Một là thời đại các thành.– Dân tộc kiều ngụ sớm hơn hết ở Ba-by-lôn có lẽ là giống Cúc (Sáng thế ký 10:6). Về sau, có giống Sem tiến vào. Song họ đến từ khi nào và phương nào, nay không thể xét được. Cứ như bảng đất đã chép, thì trước khi Ba-by-lôn mở mang thành nước, dân cư đó họp thành từng bộ lạc: Những người ở trong thành ấp, đều nương cậy ở một vách thành để được bền vững. Cho nên mới có tên gọi là thời đại các thành. Kịp khi số người và súc vật của các bộ lạc nhiều lên, họ bèn tranh cạnh nhau về bãi chăn nuôi và việc mua bán. Cuối cùng họ xâu xé lẫn nhau! Ba-by-lôn cũng là một trong các thành. Cái cớ Ba-by-lôn vùng dậy lập được thành nước cũng là vì nó nuốt trôi nhiều bộ lạc khác. Xét trong các thành có một thành tên gọi BABYLONIA xây bên vịnh Ba-tư, phía tây của sông Ơ-phơ-rát. Cách vài chục hoặc vài trăm cây số về mặt đông, tây và bắc cửa thành, còn có năm cái thành nhỏ. Người ta đào trong đó được bảng đất đủ giúp tài liệu để khảo cứu. Trong đống hoang tàn ở đó, phát hiện vô số cổ tích. Xét kỹ, thì biết văn hóa họ đã sớm phát đạt. Ngoài đó còn có hơn năm, sáu thành nữa, song không biết rõ. Tóm lại, thành Ba-by-lôn dấy lên là từ sau khi các thành nói trên suy sụp, mà dường như cùng một thời với thành Cha-ran như có nói trong Sáng thế ký 11:31. Còn như việc các thành tranh cạnh, cứ coi trong bảng đất, thì chừng trải qua nhiều năm cho đến lúc Ba-by-lôn diệt hết các thành mới thôi.