XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ
1. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN TẠI AI CẬP (Xu 1:1-2:25)
Hai chương mở đầu của Xuất Ê-díp-tô Ký (bao quát nhiều thế kỷ) là phần dẫn nhập cần thiết cho những diễn biến của câu chuyện trình bày trong sách. Trước hết, chúng ta biết người Y-sơ-ra-ên cư ngụ tại Ai Cập (1-6) và số dân gia tăng đến nỗi chính quyền Pha-ra-ôn lo ngại, rồi áp dụng những biện pháp vô nhân đạo để chận đứng đà gia tăng này (Xu 1:7-22). Giữa khung cảnh đó, tác giả giới thiệu với chúng ta Môi-se, một nhà lãnh đạo tài giỏi, giữ vai trò chính trong chuyện (2:1-22). Bất chấp lệnh của Pha-ra-ôn truyền là phải sát hại tất cả các bé trai con người Hê-bơ-rơ mới ra đời, Môi-se sống sót nhờ người mẹ khôn ngoan. Rồi tình thế biến chuyển cách lạ lùng cho phép ông được trưởng dưỡng trong hoàng cung Ai Cập. Nhiều năm sau, vì giết một người Ai Cập và đánh một người Y-sơ-ra-ên, nên ông phải chạy trốn và kiều ngụ trong xứ Ma-đi-an (11-22). Tác giả kết thúc phần dẫn nhập với một câu nhận xét cho biết Đức Chúa Trời quan tâm đến người Y-sơ-ra-ên (23-25), và câu này làm một gạch nối với phần kế tiếp trong sách.
1. Dân Y-sơ-ra-ên đến Ai Cập (Xu 1:1-6)
Xuất Ê-díp-tô Ký khởi đầu khá tẻ nhạt với bản liệt kê ngắn gọn tên mười hai con trai của Y-sơ-ra-ên cũng gọi là Gia-cốp (so sánh Sa 32:28) và ghi nhận là khi di cư qua Ai Cập toàn gia có bảy mươi người. Dữ kiện này như một cây cầu quan trọng nối liền Xuất Ê-díp-tô Ký với Sáng Thế Ký, và có lẽ tác giả cho rằng độc giả đã đọc bài tường thuật đầy đủ hơn trong 46:1-27 về những người di trú sang Ai Cập (tuy nhiên bảng danh sách này liệt kê theo thứ tự như bảng danh sách được chép trong 35:23-26). Câu 6 đề cập đến sự qua đời của Giô-sép là câu nhắc lại sự kiện trong 50:22-26.
Chú giải:5 Sách Công Vụ Các Sứ-đồ Cong 7:14 cho biết số con cháu của Gia-cốp là bảy mươi lăm người, theo một bản dịch cổ từ tiếng Hi Lạp (xem phần bình giải Sa 46:27).
2. Người Ai Cập áp bức dân Y-sơ-ra-ên (Xu 1:7-2:10) (Xu 1:7-2:10)
Theo bản tiếng Hi Bá Lai câu 7 nhấn mạnh việc con cháu Y-sơ-ra-ên gia tăng nhanh chóng bằng cách dùng bốn động từ có liên hệ tới sự tăng trưởng (bản tiếng Việt dịch là ‘sinh sôi nảy nở, thêm nhiều lạ lùng và trở nên cường thạnh’) và cụm từ cả xứ đầy dẫy con cháu ho. Mức gia tăng lạ lùng này làm thành tựu phần nào lời Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp (so sánh 12:2 13:6 15:5 17:26 22:17 26:4 28:14 35:11 46:3 48:4). Đây cũng là bằng chứng rõ ràng về phước hạnh Đức Chúa Trời giáng trên dân Y-sơ-ra-ên.
Việc đăng quang của vị vua mới không biết Giô-sép tiên báo những diễn biến kéo theo nhiều hậu quả quan trọng cho cả dân Y-sơ-ra-ên và người Ai Cập. Vị tân vương này cho rằng dân Y-sơ-ra-ên phát triển đông đúc như vậy là mối đe doạ chính cho nền an ninh lâu dài của vương quốc. Người Ai Cập phải áp dụng những biện pháp khôn khéo và cùng nhau hợp lực chống lại mối đe doạ ẩn tàng này (9-10). Kết quả là dân Y-sơ-ra-ên bị cưỡng bức xây thành chứa lương thực cho Pha-ra-ôn (11). Hành động man rợ của Pha-ra-ôn nhắc chúng ta nhớ rằng một dân tộc có thể thống trị và bóc lột một dân tộc khác ra sao. Lạ lùng thay, người Ai Cập càng áp bức thì dân số của người Y-sơ-ra-ên càng gia tăng (12). Những nỗ lực cứng rắn của con người không ngăn cản được ý định của Đức Chúa Trời là khiến Y-sơ-ra-ên trở thành một dân tộc lớn.
Để đối phó với tình trạng dân Y-sơ-ra-ên liên tục gia tăng dân số, Pha-ra-ôn tìm một biện pháp khác để hạn chế sinh đẻ. Ông ra lệnh cho các nữ hộ sinh Siếp-ra và Phu-ra phải giết tất cả các bé trai mới chào đời (16). Họ không vâng theo lệnh của vua vì họ kính sợ Đức Chúa Trời (21). Vì vậy Đức Chúa Trời ban thưởng cho họ. Đức Chúa Trời vẫn ban thưởng cho những người tôn trọng Ngài trên hết.
Cương quyết theo đuổi chính sách chống lại Y-sơ-ra-ên, Pha-ra-ôn ra lệnh cho dân Ai Cập ném các trẻ sơ sinh trai người Hê-bơ-rơ xuống sông Ni-lơ (22). Đức Chúa Trời sắp xếp hoàn cảnh để đón Môi-se chào đời và giải cứu ông. Thật là trớ trêu, chẳng những ông được con gái Pha-ra-ôn cứu khỏi dòng sông, nhưng ông còn được nuôi dưỡng dưới sự bảo vệ của chính người đã từng đe doạ hại mạng sống ông (9-10).
Chú giải. 8 Xuất Ê-díp-tô Ký không nêu rõ danh tánh các vua (Pha-ra-ôn) Ai Cập. Dù họ có thế lực, nhưng họ được nhắc đến như những người không có giá trị gì. Sở dĩ có chuyện như vậy là vì Xuất Ê-díp-tô Ký muốn nêu ra sự tương phản giữa Đức Giê-hô-va với các vua Ai Cập. 11 Vị trí chính xác của Phi-thom và Ram-se vẫn còn trong vòng bàn cãi. Địa danh Ram-se thường có liên hệ với đại đế Ram-se II (1290-1224). Dầu vậy, có thể địa danh này có từ thời đại xưa hơn nữa hoặc người biên tập đã cập nhật hoá (so sánh 47:11). 11 Pha-ra-ôn là tước hiệu của vua chớ không phải tên riêng. 19 Vì dân số Y-sơ-ra-ên gia tăng kỳ lạ nên chắc Pha-ra-ôn có thể đã tin rằng phụ nữ Hê-bơ-rơ có khả năng sanh đẻ trước khi các nữ hộ sinh đến.
Xu 2:1-10; xem giải nghĩa Xu 1:7-22
3. Môi-se trốn qua Ma-đi-an (Xu 2:11-25) (Xu 1:7-22)
11-22 Đến câu 11 bài tường thuật chuyển nhanh vào giai đoạn trưởng thành của Môi-se theo truyền thống sau này thì lúc đó ông được bốn mươi tuổi (so sánh Cong 7:23). Ba việc có liên hệ chặt chẽ với nhau xảy ra. Việc thứ nhất, Môi-se giết một người Ai Cập đang đánh đập một người Hê-bơ-rơ (11-12). việc thứ hai, ông can hai người Hê-bơ-rơ đánh nhau và quở trách người có lỗi (13-14). Cuối cùng, sau khi trốn thoát khỏi Ai Cập, ông cứu giúp mấy cô con gái của Rê-u-ên (16-19). Trong mỗi việc, Môi-se chứng tỏ mình là người binh vực người cô thế. Toàn là những chuyện trớ trêu. Dù ông cố gắng giấu diếm trước cũng như sau khi giết người Ai Cập, việc làm của ông nhanh chóng bị lộ (12-13). Phản ứng hung hãn của người Hê-bơ-rơ qua câu nói: ‘Ai lập ngươi lên làm vua, làm quan án cho chúng ta?’ (14) vô tình báo trước những diễn biến sau này trong sách, là lúc Môi-se trở thành nhà lãnh đạo và quan án trên dân Y-sơ-ra-ên (so sánh Xu 18:13-26). Sau khi trốn khỏi Ai Cập vì có lập trường chống lại chính sách áp bức của Ai Cập, Môi-se lại bị các con gái Rê-u-ên gọi là người Ai Cập (19). Mặc dù ông tích cực quan tâm đến những người cô thế và bị áp bức, nhưng Môi-se vẫn chưa đạt tiêu chuẩn làm người giải phóng dân tộc. Đúng hơn, ông buộc phải từ bỏ địa vị của một thành viên trong hoàng tộc để trở nên khách lạ trong xứ ngoại bang (22). Cũng vậy các Cơ Đốc nhân sống trong một thế giới đầy chuyện bất công, hoặc có lúc đối diện với sự áp bức, họ phải tích cực hành động thay cho kẻ nghèo và người cô thế.
Chú giải. 15 Môi-se chạy về hướng đông đến Ma-đi-an, một vùng đất chung quanh vịnh Aqabah. Có thể khu vực này được gọi theo tên con trai Áp-ra-ham (so sánh Sa 25:2).
23-25 Đức Chúa Trời quan tâm đến dân Y-sơ-ra-ên Mẫu tin về sự băng hà của vua Pha-ra-ôn tuy ngắn gọn nhưng dẫn vào một phân đoạn hết sức quan trọng. Phân đoạn này tập trung vào cảnh ngộ khốn khổ dai dẳng của người Y-sơ-ra-ên sống tại Ai Cập. Về mặt chủ đề, đoạn này có liên hệ với đoạn trước. Giống như Môi-se, Đức Chúa Trời quan tâm đến những người bị áp bức. Mặc dù trước đó bản tường thuật chỉ nhắc sơ chuyện Đức Chúa Trời quan tâm đến dân của Ngài, nhưng lúc này bản tường thuật cho biết chi tiết rằng Đức Chúa Trời đã thấu hiểu nỗi khốn khổ của họ: Đức Chúa Trời nghe, nhớ, thấy và biết (24-25). Đặc biệt quan trọng là giao ước của Đức Chúa Trời lập với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp được nhắc đến. Trọng tâm của giao ước là lời hứa ban xứ Ca-na-an cho con cháu của họ (so sánh Sa 17:8 26:3 28:13 48:4). Áp-ra-ham nhận một lời hứa thậm chí còn đặc biệt hơn nữa, ấy là: ‘biết chắc con cháu ngươi sẽ kiều ngụ trong một xứ lạ, họ sẽ bị làm tôi mọi và bị ngược đãi trong 400 năm. Nhưng Ta sẽ phạt dân tộc bắt chúng làm tôi mọi và khi ra khỏi xứ họ sẽ được của cải rất nhiều.’ (15:13-14). Bây giờ là lúc giải phóng con cháu Áp-ra-ham ra khỏi cảnh tù đày, áp bức tại Ai Cập.
2. GIẢI PHÓNG KHỎI AI-CẬP (Xu 3:1-15:21)
1. Môi-se trong đồng vắng Ma-đi-an (Xu 3:1-22)
Hai chương trước bao quát một thời gian dài, còn thời gian trong phần này thu ngắn hẳn. Ở đây Đức Chúa Trời bày tỏ những việc Ngài dự định thực hiện để giải cứu dân Y-sơ-ra-ên đang bị áp bức. Môi-se được uỷ nhiệm làm người dẫn dân sự ra khỏi Ai Cập. Vì nhiệm vụ của ông rất quan trọng nên cuộc gặp gỡ giữa Đức Chúa Trời và Môi-se được ghi chép rất chi tiết, chủ yếu tập trung vào cuộc đàm luận. Rõ ràng là toàn thể sự việc ảnh hưởng rất sâu xa trên Môi-se.
Cuộc gặp gỡ giữa Đức Chúa Trời và Môi-se có nhiều điểm đáng chú ý. Trước hết, Môi-se gặp Đức Chúa Trời trong bụi gai cháy. Trong toàn bộ Xuất Ê-díp-tô Ký, sự hiện diện của Đức Chúa Trời được biểu thị bằng lửa và khói (Xu 13:21-22 19:11 24:17 40:38 so sánh Le 9:24 10:2 Dan 11:1-3 Phu 9:3 18:16). Thứ hai vì bản tánh đáng kính sợ của Đức Chúa Trời nên con người phải thận trọng khi đến với Ngài. Môi-se công nhận sự thánh khiết của Đức Chúa Trời bằng cách cởi giày ra. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký sự thánh khiết của Đức Chúa Trời thường xuất hiện làm chủ đề chính. Sau khi dẫn bầy chiên của bố vợ mình đi qua đồng vắng đến Hô-rếp (1), sau này Môi-se dắt dân Y-sơ-ra-ên đến cùng địa điểm ấy (so sánh Xu 3:12 19:1-2). Rồi tại đây họ cũng đối diện với sự hiện diện thánh của Đức Chúa Trời qua ngọn lửa (xem chương 19).
Mặc dù bối cảnh có nhiều chi tiết đáng chú ý, nhưng bản tường thuật tập trung vào cuộc đàm luận giữa Đức Chúa Trời với Môi-se sau đó. Điều quan trọng là ngay từ đầu Môi-se phải biết danh tánh của Đấng phán với ông: ‘Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp’ (6). Kế đến Đức Chúa Trời khải thị cho Môi-se điều độc giả đã biết, ông thiết tha lo lắng cho dân sự đang chịu khổ tại Ai Cập (7-9, so sánh 2:23-25). Giờ hành động đã đến. Qua Môi-se Ngài dự định cứu họ ra khỏi Ai Cập, một xứ đầy áp bức, và đem họ vào xứ Ca-na-an, một xứ lắm cơ hội. Phản ứng của Môi-se không lạ gì lắm: ‘Tôi là ai mà dám đi đến Pha-ra-ôn và dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai Cập?’ (11). Môi-se có khả năng gì để thực hiện nhiệm vụ này? Làm thế nào một kẻ bị truy nã lại có thể yết kiến Pha-ra-ôn được? Đức Chúa Trời thẳng thắn đáp lại: ‘Ta ở với ngươi’ (12). Kèm theo câu nói này là một lời hứa về phép lạ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không hứa phép lạ sẽ xảy ra ngay lập tức, trước hết Môi-se phải tỏ lòng tin cậy Ngài trước khi ông nhìn thấy phép lạ xảy ra.
Môi-se lại nêu ra một nan đề nữa là: làm thế nào ông thuyết phục được dân Y-sơ-ra-ên tin rằng Đức Chúa Trời đã sai ông đến với họ? Khó lòng giải nghĩa câu 13-15, là mấy câu tập trung nói về danh tánh của Đức Chúa Trời. Vì người Y-sơ-ra-ên tin rằng danh xưng phản ánh bản tánh của con người, nên Môi-se hỏi tên Ngài là điều quan trọng. Trong Sáng Thế Ký, mỗi danh xưng của Đức Chúa Trời bày tỏ một phương diện đặc thù trong bản tánh của Ngài. El Elyon (Đức Chúa Trời Chí Cao, Sa 14:18-20), El Roi (Đức Chúa Trời Đoái Xem Tôi, 16:13), El Shaddai (Đức Chúa Trời Toàn Năng, 17:1), El Olam (Đức Chúa Trời Hằng Hữu, 21:33). Tại đây, Đức Chúa Trời tự giới thiệu tên riêng của Ngài là ‘Gia-vê’, hầu hết các bản tiếng Anh dịch là Đức Giê-hô-va (15). Trong tiếng Hi Bá Lai danh ‘Gia-vê’ rất sát ý với cụm từ trong câu 14 và được dịch dưới nhiều dạng: TA LÀ TA, ‘Ta sẽ là Ta, ‘Ta vẫn là Ta’. Cụm từ này được rút gọn trong câu nói: ‘ĐấNG TỰ HỮU đã sai ta đến cùng ngươi’. Khác với các danh xưng trước, danh ‘Gia-vê’ không giới hạn bản tánh của Đức Chúa Trời trong một phương diện đặc thù nào: Ngài là Ngài. Hơn nữa, bản tánh của Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi. Ngài là Đức Chúa Trời mà các thế hệ trước đây đã tôn thờ (Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp) và các thế hệ sau cũng sẽ tôn thờ (Đó là danh đời đời của Ta, ấy sẽ là kỷ niệm của Ta trải qua các đời).
Về đến Ai Cập, Môi-se triệu tập các trưởng lão Y-sơ-ra-ên lại. Họ đồng lòng xin Pha-ra-ôn cho họ đi ba ngày đường đến đồng vắng để thờ phượng Đức Chúa Trời (18). Đáp lại thỉnh nguyện nhỏ nhoi này, Pha-ra-ôn bộc lộ thái độ thù địch dữ dội đối với dân Y-sơ-ra-ên. Vua không chấp thuận, không phải vì họ đòi hỏi thái quá, nhưng có lẽ vì vua ngại rằng nếu để cho họ đi thì họ sẽ đi luôn. Câu chuyện từ chương 7 đến chương 15 củng cố cho nhận xét trên. Pha-ra-ôn sẽ không chịu đổi ý trừ phi có bàn tay đầy uy quyền ép buộc ông (19). Bàn tay của Đức Chúa Trời cưỡng bách dân Ai Cập mạnh đến độ họ sẵn sàng cho người Y-sơ-ra-ên của cải để người Y-sơ-ra-ên mau ra khỏi Ai Cập. Của cải này đền bù lại những nỗi khốn khổ cực nhọc mà dân Y-sơ-ra-ên đã chịu đựng.
Mặc dù được Đức Chúa Trời bảo đảm, Môi-se vẫn cứ ngại ngùng và nêu ra một nan đề khác. Lỡ dân Y-sơ-ra-ên không tin ông thì sao? Làm thế nào ông thuyết phục họ tin rằng Đức Chúa Trời thật sự hiện ra với ông? Đáp lại Đức Chúa Trời ban cho ông ba dấu lạ dưới dạng biến đổi kỳ lạ để ông làm bằng chứng khi nói chuyện với dân Y-sơ-ra-ên: cây gậy hoá thành con rắn (2-4) bàn tay nổi phung cùi (6-7) và nước sông Ni-lơ biến thành máu (9). Chính mắt Môi-se nhìn thấy hai phép lạ đầu. Còn phép lạ thứ ba ở thời điểm này ông chỉ có thể tin. Về sau khi dân Y-sơ-ra-ên nhìn thấy cả ba dấu lạ này họ mới chịu tin rằng Đức Chúa Trời thật sai Môi-se đến (30-31).
Tuy nhiên Môi-se vẫn do dự. Ông vịn vào một cớ khác để từ chối sứ mạng: ông không có khẩu tài (10). Bằng một loạt câu hỏi có sức thuyết phục, Đức Chúa Trời khải thị rằng quyền năng của Ngài có thể khắc phục bất cứ khuyết tật nào của ông. Thế mà Môi-se vẫn xin Đức Chúa Trời sai phái một người khác. Ngài nổi giận là chuyện dễ hiểu thôi (13). Làm sao Môi-se lại có thể cứ từ chối mãi như thế! Để tỏ ra Ngài còn kiên nhẫn đối với ông Đức Chúa Trời hứa rằng A-rôn sẽ giúp ông. Nhờ lời hứa này, Môi-se đồng ý trở về Ai Cập. Sở dĩ Môi-se không thổ lộ cho ông gia mình biết lý do khiến ông quay về Ai Cập có thể là vì ông vẫn chưa tin chắc Đức Chúa Trời có thể hoàn thành kế hoạch của Ngài. Sự việc Đức Chúa Trời kêu gọi Môi-se là bằng chứng sống động nhắc chúng ta nhớ rằng chúng ta được kêu gọi phụng sự Đức Chúa Trời hằng sống ra sao. Có lẽ chúng ta cũng do dự như Môi-se vậy!
Trong những hành trang Môi-se đem theo về Ai Cập, cây gậy của Đức Chúa Trời (20) đặc biệt được chú ý nhất. Như chúng ta biết sau này Môi-se sử dụng cây gậy này khi ông đứng trước mặt Pha-ra-ôn để thực hiện các phép la mà Đức Chúa Trời ban cho ông (Xu 7:10,20 8:5,17 9:23 10:13). Là sứ giả của Đức Chúa Trời, Môi-se được ban cho quyền năng để thi hành quyền bính của Đức Chúa Trời (so sánh 3:20). Cây gậy tượng trưng cho quyền bính, chớ không phải là cây gậy thần. Dầu vậy Đức Chúa Trời báo trước cho ông rằng Pha-ra-ôn sẽ ngoan cố không cho dân Y-sơ-ra-ên đi. Kết quả là Đức Chúa Trời trừng phạt người Ai Cập bằng cách giết các con đầu lòng của họ, báo trả lại người Ai Cập về cách họ đã đối xử với người Y-sơ-ra-ên, con trưởng nam của Đức Chúa Trời (22). Lời tiên báo được ứng nghiệm trong 11:1-12:30).
Chú giải. 3:1 Giê-tro còn được gọi là Rê-u-ên (2:18). Hô-rếp, núi Đức Chúa Trời còn gọi là Si-na-i (về vị trí ngọn núi, xin xem phần dẫn nhập và bản đồ). 8 Đất đượm sữa và mật ong là một thành ngữ mô tả sự màu mỡ của xứ Ca-na-an. 15 Từ CHÚA trong bản dịch tiếng Anh không chuyển đạt được ý nghĩa tên riêng của từ Gia-vê trong tiếng Hi Bá Lai. Trong quá khứ người ta đã sai lầm khi chuyển âm từ này thành Giê-hô-va.
Xu 4:1-23; xem giải nghĩa 3:1-22
2. Môi-se gặp A-rôn (Xu 4:24-31)
24-26 Bối cảnh câu chuyện giờ đây chuyển đến quán trọ bên đường. Đây là một chuyện ngắn ngủi đầy bí ẩn về việc Đức Chúa Trời tìm cách giết Môi-se. Ông được tha mạng sau khi Sê-phô-ra can thiệp cắt bì cho con trai của ông là Ghẹt-sôn (so sánh 2:22). Có thể sự cố khác thường này tập trung giải quyết sự thể Môi-se vẫn tiếp tục thiếu lòng tin để thi hành công tác của mình. Mặc dù Đức Chúa Trời đã bảo đảm với ông rằng Ngài sẽ giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi xứ Ai Cập vì Ngài đã lập giao ước với Áp-ra-ham, nhưng Môi-se đã không cắt bì cho con trai mình đúng như Đức Chúa Trời qui định trong giao ước đó (so sánh Sa 17:10-14). Sự cố này là bằng chứng nhắc nhở rằng không cẩn thận tôn trọng lời của Đức Chúa Trời là rất nguy hiểm.
Cuộc họp giữa Môi-se, A-rôn và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên được ghi lại cách ngắn ngủi và ít chi tiết nhất, trái ngược với cuộc đàm đạo dài lê thê giữa Đức Chúa Trời với Môi-se.
Trái với điều Môi-se tưởng, ông được tiếp đón hết sức nồng hậu. Khi họ biết Đức Chúa Trời quan tâm đến mình, các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên cúi đầu thờ lạy. Theo ý nghĩ đã bộc lộ trong cuộc đàm luận với Đức Chúa Trời trước đây, Môi-se chưa bao giờ nghĩ đến khung cảnh như thế này. Mọi sự dường như đã được sắp đặt cho công tác được thành công.
Chú giải. 25 Không rõ nghĩa chính xác của từ huyết lang.
3. Đoán phạt và giải phóng (Xu 5:1-6:13) (Xu 5:1-15:21)
Môi-se yết kiến Pha-ra-ôn lần đầu tiên (Xu 5:1-6:13) Sa 5:1-23. Thành công ban đầu đã khích lệ Môi-se và A-rôn tiến hành việc yết kiến Pha-ra-ôn. Tuy nhiên, Pha-ra-ôn hoàn toàn coi rẻ Môi-se và A-rôn, nhất là ông xem thường Đức Chúa Trời: Giê-hô-va Đức Chúa Trời là ai là trẫm phải vâng lời để cho dân Y-sơ-ra-ên đi? Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết, cũng chẳng cho dân Y-sơ-ra-ên đi (2). Mặc dù lúc này cá nhân Pha-ra-ôn không hiểu biết tí gì về Đức Chúa Trời, nhưng chẳng bao lâu tình trạng này sẽ thay đổi cách lạ lùng. Trong những chương kế tiếp chủ đề ‘nhận biết Đức Chúa Trời’ thường xuyên lập đi lập lại một cách rất ý nghĩa (so sánh Xu 6:7 9:14,16,19 10:2). Sau khi đã khải thị chính mình cho Môi-se, A-rôn và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, giờ đây đến lúc Đức Chúa Trời tự bày tỏ một cách đầy quyền năng cho Pha-ra-ôn và dân Ai Cập biết.
Theo lời Đức Chúa Trời chỉ dẫn (3:18) Môi-se và A-rôn xin
Pha-ra-ôn cho dân Y-sơ-ra-ên đi ba ngày đường vào đồng vắng dâng của lễ. Môi-se lưu ý Pha-ra-ôn rằng nếu họ không vâng lời, Đức Chúa Trời có thể hành hại họ bằng nạn dịch hoặc bằng gươm (3). Môi-se ngụ ý cảnh cáo Pha-ra-ôn rằng vua phải tôn trọng Đức Chúa Trời. Phản ứng của Pha-ra-ôn đối với lời yêu cầu của họ là quá đáng. Ông ra lệnh cho người Ai Cập bắt dân Y-sơ-ra-ên làm gạch cực nhọc hơn nữa, không phát rơm cần thiết để họ làm gạch (so sánh 1:14). Theo nhận xét của các đốc công người Y-sơ-ra-ên thì coi như Môi-se và A-rôn đã tạo cơ hội lý tưởng cho Pha-ra-ôn đẩy mạnh chính sách diệt chủng đối với dân của mình. Do đó họ căm phẫn Môi-se và A-rôn. Trước tình thế này, Môi-se tuyệt vọng quay qua Đức Chúa Trời. Vì sao Ngài để cho tình thế biến chuyển như thế này?
Xu 6:1-13; xem giải nghĩa 5:1-23
Đến lúc này Đức Chúa Trời mới bày tỏ mục đích của Ngài, ấy là Ngài sẽ cưỡng bức Pha-ra-ôn phục tùng cánh tay quyền năng của Ngài (1). Để trấn an Môi-se, Đức Chúa Trời nhắc ông nhớ lại lời hứa thuộc về giao ước mà Ngài đã lập với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp trước đây (2-8). Khi được giải phóng khỏi Ai Cập, người Y-sơ-ra-ên sẽ nhận biết ‘GIÊ-HÔ-VA’ quả thật là Đức Chúa Trời và họ là dân Ngài (7). C.2,6,8 nhắc lại cụm từ ‘Ta là ĐỨC GIÊ-HÔ-VA’ ba lần, nhấn mạnh rằng chính ĐứC GIÊ-HÔ-VA thực hiện điều này. Tuy nhiên, khi Môi-se truyền đạt lời Đức Chúa Trời cho dân Y-sơ-ra-ên, thì họ không chịu nghe nữa (9). Dường như không có gì lay chuyển nổi quyền lực của Pha-ra-ôn. Do đó, ngay cả Môi-se cũng bắt đầu tin rằng tranh đấu cho sự giải phóng của dân Y-sơ-ra-ên là vô ích (12).
Chú giải. 3 Câu này dấy lên một vấn đề quan trọng: Trước thời Môi-se có ai biết danh ‘Gia-vê’ chưa? Các học giả không nhất trí về câu đáp. Một số học giả cho rằng Sáng Thế Ký thường dùng danh xưng này, còn các học giả khác lại cho rằng sau này người ta chen thêm danh xưng này vào Sáng Thế Ký. Dù có thể chứng minh rằng ở một vài chỗ trong Sáng Thế Ký người ta đã thay thế danh xưng ‘Gia-vê’ cho một danh xưng khác của Đức Chúa Trời (thí dụ như trong Sa 16:11,13). Nhưng không phải chỗ nào cũng làm được việc này (thí dụ như trong 15:7 22:14). Tuy nhiên, điều rõ ràng là các tổ phụ quen thuộc với các danh xưng khác, nhất là danh El Shaddai (Đức Chúa Trời Toàn Năng). Ý nghĩa của Xu 6:3 vẫn còn trong vòng bí ẩn.
4. Gia phả của Môi-se và A-rôn (Xu 6:14-27) (Xu 6:28-7:7)
Đến đây tác giả ngưng ngang câu chuyện và chuyển sự chú ý qua gia phả, tập trung nhiều hơn vào bản gia phả của Lê-vi. A-rôn và Môi-se thuộc trong gia phả này (14-25). Bản gia phả viết theo ngôi thứ của các con trai Gia-cốp chép trong 1:2 Ru-bên (14), Si-mê-ôn (15), Lê-vi (16). Tuy nhiên, đến đây bản gia phả tập trung viết về con cháu Lê-vi, thay vì tiếp tục chép gia phả của các con trai khác của Gia-cốp. Bản gia phả thực hiện hai việc. Trước hết, cho biết chi tiết về gia đình Môi-se và A-rôn, vì không có chỗ nào trong Xuất Ê-díp-tô Ký nói về gia đình của họ. Thứ hai, làm cho độc giả phải hồi hộp đợi xem giai đoạn gay cấn này sẽ diễn biến ra sao.
5. Đức Chúa Trời trấn an Môi-se (Xu 6:28-29) (Xu 6:28-7:7)
(Xu 6:28-29). Để tiếp tục câu chuyện với câu 28-30, tác giả lập lại nội dung của câu 10-13. Nếu dân Y-sơ-ra-ên không chịu tin Môi-se thì làm sao hi vọng Pha-ra-ôn tin Môi-se đây? Đáp lại, Đức Chúa Trời bảo đảm với Môi-se rằng ông sẽ thắng Pha-ra-ôn và dắt dân sự ra khỏi Ai Cập. Thậm chí Ngài còn tuyên bố rằng Môi-se sẽ như Đức Chúa Trời của Pha-ra-ôn, còn A-rôn là tiên tri cho Môi-se (7:1-2). Với lời bảo đảm này, lẽ ra Môi-se phải tin tưởng rằng mình sẽ thành công. Đức Chúa Trời cũng báo trước về những dấu kỳ, phép la sẽ xảy ra. Những sự việc này chiếm phần nổi trong những chương từ 7 đến 14. Hơn nữa, Ngài cũng đề cập đến tấm lòng chai đá của Pha-ra-ôn và sự đoán phạt nặng nề. Sau biện pháp đoán phạt này, Ngài dắt dân Ngài ra khỏi xứ Ai Cập. Nhờ đó, người Ai Cập sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va (5). Như vậy bối cảnh dàn dựng xong cho những diễn biến từ 7:8-11:10.
Sa 7:1-7 (xem giải nghĩa 6:28-29)
6. Những dấu kỳ và phép lạ tại Ai Cập (Xu 7:8-25) (Xu 7:8-11:10)
(Xu 7:8-25). Xuất Ê-díp-tô Ký dành khá nhiều chương tường thuật các dấu kỳ, phép lạ được thực hiện tại Ai Cập. Mặc dù người ta thường gọi các phép lạ này là ‘mười tai vạ’, nhưng như vậy là không thoả đáng cho lắm. Trước nhất, mặc dù bản văn Kinh Thánh có dùng từ 'dịch' cho một vài sự việc (9:3,14-15 11:1 so sánh 8:2), nhưng gộp chung nên gọi những việc này là ‘dấu kỳ’ (7:3 8:23 10:1-2) hoặc ‘phép lạ’ (4:21 7:3 11:9-10 so sánh ‘phép lạ’ trong 7:9). Thứ hai, thực ra trong các chương 7-12 có mười một phép lạ. Phép lạ thứ nhất tức là việc cây gậy hoá thành con rắn (7:8-13) không được đưa vào danh sách ‘tai vạ’. Đây cũng là dấu lạ đầu tiên mà Đức Chúa Trời ban cho Môi-se để ông thuyết phục dân Y-sơ-ra-ên tin rằng ‘Đức Giê-hô-va’ thật sự có hiện ra với ông (4:2-5). Phép lạ kế tiếp là phép lạ Môi-se biến nước thành máu trước mặt Pha-ra-ôn (7:14-25) cũng được Môi-se thực hiện cho dân Y-sơ-ra-ên coi để xác chứng rằng Đức Chúa Trời thật sự có kêu gọi ông vào công tác (4:8-9). Tuy nhiên, dân Y-sơ-ra-ên tin Môi-se vì cớ các phép lạ này (4:30-31), còn Pha-ra-ôn chẳng mảy may quan tâm, vì các thuật sĩ của Pha-ra-ôn cũng có thể thực hiện các việc lạ đó (7:11,13,22).
Các phép lạ được trình bày riêng nhưng theo cùng một khuôn thức với đôi chút thay đổi để bớt tẻ nhạt. Có những đặc điểm chung cho tất cả mười một dấu lạ này. Trước hết mỗi bài tường thuật đều bắt đầu bằng cụm từ ‘Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng’. Đức Chúa Trời chủ động trong việc thực hiện từng phép lạ. Đức Chúa Trời cũng kiểm soát mỗi chuyến Môi-se yết kiến Pha-ra-ôn. Thứ hai, mỗi sự việc đều lập lại lời dự báo trong 4:21 và 7:3-4 và kết thúc với lời nhận xét rõ ràng là Pha-ra-ôn sẽ cứng lòng. Đáng lưu ý là tấm lòng chai đá của Pha-ra-ôn tương phản rõ rệt với các diễn biến khác trong câu chuyện. Mặc dù lúc đầu các thuật sĩ người Ai Cập thực hiện những phép lạ y như Môi-se và A-rôn, nhưng chẳng mấy chốc họ không còn khả năng để làm gì nữa nên họ nói với Pha-ra-ôn ‘Ấy là ngón tay của Đức Chúa Trời’ (8:19). Về sau, điều đáng chú ý là họ không đứng nổi trước mặt Môi-se vì ghẻ chốc nổi trên mình ho (9:11). Do đó, các quan trong triều đình của Pha-ra-ôn dần dần tin vào quyền năng của Đức Chúa Trời. Khi Môi-se tiên báo sẽ có trận mưa đá lớn giáng xuống Ai Cập (9:18), thì có vài người lo đề phòng tránh trận mưa đá này (9:20). Kế đó, ông cảnh cáo sẽ có nạn châu chấu, thì các quan thần hối thúc Pha-ra-ôn để cho dân Y-sơ-ra-ên đi (10:7 so sánh 11:3). Dù chung quanh vua có những người nhận ra quyền năng của Đức Chúa Trời, nhưng Pha-ra-ôn vẫn ngoan cố chống lại yêu sách của Môi-se.
Phần Kinh Thánh này nhắc đến lòng chai đá của Pha-ra-ôn nhiều lần khiến chủ đề này thêm phần quan trọng. Đặc biệt bản tánh cứng cỏi được mô tả dưới hai dạng. Trong phần đầu câu chuyện Pha-ra-ôn làm cứng lòng mình, nhưng trong phần sau thì Đức Chúa Trời làm cứng lòng Pha-ra-ôn như trong 4:21 và 7:3 đã báo trước. Nhờ đó tác giả có thể nhấn mạnh cả bản chất đáng tội của Pha-ra-ôn lẫn quyền tể trị của Đức Chúa Trời.
Có người gợi ý các tai vạ mô tả trong Xuất Ê-díp-tô Ký có thể đã xảy ra tại Ai Cập thời xưa. Thí dụ có thể giải thích nước sông Ni-lơ biến thành máu là do nước sông dâng cao khác thường trong suốt tháng 7 và tháng 8. Nước sông đổi màu ‘máu’ là do đất đỏ lơ lửng từ lưu vực sông Ni-lơ và sông Atbara chảy về. Nhưng làm sao giải thích được màu ‘máu’ của nước chứa trong các thùng bằng gỗ, bằng đá khắp xứ Ai Cập (7:19). Cũng không giải thích được phép lạ mà Môi-se làm trước mặt dân Y-sơ-ra-ên trước đây (4:30), hoặc các dấu lạ của các thuật sĩ Ai Cập (7:22). Hơn nữa bản văn nhấn mạnh vào nguồn gốc phát sinh ra các việc đó là Đức Chúa Trời. Thí dụ nhiều lần phép lạ xảy ra khi Môi-se hoặc A-rôn giơ tay ra, hoặc giơ gậy ra. Dù phép lạ có thể trùng hợp với hiện tượng thiên nhiên, nhưng rõ ràng chúng chỉ xảy ra khi có Đức Chúa Trời can thiệp.
Dù mười một dấu lạ trong 7:8-11:10 được trình bày giống nhau, nhưng khi so sánh với nhau chúng ta có thể nhận thấy một số diễn biến rất thú vị. Chúng ta biết các thuật sĩ càng ngày càng bất lực trước mặt Môi-se và A-rôn. Theo cùng chiều hướng đó các quan của Pha-ra-ôn cũng thay đổi thái độ. Phản ứng của Pha-ra-ôn cũng thay đổi. Lúc đầu vua đồng ý cho dân sự ra đi với điều kiện là Môi-se cầu nguyện để Đức Chúa Trời loại trừ ếch nhái (8:8). Lần sau, mặc dù vua muốn dân Y-sơ-ra-ên ở lại Ai Cập hơn, nhưng vua đành chấp nhận cho họ đi một khoảng đường đến sa mạc (8:25-28). Sau trận mưa đá, mặc dù vua tuyên bố là sẽ cho phép họ đi (9:28), nhưng vua nuốt lời. Khi Môi-se đe doạ châu chấu sẽ phủ khắp xứ, Pha-ra-ôn sẵn sàng để cho phái nam đi thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng không cho phụ nữ và con nít đi (10:8-11). Cuối cùng vua chấp nhận cho nam phụ lão ấu đi, nhưng phải để bầy súc vật lại (10:24). Mặc dù vua tỏ vẻ nhượng bộ Môi-se và A-rôn khi đối diện với các dấu kỳ phép lạ, nhưng vua vẫn từ chối không cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi.
Nhờ lập đi, lập lại và đổi vài chi tiết nhỏ giữa những lần xảy ra dấu lạ, một vài phương diện của câu chuyện được lộ hẳn ra. Có hai chi tiết đáng chú ý. Thứ nhất, sự phân biệt giữa dân Y-sơ-ra-ên và người Ai Cập (so sánh 8:22-23 9:4,26 10:23 11:7). Thứ hai có vài lần Pha-ra-ôn nhờ Môi-se cầu nguyện cho vua (so sánh 8:8-12,28-30 9:28-29,33 10:17-18). Môi-se là nhân vật được mô tả là người trung gian giữa Đức Chúa Trời và con người, chủ đề này sẽ xuất hiện trở lại trong phần sau của Xuất Ê-díp-tô Ký.
Dù mười một dấu lạ trong 7:8-11:10 giống nhau về hình thức, nhưng mỗi dấu lạ đóng góp một điểm đặc thù cho toàn thể câu chuyện.
(Xu 7:8-13). Cây gậy biến thành con rắn. Điều thú vị là cuộc đối đầu giữa Môi-se và Pha-ra-ôn bắt đầu từ việc vua Ai Cập đòi một phép lạ (9). Cùng một từ này trong tiếng Hi Bá Lai được dịch là ‘dấu lạ’ trong 4:21 7:3 11:9-10. Rõ ràng là Pha-ra-ôn tin chắc rằng trong một cuộc biểu dương quyền lực, nhờ các thầy phù thuỷ vua dư sức chiến thắng Môi-se. Tuy nhiên, dù họ có đủ khả năng hoá cây gậy thành rắn như A-rôn, nhưng quyền lực của họ tỏ ra yếu kém hơn vì cây gậy của A-rôn nuốt cây gậy của họ (12).
(Xu 7:14-25). Nước biến thành huyết. Khi lập lại bốn lần các chi tiết liên hệ đến phép lạ biến nước thành huyết, tác giả làm nổi bật phạm vi và tính cách nghiêm trọng của phép lạ do Môi-se và A-rôn cùng thực hiện: Khắp nơi trong xứ Ai Cập đều có máu (21).
(Xu 8:1-15). Tai vạ ếch nhái. Pha-ra-ôn yêu cầu Môi-se cầu xin Đức Giê-hô-va cất ếch nhái khỏi trẫm và dân tộc của trẫm. Lời yêu cầu này đem vào phần này một chủ đề mới, là chủ đề sẽ xuất hiện trong một số những tai vạ. Pha-ra-ôn công nhận Môi-se có khả năng cầu thay với Đức Chúa Trời để Ngài phục hồi lại những hoàn cảnh bình thường cho đời sống tại Ai Cập (so sánh 8:28-31 9:28-29,33 10:17-18).
(Xu 8:16-19). Bụi hóa thành muỗi. Thay vì trình bày tai vạ này theo như cách trình bày trong những tai vạ khác tác giả rút gọn lại. Vì vậy phân đoạn này tập trung vào phản ứng của các thuật sĩ Ai Cập đối với tai vạ muỗi. Vì không thể bắt chước Môi-se làm phép lạ này, nên họ thừa nhận với Pha-ra-ôn đây là ngón tay của Đức Chúa Trời (19).
(Xu 8:20-32). Tai vạ ruồi. Chuyện này tập trung chú ý đến sự thương lượng giữa Môi-se và Pha-ra-ôn về địa điểm dân Y-sơ-ra-ên dâng lễ vật cho Đức Chúa Trời. Câu chuyện làm nổi bật sự việc Pha-ra-ôn nói gạt để xin Môi-se cầu thay cho vua. Nhưng sau khi Môi-se cầu thay và vua đạt được ý nguyện, thì vua không cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi nữa. Cung cách lừa gạt này cũng bộc lộ rõ trong 9:34 và 10:16-17.
(Xu 9:1-7). Sát hại bầy gia súc. Điểm đặc biệt của phân đoạn này là sự phân biệt giữa dân Y-sơ-ra-ên và người Ai Cập. Chỉ có bầy gia súc của người Ai Cập bị chết: nhưng chẳng có con vật nào của dân Y-sơ-ra-ên bị chết (7).
(Xu 9:8-12). Tai vạ ghẻ lở. Chuyện này được trình bày ngắn gọn tương tự như 8:16-19, đỉnh cao là câu nhận xét về sự kiện các thuật sĩ Ai Cập không đứng nổi trước mặt Môi-se. Dù lúc đầu họ thách thức Môi-se và A-rôn, nhưng bây giờ họ thấy mình yếu đuối, bất lực trước các phép lạ này.
(Xu 9:13-35). Nạn mưa đá. Trái với những chuyện trước, chuyện này trình bày chi tiết hơn. Chuyện tập trung nhấn mạnh về quyền năng của Đức Chúa Trời bằng cách lặp lại nhiều lần danh ‘Đức Giê-hô-va’. Chúng ta được nhắc nhở Môi-se chỉ là sứ giả của Đức Chúa Trời, và các phép lạ nhằm mục đích chứng minh Đức Chúa Trời có quyền tể trị.
(Xu 10:1-20). Nạn châu chấu. Điểm đáng chú ý nhất trong chuyện này là lập trường của các quan trong triều Pha-ra-ôn. Sau khi Môi-se tuyên bố sẽ sai châu chấu đến, họ lập tức thuyết phục Pha-ra-ôn xét lại thế lực của vua. Đến lúc này các quan thần tin rằng cương quyết cấm không cho dân Y-sơ-ra-ên đi thờ phượng Đức Chúa Trời là ngu dại. Tuy nhiên, Pha-ra-ôn chỉ bằng lòng cho những người nam đi, còn phụ nữ và trẻ em ở lại. Ngoài câu nhận xét ngắn gọn trong 9:20-21 ra, thì đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy thái độ của Pha-ra-ôn khác với thái độ của các quan trong triều của vua đối với dân Y-sơ-ra-ên.
(Xu 10:21-29). Tai vạ tối tăm. Điểm đặc biệt nhất trong chuyện này là phần kết luận. Câu viết nhận định về tấm lòng cứng cỏi của Pha-ra-ôn kết thúc hầu hết những chuyện khác ngoại trừ chuyện này. Thay vì câu đó, tác giả viết thêm vài câu khác để khiến chúng ta chú ý đến một diễn biến mới trong chuyện. Những chuyện khác kết thúc sau khi Môi-se lui ra khỏi Pha-ra-ôn. Nhưng ở đây Pha-ra-ôn truyền cho Môi-se lui ra (28) hàm ý rằng ông vẫn còn đứng trước mặt Pha-ra-ôn. Khác với những chuyện trước, chuyện này cũng nêu rõ mức độ Pha-ra-ôn căm thù Môi-se. Hễ Môi-se ra mắt vua một lần nữa, chắc chắn ông sẽ chết, lòng căm ghét cực độ này dọn đường cho sự việc cuối cùng.
(Xu 11:1-10). Tuyên báo sát hại con trưởng nam Trong khi còn đứng trước mặt Pha-ra-ôn, Môi-se nhận thêm một khải thị nữa từ Đức Chúa Trời. Còn một tai vạ cuối cùng nữa. Và tai vạ này sẽ khiến Pha-ra-ôn để cho dân sự đi. Lập tức Môi-se thông báo cho Pha-ra-ôn tai vạ này: Mọi con trưởng nam trong xứ Ai Cập sẽ chết (5). Sau khi thông báo xong, Môi-se bỏ đi lòng đầy phẫn nộ. Vì Pha-ra-ôn không chịu khuất phục nên Ai Cập phải nếm biết thêm một tai vạ khủng khiếp nữa để biết quyền năng của Đức Chúa Trời. Sau tai vạ này, dân Y-sơ-ra-ên sẽ ra đi. Dù câu 10 là câu cuối của phân đoạn về các tai vạ, nhưng chuyện cuối cùng này dự báo trước những diễn biến khác.
7. Lễ Vượt Qua (Xu 12:1-41)
Như chúng ta đã thấy ở trên, phần sách ở trên kết thúc bằng lời tuyên báo hùng hồn rằng mọi con trưởng nam trong xứ Ai Cập sẽ chết (11:5). Bây giờ phân đoạn này tập trung chú ý vào sự thành tựu của lời tuyên báo này. Các con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên được bảo toàn mạng sống nhờ một phương cách độc đáo. Rồi từ biến cố này dẫn đến một ngày kỷ niệm đặc biệt gọi là Lễ Vượt Qua (so sánh các câu 11,23,27). Điều quan trọng là các thế hệ tương lai kỷ niệm sự việc này dưới ba hình thức. Trước hết, mỗi năm họ giữ Lễ Bánh Không Men trong bảy ngày (14-20 13:3-10). Nhiều chỗ khác nhấn mạnh Lễ Bánh Không Men và Lễ Vượt Qua có liên quan mật thiết với nhau (34,39). Vì cớ phải gấp rút rời khỏi Ai Cập nên dân Y-sơ-ra-ên không thể giữ lễ này cho đến lúc họ kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày họ được giải phóng (Dan 9:1-14). Thứ hai, cùng với Lễ Bánh Không Men, dân Y-sơ-ra-ên giữ Lễ Vượt Qua bằng cách ăn thịt một con chiên đực hoặc một con dê đực tròn một tuổi (24-27). Lễ Vượt Qua cử hành vào buổi chiều ngày 14 tháng giêng, Lễ Vượt Qua mở màn cho Lễ Bánh Không Men kéo dài cho đến ngày thứ 21 (so sánh c.18). Thứ ba, để kỷ niệm con trưởng nam của mình sống sót, dân Y-sơ-ra-ên dâng tất cả những con đực đầu lòng trong bầy súc vật của mình cho Đức Chúa Trời (Xu 13:11-16). Các lễ này là bằng chứng muôn đời kỷ niệm Đức Chúa Trời đã dùng cánh tay quyền năng của Ngài đem họ ra khỏi xứ Ai Cập.
Nghi thức trọng yếu của Lễ Vượt Qua là giết con dê đực hoặc con chiên đực, bôi huyết lên khung cửa ra vào và ăn thịt con dê hoặc con chiên. Các chi tiết của nghi thức này rất giống với nghi thức dâng của lễ, câu 27 khẳng định điều này. Đây là của tế lễ Vượt qua cho Đức Giê-hô-va. Dù tương tự như các của lễ khác, nhưng Lễ Vượt Qua rất độc đáo, phản ánh bối cảnh lịch sử riêng biệt. Vì chưa lập dòng họ A-rôn vào chức tế lễ (Le 8:1-9:24) nên Môi-se ra lệnh cho các trưởng lão Y-sơ-ra-ên giết các con sinh tế (21). Cũng vậy, không thấy đề cập đến đền trung ương hoặc bàn thờ là hai thứ được qui định tại Si-na-i sau khi rời khỏi Ai Cập (Xu 20:24-24:4 27:1-8). Trong khi các của lễ khác được dâng lên giữa ban ngày, thì con sinh của Lễ Vượt Qua được dâng vào lúc chiều tối. Đây là thì giờ thuận tiện nhất cho người Y-sơ-ra-ên vào thời đó vì họ phải lo làm việc suốt ngày dài. Cuối cùng Lễ Vượt Qua được ấn định vào ngày 14 tháng giêng trùng hợp với đêm trăng tròn, là đêm thích hợp nhất trong tháng cho họ hành trình ra khỏi Ai Cập.
Cách sử dụng huyết đặc biệt được chú trọng: huyết được bôi lên hai cột cửa và trên mày cửa (7,22). Một số học giả cho rằng việc bôi huyết nhằm bảo vệ những người trong nhà khỏi những quyền lực thù địch bên ngoài (so sánh các c.13,23). Một số học giả khác cho rằng huyết dùng để thanh tẩy các căn nhà của người Y-sơ-ra-ên. Củng cố cho ý này là vấn đề sử dụng chùm cây kinh giới (22) là loại cây được dùng trong nghi lễ thanh tẩy (thí dụ như Le 14:4 Dan 19:6,18). Tuy nhiên như chúng ta thấy dưới đây, có lẽ bôi huyết là một nghi thức trong lễ biệt riêng.
Trong Lễ Vượt Qua có một nghi thức khác quan trọng không kém là việc ăn thịt con vật. Mọi người trong cộng đồng Y-sơ-ra-ên phải tham gia (47). Đối với mỗi một con sinh tế bị giết phải hội đủ số người tham gia để họ sẽ ăn hết thịt con sinh. Cũng có phần chỉ dẫn cách nấu nướng con sinh: phải quay chớ không luộc (9), phải ăn trong nhà và không được làm gãy một cái xương nào (46). Thịt ăn dư phải đem đi thiêu, không được để đến sáng mai (10). Đặc biệt là phần mô tả bữa ăn Lễ Vượt Qua có nhiều điểm tương tự với lễ biệt riêng các thầy tế lễ thuộc dòng dõi A-rôn trong Xu 29:1-46 và Le 8:1-36. Trong nghi thức tấn phong gồm các yếu tố chính như giết con dê đực, rảy huyết và ăn thịt con vật. Mặc dù có khác về chi tiết, nhưng các yếu tố chính này cũng làm cơ sở cho Lễ Vượt Qua. Nhờ tham gia Lễ Vượt Qua, dân Y-sơ-ra-ên tự biệt mình ra thánh. Con sinh tế được dâng lên chuộc tội cho dân sự, còn huyết bôi lên khung cửa thanh tẩy những người trong nhà và những người ăn thịt con sinh được biệt riêng ra thánh. Nhờ tham gia Lễ Vượt Qua mà dân sự tự làm cho mình nên một dân tộc thánh cho Đức Chúa Trời (so sánh Xu 19:6).
(Xu 12:1-28). Các chỉ dẫn giữ Lễ Vượt Qua. Phân đoạn này gồm hai bài chỉ dẫn về cách giữ lễ. Mặc dù được chép chung trong một đoạn, nhưng hai bài chỉ dẫn này được trình bày vào hai ngày khác nhau. Bài thứ nhất (1-20) do Đức Chúa Trời phán với Môi-se một ít lâu trước khi dân Y-sơ-ra-ên giữ Lễ Vượt Qua câu 3 nhắc đến việc chọn chiên con hoặc dê con trước khi giữ Lễ Vượt Qua bốn ngày. Bài thứ hai (21-27) do Môi-se trình bày với các trưởng lão Y-sơ-ra-ên về ngày giữ Lễ Vượt Qua. Qua hai bài này, tác giả làm nổi bật những sự kiện dẫn đến việc giết các con trưởng nam của người Ai Cập vào lúc nửa đêm ngày thứ 14 trong tháng (29). Đặc biệt là cả hai bài đều kết thúc với lời bàn về việc kỷ niệm Lễ Vượt Qua trong tương lai (14-20,24-27). Hơn nữa, bài thứ hai bổ túc cho bài thứ nhất, cho biết thêm những chi tiết về các phương diện khác trong Lễ Vượt Qua. Có lẽ tác giả cho rằng độc giả hình dung ra được mọi diễn biến khi đọc hai bài này, nên ông không mô tả phần thực thi các lời chỉ dẫn này ông chỉ viết rằng dân Y-sơ-ra-ên làm như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se và A-rôn (28).
Trong Kinh Thánh Tân Ước, Lễ Vượt Qua được đưa lên hàng đầu trong sự hiểu biết về sự chết của Chúa Giê-xu. Theo Phúc Âm Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca thì Bữa Tiệc Tạm Biệt là bữa ăn Lễ Vượt Qua (Mat 26:17 Mac 14:12 Lu 22:7-8), sau này được cử hành là Bữa Tiệc của Chúa (Tiệc Thánh, ICo 11:23-33). Khi nhấn mạnh đến chuyện xương của Chúa Giê-xu không bị gãy cái nào, Giăng ám chỉ đến sự chết của Chúa Giê-xu tương tự như cái chết của các con sinh Lễ Vượt Qua (Gi 19:36). ICo 5:7 viết rõ mối tương đồng này hơn: ‘Vì Đấng Christ, Chiên Con của Lễ Vượt Qua của chúng ta (nghĩa đen là ‘sự vượt qua của chúng ta’) đã được dâng hiến rồi’ và sách IPhi 1:18-19 có lẽ cũng đề cập đến của lễ Vượt Qua.
Chú giải. 3 Trong tiếng Hi Bá Lai từ she vừa có nghĩa là con chiên, vừa có nghĩa là dê. 15 Bánh không men là bánh làm không có men. Chi tiết bánh không có men chứng tỏ là không có đủ thời gian làm bánh cho đàng hoàng (39 so sánh câu 11). 18 Từ chiều ngày thứ mười bốn cho đến chiều ngày hai mươi mốt là cụm từ định thời gian giữ Lễ Vượt Qua và Lễ Bánh Không Men. Để hiểu rõ câu này, chúng ta phải tính từ lúc mặt trời mọc chớ không tính từ lúc mặt trời lặn. Từ thế kỷ thứ 6 T.C. trở đi người Do Thái tính một ngày từ lúc mặt trời lặn. 23 Xuất Ê-díp-tô Ký không nói rõ về kẻ tiêu diệt. Theo Thi 78:49 thì có thể đây là ‘một đoàn thiên sứ huỷ diệt’.
(Xu 12:29-36). Sát hại con trưởng nam người Ai Cập Nhiều lời tiên báo trong Xu 11:1-10 được ứng nghiệm trong phân đoạn này. Các con trưởng nam người Ai Cập bị giết lúc nửa đêm, khiến họ than khóc thảm thiết (29-30 so sánh 11:4-6). Sau khi mời Môi-se và A-rôn vào yết kiến lần cuối cùng, Pha-ra-ôn cho phép dân Y-sơ-ra-ên ra đi vô điều kiện (31-32 so sánh 11:1). Theo lời chỉ dẫn, dân Y-sơ-ra-ên xin người Ai Cập cho họ các đồ bằng vàng, bằng bạc và áo quần (35) vì Đức Chúa Trời làm cho người Ai Cập rộng lòng đối với dân Y-sơ-ra-ên... cho dân Y-sơ-ra-ên mọi điều họ cầu xin (36 so sánh 11:3). Việc ‘lột sạch’ người Ai Cập được xem như để báo trả lại việc người Ai Cập bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ (so sánh Sa 15:14).
(Xu 12:37-41). Khởi hành. Sau khi Pha-ra-ôn cho phép, dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu ra đi đến miền tự do, họ đi từ Ram-se đến Su-cốt. Sự kiện họ chỉ đủ thì giờ làm bánh không men chứng tỏ họ ra đi rất gấp gáp. Rốt cuộc sau 430 năm làm nô lệ, nhờ Đức Chúa Trời làm phép lạ đầy quyền năng, họ mới có thể thoát khỏi Ai Cập.
Chú giải. 40 Sa 15:13 viết về chuyện hậu duệ của Áp-ra-ham bị bắt làm nô lệ và bị ngược đãi trong 400 năm (so sánh Cong 7:6). Con số 430 năm trong đoạn này có lẽ bao gồm luôn cả thời gian bình yên khi họ mới đến Ai Cập.
(Xu 12:42-50) Những quy định về Lễ Vượt Qua.Tác giả ngưng ngang câu chuyện về cuộc ra đi của người Y-sơ-ra-ên và sang qua phần viết về những quy định về Lễ Vượt Qua. Rõ ràng là các qui định này áp dụng cho Lễ Vượt Qua đầu tiên lẫn các lần sau (42). Phân đoạn này kết thúc với câu 50, rất tương tự với câu 28 nói về tấm lòng vâng phục của dân Y-sơ-ra-ên, có lẽ ngụ ý rằng các chỉ dẫn này phải đặt ở đây cho đúng thứ tự thời gian. Bằng cách sắp xếp tư liệu theo cách của mình tác giả tổng hợp trong Xu 12:42-13:16 ba hình thức kỷ niệm cuộc giải phóng khỏi Ai Cập: Lập lại nghi thức Lễ Vượt Qua (43-49) giữ Lễ Bánh Không Men (13:3-10) và dâng các con đầu lòng (13:11-16).
8. Chỉ dẫn thêm về lễ kỷ niệm sự Vượt qua (Xu 13:1-16)
Dòng câu chuyện đứt quãng ở câu 41 tiếp nối trở lại với câu 51. Câu này lập lại nhiều chi tiết trong câu 41 (thí dụ như nhằm ngày đó, các quân đội bản NIV nêu rõ những điểm tương tự này như trong bản tiếng Hi Bá Lai). Sau ngày các trưởng nam của người Ai Cập bị giết, Đức Chúa Trời phán với Môi-se rằng dân Y-sơ-ra-ên phải biệt ra thánh tất cả các con đầu lòng, bất luận người hoặc thú vật (c.2). Sau đó, Môi-se triển khai chỉ thị này cho dân sự (11-16). Tuy nhiên phần triển khai này đặt sau các chỉ dẫn về Lễ Bánh Không Men (3-10). Dù trước đây Đức Chúa Trời đã phán bảo Môi-se và A-rôn về buổi lễ này, nhưng đến bây giờ dân dự mới nghe thông báo. Bài nói của Môi-se có thể chia gọn gàng làm hai phần song hành. Cả hai bài đều bắt đầu đề cập đến việc dân sự chiếm xứ Ca-na-an hoàn thành lời Đức Chúa Trời thề với tổ phụ của họ (5,11). Sau đó là các chỉ dẫn về lễ kỷ niệm cuộc giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập (6-7,12-13) và giải thích cho con cái ý nghĩa của những nghi thức đó (8,14-15). Cuối cùng cả hai bài kết thúc giống nhau với lời nhận định rằng Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền năng rút chúng ta ra khỏi Ai Cập (9 so sánh với c.16).
9. Chặng đầu tiên trong cuộc hành trình ra khỏi Ai Cập (Xu 13:17-22)
Sau khi Đức Chúa Trời thông báo cho dân Y-sơ-ra-ên biết ý định của Ngài là đem họ trở về xứ Ca-na-an, Ngài tiến hành dẫn dắt họ theo hướng đó. Tuy nhiên, vì muốn bảo vệ họ, nên Ngài dắt họ đi theo lộ trình xa hơn, nhưng an toàn hơn, tức là đưa họ đi vòng theo đồng vắng đến Biển Đỏ. Đúng theo lời các con trai Y-sơ-ra-ên thề hứa với Giô-sép (Sa 50:24-25) Môi-se đem theo xác ướp của Giô-sép. Tác giả đặc biệt lưu ý đến sự hiện diện thường xuyên của Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời thể hiện bằng trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm. Như câu chuyện trong phần sau cho biết, Đức Chúa Trời luôn ở gần dân Y-sơ-ra-ên chứng tỏ Ngài có liên hệ đặc biệt với họ.
Chú giải. 18 Biển Đỏ (tiếng Hi Bá Lai là yam suÞ, nghĩa đen là ‘Biển Cây Sậy’) có lẽ là vùng phía bắc Biển Đỏ, tức là vịnh Aqabah (nhánh đông bắc) và vịnh Su-ê (nhánh tây bắc) kể cả khu vực hiện nay gọi là Hồ Cay Đắng (ngày xưa hồ này trực tiếp ăn thông qua Biển Đỏ). Không rõ họ vượt qua Biển Đỏ ở chỗ nào, tuy nhiên đa số học giả cho rằng họ vượt qua biển tại khu vực Hồ Cay Đắng. Về một lộ trình khả thi cho dân Y-sơ-ra-ên trong cuộc xuất hành, xin xem bản đồ.

10. Tiêu diệt đạo binh Ai Cập (Xu 14:1-31)
Đoạn này có nhiều điểm tương tự với chuỗi biến cố dẫn đến đêm Vượt Qua. Chúng ta gặp lại một số chủ đề tương tự: Pha-ra-ôn cứng lòng (4,17) Môi-se cầm gậy đưa ra (16 so sánh với các câu 21,26-27) và sự phân biệt giữa người Y-sơ-ra-ên và người Ai Cập (19-20,28-29). Khi đọc đến chuyện dân Y-sơ-ra-ên ra đi và chuyện tiêu diệt Pha-ra-ôn cùng đạo quân Ai Cập là chúng ta đang tiến đến đỉnh cao của phân nửa đầu Xuất Ê-díp-tô Ký.
Dù Pha-ra-ôn cho phép dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Ai Cập sau khi các con trưởng nam của người Ai Cập bị giết, nhưng quyền năng của Đức Chúa Trời còn được chứng minh một lần cuối cùng nữa. Vì vậy Đức Chúa Trời để cho dân Y-sơ-ra-ên vẫn chưa thoát khỏi Ai Cập, họ vẫn còn ở trong biên cương của Ai Cập bên bờ Biển Đỏ phía tây (so sánh Xu 13:18 15:14). Khi Pha-ra-ôn và đạo binh của vua đuổi kịp thì dân Y-sơ-ra-ên kinh hãi nghĩ rằng họ như mắc trong bẫy rồi (10-12). Tuy nhiên khi giơ cây gậy ra, Môi-se đã mở cho dân sự một lối thoát an toàn đi ngang qua dòng nước rẽ đôi. Khi người Ai Cập đuổi theo, Môi-se lại đưa cây gậy ra trên biển, thế là Pha-ra-ôn và đạo quân của vua gặp đại hoạ: chẳng còn ai sống sót (28). Khi lập lại câu: Người Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va’ trong câu 4 và 18, tác giả lưu ý đến chủ đích của Đức Chúa Trời khi tiêu diệt đạo binh Ai Cập. Trước đây Pha-ra-ôn đã gạt bỏ yêu sách của Môi-se với những lời lẽ khinh thị: 'Giê-hô-va là ai mà trẫm phải vâng lời để cho dân Y-sơ-ra-ên đi?’ (5:2). Nhưng bây giờ vua đã rõ lý do phải vâng lời ‘Đức Giê-hô-va’. Câu chuyện cũng làm nổi bật sự thay đổi thái độ của dân Y-sơ-ra-ên, từ vô tín và sợ hãi khi đối diện với sự đe doạ của người Ai Cập (13:10-12) đến đức tin và trông cậy khi Đức Chúa Trời giải cứu (13:31).
11. Dân Y-sơ-ra-ên kỷ niệm quyền năng của Đức Chúa Trời (Xu 15:1-21)
Bài tường thuật về cuộc giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi ách nô lệ của người Ai Cập kết thúc hợp lý bằng bài ca do Môi-se và dân sự hát ca ngợi sự oai nghiêm và quyền năng của Đức Chúa Trời. Đặc biệt là thể văn vần thay cho thể văn xuôi. Lối văn thanh thoát trong thể thi ca chuyên chở sự suy nghĩ và tình cảm của dân Y-sơ-ra-ên đầy đủ và ý nhị hơn là thể văn xuôi trong khi dân Y-sơ-ra-ên thờ lạy Đấng đã thương xót, giải cứu họ ra khỏi quyền lực của tay bạo chúa. Khi ôn lại một lần nữa những biến cố đã chép trong văn xuôi, độc giả cũng được khích lệ tham gia vào sự ca tụng của dân Y-sơ-ra-ên. Trong khi họ thờ phượng Đức Chúa Trời và tán dương những việc Ngài đã làm, họ cũng hướng về tương lai với lòng tin tưởng. Như vậy họ kết thúc bài ca bằng cách tập trung vào điều Đức Chúa Trời sẽ còn làm cho họ (13-18). Trong ánh sáng của các biến cố đã qua và niềm hi vọng vào tương lai, thì chẳng có gì ngạc nhiên khi Mi-ri-am và các phụ nữ cầm trống cơm nhảy múa vui mừng.
Chú giải 21 Đây chỉ là câu đầu trong bài ca của Mi-ri-am, hầu như lập lại từng tiếng trong câu đầu bài ca của Môi-se trong câu 1, hai câu này làm khung mở đầu và kết luận cho phân đoạn này.
3. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN DƯỚI QUYỀN CAI TRỊ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Xu 15:22-18:27)
1. Dân sự than phiền thiếu thức ăn và nước uống. (Xu 15:22-27)
Dù được giải cứu lạ lùng khỏi ách nô lệ, nhưng dân Y-sơ-ra-ên vẫn thấy đời sống ở Ai Cập hấp dẫn. Vài chuyện xảy ra tạo cơ hội cho họ than van về tình trạng thiếu thốn trong khung cảnh mới. Việc này chứng tỏ họ không sẵn lòng tin cậy và vâng phục Đức Chúa Trời (so sánh Xu 15:24 16:2-12 17:1-7). Cả ba chuyện đều bắt nguồn từ tình trạng thiếu thức ăn và nước uống. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời vẫn tận tình lo cho dân của Ngài.
Dòng nước Ma-ra Chuyện ngắn gọn về Môi-se biến nước đắng thành nước ngọt nhắc lại sự thay đổi hoàn cảnh của dân Y-sơ-ra-ên khi rời khỏi Ai Cập. Sự cố này tiêu biểu cho kinh nghiệm của dân Y-sơ-ra-ên từ một cuộc sống đầy đắng cay ở Ai Cập đến sự tự do. Chuyện này cũng nhấn mạnh đến những phước hạnh sẽ thuộc về Y-sơ-ra-ên nếu họ trung thành với Đức Chúa Trời. Vâng phục điều răn và luật lệ của Đức Chúa Trời là chủ đề thường xuyên xuất hiện trong phần còn lại của sách, nhất là trong giao ước lập tại Si-na-i. Một chủ đề khác có liên quan là cách Đức Chúa Trời thử thách dân sự để xác định mức độ vâng phục của họ (25 so sánh 16:4 17:2-7 20:20).
2. Dân sự than van về lương thực (Xu 16:1-36)
Khi đi ngang qua vùng đồng vắng đến hướng đông nam hồ Cay Đắng, họ mau chóng quên nỗi nhọc nhằn và sự tàn bạo ở Ai Cập khi họ bị đói. Thậm chí họ còn cho rằng thà chết bởi tay Đức Giê-hô-va tại Ai Cập còn hơn là chết đói trong đồng vắng (3-4). Do lòng nhân từ của Ngài Đức Chúa Trời đã sai chim cút bay đến vào buổi chiều, và vào buổi sáng thì có vật gì giống như tấm bánh gọi là ma-na, vì dân sự hỏi vật chi vậy? (31 so sánh c.15). Đức Chúa Trời thử dân Y-sơ-ra-ên bằng cách đặt ra vài qui định về việc gom lượm và dự trữ ma-na (4-5,16,23). Để bày tỏ đức tin vào sự dự phòng của Đức Chúa Trời, dân sự không được để dành ma-na qua ngày hôm sau (19). Tuy nhiên, vào ngày thứ sáu trong tuần, tức là ngày Thứ Sáu, họ được phép lượm một số lượng gấp đôi và để dành cho ngày hôm sau (tức là ngày sa-bát) vì đó là ngày yên nghỉ. Tuy nhiên một số người không để tâm đến những lời chỉ dẫn này (20,28). Dù Đức Chúa Trời đã bày tỏ quyền năng của Ngài để giải phóng họ ra khỏi Ai Cập, nhưng một số người vẫn không tin cậy Ngài và không hoàn toàn trung thành với Ngài. Câu chuyện về cuộc xuất hành dần dà cho biết dân Y-sơ-ra-ên thường bộc lộ bản tánh bướng bỉnh đối với Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời vẫn liên tục ban ma-na cho họ trong suốt bốn mươi năm, chỉ đến lúc họ vào đến xứ Ca-na-an, ma-na mới ngưng rơi xuống (35-36). Một ô-me ma-na được để dành trong bình để làm chứng cho các thế hệ mai sau (33).
Trong Tân Ước, Chúa Giê-xu ví chính Ngài với ma-na từ trời ban xuống trong đồng vắng: ‘Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Nếu ai ăn bánh ấy sẽ sống vô cùng và bánh mà Ta ban cho các ngươi vì sự sống của thế giới, tức là thịt Ta’ (Gi 6:51 so sánh 6:48-58).
3. Dân sự than van về nước uống.(Xu 17:1-7)
Thêm một trận cãi vã nữa giữa dân Y-sơ-ra-ên và Môi-se xảy ra tại Rê-phi-đim vì không có nước uống. Cuộc xung đột được giải quyết khi Môi-se vâng theo sự chỉ dẫn từ trời dùng cây gậy để khiến đá chảy nước ra (6). Trong chuyện trước Đức Chúa Trời thử dân Y-sơ-ra-ên (Xu 16:4), nhưng bây giờ họ thử Ngài vì họ thiếu lòng tin cậy (2,7). Do đó chỗ này được gọi là Ma-sa và Mê-ri-ba, nghĩa là ‘thử thách và cãi lộn’ (7 so sánh c.2). Phao-lô nhắc đến biến cố này trong sách ICo 10:3-4, ông ngụ ý rằng Đấng Christ tiền tại là Đấng cung cấp thực phẩm và nước uống cho dân Ngài.
4. Chiến thắng dân A-ma-léc. (Xu 17:8-16)
Trận chiến nổ ra giữa dân A-ma-léc và dân Y-sơ-ra-ên là do dân A-ma-léc tấn công gây chiến trước. Một lần nữa cây gậy của Đức Chúa Trời trong tay Môi-se đóng vai trò tượng trưng ban chiến thắng cho dân Y-sơ-ra-ên. Khi Môi-se giơ cây gậy lên, Giô-suê và đạo quân Y-sơ-ra-ên thắng hơn dân A-ma-léc. Sự cố này xảy ra ngay sau khi họ ra khỏi Ai Cập. Qua việc này Đức Chúa Trời chứng tỏ rằng Ngài có thừa khả năng đáp ứng các nhu cầu của dân Y-sơ-ra-ên.
5. Chuyến viếng thăm của Giê-trô (Xu 18:1-27)
Có hai chi tiết góp phần chứng tỏ rằng biến cố trong chương này mãi về sau mới xảy ra. Trước hết, cụm từ núi Đức Chúa Trời trong câu 5 gợi ý rằng dân Y-sơ-ra-ên đã đến Si-na-i (so sánh 19:1-2). Thứ hai, việc ông Giê-trô khuyên Môi-se bổ nhiệm các vị quan xét có thể hàm ý rằng luật pháp và điều răn của Đức Chúa Trời đã được ban bố cho dân sự (so sánh Phu 1:9-18). Tuy nhiên, những lý lẽ này không đủ sức thuyết phục nên những chuyện trong chương 18 vẫn có thể đã xảy ra trước khi dân Y-sơ-ra-ên đến núi Si-na-i.
Trong cả hai trường hợp, câu chuyện này ràng buộc với các chương trước và sau qua chủ đề. Trước hết chuyến viếng thăm của Giê-trô tương phản rõ rệt với cuộc tấn công vừa qua của dân A-ma-léc. Với tư cách đại diện cho dân Ma-đi-an, ông Giê-trô bày tỏ thái độ tích cực đối với dân Y-sơ-ra-ên và công nhận quyền tể trị của Đức Chúa Trời (10-11). Thứ hai, chuyện này chuẩn bị cho các chương kế tiếp bằng cách: (1) tập trung xoáy vào sự kiện Đức Chúa Trời giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi ách nô lệ của Ai Cập một cách kỳ diệu. (2) tập trung vào tầm mức quan trọng của điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Phần tập trung vào luật pháp của Đức Chúa Trời báo trước rằng luật pháp sẽ được ban hành trong các chương 21-23, còn phần tập trung vào sự giải phóng đặt nặng nền tảng của mối liên hệ giao ước trong các chương 19-24 (so sánh Xu 19:4-6 20:2). Lời nhận xét của Giê-trô trực tiếp làm nổi bật công cuộc giải thoát của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên, còn ý nghĩa của tên riêng của người con trai thứ hai của Môi-se là Ê-li-ê-se làm nổi bật cách gián tiếp vì ông nói: ‘Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi đã vùa giúp và giải cứu tôi khỏi gươm của Pha-ra-ôn’ (4).
Phần cuối của chương này mô tả Môi-se phân xử các vụ tranh chấp giữa người Y-sơ-ra-ên với nhau. Vì cảm thấy cần có phân quyền, nên Giê-trô khuyên Môi-se thiết lập một hệ thống cấp bậc để giải quyết các vụ xung đột (25-26). Qua việc Môi-se uỷ thác quyền hành cho người khác, chúng ta được nhắc nhở là trong sinh hoạt Hội Thánh, chúng ta cần san sẻ nhiệm vụ để không có một cá nhân nào gánh vác nhiều quá. Những ai ở trong cương vị lãnh đạo cũng cần sẵn sàng giao phó các trách nhiệm có ý nghĩa đáng kể cho những người khác.
4. LẬP GIAO ƯỚC (Xu 19:1-24:18)
1. Giai đoạn chuẩn bị (Xu 19:1-25)
1-15 Lần đầu tiên khi Đức Chúa Trời kêu gọi Môi-se đi yết kiến Pha-ra-ôn Ngài hứa với Môi-se rằng dân sự sẽ ‘thờ lạy Đức Chúa Trời trên núi này’ (Xu 3:12). Và chương 19:2 cho biết họ đã đến núi Si-na-i. Từ thế kỷ thứ tư S.C., một truyền thuyết mạnh mẽ cho rằng núi Si-na-i nằm về hướng nam bán đảo Si-na-i và núi Jebel Musa (núi Môi-se) là núi Si-na-i. Xác định như thế không phải là suông sẻ cho nên người ta đưa ra một giả định khác xác định núi Si-na-i nằm xa hơn về hướng bắc trong vịnh Wadi Sudr, và cho rằng núi Si-na-i chính là Jebel Sin Bisher.
Còn một diễn biến quan trọng nữa xảy ra trong các chương 19-24, tức là giao ước lập giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên. Chúng ta thấy hình thức căn bản của giao ước này nằm trong câu 4 đến câu 6. Sau khi được Đức Chúa Trời giải phóng ra khỏi Ai Cập như thế, nếu dân Y-sơ-ra-ên vâng lời ‘Đức Giê-hô-va’ thì họ sẽ là báu vật, nước thầy tế lễ và dân tộc thánh của Ngài. Từ ngữ nước thầy tế lễ có thể dịch là ‘các vua tế lễ’, hàm ý dân Y-sơ-ra-ên sẽ được đặc quyền vừa làm thầy tế lễ, vừa làm vua đối với các dân tộc khác. Điều này biểu thị rằng dân Y-sơ-ra-ên đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch tương lai của Đức Chúa Trời, tuy nhiên, với điều kiện là họ phải vâng phục Đức Chúa Trời. Chủ đề ‘chức tế lễ nhà vua’ xuất hiện lại trong Tân Ước nhằm chỉ về địa vị của các tín đồ (IPhi 2:9 Kh 1:6 5:10 20:6). Những việc chuẩn bị trước cho ngày lập giao ước chứng tỏ rõ ràng giao ước này rất quan trọng. Dân sự phải chuẩn bị trong ba ngày (10-11,14-15). Họ không được đến gần núi, bất kỳ ai leo núi sẽ chết (12-13). Giống như lần đầu tiên Môi-se gặp gỡ Đức Chúa Trời ở Si-na-i, Đức Chúa Trời tuyên bố ngọn núi đó là núi thánh (23 so sánh 3-5). Song song với lịnh này Đức Chúa Trời chỉ thị cho Môi-se biệt riêng dân sự ra thánh (hoặc ‘làm nên thánh’) (10, 14).
(Xu 19:16-25). Đức Chúa Trời hiện ra với dân Y-sơ-ra-ên trên núi Si-na-i. Đến ngày thứ ba, một đám mây bao trùm đỉnh núi, sấm chớp vang rền. Khi Đức Chúa Trời giáng xuống, ngọn núi bốc khói lên (18). Một lần nữa sự hiện diện của Đức Chúa Trời được biểu thị bằng ngọn lửa (so sánh Xu 3:2 24:17). Tiếng kèn vang rền mỗi lúc một to hơn loan báo rằng Đức Chúa Trời đã ngự đến.
Chú giải: 22 Các thầy tế lễ trong câu 22 và 24 là những người thi hành nhiệm vụ của thầy tế lễ trước lễ phong chức cho A-rôn và các con trai của ông (so sánh 28:1).
2. Đức Chúa Trời phán trực tiếp với dân sự (Xu 20:1-21)
(Xu 20:1-2). Giới thiệu. Trong khi dân Y-sơ-ra-ên kinh ngạc sững sờ đứng trước ngọn núi, họ nghe tiếng Đức Chúa Trời tự giới thiệu với họ về chính Ngài: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi đã rút các ngươi ra khỏi Ai Cập, nhà nô lệ (2 so sánh Xu 4:12-13 5:4). Tiếp theo là một bản liệt kê các điều luật làm căn bản cho mối liên hệ giao ước với Đức Chúa Trời (3-17). Về sau các điều luật này được gọi là ‘mười Lời’ (34:28 Phu 4:13 10:4). Từ mười Lời này chúng ta gọi là Mười Điều Răn hoặc Mười Giới Mạng. Quan trọng hơn nữa là chính Đức Chúa Trời khắc Mười Điều Răn này lên hai bảng đá (Xu 24:12 31:18 34:1,28) xem bên dưới.
Các điều luật này chi phối mối liên hệ giữa họ với Đức Chúa Trời, bởi chính Đức Chúa Trời đã soạn thảo ra các quy luật này. Đây là những điều kiện chính mà Đức Chúa Trời đề ra cho dân Y-sơ-ra-ên nhằm thiết lập và duy trì mối liên hệ giao ước giữa họ. Dân sự phải một lòng một ý trung thành với Đấng đã giải phóng họ khỏi Ai Cập, phải thờ lạy một mình Ngài mà thôi (3). Hơn nữa, trong xã hội, họ phải cư xử theo một tiêu chuẩn ưu tiên tôn trọng từng cá nhân về phương diện sự sống, hôn nhân và của cải. Họ phải vâng theo các điều răn này bằng lòng yêu thương đối với Đức Chúa Trời (6). Thật ra, Mười Điều Răn không phải là một bộ luật. Có nhiều yếu tố tách Mười Điều Răn ra khỏi các bộ luật khác trong Ngũ Kinh. Trước hết, Đức Chúa Trời phán trực tiếp với dân, Môi-se không đóng vai trò trung gian (1, 19 so sánh Phu 4:12-13 5:4-5,22-27). Thứ hai, chỉ có Mười Điều Răn này được Đức Chúa Trời khắc trên bảng đá bằng ‘ngón tay của Ngài’ (Xu 31:18 so sánh 24:12 32:15-16 34:1,28) còn các luật lệ và giáo huấn khác đều do Môi-se chép lại (24:4 34:27-28 xem phần chú giải 34:28). Thứ ba, Mười Điều Răn không hẳn là luật, vì không liệt kê biện pháp hình phạt. Mặc dù điều răn thứ hai và thứ năm chứa đựng hình phạt, nhưng thực ra đây là những câu viết về động cơ nhằm khuyến khích, nhằm thúc đẩy sự tuân thủ những lời dạy của Đức Chúa Trời. Cuối cùng, có toà án nào của loài người có thể đề ra án phạt tương xứng với sự tham muốn trong điều răn thứ mười? Các điều răn giao ước trong chương 20 được liệt kê theo thứ tự ưu tiên trên xuống dưới và tập trung vào mối liên hệ của dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời và với người khác. Chúa Giê-xu tóm tắt Mười Điều Răn này thành hai phần là yêu thương Đức Chúa Trời và yêu thương kẻ lân cận của mình (Mat 22:37-39 Mac 12:29-31). Trước hết phải yêu mến Đức Chúa Trời, nhưng không được tách ra khỏi tình yêu thương đồng loại, tình yêu thương Đức Chúa Trời tự nhiên sẽ đem lại tình yêu thương đồng loại.
(Xu 20:3). Điều răn thứ nhất. Trung thành với Đức Giê-hô-va là phần cốt lõi của mối liên hệ trong giao ước. Đây là nền tảng cho mọi việc khác. Trong thực tế họ là những người theo độc thần, chỉ thờ lạy một mình Đức Chúa Trời. Ở những chỗ khác trong Ngũ Kinh có chép rõ rằng thờ các thần khác đáng tội chết (Dan 25:1-18 Phu 13:1-18).
(Xu 20:4-6). Điều răn thứ hai. Khác hẳn các dân tộc cùng thời, dân Y-sơ-ra-ên không được tạc tượng đúc hoặc thờ các vật mắt thấy ở Ai Cập lẫn Ca-na-an, tượng người và súc vật được chế tạo ra để biểu tượng những bản tánh của thần. Nếu dân Y-sơ-ra-ên dùng các hình tượng để biểu tượng về Đức Chúa Trời thì chắc chắn họ sẽ hiểu méo mó về bản tánh thật của Ngài. Sự cố con bò bằng vàng (chương 32) chứng tỏ cần cấm dân sự hình dung Đức Chúa Trời bằng hình tượng và cho thấy hậu quả nghiêm trọng nếu xem thường điều răn này.
(Xu 20:7). Điều răn thứ ba. Trong khi điều răn thứ hai cấm dùng những vật mắt thấy được để biểu tượng cho Đức Chúa Trời, thì điều răn thứ ba lại tập trung vào vấn đề mô tả Đức Chúa Trời bằng ngôn ngữ. Để tỏ lòng tôn kính Đức Chúa Trời, dân sự phải hết sức cẩn thận khi nói với nhau về Ngài và khi cần kêu cầu Danh Ngài, họ không được nói điều gì khiến người khác hiểu sai lệch về bản thể và đặc tánh của Ngài.
(Xu 20:8-11). Điều răn thứ tư. Dân sự không được phép làm việc trong ngày thứ bảy, tức ngày sa-bát. Theo Xu 31:12-18 thì ngày sa-bát là dấu hiệu của mối liên hệ trong giao ước được lập tại Si-na-i, cũng tương tự như dấu hiệu cắt bì trước đây (Sa 17:9-14). Người nào không vâng giữ ngày sa-bát tức là xem thường mối liên hệ đặc biệt giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên. Do đó trong giao ước mới do Đấng Christ lập, ngày sa-bát (thứ bảy) được thay thế bằng ngày của Chúa (Chúa nhật). Cơ Đốc nhân không còn buộc phải kiêng giữ ngày sa-bát lẫn lễ cắt bì nữa.
(Xu 20:12). Điều răn thứ năm. Ý niệm tôn kính luôn luôn liên quan đến Đức Chúa Trời hoặc các đại diện, các tiên tri, các vua của Ngài. Chắc chắn cha mẹ được xem là đại diện của Đức Chúa Trời đối với con cái gia đình là một quốc gia thu nhỏ. Điều răn này rất nghiêm trọng ở điểm là người con nào bất kính đối với cha mẹ sẽ bị xử tử (Xu 21:15,17). Nếu con cái tôn trọng cha mẹ, người đại diện cho quyền lực trong gia đình, thì chắc chắn họ cũng sẽ tôn trọng các vị đại diện cho quyền lực trong xã hội nữa.
(Xu 20:13). Điều răn thứ sáu. Điều răn này cấm giết người hoặc sát hại người chứng tỏ Đức Chúa Trời đặt mạng sống con người lên hàng đầu. Không ai được phép giết người, vì mỗi người được dựng nên theo hình tượng Đức Chúa Trời (so sánh Sa 1:27 9:6). Trong Ngũ Kinh, án phạt dành cho tội giết người là tử hình. Tuy nhiên, điều răn này không kể những trường hợp xử tử theo án lệnh của toà án hoặc các vụ tử vong do chiến tranh gây ra. Luật pháp thời Cựu Ước cũng phân biệt những vụ giết người do ngẫu nhiên, tai nạn với các vụ giết người có âm mưu tính toán (xem Xu 21:1-22:20, phần bài với tiêu đề ‘Bản chất thiêng liêng của sự sống’).
(Xu 20:14). Điều răn thứ bảy. Theo giàn thang quan trọng của Đức Chúa Trời, thì sau mạng sống con người với bản chất thiêng liêng là mối quan hệ trong hôn nhân. Ở đây ngoại tình có nghĩa là một phụ nữ có chồng quan hệ tình dục với một người đàn ông không phải là chồng mình. Những người bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình bị tử hình (Le 20:10 Phu 22:22). Quan hệ tình dục giữa một người nam có vợ với một người nữ chưa chồng thì không kể là ngoại tình. Như vậy, điều răn này không mặc nhiên loại trừ tình trạng đa thê, mặc dù tình trạng này hiếm thấy trong đời Cựu Ước. Cũng thế, thời Cựu Ước cho phép ly dị nhưng không khuyến khích. Trong vài phương diện, sự dạy dỗ trong Tân Ước về hôn nhân có tính cách bắt buộc hơn và phản ánh trung thực ý muốn của Đức Chúa Trời về vấn đề hôn nhân như được diễn tả trong Sa 2:24 chế độ đa thê, chồng ngoại tình và lấy vợ khác, tất cả đều bị cấm (so sánh Mat 19:3-12 Mac 10:2-12 Lu 16:18). Nói chung, Kinh Thánh khải thị rằng Đức Chúa Trời muốn thiết lập mối liên hệ hoà hợp trong hôn nhân, cả chồng lẫn vợ đều không được phá hoại mối liên hệ này.
(Xu 20:15). Điều răn thứ tám. Nguyên tắc tiếp theo chi phối mối liên hệ của dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời là tôn trọng tài sản người khác. Bất cứ ai phạm tội tước đoạt tài sản của người khác tuỳ theo giá trị của đồ vật, họ phải trả lại và bồi thường xứng đáng cho nạn nhân. Các xã hội thời cổ ở vùng Cận Đông áp dụng án tử hình cho tội trộm cắp, nhưng tuyệt nhiên Cựu Ước không chấp nhận án phạt này, như vậy chứng tỏ Đức Chúa Trời coi mạng sống của con người là quí giá và coi mối liên hệ hôn nhân trên cả của cải.
(Xu 20:16). Điều răn thứ chín. Trong hai điều răn cuối cùng, chúng ta đi từ những luật cấm hành động cho đến những luật cấm lời nói và tư tưởng. Hai điều răn này kết thúc một thang thứ tự ưu tiên trên xuống dưới mà chúng ta đã nhận xét ở trên. Điều răn thứ chín nhấn mạnh tấm lòng trung thực. Dù điều răn này chủ ý cấm không được làm chứng dối trước toà án, cũng cấm luôn cả các trường hợp dùng lời nói dối làm hại người khác.
(Xu 20:17). Điều răn thứ mười. Điều răn cuối cùng cấm tham muốn những gì thuộc về người khác. Khác với các điều răn trước, điều răn này mô tả các cảm xúc và tư tưởng nội tâm, thí dụ như ganh ghét hoặc tham lam. Nếu dân Y-sơ-ra-ên muốn giữ mối thông công tốt đẹp trong giao ước với Đức Chúa Trời, thì họ phải sống theo ý muốn của Ngài trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Chỉ vâng giữ bên ngoài vẫn chưa đủ nội tâm con người phải rập khuôn theo các nguyên tắc đạo đức của Đức Chúa Trời trong Mười Điều Răn. Như Chúa Giê-xu nhắc nhở chúng ta rằng nếu hiểu rằng điều răn chỉ đòi hỏi tuân thủ bên ngoài thì đã hiểu sai mục đích của điều răn rồi (Mat 5:17-48).
(Xu 20:18-21). Phản ứng đầu tiên của dân sự Lòng dân Y-sơ-ra-ên đầy ắp lo sợ khi Đức Chúa Trời hiện ra. Ngay cả khi Ngài chưa truyền phán gì cả họ đã kinh hãi (Xu 19:16). Rồi khi nghe Ngài truyền phán họ càng kinh hãi hơn nữa (18-19). Tuy nhiên, Môi-se nhận định rằng Ngài thử lòng họ hầu cho sự kính sợ Đức Chúa Trời ở giữa ngươi và giữ ngươi khỏi phạm tội (20). Nhưng họ vẫn lo sợ đến nỗi xin Môi-se làm trung gian giữa họ với Đức Chúa Trời (21).
3. Chỉ dẫn về Của lễ (Xu 20:22-26)
Sau đó Đức Chúa Trời phán riêng rất dài với Môi-se về nhiều vấn đề. Chỉ có một mình Môi-se nghe, rồi sau này ông ghi chép lại. Đây là phần thứ nhất. Như chúng ta thấy dưới đây, nội dung này có quan hệ chặt chẽ với phần chấp thuận giao ước trong 24:3-11.
Mặc dù nhiều nhà bình giải coi phân đoạn này thuộc trong bộ luật chi tiết có trong cuốn sách giao ước, nhưng vẫn có nhiều lý do để kết luận đây là một phần riêng biệt, vì làm sao lý giải vấn đề phân đoạn này lại được đặt trước tiêu đề trong 21:1. Ngoài ra, cách trình bày phân đoạn này cũng không theo hình thức của 21:1 đến 22:20. Tốt nhất là đừng gán ghép 20:22-26 vào bộ luật chi tiết sắp sửa ban hành ở dưới mà công nhận đây là một phân đoạn riêng rẽ dạy về cách lập bàn thờ và dâng của lễ. Lập bàn thờ và dâng của lễ là những nghi thức cốt yếu trong lễ công bố giao ước mô tả trong 24:4-8. Cả hai phân đoạn đều đề cập đến Của lễ thiêu và Của lễ thù ân chứng tỏ hai phân đoạn này có liên hệ chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, mặc dù cả hai phân đoạn có liên hệ với chương 24 vào lúc đầu nhưng sau đó các chỉ dẫn lập bàn thờ cũng áp dụng vào các trường hợp khác.
Chú giải. 26 Về sau, Đức Chúa Trời chỉ thị cho Môi-se may cho A-rôn và các con trai của ông các bộ quần áo lót bằng vải mịn để che đậy sự trần truồng của họ khi ra mắt Đức Chúa Trời (nếu không họ sẽ chết, 28:42-43).
4. Sách Giao Ước (Xu 21:1-36) (Xu 21:1-23:33)
Theo 24:4, Môi-se chép mọi điều Đức Chúa Trời phán trong một cuốn sách gọi là Sách Giao Ước (24:7). Có lẽ hầu hết, nếu không nói là tất cả, nội dung của sách đã được tác giả Xuất Ê-díp-tô Ký trích dẫn trong 21:1-23:33. Có lẽ tác giả trích dẫn hầu hết, ông chia phần này làm bốn phân đoạn. Trước tiên là một bảng liệt kê dài về các luật lệ liên quan đến các lãnh vực sinh hoạt hằng ngày (21:1-22:20). Kế tiếp là tiêu chuẩn về những hành vi đạo đức mà Đức Chúa Trời muốn dân của Ngài phải đạt được nhất là trong mối tương quan với người kém cỏi hơn mình (22:21-23:9). Thứ ba là các chỉ dẫn về cách thức giữ ngày sa-bát và các ngày lễ hội (23:10-19). Cuối cùng, Đức Chúa Trời sơ lược cách hành động của Ngài để dân Y-sơ-ra-ên chiếm được xứ Ca-na-an (23:20-33).
Xuất Ê-díp-tô Ký nhấn mạnh đến sự quan tâm tha thiết của Đức Chúa Trời đối với sự công bằng qua việc Ngài giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, nên chẳng có gì ngạc nhiên khi trong giao ước mà Ngài lập với dân Y-sơ-ra-ên Ngài cũng quan tâm không kém đến sự công bằng. Việc này hết sức rõ ràng trong bộ luật chi tiết và trong các tiêu chuẩn đạo đức làm thành hai phần đầu của Sách Giao Ước.
Bộ luật chi tiết (Xu 21:1-20) Tư liệu của phần này chỉ gồm một số luật trong bộ luật cổ của dân Y-sơ-ra-ên. Nhiều điều luật được tác giả chọn chép vào đây chắc là vì có liên quan đến việc Đức Chúa Trời giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ trong xứ Ai Cập. Ngay từ phần đầu luật pháp ấn định rằng phải trả tự do cho nô lệ sau một thời gian phục vụ nhất định (1-4). Luật này ngụ ý chứng tỏ là dân Ai Cập bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ suốt một thời gian dài như thế là phi pháp. Ngược lại, điều luật về cách đối xử với người nô lệ yêu mến chủ và các nữ nô lệ (7-11) làm nổi bật mối liên hệ giao ước giữa dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời: Dân Y-sơ-ra-ên phụng sự Đức Chúa Trời vì họ yêu mến Ngài, còn Ngài đã chọn dân Y-sơ-ra-ên nên Ngài thành tín đối với họ. Có mấy điều luật khác chú trọng đến việc bồi thường cho những người bị gây thương tích nơi thân thể (18-27). Đặc biệt là người nô lệ bị chủ mình đánh trọng thương sẽ được tự do ngay lập tức (26-27). So với việc dân Y-sơ-ra-ên đã bị đối xử hà khắc tại xứ Ai Cập (so sánh 2:11 5:14-16) các luật này gián tiếp biện minh cho việc Đức Chúa Trời giải phóng dân Y-sơ-ra-ên. Vài điều luật khác tập trung vào vấn đề bồi thường (22:1-15). Ở đây cũng vậy, chúng ta có thể thấy vấn đề này có liên quan đến sự kiện dân Y-sơ-ra-ên đòi vàng, bạc và quần áo nơi người Ai Cập (3:21-22 11:2 12:35-36). Những thứ đó đền bù lại vụ qua bao thế hệ dân Y-sơ-ra-ên bị người Ai Cập bóc lột.
Ngoài mục đích biện minh cho những việc đã xảy ra trong phần trước của Xuất Ê-díp-tô Ký, các điều luật trong phần này rất có ý nghĩa vì chúng chan chứa các lý tưởng và những giá trị đạo lý. Đáng chú ý nhất là những nguyên tắc sau đây.
(i) Tương xứng trong lãnh vực đạo lý. Luật pháp trong Kinh Thánh dựa trên nguyên tắc hình phạt phải tương xứng với tội phạm. Nguyên tắc này được qui định rõ ràng trong ‘luật báo phục hình’, nhưng thường bị hiểu sai lệch: mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, phỏng đền phỏng, thương tích đền thương tích, xây sát đền xây sát (21:23-25 so sánh Le 24:17-21 Phu 19:21). Thoạt nhìn, luật báo phục hình có vẻ là một cách bảo vệ công lý khá dã man. Tuy vậy, trong tiến trình phát triển của luật pháp trong vùng Cận Đông xưa thì luật này chứng tỏ một bước tiến quan trọng. Trong bộ luật nổi tiếng và cổ nhất, đánh người gây thương tích thì bị phạt tiền. Nhược điểm của biện pháp này là không xét đến vấn đề người bị phạt có tiền để nộp phạt hay không. (Đối với người nông dân đi làm thuê bị thất nghiệp thì nộp phạt một ngàn bảng Anh là lớn lắm, nhưng đối với một tay triệu phú thì nộp phạt một ngàn bảng Anh là chuyện tầm thường). Luật báo phục hình loại bỏ mọi trường hợp bất tương xứng bằng cách yêu cầu hình phạt không được nhẹ hơn hoặc nặng hơn tội phạm gây ra.
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng áp dụng luật báo phục hình theo nghĩa đen được. Trong sách giao ước, trước luật này có viết về trường hợp gây thương tích, và mức hình phạt được tính theo khoản chi phí thuốc men và số tiền lao động vì bị thiệt hại (Xu 21:18-19). Tương tự như thế, đặt kế tiếp luật báo phục hình là một điều luật ấn định rằng một người đầy tớ bị đánh đến nỗi hỏng một mắt hoặc gãy một cái răng thì được bồi thường bằng sự tự do (21:26-27). Như vậy rõ ràng là không thể áp dụng luật báo phục hình theo nghĩa đen trong các trường hợp này.
(ii) Tính cách thiêng liêng của sự sống. Chắc chắn nhiều độc giả trong thời này bối rối khi thấy Kinh Thánh áp dụng bản án tử hình đối với một số tội như giết người, bắt cóc, đả thương hoặc chưởi rủa cha mẹ, bùa phép, giao phối cùng thú vật và thờ hình tượng (21:12-17 22:11-20). So sánh với tiêu chuẩn pháp lý thời đại này, thì án tử hình là quá đáng. Tuy nhiên, án phạt này phản ảnh sự kiện dân Y-sơ-ra-ên coi trọng mạng sống con người, tôn ti trật tự trong gia đình, và sự thánh khiết trong lãnh vực thờ phượng. Can tội sát nhân thì lãnh án tử hình. Bản án này không chủ ý coi rẻ mạng sống con người, nhưng đúng hơn là coi mạng sống con người vô cùng quí giá (so sánh Sa 9:6). Mạng đền mạng không có nghĩa là báo thù, nhưng đúng hơn với ý xác định rằng chỉ có sinh mạng mới đền bù được sinh mạng. Án này cũng áp dụng cho súc vật khi súc vật gây tử vong cho người (Xu 21:28).
Luật pháp trong Kinh Thánh rất khác biệt so với các bộ luật cổ khác ở vùng Cận Đông. Theo luật Hammurabi thuở xưa thì sát nhân chỉ cần bồi thường tiền bạc cho gia đình nạn nhân. Như vậy luật này khác xa luật mạng đền mạng. Mặt khác, những bộ luật ngoài Kinh Thánh khác lại áp dụng án tử hình đối với tội phá nhà đột nhập, hôi của khi hoả hoạn và tội trộm cắp. Các bản án này biểu thị rằng trong nhiều nền văn hoá, người ta chủ trương thiệt hại về mặt tài chánh quan trọng hơn mất mạng người. Luật trong Kinh Thánh luôn luôn nhấn mạnh rằng mạng sống con người giá trị hơn của cải vật chất.
Căn cứ vào những điều này, thì dường như các Cơ Đốc nhân phải chấp thuận bản án tử hình đối với các tội như tội sát nhân. Tuy nhiên, cũng cần xét đến các yếu tố khác. Trước hết, ngày xưa dân Y-sơ-ra-ên không có bản án chung thân cho kẻ giết người, họ không có nơi để giam giữ can phạm trong một thời gian lâu dài như vậy. Đặc biệt là không bao giờ coi việc giam cầm là một án phạt. Dĩ nhiên như vậy là phạm vi hình phạt tội phạm bị hạn chế. Thứ hai, chắc chắn là ít khi phải áp dụng bản án tử hình để bảo đảm tinh thần quí trọng mạng sống con người dù đôi khi phải lên án tử hình. Nếu lúc nào cũng sử dụng án tử hình thì hoá ra coi rẻ mạng sống con người, và như vậy sẽ phủ nhận lý cớ áp dụng biện pháp hình phạt đó. Dù áp dụng cách trừng phạt nào đi nữa, thì chúng ta với tư cách là Cơ Đốc nhân phải bảo đảm cách trừng phạt đó không phương hại đến tính cách thiêng liêng của sự sống con người.
Ngăn ngừa việc lạm dụng luật pháp. Trong bộ luật cũng có những điều khoản nhằm ngăn ngừa việc lạm dụng hoặc thi hành sai luật. Trong bất kỳ xã hội nào, luôn luôn có nguy cơ là những người vô lương tâm lạm dụng luật pháp để hại kẻ vô tội. Vì vậy mà có những án phạt khác nhau đối với tội giết chết một người trộm cắp (22:2-3). Nếu giết tên trộm vào ban đêm, thì chủ nhà hoàn toàn vô tội. Nhưng nếu giết tên trộm đó giữa ban ngày, thì gia chủ can tội sát nhân. Hai bản án khác xa như vậy là để ngăn ngừa trường hợp thanh toán người rồi vu cho người ta tội trộm cắp. Nếu không có các biện pháp ngăn ngừa này thì trong thực tế, hoá ra luật pháp binh vực người can tội. Căn bản xét xử này chứng tỏ ngay cả một tên trộm cắp cũng được luật pháp bảo vệ.
Chú giải. 21:6 Cụm từ trước mặt quan xét nghĩa đen là ‘trước mặt Đức Chúa Trời’ (22:8-9 22:28). Trường hợp xét xử trong 22:8-9 có thể dựa vào phán quyết của U-rim và Thu-min (28:15-30).
Xu 22:1-20; xem giải nghĩa 21:1-36
5. Các mệnh lệnh trong lãnh vực đạo đức (Xu 22:21-31) (Xu 22:21-23:9)
Đoạn này gồm những tư liệu thường được xem là thuộc trong bộ luật chi tiết, tuy nhiên có vài yếu tố cho thấy cần tách riêng đoạn này ra khỏi phần giáo huấn trong 21:1-22:20. Trước hết là có hai câu 22:21 và 23:9 đóng khung riêng biệt cho đoạn này rồi. Cả hai câu không chỉ cấm ngược đãi các khách lạ, mà còn nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên nhớ rằng trước kia họ cũng là khách kiều ngụ trong xứ Ai Cập. Thứ hai, hình thức trình bày vấn đề không tương hợp với hai hình thức cụ thể trong phần trước, đúng hơn đoạn này nghiêng về hình thức trình bày của Mười Điều Răn. Thứ ba ngoài câu ngăm đe tổng quát trong câu 24 Ta sẽ giết người bằng gươm thì không có đề ra biện pháp nào cho toà án áp dụng đối với những người vi phạm những điều luật vạch ra ở đây. Thứ tư, chủ đề chính trong đoạn này đứng riêng lẻ. Đó là khích lệ thái độ ân cần đối với thành phần cô thế, yếu đuối trong xã hội (cụ thể là khách lạ, goá phụ, trẻ mồ côi, kẻ túng quẫn, người nghèo khó) và khích lệ tinh thần vô tư nơi người cầm cân nảy mực. Không được nhận hối lộ mà thiên vị người giàu (23:8) cũng không thiên vị người nghèo (23:3). Mọi người đều được đối xử ngang bằng nhau bất kể thuộc giai cấp nào (23:6,9). Nhân chứng không được chìu theo sức ép của xã hội (23:2) và phải bảo đảm rằng lời làm chứng của mình là đúng sự thực (23:1,7). Mấy nhận xét trên đây nhằm chứng tỏ là phần này gồm những mệnh lệnh trong phạm vi đạo đức chớ không phải là bộ luật chi tiết.
Các mệnh lệnh này nhằm khuyến khích những hành vi vượt trội hơn yêu cầu của luật pháp. Chắc chắn toà án của loài người không truy tố người không hoàn trả một con thú của kẻ thù bị thất lạc, tuy nhiên Đức Chúa Trời đòi hỏi dân của Ngài phải lấy điều thiện thắng điều ác (23:4-5 so sánh Ma 5:43-48 Ro 12:19-21). xét về mối liên hệ đặc biệt giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài thì mệnh lệnh các ngươi sẽ làm dân thánh của Ta (Xu 22:31) được đặt trong phần này là rất có ý nghĩa. Ở dây chúng ta thấy dân thánh của Đức Chúa Trời phải sống như thế nào.
Xu 23:1-9; xem giải nghĩa 22:21-31
6. Luật giữ ngày sa-bát và các ngày lễ (Xu 23:10-19)
Phân đoạn này được bố cục rất chặt chẽ, gồm có hai khúc, tâm điểm là câu 13, mỗi khúc cũng được chia làm hai phần nhỏ. Khúc đầu đề cập đến năm thứ bảy (23:10-11) và ngày thứ bảy (23:12). Các câu 14-19 đề cập đến ba kỳ lễ chính mà dân Y-sơ-ra-ên phải cử hành hàng năm: Lễ Bánh Không Men, Lễ Đầu Mùa Thu Hoạch và Lễ Thu Hoạch. Các chỉ dẫn trong 23:17-19 tương hợp với ba lễ này. Có ba đặc điểm đáng chú ý là: Thứ nhất, khi đọc các chi tiết trong phần này hầu như chúng ta đoán trước rằng dân Y-sơ-ra-ên sẽ hưởng đời sống nông nghiệp ổn định trong xứ Ca-na-an. Đối với dân nô lệ vừa thoát khỏi ách nô lệ và đang lang thang đây đó thì những lời giáo huấn này gợi ra một tương lai sung túc thịnh vượng. Thứ hai vấn đề tuân thủ ngày sa-bát rất quan trọng vì đây là dấu hiệu giao ước giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên (31:12-17). Bất kỳ ai xem thường ngày sa-bát là phạm tội chối bỏ mối liên hệ đặc biệt này, hậu quả là cái chết (31:14-15). Thứ ba, có lời nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên chỉ thờ một mình Đức Chúa Trời: chớ xưng đến các danh thần khác, chớ nhắc đến các thần đó trên miệng ngươi (23:13). Thờ phượng Đức Chúa Trời là trọng tâm của ba kỳ lễ hàng năm để kỷ niệm sự kiện Đức Chúa Trời đối xử nhân từ với Y-sơ-ra-ên.
Chú giải. 15 Lễ Bánh Không Men cử hành vào đầu mùa gặt lúa mạch (khoảng giữa tháng năm cho đến giữa tháng sáu) để kỷ niệm sự vượt qua (12:14-20). 16 Lễ Đầu Mùa Thu Hoạch còn được gọi là Lễ Ngũ Tuần, vì lễ này cử hành sau Lễ Bánh Không Men bảy tuần. Trong Tân Ước gọi thời gian này là ‘Ngũ Tuần’ (nguyên văn là ‘năm mươi’) bởi vì lễ này sau Lễ Bánh Không Men năm mươi ngày (so sánh Cong 2:1 20:16 ICo 16:8). Lễ Thu Hoạch còn gọi là ‘Lễ Lều Tạm’. 19 Chớ nên nấu thịt dê con trong sữa của mẹ nó là điều luật căn bản của người Do Thái về chuyện không được ăn sữa chung với thịt của con thú đó cùng một lúc. Lúc đầu có lẽ luật này liên quan tới Lễ Thu Hoạch nhằm phân biệt với lễ của những dân tộc chung quanh. Hoặc là có lẽ luật này phản ảnh một nguyên tắc là điều gì đã được ấn định đem lại sự sống thì không thể biến thành phương tiện sát sinh được.
7. Lời hứa và cảnh cáo của Đức Chúa Trời liên quan đến xứ Ca-na-an (Xu 23:20-23)
Phần cuối cùng của Sách Giao Ước là nổi bật tính cách hỗ tương của giao ước giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên. Nếu dân Y-sơ-ra-ên vâng phục Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, thì họ sẽ chiếm được xứ Ca-na-an (22-23). Hơn nữa, Đức Chúa Trời còn hứa sẽ ban cho họ một tương lai vững chãi (25-26) và an ninh (27-28). Vì dân Y-sơ-ra-ên liên hiệp với Đức Chúa Trời, nên họ phải tách khỏi sự thờ phượng các thần khác bằng cách đập tan các hình tượng tà thần và phá bỏ các nơi thờ phượng (24). Cũng vì mối liên hiệp này, họ không được liên minh với các dân trong xứ Ca-na-an kẻo lòng trung thành của họ với Đức Chúa Trời bị lung lay (32-33). Cảnh cáo như vậy là cần thiết bởi vì dù Đức Chúa Trời ban xứ cho họ, Ngài không diệt tất cả dân Ca-na-an cùng một lúc mà là dần dần để tránh cho xứ khỏi cảnh hoang tàn (29-30).
8. Đức Chúa Trời kêu gọi lên núi. (Xu 24:1-2)
Tiếc là cách chia chương khiến chúng ta tưởng rằng lời Đức Chúa Trời kêu gọi Môi-se, A-rôn, Na-đáp, A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên lên núi hoàn toàn tách rời khỏi phần Đức Chúa Trời phán dạy trong các chương 21-23. Tuy nhiên, theo bản văn tiếng Hi Bá Lai hai câu này thuộc vào phần phán dạy trong các chương trước. Chỉ khác một điều là đến lúc này Đức Chúa Trời mới ban các huấn lệnh đặc biệt cho một mình Môi-se, chớ không ban cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên (so sánh Xu 20:22).
9. Ban hành giao ước. (Xu 24:3-11)
Sau khi xuống núi, Môi-se thuật lại mọi lời phán của Đức Chúa Trời cho dân sự. Một lần nữa họ bày tỏ lòng sẵn sàng vâng theo mọi lời Đức Chúa Trời phán dặn. Tiếp theo đó là bài tường thuật ngắn gọn về buổi lễ công nhận giao ước giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên (4-11). Đáng chú ý là những nghi thức trình bày sơ lược ở đây thể hiện đúng theo ba phần Đức Chúa Trời đã chỉ dạy cho Môi-se (20:24-24:2). Họ xây dựng bàn thờ và dâng của lễ đúng theo chỉ dẫn trong 20:24-26. Sau đó Môi-se đọc cho dân chúng nghe Sách Giao Ước (24:7), tức là phần quan trọng nhất của những điều Đức Chúa Trời vừa dạy xong (21:1-23:33). Như vậy Môi-se nhắc cho dân sự nhớ phải sống làm sao cho xứng đáng là dân thánh của Đức Chúa Trời, và nhớ lại tính cách hỗ tương của giao ước. Sau khi dân Y-sơ-ra-ên xác nhận họ sẵn sàng vâng lời Đức Chúa Trời (7) giao ước được đóng ấn bằng cách rảy huyết trên dân sự (8). Cuối cùng Môi-se và các trưởng lão hưởng ứng lời mời gọi của Đức Chúa Trời leo lên núi và được chiêm ngưỡng sự vinh quang lạ lùng của Đức Chúa Trời (9-11). Chỉ những người được Đức Chúa Trời mời gọi mới được đến gần sự hiện diện thánh khiết của Ngài, còn những người khác không được kêu gọi mà đến gần sẽ bị chết (so sánh 19:21-22,24).
5. CHỈ DẪN XÂY DỰNG ĐỀN TẠM (Xu 24:12-31:18)
1. Môi-se ra mắt Đức chúa Trời (Xu 24:12-18)
Mở đầu cho phần quan trọng tiếp theo của Xuất Ê-díp-tô Ký là Đức Chúa Trời truyền lệnh cho Môi-se lên núi nhận bia đá khắc luật pháp và điều răn Ta đã chép đặng dạy dân Ta (24:2). Bia đá này là Mười Điều Răn, chớ không phải là quyển Sách Giao Ước. Việc giao hai bia đá cho Môi-se (31:18) kết thúc phần này (31:18) là phần nằm gọn giữa hai câu 31:18 và 24:12.
Ngoài phần mở đầu và kết thúc ngắn gọn ra, phần này chủ yếu trình bày lời Đức Chúa Trời chỉ dạy về những chuẩn bị cần thiết nhằm xây dựng đền tạm đặc biệt và bổ nhiệm các thầy tế lễ (25:1-31:17). Tác giả làm nổi bật tầm quan trọng của đền tạm khi ông dành phần lớn những trang này để ghi lời của Đức Chúa Trời mô tả cách chế tạo cái trại và những vật dụng cùng cách thức dựng đền tạm (35:4-39:43). Nhìn chung, ngoài các chi tiết liên quan đến lễ tấn phong các thầy tế lễ thì khoảng một phần năm Xuất Ê-díp-tô Ký được dành để mô tả về nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời. Dầu vậy, những chi tiết này vẫn chưa đầy đủ để dàn dựng lại hoàn chỉnh cái trại đầu tiên hoặc thường được gọi là đền tạm. Sơ đồ đền thờ Sa-lô-môn và đền thờ thời kỳ hậu lưu đày đều rập theo sơ đồ đền thờ, nhưng kích thước thì lớn gấp đôi đền tạm. Muốn biết Hội Thánh đầu tiên giải nghĩa sự chết của Chúa Giê-xu trong mối tương quan với đền tạm và các nghi thức, xin xem He 9:1-10:8.
Mặc dù Môi-se đã từng lên núi để trò chuyện với Đức Chúa Trời, nhưng không có thông tin nào về thời gian ông lưu lại trên núi. Tuy nhiên, lần này ông ở lại trên núi bốn mươi ngày, bốn mươi đêm (18). Trước đó, Môi-se giao cho A-rôn và Hu-rơ trách nhiệm giải quyết các vụ tranh chấp có thể xảy ra giữa dân sự. Không hiểu vì sao Môi-se phải chờ đợi đến bảy ngày rồi mới ra mắt Đức Chúa Trời. Như vậy chứng tỏ ngay cả Môi-se cũng khó được phép đến gần Đức Chúa Trời.
2. Các chi tiết cụ thể về đền tạm (Xu 25:1-40) (Xu 25:1-27:21)
(Xu 25:1-9). Dâng hiến cho công việc xây dựng đền tạm. Sau khi thông qua giao ước, Đức Chúa Trời chỉ thị cho Môi-se rằng dân Y-sơ-ra-ên phải dâng lễ vật công nhận uy quyền tối cao của Đức Chúa Trời trên họ (1-7). Thay mặt Đức Chúa Trời, Môi-se nhận các lễ vật do mọi người tự nguyện đem dâng, mỗi người dâng hiến theo lòng của mình (2). Sau đó Đức Chúa Trời loan báo ý định của Ngài là sẽ cư ngụ giữa dân sự (8 so sánh Xu 29:45-46). Đây là chủ đề quan trọng trong phần cuối của Xuất Ê-díp-tô Ký. Và họ lo chuẩn bị nhiều để Đức Chúa Trời thực hiện ý định này. Đức Chúa Trời sẽ sống trong lều như dân sự của Ngài. Tuy nhiên, bản liệt kê các thứ kim loại quý và vải màu xanh biển biểu thị rằng đây không phải là căn lều bình thường, mà là lều của vua chúa.
Chú giải. 5 Không rõ những tấm da bò biển là hàng vải thuộc loại gì. Tuy nhiên có cơ sở cho phép đây là da của con cá nược, một loại động vật có vú sống dưới biển dài khoảng 3 m và có rất nhiều trong vịnh Aqabah.
(Xu 25:10-12). Chỉ dẫn về việc đóng hòm giao ước. Ngay từ đầu Đức Chúa Trời đã chỉ thị cho Môi-se làm ba món đồ đặt để trong đền tạm. Đầu tiên là một cái rương hoặc thùng gỗ hình khối chữ nhật bọc vàng ròng cả trong lẫn ngoài (10-11). Để tiện việc di chuyển, rương hoặc còn gọi là hòm giao ước phải có khoen bằng vàng và phải có đòn hiêng (12-15). Sau này Môi-se đặt vào hòm hai bảng đá, tức là bảng chứng cớ hoặc ‘các điều khoản hợp đồng’ về giao ước giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên (16,21 Phu 10:8 gọi hòm này là’hòm giao ước’). Nắp của hòm làm bằng vàng ròng gọi là nắp thi ân (17 so sánh He 9:5 ‘nơi chuộc tội’). Le 16:1-34 (nhất là câu 11-17) mô tả một nghi thức diễn ra hàng năm: thầy tế lễ thượng phẩm rảy huyết trên nắp hòm để chuộc tội về ‘sự ô uế và sự phản loạn của dân Y-sơ-ra-ên hoặc bất cứ loại tội nào’ (16:16). Ở hai đầu hòm có gắn hai Chê-ru-bim bằng vàng với đôi cánh giang rộng đứng đối diện nhau. Tại đây, giữa hai chê-ru-bim, Đức Chúa Trời sẽ gặp Môi-se và truyền phán những mệnh lệnh cho dân Ngài (22,30,36 so sánh 16:2). Như vậy hòm giao ước vừa làm nơi lưu trữ vừa làm nơi ngự (đôi khi còn gọi là ‘ngôi thương xót’) hoặc cụ thể hơn thì gọi là ngai vàng có các Chê-ru-bim bảo vệ (so sánh ISa 4:4 IISa 6:2 IIVua 19:15 Thi 80:2 99:1 Es 37:16). Ngai vàng của Đức Chúa Trời là nơi quan trọng hàng đầu nên Ngài đề cập đến việc chế tạo hòm giao ước trước nhất.
Chú giai. 18 Ở vùng Cận Đông xưa, theo truyền thống các nơi thánh có Chê-ru-bim bảo vệ. Ngoài hai Chê-ru-bim mô tả ở đây các bức màn bao quanh đền tạm và ngăn cách nơi thánh với nơi chí thánh cũng có thêu Chê-ru-bim (Xu 26:1,31). Không nên lẫn lộn các Chê-ru-bim này với các hình vẽ về các trẻ em ‘cherub’ trong các tác phẩm nghệ thuật sau này.
(Xu 25:23-40). Chỉ dẫn về bàn và chân đèn. Món vật dụng thứ hai là cái bàn bằng gỗ, bọc vàng, có gắn các khoen và đòn khiêng (23-28). Trên bàn lúc nào cũng có sẵn bánh trần thiết. Chén dĩa và các vật dụng khác đều bằng vàng (29-30). Món vật dụng thứ ba là chân đèn vàng có bảy đèn (31-40). Chân đèn được thiết kế theo hình dáng một thân cây có bảy nhánh xoe ra, trang hoàng bằng chồi, nụ hoa và hoa nở dáng như cái tách (31). Từ thân cây, mỗi bên mọc ra ba nhánh, trên ngọn của thân cây và của nhánh là ngọn đèn. Không rõ vì sao chân đèn lại có dạng một thân cây. Có lẽ nhằm gợi nhớ lại cây sự sống trong Sa 3:22, tượng trưng cho một thứ đem lại sự sống cho gia đình. Như vậy chân đèn biểu thị rõ ràng cho sự hiện hữu của Đức Chúa Trời trong đền tạm. Việc sử dụng nhiều vàng chứng tỏ chủ nhân ngự trong lều là Đấng rất quan trọng. Bánh trần thiết (Xu 25:30) và ánh sáng là những biểu tượng nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời luôn luôn ngự ở đó cả ngày lẫn đêm.
Chú giải. 30 Xin xem thêm lời chú giải Le 24:5-9 về bánh trần thiết.
3. Chỉ dẫn về đền tạm (Xu 26:1-37)
Tiếp theo là các chỉ dẫn chi tiết về việc dựng trại hoặc đền tạm. Không rõ các bức màn và khung gỗ khớp vào nhau như thế nào. Toàn bộ đền tạm được thiết kế để di dời dễ dàng, nên chắc phương thức dựng trại này cũng tương tự như các loại trại khác. Các tấm vải màu xanh biển và vàng giát biểu thị tính cách vương quyền. Bức màn ngăn đền tạm hình thành hai gian, gian này lớn gấp đôi gian kia (31-33). Gian nhỏ nằm bên phía tây của đền tạm là nơi đặt Hòm Bảng Chứng. Người ta tin rằng Đức Chúa Trời ngự trên ngai ở nơi đây giữa các Chê-ru-bim nên nơi này được gọi là Nơi Rất Thánh hoặc Nơi Chí Thánh (34). Gian rộng hơn (ở phía đông) gọi là Nơi Thánh, có bàn và chân đèn bằng vàng (35). Bức màn thêu hình Chê-ru-bim ngăn hai gian có ý nhắc nhở người có tội không được phép bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời (so sánh Sáng Thế Ký 3:24) (Xin xem thêm từ ‘Đền tạm’ (Tabernacle trong IBD, trang 1506-1511 về những vấn đề liên quan đến việc dàn dựng lại đền tạm).
Chú giải. 11 Các móc bằng vàng dùng cho bức màn bên trong đền, còn các bức màn bên ngoài chỉ cần dùng móc bằng đồng. 33 Bức màn ngăn giữa Nơi Thánh với Nơi Chí Thánh là rào ngăn cách cuối cùng giữa Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên. Mat 27:51 ghi rằng khi Chúa Giê-xu chết thì bức màn trong đền thờ bị xé ra từ trên xuống dưới. Qua sự hy sinh trên thập tự giá Đấng Christ đã dẹp bỏ chướng ngại thuộc linh ngăn cách giữa Đức Chúa Trời và nhân loại.
4. Chỉ dẫn về bàn thờ và hành lang đền tạm. (Xu 27:1-19)
Chung quanh trại Môi-se tạo một hành lang bằng cách dựng một hàng rào bằng màn vây quanh. Trước khi đi vào chi tiết về việc dựng hàng rào này (Xu 27:9-19), tác giả ghi ra các chỉ thị về việc chế tạo một cái bàn thờ bằng đồng có thể di dời đặt ở hành lang gần cổng ra vào đền tạm (1-8). Căn cứ vào kích thước, chắc bàn thờ chiếm một diện tích rất lớn trước đền tạm vì nó rộng tới 2,50 m (bằng nửa bề rộng của đền tạm) và cao 1,50 m. Bàn thờ gồm có một khoảng lõm xuống hình vuông, chỗ đặt con vật hiến tế, phần thấp phía dưới ở bốn bên được làm bằng lưới đồng. Bàn thờ được đặt ở giữa lối vào hành lang và đền tạm ngụ ý rằng họ chỉ có thể đến gần Đức Chúa Trời để thờ phượng sau khi họ đã dâng của lễ chuộc tội. Le 1:1-7:38 chép chi tiết về các của lễ mỗi người phải dâng.
Hành lang hình chữ nhật, chiều dài gấp đôi chiều rộng khoảng 50 m chiều dài, 25 m chiều rộng, chung quanh có một hàng rào bằng màn cao 2,5 m. Hai chiều rộng nằm về hướng đông và hướng tây. Trước khi đến đền tạm nằm ở phía tây hành lang, người ta phải đi qua cổng ở phía đông hành lang và trước tiên họ gặp bàn thờ lớn bằng đồng. Bức màn bao quanh hành lang và bức màn treo ở cổng vào không cho người bên ngoài nhìn vào trong hành lang. Như vậy hành lang tách khỏi trại quân của dân Y-sơ-ra-ên và được biệt riêng làm vùng đất thánh. Còn đền tạm là nơi Đức Chúa Trời ngự thì được xem là thánh hơn nữa. Hành lang và đền tạm được biệt ra thánh ở hai mức độ khác nhau biểu thị qua giá trị của vật liệu xây dựng. Vật liệu dùng cho đền tạm luôn luôn là vàng, còn bạc và đồng dùng cho hành lang. Giống như dân sự không được phép lên núi Si-na-i ra mắt Đức Chúa Trời (Xu 19:12-13), cũng thế hàng rào hành lang không cho phép họ đến với Đức Chúa Trời một cách cẩu thả. Xuất Ê-díp-tô Ký luôn luon nhấn mạnh chỉ có ai thánh khiết mới sống được trước mặt Đức Chúa Trời. Nếu không thánh khiết mà đến gần Đức Chúa Trời thì sẽ rước lấy cái chết. Như vậy nếu không có hành lang làm vùng ‘đệm chắn’, thì dân Y-sơ-ra-ên không thể sống gần Đức Chúa Trời một cách an toàn được
5. Cung ứng dầu ô-li-ve (Xu 27:20-21)
Sau các chỉ thị về sự xây dựng đền tạm và hành lang, Đức Chúa Trời truyền cho dân Y-sơ-ra-ên nộp dầu ô-li-ve để thắp đèn trong đền tạm. A-rôn và các con trai ông chịu trách nhiệm giữ cho ngọn đèn liên tục cháy sáng suốt đêm (21). Tên họ được nhắc đến nơi đây xem như một mối nối bắc qua một loạt những chỉ thị kế tiếp về việc phong chức cho các thầy tế lễ phụng sự trong nơi thánh (28:1).
Chú giải. 21 Theo mạch văn thì từ Hội Mạc rõ ràng chỉ về đền tạm, từ này luôn luôn chỉ về đền tạm ở những chỗ khác. Tuy nhiên ở 33:7, từ này chỉ về một cái trại khác làm nơi gặp gỡ giữa Đức Chúa Trời với Môi-se trước khi có đền tạm.
6. Các chi tiết cụ thể về chức tế lễ (Xu 28:1-29:46)
(Xu 28:1-43). Y phục của thầy tế lễ thượng phẩm Vì hành lang là vùng đất thánh nên những người phục vụ tại đó cũng phải thánh. Để biểu thị sự thánh khiết, A-rôn và các con trai sẽ mặc lễ phục thánh, làm bằng chỉ vàng, xanh, tím, đỏ sậm cùng vải gai mịn (5). Các vật liệu này không những đề cao ‘sự cao trọng vinh hiển’ Đức Chúa Trời ban tặng cho A-rôn và các con trai người, mà còn giúp liên hệ họ với đền tạm vì đền tạm cũng được chế từ các vật liệu đó. Để phân biệt chức tế lễ thượng phẩm của A-rôn với các thầy tế lễ thường A-rôn phải đeo bảng đeo ngực, mặc ê-phót, áo dài, áo ngắn tay, mũ và đai lưng (4). Còn các con trai cua ông chỉ mặc áo dài, đai lưng và khăn quấn đầu (40). Không thấy đề cập đến giày dép. Như vậy có lẽ ngụ ý các thầy tế lễ đi chân không (khi Đức Chúa Trời hiện ra trong bụi gai cháy, Ngài truyền lệnh cho Môi-se phải cởi giày ra vì nơi đó là đất thánh, Xu 3:5). Đoạn này chú trọng nhiều đến lễ phục của thầy tế lễ thượng phẩm, nhất là ê-phót và bảng đeo ngực.
(Xu 28:6-14). Vì Kinh Thánh mô tả ngắn gọn nên cũng khó hình dung ê-phót như thế nào, nhưng chắc ê-phót có dạng áo khoác ngắn mặc tròng bên ngoài lễ phục (4). Đặc biệt là hai viên đá quí khắc tên mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên. Hai viên đá này gắn trong các khuôn vàng chạm trổ (11) và đeo vào cầu vai của ê-phót để kỷ niệm các con trai Y-sơ-ra-ên (12). Hai viên đá quí này nhằm nhắc nhở rằng A-rôn làm thầy tế lễ thượng phẩm phụng sự Đức Chúa Trời, không phải với tư cách cá nhân mà là thay mặt cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên.
(Xu 28:15-30). Kế tiếp là bảng đeo ngực, hình thù giống như một cái túi hình vuông và thầy tế lễ đeo trước ngực. Túi này được chế tạo cùng những thứ vật liệu như ê-phót và gắn vào ê-phót. Mặt trước của bảng đeo ngực có gắn bốn hàng đá quí, mỗi hàng có ba viên, và mỗi viên tượng trưng cho một chi phái Y-sơ-ra-ên. Mặc dù A-rôn thuộc chi phái Lê-vi, nhưng với tư cách là thầy tế lễ thượng phẩm mang tên của mười hai chi phái trên ngực thì A-rôn thay cho toàn thể dân sự phụng sự Đức Chúa Trời. Các viên đá quí tượng trưng rằng Đức Chúa Trời coi dân Y-sơ-ra-ên là quí giá. Cuối cùng Đức Chúa Trời truyền lệnh gắn U-rim và Thu-mim vào bảng đeo ngực (30). Tuy không rõ chính xác hình thù của U-rim và Thu-mim, nhưng hai viên ngọc này dùng để xác định sự phán quyết của Đức Chúa Trời (so sánh 22:8-9). Xin xem IBD, trang 207 có phần mô tả ngắn và hình vẽ về bảng đeo ngực.
(Xu 28:31-34). Áo dài màu xanh biển có thêu hình các trái lựu và có đeo các chuông vàng, mặc ở dưới ê-phót và bảng đeo ngực. Khi nghe tiếng chuông lắc leng keng, người ta biết thầy tế lễ bước vào hoặc ra khỏi Nơi Chí Thánh, khiến cho thầy tế lễ thượng phẩm đến gần Đức Chúa Trời cách an toàn còn bất cứ ai cả gan đi vào Nơi Chí Thánh sẽ bị chết (so sánh 19:22-23,21-22,24). Để nhắc nhở tính cách thiêng liêng của chức vụ tế lễ, trên mũ của A-rôn ở mặt trước có gắn một tấm thẻ bằng vàng trên khắc chữ Thánh cho Đức Giê-hô-va (36). Vì ông được biệt ra thánh, nên thầy tế lễ thượng phẩm A-rôn đóng vai trò trung gian cho dân Y-sơ-ra-ên để bảo đảm rằng Đức Chúa Trời vui nhận các của lễ dâng cho Ngài (38). Ngoài cac món đã đề cập, A-rôn còn mặc áo ngắn, khăn đội đầu và đai lưng (39). (Áo ngắn mặc dưới áo dài có ê-phót so sánh 29:5). Bởi vì áo quần lót không trực tiếp biểu thị ‘sự cao trọng’ và ‘vinh hiển’ (2) của thầy tế lễ, nên lời chỉ dẫn về các món này nằm rải rác trong bản văn. Các thầy tế lễ phải mặc quần áo lót bằng vải gai mịn để đề phòng họ vô ý để lộ sự loã lồ trong Nơi Thánh (so sánh 20:26). Trước mặt Đức Chúa Trời mà loã lồ thì rõ ràng là bất xứng (so sánh Sa 3:7,10,21). Hơn nữa, bởi vì chỉ có các thầy tế lễ mới được phép vào đền tạm, nên mệnh lệnh bắt họ phải mặc đồ lót lại càng bảo đảm với những người ở bên ngoài là không có việc gì khó coi có thể xảy ra bên trong đền tạm.
Chú giải. 41 Từ Hi Bá Lai mà bản NIV dịch là ‘phong chức’ có nghĩa đen là ‘ngươi sẽ làm đầy tay họ’ mà đúng hơn đề cập đến việc cung cấp các nhu cầu của thầy tế lễ (so sánh Xu 29:22-28).
(Xu 29:1-46). Tấn phong cho thầy tế lễ Nội dung của chương trước đương nhiên dẫn đến các chỉ thị về việc tấn phong cho A-rôn và các con trai của ông. Các thầy tế lễ muốn phụng sự trước mặt Đức Chúa Trời thì họ phải thánh. Nhưng nhiều lần Xuất Ê-díp-tô Ký cho biết chỉ có Đức Chúa Trời mới có bản tánh thánh khiết tự tại, còn loài người muốn trở nên thánh phải áp dụng nhiều biện pháp khác. Phần này phản ảnh các giai đoạn chép trong 28:41, tức là các giai đoạn dẫn đến việc tấn phong cho các thầy tế lễ như: y phục, xức dầu, ‘làm đầy tay’ và tấn phong.
Sau khi tập trung các món cần thiết (1-3) Môi-se sẽ cho A-rôn và các con trai ông mặc lễ phục (5-9). Kế đó, Môi-se phải dâng ba của lễ khác nhau, gồm có một con bò đực và hai con chiên đực. Trước hết là dâng con bò đực (được xem như Của lễ thanh tẩy, 10-14) đúng theo chỉ dẫn trong Le 4:3-12 về những tội vô ý của các thay tế lễ. Tuy nhiên trong trường hợp này, huyết được bôi lên sừng của bàn thờ lớn bằng đồng bên ngoài hành lang, chớ không bôi lên bàn thờ xông hương bằng vàng trong đền tạm (12 so sánh 4:7). Huyết thanh tẩy bàn thờ vì trước đó có những người bị xem là không thánh sạch đã đụng chạm vào bàn thờ.
Của lễ kế tiếp (Của lễ toàn thiêu, các câu 15-18) được thực hiện đúng theo chỉ dẫn trong 1:10-13 về cách dâng chiên đực. Của lễ toàn thiêu chuộc tội A-rôn và các con trai của ông. Cảnh con sinh bị thiêu huỷ hoàn toàn là hình ảnh sống động nhắc nhở rằng con người tội lỗi không thể đến gần Đức Chúa Trời được. Con vật chết thay cho những người đặt tay trên đầu nó. Của lễ thứ ba (19-34) giống như Của lễ thù ân hoặc Của lễ thông công hoặc bày tỏ lòng biết ơn (so sánh 3:6-11 7:12-15).
Tuy nhiên, dù kỳ dâng của lễ này có vẻ tương tự như những lần dâng thông thường khác, nghi thức mô tả ở đây vẫn có những điểm đặc thù tương xứng với trường hợp duy nhất này. Trước hết, A-rôn, các con trai của ông và y phục của họ phải được thánh hoá bằng huyết của con sinh (19-21). Hễ máu chạm đến vật gì thì vật ấy trở nên thánh. ‘Tai của thầy tế lễ phải được thánh hoá mới luôn luôn nghe được tiếng nói thiêng liêng của Đức Chúa Trời bàn tay cũng được thánh hoá để luôn luôn làm công việc thiêng liêng và đôi chân cũng được thánh hoá để bước đi mãi trong đường lối thánh’ (A. Dillmann, Exodus and Leviticus, xuất bản lần hai - Hirzel, 1880 - trang 465). Thứ hai, các câu 22-35 tập trung việc bồi dưỡng cho A-rôn và các con trai ông. Bản NIV dịch là con chiên dùng để tấn phong nên không đúng cho lắm (22, so sánh Xu 29:26,27,31,34). Nghĩa đen là ‘con chiên làm đầy’. Từ ‘làm đầy’ này chỉ về phần thịt thầy tế lễ nhận lại cho mình sau khi dâng các của lễ khác (so sánh Le 6:14-18,25-29 7:1-38). Môi-se thực hiện nghi thức thánh hoá đùi phải và ức con sinh để cho các thầy tế lễ dùng. Điểm khác biệt là cái ức thì đưa qua đưa lại, còn cái đùi thì đưa lên (27). Trong trường hợp này, cái ức được giao cho Môi-se để thưởng cho ông về công tác dâng của lễ (26) còn cái đùi thì được thiêu trên bàn thờ cùng với một ít bánh (25). Trong các lần dâng của lễ sau này, sau khi các thầy tế lễ thánh hoá Của lễ thù ân xong, thì cái ức sẽ được giao cho các thầy tế lễ, còn cái đùi thì chỉ giao cho thầy tế lễ hành lễ (7:28-36). Ngoài cái ức, cái đùi và các phần mỡ ra, phần thịt còn lại sẽ được nấu chín và ăn với bánh còn lại tại lối vào đền tạm. Chỉ có thầy tế lễ mới được ăn thức ăn thánh này.
Phần nghi lễ trình bày trong câu 1-34 là phần cơ bản trong lễ tấn phong cho các thầy tế lễ. Căn cứ vào câu 35 hầu hết các nhà bình giải đều tin rằng trong cả bảy ngày, ngày nào cũng thực hiện nghi lễ này. Nói cách khác, trong sáu ngày kế tiếp mỗi ngày đều dâng các của lễ trong câu 36-41, còn A-rôn và các con trai của ông đều phải ở lại trong hành lang đền tạm (so sánh 8:33-35). Dù thế nào đi nữa thì tiến trình thánh hoá hoặc biệt riêng đều cần nhiều thời gian.
Sau đó Môi-se nhận được lệnh thánh hoá bàn thờ (36-37). Dâng con bò làm Của lễ tương tự với Của lễ chép trong các câu 10-14. Con vật chết để chuộc tội và như vậy thanh tẩy bàn thờ. Bàn thờ sẽ trở nên thánh khiết sau khi có huyết rảy lên (36). Nghi thức này lập lại trong bảy ngày. Cuối cùng là chỉ dẫn về Của lễ toàn thiêu bằng hai con chiên đực hàng ngày: một con vào buổi sáng và một con vào buổi chiều. Đây là sự dâng hiến thường xuyên mỗi ngày sau khi các thay tế lễ và bàn thờ hoàn toàn được thánh hoá. Câu 42-43 làm nổi bật mục đích của việc này là: cần phải dâng Của lễ trước khi Đức Chúa Trời gặp dân Y-sơ-ra-ên. Như Đức Chúa Trời đã khẳng định ‘Tại đó... Ta sẽ gặp dân Y-sơ-ra-ên và vinh quang sẽ thánh hoá nơi này’ (43). Như câu 46 chép rõ, mục đích tối hậu của Đức Chúa Trời trong việc giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai Cập là để Ngài cư ngụ giữa họ. Việc thi hành các chỉ dẫn có liên quan đến việc tấn phong cho A-rôn và các con trai ông được ghi lại trong 8:1-36.
Chú giải. 4 Sự tinh khiết và sạch sẽ có liên quan chặt chẽ với sự thánh khiết (so sánh Xu 19:10,14). 14 Của lễ chuộc tội phải hiểu là Của lễ thanh tẩy (Le 4:1-5:13 6:24-30).
7. Chỉ dẫn thêm về đền tạm và ngày sa-bát (Xu 30:1-31:18)
(Xu 30:1-38). Chỉ dẫn thêm về trang bị của đền tạm. Một vật dụng khác trong đền tạm là bàn thờ xông hương (1-10). Bàn thờ này làm bằng cây si-tim bọc vàng ròng bên ngoài, đặt trong Nơi Thánh bên cạnh bàn bằng vàng và chân đèn. Mỗi ngày hai lần A-rôn sẽ xông hương thơm tại đó (7-8), và mỗi năm một lần (có lẽ vào ngày chuộc tội, Le 16:15-19) ông phải thực hiện nghi thức chuộc tội trên sừng bàn thờ (10). Đúng theo chỉ dẫn thì bàn thờ xông hương chỉ dùng để xông hương hai lần một ngày chớ không được phép dùng vào việc khác.
Câu 10 nhắc đến vấn đề chuộc tội nên trở thành câu dẫn qua một chỉ thị khác mà Môi-se phải thực hiện. Ông phải kiểm tra dân số và thu nơi mỗi người Y-sơ-ra-ên từ hai mươi tuổi trở lên một nửa siếc-lơ làm tiền dâng chuộc tội (11-16). Với số tiền này, dân Y-sơ-ra-ên mua chuộc hoặc cứu chuộc mạng của họ thoát khỏi nạn dịch (12). Đáng lưu ý là tất cả đều cần được chuộc tội như nhau không phân biệt giàu nghèo.
Sau đó Môi-se được lệnh là phải làm một cái chậu bằng đồng để A-rôn và các con trai của ông rửa chân tay khi phụng sự trong đền tạm và hành lang (17-21). Các thầy tế lễ phải rửa tay tượng trưng rằng họ phải giữ mình thánh khiết và trong sạch (so sánh Xu 19:14 29:4).
Phải chế tạo một loại dầu đặc biệt để xức dầu cho đền tạm, đồ đạc và các thầy tế lễ phụng sự tại đó (22-30). Vì bất cứ vật gì được dầu này chạm đến đều trở nên thanh nên Đức Chúa Trời truyền lệnh hạn chế chế tạo và sử dụng dầu này (31-33). Ngài cũng truyền lệnh tương tự đối với các loại hương sử dụng trong đền tạm (34-38).
(Xu 31:1-11). Các nghệ nhân thiên phú. Sau khi sơ lược về những đồ dùng trong đền tạm và ngoài hành lang, Đức Chúa Trời báo cho Môi-se biết Ngài đã chọn và trang bị năng khiếu cần thiết cho một vài người để họ chế ra các vật dụng này (1-11). Đặc biệt có Bết-sa-lê-en và Ô-hô-li-áp được nêu đích danh. Họ có tài đặc biệt là nhờ sự kiện Linh của Đức Chúa Trời đầy dẫy trong họ (3). Đây là một trường hợp cụ thể về các ân tứ thuộc linh, một vấn đề sẽ được khai triển đầy đủ hơn trong Tân Ước (so sánh Ro 12:4-8 ICo 12:1-31 Eph 4:7-13).
(Xu 31:12-18). Luật ngày sa-bát. Sau khi liệt kê những chuẩn bị cần thiết để dưng đền tạm và tấn phong chức tế lễ. Đức Chúa Trời nhấn mạnh tầm quan trọng của ngày sa-bát. Sự thánh khiết là yếu tố nổi bật trong phần trước cũng là yếu tố quan trọng trong phần này. Ngày sa-bát là dấu hiệu giao ước giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên, ngày này nhắc nhở dân sự rằng chính Đức Chúa Trời đã thánh hoá họ (13). Bởi vì ngày sa-bát là thánh cho Đức Chúa Trời nên không được phép làm bất cứ việc gì trong ngày đó (so sánh Xu 20:8-11). Bất cứ ai làm việc trong ngày đó là làm ô uế ngày sa-bát, phải xử tử người ấy. Nhờ tuân thủ ngày sa-bát, dân Y-sơ-ra-ên khẳng định và duy trì mối liên hệ đặc biệt với Đức Chúa Trời để trở nên dân thánh của Ngài.
6. VI PHẠM GIAO ƯỚC VÀ PHỤC HỒI GIAO ƯỚC (Xu 32:1-34:35)
1. Sự phản bội trong trại quân (Xu 32:1-33:6)
Một điều kiện quan trọng trong giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên là tuyệt đối vâng phục (24:3,7). Thế mà giờ đây dòng chuyện chuyển sang tập trung vào hành động phản nghịch của dân sự, khiến cho Đức Chúa Trời nổi giận đe doạ mối liên hệ trong giao ước mới vừa lập. Tội của dân sự nghiêm trọng đến độ Môi-se không thể chuộc được, dù đã xử tử ba ngàn người. Khi Đức Chúa Trời tỏ ý lo ngại về những hậu quả sẽ xảy ra một khi Ngài ngự giữa dân sự thì có nguy cơ huỷ bỏ việc dựng đền tạm.
(Xu 32:1-6). Đúc bò vàng. Vì Môi-se vắng mặt quá lâu (bốn mươi ngày, bốn mươi đêm, 24:18) nên dân Do Thái bắt đầu hoài nghi. Có lẽ vì e ngại Đức Chúa Trời đã có một biện pháp nào đó đối với Môi-se (so sánh 20:19) nên họ tự trấn an bằng cách chế tạo một pho tượng tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở giữa họ. Họ đến với A-rôn yêu cầu ông làm ra các thần (tốt hơn nên đọc là ‘một vị thần’, bản NIV ghi chú như vậy) để dẫn dắt họ (1). Có nhiều yếu tố cho thấy con bò bằng vàng này tượng trưng cho Đức Chúa Trời. Thứ nhất, căn cứ ý cuối cùng của câu 4 thì con bò bằng vàng này tượng trưng cho vị thần đã giải phóng họ ra khỏi xứ Ai Cập, chớ không phải là một vị thần mới. Thứ hai, A-rôn mô tả dân chúng nhiệt tình tham gia buổi lễ nhằm dâng lên cho Đức Chúa Trời (5). Hơn nữa, các nghi thức trong lễ này tương tự các nghi thức của buổi lễ thông qua giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên chép trong chương 24. Mặc dù dân Y-sơ-ra-ên không cố ý chối bỏ Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của họ nhưng sự kiện họ lấy dạng con bò để biểu thị Đức Chúa Trời là họ vi phạm một trong các điều luật mà họ mới công nhận trước đây (so sánh 20:4-6 20:23). Vi phạm trắng trợn kiểu đó nên họ phải lãnh sự trừng phạt nặng nề (so sánh 32:7-10). Tác giả dùng từ Hi Bá Lai 'elòhim (thần/ các thần) để gián tiếp ám chỉ điều này. Khi dùng với động từ số nhiều như ở đây từ này ám chỉ đến các thần ngoại bang, nhưng khi dùng với động từ số ít từ này thường chỉ về ‘Đức Giê-hô-va’.
Theo nội dung của các chương trước, dân sự muốn có một tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời là chuyện rất mỉa mai. Môi-se vừa mới nhận chỉ thị là phải xây dựng đền tạm cùng các đồ trang hoàng bằng vàng biểu thị Đức Chúa Trời là nhân vật quan trọng, còn ngược lại con bò bằng vàng biểu thị Ngài dưới dạng một con thú vật. Mặc dù dân sự dâng của lễ xứng đáng, nhưng một khi họ lạy tượng con bò là họ giảm giá trị của Đấng đã cứu họ ra khỏi ách nô lệ trong xứ Ai Cập. Thật vậy, muốn chân chính sự thờ phượng phải dựa trên nhận thức đúng đắn về Đức Chúa Trời. Xuất Ê-díp-tô Ký nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nhận biết Đức Chúa Trời đúng theo bản tánh của Ngài, chớ không phải theo như chúng ta tưởng tượng về Ngài.
Chú giải. 2 Có thể hiểu theo nghĩa đen trong thực tế chuyện A-rôn yêu cầu dân sự ‘cởi bông tai bằng vàng’ (so sánh câu 3). Tượng con bò thành hình từ những đôi bông tai của dân chúng đeo trên người. Chắc chắn là họ có những đôi bông tai khác còn cất giữ chớ không đeo. Về sau những đôi bông tai này được sử dụng làm đền tạm (35:22). 4 Con bò là con bò đực tơ thì đúng hơn. Dân ở vùng Cận Đông cổ đại thường thờ tượng con bò đực.
(Xu 32:7-14). Môi-se cầu thay cho dân sự. Tức giận về chuyện đang diễn ra, Đức Chúa Trời truyền lệnh cho Môi-se trở về trại quân (7). Đức Chúa Trời nổi giận vì dân Y-sơ-ra-ên mau chóng tẻ tách khỏi các điều răn của Ngài dẫu rằng nhiều lần họ đã khẳng định rằng họ sẽ hoàn toàn vâng phục mọi lời Đức Chúa Trời phán dạy (19:8 24:3,7). Bất kính đối với Đức Chúa Trời đến độ đó đáng lãnh bản án nghiêm khắc nhất là tử hình. Còn đối với Môi-se thì trái ngược hẳn, Đức Chúa Trời bảo đảm với ông rằng dòng dõi của ông sẽ trở nên một dân tộc lớn. Lời này vang vọng dư âm của lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho Áp-ra-ham (Sa 12:3). Điều lạ lùng là Môi-se khẩn khoản cầu thay và nài xin Chúa thương xót dân của Ngài, ông nhắc lại việc Đức Chúa Trời đã giải cứu họ cách lạ lùng và đem họ khỏi xứ Ai Cập. Ông cũng nhắc lại lời giao ước xưa hơn nữa mà Ngài đã lập với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp (11-13). Lời khẩn cầu của ông hoàn toàn dựa vào bản tánh và danh dự của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, ông hoàn toàn không tìm cách bào chữa cho hành vi tội lỗi của dân sự. Lời van xin của Môi-se có sức thuyết phục đến nỗi Đức Chúa Trời nguôi cơn giận không huỷ diệt dân sự ngay lúc đó (14). Tuy nhiên, những phần tiếp theo cho biết dân sự không khỏi bị trừng phạt (28,35).
(Xu 32:15-29). Môi-se trở lại trại quân. Cuối cùng thấy quang cảnh đang diễn ra Môi-se cũng nổi giận. Khi cố tình ném bỏ bảng đá do Đức Chúa Trời ghi khắc luật pháp, Môi-se cho biết mối liên hệ giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân sự bây giờ đã chấm dứt. Ông đốt tượng bò bằng vàng. Sau đó, A-rôn biện bạch về việc xảy ra nhưng không thoả đáng. Cuối cùng, để ổn định trật tự, Môi-se kêu gọi những ai còn trung thành với Đức Giê-hô-va hãy đến với ông (26). Hành động quyết liệt của Môi-se cho thấy tình hình rất nghiêm trong. Ông truyền: ‘Mỗi người trong các ngươi phải đeo gươm bên hông mình, đi qua đi lại trong trại quân, từ đầu này đến đầu kia, và mỗi người hãy giết anh em mình, bạn hữu và kẻ lân cận mình’ (27). Người Lê-vi được ban thưởng vì họ tỏ lòng trung thành với Đức Chúa Trời.
Chú giải. 21 Mấy chữ tội nặng (xem thêm câu 30-31) ám chỉ sự vi phạm bản hiệp ước hoặc giao ước (so sánh Sa 20:9 IIVua 17:21). 27 Việc chi phái Lê-vi giết khoảng ba ngàn người cho thấy thờ tượng bò là tội trọng và phải xem đây là một biện pháp hình phạt dân sự. 29 Cụm từ Ngươi đã được biệt riêng cho Đức Chúa Trời có nghĩa là ‘ngày hôm nay hãy làm đầy bàn tay của mình cho Đức Chúa Trời’.
(Xu 32:30-35). Môi-se cầu thay cho dân sự một lần nữa. Mặc dù một số người đã bị hình phạt, nhưng cái chết của họ không thể chuộc tội cho những người khác được. Môi-se nhận biết tội lỗi của dân sự rất nghiêm trọng nên ông tìm cách chuộc tội cho họ trước mặt Đức Chúa Trời (30). Đức Chúa Trời không chấp nhận lời nài xin của ông vì mỗi cá nhân phải chịu hình phạt về chính tội lỗi của mình. Để nhấn mạnh sự kiện này, câu 35 chép rằng Đức Chúa Trời dùng bệnh dịch trừng phạt dân sự. Mặc dù Đức Chúa Trời kiên quyết trừng phạt dân sự, nhưng Ngài vẫn bảo đảm với Môi-se rằng hành trình về đất hứa vẫn tiếp tục. Việc này có liên quan đến phần kế tiếp.
Chú giải. 31 Cụm từ các thần bằng vàng làm chúng ta nhớ lại câu Xu 20:23.
33:1-6 Đức Chúa Trời từ chối không đi với dân sự Lòng bất trung của dân sự còn đưa đến một hậu quả khác. Mặc dù Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se dat dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an và hứa làm ứng nghiệm lời cam kết trước đây với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, nhưng Ngài sẽ không đi với họ. Ngài e rằng Ngài sẽ huỷ diệt họ dọc đường khi họ lại phản bội Ngài. Khi nghe Môi-se thuật lại điều này, họ rất buồn rầu. Để bày tỏ sự bất bình nghiêm trọng của mình, Đức Chúa Trời truyền cho họ lột bỏ hết đồ trang sức họ đã nhận lúc ra khỏi xứ Ai Cập (so sánh 3:22 11:2 12:35). Chắc chắn ngày đó là ngày Đức Chúa Trời ban phước cho họ, còn bây giờ phải lột bỏ đồ trang sức, cũng tương tự như cởi bỏ nhẫn đính hôn hoặc nhẫn cưới, là hình ảnh tượng trưng cho sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và dân sự.
Chú giải. 2 ‘Ta sẽ sai một thiên sứ đi trước ngươi’ là lời Đức Chúa Trời hứa sẽ giúp họ chinh phục dân xứ Ca-na-an lập lại câu 23:23. Tuy nhiên câu này không có nghĩa là Đức Chúa Trời ngự giữa dân sự. 3 Xem 3:8 về xứ đượm sữa và mật ong.
Xu 33:1-6; xem giải nghĩa 32:1-35
2. Môi-se đóng vai trò trung gian cho dân sự (Xu 33:7-34:35)
(Xu 33:7-23). Phần này nằm giữa hai phân đoạn ngắn 33:7-11 và 34:34-35 mô tả các sự việc diễn ra suốt một thời gian dài không liên hệ với một sự kiện đặc biệt nào. Nội dung liên hệ đến thời gian khoảng trên dưới mười tháng giữa ngày dân Y-sơ-ra-ên đến núi Si-na-i và thời điểm dựng đền tạm (so sánh 19:1 40:1). Ngược lại phần chính chép lại biến chuyển quan trọng của câu chuyện, ấy là chuyện tái lập giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên. Trong khi chương trước chủ yếu chép về sự phản bội của dân và sự hình phạt của Đức Chúa Trơi, thì phần này lại tập trung vào Môi-se người đầy tớ trung thành và mối liên hệ mật thiết giữa ông với Đức Chúa Trời. Vì Môi-se liên hệ mật thiết với Đức Chúa Trời nên ông có cơ hội cầu thay cho dân sự và kết quả là Ngài tái lập giao ước với họ. Đức Chúa Trời nguôi giận và bằng lòng tái lập giao ước không phải vì cớ dân hết lòng ăn năn mà vì cớ Ngài đầy lòng nhân từ và thương xót.
(Xu 33:7-11). Hội mạc. Phân đoạn này ghi lại việc Môi-se dựng một cái trại cách xa trại quân để gặp gỡ Đức Chúa Trời. Vì vậy trại này gọi là hội mạc (7). Không nên lẫn lộn với đền tạm cũng được gọi là ‘Hội Mạc’ (40:2,6) nhưng sau này mới được dựng (36:8-38) và nằm trong trại quân (Dan 1:53 2:2,17) chớ không nằm cách xa trại quân ở bên ngoài (7). Tại đây Môi-se liên hệ đặc biệt với Đức Chúa Trời và gặp gỡ Ngài cách riêng tư. Đức Giê-hô-va nói chuyện với Môi-se mặt đối mặt như người ta nói chuyện với bạn hữu mình (11). Nhờ vào sự mật thiết này Môi-se mới có thể cầu xin Đức Chúa Trời lập lại giao ước với dân Y-sơ-ra-ên. Mặc dù Môi-se và Đức Chúa Trời thông công mật thiết như vậy, và mặc dù ông trung thành đến mức đó, ông vẫn không được phép nhìn thấy Đức Chúa Trời. Câu 9 hàm ý rằng tấm màn phủ cửa lều che khuất Môi-se đứng ở bên trong còn Đức Chúa Trời ở bên ngoài. Sự kiện này nhắc lại một lần nữa rằng giữa Đức Chúa Trời và loài người có sự ngăn cách nhất định.
(Xu 33:12-25). Lập lại giao ước. (Xu 33:12-34:33) Cuộc đối thoại trong phân đoạn đầu diễn ra ở hội mạc. Cuộc đối thoại này tập trung vào một số chủ đề quan trọng. Trước hết, Môi-se thuyết phục Đức Chúa Trời đồng đi với dân sự vào đất hứa, dẫu rằng trước đây Ngài phán rằng Ngài sẽ không đi (so sánh Xu 33:3,5) Môi-se yêu cầu như vậy vì ông e rằng nếu Đức Chúa Trời không đồng đi với dân sự thì ông sẽ không còn được mặt đối mặt gặp gỡ Chúa nữa. Mặc dù Đức Chúa Trời hứa rằng ‘sự hiện diện của Ta sẽ ở với ngươi (số ít)’, nhưng Môi-se vẫn tiếp tục van xin lời hứa này phải bao gồm luôn cả dân sự nữa. Cuối cùng Đức Chúa Trời ưng thuận vì Môi-se làm vừa ý Đức Chúa Trời.
Sau đó Môi-se cầu xin được nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (18) câu trả lời của Ngài cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời coi sự vinh hiển đồng nghĩa với các sự nhân từ của Ngài (19). Để Môi-se biết đúng là Ngài, Đức Chúa Trời hô ten riêng của Ngài ra. Lần trước khi Đức Chúa Trời bày tỏ danh Ngài cho Môi-se thì ‘Môi-se giấu mặt đi vì sợ trông thấy mặt Đức Chúa Trời’ (3:6). Bây giờ sau nhiều lần gặp Chúa, ông mạnh dạn hơn, ông được ban cho đặc ân hơn cả mọi người là được nhìn thấy Đức Chúa Trời. Dù vậy ông cũng không được nhìn thấy mặt Chúa vì sẽ không toàn tánh mạng (20).
Trước khi chứng kiến sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Môi-se được lệnh đem hai bia đá lên núi để thay hai bia đá trước bị vỡ (34:1). Khi Đức Chúa Trời tỏ chính mình Ngài cho Môi-se trên đỉnh núi, Ngài không chỉ nhấn mạnh đến lòng nhân từ, thương xót của Ngài, tha thứ sự gian ác, phản nghịch và tội lỗi (7 so sánh 33:19) mà còn nhấn mạnh đến sự công bình, tức là Ngài sẽ không để cho người can tội không bị phạt (7 so sánh 32:34). Sự khải thị về đặc tánh này của Đức Chúa Trời có tầm quan trọng đến nỗi câu này được trích dẫn sáu lần trong Cựu Ước (Ne 9:17 Thi 86:15 103:8 145:8 Gio 2:13 Gi 4:2). Ở đây trong một khung cảnh hùng vĩ, uy nghiêm, hai trong những đặc tính quan trọng nhất của Đức Chúa Trời được công bố. Hai đặc tính này đã được thể hiện qua những hành động của Đức Chúa Trời nhằm giải phóng họ ra khỏi Ai Cập. Hơn nữa, hai đặc tính này là căn bản cho sự nhận biết của Kinh Thánh Tân Ước về sự chết và phục sinh của Đấng Christ. Chúng ta kinh nghiệm được sự tha thứ của Đức Chúa Trời vì Đấng Christ đã chịu phạt thay cho tội lỗi của chúng ta.
Đáp lại sự khải thị độc đáo về bản tánh Đức Chúa Trời, Môi-se xin Chúa đồng đi với dân sự, tha tội cho họ và nhận họ làm sản nghiệp (9), Đức Chúa Trời đáp lại ông bằng cách tai lập mối liên hệ giao ước với dân sự. Các điều khoản giao ước (kê ra Xu 34:11-26) rất giống với các điều khoản trong hai phần cuối của ‘Sách Giao Ước’ (23:14-33), chỉ khác một điều là thứ tự được đảo ngược lại. Một lần nữa Môi-se chép lại các nghĩa vụ giao ước (27 so sánh 24:4). Cuối cùng Đức Chúa Trời khắc ‘mười lời’ hoặc Mười Điều Răn (28 so sánh 20:3-17) lên bia đá.
Sau khi gặp Chúa trên núi, gương mặt của Môi-se sáng rỡ (29). Dân Y-sơ-ra-ên sợ hãi đến nỗi ông phải trấn an họ, trước hết là ông nói chuyện với các trưởng lão, sau đó là với toàn thể dân sự. Cuối cùng sau khi ông truyền lại cho họ các điều răn của Chúa, ông che mặt lại (33)
Chú giải. 34:9 đây là lần đầu tiên dân Y-sơ-ra-ên được gọi là sản nghiệp của Đức Chúa Trời. 28 Mặc dù ở đây không có ghi rõ chủ từ của động từ ‘viết’ nhưng căn cứ vào 34:1 chúng ta suy diễn rằng chính Đức Chúa Trời đã khắc vào bia đá (so sánh 32:16). Trong văn kể chuyện của người Do Thái bình thường có khi chủ từ của một động từ đổi mà không cần xác định rõ.
34:34-35 Môi-se che mặt. Các câu này liên hệ chặt chẽ với 34:30-33, mô tả việc thường xảy ra mỗi khi Môi-se nói chuyện với Chúa. Sau khi hội kiến với Chúa, Môi-se trở ra truyền đạt lại lời Đức Chúa Trời cho dân sự rồi lấy khăn che mặt lại. Gương mặt của ông sáng rỡ là dấu hiệu chứng tỏ cho dân sự biết ông thực sự gặp Đức Chúa Trời.
Xu 34:1-35; xem giải nghĩa 33:7-23
7. CHẾ TẠO VÀ DỰNG ĐỀN TẠM (Xu 35:1-40:38)
1. Chuẩn bị dựng đền tạm (Xu 35:1-36:7)
(Xu 35:1-35). Sau khi tái lập giao ước, Môi-se tập hợp tất cả dân sự lại và nhắc nhở họ về tầm quan trọng của việc giữ ngày sa-bát (2-3 so sánh 31:15). Giữ ngày sa-bát là dấu chứng về bản giao ước giữa dân sự và Đức Chúa Trời, cho nên dân Y-sơ-ra-ên phải kiêng mọi việc làm trong ngày thứ bảy. Giờ đây, đã đến lúc Môi-se có thể thi hành theo các chỉ thị trước đây về việc dựng đền tạm và phong chức cho các thầy tế lễ.
Kế đó Môi-se yêu cầu dân sự dâng hiến cho Đức Giê-hô-va các vật liệu cần thiết để xây dựng đền tạm và chế tạo các vật dụng trong đền tạm (4-9). Việc này cũng được thực hiện theo như Đức Chúa Trời đã chỉ thị (25:1-7). Sau đó Môi-se kêu gọi các thợ thủ công thực hiện công trình (10) và tiếp theo ông liệt kê ra những vật dụng họ sẽ chế ra (11-19).
35:20-29 chép lại việc dân chúng dâng hiến rộng rãi các vật liệu theo lời kêu gọi của Môi-se (sẵn sàng 35:4-9). Chú ý đến sự lưu tâm đặc biệt đến công tác xe chỉ thêu của phái nữ (25-26). Họ dùng khả năng và tài khéo để phụng sự Đức Chúa Trời. Hết thảy dân sự đóng góp rộng rãi đến nỗi sau này Môi-se phải hạn chế không cho họ dâng quá nhiều như vậy (36:3-7).
Vâng theo chỉ thị của Đức Chúa Trời trước đây (31:1-6), Bết-sa-lê-ên và Ô-hô-li-áp nhờ có hiểu biết và có năng khiếu đặc biệt nhận trách nhiệm công coi công việc (35:30-36:2). Họ không chỉ là các tay thợ tài ba, mà còn có năng khiếu dạy nghề cho người khác nữa (35:34).
Xu 36:1-7; xem giải nghĩa 35:1-35
2. Hoàn thành xong đền tạm và y phục tế lễ (Xu 36:8-39:31)
(Xu 36:8-38). Hầu hết phần này tương đương với những phần đã chép trong phần trước của Xuất Ê-díp-tô Ký. Các chỉ thị của Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se trong thời gian ông lên trên núi lần thứ nhất (25:1-31:18, xem thêm bảng dưới đây) hầu như được thực thi sát từng lời từng tiếng theo như chúng ta thấy trong bản tường thuật này. Bản văn chép các chỉ thị và bản tường thuật việc thực thi giống nhau, chứng tỏ dân sự làm đúng theo từng lời Đức Chúa Trời đã phán dặn Môi-se. Thỉnh thoảng trong phần chỉ thị (không phải trong phần thực thi) có chép thêm phần Đức Chúa Trời chỉ dẫn thêm về cách sử dụng (30:6-10 30:18-21).
Ngoài việc chứng tỏ là mọi việc đều được thực hiện đúng theo sự chỉ dẫn của Đức Chúa Trời, sự lập lại các chi tiết nhằm tăng phần quan trọng cho đền tạm là nơi ngự của Đức Chúa Trời. Có thể đối với một số độc giả hiện đại sự lập lại gây nhàm chán, nhưng đó là thủ thuật của tác giả thời xưa nhằm thu hút sự chú ý của độc giả vào các vấn đề quan trọng.
Ở đây các vật dụng được liệt kê theo thứ tự hơi khác với lúc Đức Chúa Trời phán truyền cho Môi-se (các chương 25-30). Trước đây món nào quan trọng hơn thì được liệt kê trước, còn ở đây món nào cần lắp ráp trước thì liệt kê trước (so sánh 40:2-8,12-14 40:17-33). Theo bảng liệt kê kim loại quí giá thì lượng kim loại rất lớn (khoảng chừng một tấn vàng, bốn tấn bạc và hai tấn rưỡi đồng). Tuy vậy, so với tập tục dùng kim loại quí vào thời xưa thì không có gì đáng ngạc nhiên.
Đồ vật Chỉ thị Hoàn thành
Đền tạm 26:1-11,14-29,31-32,36,37 36:8-38
Hòm giao ước 25:10-14,17-20 37:1-9
Bàn 25:23-29 37:10-16
Chân đèn 25:31-39 37:17-24
Bàn thờ xông hương 30:1-5 37:25-28
Dầu xức 30:25 37:29
Bàn thờ bằng đồng 27:1-8 38:1-7
Chậu đồng 30:18 38:8
Hành lang 27:9-19 38:9-20
Ê-phót 28:6-12 39:2-7
Bảng đeo ngực 28:15-28 39:8-21
Áo dài 28:31-34 39:22-26
Áo gai, mũ, đai lưng 28:39 39:27-29
Đĩa bằng vàng 28:36-37 39:30-31
Xu 37:1-29; xem giải nghĩa 36:8-38
Xu 38:1-31; xem giải nghĩa 36:8-38
Xu 39:1-31; xem giải nghĩa 36:8-38
3. Môi-se kiểm tra công việc (Xu 39:32-40:38)
(Xu 39:32-43). Khi công việc đã hoàn tất thì mọi thứ đều được mang đến cho Môi-se kiểm tra. Bảng liệt kê các món ở đây tương tự với bảng liệt kê ở 31:7-11 và 35:11-19. Khi thấy mọi vật làm đúng theo Đức Chúa Trời truyền, Môi-se chúc phước cho dân sự (43). Bây giờ thì tất cả đều sẵn sàng cho Môi-se dựng đền tạm.
(Xu 40 1-33). Dựng đền tạm. Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se những chỉ dẫn cuối cùng về việc dựng đền tạm, cũng như thánh hoa đền tạm và các vật dụng (1-11). Đức Chúa Trời cũng truyền tấn phong cho A-rôn và các con trai của ông làm thầy tế lễ (12-15). Bản tường thuật ghi rằng Môi-se lập tức thi hành nửa phần đầu các chỉ thị này. (Muốn biết về việc lễ tấn phong chức tế lễ, chúng ta phải xem Le 8:1-36). Nhiều lần tấm lòng vâng phục của Môi-se được nêu rõ qua cụm từ: như Đức Chúa Trời phán cùng Môi-se (16,19,21,23,25,29,32). Đền tạm được dựng vào ngày thứ nhất tháng đầu tiên năm thứ hai (17) kịp thời cho dân sự kỷ niệm đệ nhất chu niên cuộc giải phóng khỏi Ai Cập (so sánh Dan 9:1-5).
(Xu 40:34-38). Vinh quang Đức Chúa Trời đầy dẫy đền tạm. Khi mọi việc đã xong, thì một đám mây bao phủ đền tạm và vinh quang của Đức Chúa Trời đầy dẫy đền tạm (34). Lúc này Đức Chúa Trời ngự giữa dân sự. Đền tạm trở thành Hội Mạc (35), thay thế cái trại mà Môi-se dựng làm hội mạc trước đây (so sánh 33:7-11). Tuy nhiên, có điểm khác biệt là Đức Chúa Trời ở trong trại còn Môi-se phải ở bên ngoài trại (33:9). Khi nhìn thấy đám mây và lửa ngự ở trên đền tạm ai nấy đều biết Đức Chúa Trời đang ở với họ. Từ đây Đức Chúa Trời dẫn dắt dân Ngài trong cuộc hành trình vào đất hứa (36-38). Như vậy Xuất Ê-díp-tô Ký chấm dứt một cách thích đáng với phần kết chép về sự hiện diện của Đức Chúa Trời tối cao ở giữa dân Y-sơ-ra-ên.