GIÔ-SUÊ
Lời giới thiệu
Tác giả và niên đại
Các học giả không đồng quan điểm với nhau về niên đại và quyền tác giả của sách vô danh này, vì họ áp dụng các phương pháp khác nhau.
Khi bàn về quyền tác giả, một số học giả dựa vào kinh Ta-mút (500 S.C.) cho rằng chính Giô-suê là tác giả cuốn sách. Để bênh vực, họ giải thích rằng sách này được viết ra khi Ra-háp vẫn còn sống (6:25), và khi dùng chữ ‘chúng ta’, tác giả kể chính ông nằm trong số những người vượt qua sông Giô-đanh (5:1). Tuy nhiên, sự nhận xét về Ra-háp trong 6:25 có thể ám chỉ đến con cháu của bà, còn các bản khác trong tiếng Hi-bá-lai đều chép là ‘họ’, không phải là ‘chúng ta’ như trong 5:1. Giống như đoạn 5:6, có thể tác giả dùng chữ ‘chúng ta’ với ý nghĩa là cùng với họ bước vào xứ.
Các học giả đôi khi dựa hoàn toàn vào chi tiết trong sách Giô-suê để xác định niên đại. Một số học giả làm việc với phương pháp này đã xác định niên đại của sách vào khoảng thời gian sau khi Giô-suê và người cùng thời nhưng sống thọ hơn ông qua đời (24:29-31) và thời đại của Sa-mu-ên (1.050 T.C.). Vì Si-đôn được coi là thành phố chính của Phê-nê-xi (11:8) và dân Ty-rơ chiếm thành vào khoảng năm 1.200 T.C.), nên một số học giả cho rằng sách Giô-suê được viết xong trong thời gian này. Một số chi tiết khác trong sách cho biết niên đại của sách Giô-suê là Giê-bu (tức là Giê-ru-sa-lem cũ) và Ghê-xe vẫn chưa bị chinh phục (15:63; 16:10). Sau này, Đa-vít đánh chiếm Giê-ru-sa-lem (IISa 5:6-10) và Ghê-xe thuộc về Sa-lô-môn (IVua 9:16). Một số chi tiết khác là sự có mặt của người Phi-li-tin trong đoạn 13:2-3, là dân xâm chiếm vùng đồng bằng miền biên xứ Giu-đa năm 1.175 T.C., nhưng đây có thể là phần được người sao chép thêm vào về sau.
Gần đây, các học giả bắt đầu tìm chứng liệu bên ngoài sách để xác định niên đại. Một số học giả nhận thấy hai sách Giô-suê và Ngũ Kinh có mối liên hệ với nhau. Họ cho rằng lối văn trong Ngũ Kinh giống lối văn trong E với các chương 2-11 và P với các chương 13-22, trong đó có những phần bổ sung từ các nguồn khác. Nhiều học giả khác kết luận sách Phục Truyền Luật Lệ Ký, Giô-suê, Quan Xét, Sa-mu-ên và Các Vua hầu như có ít nhiều đồng điệu hoặc ít nhất cũng cùng một dạng. Ngôn ngữ, bút pháp và quan điểm thần học của các sách này đã ủng hộ cho những người chủ trương rằng trong thời kỳ lưu đày, tác giả sách Phục Truyền Luật Lệ Ký (một cá nhân hoặc một học viện) đã thu nhặt tài liệu từ các thời đại khác nhau, rồi đan dệt lại thành một bộ sách. Như vậy, sách Giô-suê được viết vào khoảng năm 550 T.C. Các sách này liên kết với nhau bằng những lời giới thiệu và kết luận phù hợp với nhau. Gios 1:1 phù hợp với Phu 34:1-12, đặc biệt là câu 5, trong câu này, lần đầu tiên Môi-se được gọi là ‘đầy tớ của Đức Giê-hô-va’. Vinh dự này cũng được ban cho Giô-suê lần đầu tiên ở chương cuối sách Giô-suê (24:29). Phần kết luận sách Giô-suê (24:29-31) được lập lại để giới thiệu cho sách Quan Xét (2:6-9). Bút pháp của tác giả sách Phục Truyền Luật Lệ Ký lộ rõ trong các lời từ biệt của Môi-se (Phu 31), Giô-suê (Gios 23), Sa-mu-ên (ISa 12), Đa-vít (IVua 2:1-4) và Sa-lô-môn (IVua 8:54-61), và lộ rõ nhất trong phần tác giả đích thân viết phần nhận định sơ lược (IIVua 17).
Người Do Thái vẫn luôn công nhận các sách Giô-suê, Quan Xét, Sa-mu-ên và Các Vua là đồng điệu với nhau. Họ gọi các sách này là ‘Sách Tiên Tri Thời Tiền’. Cách sắp xếp này có nhiều lợi điểm nhờ chú trọng đến sự toàn vẹn của mỗi sách và nhờ phân biệt được giữa Ngũ Kinh là sách mô tả cơ cấu tổ chức của Y-sơ-ra-ên trong tư cách là dân sự của Đức Chúa Trời theo giao ước thời Môi-se; với sách Giô-suê, Quan Xét, Sa-mu-ên và Các Vua là các sách giải thích lịch sử Y-sơ-ra-ên theo giao ước đó. Tuy nhiên, phương pháp hiện đại lại nhấn mạnh đến mối liên hệ chặt chẽ giữa Phục Truyền Luật Lệ Ký với các sách này. G.J. Wenham tìm thấy năm chủ đề thần học ràng buộc giữa Phục Truyền Luật Lệ Ký với Giô-suê: cuộc chinh phục thánh, phân chia đất, sự hiệp nhất của toàn dân Y-sơ-ra-ên, Giô-suê là người kế vị Môi-se và giao ước.
Phương pháp hiện đại tiến xa hơn quan điểm truyền thống một bước vì đã phân tích các nguồn tư liệu trong sách từ Giô-suê đến Các Vua và làm nổi bật cách tác giả Phục Truyền Luật Lệ Ký vận dụng các tư liệu đó trên cơ sở thần học. Rõ ràng sách Giô-suê đã sử dụng sách Gia-xa làm tư liệu (10:13) và một số vấn đề trong sách được giải thích suôn sẻ nhờ phân tích nguồn tư liệu của tác giả. Thí dụ, 11:21 mô tả Giô-suê đánh đuổi dân A-na-kim khỏi Hếp-rôn, nhưng 14:12 ghi chiến tích này của Ca-lép. Khác biệt này không mâu thuẫn nhau, vì thành tích của người phụ tá cũng được kể là thành tích của vị chỉ huy quân đội. Nhưng ổn nhất là giải thích điểm khác biệt đó trên cơ sở tác giả đã vận dụng hai nguồn tư liệu khác nhau.
Tác giả Phục Truyền Luật Lệ Ký mặc nhiên cho rằng độc giả của ông đã tường tận chuyện ngày xưa chép trong Ngũ Kinh. Thí dụ, sự ướp xác và bảo tồn hài cốt của Giô-sép trong Sa 50:25, đem ra khỏi Ai-cập trong Xu 13:19,chôn tại Si-chem trong Gios 24:32; phần sản nghiệp hứa ban cho Ca-lép trong Dan 14:24, 30 được thực hiện trong Gios 14:6-15.
Niên đại của cuộc chinh phục
Công việc xác định thời điểm dân Y-sơ-ra-ên chiếm xứ Ca-na-an gặp khó khăn vì quan điểm của sách lịch sử trong Kinh Thánh, cách tính ngày tháng trong Kinh Thánh và sự mơ hồ của các khám phá khảo cổ học.
Các nhà biên soạn những câu chuyện Kinh Thánh chủ yếu nhắm vào việc dạy thần đạo, chứ không đơn thuần ghi chép sự kiện, nên đã bỏ quá nhiều chi tiết. Ngày nay, các sử gia thử tái hiện câu chuyện như đã xảy ra, nhưng lại vượt ra ngoài phạm vi Kinh Thánh quá xa nên cũng không thể chấp nhận được.
Nếu hiểu số liệu trong IVua 6:1 và Cac 11:26 đúng theo nghĩa đen thì cuộc chinh phục Ca-na-an có thể ấn định vào năm 1.400 T.C. Tuy vậy, không thể cho rằng Kinh Thánh đơn thuần cộng số năm kiểu đó. Dù vậy, bằng chứng khảo cổ tìm thấy ở Giê-ri-cô và Hát-so xác định biến cố xảy ra vào năm này. Tại Giê-ri-cô, cuộc khảo cứu các di tích bằng gốm, đồ trang sức của vua, hoạt động địa chấn trong vùng, sự tiêu huỷ bởi lửa và ngay cả đống gạch đổ nát của tường thành, cùng với cách áp dụng phương pháp xác định niên đại bằng Carbon-14 đã đưa ra bằng chứng là thành phố kiên cố này cuối cùng đã bị phá huỷ vào năm 1.400 T.C. Tại Hát-so có những trận tàn phá vào năm 1.400, 1.300 và 1.230 T.C. Hầu hết các học giả đều kết luận cuộc huỷ phá năm 1.300 là do Pha-ra-ôn Seti I, còn lại một trong hai cuộc huỷ phá kia là do Y-sơ-ra-ên. Cho rằng phần ký thuật trong Cac 4:2 là đúng và đầy đủ khi xác định Hát-so là một thành của người Ca-na-an chống lại dân Y-sơ-ra-ên thuộc thế hệ thứ ba hoặc thứ tư sau khi Giô-suê qua đời. Như thế, niên đại sau (1.230 T.C.) bị loại trừ, trừ phi cho rằng Quan Xét 4 sai hoặc bằng chứng khảo cổ không đầy đủ. Còn thành A-hi, nói cho chính xác thì không có bằng chứng về cuộc phá huỷ của dân Y-sơ-ra-ên đối với thành đó. Thiếu bằng chứng như vậy gây lúng túng cho cả hai quan điểm (xem Gios 7:2). Nhờ sửa đổi chi tiết không chính xác đó trong bảng niên đại được khảo cổ xác định, nên J. Bimson có cơ sở vững vàng chứng minh cuộc chinh phục Ca-na-an xảy ra năm 1.400 T.C.
Mặt khác, bằng chứng khai quật tại Phi-thom và Ram-se ở Ai-cập (Xu 1:11), không có dữ kiện chứng minh cho sự thành lập các vương quốc Mô-áp và Ê-đôm ở phía đông sông Giô-đanh trước thế kỷ XIII T.C., và hằng trăm cuộc định cư mới của dân du mục xuất hiện ở Y-sơ-ra-ên khoảng năm 1.200 mà vào thế kỷ trước đó không có mặt họ, tất cả đã củng cố cho quan điểm đặt cuộc chinh phục xảy ra vào cuối thế kỷ XIII.
Tuy nhiên, việc xác định niên đại của cuộc chinh phục thực sự không ảnh hưởng đến quan điểm thần đạo hoặc sứ điệp của Giô-suê, miễn sao cuộc chinh phục là biến cố có thật.

Quan điểm thần đạo
Sách Giô-suê chủ yếu nói về đất hứa: đánh chiếm đất (chương 1-12), phân chia đất (chương 13-21) và giữ được đất (chương 22-24). Mặt khác, sách Giô-suê có nói đến việc truất phế ‘kẻ ác’ ra khỏi xứ. Một vùng đất thích dụng cho các vua được ban cho một dân tộc đáng làm vua (xem Gios 12).
Đất đai là sự ban cho
Đấng Tạo Dựng nên địa cầu (Thi 24:1-2; 47:4) và Sở Hữu Chủ duy nhất của xứ Palestine (Le 25:23) đã uỷ thác các tổ phụ trông nom xứ đượm sữa và mật (Phu 31:20) là xứ thích dụng cho các vua. Ngài hứa ban xứ cho con cháu họ làm cơ nghiệp đời đời (Sa 17:8; Xu 32:13). Cuộc đánh chiếm xứ được chia làm nhiều giai đoạn (xem 13:1-7) và do Giô-suê phát động mạnh mẽ. Chính Đức Chúa Trời ‘ban phát’ đất đai cho các chi phái Y-sơ-ra-ên bằng cách bốc thăm (Dan 33:50-54). Vì thế, đất đai trở thành tài sản không thể chuyển nhượng, cũng không ai có thể cưỡng đoạt được. Duy người Lê-vi không nhận mảnh đất nào làm của riêng. Thay vào đó, họ ‘thừa hưởng’ chính Đức Chúa Trời. Sự kiện này khai trí cho ta hiểu về cơ nghiệp thuộc linh (13:14).
Khi Chúa Cứu Thế phục sinh, thăng thiên và khi Đức Thánh Linh giáng xuống, rõ ràng Giô-suê là biểu tượng về Chúa Cứu Thế, còn đất đai là biểu tượng hoặc ẩn dụ về sự cứu rỗi của Hội Thánh trong Chúa Cứu Thế (so sánh ICo 10:1-4). Cả đất đai và sự cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế là sự ban cho (1:2,6; so sánh Ro 6:23) bởi đức tin mà chiếm hữu được (1:7,9; so sánh Ro 10:8-21; Eph 1:8-9). Cả hai đều là xứ phước hạnh (Xu 3:8; Dan 13:27; Eph 1:3-14), là nơi yên nghỉ (Gios 1:13; He 4:1-11) và là nơi thiêng liêng duy nhất để con người gặp gỡ Đức Chúa Trời (Xu 15:17; Co 3:1-4; ITi 2:5-6). Cả hai đều đòi hỏi nếp sống phù hợp với luật pháp Đức Chúa Trời (1:7-8; 8:30-35; ICo 10:1-13). Nhờ giao ước mới mà Chúa Cứu Thế khiến Hội Thánh đủ tiêu chuẩn sống trong vùng đất xứng hợp với Các Vua (Exee 37:26). Mặc dù ngày nay Hội Thánh thừa hưởng sự sống đời đời và sự yên nghỉ trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, nhưng vẫn chưa kinh nghiệm trọn vẹn cho đến khi sống lại rồi, Hội Thánh mới hưởng thụ cách bền vững ‘mảnh đất’ thích hợp với sự sống lại (so sánh ICo 15:50-54; He 11:39-40).
Tính đồng nhất của thế hệ khai sáng
Tác giả có ý định liên kết Giô-suê với Môi-se và coi dân sự tiến vào xứ là đại diện cho những người rời khỏi Ai-cập (xem 24:7,17). Mặc dù cuộc xuất hành và chinh phục Ca-na-an kéo dài hơn hai thế hệ, song tác giả của sách Giô-suê coi hai thế hệ khai sáng này là một. Suốt cuốn sách, tác giả ràng buộc Môi-se với Giô-suê, người phụ tá của ông. Thí dụ, Đức Chúa Trời hứa ở với cả hai người (1:5); cả hai đều dẫn dân sự đi ngang qua khối nước mênh mông nhưng khô cạn cách lạ lùng, vì thế cả hai được tôn trọng trước mặt dân sự (3:7); cả hai đều tháo giày khi ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời (5:13-15); cả hai đều cầu thay cho dân sự khi họ phạm tội (7:7); cả hai cùng chiếm xứ và phân chia đất (12:7-8; 14:1-5); cả hai đều chúc phước cho dân sự (22:6); và cả hai đều làm trung gian lập giao ước cũ (chương 24). Trong cuộc xuất hành và chinh phục Ca-na-an, thế hệ dưới quyền của hai nhà lãnh đạo này được chứng kiến các phép lạ của Đức Chúa Trời (24:7, 17) và cùng tham dự giao ước với vị lãnh đạo. Họ là những người lãnh đạo đầu tiên của một dân tộc cai trị bởi Đức Chúa Trời.
Sự hiệp nhất của toàn dân Y-sơ-ra-ên
Tác giả cũng quan tâm mô tả sự hiệp nhất của mười hai chi phái, khi thường xuyên dùng chữ ‘hết thảy Y-sơ-ra-ên’ và các từ tương tự khác (thí dụ 3:1,7,17; 18:1; 22:14). Cho đến khi chiếm xong xứ Ca-na-an, các chiến sĩ thuộc hai chi phái rưỡi ở phía đông mới giải tán ra về (1:14-15; 22:1-9) và bàn thờ do họ lập nên bị hiểu lầm là dựng lên sự ‘đối nghịch’ nên chín chi phái rưỡi còn lại sửng sốt kinh ngạc (22:10-34). Mười hai người, mỗi người đại diện cho một chi phái khuân một tảng đá ra khỏi sông Giô-đanh để dựng bia kỷ niệm của dân tộc (4:1-9) và tất cả các chi phái họp lại tái lập giao ước của Môi-se tại Si-chem (8:33-34).
Lòng trung thành với giao ước
Thế hệ thời Giô-suê đã chứng minh một chủ đề nổi bật trong lịch sử: Đức Chúa Trời giữ lời hứa với tổ phụ đã ban xứ và sự yên nghỉ cho dân Y-sơ-ra-ên. Các phần chính của sách lập đi lập lại chủ đề này: trong đoạn mở đầu trước khi xuất quân chinh phục (1:1-9), sau khi chinh phục thành công (11:23) và sau khi phân chia đất (21:43-45). Sự thông báo về việc mai táng ở cuối sách cũng biểu tượng cho chủ đề này (24:28-33). Lịch sử thiêng liêng này đã khiến dân Y-sơ-ra-ên tuyên xưng: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời” (22:22) và là động cơ khiến họ giữ giao ước (chương 23-24). Chủ đề này khích lệ người có lòng trung thành chiếm những vùng đất còn lại (13:1-7; 14:6-15; 19:49-50), khiến cho người bất trung không có lý cớ bào chữa (18:3), và cảnh tỉnh cho mọi người biết rằng Đức Chúa Trời cũng giữ đúng các lời rủa sả trong giao ước này (23:15-16; 24:19-24).
Về phần dân Y-sơ-ra-ên, họ phải thực hiện nghĩa vụ của giao ước, nhờ lòng vâng phục tin cậy Đức Chúa Trời mà đánh chiếm, phân chia và giữ gìn đất, họ cũng bày tỏ đức tin nơi Ngài bằng cách vâng giữ luật lệ của Ngài.
Cuộc thánh chiến
Sự tuân thủ giao ước buộc dân Y-sơ-ra-ên phải chiến đấu theo các qui ước của cuộc thánh chiến được ban hành trong sách Phục Truyền Luật Lệ Ký. Nếu dân Y-sơ-ra-ên hoàn toàn vâng phục, Đức Chúa Trời sẽ làm chủ cuộc chiến và bảo đảm chiến thắng (1:2-9; so sánh Dan 27:18-21), thỉnh thoảng Đức Chúa Trời can thiệp cách diệu kỳ như tại Giê-ri-cô (6:20) và Ga-ba-ôn (10:11, 14). Trong khi khích lệ dân Y-sơ-ra-ên mạnh mẽ tin cậy nơi Ngài, Đức Chúa Trời gieo sự hoảng sợ vào lòng quân thù để tiêu diệt họ trước khi lâm trận (2:9-11, 24).
Vì “chiến lợi phẩm phải thuộc về kẻ chiến thắng”, cho nên hết thảy dân Ca-na-an độc ác phải được ‘dâng’ (tiếng Hi-bá-lai là herem) cho Đức Giê-hô-va (6:17). Đức Chúa Trời chỉ định cho họ tiêu diệt dân Ca-na-an để cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi sự cám dỗ (Phu 7:1-5). Như G. A. Cooke mô tả: “Hễ điều gì có khả năng lũng đoạn nếp sống đạo của cộng đồng thì phải trừ khử mối nguy bằng cách ngăn trở con người sử dụng; để việc này được hữu hiệu phải huỷ phá hoàn toàn đi thôi”. Khi không dâng cho Giê-hô-va những đồ vật đáng lẽ thuộc về Ngài, A-can và mọi vật ông chiếm được đều bị huỷ diệt (7:15). Đôi khi Giê-hô-va ấn định phải dâng chiến lợi phẩm cho Ngài, còn những lần khác Ngài thưởng tất cả cho quân sĩ (8:27). Dân Ca-na-an bị tiêu diệt vì sự phán xét công nghĩa của Đức Chúa Trời đã đến, chứ không phải vì dân Y-sơ-ra-ên khát máu. Kỵ nữ Ra-háp ăn năn và được dành cho một chỗ vĩnh viễn giữa Y-sơ-ra-ên (6:25). Nhưng trong hầu hết mọi trường hợp, Đức Chúa Trời làm cứng lòng dân Ca-na-an vì đã đến lúc họ phải chịu đoán phạt (11:19-20). Sự huỷ diệt dân Ca-na-an hình bóng về hình phạt đời đời dành cho kẻ ác (Mat 25:46), như trường hợp huỷ diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ nhiều thế kỷ trước đó. Vậy, Y-sơ-ra-ên chiếm được xứ vì Đức Chúa Trời muốn làm cho đất được nên thánh. Đó là lý do khiến tác giả đặt cảnh tái lập giao ước ở Si-chem ngay giữa phần những chuyện chiến chinh (8:30-34). Nếu không nhận ra điểm tương đồng giữa án phạt của dân Y-sơ-ra-ên đối với dân Ca-na-an và án phạt cuối cùng thì chúng ta sẽ không hiểu được vì sao Đức Chúa Trời chỉ thị cho dân Y-sơ-ra-ên hành động như vậy.
Phần đọc thêm
D. R. Davis, No Falling Worrds: Expositions of the Book of Joshua (Không Lãng phí Một Lời: Giải thích Sách Giô-suê) (Nhà Sách Baker 1988).
A. G. Auld, Giô-suê, Quan Xét và Ru-tơ, DSB (St Andrew Press/ Westminster/ John Knox Press, 1984).
D. H. Madvig Giô-suê, EBC(Zondervan, 1990).
M.Woustra, Sách Giô-suê, NICOT (Eerdmans, 1981).
Bố cục
1:1-18 Phần mở đầu
1:1-9 Giê-hô-va truyền lệnh cho Giô-suê
1:10-15 Giô-suê chỉ thị cho dân sự
1:16-18 Dân sự đáp lời Giô-suê
2:1 - 5:15 Tiến vào xứ
2:1-24 Các thám tử báo cáo ‘Ca-na-an đã bị đánh bại’
3:1 - 4:24 Vượt sông Giô-đanh
5:1-14 Nghi thức chuẩn bị
6:1 - 12:24 Đánh chiếm xứ
6:1-27 Trận chiến Giê-ri-cô
7:1 - 8:29 Trận chiến A-hi
8:30-35 Lập lại giao ước tại núi Ê-banh
9:1-27 Hoà ước với dân Ga-ba-ôn
10:1-43 Chinh phục miền nam
11:1-15 Chinh phục miền bắc
11:16-23 Tổng kết cuộc chinh phục
12:1-24 Phụ đính: danh sách các vua bại trận
13:1 - 21:45 Phân chia đất đai
13:1-7 Phần đất còn phải đánh chiếm
13:8-33 Phân chia đất đai phía đông sông Giô-đanh
14:1 - 19:51 Phân chia đất đai phía tây sông Giô-đanh
20:1-9 Các thành ẩn náu
21:1-42 Các thành của người Lê-vi
21:43-45 Tóm lược: Đức Chúa Trời thành tín lạ lùng
22:1 - 24:33 Gìn giữ xứ
22:1-34 Bàn thờ làm chứng của các chi phái phía đông
23:1-16 Lời từ biệt của Giô-suê
24:1-28 Tái lập giao ước tại Si-chem
24:29-33 Tái bút: Thông báo về việc mai táng
1. PHẦN MỞ ĐẦU (Gios 1:1-18)
1. Bối cảnh lịch sử (Gios 1:2-9)
Lời nhắc nhở về ‘cái chết của Môi-se’ (1) liên kết sách Giô-suê với Phu 34:5 (so sánh Cac 1:1 IISa 1:1 IIVua 1:1) là tín hiệu báo đã đến lúc mở lại cuộc chinh phục. Môi-se được gọi là đầy tớ của Đức Chúa Trời, vừa tỏ ý tôn trọng ông, vừa nhằm hợp pháp hoá những chỉ thị đánh chiếm xứ của ông.
Môi-se đặt tên cho Hô-sê (sự cứu rỗi) là Giô-suê, nghĩa là ‘Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi’ (Dan 13:16). Về sau, tên này đổi thành y‘Ĩfa, tiếng Hi Lạp gọi là I‘sous, còn tiếng Anh là ‘Jesus’.
Tước hiệu của Giô-suê là phụ tá của Môi-se (so sánh ISa 3:1 IVua 19:21) nhắc cho chúng ta nhớ rằng Giô-suê được tôn làm người lãnh đạo nhờ có khả năng, đã được huấn luyện và có kinh nghiệm (so sánh Xu 17:8-15 24:12-13 Dan 14:6-12 27:12-23 32:12 Phu 1:37-38 34:9).
2. Giê-Hô-Va truyền lệnh cho Giô-suê (Gios 1:2-9)
Lời phán của Giê-hô-va như thể hoạ lại lời nói của Môi-se trong Phục Truyền Luật Lệ Ký (so sánh c.2 với Phu 10:11, c.3 với 11:23-24, c.5a với 7:24, c.5b-7a, c.9 với 31:6-8). c.7b-8 nhắc lại nhiều câu trong Phục Truyền Luật Lệ Ký, xác nhận là Sách Luật pháp và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc suy ngẫm và vâng theo sách luật này (5:32-33 30:10). Lời hứa: Ta ở cùng ngươi như đã ở cùng Môi-se (c.5) gợi nhớ câu Đức Chúa Trời trả lời Môi-se khi ông phản đối trong Xu 3:12. Sách Giô-suê tiếp nối từ chỗ sách Ngũ Kinh ngưng dứt.
Các mạng lệnh và lời hứa trong câu 2-9 nói lên mối liên hệ giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài. Về phía Đức Chúa Trời, Ngài chọn Y-sơ-ra-ên để thừa hưởng xứ (6). Về phía Y-sơ-ra-ên, họ phải chiếm lĩnh món quà bằng đức tin (3-4). Để vượt qua Giô-đanh, vấn đề không phải chỉ có vâng lời, dù vâng lời là yếu tố quan trọng, nhưng còn phải tin cậy Đức Chúa Trời (6-7,9). Ngài cho họ biết lý do phải tin cậy Ngài là: Ngài hứa ở với họ (5,9b). Cũng vậy, Hội Thánh phải tin cậy, vâng phục mạng lệnh của Chúa truyền bá Phúc Âm cho thế giới (Mat 28:18-20). Mạng lệnh không được sợ hãi là qui ước của cuộc thánh chiến.
(Gios 1:2-5). Lệnh truyền đầu tiên là vượt sông Giô-đanh Theo nghĩa đen, c.2 đọc là: “Bây giờ hãy chổi dậy, vượt qua...” (nghĩa là vượt qua ngay lập tức, chớ chậm trễ). Chúa Cứu Thế truyền lệnh cho Hội Thánh: “Hãy theo ta” và Ngài không cho phép chúng ta trì hoãn (so sánh Lu 9:59-62). C.4 xác định rõ ràng các biên giới xa nhất, mặc dù biên giới phía nam vẫn chưa rõ ràng. Đến thời Sa-lô-môn trị vì, dân Y-sơ-ra-ên đã kiểm soát được một khu vực lớn như vậy (Gios 13:1-7). Chữ đồng vắng ám chỉ đồng vắng phía đông bắt đầu từ bên kia sông Giô-đanh. Trong 13:5, đất hứa bao gồm cả xứ Li-ban.
(Gios 1:6). Lệnh truyền thứ hai là thừa hưởng đất. Chữ thừa hưởng nhắc lại lời Đức Chúa Trời hứa ban đất đai cho tổ phụ để thưởng cho lòng trung tín phục vụ Ngài. Bây giờ, Giô-suê phải đánh chiếm (chương 1-12) và phân chia đất (chương 13-21).
(Gios 1:7-9). Lệnh truyền thứ ba là hãy can đảm và suy ngẫm luật pháp Câu 7-8 cho biết vấn đề chiếm được xứ tuỳ thuộc vào lòng vâng phục bởi đặt đức tin nơi Sách Luật Pháp mà đắc thắng chứ không phải bởi chiến đấu (so sánh Ro 1:5 16:26 Gia 2:14-26). Dù Giô-suê được huấn luyện để chiến đấu, nhưng chính lòng vâng phục mới bảo đảm cho cuộc chiến đấu được thắng lợi, chứ không phải sức mạnh. Các Cơ-đốc nhân trong giao ước mới được hưởng ưu thế trên hai mặt vì Chúa Cứu Thế làm thoả mãn những đòi hỏi của luật pháp và mọi lời hứa (Mat 5:17 Ro 3:21-26) và bởi Thánh Linh, Ngài đã viết luật pháp vào lòng họ (IICo 3:3-6 He 8:7-13 10:15-18).
3. Giô-suê chỉ thị cho dân sự (Gios 1:10-15)
Mạng lệnh của Giô-suê truyền cho các quan trưởng (10-11) lẫn các chi phái phía đông (12-15) như tiếng vang vọng của Phục Truyền

Luật-lệ Ký. So sánh câu 11 với Phu 1:8 4:1 6:18 8:1 9:1, rồi theo đoạn văn mô tả, chúng ta thấy Giô-suê lập lại mệnh lệnh của Môi-se hầu như từng chữ một để chỉ thị cho các chi phái phía đông (Phu 3:18-20 so sánh Dan 32:1-42).
(Gios 1:10-11). Chỉ thị cho các quan trưởng. Khung mạng lệnh của Đức Chúa Trời ban ra, rồi đến sự vâng lời cách cẩn thận và hết lòng của Giô-suê cho thấy cách thức phải chỉ huy cuộc chiến này. Tác giả quan tâm đến sự chuẩn bị thuộc linh là nguyên nhân đích thực của sự chiến thắng, thay vì quan tâm đến các chi tiết quân sự tưởng chừng là nguyên nhân thắng lợi. Mối quan tâm này phản ánh rõ ràng trong câu 10 vì thiếu hẳn chi tiết về quân nhu (gồm những vũ khí cần thiết cho cuộc chiến khốc liệt) và lệnh truyền cũng thiếu nhiều chi tiết. Lúc này, dân Y-sơ-ra-ên được coi như là trại quân, phải chuẩn bị để ra trận trong ba ngày (nghĩa là nửa ngày hôm nay, cả ngày mai và nửa ngày hôm sau) trước khi dời trại ở Si-tim (11 so sánh Mi 6:5). Chuẩn bị ra trận đòi hỏi thời gian (so sánh Ga 1:17-18). Thời gian ba ngày trước khi nhổ trại sớm nhất là vào ngày mùng 6 tháng Nisan (tháng 4) (Gios 4:19), không giống thời gian ba ngày sau khi họ rời Si-tim và đóng trại tại Giô-đanh (so sánh 2:16,22 3:2).
(Gios 1:12-15). Chỉ thị cho các chi phái phía đông Đức Chúa Trời hứa ban cho dân sự của Ngài sự yên nghỉ, tức là sau khi chiếm được xứ, họ sống hoà bình không bị kẻ thù tấn công (13-15). Lời hứa yên nghỉ bắt nguồn từ mối liên hệ giao ước với Đức Chúa Trời (Xu 33:12-16). Sự yên nghỉ mà Môi-se và Giô-suê dẫn dắt dân sự vào báo trước sự yên nghỉ cuối cùng và trọn vẹn mà Chúa Giê-xu dẫn dắt Hội Thánh trung thành của Ngài vào hưởng (He 4:1-11).
4. Dân sự đáp lời Giô-suê (Gios 1:16-18)
Dân sự đáp lại bằng tấm lòng tin cậy và hoàn toàn vâng phục (làm bất kỳ điều gì... đi bất cứ nơi nào), bảo đảm cuộc chinh phục tiếp tục thành công. Họ hứa xử tử những ai không trung thành và chính họ khuyên Giô-suê nên mạnh mẽ và can đảm!
2. TIẾN VÀO XỨ (Gios 2:1-5:15)
Phân đoạn này cho thấy một mình Đức Chúa Trời dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên vào xứ cách nào, và về phương diện thuộc linh, Ngài chuẩn bị họ cho trận chiến sắp tới ra sao.
1. Các thám tử báo cáo: “Ca-na-an đã bị đánh bại” (Gios 2:1-24)
Mặc dù các thám tử được sai đi để giúp Giô-suê tính kế hoạch cho chiến dịch quân sự, nhưng lời báo cáo của họ có giá trị chính là tiết lộ rằng về mặt tinh thần, dân Ca-na-an chưa chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu.
(Gios 2:1). Các thám tử đi dò thám Tên Si-tim (nghĩa đen là ‘cây xiêm gai’) gợi lên một địa thế hiểm trở. Có lẽ để tránh bị nghi là người ngoại quốc, các thám tử do Giô-suê sai đi đã bí mật lẻn vào nhà một kỵ nữ tầm thường, chắc chắn kỵ nữ này đã từng tiếp nhiều khách lạ. Chúng ta hãy để ý dù tiếng Hi-bá-lai từ này theo nghĩa đen có nghĩa là ‘ngủ’, chứ không phải là ‘ở’, chủ ý của tác giả nói họ ngủ tại đó, không phải ngủ với nàng (1) dù người Giê-ri-cô nghĩ như vậy. Cùng động từ trong câu 8 được dịch là ‘nằm ngủ’ không hàm ý gì về tình dục. Rõ ràng tác giả không chủ tâm nói họ có quan hệ tình dục với nàng.
(Gios 2:2-7). Ra-háp giấu các thám tử Trong chiến tranh, ngay cả cuộc thánh chiến, vấn đề do thám, tình báo và lừa dối là cần thiết (c.1 so sánh Cac 7:9-16). Ra-háp giấu các thám tử và nói dối để đánh lạc hướng lính trinh sát của vua Giê-ri-cô (2-7). Nàng bí mật để cho các thám tử trốn thoát và chỉ cho họ trốn trong các hang núi về phía tây thành Giê-ri-cô - ngược với suy nghĩ của lính truy kích - để không bị phát hiện (16-17). Những chuyện lừa dối của Giô-suê và Ra-háp gây ngạc nhiên cho nhiều người. Làm sao có thể chấp nhận chuyện lừa dối trong cuộc thánh chiến? (So sánh Mat 5:33-37 Eph 4:14-15).
Những chuyện tương đương sau đây giúp chứng tỏ lường gạt, dối trá là việc cần thiết và đúng trong những tình huống đặc biệt. Các thợ săn dùng bẫy và hầm, những người đánh cá dùng mồi nhử. Trong thể thao, các cầu thủ đánh xoáy banh hoặc thực hiện động tác giả để đánh lừa đối thủ của mình. Trong môn đánh cờ, người ta lừa cho đấu thủ bắt quân cờ yếu hơn để mình ăn quân cờ lớn hơn trong môn đánh bài, người ta ‘làm ra vẻ lo lắng’. Đức Chúa Trời đối xử nhân từ với các bà mụ khi các bà đánh lừa Pha-ra-ôn (Xu 1:19-20) và ‘bởi đức tin, cha mẹ Môi-se giấu ông trong ba tháng sau khi sinh ông ra’ (He 11:23). Trong các tình huống này, chúng ta không buộc người làm việc đó là phi đạo đức, tức là lấy cứu cánh chính đáng biện minh cho phương tiện sai lầm. Thật ra, trong các tình huống ấy, chúng ta thừa nhận sự lừa dối là hợp pháp, không có gì sai lầm. Vậy, Cựu Ước cũng công nhận trong chiến tranh, vấn đề tình báo, phản gián và con mồi là bộ phần cần thiết. Giô-suê đặt phục binh (Gios 8:9) và Đa-vít dùng Hu-sai làm thám tử cùng với mạng lưới gián điệp (IISa 15:32-37 16:15-22). Trong Tân Ước, Phao-lô lợi dụng đêm tối để thoát khỏi người Do Thái (Cong 9:23-26) và thiên sứ lợi dụng lúc lính gác ngủ để giải thoát Phi-e-rơ khỏi nanh vuốt của Hê-rốt. Tuy nhiên, trong đa số tình huống, nói dối là sai lầm (Ch 30:7-8), và cần phải nói sự thật (Eph 4:15). Tín đồ phải lắng nghe Thánh Linh của Đức Chúa Trời qua Kinh Thánh và lương tâm để không biện hộ vì cớ hoàn cảnh.
(Gios 2:8-14). Giao ước với Ra-háp. Qua cuộc trò chuyện của Ra-háp với các thám tử trong đêm đó, chúng ta thấy đức tin của nàng (9a,11b) trái ngược với nỗi sợ hãi của dân Ca-na-an (9b-11a). Nàng biết chắc Giê-hô-va ban xứ cho dân Y-sơ-ra-ên (9) và biết Ngài là Đức Chúa Trời (11 so sánh Phu 4:39) khi so sánh niềm hân hoan chiến thắng của dân Y-sơ-ra-ên với sự hoảng sợ của người Ca-na-an. Căn cứ đồ gốm nhập khẩu vào xứ Palestine thời bấy giờ và chính sách ngoại giao phản ánh trong các văn bản xứ Amarna (khoảng năm 1.350 T.C.), chúng ta biết tin tức về cuộc xuất Ai-cập và chinh phục của dân Y-sơ-ra-ên có thể đã được truyền đi rộng rãi khắp thế giới bấy giờ. Cả Ra-háp lẫn người Ca-na-an đều có thái độ ứng phó đối với tin đồn đó (10 so sánh 2:24-3:11). Đức tin của Ra-háp dẫn đến sự sống, còn lòng vô tín của dân Ca-na-an dẫn đến sư chết (so sánh IICo 2:14-16).
Khi nghe Ra-háp cho biết dân Ca-na-an sợ hãi đến độ tinh thần tan rã (9), các thám tử biết chắc Đức Chúa Trời đã đánh bại dân Ca-na-an mà không cần đến gươm của họ (24 so sánh Gios 1:5 Xu 15:13-16 23:27 Phu 2:25 11:25). Lòng can đảm của thế hệ Y-sơ-ra-ên mới (Gios 1:6-9), tương phản rõ rệt với thế hệ nhát sợ trước đây (Dan 13:1-14:45 so sánh ICo 16:13 IGi 4:4).
Sau khi tuyên xưng đức tin (9-11), lời tuyên xưng đầu tiên trong Kinh Thánh, Ra-háp tìm sự cứu rỗi bên trong cộng đồng giao ước (12-13). Trong câu 12, lòng nhân tư (tiếng Hi-bá-lai hesed) là lối nói tắt bao gồm ý ‘sẵn sàng dành sự cứu giúp cho một thành viên trong giao ước’. Sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời sẵn dành cho tất cả những ai tìm kiếm Ngài. Điểm đặc biệt là Ra-háp tìm kiếm sự cứu rỗi cho toàn gia đình của nàng (Gios 24:15). Lời thề của các thám tử trong câu 14 chính là dấu hiệu nàng muốn. Những người chịu cắt bì này đã tiếp nhận nàng kỵ nữ cải tâm vào mối thông công trọn vẹn của cộng đồng giao ước, thậm chí họ còn sẵn sàng chết thay cho nàng và gia đình nàng. Lời thề với dân Ga-ba-ôn trong câu 9 thuộc diện khác. Họ nghe danh tiếng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, song chưa bao giờ nhận Ngài là Chúa của họ.
(Gios 2:15-16). Ra-háp giúp các thám tử trốn thoát. Giống như Áp-ra-ham và Ru-tơ, Ra-háp từ bỏ quê hương để theo dân Y-sơ-ra-ên. Thật ra, nàng đã liều mạng sống để được thuộc về Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên (4-7,15-16). Tân Ước ca ngợi nàng về đức tin (He 11:31) sinh ra các việc lành (Gia 2:25). Đức tin của nàng đã dành cho nàng một vị trí trong gia phổ của Chúa Giê-xu (Mat 1:5).
(Gios 2:17-21). Điều kiện của giao ước. Sự khác biệt giữa nàng Ra-háp đầy lòng tin và dân Ca-na-an không vâng phục là hình bóng cho sự đoán xét sẽ thành tựu trong ngày cuối cùng (Mat 25:31-46 Kh 20:11-15). Dân Y-sơ-ra-ên cần có huyết chiên con trên khung cửa để phân biệt họ với người Ai-cập bị đoán phạt (Xu 12:7,13). Cũng vậy, Ra-háp cần sợi dây màu đỏ điều do người Y-sơ-ra-ên cung cấp cho để phân biệt nàng, gia đình nàng với người Ca-na-an bị định tội. Ngày nay, bởi đức tin, các gia đình tin kính nhận lãnh phép báp-tem làm dấu hiệu phân biệt (Cong 2:38-39 16:31-33) và công bố sự chết của Chúa Cứu Thế khi họ uống chén giao ước bằng huyết của Ngài (Lu 22:20 ICo 11:25-26).
(Gios 2:22-24) Lời báo cáo của các thám tư. Khi báo cáo chính xác về Ra-háp (so sánh 9,24), các thám tử nhấn mạnh vào vấn đề Đức Chúa Trời đã đánh bại dân Ca-na-an về phương diện tinh thần.
2. Vượt Giô-đanh (Gios 3:1-4:24)
Cuộc vượt sông Giô-đanh đánh dấu thời điểm dân Y-sơ-ra-ên phá bỏ rào chắn cuối cùng để bước vào đất hứa và rời khỏi đồng vắng. Vị chiến binh Thiên Thượng mà hòm giao ước là biểu tượng, đã dắt họ bước xuống sông Giô-đanh ngập tràn nước, làm cho lòng sông khô cạn, bảo vệ họ trong khi đi bộ qua lòng sông và đem họ vào đất hứa.
Hầu như bất cứ lúc nào trong năm, người ta cũng có thể dễ dàng vượt qua sông Giô-đanh (so sánh Cac 3:28 8:4). Nhưng Đức Chúa Trời đợi cho đến đầu mùa xuân (là lúc mực nước sông dâng cao, phần lớn là do tuyết tan chảy từ núi Hẹt-môn) mới dắt dân Y-sơ-ra-ên vượt qua, bằng cách này Ngài tôn cao Giô-suê trước mặt dân Y-sơ-ra-ên (6) và khiến cho họ biết rằng Đức Chúa Trời hằng sống ở với họ (8,13).
Lòng sông Giô-đanh lộ ra. (Gios 3:1-17). Dưới quyền lãnh đạo trung tín của Giô-suê, cuộc thánh chiến diễn ra trong trật tự và oai phong, không hấp tấp cũng không chậm trễ.
(Gios 3:1) Dân Y-sơ-ra-ên tính rằng những việc làm quyền năng của Đức Chúa Trời có liên quan đến cuộc vượt sông bắt đầu từ Si-tim (so sánh Mi 6:5) vì dân sự lên khỏi sông Giô-đanh vào ngày 10 tháng Nisan (Gios 4:19), là tháng giêng năm âm lịch tương đương với tháng 4 của chúng ta, nên có thể họ đã đến bờ phía đông sông Giô-đanh đầy hiểm nghèo trước ngày mùng 8 tháng Nisan, nghĩa là đến trước ba ngày (3:2,5). Thời gian từ khi họ đến Giô-đanh đến khi vượt sông là thời gian cần thiết để Đức Chúa Trời chuẩn bị dân sự về mặt thuộc linh (5).
Có bốn lệnh truyền chuẩn bị dân sự cho chuyến vượt sông: một lệnh do các quan trưởng truyền cho dân sự (2-4), một lệnh do Giô-suê truyền cho dân sự và các thầy tế lễ (5-6), một lệnh do Giê-hô-va truyền cho Giô-suê (7-8) và một lệnh do Giô-suê truyền cho toàn thể dân sự (9-13). Mỗi lệnh truyền bày tỏ thêm một ít về phép lạ sắp xảy ra, và lệnh truyền cuối cùng của Giô-suê lên đến cực điểm đầy đủ nhất.
(Gios 3:2-4). Các quan trưởng truyền lệnh cho dân sự đi theo hòm giao ước. Hòm giao ước là một hòm giát vàng có kích thước là 120x60x60cm (Xu 25:10-22) biểu tượng cho ngai của Đức Chúa Trời và đôi khi quân sĩ cũng thỉnh hòm ra chiến trường (Dan 10:35 ISa 4:1-6:21). Hòm giao ước không hẳn chỉ là một biểu tượng, vì Đức Chúa Trời thực sự hiện diện nơi đó để chỉ thị cho các thầy tế lễ khiêng hòm (so sánh Gios 4:11 Phu 10:8 ISa 6:7-12). Hòm giao ước đựng Mười Điều Răn tức là Hiến Pháp của dân Y-sơ-ra-ên (Phu 10:1-4 31:26), tượng trưng cho luật đạo đức và mối liên hệ của dân Y-sơ-ra-ên trong giao ước với Ngài. Ngoài việc chứa đựng luật pháp xét đoán mọi người(Ro 2:12-16). Hòm giao ước còn biểu tượng cho Phúc Âm vì nắp hòm, tức là ngai thi ân, có huyết chuộc tội rảy lên, biểu tượng huyết tẩy sạch của Chúa Cứu Thế (He 9:1-28).
Mệnh lệnh phải giữ khoảng cách độ 900m giữa họ với hòm giao ước giúp toàn thể dân Y-sơ-ra-ên nhận thức đầy đủ về quyền lãnh đạo lạ lùng của Đức Chúa Trời.
(Gios 3:5-6). Ngày 9 tháng Nisan, Giô-suê chỉ thị cho dân sự làm cho mình nên thánh (so sánh Dan 11:18), ông nhấn mạnh vào tình trạng thánh khiết của quân đội. Việc nên thánh này đòi hỏi họ phải giặt áo quần (so sánh Xu 19:10) và tránh sinh hoạt tình dục (so sánh 19:15). Ngày 10 tháng Nisan, Giô-suê chỉ thị cho các thầy tế lễ khiêng hòm giao ước.
(Gios 3:7-8). Đức tin của Giô-suê được Đức Chúa Trời ban thưởng vào giây phút quyết định này, Ngài hứa khi các thầy tế lễ đứng dưới sông Giô-đanh, Ngài sẽ tôn trọng Giô-suê như đã tôn trọng Môi-se. Giô-suê làm hình bóng về Chúa Cứu Thế sẽ dắt đưa Hội Thánh ra khỏi đồng vắng của thế gian để vượt qua sông sự chết và bước vào hành trình đến thiên thành.
(Gios 3:9-13). Lúc này, Giô-suê long trọng tuyên bố với dân sự. Trong câu 10, chữ Đức Chúa Trời hằng sống gợi lên nét tương phản với các thần của dân địa phương mà họ tin là chết đi rồi sống lại theo mùa, theo kỳ hạn, nhưng các thần đó không kiểm soát được lịch sử. Bảy dân tộc bị kể tên có lẽ vì con số bảy tượng trưng cho sự đầy đủ (so sánh Phu 7:1). Trong Gios 3:12, Giô-suê tách riêng mười hai người, bảo họ khuân đá xuống sông Giô-đanh sắp thành mặt bằng vững chắc cho các thầy tế lễ khiêng hòm giao ước đứng dưới lòng sông bùn lầy (so sánh 4:8).
Đến cao điểm của bài nói, Giô-suê báo trước rằng nước sông Giô-đanh sẽ dồn thành một khối. Sự kiện này bày tỏ cho chúng ta biết chính Đức Chúa Trời là tác nhân làm ra phép lạ này, chứ không phải do nguyên nhân tự nhiên. Lời tiên tri của Giô-suê làm tăng uy thế của ông, cho thấy ông là người xứng đáng kế vị Môi-se.
(Gios 3:14-17). Đến đây, phần tường thuật tập trung vào sự vâng phục trọn vẹn của dân sự - vì mọi sự diễn tiến chính xác theo lời đã chỉ dẫn trước - và tập trung vào tính chất lạ lùng của biến cố. Đoạn văn đặc biệt nhấn mạnh đến cuộc vượt sông diễn ra vào tháng 4 nhằm đầu mùa gặt (5:10-11) là lúc nước sông dâng tràn bờ. Cuộc vượt sông diễn ra vào cùng mùa trong năm như khi dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển Đỏ, thêm một điểm tương đồng giữa Môi-se và Giô-suê.
Có lẽ cuộc vượt sông xảy ra gần chỗ cạn mà người Ả Rập gọi là Al-Maghtas, cách Giê-ri-cô 7 dặm (12 km) về phía đông nam và cách Tell el-Hammam 8 dặm (13 km) về phía tây. Thành A-đam, ngày nay gọi là Tell ed-Damiye, nơi nước dồn lại, ở trên thượng nguồn cách Giê-ri-cô 17 dặm (27 km), như vậy lòng sông rộng hơn 18 dặm (30 km) đã bày ra cho cả một dân tộc đi qua nhanh chóng. Có những trận lở đất đã chận dòng chảy của sông Giô-đanh năm 1267 và năm 1906. Trận động đất ngày 11 tháng 7 năm 1927 cũng chận dòng sông uốn khúc này trong thời gian 21 tiếng rưỡi đồng hồ. Những biến cố tương tự làm tăng phần xác đáng cho câu chuyện này mà vẫn không giảm giá trị lời tiên báo của Giô-suê và giờ giấc chính xác lạ lùng của biến cố.
(Gios 4:1-24). Nước sông Giô-đanh phủ lại và đài kỷ niệm dân tộc Tác giả tiếp tục nhấn mạnh tính chất lạ lùng của cuộc vượt sông (18) nhưng tập trung vào đống đá làm đài kỷ niệm. Đây chỉ là một trong nhiều đài kỷ niệm để tưởng nhớ công việc quyền năng của Đức Chúa Trời (so sánh Xu 13:3-6 ISa 7:12), tuyệt đỉnh là bánh và chén công bố ‘sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến’ (ICo 11:26).
(Gios 4:1-4). Một lần nữa, với tư cách là chỉ huy trưởng, Đức Chúa Trời đã khởi động cuộc vượt sông. Ngài chỉ thị chọn riêng mười hai người hiểu là mười hai người đã đề cập trong Gios 3:12 để sắp các viên đá làm mặt bằng vững chắc cho sáu thầy tế lễ. Con số mười hai lập lại năm lần trong các chương 1-8, nhấn mạnh vào sự hiệp nhất của mười hai chi phái tạo nên một dân tộc dưới quyền lãnh đạo của Giô-suê (so sánh Xu 24:4 IVua 18:31-35). Câu 1 nhấn mạnh vào sự cứu rỗi của toàn thể dân Y-sơ-ra-ên và đảm bảo rằng hết thảy người Y-sơ-ra-ên đều được cứu, cả người Do Thái (Ro 11:25-27) lẫn người ngoại bang (Ga 6:15-16). Chúa Cứu Thế sẽ không mất một con chiên nào hết thảy đều được cứu (Gi 10:27-28).
(Gios 4:5-7). Một lần nữa, viên tướng chỉ huy của Đức Chúa Trời trên mặt đất làm theo chỉ thị của Ngài. Mười hai viên đá mãi mãi được dùng làm dấu hiệu và đài kỷ niệm (so sánh Xu 12:26-27 Phu 6:20-25). Trong bất kỳ xã hội nào, kỷ niệm luôn giữ một vai trò quan trọng. Nếu không có kỷ niệm, con người sẽ mất đi dấu vết, nếu không có lịch sử để hỗ trợ cho kỷ niệm thì xã hội và thế giới chung quanh trở nên một bóng ma. Nhiều nhà xã hội học tuyên bố rằng một xã hội muốn tồn tại phải trở nên một ‘cộng đồng có nhiều kỷ niệm và hi vọng’. Trong nước Y-sơ-ra-ên thời xưa, các đài kỷ niệm và các nghi thức như nghi thức của Lễ Vượt Qua (Xu 13:1-14:31) đều nhằm mục đích này. Nhiều đài kỷ niệm được đề cập trong Giô-suê vẫn còn đến ngày nay (thí dụ Gios 7:26 8:29 10:27) sau này được thay thế bởi các sách trong bộ Kinh Thánh là nền tảng cho sự tồn tại của Hội Thánh. Người ta cho rằng những câu chuyện giải thích nguồn gốc và ý nghĩa của các đài kỷ niệm đã được truyền khẩu cách chính xác cho đến lúc được ghi chép vào sách, nếu không những đài kỷ niệm đó chẳng có sức thuyết phục và không thể hỗ trợ cho sự tồn tại của xã hội trong thực tế (so sánh IIPhi 1:16). Có một số học giả đảo ngược trật tự này. Theo họ, các đài kỷ niệm này khích lệ dân Y-sơ-ra-ên bịa chuyện để giải thích cho sự hiện hữu của họ, chứ không phải để nhắc nhở họ về những biến cố thật sự đã xảy ra!
(Gios 4:8-9). Trong c.9, nguyên văn Hi-bá-lai là ‘Giô-suê dựng mười hai tảng đá giữa sông Giô-đanh’ với chủ ý là độc giả hiểu đây là mười hai tảng đá khác (như bản tiếng Hi Lạp nói rõ). Những tảng đá này thế chỗ cho những tảng đá làm nền vững chãi lót dưới chân những người khiêng hòm giao ước trong lòng sông bùn lầy,mười hai tảng đá dưới chân những người khiêng hòm giao ước được đem lên bờ dựng làm đài kỷ niệm (xem chú thích bên lề của Kinh Thánh). Thật ra, những tảng đá nằm chìm dưới lòng sông không làm đài kỷ niệm quốc gia được, nhưng đối với những người quan tâm, cho đến thời tác giả viết sách, những tảng đá này vẫn còn là dấu chứng.
(Gios 4:10-13). Các thầy tế lễ lên khỏi sông Giô-đanh và hòm giao ước lại dẫn đầu sau khi mọi việc đã hoàn tất tốt đẹp. Điều quan trọng là Đức Chúa Trời và các thầy tế lễ đứng tại vị trí nguy hiểm, chứ không phải dân sự là những người vội vã đi qua bờ bên kia. Câu 12 thêm rằng các chi phái phía đông đi trước các chi phái khác (Gios 1:12-13). Mặc dầu được trang bị vũ khí để chiến đấu nhưng 40.000 chiến sĩ không đụng đến gươm, vì Đức Chúa Trời chiến đấu cho họ như Ngài đã chiến đấu cho lực lượng dân quân tại Biển Đỏ (so sánh Xu 13:18 14:13-31). Theo truyền thống, từ ‘ngàn’ theo tiếng Hi-bá-lai có nghĩa là một đội ngũ từ năm đến mười bốn người như trong bản tu bộ của sách Dan 1:1-54 26:1-65. Một số chiến sĩ ở lại vùng phía đông sông Giô-đanh để bảo vệ chỗ ở của họ (so sánh Gios 22:8). Dân sự đi qua sông trước mặt Đức Giê-hô-va đến bên bờ sông phía tây như thể đi qua trước khán đài. Một lần nữa, vị Tổng Tư Lệnh thiêng liêng nắm vai trò vị Vua giữa trại quân.
(Gios 4:14). Lúc này, Giô-suê được tôn cao như lời Ngài hứa. Ngày 10 tháng Nisan (3:1), ngày chọn chiên con cho Lễ Vượt Qua (Xu 12:3) là ngày dân Y-sơ-ra-ên một lần nữa, học tập kính sợ cả Đức Chúa Trời (24, Gios 3:10) lẫn Giô-suê.
(Gios 4:15-18). Dòng sông Giô-đanh lại tiếp tục tuôn chảy, như cánh cửa khép lại sau lưng Vua thiên thượng và các quan khi họ bước vào cung điện. Thời điểm sông Giô-đanh chảy lấp lại cũng lạ lùng như lúc lòng sông bày ra (so sánh 3:15).
(Gios 4:19-24). Ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên dựng đài kỷ niệm dân tộc tại Ghinh-ganh (so sánh 4:2). Có thể Ghinh-ganh nằm tại Khirbet el-Mefjir. Có lẽ vì những lý do nêu trong 3:7 nên đài kỷ niệm được ghi trong sách dạy đạo này để từ thế hệ này đến thế hệ khác nhớ rằng (21,24) Đức Chúa Trời đã làm khô cạn sông Giô-đanh (22-23 so sánh Xu 14:22). Cuộc vượt sông Giô-đanh có những ràng buộc với cuộc vượt Biển Đỏ nhấn mạnh vào hình bóng về sự hiệp nhất của hai biến cố đó trong sự cứu rỗi và trong lịch sử. Nhân xưng đại danh từ các ngươi (số nhiều) trong câu 23 tượng trưng cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên hiệp nhất một khối. Qua Kinh Thánh, bởi đức tin và sự suy tưởng, tất cả những người tin Chúa đều có thể tưởng tượng như mình có mặt trong những biến cố lịch sử. Hơn nữa, nhờ đài kỷ niệm mà các dân tộc trên thế giới biết rằng cánh tay Đức Chúa Trời rất quyền năng (so sánh Gios 2:10 3:10 Xu 15:14-16) và dân Y-sơ-ra-ên biết kính sợ Đức Chúa Trời, nghĩa là một lòng trung thành với Giê-hô-va (Phu 5:29 8:6). Ngày nay, chúng ta đạt những mục tiêu đó bằng cách rao báo về Chúa Giê-xu đã chết thay cho tội nhân và đã sống lại từ cõi chết (so sánh Ro 10:6-9).
3. Những sự chuẩn bị theo giáo nghi (Gios 5:1-15)
Mỗi phân đoạn trong chương này đều cho thấy những điểm tương đồng giữa Môi-se và Giô-suê, tạo thêm mối ràng buộc chặt chẽ hơn nữa giữa hai nhà lãnh đạo khi thành lập nước Y-sơ-ra-ên. Cả hai làm cho quân thù kinh hãi (1, so sánh Xu 15:10-13), cả hai truyền lệnh làm lễ cắt bì trước khi bắt tay vào công tác (2-9 so sánh 4:24-26), cả hai đều cử hành và xem Lễ Vượt Qua là một phần trong hành trình đến đất hứa (10-12 so sánh 12:1-50) và cả hai cởi giày trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời (13-15 so sánh 3:5).
(Gios 5:1). Giới thiệu Câu này mô tả phản ứng của dân Ca-na-an đối với cuộc vượt sông Giô-đanh. Câu này nối kết chương 5 với chương Gios 4:24, báo trước về phản ứng của thế giới. Các vua A-mô-rít (là vua của các thành tiểu quốc miền núi phía tây Giô-đanh) và các vua Ca-na-an (là vua của các thành tiểu quốc miền đồng bằng ven biển) được kể ra đây thuộc về số bảy dân tộc trong 3:10. Các vua này đã nghe nói về công việc quyền năng của Đức Chúa Trời, nhưng thay vì tin và đến với Ngài như Ra-háp thì họ chống nghịch. Sự sợ hãi nhận chìm và chận đứng họ (so sánh 2:10 11:20)
(Gios 5:2-9). Lập lại giao ước: lễ cắt bì Phần tường thuật ngắn gọn về lễ cắt bì của dân Y-sơ-ra-ên (2-3,8-9) trình bày cho chúng ta biết đầy đủ về phép cắt bì (4-7).
2-3 Một lần nữa, Đức Giê-hô-va truyền lệnh (2) và Giô-suê phải thi hành trọn vẹn (3). Giô-suê gián tiếp cắt bì cho toàn thể dân tộc bằng lễ cắt bì cho phụ huynh (so sánh Sa 21:4 Xu 4:25). Có hai cách giải thích lý do tác giả một lần nữa nói về vấn đề cắt bì (nguyên văn là ‘lần thứ hai’). Một mặt, có lẽ một số các chiến sĩ trên bốn mươi tuổi đã chịu cắt bì tại Ai-cập, còn những người dưới bốn mươi chưa chịu cắt bì trong đồng vắng được xem là nhóm người chịu cắt bì lần thứ hai. Cách giải thích này phù hợp với câu 4-7 hơn. Mặt khác, có lẽ các chiến sĩ cao tuổi phải chịu cắt bì lần nữa, bởi vì cắt bì trong xứ Ai-cập không hoàn toàn như cắt bì của Y-sơ-ra-ên. Cách giải thích ổn nhất đặt nặng vấn đề con dao bằng đá lửa và câu nói ám chỉ đến sự sỉ nhục tại xứ Ai-cập (9). Không như ở Ai-cập, dao bằng đá lửa có rất nhiều ở Ca-na-an, và có lẽ bắt buộc phải dùng đến dao bằng đá lửa vì người ta kết hợp loại dao đó với phép cắt bì hoàn toàn của người Y-sơ-ra-ên. Các pho tượng về người chiến sĩ xứ Ca-na-an trong thiên niên III T.C. cho chúng ta biết họ chịu cắt bì hoàn toàn. Giờ đây đến xứ rồi, người Y-sơ-ra-ên tự do cắt bì đàng hoàng và cất khỏi họ sự sỉ nhục tại xứ Ai-cập (9), tức là sự cắt bì không hoàn toàn. Ngọn đồi da qui đầu (3 Chú thích bản NIV) có thể là tên của một ngọn đồi nhỏ chung quanh Ghinh-ganh, nghĩa là ‘Lăn đi, lăn đi’ sự sỉ nhục (9).
4-7 Đa số các chiến sĩ ra đời tại đồng vắng trong thời gian bốn mươi năm (so sánh Dan 14:20-22,29-31 Phu 2:14) chịu cắt bì lần thứ nhất. Cần lưu ý đến hai vấn đề liên quan: Tại sao phải chịu cắt bì và tại sao cắt bì tại Ghinh-ganh? Dường như cắt bì tại xứ Ai-cập khiến người nam xứng đáng bước vào tuổi trưởng thành, còn cắt bì trong xứ Y-sơ-ra-ên khiến người nam đủ tư cách bước vào mối giao ước liên hiệp với Đức Chúa Trời (Sa 17:9-14), do đó xứng đáng làm người thừa kế hưởng đất hứa. J. A. Motyer bình luận rằng: “Cắt bì... là bằng chứng của ân điển, nhờ đó Đức Chúa Trời chọn lựa và đóng ấn người thuộc về Ngài”. Ông cũng nói rằng: “Cắt bì có quan hệ với Lễ Vượt Qua và được đem vào luật Môi-se” (so sánh Xu 12:44). Ở đây cũng vậy, nghi lễ thiêng liêng được thực hiện trước Lễ Vượt Qua (10). Nếu thế hệ vô tín cắt bì cho con cái họ trong đồng vắng, thì chắc chắn nghi thức ân điển bị xem thường do đó lễ cắt bì phải hoãn lại cho đến khi vào xứ có đá lửa.
(Gios 10-12). Bữa ăn giao ước: Lễ Vượt Qua Lễ Vượt Qua được cử hành ngày 14 tháng Nisan khi cuộc hành trình kết thúc nhắc dân Y-sơ-ra-ên nhớ rằng họ bắt đầu cuộc hành trình kỳ diệu này với sự vượt qua của Ngài. Lễ này báo hiệu trước về Chúa Cứu Thế Giê-xu (ICo 5:7), nhờ huyết Ngài, Cơ-đốc nhân được cứu khỏi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trong thế giới của Sa-tan (so sánh Xu 12:1-7) và nhờ thân thể Ngài tượng trưng bằng bánh mà họ được nên thánh (12:8-11). Ngay ngày hôm sau (câu này lập lại ba lần trong các câu 11-12), họ bắt đầu hưởng thức ăn của đất hứa mà từ lâu họ hằng trông đợi. Giờ đây, họ bỏ lại phía sau bốn mươi năm ăn ma-na nhàm chán trong đồng vắng (so sánh Dan 11:4-9).
(Gios 5:13-15). Thờ lạy tướng chỉ huy. Sự chuẩn bị cuối cùng cho cuộc thánh chiến buộc Giô-suê phải đối diện với Đức Giê-hô-va, vì cho đến lúc này, sự thờ phượng của ông vẫn còn bất toàn so với nhiệm vụ trước mắt. Người bí ẩn đến gặp Giô-suê không phải là Giê-hô-va, nhưng là vị tướng thiên thượng của Ngài (Chú thích bên lề của Kinh Thánh NIV, dịch bản tiếng Hi-bá-lai rõ nhất). Một khi sứ giả thế tục được tôn trọng như người sai đi (thí dụ IISa 3:12-13 IVua 20:2-4) thì thiên sứ của Đức Chúa Trời (so sánh Sa 31:11 Xu 3:2 14:19) và thiên sứ chỉ huy của Ngài (so sánh Da 10:5,20) cũng được tôn trọng như Ngài. Thiên sứ cho Giô-suê biết ông không thuộc phe người Y-sơ-ra-ên, cũng không thuộc phe quân thù. Ông là tướng của đạo quân Đức Giê-hô-va, tức là các thiên sứ của Ngài (IIVua 6:15-17 Thi 103:20-21), chứ không phải là đồng minh (Gios 3:10). Vì nếu dân Y-sơ-ra-ên bội giao ước thì Đức Chúa Trời thánh khiết sẽ trở gươm nghịch lại họ (Le 26:25 Phu 28:15-26) như Y-sơ-ra-ên và A-can sẽ kinh nghiệm tại chiến trường A-hi (chương 7). Giô-suê sấp mình lạy thiên sứ. Thiên sứ không trả lời câu hỏi thứ hai của Giô-suê (14b) như đã trả lời câu hỏi trước. Thay vì nói về lịch trình các trận đánh, thiên sứ ra lệnh cho ông phải thờ phượng tốt hơn nữa. Dù đã phủ phục nhưng chân ông vẫn mang giày. Khi Giô-suê không còn mang giày, trận thánh chiến có thể bắt đầu.
3. CHIẾM ĐẤT (Gios 6:1-12:24)
Cuộc chinh phục xứ mất thời gian (Gios 11:18) và qua nhiều trận đánh (12:1-24). Tác giả chọn ra bốn trận chính để làm cơ sở lập luận cho thần học và lịch sử. Hai trận do dân Y-sơ-ra-ên khởi xướng tiến công vào thành Giê-ri-cô (6:1-27) và thành A-hi (7:1-8:29), còn hai trận kia do các liên minh dân Ca-na-an khởi xướng ở phía bắc (10:1-43) và phía nam (11:1-15). Các trận đánh chiếm hai thành trung tâm tạo cho dân Y-sơ-ra-ên một bàn đạp vững chắc và là trái độn cắt xứ làm đôi. Đức Chúa Trời can thiệp cách lạ lùng trong trận đánh chiếm Giê-ri-cô và trận đánh chống lại liên minh của các vua ở phía bắc. Còn một chiến thuật tuyệt vời đã đem lại thắng lợi cho trận đánh chiếm A-hi và trận đánh chống lại liên minh phía nam. Khoảng giữa giai đoạn này, dân Y-sơ-ra-ên cam kết giữ luật pháp Đức Chúa Trời khi ở trong xứ (8:30-34). Đó là mục đích của cuộc chiến.
1. Trận đánh Giê-ri-cô (Gios 6:1-27)
(Gios 6:1). Giới thiệu Giê-ri-cô (nay là Tell es-Sultan) có lẽ được dâng cho thần mặt trăng (vì Giê-ri-cô có nghĩa là ‘thành phố mặt trăng’) chiếm một vị trí chiến lược, có một ốc đảo lớn trong một vùng rất hiếm nước và kiểm soát các trục lộ chính đi vào nội địa.
(Gios 6:2-5). Chỉ thị của Đức Chúa Trời. Những chỉ thị của Đức Chúa Trời truyền cho Giô-suê bày tỏ bản chất của giao ước. Đức Chúa Trời nhân từ ban xứ cho dân Y-sơ-ra-ên cách rộng rãi, nhưng họ phải chiếm hữu bằng sự trung tín vâng phục (He 11:30 so sánh Gios 1:2-9). Lệnh đầu tiên là quân đội phải diễn hành chung quanh thành khoảng 600 m, mỗi ngày một lần trong sáu ngày, chỉ thị này là lời tuyên bố với họ rằng Vua thiêng liêng đã chọn thành này là của Ngài. Vua Giê-ri-cô và lực lượng của ông chống lại Y-sơ-ra-ên (24:11), nhưng họ bất lực như Satan và quân đội của hắn bất lực trước Chúa Cứu Thế và Hội Thánh của Ngài (Mat 12:22-29 Lu 10:18 Eph 6:10-18). Lệnh thứ hai là bảy thầy tế lễ cầm bảy cây kèn tiếng vang đi trước hòm giao ước để thổi hiệu lệnh tấn công. Hòm giao ước là ngai của Đức Chúa Trời (Gios 3:3). Lệnh thứ ba là bảy thầy tế lễ đi bảy lần vào ngày thứ bảy - con số bảy lập lại ba lần trong câu 14 để biểu thị sự trọn vẹn. Lệnh thứ tư là khi nghe tiếng kèn cuối thổi, họ phải bày tỏ đức tin bằng cách la to lên làm rung chuyển đất. Mệnh lệnh thứ năm là mỗi chiến sĩ tấn công vào thành ngay phía trước mặt, sau khi tường thành sụp đổ. Trận chiến kết thúc mỹ mãn khi họ ‘dâng’ thành cho Đức Chúa Trời (17-20).
(Gios 6:6-7). Mệnh lệnh của Giô-suê. Giô-suê lập lại mệnh lệnh đối với các thầy tế lễ rồi lập lại các mệnh lệnh với dân sự. Hòm giao ước được nhắc đến đầu tiên vì Đức Chúa Trời là Vua (so sánh Gios 3:2-4). Giô-suê có sáng kiến bố trí một số chiến sĩ cầm vũ khí làm quân tiền vệ đi trước các thầy tế lễ thổi kèn và những chiến sĩ khác làm quân hậu vệ đi sau hòm giao ước (9). Như thế, Vua thiêng liêng giữ đúng vị trí ở giữa các chiến sĩ thánh của Ngài. Cuộc diễn hành dài rộng bao nhiêu cũng không quan trọng.
(Gios 6:8-14). Thi hành mệnh lệnh Khi đạo quân thánh diễn hành các trang trọng, bảy thầy tế lễ thổi kèn còn các chiến sĩ cầm binh khí phải câm lặng như đá. Cuộc diễn hành này diễn ra trong sáu ngày. Lối hành văn dài dòng về một câu chuyện lạ lùng phù hợp với một cuộc diễn hành kéo dài.

(Gios 6:15-21). Giê-ri-cô sụp đổ Truyền thuyết kể rằng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, dầu vậy ngày này cũng không được phép ngăn chận cuộc thánh chiến. Mệnh lệnh của Giô-suê là dâng (tiếng Hi-bá-lai là h‘rem) thành cho Giê-hô-va bao gồm việc giết tất cả dân cũ để ngăn ngừa sự cám dỗ cho dân Y-sơ-ra-ên (Phu 20:16-18). Đôi khi, từ h‘rem gồm cả việc phóng hỏa thành (24, Gios 11:13), nhưng vào những dịp khác, từ này không bao gồm việc trưng thu tài vật của thành phố bị đánh chiếm (so sánh 8:26-27 11:14). Nguyên tắc này được thực hiện trong Hội Thánh qua sự dứt phép thông công (ICo 5:13) là nguyên tắc và kỷ luật đôi khi cần được áp dụng trong hiện tại.
Đạo quân thánh hoàn toàn tuân theo sự chỉ dẫn và khi họ cất tiếng la vang rền thì tường thành Giê-ri-cô sụp đổ. Bình quân mỗi thế kỷ có bốn lần xảy ra động đất lớn trong thung lũng Giô-đanh. Các cuộc đào bới tại Giê-ri-cô đã đưa ra bằng chứng rõ ràng, ít ra cũng có một bức tường gạch làm bằng đất bùn bị sụp đổ. Dữ kiện này làm cho thiên anh hùng ca càng thêm giá trị mà vẫn không chối bỏ điều diệu kỳ là Đức Chúa Trời đã tiên báo rất chính xác về một việc đã thành tựu.
(Gios 6:22-26). Ra-háp sống nhưng Giê-ri-cô bị huỷ diệt Phần kết luận câu chuyện chuyển giữa việc cứu Ra-háp (22-23,25) và việc phá huỷ thành (24,26) để so sánh số phận tương phản của Ra-háp và dân thành. Việc Đức Chúa Trời giữ trọn giao ước với Ra-háp dù nàng chỉ là một kỵ nữ người Ca-na-an (17b,22-23,25) được nhấn mạnh bằng cách nhắc lại sự kiện và mô tả chi tiết. Thời gian đầu, Ra-háp và cả gia đình phải sống ngoài trại quân (23) vì theo nghi thức thì họ chưa được tinh sạch (Le 13:46 Phu 23:3). Nhưng vào thời gian sách này được viết, con cháu của bà đã định cư vĩnh viễn giữa vòng người Y-sơ-ra-ên. Về một phương diện, Ra-háp vẫn còn sống trong dân Y-sơ-ra-ên mới qua hậu duệ của bà là Chúa Giê-xu Christ (Mat 1:5).
Tiên tri Giô-suê rủa sả bất kỳ người nào xây lại nền của thành phố đã được ‘phú dâng’ cho Giê-hô-va (so sánh IVua 16:34). Lời rủa sả tuy dưới dạng câu nói văn vẻ, chứ chẳng theo luật lệ nào nhưng rất thích đáng vì con đầu lòng thuộc về Giê-hô-va (Xu 13:1) cho nên con đầu lòng đó thế chỗ cho thành đã được dâng cho Đức Giê-hô-va.
(Gios 6:27). Danh tiếng của Giô-suê. Danh tiếng Giô-suê được truyền đi khắp nơi (27, Gios 3:7 4:14). Tóm lại, Ra-háp và Giô-suê sống nhưng Giê-ri-cô bị huỷ diệt để dâng lên cho Đức Giê-hô-va.
2. Trận chiến tại A-hi. (Gios 7:1-26)
Trận đánh chia làm hai giai đoạn, thất trận (Gios 7:1-26) và chiến thắng (8:1-29). Cả hai đều dạy những bài học về đức tin.
(Gios 7:1) Thất trận Ngay từ đầu, tác giả qui tội lỗi của A-can cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên. Quan niệm về tinh thần đoàn kết dân tộc chủ trương rằng hành động cá nhân có ảnh hưởng đến tập thể đã soi sáng cho các đoạn Kinh Thánh khác (IISa 21:1-9 Cong 9:4 Co 1:24) và là nền tảng cho giáo lý về nguyên tội của nhân loại trong A-đam và cho sự xưng công nghĩa của các thánh đồ qua Chúa Giê-xu Christ (Ro 5:12-19).
(Gios 7:2-5). A-hi có nghĩa không mấy đẹp: ‘điêu tàn’. Hiện nay, người ta vẫn chưa quả quyết được A-hi ngày xưa tọa lạc tại đâu, vì địa điểm theo truyền thống là Et Tell đã chứng tỏ rằng vào thời Giô-suê đánh chiếm Et Tell thì vẫn chưa có người ở. Cần phải nhận ra sự ngu dại và thất trận của dân Y-sơ-ra-ên trong ánh sáng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (1). Sai thám tử đi do thám Giê-ri-cô là một việc (Gios 2:1), nhưng rõ ràng việc này vi phạm chỉ thị của Đức Chúa Trời và cuộc thánh chiến, vì Giô-suê chủ động tiến công mà không cầu hỏi Đức Chúa Trời (Dan 27:21). Mỉa mai thay, Giô-suê phải bốc thăm sau khi bại trận (14). Các thám tử đã vi phạm tiêu chuẩn của cuộc thánh chiến khi họ cậy sức mạnh của ‘hàng ngàn’ (tốt hơn là dùng từ ‘đội quân’ xem Gios 4:13), chứ không trông cậy Đức Giê-hô-va. Nếu mỗi đội quân gồm mười lăm người thì con số ba mươi sáu người tử trận là thiệt hại 80% quân số. Khi giải thích về cuộc tháo chạy này, ta không chỉ qui lỗi cho những vi phạm trong cuộc thánh chiến, cũng không chỉ qui lỗi cho Giô-suê đã áp dụng chiến thuật đánh vào mặt tiền mà thôi. Nguyên nhân trực tiếp gây thất trận là cả hai.
(Gios 7:6-9). Giô-suê và các trưởng lão đau đớn xé áo mình (so sánh Sa 37:29,34 Cac 11:35) và sấp mình xuống trước hòm giao ước là nơi biệt riêng để cầu khẩn (so sánh 20:18,23,26-27). Họ buồn rầu than khóc và thành khẩn cầu hỏi Giê-hô-va về lý do thất trận (so sánh Es 6:11). Giô-suê cũng suýt oán trách Đức Chúa Trời như dân Y-sơ-ra-ên đã từng làm (so sánh Xu 14:21 16:2-8). Qua cái nhìn thiển cận và thiếu hiểu biết của Giô-suê thì họ thất trận quả là vô lý và nguy hiểm. Vì nếu người Ca-na-an lấy lại lòng tự tin rồi từ các đồn luỹ trên núi kéo nhau tràn xuống, thì dân Y-sơ-ra-ên có thể lâm nguy vì sông Giô-đanh đang dâng cao nước chận mất đường rút lui.
(Gios 7:10-15). Đức Giê-hô-va trả lời ngắn gọn, Hãy đứng dậy và Ngài nhấn mạnh đến tội lỗi của dân sự: Y-sơ-ra-ên đã phạm tội. Vì lừa dối Đức Chúa Trời - coi trọng sở thích và sự phán quyết của mình hơn lời Ngài - nên dân Y-sơ-ra-ên coi thường vinh hiển của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời bảo vệ danh dự của Ngài bằng cách biến họ thành h‘rem.
(Gios 7:16-23). Để giúp dân Y-sơ-ra-ên có lối thoát, Đức Chúa Trời ra lệnh cho trại quân tội lỗi phải tự làm nên thánh (Gios 3:5) và loại trừ h‘rem khỏi trại quân (13). Đức Chúa Trời chỉ ra kẻ phạm tội bằng những câu trả lời ‘phải’ hoặc ‘không phải’ qua sự bốc thăm thánh (so sánh 14:2 18:6 Xu 28:30). Ngài dùng phương pháp loại trừ để chỉ ra A-can (14,17). Đến lúc đó, kẻ phạm tội mới thú nhận hành động tội lỗi của mình. Mọi chuyện phơi ra trần trụi trước mặt Đức Chúa Trời (He 4:13). Sự sai phạm được sửa lại bằng cách thiêu đốt mọi điều thuộc về A-can để làm h‘rem vinh hiển mới cho Đức Chúa Trời. Có lẽ tài sản ăn cắp từ Giê-ri-cô có thể lây bệnh qua dân Y-sơ-ra-ên, cho nên phải thiêu trong lửa để diệt trùng (Gios 6:17,24). Trong thời đại Kinh Thánh, các gia đình sinh hoạt như một đơn vị, một khối dưới sự chỉ huy của người cha, chứ không như phong tục phương tây. Các gia đình đều tham gia vào giao ước với Đức Chúa Trời như là một nhóm (2:8-14,18). Và khi vi phạm giao ước thì họ cũng vi phạm với tư cách là một tập thể như trong trường hợp này. Có lẽ khi A-can giấu của cướp trong lều của gia đình thì cả gia đình đều biết (so sánh Cong 5:1-2).
Qua sự thừa nhận tội lỗi, A-can đã tôn vinh Đức Chúa Trời (19) vì như vậy ông công nhận Đức Chúa Trời là Đấng toàn tri, chủ tể, chân thật, thánh khiết. Điều đáng nói ở đây là A-can vô tín đã dùng từ của cướp để nói về h‘rem là của phú dâng. Ông quan niệm sai về cuộc thánh chiến. Đối với A-can, Giê-ri-cô là phần thưởng của ông, do ông giành được, chứ không phải là của Đức Chúa Trời và do Đức Chúa Trời giành lại. Cũng thế, những người theo chủ nghĩa duy vật coi nguồn tài nguyên của trái đất là của họ, chứ không phải của Đức Chúa Trời.
(Gios 7:24-26). Toàn thể Y-sơ-ra-ên phải tham gia ném đá chuộc tội (so sánh c.1). Đống đá tại A-cô (nghĩa là ‘thảm họa’) để ghi nhớ kết cuộc thảm khốc của tội phạm thượng của A-can (so sánh Gios 4:5-7).
3. Chiến thắng A-hi (Gios 8:1-29)
1-2 Trong trận đánh này, các qui ước của cuộc thánh chiến được tuân giữ rất nghiêm chỉnh. Trước hết, Đức Giê-hô-va ra lệnh tấn công, còn Giô-suê thi hành không sai sót nhưng cũng rất sáng tạo. Thứ hai, đội quân được lệnh chớ sợ hãi vì Đức Chúa Trời hứa ban cho họ sự chiến thắng (1:7-9). Trong cuộc tiến công lần thứ hai, họ nắm chắc phần thắng ngay từ bước đầu, cũng như đã nắm chắc phần thua ngay đầu trận đánh lần thứ nhất.
Tuy vậy, mỗi trận chiến trong cuộc chinh phục đều độc đáo. Thông thường, cuộc thánh chiến đòi hỏi tiêu chuẩn cắt giảm lực lượng để dân Y-sơ-ra-ên đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, chứ không tin vào sức mạnh của quân đội (Phu17:16 Cac 7:1-8). Tuy nhiên, trong trường hợp này, dân Y-sơ-ra-ên điều động toàn thể quân số. Trong chuyến thất bại lần trước, số quân được điều động ra trận tuy ít nhưng thật ra chỉ biểu hiện một niềm tin giả dối của dân Y-sơ-ra-ên (Gios 7:3). Giờ đây, họ bày tỏ đức tin bằng cách cho toàn thể quân sĩ kéo đi một lần nữa đánh trận với một kẻ thù đáng gờm. Trong trận đánh này, h‘rem của Đức Giê-hô-va gồm có thành phố và dân chúng, không có súc vật và kim loại quí (so sánh 6:17 7:15). Cuộc dàn binh bố trận này là một chiến thuật quân sự phổ thông, một cuộc mai phục khéo léo, không cần thầy tế lễ diễn hành như cuộc tiến công lạ lùng làm sụp đổ tường thành Giê-ri-cô. Khi rời khỏi Ai-cập, Đức Giê-hô-va của các đạo quân đã dùng Biển Đỏ và gió đông, chứ không phải lực lượng quân sự của dân Y-sơ-ra-ên để tiêu diệt đạo quân hùng hậu của Ai-cập (Xu 14:10-31). Nhưng trong trận kế tiếp chống lại dân A-ma-léc, Ngài giao gươm cho Giô-suê (17:8-16 so sánh Gios 1:1). Trong lịch sử Hội Thánh cũng thế, vào thời kỳ các Sứ đồ, có nhiều việc lạ lùng nhưng sau đó là những việc bình thường (so sánh He 2:3-4). Chúa Cứu Thế dùng cả hai phương thức để xây dựng Hội Thánh (Mat 16:19).
3-13 Đức Giê-hô-va ra lệnh cho họ phục kích để đánh lừa (so sánh Gios 2:2-7) . Không rõ số quân sĩ trong toán mai phục là bao nhiêu. Câu 3 nói có ba mươi đội quân (4:13) nhưng câu 12 nói có năm. Có người đề nghị đọc câu 3 là “ông sai ba mươi người trong số các chiến sĩ tinh nhuệ nhất, mỗi đội quân một người” (Boling, xem bên dưới, so sánh IISa 23:24-39). Tất cả số quân mai phục là năm đội quân. Cần lưu ý từ chiến sĩ trong câu 3 đổi thành người trong câu 12. Những lính mai phục phải đi con đường dốc dài 12 dặm (20 km) lên một ngọn núi, trong đêm tối, rồi ẩn núp sau ngọn đồi, những mô đá hoặc trong hang đá về phía tây thành A-hi (9,13). Sáng hôm sau, Giô-suê phát xuất phát từ Ghinh-ganh cùng với lực lượng chiến đấu chính, dàn binh phía bắc bên kia thung lũng trước mặt thành A-hi. Đêm đó là đêm thứ hai đối với các đội quân mai phục đã sẵn sàng hoàn toàn, Giô-suê đi tuần soát thung lũng, nơi chiến trận sẽ diễn ra để bảo đảm cho chiến thuật phục kích của ông được thành công.
14-17 Đối với vua A-hi cuộc bày binh bố trận của Giô-suê chẳng qua chỉ là chuyện như lần trước. Sáng sớm hôm sau, vua nhanh chóng gom binh và kéo ra trận địa để nghinh chiến với hi vọng quân của Giô-suê sẽ tháo chạy như lần trước. Giô-suê giả vờ rút lui tháo chạy y như lần trước cho thật tốt nhằm làm cho vua A-hi không chút nghi ngờ. Để tiêu diệt đám quân đang chạy trốn, vua kéo hết quân sĩ ra khỏi thành, và ra khỏi đền thờ (gọi là Bê-tên so sánh Cac 20:18, chú thích bên lề bản NIV) là vị trí phòng thủ cuối cùng của thành. Bê-tên (theo nghĩa đen là ‘nhà của Đức Chúa Trời’) không phải là địa danh nhưng là một từ mô tả về đền thờ của thành A-hi (R. G. Boling và G.E. Wright, Anchor Bible, Giô-sue, trang 240).
18-23 Đến giây phút quyết định, Đức Giê-hô-va can thiệp và ra lệnh cho Giô-suê đưa cao kidôn, tức ngọn giáo, hoặc đúng hơn là gươm cong lưỡi hoặc mã tấu. Việc giơ cao cây giáo hướng về A-hi tượng trưng cho chủ quyền tối cao của Đức Giê-hô-va trên thành phố. Câu 19 bản Kinh Thánh tiếng Hi-bá-lai chép rằng các lính mai phục vội rời bỏ chỗ ẩn núp. Khi Giô-suê vừa ra hiệu, họ xông tới trước và tiến vào thành. Lúc này, đội quân chính của Y-sơ-ra-ên quay lại đánh những người đuổi theo họ. Khi những người bất hạnh này quay lại, họ nhìn thấy khói bốc lên trên thành của mình, trong khi năm đạo quân của Y-sơ-ra-ên hợp nhau đột kích từ phía sau.
24-27 Theo qui ước của cuộc thánh chiến chống dân Ca-na-an, toàn thể mười hai đội binh của thành A-hi cùng vợ con của họ là h‘rem - vật đáng diệt của Đức Chúa Trời (26 và chú thích bên lề bản NIV).
28-29 Thành phố bị thiêu rụi, sự đổ nát, ngôi mộ của vua và đống đá ngay cổng thành là những vết tích (so sánh Gios 4:5-7) xác minh biến cố thật sự xảy ra. Vua A-hi bị treo trên cây, có lẽ là cây trụ, để mọi người biết rằng ông bị Đức Chúa Trời rủa sả. Theo luật pháp, người ta đem ông xuống trước khi trời tối (Phu 21:23). Cũng thế, trong Tân Ước, vua Y-sơ-ra-ên “chuộc chúng ta... bằng cách trở nên sự rủa sả cho chúng ta trên cây gỗ” (Ga 3:13). Người ta cũng hạ xác Ngài xuong lúc mặt trời lặn (Gi 19:31).
4. Tái công nhận giao ước tại núi Ê-banh (Gios 8:30-35)
Tác giả tạm ngưng kể chuyện chiến tranh để tường thuật việc dân Y-sơ-ra-ên tái công nhận giao ước tại Si-chem như Môi-se đã chỉ thị (Phu 11:29). Họ phải công bố cho mọi người biết những yêu cầu và điều luật của Đức Chúa Trời. Bàn thờ tượng trưng cho việc Đức Chúa Trời có quyền hạn trên đất đai (so sánh Sa 12:8) và luật pháp xác định tính cách cai trị của Ngài. Trong dân Y-sơ-ra-ên cây nho không được tỉa sửa (Le 25:5,11) và tóc không cạo (Dan 6:5) biểu tượng về vật thánh khiết dâng lên Đức Chúa Trời. Cũng thế, bàn thờ bằng đá chưa gọt đẽo thuộc về Đấng Tạo Hoá. Núi Ê-banh ở về phía bắc Si-chem (tên mới là Nablus), núi của sự rủa sả, và núi Ga-ri-xim thấp hơn ở phía nam Ê-banh (33). Người ta cho rằng dân Y-sơ-ra-ên được tự do tiến đến cả hai khu vực này vì họ ký hoà ước sống chung với dân Si-chem (xem chương 24 so sánh Sa 34:1-31 Cac 9:1-57) hoặc vì dân Ca-na-an quá sợ nên rút trốn vào trong đồn luỹ, không dám đụng độ với họ trong vùng dân cư thưa thớt này. Núi Ê-banh, ngọn núi rủa sả, được chọn là nơi thích hợp để lập bàn thờ vì tại đó, Đức Chúa Trời đã cất đi sự rủa sả của tội nhân.
Của lễ thiêu tượng trưng rằng dân Y-sơ-ra-ên hoàn toàn biệt riêng cho Đức Chúa Trời và cũng dùng làm của chuộc cho họ. Của lễ thù ân là của lễ họ phải ăn để kỷ niệm mối liên hệ của họ với Đức Chúa Trời. Những của lễ này cũng được dâng tại núi Si-nai khi dân Y-sơ-ra-ên công nhận giao ước lập lần đầu tiên (Xu 24:5). Những của lễ này báo trước huyết Chúa Cứu Thế được dùng để lập giao ước mới (Lu 22:20). Người ta tìm thấy một bàn thờ trên núi Ê-banh và theo nhà khai quật A. Zetal, đó là bằng chứng khoa học phù hợp với những chi tiết mô tả trong Kinh Thánh.
Vì Giô-suê đang làm theo luật pháp Môi-se, nên mặc nhiên độc giả cho rằng những tảng đá lớn được phủ thạch cao và người ta khắc luật pháp trên đó (32 so sánh Phu 27:1-8). Không rõ phần nào trong nội dung của luật pháp được ghi khắc trước mặt Hội đồng trọng thể của dân Y-sơ-ra-ên. Độc giả cũng nên mặc nhiên hiểu rằng trong khán đài thiên nhiên âm thanh truyền đi thật tuyệt vời khi sáu chi phái đọc lời rủa sả dành cho những người không vâng phục trên núi Ê-banh, và sáu chi phái còn lại đọc lời chúc phước dành cho những ai vâng lời trên núi Ga-ri-xim (33 so sánh Phu 27:1-26). Các chi phái, người Y-sơ-ra-ên chánh gốc lẫn người nhập tịch đứng đối diện với thầy tế lễ khiêng hòm giao ước là ngai thiêng liêng của Đức Chúa Trời (Gios 6:6-7). Sau đó, trước sự hiện diện của toàn thể dân sự trong vương quốc của Đức Chúa Trời, Giô-suê đọc luật pháp là phần cốt lõi của giao ước giữa Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời được diễn đạt bằng những lời chúc phước và rủa sả (34-35 so sánh Phu 11:26 30:1).
5. Hòa ước với dân Ga-ba-ôn (Gios 9:1-27)
Hoà ước với dân Ga-ba-ôn là một ngoại lệ trong qui ước của cuộc thánh chiến. Câu chuyện này cho chúng ta thấy dân Y-sơ-ra-ên đã có thể tự quyết định trong trường hợp họ cho là ngoại lệ so với luật pháp. Thường hay xảy ra trường hợp thoả hiệp như ở đây (14) và như trong những trường hợp ly dị, chỉ vì họ không cầu hỏi Đức Chúa Trời trước hết. Trong thời đại các quan xét, dân Y-sơ-ra-ên ràng buộc mình vào những hiệp ước hoà bình với các dân tộc đáng bị huỷ diệt nên đã vi phạm h‘rem (Gios 6:15-21), vì vậy Đức Giê-hô-va không còn đuổi dân Ca-na-an nữa (Cac 2:1-5). Ngày nay, có nhiều người chọn chung sống hoà bình với thế gian nên đã đánh mất năng quyền thuộc linh.
(Gios 9:1-2). Liên minh Ca-na-an Chính sách ngoại giao hiếm có của dân Ga-ba-ôn trái ngược với ý định chống lại dân Y-sơ-ra-ên của các liên minh xứ Ca-na-an khác (Gios 10:1-11:23). Dân Ga-ba-ôn đánh liều đến cầu hoà bình vì không muốn chiến tranh. Nhưng không may, dù họ có kính sợ Đức Chúa Trời nhưng họ không chọn giải pháp thứ ba, tức là hoàn toàn lệ thuộc vào giao ước như Ra-háp đã làm (2:8-14). Cũng thế, khi đối diện với Chúa Cứu Thế và Phúc Âm của Ngài, con người có thể chọn một trong ba thái độ sau đây: chống lại Ngài, chung sống hoà bình với Ngài nhưng không phục tùng, hoặc hoàn toàn trở thành chi thể trong giao ước mới qua huyết Ngài và qua sự tái sanh thuộc linh.
(Gios 9:3-13). Mưu kế của dân Ga-ba-ôn. Ga-ba-ôn và bốn đồng minh nữa đều là dân Hê-vít (7) nhắc chúng ta nhớ rằng họ là một trong các dân tộc bị kết án. Quan niệm phổ biến đồng nhất Ga-ba-ôn với El-Jib, cách Giê-ru-sa-lem 8 dặm (13 km) về phía tây vẫn còn là vấn đề nghi ngờ. Họ đến với Giô-suê lập lại những lời nói mưu cầu hoà bình mà họ đã thuộc lòng, Giô-suê là người phải chịu trách nhiệm về mọi chuyện xảy ra, dù có vẻ như ông cho phép các trưởng lão được tham dự vào cuộc thương lượng (6,8b,15).
Dân Ga-ba-ôn hi vọng chung sống hoà bình vì chính sách của dân Y-sơ-ra-ên là hoà bình với những thành sẵn sàng phục tùng và sống xa cách Y-sơ-ra-ên, chứ không hoà bình với các dân tộc bị đoán phạt là những dân tộc có thể làm cho họ bị ô uế (Phu 20:10-15). Vì vậy, dân Ga-ba-ôn giả vờ như từ xa đến.
Trong chiến tranh, lừa dối là chuyện cần thiết có thể chấp nhận, nhưng không thể chấp nhận chuyện dối gạt trong hiệp ước (Gios 2:2-7), cho nên Giô-suê đã rủa sả họ (23). Thật ra, Giô-suê và các trưởng lão đã sai lầm vì quyết định theo khôn ngoan riêng thay vì cầu hỏi Đức Chúa Trời (14). Hội Thánh không nên dùng sự khôn ngoan riêng thay cho Lời của Đức Chúa Trời, dù cách làm đó hấp dẫn đến đâu.
(Gios 9:14-15). Hoà ước với Ga-ba-ôn. Có lẽ Y-sơ-ra-ên ăn, nếm (dùng từ ‘nhận’ thì đúng hơn) thực phẩm của dân Ga-ba-ôn vì đó là một phần nghi thức khi lập giao ước. Cuối cùng, chính dân Y-sơ-ra-ên phạm sai lầm vì không cầu hỏi Đức Giê-hô-va, chứ không phải là dân Ga-ba-ôn.
(Gios 9:16-18). Phát hiện mưu kế của dân Ga-ba-ôn Chỉ ba ngày sau, dân Y-sơ-ra-ên khám phá ra mưu kế của dân Ga-ba-ôn, và mất thêm ba ngày nữa đi từ Ghinh-ganh đến liên minh Ga-ba-ôn xa 17 dặm (27 km) để xác chứng. Bốn thành tạo nên liên minh này kiểm soát các con đường dẫn đến Giê-ru-sa-lem từ phía tây bắc, cho nên họ sống trên trục lộ giao thông chính trong địa phận Y-sơ-ra-ên. Hội chúng Y-sơ-ra-ên lập tức than phiền các quan trưởng vì sự tồn tại của dân ngoại đạo này đe doạ sự sống còn của dân Y-sơ-ra-ên.
(Gios 9:19-27). Nghị quyết Trong ba câu liên tiếp (18, 19, 20) nhấn mạnh đến ba lần vấn đề dân Y-sơ-ra-ên không được phá lời thề mà sỉ nhục danh Đức Giê-hô-va, dù họ đã bị lừa gạt (so sánh Xu 20:7 IISa 21:1-14 Mat 5:33-37). Đây là lẽ thật hiện nay cần được khẳng định lại vì người ta dễ dàng xé bỏ sự thề ước trong hôn nhân hoặc những hợp đồng trong kinh doanh. Các trưởng lão giải quyết vấn đề không thể xé bỏ một giao ước đạt được do mưu mô lừa gạt của phía bên kia bằng cách gán cho từ ‘tôi tớ’ những công việc cực nhọc nhất tức là người Ga-ba-ôn phải đốn củi và xách nước cho toàn thể hội chúng. Giô-suê còn thêm những công việc phục dịch liên hệ đến sự thờ phượng nữa.
6. Chinh phục phía nam (Gios 10:1-43)
Chiến dịch phía nam gồm hai giai đoạn: cuộc tháo chạy của năm vua A-mô-rít bao vây Ga-ba-ôn và sau đó là đánh chiếm các đế đô và kiểm soát lãnh thổ.
(Gios 10:1-28). Chiến trận Ga-ba-ôn. 1-7 Cuộc chinh phục A-hi, và nhất là sự đầu hàng qui phục của Ga-ba-ôn, thúc đẩy vua Giê-ru-sa-lem liên minh với bốn đế đô khác rồi bao vây Ga-ba-ôn. Các đế đô độc lập trong thời Y-sơ-ra-ên thường liên kết quân sự để chống trả quân thù (so sánh Sa 14:1-3). Căn cứ vào một bức thư trong mớ thư từ cổ Amarna (khoảng 1.350 T.C.), người ta suy luận rằng Ga-ba-ôn là một phần trong vương quốc Giê-ru-sa-lem bao gồm hầu hết các miền núi xứ Giu-đê. Bị liên minh hùng hậu này tấn công, Ga-ba-ôn cầu cứu Giô-suê xin ông làm trọn trách nhiệm theo như hoà ước của Y-sơ-ra-ên và đến cứu giúp họ. Y-sơ-ra-ên bày tỏ dũng khí khi đối diện với sự thử thách đầu tiên này.
Vua Giê-ru-sa-lem, A-đô-ni-xê-đéc (nghĩa là ‘Đức Chúa Trời của tôi là công nghĩa’) cai trị thành phố gồm có dân A-mô-rít và Hê-tít, cả hai dân này đều bị huỷ diệt để dâng cho Đức Chúa Trời (xem Gios 6:15-21 so sánh Phu 7:1). Thế giới quan của A-đô-ni-xê-đéc khiến ông không hiểu rằng chiến thắng của Y-sơ-ra-ên là do Đức Giê-hô-va, không phải do Giô-suê, vì vậy theo suy luận của ông thì đây là chuyện đối đầu của hai bên quân đội. Dân Ga-ba-ôn nghe danh tiếng Đức Giê-hô-va (Gios 9:9-10), còn A-đô-ni-xê-đéc nghe danh tiếng của Giô-suê. Các chiến sĩ tinh nhuệ của vua (2) giống các hiệp sĩ thời trung cổ (so sánh ‘các chiến sĩ’6:2) được huấn luyện kỹ. Họ khá giàu có nên có thể tự trang bị vũ khí tốt. Vào thời điểm này, người Ai-cập kiểm soát Ca-na-an và La-ki (tên mới là Tell ed-Duweir) là thủ phủ của tỉnh.
8-15 Chiến trường Ga-ba-ôn đã cống hiến cho vị chiến binh thiên thượng một sân khấu làm phép lạ. Đây là lần thứ ba Đức Chúa Trời can thiệp cách lạ lùng vì cớ dân Y-sơ-ra-ên và cũng là lần cuối cùng (so sánh các chương 3-4,6). Theo qui ước của cuộc thánh chiến, Đức Giê-hô-va ra chỉ thị, có lẽ sau khi được cầu hỏi Ngài ra lệnh cho Y-sơ-ra-ên không được sợ hãi, Ngài hứa ban cho họ chiến thắng (8) khiến quân thù hoảng sợ khi Giô-suê bất ngờ tấn công sau một đêm đi 22 dặm (35 km) đường núi ngoằn nghèo, từ Ghinh-ganh lên đến Hếp-rôn (9-10) và Ngài giáng một trận mưa đá lớn xuống đám quân tháo chạy về đồn luỹ của họ dưới chân núi (11) (so sánh Xu 14:24 Cac 4:15 Thi 77:17-19). Khi ngẫm nghĩ về tấn thảm kịch này, tiên tri Ê-sai mô tả về Đức Giê-hô-va là Ngài dấy lên (Es 28:21).
Áp dụng phương thức kể đi rồi nhắc lại, tác giả giành điểm ngoạn mục nhất cho phần cuối cùng - chiến thắng tại đèo Bết Hô-rôn (12-15). Trong cảnh này, đoàn hộ tống của Đức Giê-hô-va, mặt trời và mặt trăng, góp phần hỗ trợ cho Giô-suê. Quân Ca-na-an leo lên các sườn đồi về phía tây Ga-ba-ôn (là phía Giô-suê kéo quân cứu viện đến sau một đêm leo núi vất vả) và nhìn về hướng đông thấy mặt trời chói lòa chiếu trên Ga-ba-ôn khi trận chiến bắt đầu. Để chiếm ưu thế, Giô-suê cầu xin Đức Chúa Trời ra lệnh cho mặt trăng, mặt trời là thuộc cấp của Ngài phải dừng lại cho đến khi Y-sơ-ra-ên báo thù quân nghịch (nghĩa là chứng minh chủ quyền của dân Y-sơ-ra-ên bằng cách chiến đấu hỗ trợ cho họ). Lạ lùng thay, Đức Giê-hô-va bắt các tinh tú trên trời phải phục tùng mệnh lệnh của một người trên mặt đất. Có thể mặt trời là vị thần chính tại Ga-ba-ôn như thể mặt trăng là vị thần chính tại Giê-ri-cô (Gios 6:1). Tác giả trưng dẫn tư liệu trong sách Gia-xa (‘Sách của Đấng Công chính’) có lẽ là một tác phẩm thi ca đời xưa hoặc là tuyển tập các bài quốc ca tán dương các anh hùng Y-sơ-ra-ên (so sánh IISa 1:18-27).
Nhiều người tìm cách dịch c.12-13 trong bản Hi-bá-lai để có thể giải thích biến cố theo hướng thiên nhiên. Một số học giả cho rằng đây là tình trạng nhật thực. Số học giả khác cho rằng mặt trời đứng dừng lại mà vẫn chiếu sáng, và cụm từ ước một ngày trọn phải dịch là ‘cho đến khi xong một ngày’. Một quan điểm khác khẳng định rằng đoạn văn ám chỉ trận mưa đá buổi sáng sớm làm cho bầu trời tối đen lại cho đến khi quân thù bị đánh bại và họ dịch câu 13 là “Mặt trời ngừng chiếu sáng giữa bầu trời và không vội mọc lên cho đến khi xong một ngày”. Mặc dù trong tiếng Hi-bá-lai, từ được dịch là đứng và ngừng lại song vẫn có nghĩa ‘ngừng chiếu sáng’, nhất là trong thi ca, tác giả dùng cụm từ ở giữa trời để bổ nghĩa cho động từ ngừng lại (13b), chứ không bổ nghĩa cho ‘chiếu sáng’, nên coi như tác giả ủng hộ bản dịch và diễn giải như xưa nay. Tương tự như thế, nếu chúng ta dùng cụm từ dừng lại không lặn xuống trong bản NIV thay cho cụm từ ‘không vội mọc lên’, hoá ra chúng ta cưỡng ép ý của từ đó trong tiếng Hi-bá-lai. Cách dịch này tuy hay, nhưng với chủ ý là làm sao cho thích hợp với những qui luật trong khoa học, chứ không phải muốn dịch theo ý bình thường của câu đó. Cũng có nhiều người xếp đoạn văn này vào loại huyền thoại được lịch sử hoá (xem R. G. Boling trong Anchor Bible), nhưng cách giải thích này phá hoại uy tín của tác giả được hà hơi.
Có những học giả khác phủ nhận cách giải thích khoa học. Họ coi “hiện tượng này là một trong vô vàn phép lạ mà Kinh Thánh kể lại cho chúng ta... một ‘dấu kỳ’ của sự can thiệp thiêng liêng phi thường đem ân điển nhưng không đến cho con người và không thể hiểu theo cách nào khác được” (J. A. Soggin, Giô-suê - SCM trang 123). Có người so sánh lệnh của Giô-suê truyền cho mặt trời với lời cầu nguyện của Agamemnon xin thần Zeus đừng cho mặt trời lặn cho đến khi dân Achacans chiến thắng.
16-21 Chúng ta trở lại với trận chiến Ga-ba-ôn. Giô-suê không cho quân đội dừng lại để hành hình năm vua đang trốn trong hang đá Ma-kê-đa theo tin tình báo. Thay vào đó, ông hạ lệnh cho một đơn vị lấp miệng hang bằng những tảng đá lớn rồi canh giữ hang, trong khi lực lượng chính đuổi theo dân Ca-na-an đang tháo chạy, cắt đứt đường rút lui của họ về thành phố kiên cố ở phía tây. Tuy nhiên, vẫn còn một số thoát được (so sánh 28-29). Sau đó, đội quân trở về trại lúc này đóng tại Ma-kê-đa. Chẳng một ai dám nói nghịch lại đội quân thắng trận này (so sánh Xu 11:7, từ ‘sủa’ trong câu này tương đương với từ trong tiếng Hi-bá-lai được dịch ở đây là thốt ra một lời). Với uy thế đó, chẳng bao lâu nữa họ sẽ được nghỉ ngơi yên ổn.
22-27 Bây giờ là lúc hành quyết năm vua. Giô-suê lợi dụng tình huống này để củng cố tinh thần quân sĩ cho các trận chiến sau này. Trước mặt toàn thể quân đội, ông chỉ thị cho các quan tướng làm theo tục lệ phổ biến đời xưa là đạp chân lên cổ các vua bị hạ nhục (so sánh IVua 5:3 Thi 110:1 ICo 15:25-28). Bởi vì Đức Giê-hô-va đã truyền lệnh cho Giô-suê ngay từ đầu cuộc chinh phục (Gios 1:8), nên lúc này Giô-suê hạ lệnh cho họ không được sợ hãi, vì năm vua này là bằng chứng của Đức Chúa Trời cho những chiến thắng trong tương lai. Sau đó, Giô-suê giết họ. Ông treo năm vua lên cây trụ cho đến tối như ông đã làm đối với vua A-hi để cho Y-sơ-ra-ên nhìn thấy mà kính sợ Đức Chúa Trời, mà không sợ người Ca-na-an. Các tảng đá chận trước cửa hang trở thành đài kỷ niệm ghi nhớ cuộc chinh phục lạ lùng của Giô-suê (so sánh 4:5-7). Sự hành hình các vua này báo trước sự đại bại nhục nhã của Sa-tan (so sánh Sa 3:15).
29-39 Hủy phá bảy thành của dân A-mô-rít. Sau đó, tác giả liệt kê ra bảy đội quân bị Giô-suê tiêu diệt và sáu đế đô ông đánh chiếm và dâng làm h‘rem.
(Gios 10:40-43). Tóm lược Ba khu vực địa lý chính của xứ Giu-đa là vùng đồi núi, vùng Negev và các vùng quanh chân núi đều bị chinh phục trong chiến dịch này. Mặc dầu còn phải chiếm nhiều vùng nữa (Gios 13:1-7), nhưng lực lượng chủ chốt của dân Ca-na-an đã bị bẻ gãy với ý nghĩa đó chúng ta có thể nói rằng Giô-suê đã chinh phục toàn bộ khu vực.
7. Chinh phục phía bắc (Gios 11:1-23)
1-15 Cũng như cuộc chiến ở phía nam, cuộc chiến ở phía bắc gồm hai giai đoạn: cuộc tháo chạy tại hồ nước Mê-rôm (11:1-9) và sau đó là cuộc đánh chiếm các thành (11:10-15). Các dân tộc bị đoán phạt hiệp nhau chống lại dân Y-sơ-ra-ên trong một trận chiến quyết định gay go nhất (so sánh 3:10 9:1-2).
(Gios 11:1-9). Trận chiến tại hồ nước Mê-rôm 1-5 Người triệu tập liên minh Ca-na-an là Gia-bin, vua cai trị tại Hát-so (Cac 4:2). Vào thời của Giô-suê, Hát-so (tên mới là Tell Qedah) là một thành phố kiên cố, chiếm một diện tích 200 mẫu Anh (80 hecta) với dân số khoảng 40.000 người. Hát-so là một trong các thành chính nằm trên trục lộ thương mại giữa Ai-cập và Mê-sô-bô-ta-mi. Khảo cổ học và văn chương vùng Cận Đông chứng thực cho câu nói Hát-so là thủ đô của các vương quốc này (10).
Tác giả trình bày liên minh của Gia-bin cấu kết thành ba quĩ đạo. Chỉ huy đạo quân này là Gia-bin (1a). Tập hợp chung quanh ông là ba vua xứ Ga-li-lê: từ Ma-đôn (gần Qarn Hattin ngay trung tâm xứ Ga-li-lê), Sim-rôn (không rõ vị trí) và Ac-sáp (trong xứ A-se, Gios 19:25). Tăng cường cho ba vua này là các vua vùng lân cận: ở phía bắc từ miền núi vùng cao nguyên xứ Ga-li-lê, ở phía nam từ Ki-nê-rết và thung lũng Giô-đanh phía nam hồ Ki-nê-rết, ở phía tây từ Đô-rơ, một hải cảng nổi tiếng tọa lạc ngay phía nam núi Cạt-mên (2). Để xây dựng được một lực lượng hùng hậu, họ tập hợp tối đa các vua ở tận miền xa xôi phía nam và phía bắc (3). Về lực lượng phía nam xa xôi, nên đọc câu 3 là: “đến với dân Ca-na-an ở về phía đông và về phía tây, đến với dân A-mô-rít: (ở giữa họ), đến với dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít ở trong miền đồi núi”. Từ phía bắc xa xôi, dân Hê-vít đến từ dưới núi Hẹt-môn trong xứ Mích-ba (chưa định vị được và có nghĩa ‘coi chừng’). Các liên minh này được trang bị bằng vũ khí tối tân trong thời của họ, xe ngựa loại nhẹ, có thể tháo ra và lắp lại để chiến đấu trong miền đồng bằng. Họ gặp nhau để đánh một trận quyết định tại vùng cao nguyên phía bắc Jebel Jermaq, cách Mê-rôm khoảng 2.5 dặm (4 km) về phía đông bắc.
6-9 Một lần nữa, Y-sơ-ra-ên tuân theo các qui luật của cuộc thánh chiến: Giô-suê cầu vấn Đức Chúa Trời, và Ngài ban cho đạo quân của ông sự khích lệ cần thiết để chống lại lực lượng hùng hậu của quân thù Ngài cho họ biết thời điểm của trận đánh và chiến thuật cần áp dụng. Khi các chiến sĩ của Giô-suê đánh què chân ngựa thì những người cỡi ngựa buộc phải chạy bộ để thoát thân. Thế là quân Y-sơ-ra-ên đuổi theo họ. Sau đó, quân Y-sơ-ra-ên quay lại và ung dung đốt các xe ngựa do quân thù chế tạo (9). (Một chiến thuật ngược lại với phép lạ, Gios 8:1-2 9:1-2 10:8-15).
Bấy giờ, Giô-suê và đội quân can trường của ông bất ngờ xông vào đánh phủ đầu quân địch (7). Một lần nữa, cuộc tháo chạy lại diễn ra (8 so sánh 10:9-11). Liên minh bất khiết tan rã, một số chạy trốn về hướng tây bắc, còn những người khác chạy về hướng đông bắc, ai nấy chạy thục mạng ra khỏi chiến trường. Tuân theo các qui luật thánh chiến, Giô-suê không chừa một người nào cả.
(Gios 11:10-15). Chiếm thành phố. Số phận của các thành phố bị chiếm giống bản liệt kê trong 10:28-39. Như trong trường hợp Giê-ri-cô, thành phố Hát-so kiêu kỳ hoàn toàn bị huỷ diệt (h‘rem), không một vật gì còn lại và chính thành phố cũng bị thiêu đốt (so sánh 6:15-21). (Về bằng chứng khảo cổ của Hát-so, xin xem phần dẫn nhập: Niên đại của cuộc chinh phục). Tuy nhiên khác với trường hợp của Giê-ri-cô, không có lời rủa sả nào trên người tái thiết thành sau này (so sánh Cac 4:2). Dân Y-sơ-ra-ên không đốt các đế đô khác. Như khi đánh chiếm A-hi, họ giữ lại của cướp (so sánh 8:24-27), theo như Đức Giê-hô-va ra lệnh cho Môi-se (Phu 6:10-11). Lệnh truyền của Môi-se ‘chớ để sống một vật nào có hơi thở’ (20:16) phải hiểu là loài người, không phải súc vật. Được Đức Giê-hô-va hoàn toàn cho phép, dân Y-sơ-ra-ên thu đoạt bầy gia súc cho mình (12-15).
(Gios 11:16-23).Tóm tắt cuộc chinh phục Phần tóm tắt chiến dịch phía nam (Gios 10:40-41) phù hợp với phần tóm tắt của toàn thể chiến dịch. Khác với câu 2, A-ra-ba là toàn bộ vùng thung lũng có dốc đứng từ phía trên biển Ga-li-lê đến vịnh Eilat. Núi Halak (‘Núi Trọc’) là Jeleb Halaq, cách xa Bê-e-sê-ba về phía đông nam và Sê-i-rơ là Ê-đôm. Ba-anh-gát, đối diện với hướng bắc nam, có thể là Banias nơi chân núi Hẹt-môn, và là nguồn của sông Giô-đanh (17). Căn cứ vào tuổi tác của Ca-lép, và nếu hiểu các con số theo nghĩa thông thường thì cuộc chinh phục lâu ngày (18) có thể là bảy năm. Khi bắt đầu cuộc chinh phục (so sánh 14:7 Phu 2:14), Ca-lép được bảy mươi tám tuổi, và khi kết thúc ông được tám mươi lăm tuổi (14:10).

Không một người Ca-na-an nào, ngoại trừ Ra-háp và gia đình nàng, và chỉ có dân Ga-ba-ôn tìm kiếm hiệp ước hoà bình, vì Đức Giê-hô-va khiến cho lòng những người còn lại chai đá để bị chém giết (20 9:1-2). Căn cứ vào trường hợp tương tự như chuyện Pha-ra-ôn chống nghịch Môi-se, người ta suy ra tấm lòng của dân Ca-na-an chống lại Giô-suê là tấm lòng chai lì tự nhiên giống như toàn thể nhân loại vậy (Xu 7:11-14 ICo 2:14). Khi đối diện với việc làm lạ lùng của Đức Chúa Trời qua đầy tớ Ngài, họ chai lì cứng cỏi như trường hợp của Pha-ra-ôn (so sánh Xu 8:32 9:34), rồi Đức Chúa Trời làm cho họ cứng lòng luôn (so sánh 10:1). Mọi người đều chết trong tội lỗi và đáng bị Đức Chúa Trời phán xét nhưng nhờ lòng thương xót của Đức Chúa Trời mà Ngài ban sự sống mới cho những người tìm kiếm Ngài (Ro 9:10-18). Phần tóm tắt trong câu 23 nhắc lại Gios 1:3. Ở chỗ khác, tác giả cho biết cuộc chinh phục chưa hoàn tất với những lời lẽ rõ ràng hơn (3:1 15:63 16:10). Về sự yên nghỉ, xem 1:12-15 và 10:21. Thời gian lang thang đây đó của dân Y-sơ-ra-ên đã chấm dứt. Một khi lực lượng kháng cự có tổ chức đã tiêu tan thì đến lúc có thể phân chia đất đai (23 1:6).
8. Phụ đính: danh sách các vua bại trận (Gios 12:1-24)
Chương này tóm tắt việc dân Y-sơ-ra-ên đánh thắng và giết các vua rồi chiếm đất đai của họ. Đồng thời, chương này là phần chuyển tiếp từ cuộc chinh phục (các chương 1-11) sang việc phân chia đất (các chương 12-21). Bản liệt kê này xác chứng cho các chương 6-11. Nhiều lần Giô-suê lập đi lập lại cuộc thay đổi chủ quyền đất đai từ các vị vua cũ gian ác sang Đức Chúa Trời, vua cai trị mới và các chi phái của Ngài sẽ là những người thánh hoá đất hứa. Sự thay đổi này minh hoạ nhiều lẽ thật. Trước nhất, vương quốc công nghĩa của Đức Chúa Trời xứng đáng thay thế các vương quốc bất nghĩa trên thế gian này. Vua các nước đã tiếm quyền cai trị của Ngài trên đất (3:9-13 8:30-35). Thứ hai, trong ngày xét đoán Đức Chúa Trời sẽ loại trừ kẻ ác ra. Thứ ba, kẻ ác không thể đứng nổi trước đội quân thánh làm theo sự khải thị của Đức Chúa Trời và tin cậy Ngài (1:5 10:8). Thứ tư, Đức Chúa Trời hằng sống giữ lời Ngài đã hứa ban đất này cho tổ phụ và con cháu họ. Nay, Ngài thực hiện lời hứa đó nhưng chưa hoàn tất (1:6). Cuộc chinh phục nhắc Hội Thánh nhớ rằng Đức Chúa Trời, Đấng giữ đúng giao ước, sẽ ban cho dân sự của Ngài trời mới và đất mới như Ngài đã hứa, và để đáp lại, họ phải kiên nhẫn chờ đợi để nhận sản nghiệp của mình (He 11:39-40). Thứ năm, dân sự hiệp nhất của Đức Chúa Trời, cả các chi phái ở phía đông, lẫn các chi phái ở phía tây sông Giô-đanh, đánh đuổi các vua bất hợp pháp và thừa hưởng đất hứa (Gios 1:12-15).
Bản tóm tắt được chia làm hai phần: Y-sơ-ra-ên chinh phục và ổn định đất phía đông Giô-đanh (1-5) và Giô-suê chinh phục các vua phía tây Giô-đanh (6-24).
(Gios 12:1-5). Môi-se chinh phục và ổn định đất phía đông Giô-đanh Trước hết tác giả nhắc độc giả nhớ lại tình trạng chóng tàn của các vương quốc phía đông Giô-đanh:
1 Khe Ạt-nôn rộng lớn, suối cạn El-Mujib, về phía đông Giô-đanh đối diện Ên-ghê-đi là biên giới thiên nhiên trước kia làm ranh giới giữa miền nam của dân Mô-áp và miền bắc của dân A-mô-rít (Cac 11:18-19). A-ra-ba ở đây là thung lũng rộng có dốc đứng của sông Giô-đanh giữa biển Ga-li-lê (Ki-nê-rết) và Biển Chết (Biển A-ra-ba). Trong thời Giô-suê, biên giới phía bắc là núi Hẹt-môn, không phải sông Ơ-phơ-rát là biên giới Đức Chúa Trời đã hứa (Gios 1:4 13:1-7).
2-3 Cuộc chinh phục Si-hôn, vua A-mô-rít được tường thuật trong Dan 21:21-31 Phu 2:24-37. A-rô-ê (Tên mới là Ararah) cách Biển Chết khoảng sáu dặm (10 Km) ở phía nam nhìn sang suối cạn El-Mujib. A-rô-e tượng trưng cho giới hạn lãnh thổ phía nam. Rạch Gia-bốc, chảy về phía tây đổ vào sông Giô-đanh cách Biển Chết bảy dặm (12 km) về phía bắc, tạo nên biên giới phía bắc của Si-hôn. Dân Y-sơ-ra-ên không được phép xâm phạm phân nửa đất phía đông thuộc về dân Am-môn, lúc ấy chưa tổ chức thành vương quốc (Gios 13:25). Ga-la-át thực thụ là vùng đồi núi và rừng rậm về phía bắc trục lộ đi từ Hết-bôn về hướng tây đến Biển Chết và chạy dài về phía bắc đến rạch Yarmuk. Nhưng về phía nam rạch Yarmuk đất đai trải thành đồng bằng được khoảng 14 dặm (18 km). Những đồng bằng này lan rộng lên phía bắc tạo thành lãnh thổ Ba-san. Nguyên vùng đồi núi với cây cối rậm rạp này bị rạch Gia-bốc cắt đôi.
4-5 Cuộc chinh phục Óc, vua Ba-san được kể lại trong Dan 21:32-35 và Phu 3:1-11. Dân Rê-pha-im là một dân khổng lồ định cư trong xứ trước dân Y-sơ-ra-ên. Những dân đến sau là dân Mô-áp và dân Am-môn. Dân Mô-áp gọi họ là người Ê-mim, và dân Am-môn gọi họ là người Xam-xu-mim (2:11,20-21). Dân tộc cao lớn này giống dân A-na-kim về vóc dáng, họ sống trong đất hứa vào thời Áp-ra-ham (Sa 15:20). Dân Ghê-su-rít và Ma-ca-thít thuộc dân A-ram sát biên giới phía đông của Y-sơ-ra-ên.
(Gios 12:6). Môi-se đã chinh phục các xứ này và theo lệnh Đức Chúa Trời ông giao các xứ này cho hai chi phái rưỡi trung thành với Đức Giê-hô-va để thánh hoá xứ. Đây là lần thứ hai Môi-se được gọi là đầy tớ của Đức Giê-hô-va (so sánh Gios 1:1) có lẽ để bày tỏ dân Y-sơ-ra-ên có quyền hợp pháp chiếm xứ.
(Gios 12:7-24). Giô-suê chinh phục vùng phía tây Giô-đanh Vùng đất Giô-suê chinh phục rộng bằng tiểu bang Vermont ở Hoa Kỳ hoặc xứ Wales ở nước Anh.
7-8 Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên trong câu 7 tương xứng với Môi-se... và dân Y-sơ-ra-ên trong . 6 (về Ba-anh Gát, 11:17). Bản liệt kê này sơ lược lại phần tường thuật cuộc chinh phục đã trình bày trong các chương 6-11 và bổ túc thêm. Lúc này Y-sơ-ra-ên đã dựng trại tại Ghinh-ganh nhưng chưa ổn định xứ cũng chưa chiếm các thành luỹ.
9-24 “Các vua” này cai trị các “vương quốc” là các thành luỹ, lãnh thổ của họ chỉ rộng khoảng 3 dặm (5 Km) bao bọc chung quanh thành luỹ kiên cố. Năm 668 T.C.., sau đợt đánh chiếm đầu tiên ở Sy-ri, Palestin, vua Ashurbanipal nhận triều cống của 33 tiểu vương này.
4. PHÂN CHIA ĐẤT (Gios 13:1-21:45)
Một số chi phái được chia phần đất đai khi vùng đó chưa chiếm được (Gios 13:1-7). Phần đất chưa chiếm được liên tục thách thức đức tin của các chi phái chưa ổn định. Dù toàn thể dân Y-sơ-ra-ên phối hợp chiến đấu để ổn định trong đất hứa, nhưng các chi phái chiếm lãnh thổ của mình bằng nhiều cách khác nhau, vào thời điểm khác nhau với mức độ thành công khác nhau. Môi-se cấp phát cho hai chi phái rưỡi khu vực phía đông sông Giô-đanh thể theo lời họ xin (13:8-33, so sánh 12:1-6). Các chi phái phía tây sông Giô-đanh như Giu-đa, Ép-ra-im và Ma-na-se chiếm được đất và Giô-suê giao cho họ (15:1-17:18). Tuy nhiên, bảy chi phái còn lại chưa chiếm được đất. Trong trường hợp này, Giô-suê sai người đi khảo sát đất và chia thành bảy khu vực địa lý thích hợp rồi bốc thăm chia đất (18:1-19:51). Sau đó, mỗi chi phái có nhiệm vụ chiếm cho được phần của mình.
1. Đất vẫn còn phải đánh chiếm (Gios 13:1-33)
(Gios 13:1-7). Sách Giô-suê trình bày hai quan niệm về bản chất và phạm vi cuộc đánh chiếm xứ Ca-na-an của dân Y-sơ-ra-ên: Những trận chiến chớp nhoáng với chiến thắng ngoạn mục trong cuộc chinh phục toàn xứ (11:16-23 21:43-15 so sánh Xu 23:23) và hàng chuỗi trận chiến trong thời gian dài (Gios 11:18) để chiếm dần dần nhiều lãnh thổ rộng lớn (Gios 13:1-7 18:3, so sánh Xu 23:27-30 Cac 1:1-36). Có thể hoà hợp hai quan niệm này bằng cách lưu ý đến hai yếu tố sau đây:
Thứ nhất, các sử gia trong Kinh Thánh trình bày tài liệu của họ theo mô hình thần học. Đôi khi, như trong trường hợp sách Các Vua, Sử Ký và các sách Phúc Âm trong Tân Ước, các tác giả trình bày lịch sử từ những góc độ khác nhau để đạt cho được mục đích của mình. Các tác giả cẩn thận chọn lựa tài liệu, sắp xếp theo chủ đề, không nhất thiết là theo thứ tự thời gian và họ diễn giải khi cần. Họ viết lịch sử để kích thích trí nhớ và truyền đạt khải tượng, chứ không chỉ ghi lại các biến cố lịch sử. Tác giả cho rằng khi những chiến dịch rạng rỡ của Giô-suê kết thúc thì cuộc kháng chiến của dân Ca-na-an cũng tiêu tan. Khi dùng từ “xứ” ông muốn nói đến đất đai và dân cư trong đó. Một khi dân trong xứ bại trận thì có thể nói rằng về mặt địa lý toàn thể xứ đã bị chiếm. Ghi nhớ ý đó kích thích dân Y-sơ-ra-ên chiếm đất còn lại.
Thứ hai, việc dân Y-sơ-ra-ên chiếm được xứ và hưởng được sự yên nghỉ sau đó là chuyện lâu ngày dài tháng vì phải đánh chiếm xứ “dần dần” (Xu 23:30) chứ không phải chiếm toàn bộ trong một đợt (He 4:1-14). Những thế hệ sau cũng phải góp phần góp sức của mình (Cac 3:1-4). Tác giả sách Sử Ký dùng 3:1-4 để trình bày Đa-vít vĩ đại hơn Giô-suê vì ông cai trị một đất nước trải từ sông Si-ho ở Ai-cập cho đến Lê-bô (lối vào) Ha-mát, ông dùng cùng những từ đặc biệt trong hai đoạn văn này. Ê-sai thấy biên giới lý tưởng của đất nước được ứng nghiệm trong thời đại của Đấng Mê-si (Es 11:12-16). Chúng ta có thể nói rằng ở bất cứ thời điểm nào trong tiến trình đánh chiếm đất, Đức Chúa Trời đều thực hiện lời Ngài hứa. Hơn nữa, mỗi sự ứng nghiệm riêng lẻ góp phần cho sự ứng nghiệm đầy đủ trọn vẹn cuối cùng đều có thể xem là đã ứng nghiệm đầy đủ. Tân Ước cũng trình bày về trường hợp lâu dài của vương quốc Đức Chúa Trời: Vương quốc đã đến rồi nhưng theo ý nghĩa đầy đủ trọn vẹn thì “chưa”.
Những vùng đất còn lại:
2-3 Vùng đất sẽ trở thành Philistia, từ Si-ho (“Sông của Horus” Ni-lơ) đến Ghê-xe (theo bản 70, không phải là Ghê-su-rơ như trong bản NIV). Mặc dù về sau bị dân Phi-li-tin cai trị (so sánh Gios 11:22 Sa 10:14) vùng này là một phần của xứ Ca-na-an mà Đức Chúa Trời hứa ban cho Y-sơ-ra-ên. Dân A-vim sống trong vùng phụ cận Ga-xa.
4 Lãnh thổ của dân Ca-na-an từ A-ra (chưa rõ vị trí) thuộc xứ Si-đôn cho đến tận A-phéc, phía đông bắc Byblos và dân A-mô-rít, có lẽ vương quốc Amuru ở trong vùng Li-ban.
5 Lãnh thổ của dân Ghi-bê-lít nghĩa là vùng Byblos và toàn vùng Li-ba phía đông Ba-anh Gát dưới chân núi Hẹt-môn cho đến xứ Ha-mát.
Những khu vực khác còn phải đánh chiếm là: thung lũng chiến lược Gít-rê-ên Mê-ghi-đô, Tha-na-ác, Ghíp-lê-am, Ên-đô-rơ và Bết-lê-an (Gios 17:11-12 so sánh Cac 1:27).
Đồng bằng miền biển: A-phéc, Ghê-xe và Đô-rơ (Gios 13:4 16:10 17:11 so sánh Cac 1:27,29).
Thành Giê-ru-sa-lem (Gios 15:63 so sánh Cac 1:21) và các lãnh thổ của dân Ghê-su-rít và dân Ma-ca-thít (Gios 13:13)
Các phần dẫn giải này cho chúng ta biết dân Y-sơ-ra-ên đánh chiếm lãnh thổ miền núi xứ Palestin, trong khi đó dân bản xứ vẫn còn ở tại đồng bằng, bởi vì những chiến xa bọc thép của họ khiến dân Y-sơ-ra-ên e sợ (17:16 Cac 1:19).
Tư phân chia trong câu 6 nghĩa là “khiến cho rơi xuống” (nghĩa là Đức Chúa Trời ấn định qua sự bốc thăm so sánh Dan 33:54 Es 34:17 Mi 2:4-5).
(Gios 13:8-33). Phân chia đất phía đông Giô-đanh. Chương này nhắm mục đích đưa ra ý tưởng tổng quát về vùng đất phía đông sông Giô-đanh do Môi-se phân chia.
8-13. Khảo sát vùng đất chia cho các chi phái phía đông. Công việc phân chia đất nối liền với Gios 12:1-5. Nửa chi phái Ma-na-se được nhắc đến trước nhất để nối liền với c.7, không phải vì chi phái này quan trọng nhất.
14. Chi phái Lê-vi .Câu 14 và 33 đóng vai trò sơ lược cho phần tường thuật chi tiết về công việc chia đất cho các chi phái phía đông (15-31). Tác giả dùng cách này để làm nổi bật và phân biệt sản nghiệp của người Lê-vi, tức là Đức Giê-hô-va và các của lễ. Sản nghiệp quí giá nhất là sự tương giao với Đức Chúa Trời, một sản nghiệp luôn luôn dành sẵn cho người nào mong muốn được hưởng (so sánh Thi 16:5 119:57 142:5). Điều này cho chúng ta biết rằng sản nghiệp không nhất thiết gắn liền với đất đai.
15-23. Chi phái Ru-bên Trước hết, phân đoạn này liệt kê 12 thành bị chiếm (17-20), sau đó là lịch sử cuộc chinh phục vùng đất phía đông Giô-đanh (21-22 so sánh Dan 21:21-32). Toàn thể nước Si-hôn (21a) cần xác định ý của cụm từ này, vì trong câu 27, phần còn lại của nước Si-hôn thuộc về Gát. Đây là phần đất trải dài trên vùng cao nguyên. (21b-22 Câu này đề cập đến sự thất trận của Si-hôn vua dân A-mô-rít cùng với các quan trưởng Ma-đi-an và thuật sĩ Ba-la-am (Gios 24:9-10 Phu 23:4-5) để nhấn mạnh sự thay đổi guồng máy cai trị về mặt chính trị lẫn thuộc linh do Môi-se, nhà ban hành luật pháp đem vào xứ (Gios 12:1-5). 23; Phần tóm tắt.
24-28. Chi phái Gát. Câu 25 bày ra cảnh quan tổng quát và vạch ra giới hạn phía đông, còn câu 26 vạch giới bạn phía nam và phía bắc, và câu 27 xác định các miền phía tây trong thung lũng Giô-đanh. Hình thức nhập đề (24 so sánh 15,29) nhấn mạnh rằng không ai ngoài Môi-se là người phân chia sản nghiệp cho họ (Gios 1:6). Tất cả các thành Ga-la-át, gần Ghê-xe phía nam Ga-la-át (so sánh31). Phân nửa nước Am-môn ám chỉ đến các vùng phía tây, giữa Ạt-nôn và Gia-bốc, chứ không phải các vùng phía đông (12:1-5 Phu 2:19). A-rô-e ở đây khác với A-rô-e nằm trên khe Ạt-nôn (Gios 12:2 13:16).

Chi phái Ru-bên, Gát va nửa chi phái Ma-na-se
29-30. Nửa chi phái Ma-na-se Ma-ha-na-im được xem là biên giới xa nhất về phía nam của đất đai dành cho con cháu Ma-na-se là Ma-ki, nhưng không có chi tiết nào xác định biên giới ở các hướng khác. Các chi tiết này tương đối ăn khớp với lời mô tả trong Phu 3:4,13-15. Ma-na-se là con đầu lòng của Giô-sép, là trường hợp ngoại lệ vì được phần gấp đôi, bất chấp lời chúc ưu tiên của Gia-cốp trong Sa 48:1-22.
31-33. Tóm lược chấm dứt phần này. Sự đề cập đến chi phái Lê-vi hứa hẹn với độc giả điều tốt hơn (so sánh c.14).
2. Phân chia đất đai vùng phía tây sông Giô-đanh (Gios 14:1-19:51)
Giữa phần giới thiệu (Gios 14:1-5) và phần kết luận (19:51), tác giả nhấn mạnh đến gương đức tin của Ca-lép (14:6-15) và Giô-suê (19:49-50). Hai vị anh hùng này nhờ có lòng tin nên sống thọ hơn thế hệ của họ. Họ xin nhận sản nghiệp và hưởng được sản nghiệp của mình.
(Gios 14:1-5). Dẫn nhập Phần dẫn nhập vào việc phân chia đất đai phía tây sông Giô-đanh, xác định vùng đất, nêu tên những người quản trị, cách thức phân chia, các chi phái nhận đất và lệnh của cơ quan hợp pháp. Người Ai-cập gọi xứ này là ‘Ca-na-an’, một tên riêng đặt cho vùng đất đang bàn đến trên phương diện hành chính (Gios 21:2 22:9).
Đức Giê-hô-va, quyền hành tối thượng, chỉ định phân chia bằng cách bốc thăm (13:6) còn thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê và các trưởng tộc các chi phái (nghĩa là các quan trưởng phụ tá, 21:1) truyền lại quyết định này và thực hiện công tác. Ê-lê-a-sa được nhắc tên trước vì Giô-suê đứng trước mặt ông tại cửa Hội Mạc và nhờ ông cầu hỏi U-rim và Thu-nim, là vật dụng biệt riêng ra thánh qua đó Đức Chúa Trời trả lời ‘được’ hay ‘không’ đối với những lời cầu hỏi cụ thể (18:1-10 so sánh Dan 27:21).
Chín chi phái rưỡi phía tây đang có mặt tại đây, còn hai chi phái rưỡi phía đông thì không (so sánh Gios 13:8-13). Trong nước Y-sơ-ra-ên, con đầu lòng được nhận phước hạnh gấp đôi (Phu 21:15-17). Tuy nhiên, Gia-cốp, ông tổ của các chi phái đã làm một chuyện ngoại lệ. Ông bỏ Ru-bên, đứa con đầu lòng của Lê-a, người vợ ông không yêu (Sa 29:31-32), rồi ông cho Giô-sép hưởng hai phần vì Giô-sép là con đầu lòng của Ra-chên người vợ ông yêu quí. Ông thực hiện việc này bằng cách nâng hai con của Giô-sép lên đứng đầu các chi phái, ngang hàng với con của mình là Ru-bên và Si-mê-ôn (48:1-9). Về sau này, luật Môi-se không cho phép cách thức này. Một lần nữa, người Lê-vi vẫn bị loại, không được chia phần sản nghiệp. Trong Gios 13:14 nhấn mạnh sản nghiệp thuộc linh và do nơi đó mà mọi nhu cầu thực tế của họ được đáp ứng (Dan 18:21-32). Chính Môi-se, chớ không phải ai khác, là ‘đầy tớ của Đức Chúa Trời’ (Gios 13:8 14:7) và là người của Đức Chúa Trời (14:6). Vấn đề này được lập lại nhiều lần (2-3, 5). Vì các chi phái hoàn toàn vâng theo cách của Môi-se nên lời thỉnh nguyện của họ có giá trị.
(Gios 14:6-15). Các phần đất đầu tiên tại Ghinh-ganh: Giu-đa và Giô-sép (Gios 14:6-17:18) Tên Ca-lép nghĩa là ‘con chó’, có thể ý nghĩa này nói lên địa vị đáng tôn trọng của người ‘đấy tớ Đức Chúa Trời’ khiêm nhường và trung thành này (Dan 14:24). Mớ thư từ tìm được ở La-ki (586 T.C.) và Amarna (khoảng 1.350 T.C.) cho biết các nước chư hầu dùng từ này khi nói về chính mình để bày tỏ lòng trung thành với vua. Tác giả viết rằng ông Ca-lép là người Kê-nít vì tổ phụ của ông là người Kê-nít (ISu 4:13-15). Ông Ca-lép được chia phần đặc biệt trước tiên vì ông trung thành với Đức Giê-hô-va - được nhấn mạnh ba lần (8-9,14) - để làm gương cho các chi phái nhận đất phải đối phó với quân thù đáng sợ (Gios 13:1-7). Nhờ tin như thế mà xứ không còn giặc giã (15, so sánh 1:15 11:23).
Sau phần dẫn nhập (6a), chuyện của Ca-lép gồm ba phần: Quyền hợp pháp của ông đặt trên cơ sở đức tin và Lời của Kinh Thánh (6b-9). Ông chiếm hữu sản nghiệp bằng đức tin và bằng sự chiến đấu (10-12) và sự chấp thuận của Giô-suê (13-15).
Lời thỉnh nguyện của Ca-lép đặt căn bản trên lời Đức Chúa Trời đã hứa ban đất cho ông và Giô-suê vì hai ông trung thành trong cuộc do thám tại Ca-đe (Dan 14:24,30). Niềm tin của Ca-lép không làm nhụt chí dân sự nhưng đã đem lại cho ông sự sống và sản nghiệp (13:1-33). Đất mà ông đã đi qua vào lúc đó không phải là thành phố Hếp-rôn hoặc cánh đồng cỏ quanh thành, nhưng các làng mạc và đồng lúa chung quanh làng (13 Gios 21:11-12).
Lời hứa của Đức Chúa Trời quy định sản nghiệp chia cho Ca-lép không do phương thức bốc thăm. Có lẽ những người Giu-đa đi cùng ông để ủng hộ lời thỉnh nguyện của ông. Sự thỉnh nguyện của ông biểu lộ bản chất của giao ước với Đức Chúa Trời. Lúc đầu vì ông có đức tin nên ông được ban cho quyền thừa hưởng đất (7-9), nay ông phải chiếm hữu đất bằng cách xin và đánh đuổi dân A-na-kim hùng cường (10-12 1:6-7 so sánh Mat 25:34). Cơ-đốc nhân nhờ Chúa Cứu Thế được thừa hưởng sự cứu rỗi (Eph 1:14 Col 3:24 He 9:15). Dân A-na-kim tượng trưng cho kẻ thù đáng sợ của Y-sơ-ra-ên, được đề cập ở cuối các trận đánh của Giô-suê (Gios 11:21-23), nhưng bây giờ được nhắc đến khi mới khởi sự phân chia đất đai và khi Ca-lép quyết định đánh đuổi họ. Để cho Ca-lép được thừa hưởng đầy đủ phần sản nghiệp nên Đức Chúa Trời không để cho ông già nua trong suốt 38 năm cực nhọc trong đồng vắng cực nhọc (11). Thân thể của người tin Chúa có già nua đi, nhưng tâm linh của họ thì không, và thân thể của họ sẽ được sống lại (IICo 4:7-18).
Các thánh đồ có đức tin mạnh mẽ như Ca-lép và Ra-háp sẽ được phần thưởng (13-15) và tác giả cố gắng giải thích thêm điều này (Gios 6:22-25). ‘Ban phước’ nghĩa là làm cho mạnh mẽ, kết quả và chiến thắng (Sa 22:17-18). Chính bản thân Giô-suê cũng già nua đã khiến cho người đồng hương 85 tuổi của ông được mạnh mẽ!
Tác giả xác định lý do khiến ông ghi đầy đủ chi tiết về sản nghiệp của các chi phái: để chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đã thực hiện lời hứa của Ngài (Gios 21:43-45). Những chi tiết mô tả chính xác sản nghiệp của các chi phái là bằng chứng rõ ràng nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời thực hiện lời Ngài hứa là ban cho dân sự trong giao ước của Ngài vùng đất xứng đáng thuộc về các vua. Câu 1 nối tiếp đoạn 11:23.
(Gios 15:1-12) Trước hết ông vạch ra các biên giới: phía nam (1-4), phía đông (5a), phía bắc (5b-11) và phía tây (12). Từ bắt thăm trong câu 1 nói đến việc bắt thăm thật sự (13:1-7). Phần đất phía tây Giô-đanh chia cho chi phái Giu-đa được nhắc đến trước nhất (15:2-12) như thể một điềm báo trước về quyền lãnh đạo và sự cao trọng tương lai của chi phái Giu-đa (Sa 49:10 Cac 1:1-2 20:18).
(Gios 15:13-19). Kế đến là phần sản nghiệp của Ca-lép Phần này nhấn mạnh một lần nữa việc ông đánh đuổi cư dân rồi chiếm được xứ và nêu gương cho người khác (xem 14:6-15, đồng thời cũng chú ý đến điểm giống nhau giữa 14:15 và 15:13). Chính Ca-lép đánh đuổi dân A-na-kim ra khỏi Hếp-rôn và ông hứa gả con gái mình cho người nào có đức tin như ông dám đánh chiếm thành Đê-bia (so sánh ISa 17:25 18:17). Ốt-ni-ên, cháu gọi ông bằng bác (Cac 1:13) đã chiếm được đất hứa và cô dâu như Chúa Cứu Thế đã được (so sánh Eph 5:25 He 4:1-14). Con gái Ca-lép nhận được các suối nước nàng mong muốn nhờ dạn dĩ xin cha mình (so sánh Lu 11:1-13). Câu chuyện này (từ c.13-19) không được trình bày theo thứ tự thời gian. Ca-lép và Ốt-ni-ên chiếm thành của mình trong một chiến dịch được ghi trong Gios 10:36-39.
(Gios 15:20-62) Cuối cùng, tác giả ghi chú các thành Ca-na-an nằm trong phần đất đã chia cho Giu-đa (so sánh Phu 6:10-11). Trước nhất là miền Negev (21-32), kế đó là chân núi phía tây (33-44) và đồng bằng miền biển có dân Phi-li-tin ở (45-47). Sau đó là vùng đồi núi giữa Giê-ru-sa-lem và Hếp-rôn (48-60) và đồng vắng về phía Biển chết (61-62). Các miền này được chia làm mười một khu vực. Đáng lưu ý là mỗi khu vực đều kết thúc bằng một tổng số các thành phố (32,36,41,43,47,51,54,57,59,60,62).
(Gios 15:63) Dù Giô-suê đã giết vua Giê-ru-sa-lem (Gios 10:1,22-27) nhưng người Giu-đa không thể đuổi người Giê-bu-sít ra khỏi Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên, ranh giới phía bắc của Giu-đa (15:8) chạy dọc theo cạnh nam của Giê-bu (Giê-ru-sa-lem cổ) cho nên không bao gồm thành phố thuộc về Bên-gia-min (18:16,22 Cac 1:21).
(Gios 16:1-4) Đoạn này trình bày tổng quát biên giới phía nam của sản nghiệp của Giô-sép, lãnh thổ Ép-ra-im (16:5-10), lãnh thổ Ma-na-se (17:1-13) và lời than phiền của các chi phái này về diện tích sản nghiệp của họ (17:14-18).
Phần giới thiệu này mô tả ranh giới phía nam, ranh giới giữa Ép-ra-im và Bên-gia-min (so sánh 18:12-13) và Đan. Xem lời chú giải: trong 15:1-63 để biết ý nghĩa của phần đất được chia (1) và ý nghĩa thần học của công việc phân chia đất. Dù Ép-ra-im và Ma-na-se được kể là hai chi phái (14:4) nhưng họ chỉ nhận được một phần đất và họ đã phản đối (17:14). Ép-ra-im ở phía nam, Ma-na-se ở phía bắc. Ranh giới phía bắc của Ma-na-se giáp với A-se và Y-sa-ca (10), dù trong lãnh thổ của hai chi phái này có mấy thành thuộc về Ma-na-se (11).
(Gios 16:5-10). Sản nghiệp của Ép-ra-im được liệt kê trước Ma-na-se bởi vì Gia-cốp đặt Ép-ra-im lên trước (Sa 48:17-20), phần mô tả sản nghiệp của Ép-ra-im gồm xác định ranh giới (5-8), liệt kê các thành phố, làng mạc mà Ép-ra-im thừa hưởng trong lãnh thổ của Ma-na-se (9 Gios 15:1-63) và một lời ghi chú về sự thất bại (10) Giô-suê đánh bại dân Ghê-xe nhưng không chiếm thành phố của họ (10:33 Cac 1:29).
(Gios 17:1-18) Phần của Ma-na-se Ma-ki là con đầu lòng của Ma-na-se (13:31 Sa 50:23 Dan 26:29). Bản Hi-bá-lai chép rằng ông là một chiến sĩ giỏi, vì vậy ông đã được hưởng Ga-la-át, đặt theo tên con trai ông, và Ba-san phía đông sông Giô-đanh (Gios 13:29-31 so sánh Dan 26:30-31). Ga-la-át có bảy người con trai thừa hưởng đất đai phía tây sông Giô-đanh (26:30-32).
Một người cháu nội của Ga-la-át là Xê-lô-phát, không có con trai vì ông chết trong cuộc nổi loạn của cô-rê, nhưng năm cô con gái của ông vẫn sống. Để bảo đảm cho một gia đình người Y-sơ-ra-ên dù không có con trai nối dõi vẫn được tồn tại, kể cả những người phạm tội như Xê-lô-phát, Đức Chúa Trời hứa rằng quyền lợi của người cha được chuyển giao cho các con gái (3-6 Dan 26:33 27:1-11). Do đó sản nghiệp của Ma-na-se được chia ra mười phần: năm anh em trai còn sống và năm cô con gái. Cũng như Ca-lép tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời, năm cô gái này khẩn khoản yêu cầu những người có trách nhiệm phân chia đất quan tâm đến quyền lợi của họ (Gios 14:1-5,6-15).
Sự thể Ma-na-se và Ép-ra-im không thể đánh đuổi dân Ca-na-an được dùng làm phần chuyển tiếp sang đoạn sau (14-18). Thiếu vâng phục trong đức tin khiến cho sự tận hiến thuộc linh của dân Y-sơ-ra-ên bị lũng đoạn đến nỗi đưa dân Y-sơ-ra-ên đến chỗ kết hôn với người Ca-na-an và làm những điều sai quấy (Phu 7:1-6 12:29-31 Cac 3:1-6).
Lời thỉnh cầu và sự thất bại của con cháu Giô-sép ở cuối phân đoạn này (Gios 17:14-18) tương phản rõ ràng với lời thỉnh cầu và thành công của Ca-lép trong chi phái Giu-đa ở đầu phân đoạn (14:6-15 Cac 1:27-28). Con cháu Giô-sép than phiền phần đất chia của họ quá nhỏ Giô-suê đáp lại rằng vì đức tin của họ quá nhỏ. Trong khi chiều hướng quan tâm của sách này là sự hiệp nhất của toàn thể Y-sơ-ra-ên thì cũng có thể nói thêm rằng sự đòi hỏi của họ là quá ích kỷ.
Xét theo luật thì khi họ than phiền là chỉ được hưởng một phần sản nghiệp dường như có phần hữu lý vì họ được kể là hai chi phái lớn (14, Gios 16:1). Tuy nhiên, Đức Giê-hô-va chủ trì trên cuộc bốc thăm đất và như vậy cả Ép-ra-im và Ma-na-se đều được phát phần đất riêng. Ma-na-se được phần sản nghiệp thứ hai phía tây Giô-đanh sau Giu-đa, một nửa chi phái Ma-na-se được phát một phần đất rộng lớn phía đông Giô-đanh.
Giô-suê dùng lời họ tự nhận, chúng tôi là một dân đông (nghĩa là nhiều, lớn) để đối phó với họ. Vì họ “nhiều” nên họ nên khai phá rừng trên vùng đồi núi chớ không nên bằng lòng với những thành phố và đồng cỏ do dân Ca-na-an đã xây dựng và khai phá sẵn (15). Vùng đồi núi Ép-ra-im có lẽ bao gồm các khu vực phủ rừng nằm hai bên sông Giô-đanh. Cụm từ này được dùng trong IISa 18:6 và dân cư trong khu vực này là người Phê-rê-sít, sống phía bên này sông, còn dân Rê-pha-im sống bên kia sông (Gios 3:10 12:4,8 13:12). Điều này giải thích lời tuyên bố của Giô-suê là Ép-ra-im và Ma-na-se không chỉ có một phần đất (17). Họ tuyên bố rằng vùng đồi núi không đủ cho chúng tôi, và dân Ca-na-an sống trong đồng bằng có xe sắt (16) đã phơi bày sự thất bại thuộc linh của họ: lười biếng, nhát sợ và thiếu khải tượng.
Giô-suê trả lời bằng đức tin rằng: Hãy khai phá (vùng núi rừng) và đánh đuổi (dân Ca-na-an) (17-18).
(Gios 18:1-10). Phần đất chia cho các chi phái còn lại tại Si-lô (18:1-19:51) Giô-suê di chuyển trại từ Ghinh-ganh đến Si-lô ở giữa chi phái Ép-ra-im và dựng Hội Mạc tại đó (Xu 33:7 Dan 11:16 Phu 31:14). Si-lô nằm ở trung tâm của đất hứa và địa thế tạo thành một khán đài thiên nhiên. Sự phân chia đất đai trước sự hiện diện của Chúa làm nổi bật ý nghĩa thuộc linh của công cuộc chinh phục xứ và phân chia đất. Đó là đất đai của Ngài, phải khiến xứ nên thánh cho Ngài (Gios 8:30-35). Để theo đúng quan điểm thần học của mình, tác giả lập lại rằng dân Y-sơ-ra-ên đã chinh phục xong xứ, nhưng phải chiếm hữu đất đai bằng đức tin (1-2 13:1-7).
Giô-suê quở trách bảy chi phái còn lại về việc họ không làm trọn nghĩa vụ giao ước (3). Tiếng Hi-bá-lai đi sau từ “mait” có nghĩa là “trễ nãi”. Đức Chúa Trời đã ban đất cho họ, nhưng họ không bước vào và chiếm lấy bằng đức tin (c.3 1:7-9,11), Giô-suê sai hai mươi mốt người, mỗi chi phái chọn ba người, đi khảo sát đất còn lại, rồi mô tả từng thành một (9) để phân chia đất và báo cáo với ông. Sau khi các chi phái chia làm bảy phần, thì Giô-suê, qua thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và các trưởng lão (so sánh 14:1-5 19:51) bốc thăm cho họ trước mặt Đức Giê-hô-va (3-10). Ông nhắc cho họ biết cách bốc thăm này không áp dụng cho chi phái Giu-đa ở phía nam và chi phái Giô-sép ở phía bắc (5), không áp dụng cho người Lê-vi (c.7a, so sánh 13:14,33) hoặc cho các chi phái phía đông (7b). Hai mươi mốt người là nhân viên khảo sát, không phải là các thám tử (so sánh 2:1-24).
(Gios 18:11-28). Từ “thăm” trong câu 6 theo tiếng Hi-bá-lai dịch là “phần chia” trong 15:1 16:1 17:1. Thăm thứ nhất trúng nhằm Bên-gia-min, con trai thứ hai của Ra-chên, sau Giô-sép (so sánh 14:1-5). Câu 11-20 liệt kê các ranh giới khu vực này và các c.22-24 liệt kê các thành bên trong biên giới này - gồm mười hai thành trong khu vực phía đông khô cạn, không hấp dẫn (21-24) và mười bốn thành vây quanh vùng đất cao đẹp đẽ, có nước chảy về phía bắc và phía tây Giê-ru-sa-lem (25-28).
(Gios 19:1-9) Thăm thứ hai trúng nhằm Si-mê-ôn, con trai thứ hai của Lê-a (Sa 29:33). Khi vẽ bản đồ xứ, người ta thấy rằng phần của Giu-đa dù được ấn định qua sự bốc thăm, nhưng vẫn rộng lớn hơn mức cần thiết cho nên chi phái Si-mê-ôn nhận được đất đai bên trong vùng đất chia cho Giu-đa (9). Điều này làm ứng nghiệm lời rủa sả của Gia-cốp đối với Si-mê-ôn là ông phải bị tan lạc trong Y-sơ-ra-ên (49:7). Trong cuộc chiến chiếm đất đai, Giu-đa và Si-mê-ôn chiến đấu bên cạnh nhau (Cac 1:3). Các thành của Si-mê-ôn tập trung trong vùng lân cận Bê-e-sê-ba và ven đông bắc vùng Negev, nơi ít có ốc đảo, nên cần có nhiều giếng sâu mới cư trú lâu dài được.
(Gios 19:10-16). Thăm thứ ba trúng nhằm Sa-bu-lôn con út của Lê-a (Sa 30:19-20 49:13).
(Gios 19:17-23). Thăm thứ tư trúng nhắm Y-ca-sa, con thứ năm của Gia-cốp do Lê-a sinh ra (30:14-17 49:14). Thành và ranh giới nằm gọn trong ba điểm mốc là Gít-rê-ên (18) núi Tha-bô và sông Giô-đanh (22).
(Gios 19:24-31). Thăm thứ năm trúng nhằm A-se, con trai thứ hai do nàng Xinh-ba sinh ra (Sa 30:12-13 49:20).
(Gios 19:32-39). Thăm thứ sáu trúng nhằm Nép-ta-li, con út của Bi-la, nữ tì của Ra-chên sinh cho Gia-cốp (30:7 49:21). Đất của chi phái này gồm vùng núi non rừng rậm tươi đẹp và các vùng đất thấp khá màu mỡ. Trục lộ thương mại chính giữa Gít-rê-ên và những khu vực phía bắc đi xuyên qua Ga-li-lê.
(Gios 19:40-48) Thăm thứ bảy trúng nhằm chi phái Đan, con lớn nhất của nàng Bi-la sinh cho Gia-cốp (30:1-6 49:16-17). Dù chỉ nhận được các thành, nhưng chúng ta có thể suy luận ra ranh giới của chi phái này nhờ ranh giới của Giu-đa và Ép-ra-im. Dân A-mô-rít lấn ép chi phái nhút nhát, lười biếng này về phía bắc (Cac 1:34). Quan Xét 18 ghi lại đầy đủ câu chuyện chi phái Đan đi chinh phục xứ La-ít. Chi phái Đan tiêu biểu cho sự thất bại nặng nề nhất trong việc chiếm xứ Đức Chúa Trời hứa ban cho Y-sơ-ra-ên. Trong trường hợp này, dân A-mô-rít thắng hơn người Đan.
(Gios 19:49-51). Phần kết luận chia làm hai phần: Sản nghiệp của Giô-suê (49-50) và tổng kết về những người điều hành cuộc bắt thăm, địa điểm bắt thăm và cuộc phân chia đất đai đã hoàn tất. Phần tóm lược rất quan trọng đối với quan điểm thần học của sách này. Theo lệnh của Đức Chúa Trời, toàn dân giao thành Thim-nát Sê-rách cho Giô-suê. Ông nêu gương về sự vâng lời trong đức tin khi xin thành này làm sản nghiệp, chiếm lấy thành và xây dựng lên. Tấm gương của ông được chép vào cuối phân đoạn bàn về việc phân chia đất phía tây sông Giô-đanh, hỗ trợ cho đức tin của ông Ca-lép trong phần đầu của phân đoạn này (Gios 14:6-15). Qua việc bốc thăm tại cửa Hội Mạc của Đức Chúa Trời, chúng ta biết rõ rằng xứ này thuộc về Đức Giê-hô-va, ban cho Y-sơ-ra-ên, họ chiếm được bằng đức tin. Dù các chi phái thất bại đưa ra lý do để tự bào chữa, song họ không thể bào chữa được gì.
3. Thành ẩn náu.(Gios 20:1-9)
Nhằm thực hiện một biện pháp thực tiễn bảo đảm công lý cho dân Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời chỉ thị cho Môi-se bảo dân Y-sơ-ra-ên ấn định sáu thành hai bên bờ sông Giô-đanh, mỗi bên ba thành, để nếu có ai vô tình giết người hoặc không chủ tâm giết người có thể có nơi ẩn náu trốn khỏi kẻ báo thù huyết (Tiếng Hi-bá-lai là gÇ+‘l) nghĩa chính xác hơn là “người bảo vệ gia đinh”. Sau cuộc chinh phục đất phía đông sông Giô-đanh, Môi-se nhanh chóng qui định ba thành trong vùng đó (so sánh Phu 4:41-43 19:1-13).
Máu vô tội cũng như lời rủa sả phải được báo trả xứng đáng. Đức Chúa Trời tra xét và báo oán cho máu vô tội đang đòi hỏi công lý (so sánh Sa 4:10 9:5-6 IISa 16:7,8). Giết người là đổ huyết làm ô uế đất (Dan 35:33) làm nhơ nhớp bàn tay (Es 59:3) hẳn sẽ bị Đức Chúa Trời đoán xét (IVua 2:31,33) cũng như bị người bảo vệ gia đình báo oán, vì họ có bổn phận giành công lý cho gia đình chứ không phải trả thù. Máu vô tội được chuộc bằng cái chết của kẻ sát nhân (Dan 35:33 Phu 19:13) hoặc bằng sự đền tội (Dan 21:7-9). Nếu không, cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời và tai hoạ sẽ giáng trên xứ (IISa 21:1-22 IVua 2:31-33 IIVua 24:4). Vì lẽ đó, chúng ta chưa khảo sát vị trí của lòng thương xót trong thời Cựu Ước, nhưng xem thêm Thi 51:1-19, đặc biệt là câu 14. Thiết lập các tòa án xét xử công bằng để tra xem tội giết người do cố ý hay tình cờ là việc quan trọng. Nếu hành động cố ý, nghĩa là sát nhân, thì công lý đòi hỏi người đó phải chết, nếu là tình cờ hoặc vô ý, thì phạm nhân được phép sống bình thường trong thành ẩn náu.
Khi người bị cho là kẻ sát nhân chạy tới thành ẩn náu, thì các trưởng lão, người Lê-vi chịu trách nhiệm dạy luật pháp sẽ mở phiên tòa sơ thẩm xét người đó tại cổng thành. Thời xưa, tại Y-sơ-ra-ên tòa án được lập tại cổng thành. Nếu người đó vô tội, họ cho người đó trú ẩn trong thành thoát khỏi kẻ bảo vệ gia đình. Rồi người đó sẽ ra hầu tòa công hội, một loại quốc hội thời tiền quân chủ được giao cho quyền đại diện dân và xét xử. Nếu hội đồng trưởng lão và các bô lão xét thấy người đó có tội, họ giao trả kẻ phạm tội lại cho người bảo vệ gia đình để hành hình. Nếu kẻ phạm tội là vô tội, họ trả lại cho thành ẩn náu, người đó phải ở đó cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm đương thời qua đời. Thầy tế lễ thượng phẩm ở tại đó bảo vệ kẻ phạm tội và ngăn chận không cho người bảo vệ gia đình báo thù. Chúng ta có thể hiểu rằng cái chết của thầy tế lễ thượng phẩm, vị đại diện chính của Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Chúa Trời là hình bóng về sự chết chuộc tội của Chúa Cứu Thế Giê-xu, là thầy tế lễ thượng phẩm của Hội Thánh, Đấng đã đền tội cho mọi tội lỗi cố ý và vô tình của chúng ta.
4. Các thành của người Lê-vi (Gios 21:1-42)
(Gios 21:1-3). Bối cảnh lịch sử Dầu người Lê-vi có Đức Chúa Trời làm sản nghiệp (Gios 13:14,33) nhưng họ cũng cần các thành để trú ngụ và các cánh đồng cỏ để nuôi mình. Bây giờ những nhu cầu này được giải quyết.
Giống như Giô-suê và Ca-lép, và khác với bảy chi phái hèn nhát, lười biếng phải cần đến lời thúc giục của Giô-suê (18:2-3), các trưởng tộc của ba chi nhánh trong chi phái Lê-vi (Dan 3:17) chủ động đến gần những người điều hành cuộc bắt thăm thiêng liêng tại Si-lô, nhắc lại lời Đức Chúa Trời hứa với Môi-se là cho họ bốn mươi tám thành cùng với đồng cỏ chung quanh, kể cả sáu thành ẩn náu (41-42 so sánh 35:1-5). Các chi phái có nhiều thành như Giu-đa phải nhường nhiều lãnh thổ cho người Lê-vi hơn là các chi phái chỉ có vài thành như chi phái Nép-ta-li (35:7-8).
Người Y-sơ-ra-ên tán thành lời yêu cầu của chi phái Lê-vi và họ nhường một phần sản nghiệp của họ lại cho chi phái sống tản lạc khắp xứ tựa như những người hành hương. Khi dâng một phần mười dưới dạng này, họ nhận phước hạnh cho chính mình, vì người Lê-vi được biệt riêng sống giữa họ để dạy cho họ về luật pháp và chính luật pháp làm cho họ nên thánh, ban phước cho họ, bảo vệ họ, và cho họ được cư trú lâu dài trong xứ (Phu 33:8-11).
(Gios 21:4-7). Khái quát về các thành của người Lê-vi Cuộc phân chia các thành cho người Lê-vi được thực hiện theo ba chi nhánh trong chi phái Lê-vi. Một cách khái quát thì trước hết là bốc thăm, kế đó là số thành chia cho mỗi chi nhánh và khu vực địa lý của mỗi thành.
Tác giả lập lại từ được phát cho nhiều lần để nhấn mạnh rằng chính Đức Chúa Trời phân phát các thành này. Căn cứ vào thăm thứ nhất, thì phần chia được xếp theo tầm quan trọng hoặc chi nhánh đó lớn hay nhỏ. Thăm thứ nhất thuộc về người Kê-hát, bởi vì A-rôn, tức là dòng dõi tế lễ, thuộc về chi nhánh đó. Đức Chúa Trời ban cho các thầy tế lễ những thành nằm trong địa phận của chi phái Giu-đa, Si-mê-ôn và Bên-gia-min, tức các khu vực gần Giê-ru-sa-lem nhất, là nơi sẽ xây đền thờ (4). Điều đáng ngạc nhiên và có ý nghĩa là Giê-ru-sa-lem không được phân phối cho các thầy tế lễ Đức Chúa Trời dành phần thưởng đó cho nhà Đa-vít, là những người đỡ đầu Đền thờ. Người Kê-hát còn lại, tức là những thầy tế lễ trong hàng ngũ thấp kém hơn nhận được các thành trong địa phận của các chi phái kế đó, gần Giê-ru-sa-lem như chi phái Ép-ra-im, Đan và nửa chi phái Ma-na-se phía tây Giô-đanh (5). Người Ghẹt-sôn nhận được các thành xa về phía bắc trong chi phái Y-ca-sa, A-se, Nép-ta-li và nửa chi phái Ma-na-se tại Ba-san (6). Còn người Mê-ra-ri nhận được các thành về phía nam, trong địa phận của chi phái Sa-bu-lôn phía tây Giô-đanh, và trong địa phận của chi phái Gát, Ru-bên phía đông Giô-đanh (7).
(Gios 21:8-42). Phân chia bốn mươi tám thành cho người Lê-vi (so sánh ISu 6:54-81). Vào lúc phân chia các thành này, có một số thành như Ghê-xe (21 so sánh Gios 16:10) và thành Tha-a-nác (25 so sánh 17:11-12) vẫn còn trong tay người Ca-na-an. Người Lê-vi phải đánh chiếm bằng sự vâng phục trong đức tin.
5. Tóm lược: Sự thành tín lạ lùng của Đức Chúa Trời (Gios 21:43-45)
Các câu này làm một gạch nối liên kết với 1:6, nhờ đó tác giả nhấn mạnh vào chủ đề thần đạo của mình là: Đức Chúa Trời giữ giao ước Ngài với tổ phụ là ban cho họ xứ xứng đáng thuộc về các vua. Họ đánh chiếm, sống ổn định nơi đó và được yên nghỉ an ổn, không bị kẻ thù tứ phía tấn công (1:15 11:23). Không một lời hứa nào mà không được ứng nghiệm (13:1-7).
5. GIỮ GÌN ĐẤT (Gios 22:1-24:33)
Đến đây tác giả thuật lại ba tình tiết để chứng tỏ rằng dân Y-sơ-ra-ên phải giữ gìn đất như khi họ chiếm đất. Sau khi nghe Giô-suê truyền dạy phải giữ lòng trung thành với giao ước, lực lượng quân sĩ anh dũng của vùng phía đông trở về nơi sản nghiệp của mình. Trên đường trở về, họ nhận biết Đức Chúa Trời đã ban cho họ đất đai nên họ lập một bàn thờ làm chứng về sự hiệp nhất của họ với Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên (22:1-34). Trong bài diễn văn từ biệt, Giô-suê nhấn mạnh dân Y-sơ-ra-ên phải trung thành với giao ước để được ở trong xứ (23:1-16) và ông cho họ tái xác nhận giao ước cách long trọng tại Si-chem (24:1-27).
1. Bàn thờ làm chứng của hai chi phái rưỡi phía đông (Gios 22:1-34)
(Gios 22:1-8). Giô-suê tạm biệt các chi phái ở phía đông 1-5 Lời tạm biệt đầy ưu ái của Giô-suê đối với các chi phái bên phía đông làm mối nối các mệnh lệnh trong chương 1. Ông khen ngợi họ vì họ cẩn thận vâng theo mệnh lệnh của ông là không bỏ anh em mình, nhưng giúp đỡ cho đến khi các chi phái phía tây không còn bị dân Ca-na-an xâm lấn (2-3 so sánh 1:12-18). Họ đã chứng tỏ một đức tin bền bỉ khi thực hiện nhiệm vụ của mình qua một thời gian dài (so sánh 11:18 He 12:1) cho đến khi cuộc chiến kết thúc (so sánh IITi 4:6-8). Đối với họ, chúng ta có thể nói “Tốt lắm, hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín” (Mat 25:21). Khi nói về sự yên nghỉ (4a) Giô-suê trở lại với đoạn đầu (Gios 1:6) và mệnh lệnh giữ luật pháp Môi-se, cốt lõi của luật này được tóm lược trong một điều răn ấy là yêu mến Đức Chúa Trời hết lòng (4-5 so sánh Phu 6:5 10:12 11:13 Mat 22:37-40) và ông cũng lập lại mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va trong đoạn mở đầu của sách này (Gios 1:7-9). “Tình yêu thương là điều kiện căn bản trong các giao ước vùng Cận Đông cổ xưa. Chẳng có luật pháp nào đạt đến mục tiêu nếu người ta miễn cưỡng tuân hành luật pháp. Luật pháp phải được xây dựng trên sự đồng hành trong nội tâm. Tấm lòng và linh hồn không nhằm chỉ về các lãnh vực rõ rệt của sự sống nhưng nhằm củng cố tấm lòng tận hiến trọn vẹn cho Đức Chúa Trời. Tấm lòng nói về chủ ý của toàn thể con người, và linh hồn biểu thị toàn thể cái tôi, kết hợp thể xác, ý chí và sức sống.
6-8 Với tư cách là nhà lãnh đạo thuộc linh của Y-sơ-ra-ên, Giô-suê chúc phước cho các chiến sĩ từ vùng phía đông, cho họ trở về trại mình cùng đem theo của cải mà họ chiếm được (11:10-15). Theo quy ước của cuộc thánh chiến, ông truyền lệnh cho họ phải chia của cải cho những người phải ở lại để bảo vệ nhà cửa của họ (so sánh Dan 31:27 ISa 30:16-25). Ai nấy đều yên nghỉ với đầy đủ phần thưởng (so sánh Mat 6:18 16:27 Co 3:24 ITi 5:18).
(Gios 22:9-34). Các chiến sĩ trung thành này thực hiện một hành động cuối cùng là bày tỏ lòng trung thành đặc biệt với Đức Giê-hô-va trước khi sum họp với gia đình. Để thế hệ mai sau trong Y-sơ-ra-ên ở phía tây không ngăn các chi phái phía đông đến thờ phượng Đức Chúa Trời tại phía tây sông Giô-đanh, là nơi Danh của Ngài ngự tại đó, họ xây một bàn thờ to lớn tại Ghê-li-lô gần Giô-đanh (trên bờ phía tây hoặc phía đông, bản NIV diễn ý thái quá câu 1), để làm chứng rằng Đức Giê-hô-va cũng tuyển chọn họ làm dân sự của Ngài.
Nhưng chẳng may cho họ, công trình đầy sáng tạo và lo xa trong đức tin của họ đã bị những người ở phía tây hiểu lầm là bàn thờ đối nghịch lại với Đức Giê-hô-va. Các chi phái phía đông và phía tây không nhất trí với nhau về cách giải thích luật pháp trong Phu 12:4-14 - cả hai bên đều cho rằng luật pháp qui định dân Y-sơ-ra-ên phải thờ phượng tại một trung tâm thờ phượng duy nhất. Tuy nhiên, những người ở phía tây cho rằng những người ở phía đông cố ý thờ phượng Đức Chúa Trời theo ý muốn riêng, không theo ý của Ngài. Nhìn vào cách hai nhóm hoà giải với nhau, chúng ta có thể tìm ra được các nguyên tắc tinh tế nhằm giải quyết những chủ trương dị biệt về giáo lý (so sánh Mat 18:15-20).
Các chi phái phía tây, là bên bị tổn thương đi bước đầu san bằng sự rạn nứt bằng những cách sau đây:
Họ thẳng thắn đối diện với vấn đề chứ không lờ đi hoặc ém nhẹm (11-12a)
Họ cũng xem sự phản bội là tội hết sức nghiêm trọng đến mức họ đặt sự thánh khiết trên mạng sống mình, chứ không coi rẻ mọi sự để có sự bình yên (12b).
Họ phái các nhà lãnh đạo tài năng nhất, thầy tế lễ Phi-nê-a, là người đã tỏ lòng sốt sắng vì Đức Giê-hô-va trong chuyện Ba-anh Phê-ô (Dan 25:7), và mười quan trưởng đại diện cho hết thảy các chi phái điều tra vấn đề và sửa sai những người phạm tội, chứ không hành động bất nhã (13-14).
Một cách khách quan, họ xem sự vi phạm tỏ tường này là bội đạo, là hành động phản nghịch Đức Chúa Trời, chứ không xem hành vi này là một sự chống nghịch cá nhân họ (15-16).
Họ lý luận dựa trên niềm tin rằng Đức Chúa Trời sẽ phạt tội lỗi như đã rõ ràng trong vụ Ba-anh Phê-ô (Nghĩa là sự kiện này đã để lại nơi họ tì vết về tội phạm trong lịch sử về tai hoạ của Đức Chúa Trời) chứ không dựa vào cách tiện lợi (17).
Họ cũng lý luận trong niềm tin rằng tội lỗi của một số ngưới gây ảnh hưởng cho mọi người, như trường hợp Ba-anh Phê-ô (17-18) và trường hợp của A-can (18,20 Gios 7:1) và tội lỗi tập thể như vậy không phải là chuyện vô hại đối với họ.
Họ tôn trọng lương tâm và niềm tin của anh em mình (nghĩa là vùng đất đai phía đông của dân Y-sơ-ra-ên bị ô uế vì không có nơi thờ phượng thánh của Đức Chúa Trời) chứ không loại bỏ lương tâm yếu đuối của anh em (19a so sánh Ro 14:1-23).
Họ sẵn sàng hy sinh một phần sản nghiệp để phục hồi cho anh em mình lương tâm trong sạch và sự thờ phượng đúng đắn, chứ không nhất thiết đòi họ phải hiểu đúng luật pháp (19b).
Sau khi nghe bên vi phạm thanh minh, họ tán thành sáng kiến anh em biểu lộ đức tin, chứ không ngăn cản cách biểu lộ đức tin trong hình thức mới mẻ và phù hợp với Lời của Đức Chúa Trời (30-31).
Cuối cùng nhóm người đại diện báo cáo cho toàn thể hội chúng về sự chấp thuận của họ, chứ không vượt ra khỏi quyền hạn mình (32).
Các chi phái phía đông, tức những người vi phạm, điều chỉnh sự hiểu lầm bằng cách trình bày các sự kiện một cách nghiêm chỉnh, mạnh mẽ và đầy lòng tin kính. Họ đồng ý với hành động cương quyết chống lại tội bội đạo, sẵn sàng chết để ngăn cản sự bội đạo (23) và rồi sau đó họ giải thích rõ ràng, đầy đủ về động cơ của họ. Họ nói họ cần đài kỷ niệm thích hợp, như bàn thờ sao y kiểu bàn thờ này, để phá đổ rào cản nhiên nhiên là sông Giô-đanh và để làm chứng cho thế hệ mai sau biết rằng con cái trong giao ước của họ có quyền bình đẳng trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời (24-28 Gios 4:5-7). Bàn thờ này không dùng để dâng của lễ, cho nên đây không phải là tội bội đạo.
Nhờ phương thức thoả đáng mà các anh em bị chia rẽ lại hoà thuận với nhau và ngợi khen Đức Chúa Trời (30-34). Không có bóng dáng của sự bội đạo khiến ngưòi ta ca ngợi Đức Chúa Trời. Có Ngài ở với họ, thì lẽ ra sự hiện diện của Ngài phải thúc giục tín đồ tìm tòi nguyên nhân nào khiến Ngài không thể ban ơn lành cho mình.
Lời từ biệt của Giô-suê “Các lời” từ biệt của Giô-suê đặt ông vào hàng những bậc lỗi lạc như Môi-se (Phu 31:1-13), Sa-mu-ên (ISa 12:1-24) và Đa-vít (IVua 2:1-9) là những người đặt lòng trung thành với giao ước. Ông nói những lời cuối cùng ít lâu sau khi phân chia xong đất đai (xem Gios 13:1). Cả Môi-se và Giô-suê, là những người sáng lập ra thể chế Thần quyền, đã giữ đức tin cho đến chết và là mẫu mực cho các nhà lãnh đạo lý tưởng, đã dạy cho thế hệ sau phải giữ trọn giao ước (so sánh IITi 3:10-4:6 IIPhi 1:12-21).
(Gios 23:1-4) Dẫn nhập vào lịch sử Trong khi Môi-se lập lại cuộc chinh phục đất phía đông Giô-đanh để xác định sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với giao ước của Ngài (Phu 31:4) thì Giô-suê kiểm điểm bằng cách kể lại chuyện Đức Chúa Trời huỷ diệt dân Ca-na-an bên phía tây Giô-đanh (3) và việc ông chia đất chưa chiếm được (4) dân sự đã nhìn thấy tận mắt. Từ Hê-bơ-rơ được dịch là “nhớ” trong câu 4 phải dịch là “thấy” như trong câu 3 mới chính xác hơn. Tuy nhiên, ngày hôm nay Thánh Linh nhen nhóm đức tin qua sự truyền rao lời của đức tin (Ro 10:6-13).
(Gios 23:5-8). Nghĩa vụ trong giao ước Đức Chúa Trời cam kết Ngài sẽ đánh đuổi dân Ca-na-an (5) còn Y-sơ-ra-ên cam kết sẽ mạnh mẽ trong đức tin (Gios 1:6,9) và giữ luật pháp (6). Họ hứa sẽ gìn giữ, không rơi vào sự thờ lạy các thần của dân Ca-na-an, là loại tín ngưỡng không có yêu cầu về mặt đạo đức (7 so sánh Phu 5:9 8:19), và hứa nguyện chỉ trung thành với một mình Đức Chúa Trời thôi (8 Gios 1:7-9). Như trong bài từ biệt các chi phái phía đông, trong bài từ biệt này Giô-suê cũng dùng những lời chép trong sách Phục Truyền Luật Lệ Ký.
(Gios 23:9-11). Từng trải giao ước Thế hệ của Giô-suê đã trung thành với Đức Giê-hô-va và kinh nghiệm lời hứa của Đức Chúa Trời trong giao ước. Đúng như đã hứa, chẳng một ai chống nghịch lại họ (1:5). Ở điểm này, chúng ta có thể nhận thấy được chủ đề thần học của tác giả chi phối cách sử dụng dữ kiện (13:1-7). Ông đề cao chiến thắng bởi đức tin của dân Y-sơ-ra-ên trên các dân tộc hùng cường và đông đảo, nhưng ông không nhắc đến thất bại do lòng vô tín (17:12-13,14-18 18:3,47). Từng trải bổ ích đó đủ để thúc giục chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời của chúng ta (22:5).
(Gios 23:12-13). Lời rủa sả của giao ước Giao ước cũ của Y-sơ-ra-ên chứa đựng những lời hứa phước hạnh nếu tuân thủ, lẫn những hình phạt nặng nề nếu vi phạm (Le 26:1-46 Phu 28:1-68). Khi đưa ra các nghĩa vụ trong giao ước, Giô-suê nhấn mạnh đến việc phân rẽ khỏi tín ngưỡng của dân Ca-na-an (7) và cảnh giác dân Y-sơ-ra-ên không nên giao dịch tiếp xúc với họ (12), vì ông cho rằng tín ngưỡng và đạo đức của họ sẽ bị lây nhiễm rồi sẽ không tránh khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (so sánh Phu 7:2-4). Nếu dân Y-sơ-ra-ên liên kết với các dân tộc, thì Đức Chúa Trời sẽ dùng các dân tộc này để giáng sự rủa sả của giao ước trên những người bất trung (so sánh Gios 5:13-15). Trong chiến trận của vương quốc Đức Chúa Trời và các vương quốc thuộc thế giới này, người ta không được phép đứng trung lập (so sánh Eph 6:10-18). Hoặc thánh đồ chiến thắng, hoặc tội nhân chiến thắng. Ai không về phe với Ngài, thì nghịch lại Ngài (Mat 12:30). Những người trung lập sẽ bị tiêu diệt (so sánh Ch 24:30-34), nhưng Thánh Linh ngự trong các thánh đồ mạnh hơn các lực lượng tà linh đang dàn trận chống nghịch lại các thánh đồ. Những người tự xưng có kết giao ước với Đức Chúa Trời phải bền tâm trong đức tin để ở trong xứ phước hạnh (13 so sánh IISu 7:19-22 He 6:4-7 10:26-31) như lịch sử bi thảm của dân Y-sơ-ra-ên đã để lại bài học đau đớn (IVua 17:7-8 24:20). Xem Gios 1:7-9 để biết những điều có lợi của giao ước mới và xem 9:1-27 để biết những tai hại của việc chung sống với “các dân tộc”.
(Gios 23:14-16). Lời Đức Chúa Trời là thật Thế hệ người Y-sơ-ra-ên đứng ra chinh phục đất hứa đã từng trải kinh nghiệm Đức Chúa Trời giữ đúng lời Ngài hứa (1:1-9 21:43-45). Giô-suê đã chứng minh cho lẽ thật này suốt đời ông (14). Sự kiện Đức Chúa Trời trung tín giữ lời hứa trong giao ước của Ngài trong quá khứ cổ vũ các thánh đồ trung tín hơn nữa, an ủi họ trong nghịch cảnh và giữ gìn họ trong cơn cám dỗ (22:4-5). Đức Chúa Trời không thay đổi, không thất thường cho nên dân sự của Ngài không phải sống trong cảnh phập phồng lo âu. Ngài truyền rao lời hứa để khơi dậy lòng yêu thương, Ngài cũng truyền rao lời đe doạ để gây sợ hãi. Đức Chúa Trời gầy dựng Y-sơ-ra-ên thành một dân tộc hùng cường trong một xứ tốt đẹp để làm cho xứ đó nên thánh bằng luật pháp của Ngài (8:30-35). Nếu dân của Ngài không làm trọn nhiệm vụ, Ngài sẽ tiêu diệt họ (so sánh Mac 12:1-12).
(Gios 24:1) Lập lại giao ước tại Si-chem Các trưởng lão Y-sơ-ra-ên là những người đã chứng kiến những hành động lẫy lừng của Đức Chúa Trời trong việc lập quốc. Họ công nhận và lập lại giao ước với Đức Chúa Trời bốn lần. Lần đầu tiên tại Si-nai sau khi thoát khỏi Ai-cập một cách kỳ diệu (Xu 24:1-18). Tại Mô-áp sau khi Đức Chúa Trời bảo toàn họ cách lạ lùng trong sa mạc và họ đã chinh phục đất đai phía đông Giô-đanh (Phu 29:1). Tại Ê-banh sau khi chiến thắng Giê-ri-cô và A-hi (Gios 8:30-34) và cuối cùng là tại Si-chem sau khi chiến thắng liên minh Ca-na-an cách lạ lùng (11-13,18). Hai lần đầu do Môi-se làm trung gian, hai lần sau do Giô-suê. Đây là một trong các điểm tương quan rõ ràng nhất giữa Môi-se và Giô-suê: cả hai cùng làm trung gian cho giao ước của Đức Chúa Trời. Trong những trường hợp này, các trưởng lão đại diện cho toàn thể dân tộc.
Giô-suê tập họp dân sự tại Si-chem trước mặt Đức Chúa Trời (nghĩa là trước Hòm Giao Ước) để lập lại giao ước hoặc vào lúc ông nói lời từ biệt (chương 23) hoặc vào một dịp khác. Dĩ nhiên là phải thỉnh Hòm Giao Ước và Đền Tạm đến địa điểm biệt riêng ra thánh (c.32 8:30-35 Sa 33:18-20).
Giao ước này tương tự như các hiệp ước ở vùng Cận Đông xưa, trong đó một cường quốc (Ai-cập, A-si-ri, Ba-by-lôn, Ha-ti) kết ước với một quốc gia yếu kém hơn (thí dụ hai nước sau đây U-ga-rít và Amuru - A-mô-rít). Loại hiệp ước này được gọi là “Hiệp ước chư hầu”, điển hình gồm có sáu phần: lời mở đầu công nhận vua cao cả (2a) phần mở đầu lịch sử tường thuật lại lòng nhân từ của vua đối với dân chư hầu (2b-13) các quy định và nền tảng căn bản để phụng sự một mình vua và vương quốc của Ngài (14) những lời rủa sả và chúc lành (19) những lời làm chứng (22,27) ghi chép và lưu trữ bản giao ước (25-26). Mỗi giao ước có thể có đôi điểm khác so với bản sơ lược này, nhưng vẫn còn đủ những phần chính (so sánh Xu 19:1-24:18 ISa 12:1-25).
(Gios 24:2a). Lời mở đầu: Công nhận Vua Cao Cả Giô-suê tuyên phán như một vị tiên tri, như một sứ giả từ thiên cung. Vua Cao Cả luôn luôn được mô tả là tác giả của giao ước. Sự thay đổi từ “Tôi” sang “Ngài” có liên quan đến tác giả như trong c.7 là chuyện bình thường trong văn chương cổ.
(Gios 24:2b-13). Mở đầu lịch sử: Lòng nhân từ của Vua Điều rất điển hình là Vua Cao Cả kể lại lịch sử về mối liên hệ của Ngài với dân chư hầu để khơi dậy nơi họ lòng tin tưởng và sự nhận thức về bổn phận (Gios 13:1-7). Một vương quốc vững bền phải được xây dựng trên sự thoả thuận phát xuất từ trong tấm lòng chứ không phải bằng vũ lực trắng trợn (23 22:5).
Đức Chúa Trời bắt đầu thiết lập mối tương quan độc đáo của Ngài với Y-sơ-ra-ên kể từ khi Ngài chuộc Áp-ra-ham ra khỏi gia đình ngoại đạo, mà gia trưởng là Tha-rê. Để bày tỏ đức tin mới này, các gia đình được phước hạnh trong dân Y-sơ-ra-ên phải cắt bì cho các con trai của mình. Phần còn lại của lịch sử thiêng liêng đó được chép đầy đủ rõ ràng trong sách Ngũ kinh và sách Giô-suê ngoại trừ phần thêm vào: Những người (nghĩa đen là “những bậc vua chúa”) Giê-ri-cô chiến đấu chống lại các ngươi (11). Bảy dân tộc được kể ra biểu thị cho tất cả (3:10). Ong lỗ (so sánh Phu 7:20) có lẽ là hình ảnh về sự kinh hoàng và rối loạn do Đức Chúa Trời gây ra để giúp Y-sơ-ra-ên chiến thắng. Điều được nhấn mạnh nơi đây là sự chiến thắng không do sức mạnh quân sự, nhưng bởi sự can thiệp lạ lùng của Đức Chúa Trời. Hai vua là Si-hôn, vua dân A-mô-rít và Óc, vua Ba-san (Gios 12:2-5). Mặc dù Y-sơ-ra-ên có thể phải dùng gươm và cung để chiếm đất hứa, nhưng họ không thể nhận cuộc chiến thắng là của họ (12 so sánh 23:5 Thi 44:1-3).
(Gios 24:14-18). Quy định: Trung thành với Đức Giê-hô-va Chủ yếu trong giao ước của dân chư hầu là quy định lòng trung thành với Vua Cao Cả duy nhất. Trong một hiệp ước của người Hê-tít có một điều khoản: “Đừng hướng cái nhìn đến bất cứ ai khác!” Ở đây cũng thế: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời (14a) tức là phất cờ trắng đầu hàng luật pháp Đức Chúa Trời, phục tùng điều răn của Ngài. Không thể vừa “kính sợ Ngài” lại vừa phụng sự các thần khác được (so sánh IIVua 17:32-34), phải ném bỏ các hình tượng này đi (14b Sa 35:2-4). Vì yêu thương dân Y-sơ-ra-ên mà Đức Chúa Trời không chấp nhận một đối thủ nào. Chúa Giê-xu cũng vậy (so sánh Mat 6:24 Lu 14:26). Lời nhắc nhở đến xứ Ai-cập (14b) góp phần vào sách Ngũ Kinh để chứng tỏ rằng dân Y-sơ-ra-ên được giải cứu khỏi Ai-cập là được giải cứu về phương diện thuộc linh chứ không phải chỉ có phương diện chính trị (Exe 20:5-10 23:1-4). Đức Chúa Trời đòi hỏi dân sự phải quyết định trung thành - hoặc trung thành với các thần tượng bằng vàng của Tha-rê và các thần mới xứ Ca-na-an, hoặc trung thành với chính Ngài (15 so sánh IVua 18:21 Kh 3:16). Họ được phép chọn lựa chứng tỏ họ được tự do trước mặt Đức Chúa Trời.
Mỗi một gia đình phải tự mình quyết định tham gia vào giao ước hoặc không tham gia như chính Giô-suê với quyết định nổi tiếng của ông (15b). Dầu Y-sơ-ra-ên là một dân tộc, nhưng giao ước chủ yếu là vấn đề của từng gia đình và cũng sẽ cứ như thế (so sánh Cong 16:31). Nhờ chứng kiến các công việc kể trong phần mở đầu cho nên thế hệ này có thể xác nhận sự thật của những việc đó và có thể lập nền tảng đúng đắn cho mối liên hệ với Đức Chúa Trời trong giao ước cũ. Sau này giao ước được truyền lại bằng miệng và ghi vào tấm lòng của các thế hệ kế tiếp (Phu 31:11-14). Cũng thế, cộng đồng của giao ước mới được xây dựng trên các Sứ-đồ là những người chứng kiến đời sống của Chúa Cứu Thế Giê-xu, đặc biệt là sự phục sinh của Ngài (Cong 1:21-22 ICo 15:8) rồi sau đó tuyên xưng bằng miệng và nhận bằng tấm lòng (Ro 10:6-10).
(Gios 24:19-21). Lời rủa sả của giao ước Nhờ sự khải thị của Đức Chúa Trời và qua từng trải mà Giô-suê biết rằng dân sự không thể giữ được giao ước cũ (19 Phu 31:14-32:47). Ông nghiêm trọng cảnh cáo rằng nếu họ vi phạm giao ước của Đức Chúa Trời thánh khiết, ghen tuông, là Đấng không tha thứ cho tội phản loạn và mọi tội của các ngươi (nghĩa là Đấng giữ các lời rủa sả của Ngài) thì họ sẽ bị hình phạt bằng tai hoạ chép trong các lời rủa sả của giao ước (20 so sánh Gios 23:12-13). Bản chất của Đức Chúa Trời là không thay đổi, Ngài chỉ thay đổi thái độ với dân Ngài khi họ quay lại với Ngài hoặc chống lại Ngài. Theo phương thức đó Ngài ban thưởng hoặc sửa phạt (so sánh Gie 18:5-10). Hi vọng duy nhất của họ là công lao cứu chuộc của Chúa Cứu Thế (so sánh Thi 32:1-2 130:3-4 Lu 22:20 Ro 3:21-26). Do sự thất bại của giao ước cũ và vì con người hay thay đổi, nên nhiều thế kỷ sau dân Y-sơ-ra-ên học biết là cần có giao ước mới và học cách bước đi trong Thánh Linh, đúng như Phao-lô đã học (7:7-8:4). Đường lối của Đức Chúa Trời trong lịch sử chìm ngập trong sự mầu nhiệm vì sự vinh hiển của Ngài (11:33-36).
Trên căn bản, thế hệ lập quốc có tuân thủ giao ước, dù Giô-suê vẫn phải khuyên giục một số gia đình ném bỏ thần tượng cũ (14,23).
(Gios 24:22-27). Chứng cớ giao ước và sự ghi chép luật pháp Môi-se dạy dân sự một bài ca làm chứng nghịch lại họ (Phu 31:9-32:44). Giô-suê kêu gọi dân sự làm chứng về chính mình họ (22) vì họ có lòng quyết tâm và sáng suốt nhận biết Đức Chúa Trời là thành tín, tuy họ cũng có dại dột vì không biết bản chất hay thay đổi của con người (24) cho nên Giô-suê tái lập giao ước, viết ra đúng theo những điều khoản rồi ghi chép vào sách luật pháp của Đức Chúa Trời (25a-26) ngày nay không còn dấu vết nào ngoài trừ tên sách được ghi nơi đây. Ông dựng một tảng đá to lớn để có thêm chứng cớ nữa nghịch lại họ, có lẽ tảng đá này là một cây trụ bên trong đựng bản giao ước (26b-27 so sánh Gios 8:31-32 Cac 9:6 Gios 4:5-7 Sa 28:18 31:45-50 ISa 7:12).
(Gios 24:28). Giải tán hội chúng Sau khi đã hoàn tất công tác, chiếm xứ, tái lập giao ước, Giô-suê cho dân sự giải tán lần cuối cùng.
2. Tái bút: Thông báo về lễ mai táng (Gios 24:29-33)
Tác giả sách Phục Truyền Luật Lệ Ký kết luận sách của ông với việc chôn cất Giô-suê (29-30), Giô-sép (32) và Ê-lê-a-sa (33) trong cảnh thái bình của đất hứa, vì họ tiêu biểu cho chủ đề chính yếu của ông là: Đức Chúa Trời ban cho thế hệ trung thành sự yên nghỉ trong đất Ngài hứa với tổ phụ. Cuối cùng Giô-suê được tặng thưởng danh hiệu đáng tôn trọng đúng với ông: Đầy Tớ Đức Giê-hô-va (so sánh Gios 1:1). Một Đấng khác, lớn hơn sẽ làm trung gian cho giao ước mới (Es 42:6 49:8).
(Gios 24:28-31). Liên kết sách Giô-suê với sách Các Quan Xét (Cac 2:6-9), đối chiếu phước hạnh của thế hệ sáng lập với cảnh khốn cùng của thế hệ kế tiếp. C.32 liên kết sách Giô-suê với Ngũ Kinh (so sánh Sa 50:25 Xu 13:19).