12-26), và ủng hộ Nê-hê-mi (Ne 2:6) cho ta thấy ở cấp bậc chính quyền, họ là những tác nhân chính yếu làm trọn ý chỉ của Đức Chúa Trời. Ngược lại tầm quan trọng chính trị của những yếu nhân Do-thái lại ít được chú ý đến. Tìm hiểu vấn đề này, chúng ta thấy rõ rằng tác giả chủ ý trình bày một đường lối làm việc liên đới đầy đủ với thực tế và tìm cách xoáy mạnh vào những bài học về lòng trung tín cần phải có trong hoàn cảnh này. Một khi nhà cầm quyền đã đối xử cách thân thiện với người Do-thái thì người Do-thái cần tập trung vào những cơ hội phục vụ mà Đức Chúa Trời đã ban cho thay vì tranh đấu đòi hỏi một sự thay đổi quan trọng về tư cách chính trị. Chỉ có phần kết thúc của Ne 9 là một lời nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời còn ban điều tốt đẹp nhất nữa.
Ngược lại, sách trình bày các quan chức láng giềng sát nách qua lăng kính kém thân thiện như nhau, đứng đầu là San-ba-lát, nhưng chẳng phải chỉ có một mình ông này. Ở đây, sự đe doạ của các láng giềng này hoá ra nghiêm trọng hơn, vì trong một mức độ nào đó họ cũng chủ trương đồng một tín ngưỡng như người Do-thái (thí dụ Exo 4:1-3). Rõ ràng là có một giọng điệu biện minh khi tác giả viết về đường lối ứng phó quyết liệt đối với những đợt chống đối đó. Đối với nhiều người, đây là một trong những khía cạnh kém hấp dẫn của hai sách này, đặc biệt là khi áp dụng đường lối cứng rắn để huỷ bỏ những cuộc hôn nhân giữa người Do-thái với người ngoại bang (Exo 9-10; Ne 13:23-28). Tuy nhiên, ở đây cũng vậy, cần lưu ý đến những hoàn cảnh mà người Do-thái đang gặp phải, nhưng chúng ta cũng đừng tìm cách tránh né vấn đề bằng những sáo luận thuộc linh. Điều tối quan trọng đối với sự tồn tại của cộng đồng này là tính chất thuần tuý trong tín ngưỡng của họ và từ đó trong di sản tín ngưỡng của họ chuyển lại cho chúng ta, ở giai đoạn hình thành này không nên có sự thoả hiệp nào về mặt tư cách pháp lý của họ đối với luật pháp Ba-tư hoặc về mặt tính chất thuần giống của dân tộc. (Dầu vậy, ta cũng nên nhớ rằng họ sẵn sàng kết nạp những người nào thật tâm muốn gia nhập cộng đồng của họ, xem Exo 6:21). Lắm lúc, và chắc chắn đây là một trong những lúc đó, cần ưu tiên chú trọng đến phẩm chất ‘ánh sáng’ và ‘muối’ của dân sự Đức Chúa Trời kẻo họ mất luôn vai trò chứng nhân cho tình yêu thương và ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
Như vậy đây là một số các vấn đề rõ rệt của hai sách này có thể làm cột mốc hướng dẫn cho bạn đọc. Dĩ nhiên nơi đây không có ý phủ nhận những vấn đề khác là không đáng chú ý. Trong số những vấn đề đó có quyền chủ tể của Đức Chúa Trời trong lĩnh vực chính trị rộng lớn làm bối cảnh cho sự hình thành hai sách này (so với phạm vi trong các sách lịch sử trong Cựu Ước viết về thời trước thì phạm vi của nền chính trị này rộng lớn hơn) có tính chất của sự cầu nguyện và thực hành sự Ngài, có tâm tánh của các nhân vật chính và phẩm chất lãnh đạo mà họ đã thể hiện... Tóm lại, rõ ràng là còn phải tìm học nhiều giá trị tiềm tàng trong các sách thường bị lãng quên này.
Tài liệu tham khảo
F.D., Ezra and Nehemiah, TOTC (IVP, 1979).
J.G. McConville, Ezra, Nehemiah and Esther, DBS (NXB St Andrew/ Westminster/ NXB John Knox, 1985).
D.J.A., Ezra, Nehemiah and Esther, NCB (Eerdmans, 1984).
H.G.M. Williamson, Ezra, Nehemiah WBC (Word, 1985).
E-XƠ-RA
Bố cục
1:1 - 6:22 Hồi hương từ xứ lưu đày và tái thiết đền thờ
1:1-11 Si-ru ra chiếu chỉ cho phép dân lưu đày được hồi hương và hoàn trả lại những khí dụng của đền thờ
2:1-70 Danh sách những người lưu đày hồi hương
3:1 - 4:5 Tái lập sự thờ phượng
4:6-24 Sự chống đối công khai
5:1 - 6:22 Tái thiết đền thờ
7:1 - 10:44 E-xơ-ra
7:1-10 Dẫn nhập
7:11-28 Nhiệm vụ của E-xơ-ra
8:1-36 Hành trình của E-xơ-ra đến Giê-ru-sa-lem
9:1-15 Báo cáo về hôn nhân dị chủng, lời xưng tội của E-xơ-ra
10:1-44 Xử lý những vụ hôn nhân dị chủng
1. HỒI HƯƠNG TỪ XỨ LƯU ĐÀY VÀ TÁI THIẾT ĐỀN THỜ (Exo 1:1-6:22)
Sáu chương đầu của sách E-xơ-ra bao trùm một giai đoạn trên hai mươi năm (538-515 T.C.). Trong suốt thời gian này, một số người Do-thái từ nơi lưu đày ở Ba-by-lôn đã hồi hương. Rồi sau khi bị trì hoãn một thời gian, họ khởi công tái thiết đền thờ ở Giê-ru-sa-lem, vì đền thờ cũ đã bị người Ba-by-lôn phá năm mươi năm về trước.
Tuy nhiên, những sự kiện này không được viết lại dưới dạng một câu chuyện liên tục. Tác giả chú trọng nêu cao một số thời điểm trong khi đó lại không viết về những vấn đề lịch sử quan trọng khác gì cả, thí dụ cuộc hành trình trở về Giê-ru-sa-lem. Lý do là vì tác giả viết về những sự kiện xảy ra trước thời của mình khá lâu, vì vậy ông bị giới hạn trong mớ tư liệu thành văn, tức là những bản sao các bức thư, các bản liệt kê danh sách và những văn bản khác. Qua cách sắp xếp những sự kiện này rồi đan dệt lại với nhau bằng những lời bình luận của riêng mình, tác giả khiến cho độc giả sau này của mình lưu tâm đến ý nghĩa của những sự kiện đó về mặt tín ngưỡng và thần học.
Trước hết, ông muốn nhấn mạnh rằng mặc dù những việc xảy ra dường như nhỏ nhoi so với những vấn đề lớn lao của đế quốc Ba-tư hùng cường, nhưng thật ra, Đức Chúa Trời điều động tể trị mọi việc đó. Ngài sử dụng cả những vị vua ngoại bang như Si-ru và Đa-ri-út để thực hiện ý chỉ của Ngài đối với dân sự Ngài (ví dụ Exo 1:1 6:14). Sự thể này khích lệ độc giả nhìn những vấn đề quốc tế trong một nhãn quan khác hẳn đời thường, vì trong thực tế đó một cộng đồng tôn giáo nhỏ bé, ở một vùng xa xăm như thế dễ ngã lòng lắm.
Gặp hồi nền chính trị đổi thay, Cơ-đốc nhân nên học tập nhìn thấy xa hơn những biểu hiện của cuộc biến động lớn lao để nhận ra những cơ hội mà Đức Chúa Trời ban cho, để khôi phục công cuộc truyền giáo chẳng hạn, hoặc để thay đổi phương hướng trong chiến lược của Hội Thánh, nhờ đó mà sự phục vụ và lời làm chứng của Hội Thánh có hiệu quả hơn trong bầu không khí mới với lắm mong đợi từ phía con người trong xã hội.
Thứ hai, trọn phần này nhấn mạnh vào tính liên tục giữa các cơ chế cũ của dân Y-sơ-ra-ên và các cơ chế của cộng đồng vừa được khôi phục ở Giê-ru-sa-lem. Qua đó tác giả nhắn nhủ người đọc rằng họ đúng là người thừa kế tất cả những điều mà Đức Chúa Trời đã hứa cho dân của Ngài từ xưa, tín ngưỡng của họ không phải là mới mẻ mà là từ những điều Đức Chúa Trời đã khải thị cho các lãnh tụ như Môi-se, Đa-vít và Sa-lô-môn truyền lưu lại.
Ở đây cũng có mặt đối kháng tức là bài bác không công nhận những lời tự nhận của nhóm đối lập, cụ thể là cộng đồng Sa-ma-ri-tan mới hình thành ở miền bắc. Nếu tác giả biên soạn mấy chương này vào thời cộng đồng này đang xây dựng đền thờ (khoảng năm 300 T.C.) thì tất nhiên độc giả cần có một niềm xác tín như vậy. Thứ ba, vì thế trong chương 4-6 tác giả xác định rằng phương án hiệu quả nhất để khắc phục các lực lượng chống nghịch ngăn trở công việc của Đức Chúa Trời là kiên trì trung tín trong những công tác Ngài đã giao phó thay vì thoả hiệp hoặc đối đầu. Sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi sẽ triển khai đầy đủ hơn những vấn đề này trong những chương sau.
1. Si-ru ra chiếu chỉ cho phép dân lưu đày được hồi hương và hoàn trả lại những khí dụng của đền thờ (Exo 1:1-2:70)
Chương này chú trọng trình bày hai điểm đầu tiên vừa nêu ở trên. Thời điểm là năm Si-ru thôn tính Ba-by-lôn (538 T.C.), sau khi ông nhanh chóng giành được quyền lực, lập đế quốc Ba-tư thay cho đế quốc Ba-by-lôn. Chính sách của đế quốc Ba-tư khác hẳn chính sách của đế quốc Ba-by-lôn. Người Ba-by-lôn áp đặt quyền lực bằng những biện pháp khắc nghiệt như đày ải hàng loạt những dân tộc thất trận đi xứ khác, còn người Ba-tư thì áp dụng chính sách đáp ứng nguyện vọng của dân trong thuộc địa miễn việc đó phục vụ tốt nhất cho mục đích của chính họ. Người Ba-tư cần duy trì lòng trung thành của các dân thuộc địa ở vùng cực tây trong đế quốc, có cả xứ Palestine, rồi họ mới tính chuyện bành trướng vào tận Ai-cập được. Thế là người Do-thái hưởng thuận lợi.
(Exo 1:1-6). Chiếu chỉ của Si-ru. Trong khi những sử gia đời này lý giải những sự việc trong khung chính sách của đế quốc đương thời thì tác giả các sách trong Kinh Thánh lại thấy đó chỉ là những phương tiện Đức Chúa Trời sử dụng để thực hiện mục đích của Ngài mà thôi. Do đó sự quyết định của vua Si-ru (1) và sự trung tín vâng phục của dân sự Đức Chúa Trời (5) đều được mô tả theo hướng đó. Ngoài ra, Si-ru được xem là công cụ làm ứng nghiệm những lời tiên tri thời xưa, chắc hàm ý là Gie 50:9 và 51:11 đối chiếu với Es 44:28 và 45:13. Để rập vào khung này thì một lời tuyên bố cục bộ thuở đầu (lời công bố từ câu 2-4 có hình thức một lệnh truyền bằng miệng, có lẽ cho những người lãnh đạo Do-thái) bây giờ được xem là có giá trị bao quát, tuyên truyền trong khắp nước mình (1).
Chiếu chỉ (2-4) tập trung về việc cho phép hồi hương. Những chi tiết liên quan đến công cuộc tái thiết đền thờ là nội dung của một sắc lệnh khác (6:3-6), vì có liên quan đến những người khác chứ không riêng gì người Do-thái. Không nên xem hai phần này là hai hình thức khác nhau của cùng một chiếu chỉ.
Phản ứng của dân sự (5) được nối tiếp bằng lời giải thích (6) có ý nhắc chúng ta nhớ đến vụ xuất Ai-cập. Tất cả những người lân cận của họ, bao gồm những người Do-thái quyết định không hồi hương (c.4), và những người phi Do-thái, đều ủng hộ tài chính cho họ. Lời lẽ trong câu này nhắc chúng ta nhớ lại vụ ‘lột trần dân Ê-díp-tô’ trong Xu 3:21-22 11:2 12:35-36. Đây là lần đầu tiên trong số những lần ám chỉ đến chuyến xuất Ai-cập nhằm gợi ý độc giả nhận định với nhãn quan mới về vụ việc có thể bị xem là nhỏ nhoi, mờ nhạt trong dòng lịch sử của đế quốc Ba-tư. Theo quan điểm đức tin, sự hồi hương này quan trọng không thua gì những sự kiện chung quanh việc khai sinh dân tộc Y-sơ-ra-ên. Đây cũng là một sự giải cứu của Đức Chúa Trời và thậm chí còn là sự tái sinh của dân tộc nữa.
Chú giải. 2 Danh xưng Đức Chúa Trời ở trên trời (Giê-hô-va Đức Chúa Trời, trong bản tiếng Việt cũ) xuất hiện lần đầu tiên trong Kinh Thánh ở đây. Danh xưng này thường được dùng trong những trường hợp mà người Do-thái có liên quan đến người Ba-tư. Có lẽ từ ban đầu danh xưng này được cả hai bên chấp nhận (thần của người Ba-tư Ahura Mazda, là một vị thần ở trên trời).
(Exo 1:7-11). Sự hoàn trả những khí dụng của đền thờ. Rất có thể đoạn Kinh Thánh này dựa trên một bản kiểm kê các khí dụng đền thờ đã hoàn trả được lưu giữ trong các kho của đền thờ. Tuy nhiên, liệt kê những khí dụng này ở đây tác giả không nhằm liệt kê một bộ sưu tầm đồ cổ. Những lời bình luận của chính ông đủ làm sáng tỏ mục đích rồi. Trước hết có nhiều điểm gợi nhớ về những khía cạnh của cuộc xuất hành ra khỏi Ai-cập. Rõ ràng theo Es 52:11-12 thì sự hoàn trả những khí dụng của đền thờ là một phần trong niềm hi vọng chắc chắn về những gì có liên quan đền ‘cuộc xuất hành lần thứ hai’. Hơn nữa, câu 11 đã dùng một mẫu câu thường được dùng ở những chỗ khác để mô tả sự xuất Ai-cập (‘đem lên’ chớ không phải là đến như bản NIV, so sánh Sa 50:24 Xu 3:8,17 và đặc biệt là 33:1). Cuối cùng có thể nói rằng tước hiệu dùng cho Sết-ba-xa, quan trưởng của Giu-đa (8) là chi tiết nhắc lại Dan 7:84-86 (và so với Dan 2:3-31 7:1-83 34:18-28, trong tất cả những chỗ đó, bản NIV đều dịch cùng một từ là ‘lãnh tụ’), trong đó từ ‘quan trưởng’ của các chi phái đi kèm với những khí dụng trong suốt thời kỳ ở sa mạc.
Thứ hai, câu 7 quả quyết rằng những khí dụng này chính là những khí dụng trong đền thờ đầu tiên ở Giê-ru-sa-lem bị cướp đi (so với IIVua 24:13 25:13-15 IISu 26:7,10,18). Về mặt biểu tượng, có lẽ những khí dụng này thay cho những thần tượng của các dân tộc khác mà Nê-bu-cát-nết-sa đã chiếm và đặt trong đền thờ của ông để làm bằng chứng về thế lực của ông. Do đó, hoàn trả lại các khí dụng này và việc sử dụng chúng trong những kỳ lễ ở đền thờ thứ hai trong thời của tác giả, ngụ ý nói đến tính liên tục, bền chắc giữa đền thờ này và đền thờ của Sa-lô-môn. Những khí dụng này được dùng để thu hút sự chú ý vào sự hiệp nhất của dân sự Đức Chúa Trời, rồi nhờ đó hoá giải thời kỳ sự thờ phượng ở đền thờ bị gián đoạn vì cớ lưu đày.
Chú giải. 8 Sết-ba-xa là quan tổng đốc đầu tiên của tỉnh Giu-đa thuộc đế quốc Ba-tư (Exo 5:14). Người ta không biết gì hơn nữa về ông. Có lẽ ông là người lãnh đạo xuất sắc của chi phái Giu-đa. Còn những giả thuyết cho rằng ông thuộc dòng dõi Đa-vít hoặc có lẽ ông chính là Xô-rô-ba-bên đều không có cơ sở. 9-10 Khó lòng dịch chính xác tên các loại khí dụng, so sánh các bản dịch là sẽ nhận thấy ngay. 11 Con số 5.400 cái không bằng tổng số của các phần cộng lại, có lẽ là do có sơ sót trong quá trình sao chép các ký hiệu về những con số hoặc sơ sót trong phép cộng. Có nhiều trường hợp tương tự trong các văn bản lưu trữ trong kho bạc Ba-tư ở Persepolis.
Exo 2:1-70. Danh sách những người lưu đày hồi hương. Căn cứ vào những câu cuối cùng của chương này dường như sau khi hồi hương được một thời gian thì danh sách này được lập ra. Không rõ lý do và không chắc chắn vào lúc nào. Nhưng một ý rất lý thú là người ta lập bảng danh sách này là để cung cấp danh sách những người tham gia tái thiết đền thờ cho các quan chức (Exo 5:4). Nếu ý này đúng thì bảng liệt kê này bao gồm chẳng những đám người hồi hương ngay sau khi Si-ru ban hành chiếu chỉ, mà còn có những người hồi hương trong những đợt khác trong mười hoặc mười hai năm sau. Danh sách này được lặp lại trong Ne 7:6-73. Cần hiểu cụm từ ‘những người đã hồi hương lần đầu’ (5) theo nghĩa chung, khác với những người hồi hương về sau do E-xơ-ra lãnh đạo (Exo 8:1-36). Giữa hai bản danh sách này có những chi tiết khác nhau nho nhỏ, chủ yếu là các con số, có lẽ phát xuất từ những sơ sót trong việc sao chép những cột số phức tạp trong văn bản ở thời đại này.
Tiếp theo tên của mười hai người lãnh đạo (so với Ne 7:7), thứ tự của danh sách này là: các gia đinh thường dân (3-35), các thầy tế lễ (36-39), người Lê-vi (40) và những người phục dịch trong các cuộc thờ phượng (41-58). Tiếp theo đó là sự ghi chép về những người không thể xác định được phả hệ của mình (59-63), một đoạn kết luận (64-67) và những ghi chép ngắn khác. Tuy nhiên phần dài viết về thành phần thường dân dường như không đồng dạng vì một số người được xác định qua họ hàng, còn một số khác được xác định bằng nơi cư trú. Có thể đám thứ hai là thành phần không hề bị lưu đày nhưng vẫn tham gia tái thiết đền thờ với thành phần mới hồi hương.
Bảng danh sách này được đem vào đây với một ý nghĩa thần học là nhấn mạnh một lần nữa về tính liên tục hiệp thông giữa cộng đồng người Y-sơ-ra-ên thời hậu lưu đày với dân Y-sơ-ra-ên thời tiền lưu đày. Mục đích này được ám chỉ đặc biệt trong những lời chú thích từ câu 59-63 về những người không xác định được phả hệ của mình ngay lúc đó theo yêu cầu, và con số mười hai người lãnh đạo, khiến người ta liên tưởng đến số chi phái của dân Y-sơ-ra-ên. Hơn nữa, câu mở đầu nhấn mạnh vấn đề ai nấy đều trở về bổn thành mình (c.1,70) nói lên mối quan hệ chặt chẽ giữa con người và quê hương, có chép ở những chỗ khác trong Cựu Ước. Do đó vai trò của chương này hơi giống những bảng liệt kê danh sách trong phần nửa cuối của sách Giô-suê. Như vậy, có hàm ý về sự ứng nghiệm một đôi phần trong lời hứa căn bản đã lập với Áp-ra-ham (Sa 12:2-3).
Chương này khiến người ta có cảm tưởng Kinh Thánh chủ trương độc quyền biệt lập. Tuy nhiên có thể hoá giải cảm giác đó nhờ tinh thần bao dung hoà đồng trong các mục đích của Đức Chúa Trời được bày tỏ ở những chỗ khác trong Kinh Thánh, kể cả Kinh Thánh Cựu Ước (ngay cả trong chương này cũng có liệt kê danh tánh hoàn toàn ngoại lai của nhiều người, đặc biệt là câu 43-58). Nhưng hoàn cảnh hiện tại là một thời kỳ trung chuyển gay go thì đương nhiên phải xoáy mạnh vào sự nhận thức của cộng đồng về sự hiện hữu của mình và sự duy trì một hình thức cụ thể biểu thị sự liên tục hiệp thông của cộng đồng với quá khứ, vì đó là những điều quan yếu.
Cũng vậy, các cộng đồng Cơ-đốc cần học tập nhạy bén đối với những điều ưu tiên mà hoàn cảnh đòi hỏi. Khải tượng quan trọng hơn cả vẫn là sự biểu thị ân điển của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên lắm lúc những thất bại về mặt đạo đức hoặc giáo lý đã tạo nên một Hội Thánh hầu như không còn phân biệt được với xã hội xung quanh. Trong những trường hợp đó, có lẽ trong một thời gian cần quay qua đặt nặng việc chấn chỉnh, làm một cuộc cải chánh và tái xác định những giới hạn, một cách thức nghiêng nhiều về mặt trừ khử, loại bỏ. Dù vậy, cách thức này nhằm tái lập một cơ cấu Cơ-đốc đầy sức sống để một lần nữa có thể thực hiện nhiệm vụ thu hút người khác đến chỗ kinh nghiệm tình yêu của Đức Chúa Trời một cách có hiệu quả.
2. Khôi phục sự thờ phượng (Exo 3:1-4:5)
Phần này được chia làm ba đoạn. Đoạn đầu trình bày sự khôi phục bàn thờ và sự thờ phượng liên hệ (Exo 3:1-6), đoạn thứ hai là những sự chuẩn bị cho việc tái thiết đền thờ (3:7-13), đoạn thứ ba đề cập đến sự chống đối đợt một đối với công trình với hậu quả là công trình bị tạm ngưng (4:1-5). Theo biểu hiện bên ngoài thì dường như sự thể này không phù hợp với hình ảnh mà tiên tri A-ghê đã đưa ra. Ông là người về sau này (520 T.C.) quở trách dân sự rất nặng vì họ hoàn toàn bỏ rơi công việc đền thờ. Ông là người thúc đẩy cho một sự khởi đầu dường như hoàn toàn mới về vệc xây dựng đền thờ dưới sự lãnh đạo của Xô-rô-ba-bên và Giê-sua (hoặc là Giê-hô-sua).
Nhiều người gợi ý một số phương cách giải quyết khúc mắc này, thí dụ như họ cho rằng một phần nhỏ trong công trình tái thiết được thực hiện vào thời này, đến thời của A-ghê coi như ít nhiều bị quên lãng. Tuy nhiên, mặt khác chúng ta cũng không nên hiểu phần này hoàn toàn viết về những ngày đầu tiên của cuộc hồi hương. Có thể những câu 7-13 và 4:1-3 nằm trong chính thời của A-ghê (c.8 Chúng đến đền của Đức Giê-hô-va chỉ về thời điểm bắt đầu cuộc tái thiết chứ không phải là thời điểm của cuộc hồi hương đầu tiên), còn 4:4-5 kế tiếp trình bày nguyên nhân đưa đến sự ngưng hoãn vào thời đầu tiên đó (so sánh 4:4 với 3:3, và chú ý đến khoảng thời gian trong c.5). Tuy nhiên dù lý giải theo hướng nào đi nữa thì mục đích chính của tác giả cũng rất rõ ràng, và ông nêu trường hợp này ra để làm một mẫu mực: Dân sự đặt việc khôi phục một hình thức thờ phượng ngay khi có thể thực hiện được - thậm chí trước khi đền thờ được hoàn thành (3:6) vào hàng ưu tiên như vậy là phải lẽ.
(Exo 3:1-6). Khôi phục bàn thờ và sự thờ phượng Ít ra phần này cũng đề cập đến những ngày đầu tiên sau cuộc hồi hương. Bàn thờ được lập lại trên nền cũ của nó (3), tức là trên địa điểm của bàn thờ nguyên thuỷ bị phá huỷ. Như vậy, tính cách hiệp thông liên tục với sự thờ phượng của dân Y-sơ-ra-ên trong thời tiền lưu đày được bảo đảm vì bàn thờ đã được tái lập đúng chỗ mà Đức Chúa Trời đã khải thị xưa kia để dân của Ngài lập bàn thờ dâng của lễ (ISu 22:1). Cũng vậy, họ đã dâng những của lễ đặc biệt (4) và của lễ thường nhật (5) đúng theo điều đã chép. Họ cũng áp dụng những hình thức và cách biểu hiện sự thờ phượng đúng như Môi-se và Đa-vít ấn định.
Chú giải. 2 Giê-sua là thầy tế lễ thượng phẩm (so với Ag 1:1), một chức vụ càng tăng phần quan trọng sau khi nền quân chủ cáo chung, do đó ở đây nêu danh tánh của ông đầu tiên là rất phải lẽ. Dường như sau Sết-ba-xa thì đến Xô-rô-ba-bên làm quan tổng đốc (so với 1:1). Dù ông thuộc về dòng dõi Đa-vít (ISu 3:19) sách E-xơ-ra không gán cho sự kiện này một ý nghĩa nào cả.
(Exo 3:17-13). Chuẩn bị cho công cuộc tái thiết đền thờ. Hầu như mỗi câu viết về việc tái thiết đền thờ trong đoạn này đều có chủ ý nhấn mạnh tính cách tương đồng giữa công cuộc tái thiết này với công cuộc xây dựng đền thờ đầu tiên. Thí dụ rõ ràng câu 7 lặp lại ISu 22:2-4 và IISu 2:15-16 thời gian trong câu 8 nhắc họ nhớ đến 3:2, và nếu ta thêm hai năm chuẩn bị vào năm năm xây dựng (Exo 6:15) thì tổng số bảy năm này có thể đem so sánh với IVua 6:38. Người Lê-vi giữ vai trò quản lý (8-9) cũng giống như trong ISu 23:4 và phần mô tả các nghi lễ trong dịp này (10-11) nhắc lại sự cung hiến đền thờ đầu tiên (thí dụ IISu 5:11-137:3). Cuối cùng sự so sánh lộ rõ trong câu 12-13 về tiếng reo mừng ít ra cũng tương ứng với tiếng khóc thất vọng của những người cao tuổi vì khi còn nhỏ họ đã từng thấy đền thờ thứ nhất. Do đó một lần nữa mục tiêu hàng đầu của đoạn này là xoáy mạnh vào tính cách hiệp thông và hợp pháp trong khi đó niềm vui mừng trong phần kết luận là một thách thức khác cho thế hệ sau này, tức là thế hệ đương thời của tác giả.
Exo 4:1-5. Những dấu hiệu chống đối đầu tiên Nếu vụ việc trong câu 1-3 xảy ra vào thời của Đa-ri-út, như gợi ý ở trên, thì có thể hiểu được vì sao chẳng bao lâu sau đó các quan chức mở cuộc điều tra công khai toàn bộ dự án xây dựng này trong chương 5. Chẳng bao lâu sau khi bị cự tuyệt không được phép tham gia tái thiết đền thờ, những kẻ thù nghịch bắt đầu hành động trả đũa. Mặc dù cá nhân những người ngoài cộng đồng có thể gia nhập cộng đồng Do-thái (Exo 6:21), nhưng nếu những nhóm khác tham gia vào công trình tái thiết với tư cách là một bên hợp tác bình đẳng, bình quyền thì chắc chắn có hại cho thế lực và thẩm quyền của cộng đồng. Cuộc điều tra ít lâu sau đã chứng minh rằng Xô-rô-ba-bên cương quyết giữ vững lập trường như thế là khôn ngoan (5:3). Có lẽ tác giả dựa vào khả năng nhìn xa hiểu rộng mà viết câu kẻ thù của Giu-đa và Bên-gia-min (1), vì ngay lúc đó đám người này chưa để lộ chân tướng của họ.
Câu 4-5 được thêm vào như một phần giải thích riêng biệt cho việc trì hoãn giữa việc dâng của lễ trên bàn thờ (3:1-6) và việc tái thiết đền thờ.
Chú giải. 2 Ê-sa-ha-đôn, vua A-si-ri cai trị một vùng định cư gồm dân ngoại quốc trong vương quốc xưa ở phía bắc, không thấy các sách đề cập đến ông này (IIVua 17:24-41 nói đến SargonII). Es 7:8 có ám chỉ đến ông. 5 Đa-ri-út kế vị Cambyses làm vua Ba-tư vào năm 522 T.C. và trị vì cho đến năm 486 T.C. Nhiều cuộc nổi loạn xảy trong trong hai năm đầu của triều Đa-ri-út (sách E-xơ-ra không đả động đến những cuộc nổi loạn này, nhưng chắc là có tầm cỡ vì những cuộc nổi loạn này làm bối cảnh cho những lời tiên tri của A-ghê và Xa-cha-ri). Nhưng sau đó trong sách E-xơ-ra ông được mô tả là vị vua tiếp tục áp dụng các chính sách của Si-ru.
3. Sự chống đối công khai (Exo 4:6-24)
Phần này có nói đến ba bức thư tố cáo người Do-thái, một thư viết cho Xẹt-xe (c.6) và thư thứ hai viết cho Ạt-ta-xét-xe (7-16). Hai vị vua này trị vì sau vua Đa-ri-út, nhưng chương 5-6 nhắc lại đời trị vì của ông. Hoặc là tác giả lẫn lộn về trình tự lịch sử trong giai đoạn này, hoặc là phải coi đây là một phần ngoài đề hoặc phụ lục, cho nên câu 24 có ý kéo chúng ta trở lại tiếp tục câu chuyện bị gián đoạn ở câu 5 (lời lẽ trong câu này rõ ràng có ý bắt lại câu chuyện). Lý giải theo cách này khớp với chuyện những lời tố cáo chỉ liên quan đến các tường thành Giê-ru-sa-lem (12-13) chứ không phải đền thờ, là chủ đề của phần còn lại trong chương 1-6 của sách E-xơ-ra.
Vụ ra ngoài đề này có lý do khá rõ. Tác giả vừa tường thuật xong vụ từ khước một đề nghị giúp đỡ. Những chuyển biến kế tiếp chứng minh rằng sự cự tuyệt khá quyết liệt như vậy là phải lẽ vì chẳng bao lâu đám người đó đã để lộ chân tướng của mình. Chính họ là ‘những kẻ thù của Giu-đa và Bên-gia-min’ (1) đấy thôi. Đây mới là một vụ chống đối đầu tiên trong số nhiều vụ chống lại công việc của Đức Chúa Trời trong hai sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi nên được dùng để khuyến cáo rằng cần phải liên tục đề cao cảnh giác, và tốt nhất là nên giải quyết vụ việc khi sự chống đối còn nằm ‘bên ngoài’, thay vì để cho người chống đối chen chân vào và dành được một chỗ đứng trong cộng đồng đến lúc này thì sự phá hoại trở nên trầm trọng hơn.
Tác giả chủ trương tường trình đầy đủ một vụ tố cáo (8-16), còn chiếu chỉ phúc đáp của vua (17-22) có thể giúp lý giải bối cảnh của việc vua giao nhiệm vụ cho Nê-hê-mi sau này. Thật ra, chẳng hề có một bằng cớ nào chứng tỏ có âm mưu tổ chức phản loạn hoặc lời tố cáo là đúng sự thật, nhưng vì tình trạng bất ổn thường xuyên trong các tỉnh miền tây nên có thể thông cảm cho Ạt-ta-xét-xe về phương thức ‘hành động trước, suy nghĩ sau’.
Chú giải. 8 Như câu 7 xác định từ câu này đến 6:18 chuyển qua dùng tiếng A-ram thay vì tiếng Hi-bá-lai là ngôn ngữ thường dùng trong Cựu Ước. Đế quốc Ba-tư dùng tiếng A-ram trong các văn kiện cho nên có lẽ phần nhiều những tư liệu tác giả sử dụng đều là tiếng A-ram. Vì biết rằng độc giả Do-thái am hiểu tiếng A-ram nên tác giả dùng luôn bức thư trong nguyên ngữ rồi cũng viết những câu nối kết ngắn gọn của ông bằng tiếng A-ram luôn. 10 Phía bên này sông Ơ-phơ-rát là tên gọi chính thức dành cho tỉnh phía tây của đế quốc. Không rõ ý của nhiều tên riêng và danh hiệu khác trong những câu này. 12 Có thể đám người hồi hương với E-xơ-ra cũng được nói đến ở đây. 20 Các vua có quyền thế rất lớn không phải là người Do-thái (thí dụ như Đa-vít và Sa-lô-môn) mà là những người tiền nhiệm của Ạt-ta-xét-xe như Si-ru và Đa-ri-út. Ông lo giữ gìn để người ta không so sánh ông với các vị vua này một cách kém thuận lợi cho ông.
4. Tái thiết đền thờ (Exo 5:1-6:22)
Rõ ràng phần Kinh Thánh dài này chính yếu là nhằm nêu lên vụ việc xảy ra trong thời gian tái thiết đền thờ, đó là sự điều tra của Tát-tê-nai, một quan chức người Ba-tư (Exo 5:3-17), và phúc đáp có lợi cho công cuộc tái thiết từ phía triều đình (6:1-13). Tác giả đóng khung tư liệu này trong những câu bình luận mở đầu rất chín chắn về sự thúc giục và sự phù hộ của Đức Chúa Trời (5:1-2 6:14) và những câu kết thúc toàn bộ vụ việc bằng lễ khánh thành đền thờ và Lễ Vượt Qua (6:15-22). Cũng như những trường hợp trước, đáng chú ý là tác giả bỏ nhiều chi tiết mà chúng ta tưởng là đáng đề cập, thí dụ như tác giả không mô tả tiến trình tái thiết trong thực tế. Tác giả chủ ý viết về mọi điều ông biết qua các tư liệu (chủ yếu là những bản sao về các bức thư giữa Tát-tê-nai và nhà vua) và bình luận về ý nghĩa thần học của những điều đó.
Ở đây nổi bật hai điểm. Thứ nhất, một lần nữa nhấn mạnh thái độ tích cực đối với các nhà cầm quyền Ba-tư, xem họ như là những công cụ để thực hiện những mục đích của Đức Chúa Trời (1:1). Tác giả chủ trương là trong hoàn cảnh đặc biệt của thời kỳ đó nên tránh tối đa đừng có những thái độ xung đột giữa ‘giáo hội và nhà nước’. Cộng đồng Do-thái đang tìm cách khai thác các quyền lợi của họ theo luật dân sự mà không vi phạm đến luật của Đức Chúa Trời. Vì Ngài là Đấng chủ tể tuyệt đối, Ngài hoàn toàn có thể hành động qua những quyền lợi này vì lợi ích của dân sự Ngài. Tác giả không chủ trương rằng sự tái lập nền độc lập chính trị tự thân nó là điều kiện thiết yếu để dân sự của Đức Chúa Trời được tự do. Thật ra, ông còn vui vẻ nhắc đến việc chính quyền ủng hộ hiện vật cho sự dâng của lễ và cầu thay cho hoàng gia (6:9-10).
Thứ hai, vấn đề về sự liên tục hiệp thông đã nhiều lần ghi nhận trong các chương trước lại được nêu ở đây, trong cả hai lãnh vực: việc tái thiết đền thờ (5:8 so sánh IVua 6:36 và 7:12 5:11,13-15 6:3-5) và những nghi lễ qui định ở đền thờ (Exo 6:17-18).
Mặc dù Cơ-đốc giáo không phụ thuộc vào những cơ chế bên ngoài kiểu đó, nhưng điều quan trọng chúng ta cần nhớ là ‘Hội Thánh phổ thông’ không những bao gồm tất cả mọi tín đồ thật hiện nay mà còn bao gồm tất cả các tín đồ sống trước chúng ta. Chúng ta với họ đều có chung một quyển Kinh Thánh, các thánh lễ, nhiều hình thức thờ phượng và một tiêu chuẩn về các giá trị. Khi suy ngẫm về ‘sự thông công của các thánh đồ’ lẫn xét hiện trạng của chúng ta rồi so với tấm gương của họ, chúng ta thường được khích lệ nhiều. Nếu coi thường kinh nghiệm của những Cơ-đốc nhân khác (‘truyền thống’) chúng ta bị mất mát nhiều cho dù chúng ta không hề coi thường uy quyền của Kinh Thánh.
(Exo 5:1-2). Tái thiết nhà của Đức Chúa Trời. Tương tự như sự trình bày trong sách A-ghê và Xa 1:1-8:21, sự cổ vũ chính yếu cho công trình đến từ Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, thông qua các lời tiên tri khiến cho dân sự đáp ứng một cách nhiệt tình.
(Exo 5:3-17). Tát-tê-nai điều tra. Không rõ vụ Tát-tê-nai điều tra có xuất phát từ sự cự tuyệt trong Exo 4:1-3 hay không, dù sao cũng không có dấu hiệu nào cho thấy ông ta đến Giê-ru-sa-lem với ý định gây hấn. Vì Si-ru ký sắc lệnh về việc này gần hai mươi năm về trước (so sánh các câu 13-16) nên có lẽ ông không nắm rõ vấn đề. Cho nên ông cần biết chắc tất cả những việc đó là hợp pháp, cụ thể có lẽ là vấn đề công quỹ sử dụng vào việc này (so sánh c.15 với 6:4,8). Câu 5 gợi ý rằng ông ta có thái độ muốn tin lời của người Do-thái, một thái độ mà một lần nữa tác giả xem là sự dự phòng của Đức Chúa Trời.
Chú giải. 10 Tác giả không chép bảng liệt kê danh sách vào đây, dù có lẽ ông vận dụng bảng đó vào chương 2. Như vậy, rõ ràng tác giả đã rút ngắn bức thư của Tát-tê-nai trong khi sao chép. 12 Cần chú ý đến mức độ thế hệ này thực hành theo lời dạy của các tiên tri thời tiền lưu đày, cho dù những sự dạy dỗ đó khó nuốt đến đâu. Xưng nhận tội lỗi quá khứ là một yếu tố quan trọng trong sự phục hưng. 16 Phần thứ hai của câu này không nhất thiết hoàn toàn sát thực tế, vì bất cứ công việc tái thiết nào khởi công trong thời Sết-ba-xa thì đều đã ngưng từ lâu. Tuy nhiên chủ yếu là về mặt pháp lý, người Do-thái muốn nói rằng công trình hiện thời của họ trực hệ lần cho phép ban đầu. Do đó họ nhắc đến những nhân vật có tên ghi trong văn thư lưu trữ của nhà nước chớ không đề cập đến những người lãnh đạo đương thời. 17 Như vậy là rất hợp lý vì đây là điều mà Tát-tê-nai muốn xác minh. Văn kiện liên quan đến chuyện này được lưu trữ tại Éc-Ba-ta-na (6:2), là một trong những thủ đô khác của Ba-tư, chớ không phải tại Ba-by-lôn, là một chứng cứ vững vàng về tính xác thực của chuyện này.
(Exo 6:1-12). Lời phúc đáp của Đa-ri-út. Kèm trong thư phúc đáp của Đa-ri-út có bản sao chiếu chỉ của vua Si-ru từ hồi đầu (3-6). Lời khai của người Do-thái đã được xác minh, và không những Đa-ri-út tái xác nhận điều đó mà còn thêm vào những điều khoản của riêng ông về việc trừng phạt nghiêm khắc những ai bất tuân chiếu chỉ (7-12). Những khám phá mới đây về các văn kiện hành chính của người Ba-tư, mặc dù không đề cập đến người Do-thái hoặc đền thờ Giê-ru-sa-lem, cho thấy rằng nhà nước ủng hộ những cuộc thờ phượng của dân địa phương trên khắp mọi miền của đế quốc.
Chú giải. 3 Có lẽ nên hiệu đính phần cuối của câu này là ‘cao ba mươi cu-bít, dài sáu mươi cu-bít và rộng hai mươi cu-bít’, tức là cao khoảng 13m (45 ft), dài 27m (90ft), và rộng 9m (30ft).
(Exo 6:13-18). Hoàn tất công trình và cung hiến đền thờ. Như khi mở đầu phần này, ở đây tác giả lại xoáy vào vấn đề Đức Chúa Trời tể trị trong diễn biến chính trị. Lịnh truyền của vua tương tự như lịnh của Đức Chúa Trời, tăng thêm phần quan trọng cho sứ điệp của các tiên tri (c.14, so với Exo 5:1). Tác giả kể luôn Ạt-ta-xét-xe ở đây có lẽ để báo trước việc ông ủng hộ E-xơ-ra trong chương sau. Dù sao, ông được nhắc đến ở đây không phải đế ám chỉ đến quyết định tiêu cực của ông trong chương 4.
Lễ cung hiến đền thờ trình bày cộng đồng này trong một tinh thần rất tích cực. Họ tự nhận mình là đại diện cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên thời kỳ tiền lưu đày (17), và các nghi lễ thích hợp gợi nhớ lại lễ cung hiến đền thờ của Sa-lô-môn khi đất nước còn thống nhất (IVua 8:1-66). Dù tình thế đó có vẻ xa vời cách biệt đối với thực tế của thời kỳ hậu lưu đày, nhưng vẫn được dùng để đề cao trước mắt độc giả một lý tưởng chung mà bất kỳ cộng đồng nào trong niềm tin này, vào thời đó hoặc từ đó về sau, đều nên nhắm đến.
(Exo 6:19-22). Cử hành Lễ Vượt Qua Tác giả quay qua dùng ngôn ngữ Hi-bá-lai để kết thúc toàn bộ chương 1 đến chương 6. Đối với tác giả, Lễ Vượt Qua là một kỳ lễ thích hợp cho một loạt những sự việc mà trong nhiều phương diện tác giả xem là một cuộc xuất hành thứ hai. Một lần nữa câu 21 nhấn mạnh rằng cộng đồng Do-thái mở rộng cho mọi người gia nhập mà không đòi hỏi một điều kiện tiên quyết nào.
Chú giải. 22 Dùng từ vua A-si-ri để chỉ về Đa-ri-út (vua Ba-tư) là khá lạ, có lẽ vì người A-si-ri vốn là một thế lực thống trị (so với Ne 9:32), một vai trò mà sau này được chuyển qua Ba-by-lôn (so sánh với IPhi 5:13 Kh 14:8 18:2). Lý giải như vậy là khá thích đáng vì đế quốc Ba-tư nổi lên thay đế quốc Ba-by-lôn mà đế quốc Ba-by-lôn lại chiếm chỗ đế quốc A-si-ri. Cũng có một số bằng chứng cho thấy người Ba-tư nhận biết như vậy.
2. E-XƠ-RA (Exo 7:1-10:44)
Những tư liệu về E-xơ-ra nằm trong Exo 7:1-10:44 và Ne 8:1-18. Một phần trong đoạn này được viết dưới dạng E-xơ-ra tự thuật, còn có lẽ những phần khác do một chủ biên sau này viết lại theo lời tự kể. Nếu cho rằng vị vua trong phần này là Ạt-ta-xét-xe I thì giữa Exo 6:1-22 và chương 7 có một khoảng thời gian là năm mươi bảy năm. Cụm từ Sau những việc ấy (7:1) bắc cầu qua khoảng thời gian khá dài chứng tỏ quá rõ ràng chủ tâm của tác giả là trình bày khía cạnh thần học thay vì lịch sử thuần túy. Rõ ràng ông không đơn thuần kể kiện lịch sử, nhưng ông kể lại sự kiện có ý nghĩa trong kế hoạch chung của Đức Chúa Trời nhằm phục hồi cộng đồng Do-thái sau khi mãn hạn lưu đày ở Ba-by-lôn.
1. Giới thiệu E-xơ-ra (Exo 7:1-10)
E-xơ-ra được giới thiệu là một thầy tế lễ và là một thầy thông giáo. Theo gia phả (1-5) ông là một người thuộc dòng dõi thầy tế lễ, hậu duệ của Sê-ra-gia, thầy tế lễ thượng phẩm cuối cùng của nước Giu-đa trước khi lưu đày (ISu 6:14). Tuy nhiên trong thời hậu lưu đày, càng ngày càng nhiều các thầy thông giáo đảm nhiệm công tác giáo huấn. E-xơ-ra là một trường hợp nổi danh (c.6,10). Một khi lời Kinh Thánh thành văn nắm thẩm quyền chính trong lãnh vực tín ngưỡng thì đương nhiên phải có việc dạy lời Kinh Thánh. Như vậy ông thi hành chức vụ này ở ngưỡng cửa bước vào thời kỳ luật pháp của Đức Chúa Trời được giảng giải cho dân sự của Ngài và như vậy chúng ta cũng được chuẩn bị cho phần quan trọng tức là sự giải nghĩa phần Kinh Thánh đã thành văn trong chuyện kể của ông.
Câu 6-9 tóm tắt cuộc hành trình của ông đến Giê-ru-sa-lem. Chương 8 viết thêm nhiều chi tiết hơn. Ngày mồng một tháng giêng (9) chỉ về ngày Lễ Vượt Qua (so với Xu 12:2), vì vậy mà về sau có người giải nghĩa rằng E-xơ-ra là Môi-se thứ hai. Những bài viết như bài này tổng hợp các nhân vật quan trọng và các biến cố vào khung quen thuộc về lịch sử cứu chuộc, dẫn tới một nhận thức đầy đủ hơn về sự tể trị của Đức Chúa Trời trên mọi chuyện của tất cả dân sự Ngài và làm cho các độc giả sau này cũng có thể lần ra những khung tương tự trong mớ kinh nghiệm của họ, dù có nhỏ nhoi và nông cạn đến đâu. Chính vì vậy mà cho đến nay các nhân vật trong Cựu Ước vẫn còn được xem là những tấm gương cho chúng ta (so với ICo 10:6,11).
2. Nhiệm vụ của E-xơ-ra (Exo 7:11-10:44)
Có lẽ thể theo lời thỉnh nguyện của E-xơ-ra (so sánh Exo 7:6) mà Ạt-ta-xét-xe giao công tác cho ông. Bản sao ở đây cho thấy hồi đó chiếu chỉ được viết bằng tiếng A-ram (xem chú giải 4:8). Ạt-ta-xét-xe giao cho ông bốn nhiệm vụ.
Thứ nhất, cầm đầu một đoàn người hồi hương từ Ba-by-lôn về Giu-đa (13). (Đây là chủ đề của chương 8). Thứ hai, vận chuyển nhiều tặng phẩm và tiền bạc ủng hộ cho đền thờ (15-20), lẫn chuyển sắc lệnh của vua cho các quan thủ kho bên kia sông Ơ-phơ-rát để họ cung cấp tiền bạc và vật liệu cho đền thờ. Trong chiếu chỉ bổ nhiệm E-xơ-ra có bản sao của sắc lệnh này (21-24). Có lẽ để tránh mọi nghi vấn trong việc cân đo tế nhị này nên E-xơ-ra tỏ ra rất kỹ khi thực hiện công tác trong chương 8:24-30,33-34,36.
Thứ ba, ông phải tra xét về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem chiếu theo luật pháp của Đức Chúa Trời (14). Theo mạch văn, có lẽ lắm việc này nhằm bảo đảm những lễ vật dâng cho đền thờ được sử dụng đúng theo luật pháp Do-thái phù hợp với phong tục của họ ở những nơi khác đã được người Ba-tư công nhận làm chuẩn cho sinh hoạt tôn giáo trong tỉnh. Có thể E-xơ-ra đã căn cứ vào lý do này khi ông xử lý những vụ hôn nhân dị chủng trong chương 9 và 10, vì rõ ràng trên phương diện pháp lý khó lòng xác định những cặp vợ chồng dị chủng ở dưới quyền của bộ luật nào.
Cuối cùng E-xơ-ra phải dạy cho người Do-thái sống ngoài tỉnh Giu-đa biết tuân giữ luật pháp Do-thái (25-26). Đây là một vấn đề rất tế nhị vì giữa luật pháp của Đức Chúa Trời ngươi và luật lệ của vua (26) có nhiều điểm dễ dẫn đến xung đột. Chắc hẳn người Do-thái ở Ba-by-lôn đã phải đối phó với vấn đề này, rồi đã giải quyết thoả đáng. Đối với những cộng đồng tương tự ở những nơi khác cũng đang đối phó với một hoàn cảnh tương tự thì còn ai có thể giảng giải những vấn đề đó giỏi hơn là một giáo sư hàng đầu của dân tộc? Từ thuở đó đến nay nhiều tín đồ trong mọi hoàn cảnh vẫn phải đối diện với vấn đề này. Vì thế cách thức giải quyết của E-xơ-ra rất bổ ích. Rất tiếc là các chương tiếp theo không đề cập đến việc này. Như vậy có thể ông chẳng bao giờ thực hiện được công tác này.
Văn kiện này hết sức quan trọng đối với lịch sử phát triển của Do-thái giáo, nên trong lời cầu nguyện đáp ứng của E-xơ-ra (27-28) ông chỉ nói về sự hỗ trợ của vua dành cho đền thờ là trung tâm thờ phượng của dân tộc của ông và sự kiện Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu thương bền vững của Ngài. Trải qua nhiều thế kỷ kể từ khi Áp-ra-ham được kêu gọi lần đầu tiên cùng với những lời hứa kèm theo, hoàn cảnh có lẽ hoàn toàn đổi thay nhưng Đức Chúa Trời vẫn là Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi, là Đấng có thể cảm động ngay cả một vị vua Ba-tư và các quan chức để xúc tiến những mục đích của Ngài.
Exo 8:1-36. Cuộc hành trình của E-xơ-ra đến Giê-ru-sa-lem Phần lớn chương này tường thuật khá rành mạch về việc E-xơ-ra tuân lịnh vua làm tròn nhiệm vụ. Tuy nhiên, đối với sự thành công trong ba vấn đề chính thì ông không tự hào là do tài năng của riêng ông mà do tay của Đức Chúa Trời chúng ta phù trợ chúng ta (c.18 so với c.22 và 31).
Trước hết E-xơ-ra mong mỏi rằng trong số những người hồi hương với ông (1-14) sẽ có một số người Lê-vi (15-20). Vì tại đền thờ họ chỉ phục vụ trong vị trí thứ yếu nên có thể lắm cuộc hồi hương không hấp dẫn họ cho lắm. Trong khi đó, nếu muốn cho cuộc hành trình này có ý nghĩa hình bóng rập theo cuộc hành trình trong sa mạc sau khi rời khỏi Ai-cập thuở xưa, thì cần có sự tham gia của người Lê-vi (so với Dan 10:11-28). Thuở đó, họ cũng đặc biệt chịu trách nhiệm vận chuyển các thánh vật.
Thứ hai, E-xơ-ra nhận định rằng cuộc hành trình đến nơi đến chốn an toàn nhờ bàn tay phù trợ của Đức Chúa Trời vì ông đã từ khước không nhận sự hộ tống của một toán lính theo như vua đề nghị (21-23). Hành động có vẻ nông nỗi, tự cao, tự đại này đã đẩy đoàn dân đến chỗ kêu cầu Đức Chúa Trời và đức tin của họ đã được tưởng thưởng. Tuy nhiên thái độ trái ngược của Nê-hê-mi (so với Ne 2:9) nhắc độc giả nhớ rằng Đức Chúa Trời có thể giúp đỡ dân của Ngài qua những phương tiện ‘bình thường’ cũng như phi thường. Nguyên tắc này đạt đỉnh điểm trong sự kiện Chúa Giê-xu trở nên con người.
Đôi khi Cơ-đốc nhân mắc vào khuynh hướng suy nghĩ rằng Đức Chúa Trời chỉ hành động qua phép lạ và những sự việc đặc biệt chớ không hành động qua những hình thức ‘không thuộc linh’ tầm thường, thí dụ như những ban chấp hành. Tuy nhiên để cứu rỗi chúng ta, Đức Chúa Trời quyết định trở thành người trong thân vị của Đấng Christ. Như vậy đương nhiên chúng ta có thể thấy Ngài hành động qua những công cụ biệt riêng của con người cũng như khi Ngài hành động mà không cần đến những công cụ đó. Ngài là Đức Chúa Trời của toàn bộ đời sống của chúng ta nên chúng ta phải thận trọng, e chúng ta đóng khung giới hạn hành động của Ngài. Rốt cuộc thì con đường đó chỉ dẫn đến chỗ loại Ngài ra khỏi phần lớn cuộc sống của chúng ta hoặc nói cách khác, chỉ dẫn đến sự giả hình.
Thứ ba, vận chuyển những lễ vật quí giá (chương 7) mà không bị cướp giữa đường cũng được xem là nhờ có bàn tay phù trợ của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, ở đây một lần nữa sự kiện E-xơ-ra tỉ mỉ tính sổ cho thấy ai mà chủ trương cung cách ‘thuộc linh’ trái hẳn cung cách ‘thực dụng’ thì lầm to.
Đoàn người hồi hương dâng lễ vật tạ ơn khi về đến Giê-ru-sa-lem an toàn khoẻ khoắn và được an nghỉ (35) là chuyện đương nhiên. Sau đợt hồi hương thứ nhất, lâu năm mới đến đợt hồi hương này, họ khám phá rằng cuộc xuất hành thứ hai không phải là một sự kiện đơn lẻ duy nhất nhưng những thế hệ đến sau vẫn có cơ hội tham gia và hưởng niềm vui của cuộc xuất hành. Những lời hứa và niềm hi vọng về cuộc xuất hành vẫn còn đó, đợt hồi hương thứ nhất chưa uống cạn đâu, còn những người quyết định hồi hương vào những đợt sau cũng không có gì đáng chê trách cả. Trái lại mỗi thế hệ mới đều có cơ hội được giải cứu và nhận một cuộc sống mới đầy ắp thách thức đưa đẩy họ đến chỗ quyết định.
Exo 9:1-15. Báo cáo về những cuộc hôn nhân dị chủng và lời xưng tội của E-xơ-ra. Bốn tháng đã trôi qua (so với Exo 10:9), và theo 10:3 gợi ý thì chúng ta có thể đoán rằng trong thời gian đó E-xơ-ra đã bắt đầu công tác giảng dạy như Nê-hê-mi 8 cho thấy. Theo chương này và những chỗ khác chúng ta thấy rằng ông có thể ứng dụng trở lại những bài học mà người ta cho là đã lỗi thời so với những tình huống mới, cụ thể là ông đã phối hợp những đoạn Kinh Thánh khác nhau lại để đúc kết những nguyên tắc thần học làm căn bản cho những luật lệ cụ thể cổ xưa.
Kết quả là dân sự đạt đến chỗ nhận thức rằng kết hôn với những người ngoại quốc vô tín, về nguyên tắc, không khác gì với sự kết hôn với những cư dân Ca-na-an mà tổ phụ họ đã bị nghiêm cấm. Hầu hết các dân tộc được đề cập trong câu 1 không còn tồn tại nữa nhưng căn cứ vào nhiều tài liệu khác nhau (kể cả Le 18:1-30 19:19 Phu 7:1-4 20:10-18) thì họ hiểu rằng luật pháp có giá trị trong hoàn cảnh hiện thời.
Lời cầu nguyện của E-xơ-ra hoàn toàn có tính cách xưng tội. Không có một lời cầu xin tha thứ hoặc một lời thỉnh nguyện nào khác. Đỉnh cao của lời cầu nguyện này là Hỡi Đức Giê-hô-va ... Chúa vốn là công bình (15). Cho dù Đức Chúa Trời huỷ diệt dân sự của Ngài, E-xơ-ra công nhận rằng Ngài vẫn công bình. Có thể nói rằng điều này là yếu tố tạo thành tinh thần thờ phượng cao nhất: ca ngợi tôn vinh Đức Chúa Trời chỉ vì Ngài là Đức Chúa Trời, không phải vì những điều mà người thờ phượng mong mỏi nhận từ nơi Ngài.
Do đó E-xơ-ra chọn tư thế của một người khóc than người chết (3) là rất thích hợp, và ông đại diện cầu nguyện thay cho toàn thể dân sự. Một lần nữa, lời cầu nguyện của ông (6-15) dựa trên những tư liệu trong Kinh Thánh đã thành văn. Ông chuyển từ lời than thở riêng của mình qua lời than thở chung của dân tộc (6-7). Ông nói lên sự thương xót hiện tại của Đức Chúa Trời làm nổi bật sự bội bạc của dân sự (8-9). Ông xưng tội cụ thể (10-12) và nói lên dự định cho tương lai (13-14), rồi kết thúc bằng một lời xưng tội tổng quát (15).
Exo 10:1-44. Giải quyết vấn đề những cuộc hôn nhân dị chủng. Có nhiều điều đáng học hỏi trong phong cách lãnh đạo của E-xơ-ra. Cũng như trong những trường hợp khác (thí dụ Exo 9:1 Ne 8:1), ở đây E-xơ-ra chờ cho dân sự đến tỏ bày với ông. Qua lời giảng dạy, tinh thần kiên trì và gương sáng của chính mình, chớ không phải ép buộc, ông đã vực họ dậy, khiến họ tự đạt được những quyết định mà ông thấy là bổ ích cho họ.
Sau khi trình bày những tình huống liên hệ (14) bài tường thuật đi thẳng vào việc những người có tên trong bảng danh sách liệt kê trong phần cuối chương này phải ly dị vợ. Câu đầu và câu cuối đề cập đến hình ảnh thảm thương của phụ nữ và trẻ em. Chi tiết này ngầm bày tỏ rằng tác giả nhận biết đầy đủ sự đau thương mà những người liên quan phải trả. Có thể vấn nạn chính mà độc giả vấp ở đây là lý do khiến xảy ra chuyện này chớ không phải là diễn biến của sự việc.
Điểm quan trọng cần lưu ý là trong hoàn cảnh bấp bênh của mình, cộng đồng Do-thái ở Giu-đa cần nhận thức rõ ràng về tính cách đặc thù của cộng đồng nếu họ muốn tồn tại. Chiếu chỉ của Ạt-ta-xét-xe (Exo 7:12-26) đã uỷ thác cho E-xơ-ra nhiệm vụ phát triển Do-thái giáo trong một cộng đồng dứt khoát có tính cách tôn giáo. Vì vậy phải xác định lại những điều kiện để được làm thành viên của cộng đồng này, bằng không, những yếu tố đặc thù của tín ngưỡng này có nguy cơ bị lạm dụng, biến dạng đến nỗi không làm sao phân biệt được nữa. Đối với dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay vấn đề này vẫn còn là một nguyên tắc có giá trị (Mat 5:13-16), mặc dù những biện pháp cụ thể mà E-xơ-ra dùng để đạt được mục tiêu không còn áp dụng cho Cơ-đốc nhân nữa (ICo 7:1-40 IPhi 3:1-7).
Vì cớ đó, quả là thiếu khôn ngoan nếu ứng dụng nguyên khung hoàn cảnh lịch sử đặc thù này vào trường hợp một Cơ-đốc nhân quyết tâm lập gia đình với người ngoại đạo. (IICo 6:14 không trực tiếp bàn giải vấn đề đó, mặc dù người ta vẫn thường vận dụng nguyên tắc của câu này vào vấn đề hôn nhân khác tín ngưỡng). Dầu sao, toàn bộ vụ việc này nhắc chúng ta ưu tiên thực hiện mọi việc trong khả năng để củng cố niềm tin và mối tương giao của chúng ta, chớ đừng dấn thân vào những tình huống có thể dẫn chúng ta đi ngược hướng.