CÁC QUAN XÉT

MỤC LỤC

CÁC QUAN XÉT

1. THỜI KỲ HẬU GIÔ-SUÊ. QUÂN ĐỘI SUY YẾU (Cac 1:1-2:5)

1. Dân Y-sơ-ra-ên cầu hỏi Đức Chúa Trời (Cac 1:1-36)

(Cac 1:1-2). Xem Gios 24:28-29 về sự qua đời của Giô-suê.  Trước khi qua đời, Giô-suê có nói về số dân Ca-na-an vẫn còn sống trong vùng đã phân chia cho các chi phái, nhưng ông đảm bảo rằng nhờ sự trợ giúp của Đức Chúa Trời, dân Y-sơ-ra-ên có thể đánh đuổi các dân này (23:1-5).  Khi cầu hỏi Đức Chúa Trời, dân sự đã thừa nhận quyền lãnh đạo của Ngài trên họ.  Có thể họ cầu hỏi Đức Chúa Trời qua thầy tế lễ (Cac 20:18,27-28) tại Ghinh-ganh gần Giê-ri-cô, vì sau đó họ dời đi từ đây (1:16  2:1 so sánh Gios 5:10).  Chi phái Giu-đa được chỉ định đi đầu trong câu 2, đây là chi phái đông dân nhất và khí thế mạnh nhất và về sau, Đấng Mê-si-a cũng hiện đến từ chi phái này (Sa 49:10).

(Cac 1:3-21). Thắng lợi thất bại của các chi phái phía nam Chú ý đến sự liên minh giữa chi phái Giu-đa và chi phái Si-mê-ôn trong các câu 3 và 17.  Sự việc này đóng khung cho bài tường thuật về chiến dịch của chi phái Giu-đa trong các câu 4-16.  Phần phụ lục tóm lược các thành đạt của chi phái Giu-đa tiếp theo trong các câu 18-21.  Liên minh như thế là lẽ đương nhiên vì chi phái Si-mê-ôn nhỏ hơn và đất đai chia cho họ nằm trong lãnh thổ của chi phái Giu-đa (Gios 19:1).

Trước hết, Giu-đa tiến lên từ thung lũng Giô-đanh đến Giê-ru-sa-lem qua ngã Bê-xéc (4-8 từ tấn công trong bản NIV câu 4 nguyên văn là ‘đi lên’) rồi đi xuống miền đồng bằng ven biển về phía tây nam Giê-ru-sa-lem qua ngã Hếp-rôn, Đê-bia và Xê-phát Họt-ma (9-16).  Hình phạt dành cho A-đô-ni Bê-xéc (có nghĩa là ‘Đức Chúa Trời của Bê-xéc’) là hình thức báo trả cách đối xử tàn nhẫn của ông với những người khác (5-7).  Giê-ru-sa-lem (7-8) là thành phố có trước thời dân Y-sơ-ra-ên, nằm ở ranh giới lãnh thổ của chi phái Giu-đa và chi phái Bên-gia-min (15:8  18:28).  Thành phố này bị dân Giu-đa phá phách nhưng dân cư của thành là người Giê-bu-sít vẫn giữ được (hoặc có lẽ sau này họ đã chiếm lại) một thành luỹ (21).  Hếp-rôn hoặc Ki-ri-át A-ra-ba (‘thành A-ra-ba’) là đồn luỹ của dân A-na-kim, con cháu của dân A-ra-ba, nổi tiếng là tài giỏi và to lớn (Dan 13:32-33).  Ốt-ni-ên, nổi bật trong trận đánh tại Đê-bia (11-15) tái xuất hiện trong 3:9 như vị quan xét đầu tiên và cô vợ khôn ngoan tháo vát của ông, nàng Ac-sa là người đầu tiên trong số các phụ nữ có tầm cỡ như thế trong sách (Gia-ên trong chương 4 một ‘phụ nữ khác’ ở Thê-bê trong chương 9 và Đa-li-la trong chương 16).  Ca-lép trung thành, tuy già nua song vẫn còn mạnh mẽ, là một vị đại diện xuất sắc của các trưởng lão sống thọ hơn Giô-suê (Gios 2:7 so sánh Dan 13:30).  Câu 16 ghi lại trọn lời hứa của Môi-se dành cho ông Hô-báp, lãnh tụ dân Kê-nít, một bộ tộc dân Ma-đi-an (10:29-32) được thực hiện.  Trong khi đó, câu 17 cho biết người Giu-đa đền đáp sự giúp đỡ của người Si-mê-ôn bằng cách tham gia chiến dịch tấn công Xê-phát, một thành phố trong lãnh thổ Si-mê-ôn.

Cho đến lúc này mọi việc diễn ra tốt đẹp, nhưng phần phụ đính trong các câu 18-21 chứa đựng những tín hiệu bất ổn cho biết không phải mọi việc đều tốt đẹp.  Khởi đầu, Giu-đa đạt thắng lợi tại các thành phố ven biển ở Ga-xa, Ách-ca-lôn và Éc-lôn (18) nhưng lại không thể đánh bật dân này ra khỏi vùng vì họ có xe sắt (19).  Chi tiết này cho thấy có lẽ dân Phi-li-tin với kỹ thuật cao hơn đã tiến trước vào xứ này.  Vì sao những chiếc xe sắt nắm phần quyết định trong khi Đức Chúa Trời ở cùng với người Giu-đa (19 so sánh câu 2).  Khó hiểu không kém là chuyện người Bên-gia-min không đuổi được người Giê-bu-sít ra khỏi Giê-ru-sa-lem (21).  Ca-lép chiến thắng hoàn toàn tại Hếp-rôn (20, so sánh c.10), thế nhưng người Bên-gia-min không giành được chiến thắng tương tự tại Giê-ru-sa-lem (8).  Mãi đến Cac 2:1-5, nguyên nhân thật về sự thất bại của họ mới được tiết lộ.

Chú thích.  15  Negev là vùng khô cằn phía nam xứ Palestine, nằm về phía tây nam của mũi phía nam Biển Chết.  Vùng đất Ca-lép cho Ac-sa khó lòng sinh lợi nếu không có nước.

(Cac 1:22-36). Những thắng lợi thất bại của các chi phái phía bắc Chi phái Ép-ra-im và Ma-na-se là con cháu của hai con trai Giô-sép có cùng tên gọi như chi phái (Sa 41:51).  Họ là hai chi phái đông dân nhất và có khí thế mạnh mẽ nhất ở miền bắc và miền nam xứ Palestine.  Vì thế, nhà Giô-sép ở đây ám chỉ về hai chi phái này và các chi phái phía bắc khác kết phù hợp với họ.  Cụm từ này được nhắc đến hai lần (22,35) đóng khung cho bản tường thuật về những thắng lợi và thất bại của các chi phái miền bắc (c.22-35).  Câu 36 nằm ngoài khung này là phần phụ đính.  Như thế, các câu 22-36 có cùng bố cục như các câu 3-21.  Nhà Giô-sép ‘tấn công’ trong câu 22 giống như Giu-đa trong câu 4 (trong cả hai trường hợp, động từ theo nghĩa đen là ‘đi lên’) và Đức Chúa Trời ở với họ (22) như đã ở với Giu-đa (19).  Như Giu-đa, nhà Giô-sép giành được thắng lợi ban đầu (22-26) nhưng sau thắng lợi là một loạt thất bại (27-35), thậm chí còn to lớn và nặng nề hơn ở miền nam.  Mầm mống thất bại có thể nhận thấy từ các câu 22-26.  Nhờ thỏa thuận với một người Ca-na-an, họ mới chiếm được Bê-tên, về sau người Ca-na-an này xây lại thành trên một vị trí mới (23,24,26).  Trong các câu sau, chúng ta thấy tình hình tồi tệ hơn, vì dân Ca-na-an sống giữa người Y-sơ-ra-ên (27-30), và người Y-sơ-ra-ên sống giữa người Ca-na-an (31-33) nên cuối cùng dân A-mô-rít dồn đẩy dân Y-sơ-ra-ên lên đồi núi (34).  Kết thúc là cuộc hưu chiến, tập thể các chi phái miền bắc đủ mạnh để cai trị nhưng vẫn không đánh đuổi được dân Ca-na-an (28,30,33,35).  Lời ghi chép cuối (36) cho chúng ta biết thay vì chiếm đóng hoàn toàn thì họ chỉ thực hiện được cuộc phân chia đất đai cho người Y-sơ-ra-ên và những người không phải là dân Y-sơ-ra-ên.  Một lần nữa, những lý do thất bại ám chỉ ở đây sẽ được trình bày rõ trong chương Cac 2:1-5.

Chú thích.  22  Bê-tên (‘nhà của Đức Chúa Trời’) là tên do Gia-cốp đặt (Sa 28:17-19 xem thêm trong Cac 4:5).  26  Đế quốc Hê-tít bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay và vùng phía bắc Palestine, cho đến tận phía nam sông Orontes.  Vùng phụ cận Hếp-rôn cũng có một số dân Hê-tít cư ngụ (Sa 23:1-16) nhưng đoạn văn này cho rằng họ ở vùng xa hơn.  27  Bết-sê-an, Tha-a-nác và Mê-ghi-đô là một tuyến phòng thủ của dân Ca-na-an trải ra hướng tây từ núi Cạt-mên trong vùng phía bắc Palestine dọc theo thung lũng Gít-rê-ên phì nhiêu.  29  Ghê-xe là một thành chiến lược nằm bên đường đi từ đồng bằng ven biển đến Giê-ru-sa-lem.  30  vị trí của Kít-rôn và Na-ha-lô chưa biết rõ.  31  A-cô...  Rê-hốp là các thành trên bờ biển phía bắc núi Cạt-mên nay là Li-ban.  33  Bết Sê-mết (‘nhà mặt trời’) và Bết A-nát (‘nhà của A-na’, tên của nữ thần phì nhiêu) là các thành gần sông Giô-đanh, ngay phía nam biển Ga-li-lê.  34  Dân A-mô-rít (‘người phương tây’) là dân Xê-mít từ đồng vắng A-ra-bi đến định cư tại Ca-na-an trước dân Y-sơ-ra-ên.  35  Núi Hê-re, A-gia-lôn và Sa-a-bim là các thành trong vùng đồi núi phía tây Giê-ru-sa-lem.  36  Đèo Scorpion (‘Ac-ráp-bim’) và Sê-la (‘Tảng đá’) gần mũi phía nam của Biển Chết (so sánh dân A-mô-rít tại ‘Hát-sát-sôn Tha-ma’ trong Sa 14:7).

2. Y-sơ-ra-ên bị kết tội không vâng phục  (Cac 2:1-5)

Phân đoạn này là cao điểm của Cac 1:1-2:5.  Đã đến lúc họ phải xét lại và lượng giá tình hình (xem 1:1 và lời chú giải 1:2  1:22) vì thiên sứ của ĐỨC GIÊ-HÔ-VA ‘đi lên’ từ Ghinh-ganh trong câu 1.  Rốt cuộc, nguyên nhân thất bại mô tả ở chương trước nay được tiết lộ: Không trung thành với Đức Chúa Trời (2 so sánh Xu 34:12-16).  Nếu họ trung thành, Đức Chúa Trời chắc đã ban cho họ chiến thắng trọn vẹn, nhưng nay thay vì ăn mừng chiến thắng, họ lại khóc lóc đắng cay (4).

Chú thích.  1  Thiên sứ Đức Giê-hô-va là ‘chính Đức Chúa Trời’ mang hình thức là một thiên sứ (so sánh Cac 6:11-24  13:3-21).  Ghinh-ganh (‘vòng tròn’) gần Giê-ri-cô (1:1,16 và lời chú giải).  Bô-kim (‘người than khóc’) có lẽ là Bê-tên, nhưng ở đây gọi là Bô-kim vì lý do trong câu 4-5.  3  Cho nên bây giờ Ta phán cùng các ngươi chính xác hơn là “Ta cũng có phán...”.  Câu này trích dẫn lại lời đe doạ trước đây (Dan 33:35  Gios 23:13).  Mãi đến Cac 2:20, Đức Chúa Trời mới công bố ý định thực hiện lời đe dọa của Ngài.

2. HẬU GIÔ-SUÊ: THUỘC LINH SUY ĐỒI(Cac 2:6-3:6)

1. Sa vào tội bội đạo (Cac 2:6-10)

Lời phán của thiên sứ của Đức Giê-hô-va trong các câu 1-5 dẫn nhập cho chủ đề về lòng bất trung của Y-sơ-ra-ên.  Lúc này, tác giả đứng trên một bối cảnh mới để quan sát lần thứ hai về thời kỳ sau khi Giô-suê qua đời.  Chỉ cần qua một thế hệ, kỷ niệm về những việc làm lớn lao của Đức Chúa Trời dưới thời Giô-suê và sự hiểu biết thực sự về chính Đức Chúa Trời đã mờ nhạt theo.

Chú thích.  Bối cảnh chung của câu 6-10 là Giô-suê 24 (đặc biệt các câu 28-31).  9  Thim-nát Hê-re (xem bản NIV mg.) thuộc vùng đồi núi phía tây bắc Giê-ru-sa-lem.

2. Khái quát về thời kỳ Các Quan Xét (Cac 2:11-19)

Các câu này vạch sơ một khuôn mẫu sẽ được lập lại nhiều lần trong các chương sau.  Dân Y-sơ-ra-ên khiêu khích Đức Chúa Trời bằng sự thờ phượng các thần khác (11-13).  Đức Giê-hô-va hình phạt bằng cách bỏ mặc họ cho kẻ thù (14-15).  Khi họ gặp khó khăn cùng cực, thì Ngài dấy các quan xét lên giải cứu họ (16-18).  Khi quan xét qua đời, dân sự lại quay về đường cũ (19).  Đức Giê-hô-va vừa giận, lại vừa thương xót họ (12,18b).  Còn dân Y-sơ-ra-ên vẫn cứ ngoan cố phản nghịch (17,19b).

Chú thích.  Ba-anh và Át-tạt-tê (11,13) là các thần thiên nhiên (Ba-anh là nam thần, còn Át-tạt-tê là nữ thần) được dân Ca-na-an tôn thờ.  Họ tin các thần này có quyền kiểm soát thời tiết, và có quyền khiến cho đất đai mầu mỡ hơn, người và súc vật sinh sản nhiều.  Các vị quan xét (16,18,19) giữ vai trò trong địa hạt quân sự (là nhà giải phóng), trong địa hạt tôn giáo (là người giảng luật pháp Đức Chúa Trời xem câu 17) và vai trò về mặt pháp lý trong việc giải quyết các vụ kiện tụng trong thời bình (Cac 4:4-5).

3. Phản ứng cuối cùng của Đức Chúa Trời (Cac 2:20-3:6)

(Cac 2:20-23). Với khúc văn này, chúng ta biết được giai đoạn cuối của thời đại các quan xét và biết được phản ứng của Đức Chúa Trời ra sao về tội cố tình phản bội của dân Y-sơ-ra-ên.  Lúc đầu, dân Ca-na-an được để lại nhằm thử nghiệm lòng trung thành của dân Y-sơ-ra-ên sau khi Giô-suê qua đời, rốt cuộc được lưu lại luôn nhằm hình phạt lâu dài vì lòng bất trung của họ (Cac 2:20-3:4).  Nghĩa là dân Y-sơ-ra-ên đã thất bại trong cuộc thử nghiệm nên Đức Chúa Trời thi hành lời đe doạ mà Ngài đã phán tại Bô-kim 2:3).  Hai câu cuối (3:4-5) tóm lược toàn bộ lời giới thiệu của sách: dân Y-sơ-ra-ên sống giữa vòng dân Ca-na-an (so sánh 1:1-2:5) và phụng sự các thần của họ (so sánh 2:6-3:6).  Hôn nhân với dân Ca-na-an là việc Đức Chúa Trời dứt khoát cấm (Phu 7:3) được nhắc đến ở đây lần đầu tiên.

Chú thích.  22  Bản văn tiếng Hi-bá-lai không có các chữ Ta sẽ dùng chúng.  Cả câu này và câu kế tiếp đều nói đến việc để lại một số  người Ca-na-an vào thời Giô-suê qua đời nhằm thử nghiệm họ (so sánh Gios 23:4-5).  Cac 3:1  Chiến trận Ca-na-an là trận đánh chiếm được mô tả trong sách Giô-suê.  3:2  Đức Giê-hô-va có ý định thử nghiệm thế hệ kế tiếp bằng cách để cho họ kinh nghiệm chiến đấu với dân Ca-na-an.  3:3  Dân Phi-li-tin di trú từ Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ) qua ngã Cơ-rết, họ đến sau dân Y-sơ-ra-ên một thời gian ngắn (1:18 so sánh  Am 9:7).  Họ xây năm thành phố độc lập tập trung vào vùng hiện nay là giải Ga-xa phía tây nam Palestine, nhưng mở rộng xa hơn.  Dân Si-đôn là dân Phê-ni-xi, thành phố chính của họ lúc ấy là Si-đôn.  Chưa xác định được thân thế của dân Hê-vít.  Núi Ba-anh Hẹt-môn cho đến Lê-bô Ha-mát chỉ về vùng đồi núi phía đông rặng La-ban (về hướng Đa-mách).  Cac 3:5  Đây là bản danh sách truyền thống về các dân tộc sống trong xứ Ca-na-an trước khi dân Y-sơ-ra-ên đánh chiếm (so sánh Xu 3:8,17  23:23).

Cac 3:1-6; xem giải nghĩa Cac 2:20-23

3. SỰ NGHIỆP CỦA CÁC VỊ QUAN XÉT (Cac 3:7-16:31)

1. ỐT-NI-ÊN, Ê-HÚT, SAM-GA (Cac 3:7-31)

(Cac 3:7-11) Ốt-ni-ên

Sau phần trình bày tổng quát trong Cac 2:6-3:6, giờ đây theo thứ tự, tác giả cống hiến cho chúng ta biết về sự nghiệp của các vị quan xét do Đức Chúa Trời dấy lên (2:16).  Trước nhất là Ốt-ni-ên, một nhân vật gương mẫu về nhiều phương diện.  Ông thuộc về bộ tộc có liên hệ mật thiết với chi phái Giu-đa, là chi phái đi đầu (1:13).  Hơn nữa, ông nổi bật trong chiến trận và chiếm được con gái Ca-lép làm vợ (1:11-15) - đối với ông không hề có chuyện hôn nhân với người Ca-na-an (3:6).

Sự nghiệp của Ốt-ni-ên phỏng theo khung bố cục trong 2:11-19 nhưng thêm hai chi tiết: dân Y-sơ-ra-ên than khóc (9) và ông được ban Thánh Linh (10).  Ốt-ni-ên được Đức Chúa Trời chỉ định làm người giải phóng bằng cách ban cho quyền năng đặc biệt bởi Thánh Linh của Ngài.  Theo ý nghĩa này, ông là nhà lãnh đạo có ‘ấn chứng bằng Thánh Linh’.  Ốt-ni-ên là vị quan xét thứ nhất, tiêu biểu cho đặc điểm quan yếu trong chức vụ quan xét.  Sự nghiệp của các vị quan xét tiếp theo có những thay đổi so với khung sườn căn bản này.

Chú thích.  7  A-sê-ra cũng tương tự như ‘Át-tạt-tê’ (xem 2:13 và lời chú giải).  8  Cu-san Ri-sa-tha-im (‘Cu-san độc ác gấp đôi’) có lẽ là tên do các nạn nhân đặt cho bạo chúa.  Đặc điểm của ông chưa ai biết rõ.  A-ram Na-ha-ra-im (‘A-ram ở trên lưỡng hà’) có lẽ ở về phía bắc Mê-sô-bô-ta-ni (nay là I-rắc - Sy-ri).  Xem phần chú thích bên lề bản NIV và so sánh với bản RSV.  9  Ngoài việc làm con rễ Ca-lép, Ốt-ni-ên cũng có thể là em trai hoặc là cháu của Ca-lép, cháu của Ca-lép thì đúng hơn (bản Hi-bá-lai cũng như bản tiếng Anh đều mơ hồ), so sánh ISu 4:13-15.  10  Trở thành Quan Xét Y-sơ-ra-ên (nguyên văn là ‘xét xử Y-sơ-ra-ên’ so sánh bản RSV) ở đây chúng ta phải hiểu câu này có tính cách công bố (xem Cac 2:17 và lời chú giải).  So sánh Sa-mu-ên trong bối cảnh biến động của dân Phi-li-tin (ISa 7:6 bản RSV).

(Cac 3:12-30) Ê-hút

Các câu 12-14 trình bày bối cảnh cho phần tường thuật sự nghiệp của Ê-hút, vị quan xét thứ hai, trong các câu 15-30.  Về căn bản, sự nghiệp của ông giống như của Ốt-ni-ên, nhưng chính bản thân Ê-hút là một nhân vật khác biệt rõ rệt.  Ông xuất thân từ chi phái Bên-gia-min (15) là chi phái bị phê bình kém cỏi trong chương 1 (Cac 1:21).Hơn nữa, ông là người thuận tay trái (15), ông đã quỉ quyệt phỉnh gạt để sát hại tên bạo chúa (16-25) trước khi lâm trận (26-29).  Dù vậy, ơn thần hựu của Đức Chúa Trời đã dẫn dắt ông, Ngài dùng vị anh hùng ít ai ngờ để giải phóng một dân tộc ngoan cố và không xứng đáng (15,28,30).

Chú thích.  12  Mô-áp là một nước nhỏ ở về phía đông Biển Chết (nay nằm trong lãnh thổ Gióc-đan-ni).  Dân Mô-áp (và dân Am-môn câu 13) là dòng dõi của Lót, cháu chú bác của Áp-ra-ham (Sa 12:5  19:36).  13  Am-môn nằm về hướng đông bắc Mô-áp.  Dân A-ma-léc là một bộ tộc du mục từ phía nam Ca-na-an và phía bắc bán đảo A-ra-bi.  Họ là kẻ thù đầu tiên dân Y-sơ-ra-ên chạm trán sau khi rời Ai-cập (Xu 17:8-16).  Thành Cây Chà-la là Giê-ri-cô (xem phần chú giải bên lề bản NIV và so sánh Cac 1:16).  Thành này đã bị phá huỷ (Gios 6:24  IVua 16:34).  ‘Cung điện mùa hè’ của Éc-lôn (có lẽ không nguy nga như bản dịch mô tả xem chú giải bên lề bản NIV) chắc hẳn ở tại ốc đảo ‘Ain es-Sultan’, nơi dân Mô-áp tạm chiếm đóng.  15  Việc thuận tay trái đem lại cho Ê-hút lợi thế bất ngờ và ông đã biết cách tận dụng nó (21 so sánh Cac 20:17).  19  Thần tượng (nguyên văn là ‘đá chạm trổ’) có lẽ không phải là những tảng đá do Giô-suê dựng (Gios 4:20) nhưng là di tích bằng đá sắp thành vòng tròn của những người ngoại đạo thời xưa.  Về Ghinh-ganh (‘vòng tròn’) xem Cac 1:1  2:1 và phần chú thích.  Đây là nơi dân Y-sơ-ra-ên dựng trại đầu tiên sau khi vượt qua Giô-đanh (Gios 4:19).  26  Vị trí của Sê-ri-a chưa ai biết rõ.

(Cac 3:31) Sam-ga

Sam-ga là vị anh hùng thậm chí còn xa lạ hơn cả Ê-hút nữa.  Có thể ông không phải là người Y-sơ-ra-ên, vì tên riêng ‘Sam-ga’ không phải thuần túy là tiếng Hi-bá-lai, còn ‘A-nát’ rõ ràng là tên riêng của dân ngoại bang (xem chú thích bên dưới).  Tuy nhiên, ông đã chiến thắng dân Phi-li-tin và ‘giải cứu’ dân Y-sơ-ra-ên.  Dân Phi-li-tin là kẻ thù chung của dân Ca-na-an và dân Y-sơ-ra-ên (Cac 3:3).  Thắng lợi với chiến thuật khác thường này (‘vũ khí là cây đót bò’), Sam-ga báo trước những chiến công của Sam-sôn (15:15-16).  ‘Ngày Sam-ga con trai A-nát’ trong 5:6 được nhắc lại như là thời kỳ khó khăn, khi Y-sơ-ra-ên bị quân thù đàn áp nặng nề.  Trong hoàn cảnh này, Đức Chúa Trời là Đấng luôn thành tín đã dùng những biện pháp phi thường để giải cứu họ, dù chỉ tạm thời.  Vì không thấy nói đến việc vãn hồi hoà bình (so sánh 3:30 và 5:31), nên có thể chiến công của Sam-ga là một biến cố lẻ loi, dầu vậy vẫn có ý nghĩa.

Chú thích.  A-nát là nữ thần chiến đấu của dân Ca-na-an, là bạn và là vợ của Ba-anh.  Con trai của A-nát ở đây có thể là ‘một người giống A-nát’, tức là ‘một chiến sĩ’.  Con số sáu trăm thường dùng để chỉ về một tổ chức quân đội dưới quyền chỉ huy của một người (so sánh 18:11).

2. Ba-rác (với Đê-bô-ra và Gia-ên) (Cac 4:1-5:31)

(Cac 4:1-3). Áp bức Câu 1 cho chúng ta biết rõ sự bội đạo bắt đầu từ khi Ê-hút qua đời.  Chiến thắng của Sam-ga chỉ đem lại sự giải thoát tạm thời nhưng tình trạng thuộc linh của dân Y-sơ-ra-ên vẫn không có gì thay đổi.  Vì thế, Đức Chúa Trời tiếp tục hình phạt họ, lần này Ngài dùng Gia-bin và Si-sê-ra.

Chú thích.   2  Hát-so cách Biển Ga-li-lê 18 dặm về hướng tây bắc, sát biên giới Li-ban-Y-sơ-ra-ên ngày nay.  Trước kia, Hát-so là thành có thế lực nhất của dân Ca-na-an ở miền bắc Palestine.  Có thể Gia-bin là danh hiệu của các vua ở Hát-so (so sánh ‘Pha-ra-ôn’ là danh hiệu của các vua Ai-cập).  Giô-suê chiến thắng một ‘Gia-bin’ khác tại Hát-so trước đó gần 200 năm (Gios 11:1-11).  Có lẽ sau đó thành được xây dựng lại nên câu 23-24 có thể nói về cuộc tàn phá thành Hát-so lần cuối cùng vào thế kỷ XIII như đã được khoa khảo cổ chứng thực.  Tên Si-sê-ra gợi ý rằng ông là lãnh tụ một lực lượng mệnh danh là Dân Miền Biển, tương tự như dân Phi-li-tin, dân này di trú bằng thuyền từ vùng biển Aegean ở phía đông đến Palestine.  Cả tên thành Ha-rô-sết Haggoyim (‘Ha-rô-sết thuộc về dân ngoại bang’) lẫn vị trí của thành (sát bờ biển Địa Trung Hải gần núi Cạt-mên hướng tây bắc Palestine) gợi cho chúng ta biết thuở ban đầu dân Miền Biển định cư tại đây.  Gia-bin khám phá thấy dân này là một liên minh có triển vọng chống lại dân Y-sơ-ra-ên, nhưng thế lực của Gia-bin đã đến hồi suy vi.

(Cac 4:4-24). Giải phóng Căn cứ vào tên và địa danh các chi phái, chúng ta biết lần này cuộc chiến xảy ra ở phía bắc và ngay trung tâm Palestine, đặc biệt tại vùng phụ cận sông Ki-sôn (7), chứ không phải ở phía nam.  Sông này chảy về hướng tây ngang qua thung lũng Gít-rê-ên đến bờ biển gần Núi Cạt-mên, hoặc là Haifa ngày nay.  Khác với những lần giải phóng trước, công cuộc giải phóng dân Y-sơ-ra-ên lần này do ba lãnh tụ chính điều động: Đê-bô-ra là nữ tiên tri và quan xét (trên phương diện hành chánh 4-5), Ba-rác, được Đê-bô-ra kêu gọi lãnh đạo trận chiến (6-16) và Gia-ên, là người một mình giết Si-sê-ra trong lều của bà (17-22).  Dĩ nhiên, phải nhờ đến Đức Chúa Trời can thiệp (15) mới có được bước ngoặt quyết định này.  Điều đáng chú ý đặc biệt trong cuộc giải phóng dân Y-sơ-ra-ên lần này là Đức Chúa Trời tước vinh dự chiến thắng khỏi người đàn ông đã tỏ ra không xứng đáng với vinh dự này (9) và trao cho một người đàn bà (không phải là Đê-bô-ra như chúng ta nghĩ, nhưng là Gia-ên).  Trong câu chuyện này, phụ nữ giữ vị thế bình thường.  Gia-ên, xuất thân không phải người Y-sơ-ra-ên (11,17) và bằng chiến thuật khác thường (21 so sánh Ê-hút và Sam-ga) đã chứng tỏ lần nữa về quyền tự do tể trị của Đức Chúa Trời trong cách dùng người nào Ngài muốn để hoàn thành mục đích của Ngài.

Chú thích.  4  Lãnh đạo nguyên văn là ‘xét đoán’ (xem chú thích bên lề bản NIV và so sánh Xu 18:13-16).  5  Ra-ma cách Giê-ru-sa-lem 5 dặm về hướng bắc, còn Bê-tên cách Giê-ru-sa-lem 12 dặm (so sánh Cac 1:22 và lời chú thích).  Vùng đồi núi Ép-ra-im chỉ về miền Trung Palestine (so sánh 3:27) .  Xem 1:22 để biết về ‘Ép-ra-im’.  6  Kê-đe ở hướng tây nam ngay bên cạnh Biển Ga-li-lê, gần Ti-bê-ri-át ngày nay.  Về con số mười ngàn, (5:8).  Núi Tha-bo ở bên cạnh thung lũng Gít-rê-ên về hướng bắc, nơi điểm tiếp giáp của các địa phận của chi phái Y-sa-ca, Sô-bu-lôn và Nép-ta-li.  11  Về Hê-be người Kê-nít...  anh em bên vợ Môi-se, xin xem 1:16 và so sánh Dan 10:20-33.  Người Kê-nít (nghĩa là ‘thợ’) là dân du mục trong miền nam Palestine, nhưng đôi khi đi lên tận miền bắc như trường hợp này.

(Cac 5:1-31) Bài ca chiến thắng Loại ngôn ngữ Hi-bá-lai được sử dụng trong bài ca này cho thấy đây là một trong các bài thơ cổ nhất đời Cựu Ước.  Trong ngày xảy ra chiến trận, người ta hát bản dịch của bài này (1) và có lẽ ngay sau đó, bài ca được hình thành dưới dạng như hiện nay.  Có thể bài ca được lưu giữ trong những bộ sưu tập như ‘Sách Gia-xa’ (Gios 10:13) hoặc ‘Sách Các Chiến Trận Của Đức Giê-hô-va’ (Dan 21:14).  Người ta thường hát các bài ca như thế này trong buổi thờ phượng chung.  Những bài ca loại này nhắc nhở thế hệ sau nhớ lại sự thành tín của Đức Chúa Trời và công việc lớn lao Ngài làm cho dân Y-sơ-ra-ên, là dân trong giao ước của Ngài.  Nhưng ở đây, bài ca đặc biệt này dường như kể lại một phần câu chuyện về Đê-bô-ra - Ba-rác, và câu chuyện này chưa chính thức kết thúc cho đến khi hoàn tất bài ca (xem c.31b và so sánh Cac 3:11,30).  Tuy nhiên, khác với bản tường thuật ở trên, bài ca này không nói đến chuyện Đức Chúa Trời tước vinh dự chiến thắng khỏi tay Ba-rác và ban cho một người nữ.  Bài ca chỉ bày tỏ lòng ngưỡng mộ với những cá nhân và các chi phái đã can đảm đóng góp phần của mình (kể cả Gia-ên) và quở trách những người không làm được như vậy.  Bài ca này hé mở cho chúng ta thấy tinh thần thiếu đoàn kết giữa các chi phái (sẽ nổi cộm  trong phần sau của sách).  Cuộc chiến chủ yếu liên quan đến các chi phái ở miền Trung và miền bắc (không thấy nhắc đến chi phái Giu-đa) và trong các chi phái này, có một số chi phái tự cho mình là đáng khen hơn các chi phái khác.  Nhưng chủ đề chính của bài ca là ‘những việc làm công nghĩa’ của chính Đức Chúa Trời,  Đấng ra trận  làm nhà vô địch của dân Y-sơ-ra-ên và đè bẹp kẻ thù của Ngài (và của Y-sơ-ra-ên) bằng cách khai phóng các lực lượng trên không trung chống lại kẻ thù.  Như vậy, khi hát bài này, dân Y-sơ-ra-ên hồi tưởng lại thời Môi-se khi Đức Chúa Trời vì họ chiến đấu chống lại người Ai-cập (Xu 15:1-22).  Qua các biến cố đó, dân Y-sơ-ra-ên học biết rằng Đức Chúa Trời, Đấng đã lập giao ước khiến họ trở thành dân riêng của Ngài, là Chúa của mọi vật sáng tạo và là Chúa của lịch sử, là Đấng Tạo Hóa và cũng là Đấng Cứu Chuộc.  Đây là yếu tố quan trọng trong đức tin của dân Y-sơ-ra-ên, bởi vì các láng giềng người Ca-na-an thờ các thần thiên nhiên (Ba-anh).  Họ tin rằng những thần ấy có quyền kiểm soát thời tiết, và chính dân Y-sơ-ra-ên cũng thường xuyên bị cám dỗ thờ các tà thần này (Cac 2:11).

Các phần chính của bài ca như sau: Lời mở đầu (ca ngợi Đức Chúa Trời và kêu gọi lắng nghe bài ca 2-3) Đức Chúa Trời đến làm nhà vô địch của dân Y-sơ-ra-ên (4-5) các tình trạng nổi cộm trước cuộc chiến (6-8) lời kêu gọi tham gia chiến trận (9-13) các chi phái Y-sơ-ra-ên hưởng ứng (14-18) xảy ra chiến trận thực thụ (19-23) Si-sê-ra chết (24-27) sự chờ đợi uổng công của mẹ Si-sê-ra (28-30) phần kết luận (31).  Cao điểm là chính chiến trận.  Các ngôi sao chiến đấu từ trên trời cao, còn dưới đất sông Kê-sôn phản ứng bằng cách tuôn đổ như giòng thác và cuốn trôi kẻ thù.  Chiến trường kết thúc bằng tiếng vó ngựa dồn dập trên mặt đất khi đạo quân chiến bại cỡi ngựa liều thân trốn thoát.

Hai cảnh tiếp theo cho chúng ta biết kẻ thù bị tiêu diệt như thế nào.  Cảnh thứ hai im lặng (chờ đợi) bổ túc cho sự náo nhiệt (sát hại) trong cảnh thứ nhất.  Cuộc đối thoại thì thầm giữa mẹ của Si-sê-ra và các nàng hầu tựa như tấm màn mỏng manh phủ lên nỗi lo sợ câm lặng.  Si-sê-ra không bao giờ trở về nữa.  Thế nhưng tin dữ cho gia quyến Si-sê-ra hóa ra tin mừng cho dân Y-sơ-ra-ên: kẻ áp bức đã chết.  Dân Y-sơ-ra-ên không đáng được giải phóng như vậy nhưng chính Đức Chúa Trời nhân từ đã ban cho họ.  Câu chuyện Đê-bô-ra và Ba-rác kết thúc bằng bài ca chiến thắng vang dội ca ngợi Đức Chúa Trời và những người trung thành theo Ngài, đặc biệt ca ngợi Đức Chúa Trời.  Chính Ngài là vị cứu tinh thật sự của dân Y-sơ-ra-ên và Ngài hoàn toàn làm chủ trên hoàn cảnh của họ.

Chú thích.  2  Vào thời gian đó, dân Y-sơ-ra-ên chưa có quân đội thường trực.  Các chiến sĩ đều là những người không chuyên nghiệp nhưng tình nguyện đầu quân.  4-5  Sê-i-rơ là ngọn núi ở Ê-đôm về hướng nam Y-sơ-ra-ên.  Si-na-i (Núi Si-na-i) nằm xa hơn về phía nam là nơi lần đầu tiên Đức Chúa Trời mặc khải cho dân Y-sơ-ra-ên.  Câu này mô tả Đức Chúa Trời đến từ núi Si-na-i qua ngã Ê-đôm để giải cứu Y-sơ-ra-ên.  Chung quanh Ngài có mây, sấm sét và động đất bao bọc, giống như Ngài đến lần thứ nhất với dân sự Ngài (Xu 19:16-19).  Ngài đến trong cơn bão và đổ giông bão (theo nghĩa đen) trên kẻ thù (20-21).  6  Về Sam-ga, xem Cac 4:31.  8  Về vấn đề họ chọn thần mới, xem Cac 2:12  4:1.  Dân Y-sơ-ra-ên bị quân thù tước hết khí giới (so sánh ISa 13:19).  Từ ngàn trong nguyên bản Hi-bá-lai nghĩa là một chi họ (như trong Cac 6:15) hoặc một đội quân nhỏ.  Có lẽ số dân Y-sơ-ra-ên không lớn như bản tiếng Anh mô tả.  10  Chỉ có nhân vật quan trọng mới cỡi lừa bạch (so sánh 10:4).  14  Những người có gốc dân A-ma-léc là con cháu của dân A-ma-léc cư ngụ trong lãnh thổ Ép-ra-im (so sánh 12:15).  14  Ma-ki là tên khác của chi phái Ma-na-se (so sánh Sa 50:23).  17  Ga-la-át có lẽ gián tiếp nói đến chi phái Gát.  Vào lúc này, họ sống tại Ga-la-át, một khu vực về phía đông sông Giô-đanh (ISu 5:16).  Thoạt tiên, địa phận của chi phái Đan ở miền nam gần biển.  Về sau, phần đông thiên di vào nội địa trên miền cực bắc (Cac 1:34  18:1 so sánh Gios 19:40-48).  19  Xứ Ca-na-an không phải là một quốc gia thống nhất.  Gia-bin và Si-sê-ra là các lãnh tụ của một liên minh chống lại Y-sơ-ra-ên (Cac 4:2).  Về Tha-a-nác và Mê-ghi-đô xin xem 1:27.  20  Các thiên thể tức là những ngôi sao (theo quan điểm của tác giả) tham gia vào sự náo động của chiến trận khiến mưa rơi.  23  Không biết rõ Mê-rô nhưng có lẽ là một đồng minh có nhiều triển vọng.  Mê-rô bị rủa sả, ngược lại Gia-ên được phước (24).  Về Thiên Sứ của ĐỨC GIÊ-HÔ-VA xin xem 2:1.  25  Gia-ên dùng sữa làm thuốc gây ngủ (so sánh 4:19).  (27)  Si-sê-ra bị chung số phận như Ếc-lôn (3:25).  28  Mẹ của Si-sê-ra là một mẫu người thảm thương tương phản với Đê-bô-ra ‘người mẹ trong Y-sơ-ra-ên’ (7).  31  Cách rủa sả quân thù như thế đã trở thành thông dụng kể từ thời Môi-se (Dan 10:35 và so sánh Thi 68:1-3).  Khá nhất là trường hợp một lời rủa sả thốt ra trong tinh thần công nhận sự phán xét thuộc quyền Đức Chúa Trời và sự vinh hiển của Ngài gắn liền với số phận của dân sự Ngài, thay vì thốt ra với ý tư thù cá nhân.  Trong ánh sáng khải thị mới (Ro 12:17-21) thì việc rủa sả kẻ thù không thích hợp cho Cơ-đốc nhân ngày nay.  Như mặt trời mọc lên rực rơ, so sánh Sam-sôn (các chương 13,16), tên Sam-sôn xuất xứ từ chữ semes trong tiếng Hi-bá-lai nghĩa là ‘mặt trời’.

3. Ghê-đê-ôn (Cac 6:1-8:35)

(Cac 6:1-6). Cảnh áp bức của dân Ma-đi-an Tiếp theo bài ca ngợi vang lừng trong chương trước, mẫu tin về sự bội đạo của dân sự trong câu 1 quả là một hụt hẫng.  Câu này đặc biệt cho chúng ta đối diện với tấm lòng chao đảo của dân Y-sơ-ra-ên.  Cho dù Đức Chúa Trời nỗ lực vì họ đến đâu đi nữa, họ vẫn không cầm cự được lâu đối với sức hấp dẫn của các thần khác.  Câu chuyện Ghê-đê-ôn khảo sát vấn đề này đầy đủ hơn các chuyện trước.

Chiến thắng của Ba-rác đối với lực lượng xe sắt của dân Ca-na-an mở rộng lối vào thung lũng Gít-rê-ên bao la, mầu mỡ cho dân Y-sơ-ra-ên sinh sống và canh tác.  Giờ đây, cũng trong miền này xuất hiện một thù địch khác kéo theo cuộc chiến đấu giành quyền kiểm soát.  Lần này, hình phạt giáng trên dân Y-sơ-ra-ên dưới dạng dân Ma-đi-an và các dân tộc khác đột kích nhiều lần càn quét khắp xứ như cào cào vơ vét và phá huỷ mọi thứ trên đường tiến quân.  Một khi phương tiện mưu sinh bị phá huỷ, dân Y-sơ-ra-ên bị dồn vào tình thế thảm thương.  Họ phải sống lén lút trong hang, trong hầm hố như thú vật.  Như mọi lần, trong cơn tuyệt vọng, họ lại cầu cứu Đức Chúa Trời. 

Chú thích.  1 Dân Ma-đi-an là dân cư trong đồng vắng đến từ vùng tây bắc xứ A-ra-bi, có quan hệ với dân Y-sơ-ra-ên qua Áp-ra-ham (Sa 25:1-5).  3  Về dân A-ma-léc xin xem Cac 3:13.  Người phương đông tức là các bộ tộc du mục từ xứ A-ra-bi và Sy-ri (Sa 29:1).  4  Ga-xa nằm trên bờ biển Địa Trung Hải về phía nam.  5  Công việc thuần hóa lạc đà ở mức độ qui mô (nghề mới phát triển) cho phép thực hiện các cuộc đột kích đường dài.

(Cac 6:7-10). Tiên tri được sai đến quở trách dân Y--ra-ên Áp dụng một đường lối khác lạ trong lần này, Đức Giê-hô-va không sai vị cứu tinh đến ngay theo như lời họ cầu cứu.  Nhưng thay vào đó Ngài lại sai một tiên tri đến báo rằng bởi hành vi của họ, họ đã đánh mất mọi quyền hạn về sự giải cứu.  Lời tuyên bố của vị tiên tri kết thúc với bản cáo trạng này, nhưng không nói rõ Đức Chúa Trời sẽ làm gì.  Đây là giai đoạn căng thẳng nhất vì vận mệnh Y-sơ-ra-ên ở trong tình trạng bấp bênh.  Chỉ có ân điển mới cứu được họ.

Chú thích.  10  Về dân A-mô-rít, xin đọc Cac 1:34. 

(Cac 6:11-24). Thiên Sứ của Đức Giê--va ủy thác cho Ghê-đê-ôn Sự xuất hiện của Thiên Sứ của Đức Giê-hô-va bày tỏ ý định của Ngài muốn giải cứu dân Y-sơ-ra-ên lần nữa và công cụ Ngài chọn lần này là Ghê-đê-ôn.  Sự kêu gọi của Ghê-đê-ôn xảy ra cùng khung với sự kêu gọi của Môi-se trong Xuất Ê-díp-tô ký 3.  Như Môi-se, ông được kêu gọi trong lúc đang trốn tránh quân thù, lao động tay chân để nuôi sống gia đình (11).  Như Môi-se, ông được biết Đức Chúa Trời sai ông với một công tác (14).  Như  Môi-se, ông phản đối là không xứng đáng gánh vác nhiệm vụ này (15).  Như Môi-se, ông nhận được lời hứa ‘Ta sẽ ở cùng ngươi’ (16).  Như Môi-se, ông nhận một dấu lạ xác chứng cho sự kêu gọi của ông (17).  Cuối cùng, như Môi-se, dấu lạ bằng lửa cho ông biết có sự hiện diện của Đức Chúa Trời (21).  Như trong sự kêu gọi của Môi-se, sứ mạng đã rõ ràng: Ghê-đê-ôn được Đức Chúa Trời dùng giải cứu dân Y-sơ-ra-ên thoát khỏi tay người Ma-đi-an, như Môi-se đã được Đức Chúa Trời dùng giải cứu dân Y-sơ-ra-ên thoát khỏi người Ai-cập.  Một lần nữa, Đức Chúa Trời của thời đại Xuất Hành đã đến giải cứu dân Y-sơ-ra-ên.

Chú thích.  11  Óp-ra nằm trong địa phận của Ma-na-se nhưng không thể xác định nơi chốn.  Hai lần đề cập đến Óp-ra trong câu 11 và 24 đóng khung phần mô tả sự kêu gọi của Ghê-đê-ôn.  Dân A-bi-ê-xê-rít là con cháu A-bi-ê-xê, một chi tộc thuộc chi phái Ma-na-se (Gios 17:2).  12 Về Thiên Sứ Đức Giê-hô-va xin (Cac 2:1).  15  Từ Chúa nghĩa là ‘Ông’ (xem phần chú thích ngoài lề bản NIV).  Ghê-đê-ôn vẫn chưa nhận diện vị khách của mình.  22  Nhờ sự kiện này, ông nhận ra người đang nói chuyện với mình là ai và sự hiểu biết về luật lệ của thánh khiết khiến ông sợ hãi (so sánh 13:22, và xem Xu 33:20).  Nhưng Đức Giê-hô-va trấn an ông lập tức (23).  Ghê-đê-ôn được ban một đặc ân hiếm có, Đức Chúa Trời đã hiện ra với ông và tha mạng sống ông.  24  Chúa là sự bình an (tiếng Hi-bá-lai là s~lôm).  Cụm từ này vang vọng lại tiếng của Chúa trấn an ông trong câu trước ‘Hãy yên lòng!’.  Bàn thờ được lập nên để kỷ niệm sự khải thị đặc biệt của Đức Chúa Trời tại đó (so sánh Sa 28:16-19).

(Cac 6:25-32) Ghê-đê-ôn phá dỡ bàn thờ Ba-anh Việc Ghê-đê-ôn được Đức Chúa Trời tuyển chọn khiến ông lập tức phải đối đầu trước hết với gia đình và chi tộc của mình, vì họ đã trở nên những người thờ phượng Ba-anh, là điều Đức Chúa Trời không thể dung túng.  Bàn thờ của Ba-anh không được đứng bên cạnh bàn thờ của Đức Chúa Trời, vì như thế là vi phạm điều răn thứ nhất ‘Ngoài Ta, các ngươi không có các thần nào khác’ (Xu 20:3 phần chú thích ngoài lề bản NIV).  Ngày nay, tình thế khó xử tương tự cũng thường xảy ra khi sự gắn bó của người tín đồ với Chúa Cứu Thế đặt họ vào thế đối nghịch với nguyện vọng và nguyên tắc của gia đình họ.

Vì sợ hậu quả nên Ghê-đê-ôn lợi dụng đêm tối và nhờ các đầy tớ giúp đỡ để thi hành các chỉ thị của Đức Chúa Trời.  Dân chúng trong thành nổi giận khi bàn thờ Ba-anh bị phá huỷ.  Còn Ghê-đê-ôn được cứu thoát chết là nhờ vào sự nhanh trí của người khi đối diện với vấn đề hoặc bảo vệ danh dự của Ba-anh, hoặc cứu con trai, ông đã không ngần ngại cứu con mình (31).  Qua chuyện đó, Ghê-đê-ôn trở thành một vị anh hùng.  Ông được sanh lại và để công nhận sự việc này, người ta đặt cho ông một tên mới chứng tỏ ông là bằng chứng sống động về tình trạng bất lực, bất năng của Ba-anh (xem chú thích c.32).  Ghê-đê-ôn khởi đầu sự nghiệp bằng cách tẩy trừ Ba-anh ra khỏi đồng ruộng, giai đoạn kế tiếp là tập hợp quân sĩ Y-sơ-ra-ên, tổ chức cuộc thánh chiến chống lại kẻ thù bên ngoài là dân Ma-đi-an (33-35).

Chú thích.  25  Việc chọn con bò đực thứ hai (cũng trong c.26) rõ ràng là hành động của ân điển, nhờ đó chi tộc không bị mất con bò tốt nhất.  Về tượng A-sê-ra xin xem phần chú thích ngoài lề bản NIV và lời chú thích Cac 2:13 và 3:7.  26  Về bàn thờ đúng, xin xem phần chú thích ngoài lề bản NIV và so sánh Xu 20:25-26.  27  Với tư cách là con trai của người đứng đầu chi tộc, dù ông có nói những lời khiêm nhường trong câu 15, Ghê-đê-ôn vẫn là người khá giả và có thế lực (so sánh 12, 14).  31  So sánh với lời Ê-li thách đố những người theo Ba-anh sau này (IVua 19:27).  32  Tên Giê-ru Ba-anh (xem  chú thích ngoài lề bản NIV) là lời thách thức Ba-anh hành động nếu có khả năng.

(Cac 6:33-35). Ghê-đê-ôn tập hợp các chiến Ghê-đê-ôn sớm chứng tỏ ông có tài xoay xở trong việc liên kết những người Y-sơ-ra-ên sống rải rác khắp nơi vì lợi ích chung và có khả năng điều khiển quân sĩ trên chiến trường.  Nhờ có các chiến sĩ thuộc chi tộc của mình là người A-bi-ê-xê-rít hậu thuẫn vững chãi cho căn cứ trung tâm (34), ông kêu gọi sự cộng tác rộng rãi hơn, trước nhất là toàn chi phái Ma-na-se (35a), sau đó là các chi phái lân cận phía bắc đồng cảnh ngộ hiệp lực với ông chống kẻ xâm lăng (35b).  Đây không chỉ là tài xoay xở của con người nhưng bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời chiếm ngự và tăng lực cho (34).

Chú thích.  33 Xem lời bình giải và chú thích của câu 1-6.  Về phương diện quân sự, câu này ngụ ý về mặt quân sự, chuyện đã chín mùi và chiến cuộc tàn khốc là việc không thể tránh.

(Cac 6:36-40). Ghê-đê-ôn xin xác chứng bằng bộ lông chiên Trong thời cổ, trước khi lâm trận, người ta thực hiện một việc phổ thông là xin Đức Chúa Trời xác nhận chắc chắn lần cuối cùng về sự giúp đỡ của Ngài (so sánh IVua 22:6-28).  Nhưng với sự xác nhận mà Đức Chúa Trời đã cho thì hành động của Ghê-đê-ôn biểu lộ sự vô tín chớ không phải tin cậy, vì lời ông nói hầu như xác nhận điều ấy ‘Nếu Chúa muốn giải cứu Y-sơ-ra-ên...  như Ngài hứa...’ (36).  Cũng so sánh câu 39 ‘Xin cơn thạnh nộ Chúa chớ nổi phừng cùng tôi...’.  Đức Chúa Trời thuận ban cho ông dấu hiệu dù ông lập lại lời cầu xin nhiều lần, như vậy Ngài đã hành động nhân từ khoan nhẫn đối với đức tin yếu đuối của Ghê-đê-ôn, chứ không phải Ngài hài lòng về việc ông xin xác nhận.  Ngày nay, Cơ-đốc nhân không cần phải hành động như vậy, nhưng đôi khi bởi lòng thương xót Đức Chúa Trời cũng ban cho dấu hiệu để họ an tâm tin chắc.

Chú thích.  39  Khiến cho bộ lông chiên khô là phép lạ lớn hơn, vì giả sử sương sa xuống trên mặt đất lẫn lông chiên thì nền đất khô mau hơn lông chiên.

(Cac 7:1-8). Giảm lực lượng chiến đấu của Ghê-đê-ôn còn ba trăm người Lực lượng chiến đấu của Ghê-đê-ôn giảm xuống ba trăm người (số người cắt giảm làm lính dự bị) để Y-sơ-ra-ên không thể khoe khoang rằng sức mạnh của họ đã cứu họ (2).  Tuy nhiên, vẫn có một lời xác quyết với Ghê-đê-ôn song song với việc cắt giảm quan trọng này: ‘Ta sẽ dùng ba trăm người này...  giải cứu các ngươi’ (7).

Chú thích.  1  Suối Ha-rốt (‘suối run rẩy’, so sánh c.3) ở thung lũng Gít-rê-ên về phía nam (Cac 1:29).  Đồi Mô-re (‘đồi giáo sư’) đối diện ngay chỗ hẹp của thung lũng.  3  Xứ Ga-la-át  duy nhất chúng ta biết ở những khúc văn khác trong Cựu Ước là miền đồi núi hướng đông sông Giô-đanh (5:17), nhưng lại không phù hợp với văn cảnh này.  Một số người cho rằng đây là môt núi Ga-la-át khác, hoặc theo đề xuất của một số người thì nguyên bản viết là ‘Núi Ghinh-bô-a’ (ISa 28:4), nhưng bị sao chép lộn là Ga-la-át.  Về con số ngàn xin xem Cac 5:8.  5-6  Bản văn của hai câu này dường như cũng bị sao chép lộn.  Sự khác biệt lúc đầu chắc là những người quì xuống, bụm nước trong tay để uống khác với những người (300) sấp mặt xuống nước và liếm như chó.  Như vậy, những người không đáng chọn lại được chọn để chứng tỏ rõ hơn nữa rằng chiến thắng không phải là thành tích của con người.

(Cac 7:9-15).  Ghê-đê-ôn xuống trại Ma-đi-an trong ban đêm Trong cảnh cuối cùng trước khi ra trận, Đức Chúa Trời biết Ghê-đê-ôn sợ không dám một mình đi trinh sát trại của quân địch, dù là về đêm, nên Ngài cho phép ông đem người đầy tớ tên là Phu-ra đi theo để ủng hộ tinh thần cho ông.  (Cảnh đêm tối này nhắc chúng ta nhớ lại cảnh đêm trước đây trong Cac 6:27-32)  Họ khám phá ra quân Ma-đi-an đáng sợ kia đang ở trong tình trạng bấn loạn Đức Chúa Trời dùng cơn ác mộng quấy rối khiến họ tin chắc sẽ thất trận (13-14).  Vì thế, Ghê-đê-ôn can đảm hơn và lập kế hoạch khiến quân thù hoảng sợ chạy tán loạn.  Nhưng rõ ràng không có trận đánh thật sự nào cả, chỉ có Đức Chúa Trời phó nộp quân thù vào tay Ghê-đê-ôn (14-15).

Chú thích.  13  Lúa mạch là loại ngũ cốc thông dụng ở xứ Palestine và là thức ăn chính của dân nghèo.  Điềm chiêm bao chứng thực cho cuộc thử nghiệm bằng nước trong câu 1-7 rằng Đức Chúa Trời đại thắng bằng những phương tiện không mấy gì hứa hẹn.

(Cac 7:16-25). Dân Ma-đi-an tháo chạy Tại đây, quyền tể trị của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người hợp tác chặt chẽ với nhau như lẽ thường trong Kinh Thánh.  Mặc dù chiến thắng do Đức Chúa Trời ban cho nhưng chiến thuật khôn ngoan cũng đóng vai trò quan trọng.  Ghê-đê-ôn biểu lộ tài năng tuyệt vời trong cách thức ông bố trí đội quân nhỏ nhoi của mình khiến kẻ thù tưởng rằng một lực lượng hùng hậu đang bao vây quanh trại.  Tiếng la hét của các chiến sĩ Ghê-đê-ôn ‘Gươm của Đức Giê-hô-va và của Ghê-đê-ôn’ (20) khuấy động nỗi sợ hãi và nhen nhúm trong lòng quân Ma-đi-an qua giấc mơ trong câu 13-14.  Đối với họ, thế là quá sức rồi.  Trong cơn rối loạn và hoảng kinh, thoạt đầu, họ quay gươm sát hại lẫn nhau, rồi tháo chạy tán loạn về hướng Giô-đanh, rốt cuộc nhận ra đường thoát thân đã bị quân trừ bị của Ghê-đê-ôn vây cản (24-25).  Cảnh vây bắt và hành hình hai vị lãnh tụ của họ cho biết cuộc thất trận rất nặng nề (25).  Ngẫm nghĩ sâu sắc, chúng ta thấy rằng ngày nay, bởi Đức Thánh Linh, Đức Chúa Trời vẫn sử dụng những công cụ không mấy hứa hẹn nhất để hoàn thành các mục đích của Ngài.

Chú thích.  16  Kèn, bình và đuốc thật sự là các thứ vũ khí lạ - nhưng rất hiệu quả! Có thể 300 chiến sĩ không hề mang vũ khí và dường như họ không tham gia chiến đấu (c.21).  20  ‘Gươm của Đức Giê-hô-va’ là lời đe doạ chết vì gươm, nhưng mỉa mai thay, chính gươm của dân Ma-đi-an hóa thành ‘gươm của Đức Giê-hô-va’ (22).  22  Tất cả địa điểm đề cập trong câu này và câu 24 đều nằm trong thung lũng Giô-đanh hoặc gần đó.  25  Ô-rép và Xê-ép nghĩa là ‘con quạ’ và ‘chó sói’.  Về sau, người ta gọi nơi họ bị hành quyết theo tên của họ và trong thời đại của tác giả, người ta vẫn dùng tên đó.

(Cac 8:1-3). Chi phái Ép-ra-im thách thức Ghê-đê-ôn Ép-ra-im và Ma-na-se là hai chi phái dẫn đầu ở miền Trung đất nước Y-sơ-ra-ên (Cac 1:22-36), có thể vì lý do này người Ép-ra-im cảm thấy bị xem thường vì Ghê-đê-ôn (thuộc chi phái Ma-na-se) không triệu tập họ từ đầu (6:34-35).  Cuộc chiến chống dân Ma-đi-an chưa hoàn tất, Ghê-đê-ôn chưa hài lòng với mức chiến thắng đó (4-5) nên ông không thể để cho quân sĩ bị chia rẽ vào giai đoạn nghiêm trọng này.  Nói cho ngay, người Ép-ra-im đã chiến đấu rất giỏi và có đủ lý do để tự hào.  Vì thế, khi Ghê-đê-ôn công nhận và cho thấy điều ấy thì họ nguôi giận ngay.  Đây là tấm gương về lời đáp êm dịu làm nguôi cơn giận (Ch 15:1).  Trái ngược với cách phản ứng của Giép-thê khi đối phó với cùng nhóm người này trong một sự việc tương tự (Cac 12:1-6). 

(Cac 8:4-21).  Ghê-đê-ôn đuổi bắt -bách Xanh-mu-na Vào giai đoạn thứ hai của cuộc chiến diễn ra bên bờ phía đông sông Giô-đanh, Ghê-đê-ôn có những biểu lộ tâm tính khác lạ.  Mục tiêu đề ra là bắt cho được Xê-bách và Xanh-mu-na, hai vị vua của Ma-đi-an (5), ông ráo riết theo đuổi mục tiêu bất chấp tình trạng đói, mệt của quân sĩ và sự từ chối tham gia của ban lãnh đạo tại Su-cốt và Phê-nu-ên.  Ông cho rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho ông hai vua này như đã ban Ô-rép và Xê-ép (7), tuy rằng không có dấu hiệu nào tỏ ra Đức Giê-hô-va can dự vào chuyện này (so sánh 8:11-12 với 7:21-22).

Ghê-đê-ôn hoàn toàn không còn khiêm nhường và thận trọng nữa.  Tài ngoại giao của ông cũng tan theo mây khói, ông yêu cầu người ta trợ giúp, đồng thời cũng đe doạ báo thù những ai không giúp đỡ ông (7-8).  Giai đoạn này hoàn toàn trái ngược với giai đoạn đầu trong sự nghiệp của Ghê-đê-ôn, vì tại đây không có lời nào cho biết Đức Chúa Trời can dự vào việc làm của ông.  Rõ ràng kể từ đây, những gì ông thực hiện được là do sức mạnh và mưu trí khôn ngoan riêng, chứ chẳng phải do Đức Chúa Trời.  Hành động của ông chống lại Su-cốt và Phê-nu-ên báo trước những hành động tàn bạo hơn nữa của con trai ông là A-bi-mê-léc chống lại Si-chem và Thê-bết (so sánh câu 15-17 với 9:46-49).  Cuối cùng, chúng ta biết lý do Ghê-đê-ôn quyết liệt rượt đuổi Xê-bách và Xa-lu-ma-na: họ đã giết các anh em của ông trong một trận đánh trước đây, vì thế Ghê-đê-ôn cương quyết thanh toán món nợ máu này (18-19).  Sau cùng, Giê-the, con trai của Ghê-đê-ôn xuất hiện bất ngờ trong câu 20, làm nổi bật sự thay đổi nơi Ghê-đê-ôn so với lúc trước.  Tánh nhút nhát trước đây của Ghê-đê-ôn phản ánh trong Giê-the, khi được lệnh giết các tù binh thì Giê-the ngần ngại, vì...  ông sơ (20).  Ngược lại, chính Ghê-đê-ôn có dáng dấp của một hoàng tử (18) và là người có sức mạnh (21).

Chú thích.  5  Người ta gọi nơi này là Su-cốt (‘nơi ẩn náu’) vì Gia-cốp từng đóng trại nơi đó (Sáng Thế 33:17).  Địa điểm này nằm ở vùng hạ lưu của rạch Gia-bốc, phía đông Giô-đanh.  8  Phê-nu-ên (‘mặt Đức Chúa Trời’) là tên do Gia-cốp đặt khi Đức Chúa Trời hiện ra với ông tại đó (Sa 28:30), cách Su-cốt vài dặm về phía đông.  10  Cạt-cô ở về phía đông Biển Chết, nằm ngoài biên giới của dân Y-sơ-ra-ên.  Về con số mười lăm ngàn, xin xem Cac 5:8.  11  Chưa thể định vị Nô-bách.  Giô-bê-ha cách Am-man ngày nay 7 dặm về phía tây bắc.  13  Chưa thể định vị Dốc Hê-re.

(Cac 8:22-27).  Ghê-đê-ôn cai trị Y--ra-ên Dân Y-sơ-ra-ên  thỉnh cầu Ghê-đê-ôn lên làm vua và con ông sẽ kế vị ông (22).  Từ khi vượt qua Giô-đanh, Ghê-đê-ôn ngày càng hành động như một vị vua, vì thế, đối với những người theo ông thì việc ông lên làm vua là hợp lý.  Lý do họ nêu ra là ông đã giải cứu Y-sơ-ra-ên.  Nhưng lý do đó hoàn toàn sai lầm, mà chính hành vi của Ghê-đê-ôn trong thời gian gần đây khiến họ nghĩ như thế.  Chính Đức Giê-hô-va đã giải cứu Y-sơ-ra-ên, chứ không phải Ghê-đê-ôn.  Mối nguy muôn thuở vẫn là dân sự không nhận biết và không công nhận rằng Đức Chúa Trời đã giải phóng họ (đặc biệt xem Cac 7:2) và nay, họ phạm chính điều đó.  Khi người ta đề nghị tôn ông lên làm vua thì Ghê-đê-ôn từ chối.  Từ chối như thế rất đúng, còn việc ông xin vật liệu làm ê-phót (xem bên dưới) là hoàn toàn phù hợp với lời ông tuyên bố rằng chính Đức Giê-hô-va là Đấng cai trị dân Y-sơ-ra-ên.  Nếu Đức Chúa Trời là Đấng cai trị, thì người ta phải cầu hỏi Ngài và để người ta có thể cầu hỏi Ngài, Ghê-đê-ôn làm một ê-phót, rồi đặt tại Óp-ra là nơi Đức Chúa Trời hiện ra lần đầu với ông.  Nhưng việc làm do lòng tin kính này lại hóa ra sai vì ê-phót trở thành một loại thần tượng, Ghê-đê-ôn cùng gia đình của ông rơi vào tà giáo khi thờ lạy ê-phót.  Khởi đầu tốt đẹp nhưng Ghê-đê-ôn lại kết thúc bằng hành động vô tình đẩy dân Y-sơ-ra-ên một lần nữa vào tội bội đạo.

Chú thích.  24  Ích-ma-ên là tên gọi chung các dân Bedouin sống trong đồng vắng phía đông Giô-đanh, dân Ma-đi-an là một sắc tộc của dân này (Sa 16:12  37:28,36).  27  Ê-phót là chiếc áo tư tế có gắn hai viên ngọc (U-rim và Thu-mim) ở ngực, được dùng để hỏi ý Đức Chúa Trời và để nhận những câu trả lời ‘được’, ‘không được’, ‘có’, ‘không’ (Xu 28:28-30  ISa 23:6-12).

(Cac 8:28-35). Ghê-đê-ôn qua đời A-bi--léc chào đời Di sản thật sự Ghê-đê-ôn để lại cho dân Y-sơ-ra-ên là bốn mươi năm hoà bình (28).  Trong thời gian này, ông hoàn toàn rút lui về sống riêng tư (29).  Đúng như lời ông đã khẳng định chính Đức Giê-hô-va cai trị dân Y-sơ-ra-ên, chứ không phải ông.  Nhưng đời tư của Ghê-đê-ôn (đa thê, bảy mươi con trai và một vợ lẽ) lại giống lối sống của vua chúa hơn là của dân dã.  Những lời tuyên bố của ông giữa công chúng khác xa đời tư.  Di sản tiêu cực ông để lại cho Y-sơ-ra-ên là tội bội đạo và bạo lực.  Sau khi ông chết, tội thờ hình tượng liên quan với ê-phót do ông làm ra đã nhanh chóng phát triển thành sự thờ lạy Ba-anh toàn diện (33) và con trai ông, A-bi-mê-léc (xem chú thích câu 31) đã không chút ngần ngại theo kiểu cách của cha khi giành giật quyền cai trị.  Toàn bộ các câu 28-35 được coi như khoen xích nối với chương 9 là chương thuật lại sự nghiệp của A-bi-mê-léc.  Điều gì Ghê-đê-ôn âm thầm mơ ước thì con trai ông chiếm lấy bằng vũ lực.

Chú thích.  31  Ý nghĩa của chữ A-bi-mê-léc (‘cha tôi là vua’) là lời bình giải sâu sắc về thái độ mâu thuẫn của Ghê-đê-ôn đối với ngôi vua.  33  Ba-anh Bê-rít (‘Ba-anh giao ước’) là vị thần được dân sự thờ phượng tại Si-chem, quê của A-bi-mê-léc.  Cái tên gợi lên một tín ngưỡng lai, kết quả của sự pha trộn tín ngưỡng của người Ca-na-an với người Y-sơ-ra-ên.

4. A-bi-mê-léc thử làm vua (Cac 9:1-57)

Chủ đề chính của biến cố tiếp theo thời đại Ghê-đê-ôn là sự sửa phạt của Đức Chúa Trời.  Tác giả tô rõ nét điều này trong điểm chính của câu chuyện (23-24) và lập lại lần nữa ở phần cuối với cao điểm là cái chết của A-bi-mê-léc (56-57).  Đây là phần tường thuật về cách Đức Chúa Trời khiến tội ác của A-bi-mê-léc và người Si-chem đổ lại trên đầu họ.

Các tình tiết trong chuyện cho thấy tiến trình báo trả tội ác diễn ra đúng như một bài toán từ lúc Đức Chúa Trời sai ác thần đến gây bất hoà giữa A-bi-mê-léc và người Si-chem (23).  Âm mưu của A-bi-mê-léc khi đến Si-chem là để xúi giục giới lãnh đạo Si-chem cùng với ông chống lại các con trai của Giê-ru Ba-anh (tức là Ghê-đê-ôn câu 1-2) được đáp lại bằng chuyện Ga-anh cũng đến xúi giục giới lãnh đạo Si-chem âm mưu với ông chống lại A-bi-mê-léc (26-29).  Cuộc phục kích của người Si-chem (25) được dáp lại bằng cuộc phục kích của A-bi-mê-léc chống lại họ (34).  Cuối cùng, chính A-bi-mê-léc, kẻ giết các anh mình trên một tảng đá (5,18), lại chết bên một tảng đá do một thiếu phụ vô danh tại Thê-bết (54) ném trúng đầu ông.  Cứ thế, các tình tiết trong câu chuyện vén màn cho chúng ta thấy dưới quyền tể trị của Đức Chúa Trời, thì hành động báo trả lại hành động và tội ác báo trả lại tội ác, cho đến khi chính A-bi-mê-léc, kẻ chủ mưu gây tội ác bị đánh hạ.  Đến lúc đó, bộ hạ của ông, dường như bừng tỉnh sau cơn ác mộng, tự động buông vũ khí trở về nhà và bỏ dở cuộc vây chiếm Thê-bết (55).

(Cac 9:1-6). A-bi--léc nắm quyền lực Trường hợp A-bi-mê-léc lên nắm quyền hoàn toàn khác trường hợp của các vị anh hùng trong các chương trước.  Ông không phải là quan xét do Đức Chúa Trời dấy lên, nhưng tự tôn mình lên làm vua bằng âm mưu và vũ lực.  Ông là đứa con duy nhất của Ghê-đê-ôn do người vợ lẽ sanh ra tại Si-chem (Cac 8:31).  Vì thế, A-bi-mê-léc có hai đám anh em: các con trai của cha (bảy mươi người tất cả) và các con trai của mẹ (những người có thế lực tại Si-chem).  A-bi-mê-léc khéo léo lợi dụng ưu thế của mình, tìm cách gây xung đột giữa các anh em với ý đồ sẽ chỉ còn một mình ông sống sót kế vị cha.  Thật sự, A-bi-mê-léc có kế vị cha nhưng không được dân chúng ủng hộ rộng rãi như trong trường hợp cha của ông.  Dường như chỉ có người Si-chem công nhận ông là vua (6).

Chú thích.  1  Si-chem tọa lạc tại một đèo chiến lược tại miền Trung xứ Ca-na-an, có tương quan với Y-sơ-ra-ên từ thời các tổ phụ, còn dân cư tạp chủng giữa người Ca-na-an và Y-sơ-ra-ên (Sa 12:6-7  Gios 24:1-33).  2  Về Giê-ru Ba-anh xin xem Cac 6:32.  3  Về Ba-anh Bê-rít xin xem Cac 8:33.  5    Trên một tảng đá nói về vụ hành quyết tập thể công khai.  6    ‘Mi-lô’ nghĩa là ‘lấp đầy’ (tức là một ụ đất nhân tạo).  Beth Mi-lô (‘nhà ụ đất’) có thể là một đồn luỹ hoặc ở trong hoặc ở gần Si-chem.  Cây cổ thụ bên cạnh trụ đá là một cây thiêng bên cạnh tảng đá dựng đứng liên quan đến sự thờ phượng ngoại lai của người Si-chem (so sánh Phu 16:21-22).

(Cac 9:7-21). Giô-tham lật mặt dân Si-chem  Giô-tham, con trai duy nhất của Ghê-đê-ôn còn sống sót trong vụ thảm sát tại Óp-ra (5), trở nên nguyên nhân sư sụp đổ của A-bi-mê-léc.  Ông buộc người Si-chem phải đối diện với tội ác họ đã làm, kêu gọi họ lắng nghe lời ông và cầu xin Đức Chúa Trời làm chứng cho hành động của họ.  Đây là giờ phút nghiêm trọng, Giô-tham dùng chuyện ngụ ngôn để thực hiện mục đích của mình, nhưng vấn đề chính không nằm trong chuyện ngụ ngôn (8-15) mà nằm trong cách ông ứng dụng cho tình huống hiện tại (16-21).  Lời buộc tội chính của ông đối với những người nghe là họ đã không cư xử chân thật và công bình đối với Giê-ru Ba-anh (Ghê-đê-ôn) và gia quyến ông.  Ghê-đê-ôn đã đem lại cho họ nhiều ích lợi, thế nhưng họ chỉ đáp lại bằng cách sát hại gần hết các con trai ông và tôn người con tệ nhất của ông lên làm vua.  Giô-tham kết thúc bằng cách nêu lên những phước hạnh (19) và rủa sả (20) để người nghe chọn lựa.  Nhưng họ không còn quyền chọn phước hạnh nữa vì tội ác của họ đã gây ra không thể sửa đổi được.  Thật ra, lời rủa sả mô tả trong câu 20 là bản thông báo về sự đoán phạt và trong phần chuyện còn lại, tác giả cho biết sự đoán phạt đã xảy ra như thế nào.  Lời kết luận trong chương này xác nhận sự đoán phạt này là lời rủa sả của Giô-tham, con trai Giê-ru Ba-anh (57). 

Chú thích.  7    Núi Ga-ri-xim ở về phía tây Si-chem (Cac 9:1).  8   Trong Cựu Ước, xức dầu là sự bổ nhiệm vào chức vụ hoặc vai trò đặc biệt theo mục đích của Đức Chúa Trời.  Cụ thể như thầy tế lễ và vua đều được xức dầu (Xu 28:41  IISa 2:4).  9  Dầu (cũng như rượu so sánh Xu 29:40) là thứ vật quan trọng trong các nghi thức tôn giáo cả bên trong và bên ngoài Y-sơ-ra-ên (thí dụ 25:6  Le 8:26  Dan 7:19).  21    Bê-e nghĩa là ‘cái giếng’ và nhiều thành phố trong thời kỳ đó mang tên này (thí dụ Bê-ê-sê-ba, ‘giếng bảy con chiên’ hoặc ‘giếng thề nguyền’ Sa 21:31).  Chưa định vị được ‘Bê-e’.

(Cac 9:22-57).  Kết thúc bi thảm thời trị của A-bi--léc Thời kỳ trị vì của A-bi-mê-léc rất ngắn ngủi, chỉ được ba năm (22).  Nhưng đối với những người phải chịu đựng, chắc hẳn ba năm này là quá dài.  Như những bạo chúa khác, ông có thể áp đặt quyền hành rộng rãi nhờ  lòng trung thành của một nhóm ít người vụ lợi.  Một khi nền tảng ủng hộ nhỏ bé này sụp đổ thì A-bi-mê-léc cũng đến ngày tận số.  Không rõ thoạt tiên dân Si-chem bất bình chuyện gì, nhưng khi Ga-anh xuất hiện thì sự mâu thuẫn giữa họ với A-bi-mê-léc trở nên gay gắt, và họ xem Ga-anh là người khá hấp dẫn có thể thay thế cho A-bi-mê-léc (26).  Sự suy vi của A-bi-mê-léc diễn ra theo trình tự cổ điển: toàn dân bất mãn, sự đối nghịch hình thành, lãnh tụ đối lập xuất hiện, cuộc nội chiến toàn bộ với những nỗi kinh hoàng không thể tránh được, cuối cùng là cái chết của bạo chúa và đám người ủng hộ phân tán.  Duy giai đoạn cuối xảy ra chuyện hoàn toàn bất ngờ, tuy nhiên cách thắt gút ở đây hoàn toàn phù hợp với tính cách của cả sách.  Như chúng ta biết, A-bi-mê-léc không chết trong trận chiến quyết định chống Ga-anh, nhưng chết bởi tảng đá do một thiếu phụ ném trúng đầu ông! Sách này lập lại nhiều lần cách Đức Chúa Trời sử dụng các công cụ có ít hi vọng nhất để thành đạt mục đích của Ngài.  Phương tiện giành được chiến thắng bày tỏ cho chúng ta biết chắc đây là việc làm của Đức Chúa Trời.  Qua sách này, chúng ta thấy Ngài luôn thực hiện công việc khác với những ước đoán của con người và loại trừ sự khoe khoang của loài người (Cac 7:1-3).

Chú thích.  23  Đức Chúa Trời dùng ác thần để hình phạt A-bi-mê-léc.  Đức Chúa Trời Ngài không tà ác nhưng quyền lực tà ác thuộc quyền kiểm soát của Ngài (so sánh ISa 16:14  Giop 1:12).  27   Có vẻ như đây là lễ hội mừng mùa thu hoạch nhưng liên quan đến tín ngưỡng ngoại bang (Cac 8:33).  28  Si-chem và Hê-mo là những người cai trị khu vực đó trong thời tổ phụ.  Si-chem lấy tên mình đặt cho thành phố và là kẻ hiếp con gái của Gia-cốp (Sa 34:2).  Ga-anh cùng những kẻ theo ông liên kết với Hê-mo là người không giống với Si-chem (và A-bi-mê-léc) vì họ chưa bị lai với người ngoại quốc.  Xê-bun (c.30) là một nhân vật ít ai yêu thích, có lẽ bởi vì ông cũng xuất thân từ những người lai.  37  Trung tâm của xư có lẽ là một địa hình dễ thấy, có thể là núi Ga-ri-xim về phía nam của thành.  Đèo chiến lược Si-chem, nằm giữa núi Ga-ri-xim và núi Ê-banh, tọa lạc ngay giữa xứ Ca-na-an (Phu 11:29).  Cây dẽ bộp nằm bên ngoài thành, trái ngược với cây cổ thụ ở câu 6.  Có thể đây là cây cổ thụ xứ Mô-rê (thầy giáo) được đề cập trong Sa 12:6 và là một tụ điểm cũ của người ngoại bang, nơi người Si-chem thường xuyên lui tới (c.6).  41  A-ru-ma có thể là Gia-banh al Urma, một vùng đồi núi về phía đông nam thành.  45  Ông rắc muối trong thành để làm cho đất trong thành và những cánh đồng quanh thành ra cằn cỗi (so sánh Phu 29:23  Gie 17:6).  46  Ên-bê-rít (‘Đức Chúa Trời của giao ước’) tương tự như ‘Ba-anh Bê-rít’ (Cac 8:33, và so sánh 9:4).  47  Núi Sanh-môn (‘mờ mịt’) núi mang tên này có lẽ do cây cối phủ dầy đặc.  Chưa định vị được núi này.  50  Thê-bết là Tubas ngày nay, về phía bắc Nablus.  53  Thớt cối trên là một trong hai phiến đá lớn dùng xay lúa.

5. Thô-la và Giai-rơ (Cac 10:1-5)

Không có cuộc đe doạ nào từ phía bên ngoài vào thời đại Thô-la và Giai-rơ.  Người ta cho rằng Thô-la đã giải cứu Y-sơ-ra-ên, đúng như thế, nhưng theo đoạn văn thì sự kiện này chỉ về tình trạng đáng buồn mà thời trị vì của A-bi-mê-léc để lại.  Thô-la ‘cứu’ Y-sơ-ra-ên bằng một thời kỳ cai trị ổn định (so sánh Đê-bô-ra trong Cac 4:4-5).  Cũng thế, sự mô tả về ba mươi con trai của Giai-rơ trong câu 4 chỉ về thời kỳ hoà bình yên ổn, và uy tín cùng sự thạnh vượng của vị Quan Xét Giai-rơ.  Phân đoạn này cũng bày tỏ cho biết dân Ga-la-át vẫn không sẵn sàng với tai hoạ sắp đến trên họ.  Khi dân Am-môn mở các đợt đàn áp thì các con trai được cưng chìu của Giai-rơ hóa ra vô dụng (10:7! Lúc bấy giờ, dân Ga-la-át tha thiết tìm kiếm một chiến sĩ (10:18.  Cuối cùng, họ tìm được Giép-thê, người con bị ruồng rẫy nhưng cuộc sống gian khổ đã tôi luyện giúp ông xứng đáng gánh vác vai trò ấy (11:1-3.

Chú thích.  1  Y-sa-ca là chi phái ở miền bắc của dân Y-sơ-ra-ên (4:4.  Người ta cho rằng Sa-mia cũng chính là Sa-ma-ri, ở miền Trung Y-sơ-ra-ên, phía nam địa phận Y-sa-ca.  Hẳn có một số người trong chi phái Y-sa-ca đã di trú đến đó.  3    Về Ga-la-át xin xem 7:3  4   Thôn Giai-rơ nghĩa là làng định cư của Giai-rơ.  5  Kha-môn là vùng đất riêng của Giai-rơ cách sông Giô-đanh 15 dặm (24 km) về phía đông.

6. Giép-thê (Cac 10:6-12:7)

Câu chuyện về sự nghiệp của Giép-thê gồm năm phần, và cuộc đối thoại trong mỗi phần đóng một vai trò quan trọng.  Phần thứ nhất (Cac 10:6-16) đề cập đến việc Y-sơ-ra-ên lại phạm tội bội đạo và những hậu quả xảy ra sau đó.  Phần này bày ra bối cảnh cho những việc sắp xảy ra.  Cuộc đối thoại trong phần mở đầu này là một cuộc đối chất giữa Y-sơ-ra-ên và Đức Giê-hô-va (10-16).  Phần thứ hai kéo dài từ 10:17 đến 11:11 đề cập đến việc Giép-thê tuyển mộ binh sĩ và lãnh đạo người Ga-la-át trong trận chiến sắp xảy ra với người Am-môn.  Trong phần này, cuộc đối thoại diễn ra giữa các vị trưởng lão với Giép-thê (11:5-11).  Phần thứ ba (11:12-28) gói trọn cuộc đàm phán (đối thoại từ xa) với vua Am-môn.  Sự thất bại của cuộc đàm phán này đưa phần thứ tư lên đến cao điểm là điều không tránh khỏi (11:29-38) và chiến tranh đã xảy ra trong phần này.  Nhưng Giép-thê đã làm cho tình hình trở nên phức tạp vì lời thề của ông và hậu quả của lời thề đó.  Cho nên phần này trở thành mục tiêu đáng lưu ý.  Do đó, phần chính của bi kịch là cuộc đối thoại giữa Giép-thê và con gái của ông trong câu 34-38.  Phần thứ năm sau cùng (12:1-7) gồm cuộc đối chất giữa Giép-thê và người Ép-ra-im xảy ra sau cuộc chiến.  Cuộc đối thoại nằm trong câu 1-4a.

Dĩ nhiên, trên một phương diện, chuyện này đơn giản là bản tường thuật cách thức Đức Chúa Trời dùng Giép-thê cứu Y-sơ-ra-ên khỏi người Am-môn.  Nhưng các cuộc đối thoại gợi lên một ý nghĩa sâu xa hơn.  Cốt lõi trong mỗi cuộc đối thoại là sự thương lượng ngã giá.  Ngay cả khi dân Y-sơ-ra-ên ăn năn (trong phần thứ nhất) và lời thể của Giép-thê (trong phần quan trọng thứ tư) cũng có tính chất thương lượng ngã giá nữa .  Ở mức độ sâu xa nhất, chuyện tích Giép-thê nói về những hậu quả bi thảm xảy ra khi niềm tin thoái hóa thành chuyện thương lượng ngã giá với Đức Chúa Trời.  Chuyện này cho chúng ta biết dân Y-sơ-ra-ên trong thời Giép-thê và kể cả bản thân Giép-thê đã hiểu sai mối tương quan giữa họ với Đức Chúa Trời.  Thật ra, chỉ nhờ vào lòng thương xót lớn lao của Ngài mà họ không bị phó nộp cho số phận hết sức xứng hợp cho họ (so sánh Ro 3:22).

(Cac 10:6-16). Dân Y--ra-ên kêu cầu Đức Giê--va Phần mở đầu chuyện Giép-thê có ba cuộc xung đột.  Cuộc xung đột đầu tiên và rõ ràng nhất diễn ra giữa dân Y-sơ-ra-ên và dân Am-môn.  Bởi sự cho phép của Đức Chúa Trời (dù họ không biết), dân Am-môn đã đẩy dân Y-sơ-ra-ên gian ác vào tình trạng tuyệt vọng (9).  Trong cơn tuyệt vọng, dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Chúa Trời giải cứu họ.  Sự kiện này tạo nên cuộc xung đột thứ hai trong phần thứ nhất, tức là cuộc xung đột giữa dân Y-sơ-ra-ên và Đức Giê-hô-va, vì qua câu trả lời Ngài buộc họ phải đối diện với lịch sử nhục nhã của họ bởi đã nhiều lần bội đạo.  Rồi Ngài mạnh mẽ từ khước không đáp ứng lời cầu cứu của họ.  Ngài nhìn thấy tấm lòng ăn năn hời hợt của họ và Ngài tức giận (13-14).  Đây là lúc căng thẳng vì tương lai của dân Y-sơ-ra-ên lại lâm vào cảnh nguy kịch.  Đến đây, chúng ta nhớ lại cuộc xung đột trước trong Cac 6:7-10, nhưng cuộc xung đột lần này đáng ngại hơn nhiều.  Bởi vì chính Đức Chúa Trời đối chất với dân Y-sơ-ra-ên và Ngài dứt khoát từ chối lời cầu cứu của họ và lần này xem như là lần cuối.  Nhưng hai câu kết gợi lên đôi chút hi vọng bằng cách mở cửa cho chúng ta nhìn thấy sự giằng co ngay trong lòng của Đức Chúa Trời.  Mặc dù Ngài tức giận là chánh đáng nhưng Ngài không thể chịu đựng nỗi khốn khổ của dân Y-sơ-ra-ên lâu hơn nữa.  Không phải vì họ từ bỏ các thần khác mà Ngài cảm động.  Trước đây, họ đã từng từ bỏ các thần khác nhiều lần, để rồi trở lại đường cũ (16 so sánh câu 11-14).  Ngài không thể làm ngơ, không phải họ đã ăn năn nhưng bởi nỗi khốn khổ của họ.  Chỉ có lòng thương xót của Đức Chúa Trời đứng giữa dân Y-sơ-ra-ên và sự huỷ diệt hoàn toàn.  Họ đáng bị từ bỏ nhưng (do lòng thương xót của Ngài) Ngài không thể từ bỏ họ được (so sánh 2:18  Os 11:8-9).  Chính cuộc xung đột trong lòng và tâm trí của Đức Chúa Trời nắm chốt giải tỏa hai cuộc xung đột đó.  Phần chuyện còn lại cho chúng ta biết cách giải quyết hai cuộc xung đột ấy.

Chú thích.  6  Về Ba-anh và Át-tạt-tê xin xem Cac 2:11,13.  A-ram là tên cũ của Sy-ri (so sánh 3:8 và phần chú thích).  Về Si-đôn xin xem 3:3 về Mô-áp và dân Am-môn xin xem 3:12 về dân Phi-li-tin xin xem 3:3.  8  Về Ga-la-át xin xem 7:3.  Dân A-mô-rít (1:34) định cư tại Ga-la-át cũng như tại xứ Ca-na-an (Dan 21:21).  9  Chỉ có dân Am-môn xuất hiện trong chuyện Giép-thê còn dân Phi-li-tin xuất hiện trong chuyện Sam-sôn chương 13-16.  Phân đoạn này dẫn nhập phần thứ nhất và báo trước phần thứ hai.  11  Nhắc đến Ê-díp-to là nhắc đến thời Môi-se.  Nhắc đến dân A-mô-rít hẳn là nhắc đến trận đụng độ với Si-hôn chép trong 21:21-31.  Về dân A-ma-léc xem Cac 3:13.  12  Dân Si-đôn (3:3) có thể là thành viên trong liên minh Ca-na-an do Gia-bin và Si-sê-ra cầm đầu (5:19).  Dân Ma-ôn chưa xác định được, nhưng có lẽ chỉ về dân Ma-đi-an (so sánh phần chú thích ngoài lề bản NIV, cũng xem 6:1). 

(Cac 10:17-18). Dân Ga-la-át cầu cứu Giép-thê (Cac 10:17-11:11) Phần thứ hai bắt đầu từ việc dân Am-môn chuẩn bị mở cuộc tấn công mới và dân Y-sơ-ra-ên bàn luận với nhau trong tuyệt vọng.  Dĩ nhiên, người Ga-la-át lên tiếng trước vì địa phận của họ nằm ngay trước mũi đe doạ của quân thù.  Vì không có người lãnh đạo tài giỏi nên họ nhất trí tìm đến Giép-thê, là người đã bị họ ruồng bỏ (Cac 11:7).  Nhưng Giép-thê tỏ ra thận trọng.  Sao ông dám tincậy những  người đã đối xử tàn tệ với mình trong quá khứ?  Do đó, có cuộc thương lượng gay gắt và họ đề nghị Giép-thê nhận cả hai nhiệm vụ lãnh đạo chi phái và chỉ huy quân đội (11:8,11).  Khi thảo luận xong, họ chính thức xác nhận điều đó trong nghi lễ tổ chức tại Mích-ba, là nơi họ tụ họp đầu tiên (so sánh 11:11 với 10:17).  Như vậy, phần kết diễn ra tại chỗ bắt đầu, nhưng có thêm Giép-thê nhận chức vụ lãnh đạo.

Khi suy ngẫm, chúng ta có thể nhận thấy phần này tương tự với phần thứ nhất.  ‘Lòng ăn năn’ của dân Y-sơ-ra-ên giống như cuộc thương lượng tuyệt vọng của người Ga-la-át.  Lưu ý là lời đáp của Giép-thê khác với lời đáp của Đức Chúa Trời.  Lòng thương xót đã cảm động Đức Chúa Trời (10:16), còn Giép-thê coi như bị tư lợi và tham vọng cá nhân thúc giục.  Ông mạnh miệng thương lượng nên đã thắng, còn Đức Giê-hô-va đứng ở hậu cảnh âm thầm nhìn xem điều gì xảy ra (11:11).

Chú thích.  10:17  Mích-ba (‘Tháp canh’) là tên gọi phổ biến, nhưng chưa định vị được Mích-ba đặc biệt này (trong Ga-la-át).  11:1  Ở đây, Ga-la-át là tên riêng một người, trái với 10:17 và những chỗ khác (so sánh Gios 17:1,3).  3  Tóp (‘Tốt’) là một thành phố trong xứ A-ram (Sy-ri) (IISa 10:6-8).

Cac 11:1-11 (xem giải nghĩa Cac 10:17-18)

(Cac 11:12-28) Giép-thê áp dụng đường lối ngoại giao.Địa phận được bàn cãi ở đây nằm trong miền nam xứ Ga-la-át, phía bắc sông At-nôn.  Trước kia là địa phận của dân Mô-áp, nhưng bị người A-mô-rít chiếm, rồi bị dân Y-sơ-ra-ên chiếm trong thời Môi-se (Dan 21:21-31).  Vào thời Giép-thê, dân Am-môn đánh chiếm Mô-áp, nằm ở hướng nam At-nôn (c.24 cùng đoạn).  Lập luận của Giép-thê là Y-sơ-ra-ên không chiếm đóng mảnh đất nào của dân Am-môn.  Vậy, họ phải tuân thủ tiền lệ do những người cai trị Mô-áp trước kia đặt ra và công nhận At-nôn là biên giới giữa các địa phận của Am-môn và Y-sơ-ra-ên (25).

Phần này cho chúng ta biết Giép-thê có tiềm năng làm nhân vật vĩ đại.  Ông chứng tỏ mình có khả năng vượt qua phạm vi của dân Ga-la-át để đảm nhận trách nhiệm giải quyết toàn thể vấn đề của Y-sơ-ra-ên.  Nhưng chẳng có gì lạ khi đường lối ngoại giao của ông thất bại, chỉ vì ông không dùng giọng điệu của người mưu cầu hoà bình.  Dường như ông tìm cách kéo dài thời gian và quyết liệt chứng minh quyền lợi của Y-sơ-ra-ên là chính đáng với hi vọng Đức Chúa Trời, vị Quan Xét tối cao (27) sẽ ủng hộ ông (và Y-sơ-ra-ên).  Đến phần kết, khi ông cầu xin Đức Chúa Trời giải quyết vụ việc ngày hôm nay thì chẳng khác gì một lời tuyên chiến và là dấu hiệu rõ ràng cho biết đã đến cao điểm của câu chuyện.

Chú thích.  13  At-nôn và Gia-bốc là hai con suối hoặc khe bên bờ phía đông sông Giô-đanh.  Hai suối này gần như viền trọn ranh giới phía nam xứ Ga-la-át (so sánh câu 18).  16  Biển Đỏ (‘biển cây sậy’) có lẽ nói đến Vịnh Aqabah như trong Dan 33:10-11.  Ka-đe Ba-nê-a là một vùng định cư nằm về mũi phía nam Ca-na-an (13:26).  17  Ê-đôm là vùng đất phía nam Biển Chết do dòng dõi Ê-sau chiếm cứ.  Về Mô-áp xin xem Cac 3:12.  19  Về dân A-mô-rít xin xem 1:34 và 10:8,11.  Trước đây, Hếp-bôn là thành của dân Mô-áp, bị Si-hôn, vua A-mô-rít chiếm và biến thành đế đô (Dan 21:26).  20  Chưa định vị được Gia-hát.  24  Kê-mốt là thần của dân Mô-áp (IVua 11:7  IIVua 23:13  Gie 48:7,13,46) nhưng kể từ khi dân Am-môn cai trị Mô-áp thì Kê-mốt cũng được xem là thần của họ.  Thông thường, các vua ‘nhận’ thờ thần hoặc các thần của lãnh thổ họ đánh chiếm được.  25  Ba-lác, con trai Xếp-bô là vua Mô-áp trong thời Môi-se (Dan 22:1-24:25).  26  A-rô-e là thành phố nằm trên bờ sông At-nôn về phía nam (c.13).

(Cac 11:29-40) Lời thề của Giép-thê hậu quả. Sự kiện Thánh Linh đến trên Giép-thê (29) phát động một loạt những biến cố mà đến nay, chúng ta đã quen thuộc và có thể đoán trước.  Cuộc chiến thắng quyết định trong câu 33.  Nhưng trong trường hợp này, một lời thề đã làm gián đoạn (30-31) và chi phối toàn thể tình tiết câu chuyện.  Trận chiến chỉ được bàn đến cách ngắn gọn, sự lưu tâm chính nời đây là diễn biến của trận chiến tạo những điều kiện cho Giép-thê thực hiện lời hứa nguyện của ông.

Những lời hứa nguyện theo đúng nghĩa, chẳng có gì khác thường (Dan 30:1-17  Thi 22:25  Tr 5:4-5).  Nhưng lời hứa nguyện này lại không bình thường chút nào.  Ông hứa nguyện dâng của lễ thiêu (31b) nhưng không xác định con sinh, chỉ xác định phương cách chỉ định con sinh: ‘hễ vật gì (hoặc bất cứ ai) ra khỏi...  ‘ (31a).  Lời lẽ trong câu hứa nguyện rất mơ hồ, nên mọi người sống trong nhà Giép-thê đều ở trong tình trạng nguy hiểm.  Chúng ta hết sức kinh hoàng và ông cũng kinh hoàng vì chính cô con gái trinh tiết và độc nhất của ông trở thành con sinh (34-35), và bi thảm hơn nữa là ông hoàn toàn không cần phải hứa nguyện như thế (câu chuyện trước cho biết).  Mạch văn cho thấy lời hứa nguyện này chẳng qua cũng là sự ngã giá thương lượng với Đức Chúa Trời một cách sai lầm.  Giép-thê, một tay thương lượng tài giỏi đã chơi quá tay nên phải trả giá đau thương.  Chặng thứ hai của phần này nghe như tiếng vang vọng trái ngược với Sa 22:1-24, là chuyện một người cha và một đứa con độc nhất khác.  Nhưng Giép-thê không phải là Áp-ra-ham, và trong trường hợp của ông, không có tiếng nói từ trời, ông chỉ nhận được sự im lặng của sự trừng phạt.  Chúng ta chỉ có thể kết luận rằng Đức Giê-hô-va tức giận với lời hứa nguyện của Giép-thê như thể Ngài tức giận đối với sự ‘ăn năn’ của dân Y-sơ-ra-ên.  So sánh hành động của vua Mô-áp trong IIVua 3:26-27.  Đáng phải xem xét lại lời cầu nguyện ngày nay vì thường có hình thức mặc cả với Đức Chúa Trời.  Tấm gương của Giép-thê cho thấy rõ không nên mặc cả với Đức Chúa Trời theo kiểu như thế.

Chú thích.  29  Về Ma-na-se xin đọc Cac 1:27.  33  Về A-rô-e xin đọc câu 26.  Chưa định vị được Mi-nít và A-bên Ka-rê-mim.

(Cac 12:1-7). Giép-thê dẹp cuộc nổi loạn Sau khi mối đe doạ từ bên ngoài được dẹp yên thì sự ganh tị tranh chấp giữa các chi phái lại nổi lên (so sánh Cac 8:1-4).  Rõ ràng người Ép-ra-im tự nhận mình là chi phái đứng đầu trong Y-sơ-ra-ên và họ không chịu công nhận bất kỳ ai ngoài chi phái của họ làm quan xét, nhất là người Ga-la-át.  Đối với họ, Giép-thê áp dụng cùng một phương thức giải quyết cơ bản như đã giải quyết với dân Am-môn: ông bênh vực lý lẽ chính đáng của mình và sau đó (vì không được đáp lại) ông xuất quân ra trận.  Lời ghi chú tóm tắt trong 12:7 cho chúng ta thấy kết quả về mặt chính trị: các chi phái phía tây Giô-đanh chịu phục tùng và Giép-thê cai trị toàn cõi Y-sơ-ra-ên trong sáu năm.  Tóm lại, ông tự khẳng định mình là một nhà lãnh đạo mạnh mẽ.

Dù vậy, đây không phải là cuộc thánh chiến.  Họ không cầu hỏi Đức Chúa Trời khi cần quyết định vấn đề, cũng không có ý nào cho rằng Đức Chúa Trời ban cho họ sự chiến thắng (trái ngược với 11:27,29,32).  Toàn thể phần này được trình bày với giọng điệu hài hước, xem đây là cuộc phục thù gớm ghiếc của các chi phái thấp kém và cho thấy sự chia rẽ trầm trọng của dân Y-sơ-ra-ên.  Đây là điềm gỡ báo trước cho tương lai, đặc biệt trong các chương 19-21.

Chú thích.  1  Về Ép-ra-im xin xem 1:22.  Xa-phôn ở miền Trung Ga-la-át, cách Giô-đanh 2 dặm (3 km) về phía đông.  4  Những kẻ phản bội nguyên văn nghĩa là ‘những kẻ bỏ trốn’, ngụ ý chỉ những kẻ theo Giép-thê (hoặc ít nhất là một số người trong nhóm họ) là con cháu của người Ép-ra-im và Ma-na-se trốn sang Ga-la-át dưới dạng đào ngũ hoặc tị nạn.  So sánh quá khứ riêng của Giép-thê (11:1-3).  5  Kẻ sống sót ở hình thức số nhiều trong tiếng Hi-bá-lai, nguyên văn là ‘những kẻ bỏ trốn’ (như trong c.4).  Người Ga-la-át lật ngược tình thế khiến người Ép-ra-im trở thành những kẻ trốn tránh!  6  Ý nghĩa của từ ‘Si-bô-lết’ không rõ ràng và không quan trọng.  Từ này được dùng để thử giọng nói hầu nhận diện những người Ép-ra-im bỏ trốn.  Về con số bốn mươi hai ngàn xin xem 5:8.

7. Iếp-san, Ê-lôn và Áp-đôn (12:8-15)

Sau Giai-rơ và Giép-thê là hai quan xét người Ga-la-át, chức quan xét trở về với các chi phái miền bắc phía tây Giô-đanh.  Chuyện Giép-thê và đứa con duy nhất của ông (con gái) được nối tiếp bằng chuyện của Iếp-san, có ba mươi cô con gái và cưới ba mươi cô con gái khác cho ba mươi con trai của mình! Trong các vị quan xét, chỉ có Giép-thê và Iếp-san được đề cập chung với con gái mình, tuy nhiên, điểm tương phản giữa họ nhằm nhấn mạnh vào cảnh son sẻ thảm thương  mà Giép-thê phải chịu vì lời hứa nguyện của ông.  Tác giả chép rất ít về Ê-lôn và Áp-đôn, nhưng chi tiết về các con trai và các cháu của Áp-đôn cỡi lừa nhắc chúng ta nhớ lại cảnh phô trương tương tự của Giai-rơ và gia đình ông (Cac 10:4).  Có lẽ lời đề cập đến các con trai cũng nhằm gợi ý rằng kể từ Ghê-đê-ôn trở đi, chức vị quan xét có thường khuynh hướng muốn trở thành chức vị vua, và con trai kế vị cha nắm quyền hành (so sánh ISa 8:1).  Khi phần tiếp nối của câu chuyện lên đến đỉnh cao thì thời đại của các vị cứu tinh được Đức Chúa Trời dấy lên vẫn chưa chấm dứt.

Chú thích.  8  Có thể đây là Bết-lê-hem miền bắc trong Gios 19:15, nằm trên ranh giới Sa-bu-lôn - A-se.  Có thể Iếp-san thuộc chi phái A-se.  Ê-lôn, vị quan xét kế tiếp thuộc chi phái Sa-bu-lôn.  Lãnh đạo theo nguyên văn là ‘xét đoán’ (so sánh các câu 11,13).  11  Chưa định vị được A-gia-lôn đây không phải là A-gia-lôn miền nam trong Cac 1:35.  13  Phi-ra-thôn nằm ở miền Trung Ca-na-an, nơi biên giới Ép-ra-im và Ma-na-se, cách Nablus ngày nay sáu dặm (9 km) về phía tây nam.  15  Về dân A-ma-léc xin (3:13 5:14).

8. Sam-sôn (Cac 13:1-16:31)

Bố cục của chuyện Sam-sôn rất rõ ràng.  Sau câu dẫn nhập ngắn gọn xác định bối cảnh (13:1), tác giả mô tả sự chào đời lạ thường của Sam-sôn trong 13:2-25.  Sau đó, ông trình bày sự nghiệp thời thanh niên của Sam-sôn kéo dài cả hai chặng trong các chương 14-16.  Chặng thứ nhất bắt đầu từ việc ông đi xuống Thim-na trong 14:1 và cao điểm là việc ông sát hại dân Phi-li-tin tại Ra-mát Lê-chi trong 15:14-20.  Chặng thứ hai bắt đầu từ việc ông đến Ga-xa trong 16:1 và cái chết của ông trong đền thờ Đa-gôn trong 16:23-31.  Hai câu ghi chú về chức vị quan xét của ông trong 15:20 và 16:31 chính thức kết thúc hai chặng này.

Sam-sôn là vị quan xét cuối cùng mà sự nghiệp được mô tả trong sách và cũng chiếm nhiều trang hơn bất cứ quan xét nào.  Trong tất cả các quan xét, Sam-sôn là hình ảnh thu nhỏ về tình trạng dân Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ các quan xét.  Ông biệt riêng cho Đức Chúa Trời nhưng không bao giờ chịu biệt riêng hoàn toàn.  Dân Y-sơ-ra-ên đi theo thần ngoại bang thì Sam-sôn cũng đi theo người nữ ngoại bang.  Dân Y-sơ-ra-ên khi tuyệt vọng kêu cầu với Đức Chúa Trời thì Sam-sôn cũng kêu cầu với Đức Chúa Trời ở hai cao điểm trong câu chuyện (15:18  16:28).  Trong Sam-sôn, chúng ta thấy Đức Chúa Trời đấu tranh chống lại bản tính hay thay đổi của dân Y-sơ-ra-ên qua việc Ngài tập trung đấu tranh chống lại một người đại diện.  Trên một phương diện thì Sam-sôn đích thực là nước Y-sơ-ra-ên.  Và đến cuối cùng, Đức Chúa Trời chiến thắng.  Dân Phi-li-tin và thần giả dối của họ bị bại trận, còn Sam-sôn cuối cùng chấp nhận số phận của mình.  Đây là một câu chuyện buồn thảm, nhưng cũng là một câu chuyện chiến thắng và hi vọng.  Dưới sự cai trị của Đức Chúa Trời, Sam-sôn khởi giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi sự áp bức của người Phi-li-tin (13:5), về sau, Đa-vít hoàn tất cuộc giải phóng này (IISa 8:1).  Có lẽ cho rằng dân Y-sơ-ra-ên và cả Sam-sôn là hình ảnh báo trước về Hội Thánh thất thường hay thay đổi, tuy vẫn được Đức Chúa Trời dùng xem ra không có gì quá đáng.

(Cac 13:1-24) Sự chào đời lạ lùng của Sam-sôn  Lời dẫn nhập ngắn trong câu 1 gợi ý rằng đức tin của dân Y-sơ-ra-ên đã thực sự sa sút rõ rệt thậm chí họ không còn kêu cầu Đức Chúa Trời giải cứu họ nữa (trái ngược với Cac 3:9,15  4:3  6:6  10:10).  Vì bối cảnh này mà sự ra đời của Sam-sôn lại càng hết sức đặc biệt.  Sự ra đời của Sam-sôn hoàn toàn do ân điển, vì thế đã bày tỏ lòng sốt sắng mãnh liệt của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài, và cũng là phép lạ công bố quyền làm chủ của Ngài trên cả sự sống và sự chết.  Người mẹ son sẻ của Sam-sôn giống như toàn thể Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời đem sự sống cho tử cung khô héo của bà thể nào thì qua Sam-sôn, Ngài đem sự sống cho dân Y-sơ-ra-ên thể ấy.  Nhưng không phải là không trả giá.  Dường như do bản năng, mẹ của Sam-sôn biết cái giá phải trả của đứa trẻ sẽ là người Na-xi-rê của Đức Chúa Trời...  cho đến lúc chết.  Đỉnh cao của câu chuyện đổ bóng dài vào tương lai.  Như một vị cứu tinh rất quan trọng sẽ đến trong tương lai, nhà giải phóng này sẽ làm trọn sứ mạng bằng cái giá là chính mạng sống mình.

Chú thích.  1  Về dân Phi-li-tin xin xem Cac 3:3  10:9.  2  Xô-rê-a cách Giê-ru-sa-lem 12 dặm (19 km) về phía tây, ngay phía bắc thung lũng Sô-réc (16:4 so sánh 18:2,8,11).  Về người Đan, so sánh 1:34  18:1-31  5:17.  3  Về Thiên Sứ của Đức Giê-hô-va (2:1-5  6:11-24).  5  Người Na-xi-rê bắt nguồn từ tiếng Hi-bá-lai n~zar nghĩa là ‘phân rẽ, biệt riêng’.  Người Na-xi-rê là người biệt riêng mình để dâng cho Đức Chúa Trời bằng một lời hứa nguyện cụ thể (Dan 6:1-27).  Các lời hứa nguyện này thường là do tự nguyện và chỉ có giá trị trong một thời kỳ ấn định.  Tuy nhiên, Đức Chúa Trời cho Sam-sôn trở thành người Na-xi-rê suốt đời, từ trước khi ông ra đời.  18  Vượt quá sự hiểu biết theo nghĩa đen là ‘diệu kỳ’ rõ ràng ám chỉ rằng sứ giả thực sự là chính Đức Chúa Trời (so sánh Xu 15:11  Es 9:6).  22  Cac 6:22-23.  25  Dinh Đan (‘trại Đan’) nằm giữa Xô-rê-a và Giê-ru-sa-lem (18:12).  Ê-ta-ôn ở gần Xô-rê-a.

(Cac 14:1-20). Đám cưới của Sam-sôn Chương này bắt đầu bằng việc Sam-sôn đi xuống Thim-na (1).  Ông xuống đó một lần nữa trong câu 5, có cha ông đi theo trong câu 10.  Về sau, ông xuống Ách-ca-lôn trong câu 19a, cuối cùng ông trở về nhà cha trong câu 19b.  Như vậy, chương này kết thúc ở chỗ khởi đầu - một diễn biến vòng tròn.  Nhưng đây chỉ là phần khởi đầu, như chúng ta sẽ thấy trong chương kế tiếp, là chương tường thuật lại mối liên hệ của Sam-sôn với cô gái xứ Thim-na sẽ tiếp diễn.

Chương 14 có nhiều chuyện bí ẩn.  Bí ẩn trong việc Đức Chúa Trời có chủ ý khi kiểm soát hành động của Sam-sôn: ông tìm dịp đương đầu với dân Phi-li-tin (4).  Bí ẩn trong việc Sam-sôn đối phó với con sư tử (6) và bí ẩn về nguồn gốc mật ong ông đem về cho cha mẹ (9).  Cuối cùng, bí ẩn về câu đố (14) bắt nguồn từ hai điều bí ẩn trước.  Phía sau tất cả những hành động khó hiểu nhắm vào mục tiêu đã định trước chính là Thánh Linh của Đức Chúa Trời (Cac 13:25  14:6,19).  Dường như Sam-sôn chủ ý chìu theo tư dục của ông và hoàn toàn xem thường sự kêu gọi làm người Na-xi-rê.  Ông tự làm ô uế mình bằng cách múc mật ong từ một xác chết thú vật (8 so sánh Dan 6:6) hẳn là ông có uống rượu trong bữa tiệc (10 so sánh 6:3) và làm bạn với dân Phi-li-tin thay vì tìm cách giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi sự cai trị của họ (1-3 so sánh Cac 13:5).  Nhưng ông luôn vô tình hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời (4).  Ông là công cụ Đức Chúa Trời chọn lựa để giải phóng dân Y-sơ-ra-ên, nên chẳng việc làm nào của ông có thể thay đổi mục đích của Đức Chúa Trời.

Chuyện Sam-sôn là bài học lý thú về mối tương quan giữa sự tự do của con người và quyền tể trị của Đức Chúa Trời.  Chuyện này cho chúng ta biết Đức Chúa Trời phối hợp tất cả mọi chuyện việc đẩ làm ích cho dân của Ngài, ngay cả những lúc họ không ngờ đến nhất và bất chấp bản tính thất thường của người được chọn.  Cho đến ngày nay, Ngài vẫn là Đức Chúa Trời nhân từ và quyền năng tối cao.  Dù con người có biết hay không thì Đức Chúa Trời vẫn phối hợp mọi sự làm ích cho dân của Ngài.  Tuy vậy, trong Chúa Giê-xu là một đầy tớ trọn vẹn của Ngài, không có dấu vết nào của sự lạc lầm như đã thấy trong Sam-sôn (Ro 5:6-8  8:28).

Chú thích.  1  Chưa định vị được Thim-na, chỉ biết đây là một địa điểm nằm ở ranh giới giữa Giu-đa và Đan (Gios 15:10  19:43) vào thời gian đó nơi này thuộc quyền kiểm soát của người Phi-li-tin.  3  Không chịu cắt bì là từ ngữ biểu thị sự khinh miệt (so sánh Cac 15:18).  Như chúng ta biết dân Phi-li-tin là dân tộc láng giềng sát nách duy nhất không có tập tục cắt bì.  11  Có lẽ Sam-sôn dùng ba mươi người bạn làm đội bảo vệ, vì ông đang có mặt trong địa phận của kẻ thù.  12  Bộ áo lễ là tấm vải lanh lớn hình chữ nhật có thể mặc ban ngày hoặc mặc ngủ ban đêm.  Vì chúng được làm bằng vải lanh nên có phẩm chất cao và được dùng làm giải thưởng.  15  Nhà cha ám chỉ toàn thể gia đình, kể cả đầy tớ (so sánh 15:6).  19  Ách-ca-lôn ở về phía tây nam 23 dặm (37 km) nằm trên bờ biển (1:18).  20  Người bạn (‘phụ rễ’) có thể khác với ‘ba mươi người bạn’ trong câu 11 (so sánh 15:2 và Gi 3:29).

(Cac 15:1-20). Mối xung đột với dân Phi-li-tin gia tăng Người cha vợ của Sam-sôn xem việc Sam-sôn giận dữ bỏ đi là dấu hiệu ông ruồng rẫy vợ nên (có lẽ để cứu vãn danh dự gia đình) gả nàng cho người bạn ‘phụ rể’ của Sam-sôn (Cac 14:20  15:2).  Nhưng Sam-sôn nhìn sự việc cách khác, và cho rằng việc ông phá hoại các cánh đồng chung quanh Thim-na và tước đoạt toàn bộ thành quả lao động của dân địa phương là hoàn toàn chánh đáng (1,3-5).  Dân Phi-li-tin nổi giận là điều có thể hiểu được, nhưng vì không thể tra tay trên Sam-sôn nên họ trả thù một cách tàn ác trên vợ và cha vợ của ông (6).  Bởi đó, ông điên cuồng thực hiện một cuộc phá phách khác (lần này ông sát hại con người thay vì mùa màng).  Sau đó, ông rút lui và thỏa lòng vì đã thanh toán được mối thù với quân nghịch (7-8).  Nhưng lần này, hằng loạt các biến cố đã tập họp lại thành một động lực không thể nào ngăn chận.  Dân Phi-li-tin không chịu ngưng nghỉ cho đến chừng nào họ trừ diệt được kẻ phá hoại.  Để thực hiện mục tiêu này, họ xâm nhập vào Giu-đa để bắt ông (9-10).  Chuyện này đặt người Giu-đa vào một tình thế éo le nhưng họ nhanh chóng quyết định hi sinh Sam-sôn.  Muốn bảo toàn ông, họ phải trả một giá quá lớn.  (So sánh với sự lãnh đạo can trường của những người trong chi phái này trong 1:1-3.  Ở đây, thái độ hèn nhát của họ cho thấy khí thế của dân Y-sơ-ra-ên đã tụt thấp là dường nào.)  Có vẻ như chấp nhận chuyện bất khả kháng nên Sam-sôn để cho họ trói lại và giao nộp (11-13).  Nhưng chẳng ai tiên liệu được sự việc xảy ra sau đó! Thánh Linh của Đức Chúa Trời giáng trên Sam-sôn bằng sức mạnh, biến bại thành chiến thắng vinh quang (dù đẫm máu).  Chiến thắng này mở màn cho giai đoạn đầu của thời kỳ Sam-sôn làm quan xét hữu hiệu(14-17,20).

Về một phương diện, đây là câu chuyện kinh hoàng về sự trả đũa và gia tăng bạo lực, với hành động bị xúi giục bởi sức mạnh đen tối của lòng căm phẩn, ganh ghét và thèm khát trả thù.  Nhưng về một phương diện khác căn bản hơn, đây là câu chuyện về quyền năng  của Đức Chúa Trời biến thất bại thành chiến thắng và chinh phục kẻ thù của dân Ngài.  Đến lúc cuối, ngay cả Sam-sôn cũng thừa nhận rằng ông là đầy tớ của Đức Chúa Trời và mọi chuyện xảy ra đều là việc làm của Ngài (18).  Khi ông kêu xin với Đức Chúa Trời, công nhận sự yếu đuối cùng cực của chính mình, và công nhận ông phải lệ thuộc vào Ngài, Sam-sôn nhận Đức Chúa Trời khi Ngài làm theo lời ông yêu cầu (18-19).  Đây là một trong những giây phút đẹp đẽ nhất của ông và cũng là đỉnh cao của toàn thể câu chuyện về sự nghiệp mà Sam-sôn hướng đến (16:28-30).

Chú thích.  1  Dường như cuộc hôn nhân của Sam-sôn được tổ chức theo phong tục Phi-li-tin.  Trong cuộc hôn nhân này cô dâu vẫn ở lại nhà cha mẹ nàng, chàng rể phải đến đó thăm hỏi.  Con cái sinh ra từ cuộc hôn nhân này đều thuộc về gia đình cô dâu.  8  Hang đá Ê-tam có lẽ là một điểm mốc có tiếng ở vùng ranh giới.  Chưa định vị được chỗ này.  9  Lê-chi (‘xương hàm’) có thể là tên đặt cho một mõm đá có hình dạng giống xương hàm.  Nhưng chiến công của Sam-sôn đã đem lại cho địa điểm này một ý nghĩa mới (17).  Chưa định vị được nơi này.  11  Về  số ba ngàn, so sánh các câu 15-16 và xem 5:8.  15  Xương hàm mới nghĩa là một cái xương vẫn còn cứng, chưa quá khô và giòn, đây là vũ khí tạm thời (so sánh cây đót bò của Sam-ga, 3:31).  16  Về câu chất thây từng đống xin xem phần chú thích ngoài lề bản NIV.  18  Về những kẻ không chịu cắt bì xin xem 14:3.  19  Chỗ trũng có lẽ là nơi đá lõm xuống thành lòng suối.  Suối có tên là Ên-Ha-cô-rê (‘suối của người kêu cầu’) có ý nói về ‘lời kêu cầu’ của Sam-sôn (nghĩa đen là ‘kêu la’) trong câu 18.  Nhưng trong tiếng Hi-bá-lai thông dụng thì con gà gô cũng được gọi là ‘kẻ kêu cầu’ (haqôr‘) vì tiếng gáy của nó, như vậy, có lẽ từ ban đầu, suối này được gọi là ‘suối gà gô’.  Nếu đúng vậy, thì nhờ Sam-sôn địa điểm này có thêm ý nghĩa mới.  20  Lãnh đạo nguyên văn nghĩa là ‘xét xử’ so sánh 16:31 và xem 2:16-19.

(Cac 16:1-22)  Sam-sôn Đa-li-la Đoạn này mở đầu bằng chuyện Sam-sôn tự ý đến Ga-xa (1) và kết thúc với chuyện ông bị bắt làm tù binh (21).  Câu chuyện nảy sinh từ mối liên hệ của ông với hai người đàn bà: một kỵ nữ vô danh (1-3) và nàng Đa-li-la (4-22).  Có thể cả hai phụ nữ đều là người Phi-li-tin, dù tác giả không xác định.  Đối với người kỵ nữ thì đây chỉ là vấn đề tình dục, nhưng trường hợp Đa-li-la thì đó là tình yêu - ít nhất về phía Sam-sôn (4).  Sự kiện thứ nhất phô bày sức mạnh lạ lùng của ông, sự kiện thứ hai hình thành câu hỏi về nguồn gốc của sức mạnh đó.  Trong cả hai trường hợp, Sam-sôn đều hành động không có mục đích và thiếu suy nghĩ.  Tuy nhiên, cả hai trường hợp đều dẫn đến sự thất bại nhục nhã cho người Phi-li-tin (3,23-30).  Rõ ràng, Sam-sôn mất khả năng tự chế nhưng Đức Chúa Trời vẫn dùng ông để đạt mục đích của Ngài.

Chuyện xảy ra với Đa-li-la đặc biệt có ý nghĩa, nhất là lúc cuối khi Sam-sôn kể hết mọi sự (17).  Không phải Sam-sôn không hay biết về sự kêu gọi của mình.  Từ đầu đến cuối, ông biết mình là người Na-xi-rê và ông cũng biết sức mạnh của ông là mối liên hệ đặc biệt giữa ông và Đức Chúa Trời (mái tóc của ông là dấu hiệu về mối liên hệ này).  Nhưng ông chưa bao giờ chấp nhận địa vị biệt riêng của mình cách trọn vẹn.  Ông luôn âm thầm muốn giống như người khác để hưởng thụ những thú vui người khác đang hưởng (sự cám dỗ này chắc hẳn thường xảy ra cho Cơ-đốc nhân ngày nay).  Nơi Đa-li-la, ông tìm thấy cơ hội hưởng thứ hạnh phúc mà ông hằng mơ ước và có lẽ đây là cơ hội cuối cùng.  Khi nhượng bộ lời yêu cầu của nàng, xem như Sam-sôn ngầm nhờ Đa-li-la giải thoát ông khỏi địa vị làm người Na-xi-rê để trở thành người bình thường như ông hằng ao ước (17).  Nhưng nghịch lý thay, hậu quả của chuyện này lại cưỡng ép ông ra khỏi nơi ông muốn ở và đem ông trở lại tuyến đầu chiến đấu với dân Phi-li-tin (20-21).  Đức Chúa Trời chỉ rời khỏi Sam-sôn một thời gian đủ để làm xong việc.  Câu cuối của đoạn này (tóc ông...  bắt đầu mọc lại 22) cho chúng ta biết việc sắp xảy ra (23-30).  Có thể Sam-sôn muốn giống mọi người nhưng Đức Chúa Trời không cho phép ông làm như vậy, cũng như Ngài không muốn Y-sơ-ra-ên giống như các dân tộc khác.  Sam-sôn chống trả sự kêu gọi cũng tương tự như cuộc chống trả của toàn thể dân Y-sơ-ra-ên.

Chú thích.  1  Về Ga-xa xin xem Cac 1:18  3:3  6:4.  2  Theo mẫu mã của thời đó, cổng thành là một cấu trúc công phu cao hai tầng, có nhiều phòng của lính canh nằm hai bên, mở ra giống như đường hầm.  Những người theo dõi Sam-sôn ở bên trong phòng gác, có lẽ họ vẫn còn ngủ khi ông tháo cửa (3).  3  Hếp-rôn nằm trên vùng đồi núi xứ Giu-đa, cách Ga-xa 38 dặm (60 km) về hướng đông.  Có lẽ Sam-sôn dựng cửa bên một ngọn đồi nằm khoảng giữa Hếp-rôn và Ga-xa (1:10).  4  Thung lũng Sô-réc (‘Thung lũngVườn Nho’ so sánh 15:5) cách Giê-ru-sa-lem 13 dặm (21 km) về hướng tây nam.  5  Mười một ngàn shê-ken khoảng 28 lbs (13 kg so sánh 17:1,3)  7  Dây tươi (‘những sợi dây còn tươi’) có thể là sợi dây cung còn đang chế tạo (xem phần chú thích ngoài lề bản NIV).  13  Dấu hiệu dễ nhận thấy nhất về sự kiện Sam-sôn được Đức Chúa Trời biệt riêng làm người Na-xi-rê là bảy lọn tóc (so sánh c.17). (13:5).  Khung cửi là loại máy dệt thô sơ, có hai trụ chân cắm xuống đất.  Đinh ghim là miếng gỗ dẹp dùng nén chặt chỗ vải mới dệt.  21  Họ khoét mắt ông để hạ nhục và biến ông thành kẻ vô dụng (so sánh IIVua 25:7).  Họ bắt ông xay cối, có lẽ xay bằng tay.  Không rõ vào thời đó, người ta đã biết dùng loại cối xay lớn hay chưa, thường là do lừa kéo.

(Cac 16:23-31). Tử trận chiến thắng tại Ga-xa Câu chuyện Sam-sôn đạt đỉnh cao bất ngờ vào cảnh cuối, cũng như toàn bộ phần thân của sách.  Vấn đề căn bản của dân Y-sơ-ra-ên trong suốt thời kỳ các quan xét là sự cuốn hút nguy hiểm của các thần khác (Cac 2:10-13).  Sự đóng góp lớn lao của Sam-sôn cho mục đích của Đức Chúa Trời là dù trong lúc sắp chết, cũng chứng minh được uy quyền tối cao của Đức Giê-hô-va (Gia-vê) và tình trạng hoàn toàn bất lực của các thần khác (tiêu biểu là Đa-gôn).  Vì thế, chiến công của Sam-sôn không khác gì chiến công của Ê-li trên núi Cạt-mên (IVua 18:16-40). 

Mỉa mai thay khi nhiều lần họ xưng tụng thần của họ đã phó Sam-sôn vào tay họ (23-24), nhưng thật ra chính Đức Chúa Trời đã làm việc đó nhằm gây cho họ bị sụp đổ.  Lời cầu nguyện của Sam-sôn trong câu 28 chứa đựng nỗi sầu khổ tột cùng.  Trước đó, ông cầu xin được sống (Cac 15:18-19), nhưng giờ đây, ông cầu xin cho chết.  Ngay cả đến lúc chết, động cơ của ông cũng không thánh khiết, trong sạch thay vì tìm vinh hiển của Đức Chúa Trời, ông chỉ lo báo thù cá nhân.  Ít ra đến phút cuối, ông cũng thực hiện được những điều Đức Chúa Trời giao phó cho riêng ông, và dĩ nhiên, sự chiến thắng thuộc về Ngài.  Trong tương lai còn nhiều trận chiến quyết liệt hơn, nhưng nền tảng xây dựng sự giải cứu cho tương lai Y-sơ-ra-ên chính là việc nhận thức được chỉ một mình Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.  Chắc chắn Sam-sôn đã thực hiện được bước mở đầu đầy ý nghĩa (13:5).

Như vậy, chuyện Sam-sôn kết thúc nơi chỗ bắt đầu, gia đình ông buồn khổ đem xác ông về chôn cất.  Dù vị trí nhìn của chúng ta có đầy đủ hơn, thì ít ra họ cũng được an ủi là ông không đến nỗi chết cách vô ích.  Dù có nhiều thiếu sót, ông vẫn là tiền nhân của Chúa Giê-xu, Đấng đã tiêu diệt kẻ thù lớn của chúng ta bằng sự hi sinh của Ngài và lập nền tảng cho sự giải cứu sẽ có ngày được khải thị cách đầy đủ (He 2:14-15  IPhi 1:3-5).

Chú thích.  23  Đa-gôn (‘hạt nếp’) là vị thần nông nghiệp của dân Ca-na-an, có lẽ được dân Phi-li-tin tiếp nhận làm thần của mình khi họ đến trong xứ (Cac 3:3).  Theo ISa 5:1-5, tại Ách-đốt cũng có một đền thờ thần Đa-gôn.  25  Có lẽ Sam-sôn bị ép biểu diễn sức mạnh lạ lùng của ông.  26  Các cuộc khai quật trong khu vực cho biết kiểu kiến trúc của đền thờ này.  Mái đền thờ được chống đỡ bằng những cột gỗ dựng trên đế bằng đá.  Các nhân vật quan trọng ngồi phía dưới trong đền thờ, còn dân thường đứng trên nhìn xuống.  28  Đức Chúa Trời tối cao nguyên văn là ‘Chúa Gia-vê của tôi ơi’.  Danh xưng ‘Gia-vê’ có liên hệ đặc biệt với cuộc giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập và với giao ước ban cho họ tại Si-nai (Xu 6:1-8  20:2).  Sam-sôn cầu nguyện với tư cách là một người Y-sơ-ra-ên, viện dẫn mối liên hệ trong giao ước.  Như thông thường trong Cựu Ước, từ nhớ lại ở đây bao gồm luôn cả hành động, chứ không phải chỉ có hồi tưởng (so sánh Sa 8:1  19:29  Xu 2:24).  31  Về Xô-rê-a và Ê-ta-ôn xin xem Cac 13:25.

4. HỖN LOẠN TRONG TÔN GIÁO: MI-CA VÀ THẦN TƯỢNG CỦA ÔNG (Cac 17:1-18:31)

Như đã giải thích trong phần dẫn nhập, đây là chuyện thứ nhất trong hai chuyện kết luận sách.  Cả hai chuyện đều nói về người Lê-vi và nối kết nhau bằng điệp khúc  17:6  18:1  19:1  21:25.  Cả hai đều mô tả sự hỗn loạn về tôn giáo và luân lý đã đe doạ tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên từ bên trong suốt thời kỳ các quan xét.  Vì dân Y-sơ-ra-ên không có vua và mọi người làm theo ý mình cho là phải hoặc nguyên văn là ‘điều gì đúng theo mắt mình’.

1. Nguồn gốc các pho tượng của Mi-ca (Cac 17:1-13)

Mi-ca xuất hiện trong chuyện là một tên ăn trộm tự thú.  Mẹ ông dâng số tiền do ông ăn cắp cho Đức Chúa Trời - để làm hình tượng.  Dường như ông bị lương tâm cắn rứt nên kể lại mọi việc cho mẹ nghe và trả lại tiền cho bà.  Về phần bà mẹ, cảm thấy nguôi ngoai vì được lại tiền nên bà không la mắng một lời nào, thay vào đó bà nhân danh Chúa chúc phước cho con trai mình! Và còn nhiều chuyện vô lý hơn nữa.  So sánh câu 3 và câu 4, chúng ta thấy rằng mẹ Mi-ca chỉ dùng một phần tiền vào mục đích bà đã định, phần tiền còn lại bà sử dụng vào việc gì?  Về phần Mi-ca, khi trở thành chủ nhân của pho tượng mới, thì ông hãnh diện vì tin chắc Đức Giê-hô-va sẽ ban phước cho ông vì ông có người Lê-vi làm thầy tế lễ (13).  Trong chương kế tiếp, chúng ta sẽ thấy rõ hơn về những sai lầm của ông.

Cảnh mở màn có nhiều điều oái oăm, chủ yếu nảy sinh từ việc các nhân vật dường như chẳng hay biết gì về lời nói và hành động vô ý thức của mình.  Câu chuyện này tiêu biểu đầy đủ về tình trạng hỗn loạn vào thời kỳ mà ai nấy đều làm theo mắt mình cho là phải (6).

Chú thích.  1  Mi-ca (‘Ai giống như Đức Gia-vê?’) thật mỉa mai khi một người thờ hình tượng lại mang tên này! Về vùng đồi núi Ép-ra-im xin xem Cac 4:5.  2  Mười một ngàn là món tiền lớn (xem phần chú thích ngoài lề bản NIV và so sánh 16:5).  Mẹ Mi-ca dâng số tiền đó cho Đức Chúa Trời (so sánh Mac 7:11).  Theo dàn ý thì đây là lời rủa sả (hoặc ‘lời thề’) dành cho người ăn cắp số tiền ấy.  3  Cho con trai tôi nghĩa là ‘thay mặt con trai tôi’.  Có lẽ thợ bạc chế tạo ra pho tượng và giao tượng đúc cho Mi-ca (4).  Mẹ Mi-ca dường như xem tượng chạm và tượng đúc là sản phẩm của nghệ thuật tôn giáo và đã sai lầm khi dùng các tượng đúc này để bày tỏ lòng tôn kính Đức Chúa Trời.  5  Về ê-phót của Mi-ca, xin xem Cac 8:22-27 (ê-phót của Ghê-đê-ôn).  7  Người Lê-vi trẻ là thành viên trong chi phái Lê-vi được làm thầy tế lễ (Phu 33:8-11).  Chỉ có dòng dõi A-rôn mới được giao cho chức vụ tế lễ, còn những người Lê-vi khác chỉ làm phụ tá (Dan 8:5-26).  Vì không có lãnh thổ riêng, họ phải sống giữa các chi phái khác.  Mặc dù được cấp phát một số thành riêng nhưng họ không buộc phải sống tại đó, nhất là trong hoàn cảnh rối loạn của thời đại quan xét.  Người Lê-vi này là con cháu Môi-se (Cac 18:30) và từ Bết-lê-hem xứ Giu-đa đến.  Xem 19:1.  10  Người Lê-vi là cha của tôi, nghĩa là người hướng dẫn Mi-ca về các vấn đề tôn giáo (so sánh IIVua 6:21 13:14).  Tuy nhiên, về nhiều phương diện thì người Lê-vi có vẻ như con của Mi-ca nhiều hơn là cha (11).

2. Lịch sử tiếp theo về những pho tượng của Mi-ca (Cac 18:1-31)

Như chúng ta đã biết trong chương mở đầu của sách.  Người Đan không thể chiếm trọn vẹn địa phận cấp phát cho họ ở miền nam (Cac 1:34).  Việc họ di trú về miền bắc được nhắc lại ở đây chắc hẳn xảy ra sớm trong thời gian đầu của thời kỳ các quan xét (xem chú thích câu 12). 

Phần thứ hai của chuyện Mi-ca gồm những cảnh phản ánh việc người Đan chuyển đi đây đó và việc họ gặp gỡ người này người nọ dọc đường.  Có hai cảnh liên quan đến người Lê-vi được Mi-ca mời làm thầy tế lễ.  Các thám tử Đan cầu hỏi ý nơi ông (3-6) và ông nói tiên tri tốt lành cho họ, sau đó ông đồng ý bỏ Mi-ca, đi theo người Đan và phục vụ họ.  Trong cảnh tiếp theo (22-26), Mi-ca xuất hiện lần cuối trong vai người bất hạnh đáng thương (24).  Chúng ta có thể nói pho tượng của Mi-ca được dựng lại trên một địa điểm khác với một cơ cấu quản trị mới tại La-ít, là nơi người Đan đặt lại tên (30-31).  Cụm từ cho đến lúc bị đày khỏi xứ nói về chuyện cuối cùng, những pho tượng này cũng chịu cùng một số phận như lúc ban đầu (xem chú thích câu 30).

Toàn thể câu chuyện được kể lại với giọng hài hước mỉa mai, và nhìn từ bên ngoài có nhiều điểm tương tự với cuộc đánh chiếm ban đầu của dân Y-sơ-ra-ên (Dan 13:1-14:45  Phu 1:1-46).  Tuy bên ngoài họ phô trương sức mạnh nhưng trong thực tế, người Đan đang rút lui dần khỏi sản nghiệp của họ bởi sự lấn lướt của dân Ca-na-an (xem phần trên).  Còn La-ít là một thành hẻo lánh, yên tĩnh, không cảnh giác, thiếu phòng thủ (27-28) trái ngược với các thành luỹ kiên cố do Giô-suê đánh chiếm.  Thiện cảm của tác giả xem ra nghiêng về phía nạn nhân của người Đan hơn là chính người Đan.

Rốt cuộc, câu chuyện nói nhiều về Mi-ca hơn là nói về người Đan.  Trước hết, nói đến sự sai lầm khi tưởng có thể chi phối Đức Chúa Trời bằng các vật dụng thờ phượng và nghi thức tế tụng.  Người Đan vi phạm cùng lỗi lầm như Mi-ca, nên pho tượng và đền thờ mới của họ bị lên án ngay từ đầu giống trường hợp của Mi-ca.  Tôn giáo tự tạo dẫn đến sự hình phạt của Đức Chúa Trời, chứ không phải phước hạnh (đặc biệt xem Cac 17:13).

Chú thích.  2  Về Xô-rê-a và Ê-ta-ôn xin xem 13:2,25.  Từ chi tộc nguyên văn ở số ít, ở đây ‘chi tộc’ tương đương với chi phái (so sánh c.11,19).  Trái ngược với 6:11.  Về vùng đồi núi Ép-ra-im xin (4:5).  7  La-ít ở tít trên mạn bắc xứ Ca-na-an, cách Biển Ga-li-lê 25 dặm (40 km) về phía bắc.  La-ít được người Đan đặt tên lại là ‘Đan’ (29).  Dân Si-đôn (3:3) sống bên bờ Địa Trung Hải nơi Li-ban tọa lạc ngày nay.  11  Về con số sáu trăm xin xem 3:31.  12  Ki-ri-át Giê-a-rim (‘thành phố của miền rừng rú’) ở vùng đồi núi cách Giê-ru-sa-lem 8 dặm (13 km) về phía tây.  So sánh Ki-ri-át Sê-phe, ‘thành phố của sách vở’ trong 1:11.  Dinh Đan là ‘trại Đan’.  Theo 13:25, có lẽ người ta gọi nơi này với cái tên đó vào thời Sam-sôn.  Như vậy, có thể tập thể xóm làng của Sam-sôn là một nhóm nhỏ người Đan còn ở lại miền nam trong khi phần lớn dân trong chi phái dời lên miền bắc.  14  Về ê-phót, so sánh 17:5 và xem 8:27.  Thần của gia đình (tiếng Hi-bá-lai là lerapim) chắc là các vật phẩm cỡ nhỏ (Sa 31:19), chẳng hạn như ê-phót dùng để cầu thần (Exe 21:21 (‘thần tượng’ dịch từ chữ (lerapim) và IIVua 23:24).  19  Làm cha chúng tôi so sánh Cac 17:10.  21   Dụng ý của họ là các chiến sĩ đi sau của cải (kể cả những vật ăn cắp) để ngăn chận những người đuổi theo.  28  Chưa thể định vị Bết Rê-hóp, nhưng xin xem câu 7 và so sánh Dan 13:21.  29  Y-sơ-ra-ên được dùng ở đây thay cho tên gọi Gia-cốp (Sa 30:4-6  32:8)  30  Về Ghẹt-sôn xin xem Xu 2:22.  Thầy tế lễ lập dòng họ này là cháu nội của Môi-se.  Yếu tố này tăng uy tín cho trung tâm đó và có lẽ đây là lý do khiến Giê-rô-bô-am I chọn nơi này làm một trong hai trung tâm thờ phượng chính ở miền bắc sau này (IVua 12:25-30).  Tuy thế, nơi này vẫn là một trung tâm thờ hình tượng.  Bản văn Hi-bá-lai mẫu tự ‘n’ nhỏ (tiếng Hi-bá-lai nun) thêm vào chữ ‘Moses’ để đổi thành chữ ‘Manasseh’, tên của vị vua độc ác (IIVua 21:1-26).  Xen thêm mẫu tự như vậy là do lòng tôn trọng Môi-se, nhưng bản gốc có chép rõ như thế (xem phần chú thích ngoài lề bản NIV).  Bị đày khỏi xứ có lẽ là cuộc chiến thắng lần cuối của người A-sy-ri trên đất nước Y-sơ-ra-ên vào năm 722 T.C., đặc biệt từ lúc IIVua 17:1-41 đề cập rõ các thầy tế lễ bị lưu đày vào thời đó (27 so sánh các câu 1-6).  31  Si-lô cách Giê-ru-sa-lem khoảng 19 dặm (30 km) về phía bắc.  Chính tại đây, dân Y-sơ-ra-ên dựng Đền Tạm lần đầu sau khi họ vừa vào Ca-na-an (Gios 18:1).  Vào thời Sa-mu-ên, Đền Tạm được thay thế bằng đền thờ vững bền hơn (ISa 1:9,24), nhưng về sau, có lẽ người Phi-li-tin (Gie 7:12) đã phá huỷ Si-lô và đền thờ.

5. ĐẠO ĐỨC HỖN LOẠN: NGƯỜI LÊ VI VÀ VỢ LẼ (Cac 19:1-21:25)

Chuyện quan trọng thứ hai chia làm bốn phần: Vụ cưỡng hiếp tại Ghi-bê-a (Cac 19:1-28) chuẩn bị chinh chiến: lời kêu gọi của người Lê-vi và Y-sơ-ra-ên đáp lại (19:29  20:11) chiến tranh (20:12-48) và công cuộc xây dựng lại sau cuộc chiến: gả vợ cho những người Bên-gia-min sống sót (21:1-25).  Diễn biến chính nằm trong phần thứ ba.  Hai diễn biến đầu dẫn đến chiến tranh, và diễn biến cuối giải quyết hậu quả của cuộc chiến.

1. Vụ cưỡng hiếp tại Ghi-bê-a (Cac 19:1-28)

Ngoài việc khơi mào cho diễn biến chính, phần mở đầu này nhằm hai mục đích chính.  Cho chúng ta thấy đức tính cao đẹp như lòng hiếu khách bị suy sụp thảm hại giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên vào thời các quan xét và cho chúng ta thấy cá tính của người Lê-vi, là người giữ vai trò chính trong phần thứ hai.

Tại đây, có hai cảnh liên quan đến lòng hiếu khách.  Cảnh thứ nhất tại Bết-lê-hem tương đối bình thường (1-10), nhưng cảnh thứ hai tại Ghi-bê-a (11-28) thì suy đồi và quái dị, rõ ràng có những chuyện tương tự như đoạn mô tả về đời sống tại Sô-đôm trong Sa 19:1-13.  Sự thể này quá mỉa mai khi những người khách cố ý né tránh các thành của người ngoại bang và trông cậy vào lòng hiếu khách của dân Y-sơ-ra-ên (12-14).  Cảnh hỗn loạn trên đường phố Ghi-bê-a bộc lộ rõ tình trạng suy đồi đạo đức, nhưng người đàn ông lớn tuổi mở cửa tiếp khách lạ cũng suy đồi không kém.  Chính ông chủ nhà có vẻ là người hiếu khách gương mẫu với ý thức sai về bổn phận của mình nên nỡ lòng nộp hai phụ nữ vô tội cho loài chó (23-24).  Quả thật đây là một tình trạng suy đồi đạo đức.  Khi dân sự của Đức Chúa Trời làm mọi điều theo mắt mình cho là đúng, thì họ chẳng hơn gì dân Sô-đôm.

Tuy nhiên, chính người Lê-vi là kẻ đồi bại hơn hết.  Sau khi đẩy vợ lẽ của mình ra cho đám người đồi bại, ông đi ngủ và chắc hẳn không còn nghĩ gì đến nàng cho đến khi nhìn thấy nàng nằm chết hoặc bất tỉnh trước cửa nhà vào sáng hôm sau.  Rồi với lòng nhẫn tâm không thể tin nổi, ông bảo nàng đứng dậy vì ông đã sẵn sàng ra đi (27-28).  Đây là con người sẽ cổ vũ toàn dân Y-sơ-ra-ên tham gia chiến trận trong phần kế tiếp.  Khi nhìn lại, chúng ta có thể hiểu rõ vì sao người vợ lẽ cảm thấy không thể sống được với ông (xem câu 2 và phần chú thích).

Chú thích.  1  Vùng đồi núi Ép-ra-im xin xem Cac 4:5.  Lấy vợ lẽ là thói tục thông thường ở vùng Cận Đông thời xưa và được luật Cựu Ước cho phép (Xu 21:7-11 so sánh Sa 16:2-5  29:24,29  Cac 8:31  IISa 5:13).  Thông thường, vợ lẽ là người vợ thứ hai hoặc người vợ không có của hồi môn theo thường lệ, do đó phải ở địa vị thấp kém.  So sánh với mẹ của Giép-thê là một kỵ nữ (Cac 11:1).  Bết-lê-hem xứ Giu-đa, nơi Chúa Giê-xu được sinh ra, cách Giê-ru-sa-lem 6 dặm (9 km) về phía nam.  So sánh 17:7 và khác với Bết-lê-hem ở miền bắc trong 12:8.  2  Hình như tội bất trung của nàng là do nàng bỏ chồng.  Không thấy nói đến mối liên hệ của nàng với người đàn ông khác.  10  Giê-bu là tên cũ của Giê-ru-sa-lem trước khi bị dân Y-sơ-ra-ên chiếm đóng.  Xem câu 11 và so sánh với 1:21.  12  Ghi-bê-a nằm trong lãnh thổ Bên-gia-min, cách Giê-ru-sa-lem 3 dặm (5 km) về phía bắc.  Xem câu 14 và so sánh Gios 18:28.  Ra-ma cách Ghi-bê-a 2 dặm (3 km) về phía bắc.  18  Nhà của Đức Giê-hô-va có lẽ là đền thờ tại Si-lô (18:31).  Bản 70 (bản Cựu Ước Hi Lạp cổ) có chữ ‘nhà của tôi’, làm cho đoạn văn rõ nghĩa hơn và có thể là ý của bản gốc.

2. Đối phó với vụ cưỡng hiếp (Cac 19:29-21:25)

(Cac 19:29-30). Chuẩn bị chiến tranh Trong phần trước, chúng ta xét về lòng hiếu khách của người Y-sơ-ra-ên.  Trong phần này, chúng ta xét đến ‘hội đồng’, là buổi nhóm gồm đại diện các chi phái họp lại để giải quyết những vấn đề liên quan chung (20:1 so sánh 21:10,13,16).  Về sau, hội đồng theo ý nghĩa này không còn giá trị nữa nhưng trong thời kỳ dân Y-sơ-ra-ên chưa có vua, thì đây là một cơ chế quan trọng.  Trong một số trường hợp, phúc lợi và ngay cả sự tồn vong của đất nước đều tùy thuộc vào hoạt động có hiệu quả của hội đồng này.  Ở đây, vấn đề quan trọng đối với cả dân tộc là vụ cưỡng hiếp diễn ra tại Ghi-bê-a, và người triệu tập hội đồng này là người Lê-vi trong phần một.

Mỉa mai ở chỗ chúng ta là độc giả lại am tường về vấn đề cả về người triệu tập hơn các thành viên trong hội đồng.  Đối với chúng ta, việc người Lê-vi chặt chân tay người vợ lẽ và gửi đi chẳng qua chỉ là phần tiếp theo của lòng nhẫn tâm đến lạnh lùng mà ông bộc lộ với nàng tại Ghi-bê-a.  Nhưng đối với họ, đây là hành động biểu lộ khí thế thánh khiết.  Họ hành động như bị điện giựt và từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba, muôn người như một (20:1).  Nghĩa là sự triệu tập của người Lê-vi được mọi người hưởng ứng đến mức độ vượt xa hơn mức tất cả các quan xét do Đức Chúa Trời dấy lên có thể đạt được.

Sau khi triệu tập hội đồng, người Lê-vi cố kể lại sự việc một cách méo mó nhằm khoả lấp tội lỗi của mình (so sánh 20:5 với 19:25).  Bởi đó, giọng điệu đạo đức cao đẹp của ông mang âm vang rỗng tuếch.  Chưa chắc vợ lẽ của ông chết (theo lời ông) vì bị hãm hiếp tại Ghi-bê-a (5b).  Biết đâu chính tay ông đã giết nàng khi đưa nàng về đến nhà (xem 19:28 và chú thích).

Bất kể những điều này, các thành viên trong hội đồng xúc động khi nghe người Lê-vi nói cũng như đã xúc động trước hình thức triệu tập kinh tởm của ông.  Họ đứng lên như một người và lập tức quyết định hợp lực để trừng phạt người Ghi-bê-a (8-11).  Có thể cần phải hành động quyết liệt, nhưng dân Y-sơ-ra-ên sẽ ra sao khi một người với tác phong đạo đức đáng ngờ như ông Lê-vi này lại có thể triệu tập và chi phối sự quyết định của hội đồng?  Đó là vấn đề nghiêm trọng phát sinh từ phần thứ hai này.

Chú thích.  29  So sánh với cách hành động của Sau-lơ sau này trong ISa 11:6-7.  Có lẽ đây là một hình thức thông thường kêu gọi các thành viên trong liên minh tham gia hành động với hàm ý đe doạ bất cứ ai không chịu hưởng ứng.  Khác nhau ở chỗ nạn nhân nơi đây là con người (so sánh con gái Giép-thê, Cac 11:34-40).  Mười hai phần tượng trưng cho mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên (so sánh IVua 11:29-31).  Cac 20:1  Về chi phái Đan xin xem 18:7.  Bê-e-sê-ba (‘giếng bảy con chiên’ xem Sa 21:31) cách Giê-ru-sa-lem 48 dặm (76 km) về phía nam, nằm ở khoảng giữa bờ biển và Biển Chết.  Từ Đan đến Bê-e-sê-ba nghĩa là ‘từ cực bắc đến cực nam’.  Về Ga-la-át xin xem Cac 5:17.  Mích-ba (‘Tháp canh’) cách Giê-ru-sa-lem 8 dặm (13 km) về phía bắc (Gios 18:26  ISa 7:5).  Không phải là Mích-ba ở Ga-la-át trong 10:17.  2  Về con số bốn trăm ngàn xin xem 5:8.  9  Người ta ném thăm xuống đất hoặc bốc từ cái hộp để phát hiện sự hướng dẫn từ Đức Chúa Trời (so sánh Gios 18:6  Ch 16:33).  10  Một lần nữa, con số xem ra quá lớn nhưng lời chú giải về từ ‘ngàn’ trong Cac 5:8 lại không phù hợp với trường hợp này.  Có thể chỉ có phần số đầu (mười...  trong một trăm) là đúng theo nguyên bản.  Ý chính ở đây muốn nói là mười phần trăm lực lượng được phân bổ riêng làm quân tiếp tế lương thực cho số còn lại.

Cac 20:1-11; xem giải nghĩa Cac 19:29-30

(Cac 20:12-48) Chiến tranh Cuộc họp hội đồng trong phần trước đưa đến kết quả là phát động cuộc thánh chiến.  Về nhiều điểm, cuộc chiến này tương tự như chiến dịch đánh chiếm A-hi dưới thời Giô-suê (xem các câu 29 và 48).  Chúng ta đã nhiều lần chứng kiến cuộc thánh chiến trong sách Các Quan Xét, nhưng ở đây có nhiều điểm khác biệt đáng ngại.  Lời cầu hỏi trong câu 18 (‘Ai trong chúng ta đi trước?’) gợi nhớ lại lời cầu hỏi mở đầu của sách (1:1) và cùng dẫn đến một câu trả lời.  Nhưng bối cảnh lại khác nhau biết bao! Ở trường hợp trước, một dân tộc Y-sơ-ra-ên hiệp nhất tiến hành cuộc đánh chiếm chống dân Ca-na-an.  Còn trong trường hợp này, một dân Y-sơ-ra-ên chia rẽ lao vào cuộc nội chiến, trong đó anh em chém giết nhau (28).  Trong trường hợp trước, lời hứa chiến thắng được ban cho ngay lập tức (1:4), nhưng trong trường hợp này, cho đến khi hoàn toàn tan nát và ngã lòng, dân Y-sơ-ra-ên mới nhận được lời hứa (26-28).  Thật vậy, cuộc ‘thánh chiến’ trong chương này chắc chắn không hội đủ yếu tố thánh chiến.  Vì cuộc chiến này là quyết định của một hội đồng do một cá nhân với tác phong đạo đức tồi tệ triệu tập, rồi kết thúc bằng một cuộc đẫm máu ghi đậm tính cách trả thù quá đáng, chứ chẳng phải thi hành công lý (xem lại câu 48). 

Tác giả dành hầu hết phân đoạn này để mô tả trận chiến trong các câu 18-48 với sự thắng bại đổi ngôi giữa hai phe nghịch thù.  Nhưng ba lần dân Y-sơ-ra-ên cầu hỏi Đức Chúa Trời và ba lần Ngài trả lời trong các câu 18,23,28 cho chúng ta thấy vấn đề trên bình diện sâu xa hơn.  Ba câu này cho thấy diễn biến trong tâm khảm người Y-sơ-ra-ên, và những diễn biến giữa họ với Đức Chúa Trời trong thời gian tiến hành cuộc chiến qua nhiều giai đoạn.  Dân Y-sơ-ra-ên tin tưởng rằng họ có lẽ phải và nắm chắc phần thắng (18).  Họ dấn thân vào cuộc chiến và xem như Đức Chúa Trời đã đồng ý với họ.  Vì vậy, khi cầu hỏi ý Chúa, họ nêu ra vấn đề hoàn toàn có tính cách hình thức thực hiện: dàn binh bố trận ra sao đây? Chúa ra lệnh cho chi phái Giu-đa dẫn đầu là hợp lý vì người vợ lẽ thuộc về chi phái Giu-đa (19:1).  Tuy nhiên, không thấy có lời hứa chiến thắng và cũng không có chiến thắng nào, trái lại là khác (19-21).  Lời cầu hỏi thứ hai (23) cho thấy niềm tin trong họ tuột dốc thảm khốc vì họ thất trận nặng nề.  Họ đâm ra hoài nghi, tự nghĩ tiếp tục chiến đấu có phải là khôn ngoan chăng? Họ nghĩ đến việc hoà giải nên gọi người Bên-gia-min là ‘anh em’.  Nhưng Đức Giê-hô-va đẩy họ ra trận lần nữa - để lại thua trận thê thảm (23b-25).  Khi thua trận lần đầu, họ khóc lóc lần này họ khóc lóc, kiêng ăn và dâng của lễ.  Họ cầu hỏi có nên ngưng chiến hay không - rõ ràng là một giải pháp chiếm cứ lộ ra trong tư tưởng họ (28).  Một lần nữa, họ lại được lệnh chiến đấu, nhưng giờ đây đã có lời hứa chiến thắng.  Trong trận chiến kế tiếp, vận may bỗng nhiên đổi ngôi khi Đức Chúa Trời đứng về phía ‘Y-sơ-ra-ên’, nhờ đó họ không bị tiêu tan (35).

Chắc chắn người Bên-gia-min đáng bị hình phạt.  Nhưng tình trạng thuộc linh và đạo đức của toàn thể dân Y-sơ-ra-ên sa sút đến độ cuộc thánh chiến suýt tiêu diệt thay vì bảo vệ họ.  Trong phần thứ ba này, xem ra Đức Chúa Trời tức giận người Y-sơ-ra-ên không thua gì tức giận người Bên-gia-min, và Ngài biểu lộ sự tức giận đó bằng cách rải đều sự thất trận và chiến thắng khiến cho toàn thể Y-sơ-ra-ên đều bị hình phạt.  Ngài vừa là quan xét vừa là Đấng bảo toàn dân sự bướng bỉnh của Ngài. 

Chú thích.  15  Về con số hai mươi sáu ngàn xin xem 5:8.  16  Ê-hút, cũng là người Bên-gia-min, thuận tay trái (3:15 và chú thích).  18  Vì Bê-tên nghĩa là ‘nhà của Đức Chúa Trời’, nên địa điểm được nhắc đến ở đây có thể là Hội Mạc tại Si-lô (19:18).  Những chỗ đề cập đến Bê-tên trước đây có thể chỉ về thành phố đang khảo sát này (so sánh câu 26 và 1:22  2:1  4:5).  Việc cầu vấn Đức Chúa Trời xin xem 1:1.  26  Khóc lóc và kiêng ăn là hành động bày tỏ lòng ăn năn (so sánh 2:4).  Căn cứ vào diễn biến, họ kết luận Đức Chúa Trời đã nổi giận với họ.  Của lễ thiêu (Le 1:1-17) tượng trưng cho việc người dâng hoàn toàn biệt riêng mình cho Đức Chúa Trời.  Của lễ thù ân (3:1-17), kể cả bữa ăn tượng trưng cho sự phục hồi mối tương giao với Đức Chúa Trời và với nhau.  27  Trong thời kỳ này, hòm giao ước đôi khi được thỉnh khỏi đền thờ chính, nhất là trong thời chiến (so sánh ISa 4:4-5, theo câu này  thì đền thờ chính ở tại Si-lô). (18:31  19:18).  28   Ở đây, Phi-nê-a  là cháu nội của A-rôn (Xu 6:25) không phải là Phi-nê-a sau này trong ISa 4:4.  Tên này có nguồn gốc Ai-cập.  So sánh Giô-na-than, cháu nội Môi-se trong Cac 18:30.  Nếu chúng ta tính thời gian theo gia phả này đúng theo nghĩa đen (không có lý do chính đáng nào để tính khác đi) thì những biến cố chép trong các chương 17 - 21 rõ ràng xảy ra sớm vào lúc ban đầu của thời kỳ các quan xét.  29  So sánh chiến thuật áp dụng khi đánh chiếm A-hi vào thời Giô-suê (Gios 8:3-8).  33  Chưa định vị được Ba-anh Tha-ma.  35  Có lẽ thoạt tiên con số 25.100 có nghĩa là ‘hai mươi lăm đội quân, một trăm người’.  So sánh với ba mươi binh sĩ tử trận trong câu 39.  Câu này tóm tắt dẫn trước cho phần tường thuật đầy đủ hơn chép trong các câu 36b-46.  45  Hòn đá Rim-nôn là vầng đá vôi lộ thiên cách Bê-tên 4 dặm (6 km) về phía đông, được che kín cả ba phía bởi các khe và có nhiều hang động làm nơi trú ẩn cho người lánh nạn.  Tên gọi này vẫn còn lưu dụng tại làng Rammun ngày nay.  Chưa định vị được Ghi-đê-ôm.  47  Về cách giải thích các con số như đã chủ trương, con số sáu trăm người có thể là lực lượng chủ yếu của người Bên-gia-min (xem các câu 15, 35).  48  Trong cuộc thánh chiến (phát động do lệnh trực tiếp của Đức Chúa Trời) đôi khi dân Y-sơ-ra-ên được lấy của cướp, nhưng họ phải huỷ diệt mọi sự để dâng lên cho Đức Chúa Trời.  Họ gọi vật này là ‘vật cấm’.  Đó cũng là mức án phạt nặng nhất của Đức Chúa Trời đối với kẻ thù của Y-sơ-ra-ên (Gios 6:21  ISa 15:1-3) và trong vài trường hợp, án này được áp dụng cho chính dân Y-sơ-ra-ên (Phu 13:12-18).  Lần này, án phạt được áp đặt mà không có chỉ thị cụ thể của Đức Chúa Trời về việc đó.

(Cac 20:12-48) Phục hồi lại những người Bên-gia-min sống sót Trong phần cuối này, điểm tập trung chú ý quay về cuộc hội họp của hội đồng các chi phái (Cac 19:29-20:11).  Hai lời thề nguyền tại Mích-ba (1, 5b) nhằm ngăn chận không cho tội ác của người Bên-gia-min làm ô nhiễm toàn thể dân tộc, và nhằm khiến các chi phái tham gia thi hành đầy đủ những biện pháp trừng phạt cần thiết.  Nhưng cuộc tàn sát quá đáng kia trong 20:48 dẫn đến hậu quả thật bất ngờ: toàn thể chi phái Bên-gia-min bị đe doạ tuyệt chủng.

Nỗ lực thứ nhất nhằm giải quyết vấn đề (chỉ thành công phần nào) rõ ràng là trường hợp dùng một lời thề thứ hai để né tránh lời thề thứ nhất (6-13).  Đây là cuộc vận động chánh đáng về mặt luật pháp, nhưng về mặt đạo đức lại đáng ngờ, còn dân Gia-be xứ Ga-la-át phải trả một giá thật thảm khốc (11).  Nỗ lực thứ hai (15-23) cũng cùng một bản chất.  Lời bào chữa trong câu 22 là lối ngụy biện khéo léo nhằm tránh né hoàn toàn những vấn đề có liên quan đến đạo đức.  Chính những người tỏ ta tức giận về vụ vợ lẽ của người Lê-vi bị hãm hiếp, giờ đây lại van nài người Si-lô ngoan ngoãn chấp nhận chuyện con gái mình bị cưỡng hiếp như là chuyện đã rồi.

Một trình tự thật là mỉa mai thành hình theo như dưới đây: (a) vụ hãm hiếp người vợ lẽ (b) cuộc thánh chiến chống người Bên-gia-min (c) vấn đề: lời thề - Bên-gia-min bị đe doạ tuyệt chủng (b’) cuộc ‘thánh’ chiến chống người Gia-be xứ Ga-la-át (a’) vụ cưỡng đoạt hãm hiếp các cô gái ở Si-lô.

Trong phần này, một lần nữa thái độ của hội đồng cho thấy mức độ suy sụp của dân Y-sơ-ra-ên về mặt thuộc linh và đạo đức.  Tuy nhiên, vượt lên trênnhững điều này, câu chuyện lại chấm dứt trong một tình thế bình lặng mong manh, đó là người Bên-gia-min được phục hồi và cuộc sống được tiếp tục yên ổn (23-24).  Dân Y-sơ-ra-ên còn tồn tại quả thật lạ lùng, nhưng khi nhìn lại, chúng ta phải kết luận rằng họ còn tồn tại được là nhờ quyền tể trị của Đức Chúa Trời, chứ không phải nhờ tài quán xuyến của các lãnh tụ và cơ chế xã hội của họ.  Qua giai đoạn hỗn độn của thời kỳ các quan xét, dân Y-sơ-ra-ên vẫn sống còn là bởi phép lạ ân điển của Đức Chúa Trời, vì sự cứu rỗi luôn là ân điển (Eph 2:8).

Chú thích.  1  Về Mích-ba xin xem Cac 20:1.  2  Về Bê-tên xin xem 20:18.  4  Họ không xây bàn thờ tại Bê-tên : nơi đã có một bàn thờ (20:26) nhưng xây tại căn cứ của họ là Mích-ba, nơi họ quay trở lại vào ngày hôm sau (20:1).  Loại bàn thờ đặc biệt này đôi khi được xây dựng trong thời kỳ quốc gia gặp nguy biến hoặc phấn khởi, nhất là trước hoặc sau trận chiến đấu (so sánh Xu 20:24-25  ISa 14:35).  Về của lễ thiêu và của lễ thù ân xin xem Cac 20:26.  5  Bản RSV chép ‘không tham dự hội đồng’ thì chính xác hơn.  Về buổi họp đầu tiên của hội đồng trong 20:1.  8  Gia-be xứ Ga-la-át là thành phố nằm về phía đông sông Giô-đanh, cách Biển Ga-li-lê 22 dặm (35 km) về phía nam.  Dễ nhận thấy sự vắng mặt của các đại diện người Gia-be xứ Ga-la-át, bởi vì các binh sĩ có mặt đến từ các miền khác trong xứ Ga-la-át (20:1).  9  Nếu trước đó, các nhà lãnh đạo biết mơ hồ về số đại diện khiếm khuyết thì cuộc tu bộ này khẳng định rằng không có vị đại diện nào của người Gia-be xứ Ga-la-át đến tham dự buổi họp đầu tiên của hội đồng trước đây (xem c.5).  10  Về con số mười hai ngàn xin xem 5:8.  Về câu cầm gươm...  phụ nữ và trẻ em xin xem 20:48.  11  Các trinh nữ được tha chết.  Có thể các nhà lãnh đạo nghĩ đến tiền lệ đã có từ thời Môi-se trong chiến dịch đánh người Ma-đi-an (Dan 31:1-54, nhất là c.17).  12  Mích-ba là căn cứ trong suốt cuộc chiến (Cac 20:1  21:1).  Si-lô ở quá về phía bắc, gần Gia-be Ga-la-át hơn nên Si-lô là địa điểm thích hợp cho việc tiếp nhận và chuyển giao các trinh nữ (18:31).  Trong xứ Ca-na-an nghĩa là phía tây sông Giô-đanh trong xứ Ca-na-an thật sự.  So sánh các chi tiết khác về vị trí của Si-lô trong câu 19b.  Có lẽ những chi tiết này được thêm vào trong giai đoạn hình thành cuối của sách nhắm đến các độc giả còn sống lâu năm sau khi Si-lô bị phá huỷ.  Xin xem lại 18:31.  19  Trong ISa 1:3  Xu 3:24 qui định giữ ba buổi lễ như vậy, nhưng trong điều kiện rối ren của thời kỳ các quan xét, chúng ta không ngạc nhiên khi họ chỉ giữ một lễ.  Những chi tiết mô tả vị trí của Si-lô còn mù mờ, nhưng xem câu 12.  Về Bê-tên xin xem Cac 4:5.  Về Si-chem xin xem 9:1.  Lê-ba-na cách Si-lô 3 dặm (5 km) về phía tây (18:31).  21  Có thể đây là Lễ Lều Tạm bị thoái hóa lẫn lộn với nghi lễ của người ngoại bang, lễ này được tổ chức vào mùa hái nho (Phu 16:13-15).  Cũng xem Cac 9:27  8:33.  22  Trong trận giặc giã này, nghĩa là suốt chiến dịch chống lại người Gia-be xứ Ga-la-át.  Nhưng theo bản văn cổ nhất của đoạn văn này, có thể dịch là ‘vì chiến tranh’ (nghĩa là ‘bằng vũ lực’).  23  Sản nghiệp mình (so sánh c.24) là đất cấp phát cho họ sau cuộc chinh phục xứ Ca-na-an từ buổi đầu tiên (Gios 14:1  18:11-27).

Lên đầu trang