SÁNG THẾ KÝ

MỤC LỤC

SÁNG THẾ KÝ

1. PHẦN DẪN NHẬP: ĐỨC CHÚA TRỜI TẠO DỰNG THẾ GIỚI.(Sa 1:1-2:3)

Phần dẫn nhập của Sáng Thế Ký nằm ngoài bố cục chính của sách bao gồm mười phần, bắt đầu bằng câu: ‘Nầy là... của’ (Sa 2:4). Như vậy chứng tỏ đây là phần mở đầu cho những phần còn lại của sách, giới thiệu Đức Chúa Trời là ai và Ngài có quan hệ như thế nào đối với thế giới. Do đó phần này cho ta manh mối để giải nghĩa Sáng Thế Ký nếu không nói là giải nghĩa toàn bộ Kinh Thánh. Nhưng phần mở đầu chẳng phải chỉ là một lời tuyên bố về thần học, mà còn là một bài ca ngợi Đấng Tạo Hóa, qua Ngài và vì Ngài mà mọi vật hiện hữu.

Riêng phần mở đầu cũng được sắp xếp kỹ. Mười lời truyền phán của Đức Chúa Trời dẫn đến tám cảnh sáng tạo trải qua sáu ngày, vì vậy có sự tương ứng giữa ngày thứ nhất đến thứ ba tương ứng với ngày thứ tư đến thứ sáu. Ngày thứ nhất, Đức Chúa Trời tạo nên ‘ánh sáng’ rồi đến ngày thứ tư Ngài tạo nên ‘những vì sáng’ (mặt trời, mặt trăng và những vì sao). Ngày thứ hai, Ngài tạo nên bầu trời, biển rồi ngày thứ năm, Ngài tạo nên những vật sống trên trời và dưới biển (chim, cá). Ngày thứ ba, Ngài tạo nên đất liền và cây cỏ rồi ngày thứ sáu, Ngài tạo nên những động vật sống trên đất (thú vật và con người), ban cho chúng thực vật để ăn. Và cuối cùng, vào ngày thứ bảy (ngày sa-bát), Ngài nghỉ.

Công cuộc sáng tạo lên đến đỉnh điểm vào ngày thứ sáu khi Đức Chúa Trời tạo dựng con người với hai phái riêng rẽ. Xem ra đây là kỳ công rực rỡ trong công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời vì tác giả bình luận dài dòng về công cuộc tạo dựng nên họ và về vai trò của họ (1:26-29) lời bình luận này đầy đủ hơn lời bình luận về cuộc sáng tạo trong những ngày khác. Thật vậy, dường như công việc của năm ngày trước là tập trung chuẩn bị một ngôi nhà cho con người. Những lĩnh vực sáng tạo có ảnh hưởng nhiều nhất đối với sự tồn vong của con người (như cây cỏ, động vật, mặt trời, mặt trăng) thì được mô tả đầy đủ hơn sự sáng tạo ánh sáng, đất khô hoặc biển là những lĩnh vực ít có ý nghĩa hơn. Sự quan tâm của Đức Chúa Trời đối với con người được thể hiện rõ ràng qua sự kiện Ngài lo cung cấp thực vật cho họ làm thực phẩm. Sự kiện Đức Chúa Trời sáng tạo trong sáu ngày rồi nghỉ ngày thứ bảy được nhấn mạnh chắc là có chủ ý. Cách làm việc của Đức Chúa Trời là kiểu mẫu cho sinh hoạt của con người. Kinh Thánh muốn rằng con người - tạo vật được dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời - nên bắt chước Đức Chúa Trời. Vì vậy nếu Đức Chúa Trời đã làm việc sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy thì con người cũng nên làm việc sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy (Xu 20:8-11).

Đọc câu chuyện này ta thấy mối quan tâm đến cuộc sống của con người trên địa cầu được biểu lộ khá rõ, nhưng sẽ càng rõ hơn khi so sánh với những câu chuyện sáng tạo ở vùng Đông Phương cổ đại. Sáng Thế Ký ngầm bác bỏ những quan điểm khác về các vị thần và mối quan hệ của các vị thần đó đối với thế giới. Trong Sáng Thế Ký không có chuyện các vị thần đánh nhau, cưới nhau và sinh con. Chỉ có một Đức Chúa Trời là Đấng vượt thời gian và phi giới tính, Đấng đã có từ ban đầu. Ngài tạo nên mọi vật, ngay cả mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao là những thiên thể mà các dân tộc thường tin là các vị thần. Ngài không cần dùng phép thuật để sáng tạo, chỉ cần lời phán của Ngài là đủ. Theo như Sáng Thế Ký trình bày thì chỉ có một Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa chủ tể. Nhờ Ngài toàn thể vũ trụ hiện hữu và toàn thể vũ trụ phải vâng phục Ngài. Trong cõi vũ trụ được tạo dựng đó, con người cả nam lẫn nữ được dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời, rồi được đặt vào địa vị cao trọng. Con người phản ảnh bản tánh của Đức Chúa Trời và đại diện cho Ngài trên đất này.

1. Khởi đầu của cuộc sáng tạo (Sa 1:1-2)

Bản NIV chấp nhận hiểu những câu này theo truyền thống, nghĩa là những câu này mô tả hành động của Đức Chúa Trời ngay từ thuở đầu khi Ngài tạo dựng nên mọi thứ vật chất (trời và đất) từ không không. Nhưng ngay khi được sáng tạo địa cầu chưa ra hình thù gì và vẫn trống trải tức là chưa sản xuất gì cả và chưa có người ở. Vì vậy câu chuyện tiếp tục trình bày trong sáu ngày sáng tạo Đức Chúa Trời tổ chức mớ hỗn độn đó lại thành một thế giới hết sức trật tự trước mắt chúng ta hiện nay.

Một số bản dịch hiện đại và một số nhà giải kinh hiện đại đã hiểu câu 1 khác hẳn. Một số bản dịch (chẳng hạn bản NEB) chỉ xem câu đó xác định tình trạng khi Đức Chúa Trời bắt đầu sáng tạo: ‘Ban đầu, khi Đức Chúa Trời sáng tạo ... trái đất là vô hình ...’. Những bản khác xem câu 1 chỉ là một tựa đề tóm tắt cho chương 1. Nhưng quan điểm của NIV xem ra xác đáng hơn. ‘Tạo dựng’ là một việc chỉ có Đức Chúa Trời làm được (trong Cựu Ước động từ này chỉ dùng cho Đức Chúa Trời). Ngài bày tỏ quyền năng của Ngài bằng cách tạo dựng nên những điều kỳ diệu ngoài mong đợi (Dan 16:30), thí dụ các sinh vật to lớn trong đại dương (21), người nam và người nữ (27) và núi non (Am 4:13).

Câu 2 vẽ ra một thế giới tối tăm và hoang tàn, có nước bao phủ, có thần (spirit) mầu nhiệm (hoặc ‘gió’) của Đức Chúa Trời vờn trên đại dương. Ở đây có gợi ý về một năng lực trong Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Năng lực đó sẽ được triển khai trong Ch 8:22-31 và Gi 1:1-3. Hai khúc Kinh Thánh này chép về sự ‘khôn ngoan’ và ‘Lời’ góp phần trong công cuộc sáng tạo.

2. Cuộc sáng tạo tiếp diễn (Sa 1:3-23)

(Sa 1:3-5). Sáng tạo ánh sáng Thế giới tối tăm này bừng sáng khi Đức Chúa Trời phán: ‘Phải có sự sáng’. Cụ thể hơn, nhờ sáng tạo ra sự sáng, ngày với đêm mới phân biệt. Ánh sáng là một dạng năng lượng có thể được tạo ra qua nhiều cách, chứ không chỉ do mặt trời và các vì sao (là những thiên thể đến ngày thứ tư mới được dựng nên). Các nhà vũ trụ học hiện nay nói rằng vũ trụ được khai sinh bởi một vụ nổ lớn và chắc hẳn đã tạo ra ánh sáng rất rực rỡ. Sự trật tự bắt đầu xuất hiện thay thế cho sự tăm tối hỗn độn. Điệp khúc ‘Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành’ (Sa 1:10,12,18,21,25,31) xác nhận điều tốt lành nội tại của sự sáng tạo và Đấng Tạo Hóa.

Chú giải. Có thể trật tự buổi chiều - buổi mai trong câu ‘vậy có buổi chiều và buổi mau ấy là ngày thứ nhất’ (Sa 1:8,13,19,23,31) phản ánh quan niệm của người Hê-bơ-rơ về ngày bắt đầu vào từ hoàng hôn và kết thúc lúc hoàng hôn hôm sau. Tuy nhiên vấn đề quan trọng nhất trong Sáng Thế Ký là Đức Chúa Trời làm việc sáu ‘ngày’ rồi nghỉ ngơi. Đây là những ngày làm việc của Đức Chúa Trời chứ không phải của con người nên đừng nghĩ rằng đây là những ngày có hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Thật vậy, từ ‘ngày’ của tiếng Hê-bơ-rơ nói đến nhiều khoảng thời gian: Thời gian có ánh sáng,  ban ngày (Sa 19:7), một ngày có hai mươi bốn tiếng đồng hồ (7:4), hoặc một khoảng thời gian không xác định (Sa 35:3). Những ngày này khác với những ngày thông thường của chúng ta vì sự kiện đến ngày thứ tư mới có mặt trời. Một chi tiết nữa cho thấy sự sáng tạo không xảy ra trong sáu ngày theo nghĩa đen, đó là các từng trời và địa cầu (tức là vũ trụ vô trật tự, 1) được sáng tạo trước khi bắt đầu tính ngày một đến ngày sáu. Cuối cùng cần chú ý rằng , không như tất cả các phần khác của Sa 1:1-2:3 không có câu mở đầu: ‘Nầy là ... của’ là câu nối thời tiền sử (2:4-11:26) với lịch sử các tổ phụ (11:27-50:26). Tất cả những sự khác biệt này cho thấy rằng 1:1-2:3 được xem như khúc dạo đầu cho phần còn lại của sách và ta không nên hiểu khúc sách này theo như ta hiểu những phần tiếp theo sau. Tuy nhiên sự việc Đức Chúa Trời làm việc sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy (dù con người có tính ‘ngày’ của Ngài dài ngắn như thế nào) vẫn là mẫu mực cho con người noi theo.

(Sa 1:6-8). Sự phân định giới hạn cho nước. Đức Chúa Trời lại bày tỏ quyền năng của Ngài bằng cách định giới hạn trên nước, vì cho đến giờ nước bao phủ địa cầu (so với Giop 38:8-11). Một số nước được dồn lại thành biển, phần còn lại ở trên bầu trời. Nước ở trên được giữ lại trong một ‘khoảng không gian rộng’ hoặc ‘bầu trời’ (AV). Ở địa cầu nhìn lên, bầu trời trông như một loại mái vòm chứa nước trong các đám mây không cho rơi xuống đất (so với Sa 7:11).

(Sa 1:9-13). Sự sáng tạo đất khô cây cối Cần yếu hơn hết đối với con người là đất khô được cung ứng vào ngày thứ ba để con người có nơi cư trú, trồng tỉa để duy trì sự sống (1:29-30). Các loại cây cối khác nhau (11-12) chứng minh cho quyền năng tổ chức của Đức Chúa Trời và ta phải tôn trọng sự phân biệt này (xem các luật cấm sự phối giống lộn lạo trong  Le 19:19  Phu 22:9-11).

(Sa 1:14-19). Sự tạo dựng những sáng trên trời. Bằng chứng hùng hồn hơn về quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, và luôn luôn thiết yếu cho sự tồn tại của con người là sự tạo dựng mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Những người ngoại giáo đương thời Sáng Thế Ký xem các thiên thể này là thần. Để chứng tỏ mặt trời, mặt trăng chẳng qua vẫn chỉ là vật thọ tạo của Đức Chúa Trời và để gạt bỏ mọi ý tưởng phân vân nghi ngại, Sáng Thế Ký chỉ dùng từ vì sáng khi nói về mặt trời và mặt trăng. Hai vì sáng này được dùng để ấn định ngày đêm và các mùa trong năm nhằm điều hoà sinh hoạt căn bản của con người.

(Sa 1:20-23) Sự sáng tạo chim ca. Sự tương ứng giữa công việc của Đức Chúa Trời trong ba ngày đầu tiên và ba ngày tiếp theo bây giờ đã rõ. Ngày thứ nhất Ngài tạo ra ánh sáng, ngày thứ tư Ngài tạo ra những vì sáng trên trời. Ngày thứ hai, bầu trời và đại dương, ngày thứ năm, chim và cá. Một lần nữa Sáng Thế Ký nhấn mạnh đến sự quan tâm của Đức Chúa Trời về trật tự. Trong một số truyện thần thoại cổ đại, ‘những con thú lớn trong đại dương’ được xem là thần thánh. Sáng Thế Ký khẳng định rằng chúng chẳng qua chỉ là những tạo vật của Đức Chúa Trời. Hơn nữa Đức Chúa Trời muốn rằng sông, biển và bầu trời chứa đầy những động vật mà Ngài dựng nên, đồng thời Ngài truyền lịnh cho chúng sinh sản và chúc phước cho chúng. Mạng lịnh và sự chúc phước của Ngài đủ bảo đảm cho chúng sinh sôi đầy dẫy không cần đến phép thuật hoặc nghi lễ nào khác.

3. Sự tạo dựng thú vật và con người (Sa 1:24-31)

Câu chuyện sáng tạo lên đến cao điểm vào ngày thứ sáu. Chú ý là công việc của Đức Chúa Trời trong ngày này được mô tả đầy đủ hơn bất cứ ngày nào trước đó và tương ứng với công việc của ngày thứ ba (đất khô).

Ở đây Sáng Thế Ký xác định mục đích và vị trí của con người trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phán rằng con người được làm nên theo ‘hình chúng ta và tượng chúng ta’. Như vậy nghĩa là con người, cả nam lẫn nữ, là người đại diện của Đức Chúa Trời trên đất này. Ở Phương Đông vào thời cổ đại dân chúng thường xem các vị vua là những người mang ảnh tượng của thần, nhưng Sáng Thế Ký xác định rằng mỗi một con người đều được dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh Tân Ước xác nhận rằng Đấng Christ là ‘hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được’ (Co 1:15), ‘là sự chói sáng của sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài’ (He 1:3). Người viết Sáng Thế Ký chưa đạt đến mức hiểu biết về ảnh tượng của Đức Chúa Trời theo cách đó, nhưng ông nói đến một khía cạnh khác của vấn đề này bằng câu ‘chúng ta hãy dựng nên loài người theo hình chúng ta’ (26). Ở đây mô tả Đức Chúa Trời đang nói chuyện với thiên sứ, đây là chỗ đề cập duy nhất đến các thực thể siêu nhiên trong chương này. Nhận xét này cho thấy rằng con người giống Đức Chúa Trời và thiên sứ. (Theo truyền thống, Cơ Đốc nhân hiểu rằng chữ chúng ta và của chúng ta là gồm cả những Ngôi khác trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Dù đó là lối giải thích khá hợp lý và đầy đủ, nhưng ý nghĩa nguyên thuỷ của những từ được dùng không phải là như vậy).

Thứ hai, vì con người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời nên con người là đại diện của Ngài trên đất và phải ‘quản trị ... khắp đất’ (c.26). Thi 8:4-8 là một lời bình luận trong thể thơ rất tuyệt diệu về sự kiện này. Quản trị là nói đến quyền làm chủ chứ không phải là sự bóc lột. Do đó, là đại diện của Đức Chúa Trời, con người phải quản trị thuộc hạ của mình như Đức Chúa Trời quản trị để mưu ích cho họ. Dù Đức Chúa Trời công khai cho phép con người có quyền sử dụng các nguồn tài nguyên của địa cầu, nhưng Ngài không cho phép chúng ta lạm dụng thế giới sáng tạo của Ngài.

Thứ ba, Đức Chúa Trời đã có chủ tâm tạo dựng con người có hai phái để sinh sản và thêm nhiều. Cho nên Ngài đã chúc phước cho sự giao hợp giữa vợ chồng và cho thấy tầm quan trọng của việc này trong kế hoạch của Ngài. Những chuyện cổ tích khác xuất xứ từ các đô thị vùng Mê-sô-bô-ta-mi (là vùng lo ngại nạn gia tăng dân số) cho rằng các thần tìm cách giảm mức sinh sản của con người bằng cách đem đến dịch lệ, hạn hán, lụt lội, sẩy thai. Còn Đức Chúa Trời của Sáng Thế Ký thì nhiều lần ra lịnh cho số người đầu tiên phải sinh sản (Sa 1:28  8:17  9:1-7) và Ngài hứa với các tổ phụ rằng họ sẽ là cha của vô số con cái. Do đó có thể thấy rằng giới tính là một phần quan trọng trong sự sáng tạo rất tốt đẹp của Đức Chúa Trời.

Thứ tư, thực phẩm Đức Chúa Trời cung cấp cho con người là cây có hạt và cây ăn quả (29). Mãi cho đến sau trận đại hồng thuỷ, việc ăn thịt mới được thừa nhận (9:1-3). Tuy nhiên, Sáng Thế Ký không chủ yếu quan tâm đến chuyện con người nguyên thuỷ là người ăn thực vật, nhưng sách muốn bày tỏ rằng Đức Chúa Trời cung cấp thực phẩm cho con người. Chuyện thần thoại Mê-sô-bô-ta-mi, các thần tạo dựng nên con người để con người cung cấp lương thực cho thần. Sáng Thế Ký xác định ngược lại, Đức Chúa Trời đã nuôi nấng con người (so với Thi 65:1-13  50:7-15).

4. Ngày thứ bảy thánh (Sa 2:1-3)

Sự thay đổi lớn lao trong nhịp độ và văn phong cho thấy sự khác biệt của ngày sa-bát. Ở đây ngày thứ bảy không gọi là sa-bát nhưng ngầm ý vì chữ ‘Ngài nghỉ’ có thể diễn đạt là ‘Ngài sa-bát’. Hơn nữa Đức Chúa Trời nêu rõ tầm quan trọng của ngày bằng cách Ngài chúc phước biệt riêng ngày đó ra thánh. Ngày sa-bát thường xuyên được gọi là ngày ‘thánh’, nhưng theo Ne 8:9,11 thì bất kỳ ngày lễ nào khác cũng được gọi là ‘thánh’. Ở đây Kinh Thánh mô tả Đức Chúa Trời nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, nhưng rõ ràng tác giả ngụ ý nói rằng con người - là ‘những người được dựng nên theo hình tượng của Đức Chúa Trời’ - phải giống như Đấng Tạo Hóa của mình. Đúng vậy văn mạch ngụ ý nói rằng một ngày nghỉ ngơi trong tuần cũng cần yếu cho sự tồn tại của con người như giới tính (Sa 1:27-28) hoặc thực phẩm vậy (1:29). Đây là một điểm nhấn mạnh mà dường như ngày nay đã bị quên lãng, ngay cả giữa vòng Cơ Đốc nhân.

Chú giải. Sáng Thế Ký 1 và khoa học. Sáng Thế Ký và khoa học hiện đại giải đáp những nan đề khác nhau. Sáng Thế Ký giải thích Đức Chúa Trời là ai và Ngài có quan hệ với thế giới thọ tạo này như thế nào. Khoa học đem ra ánh sáng những qui luật của Đức Chúa Trời để lý giải những hiện tượng tự nhiên, và từ những qui luật này, các khoa học gia có thể truy nguyên tiến trình phát triển của vũ trụ. Khoa học khiến cho chúng ta ý thức về quyền năng và sự khôn ngoan vô hạn của Đấng Tạo Hóa nhưng khoa học không thể giải thích được mục đích của Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo vũ trụ, cũng không thể giải nghĩa bản thể của Ngài. Sáng Thế Ký không giải quyết những vấn đề khoa học nổi lên trong thế kỷ hai mươi nhưng giải quyết những tư tưởng thịnh hành ở Phương Đông cổ đại cách nay ba ngàn năm. Tín ngưỡng đa thần của thế giới thời bấy giờ là có nhiều nam thần, nữ thần với sự khôn ngoan và quyền lực đủ loại. Nhưng Sáng Thế Ký tuyên bố rằng chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất có quyền năng và sự thánh khiết tuyệt đối. Niềm tin tưởng cổ xưa cho rằng con người chỉ được dựng nên do ý nghĩ bất chợt đến trong đầu các vị thần để rồi sau đó thần hối tiếc là đã dựng nên con người. Còn Sáng Thế Ký xác quyết rằng con người là mục tiêu của sự sáng tạo và hạnh phúc của con người là mối quan tâm hàng đầu của Đức Chúa Trời. Những nguyên tắc này đã được xác nhận nhiều lần trong suốt Kinh Thánh, nhưng trong Sáng Thế Ký 1 những nguyên tắc này được nêu ra một cách hết sức rõ ràng và là trọng điểm của những điều mà tác giả cố gắng diễn đạt. Độc giả thời nay nên chú ý đến những chủ đích nguyên thuỷ này của Sáng Thế Ký và đừng đem vào bản văn của sách những vấn đề khoa học nằm ngoài phạm vi mục đích của sách.

2. TƯỜNG THUẬT VỀ CÁC TỪNG TRỜI VÀ ĐỊA CẦU (2:4-4:26)

Từ tình trạng trọn vẹn mô tả trong Sa 1:31, xã hội loài người cứ suy đồi dần dần. Khúc sách này tường thuật ba chặng suy đồi đó. Chặng thứ nhất là sự coi thường mạng lịnh của Đức Chúa Trời (3:6), chặng tiếp theo là hành động sát nhân đầu tiên (4:8) và cuối cùng là bảy mươi bảy lần báo thù của Lê-méc (4:24). Những tội lỗi này vừa có tính điển hình vừa là duy nhất. Điển hình vì mọi hành động tội lỗi đều có những yếu tố và hậu quả giống nhau duy nhất vì hành động xảy ra từ thời mở đầu lịch sử và kéo theo hậu quả kinh khủng cho toàn thể nhân loại.

1. Vườn Ê-đen (Sa 2:4-25)

Nếu thế giới này được tạo dựng rất tốt đẹp (1:31) thì tại sao lại có nhiều đau thương, khốn khổ, tức giận và căm thù? Câu chuyện này giải thích về nguồn gốc và những hậu quả của tội lỗi một cách đơn giản nhưng sâu sắc. Câu chuyện bắt đầu với cảnh thanh bình hạnh phúc của căp vợ chồng đầu tiên. Tại đây ta thấy khuôn mẫu của Đức Chúa Trời về sự quan hệ giữa hai phái. Rồi câu chuyện kể về một hành động không vâng lời có vẻ nhỏ nhoi, không quan trọng nhưng đã đảo lộn mọi sự và khiến cho con người bị trục xuất khỏi vườn.

Giê-hô-va Đức Chúa Trời (2:4) là một cụm từ thông dụng trong các chương 2 và 3 nhưng hầu như không được dùng ở những chỗ khác trong Cựu Ước. Cụm từ này gói ghém hai ý tưởng quan trọng của những chương này - đó là Đức Chúa Trời vừa là Đấng Tạo Hóa của nhân loại (‘Đức Chúa Trời’ là từ được dùng trong chương 1) vừa là bạn của con người hoặc là một đối tác trong giao ước (Chúa hoặc Giê-hô-va - Yahweh - là danh xưng chỉ được mặc khải cho dân Y-sơ-ra-ên Xu 3:14 6:3).

(Sa 2:4-7). Sự tạo dựng con người đầu tiên.Tác giả trở ngược về tình trạng trước khi con người được tạo dựng vào ngày thứ sáu (Sa 1:26-28) và mô tả cảnh hoang vu điển hình của miền Trung Đông, cần đến sức lực của con người để dẫn nước vào tưới đất và khiến đất xanh tươi. Chính từ đất sét của vùng này mà Đức Chúa Trời, người thợ gốm vĩ đại, đã nặn nên con người đầu tiên và thở hơi sự sống vào người ấy. Qua hình ảnh truyền thống này, Sáng Thế Ký ngụ ý nói rằng từ nguyên thuỷ con người không phải chỉ có phần vật chất, họ cũng có phần thuộc linh nữa (Đức Chúa Trời thở vào).

(Sa 2:8-17). Khu vườn của Đức Chúa Trời dành cho con người. Sự quan tâm của Đức Chúa Trời đối với nhu cầu của con người đã được đề cập đến trong 1:29, ở đây lại nhấn mạnh một lần nữa. Khu vực tươi đẹp này đầy cây ăn quả, những con sông, vàng và đá quí được chuẩn bị sẵn cho con người cư trú gọi là Ê-đen (tức là ‘sự vui thích’). Cây cối, nước, vàng và đá quí và chê-ru-bin về sau cũng được dùng để trang trí đền tạm (Exe 25:27) và đền thờ (IVua 7:1  Exe 41:1-47:23) những biểu tượng này ám chỉ đến điều quan trọng nhất trong khu vườn là sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Ngài thường đi trong vườn vào những buổi chiều mát mẻ và trò chuyện thân mật với A-đam và Ê-va (Sa 3:8). Cây sự sống ban cho sự sống đời đời và cây biết điều thiện, điều ác cho sự khôn ngoan. Con người không được phép ăn trái của cây thứ hai vì sự khôn ngoan có được qua việc ăn trái cây đó sẽ dẫn đến sự độc lập với Đức Chúa Trời, trong khi sự khôn ngoan thật bắt đầu từ ‘sự kính sợ Đức Giê-hô-va’ (Ch 1:7).

Chú giải. 10-14 Hai con sông trong vườn Ê-đen rất nổi tiếng: đó là sông Ti-gơ-rơ và sông Ơ-phơ-rát chảy ngang qua nước I-rắc hiện nay và đổ vào vịnh Ba Tư. Không định vị được hai con sông Ghi-hôn và Bi-sôn, do đó cũng không thể xác định vị trí chính xác của Ê-đen. Huyền thoại ở vùng Mê-sô-bô-ta-mi định vị một hòn đảo thiên đường ở cửa vịnh Ba Tư. Do đó tưởng chừng giải pháp khả dĩ nhất là xác định vườn Ê-đen ở tại đảo đó. Nhưng làm thế hoá ra câu chuyện huyền thoại là chuyện thật sao. Vì  Sa 3:23-24 có xác định rằng con người không còn được đặt chân vào vườn Ê-đen nữa.

(Sa 2:18-24). Tạo dựng người nữ Mặc dù khung cảnh thật êm đềm hạnh phúc nhưng vẫn có một điều gì đó chưa ổn. Đức Chúa Trời phán rằng: ‘Loài người ở một mình là không tốt’ (c.18). Sau khi dựng nên mọi vật, Ngài thường nhận xét rằng điều đó là tốt lành (1:10,31), thì lời nhận xét trong câu 18 này làm chúng ta sửng sốt và làm sáng tỏ những hành động sáng tạo tiếp theo.

Trước hết, thú vật đã được dựng nên để làm bạn với con người. Chúng ở dưới quyền quản trị của con người (con người đặt tên cho chúng trong câu 20) nhưng con người không được lợi dụng chúng (so sánh 1:24-31). Nhưng thật không may, thú vật không phải là người bạn hoàn hảo của con người. Chỉ có việc sáng tạo nên người nữ mới làm cho con người hài lòng.

Câu chuyện lý thú về việc Đức Chúa Trời dựng nên Ê-va từ xương sườn của A-đam rồi đem Ê-va đến giáp mặt với ông như trong một lễ cưới gói ghém các ý tưởng then chốt trong Kinh Thánh về vấn đề hôn nhân. Ở đây trong chương 1:27-28, chúng ta thấy Đức Chúa Trời đặt tiêu chuẩn cho mối quan hệ giữa hai phái. Trong khi chương 1:28 nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự sinh sản thì ở chương 2:20-24 nói đến sự bầu bạn trong hôn nhân. Trước hết chồng và vợ bổ sung cho nhau. Câu người giúp đỡ giống như mình (c.20) tốt hơn nên dịch là ‘người giúp đỡ tương xứng với ông’, tức là bổ sung cho những gì ông thiếu. Bà ấy có cái xương sườn mà A-đam đã mất. Matthew Henry bình giải về việc Đức Chúa Trời quyết định chọn lấy cái xương sườn để dựng nên Ê-va như sau: ‘Bà Ê-va không được dựng nên từ cái xương đầu để cầm quyền trên ông ấy, không được dựng nên từ cái xương chân để bị ông ấy chà đạp, nhưng được dựng nên từ cái xương bên thân mình để bình đẳng với ông ấy, xuất phát từ dưới cánh tay để được bảo vệ, và gần trái tim để được yêu thương’. Có một cái xương sườn thôi mà nói như vậy chắc hơi quá đáng, nhưng câu bình giải này diễn đạt đầy đủ một cuộc hôn nhân lý tưởng theo Kinh Thánh.

Thứ hai giữa vợ và chồng kết hợp với nhau lâu dài: người nam phải dính díu (nghĩa đen là ‘dán dính’) với vợ mình, và cả hai trở nên một thịt. Chúa Giê-xu (trong Mat 19:5) và Phao-lô (Eph 5:31) đều trích câu này để bài bác sự ly dị.

Thứ ba, người nam phải đặt quyền lợi của vợ lên trên tất cả, kể cả cha mẹ mình. Người nam phải lìa cha mẹ không phải để đi ở nơi khác nhưng để thực hiện bổn phận rất quan trọng của mình là chăm sóc cha mẹ (Xu 20:12) kế sau bổn phận chăm sóc vợ mình (Eph 5:25-29).

Thứ tư, người vợ phải ở dưới quyền chồng: người nam đặt tên cho bà là người nữ (23) và sau đó là Ê-va (Sa 3:20) cũng như trước đó ông đặt tên cho các loài thú (19). Những chỗ khác trong Kinh Thánh xem quyền làm đầu của người nam như là một việc đương nhiên (ICo 11:3  IPhi 3:1-6).

Cuối cùng có thể nhận thấy nơi đây Đức Chúa Trời chỉ tạo dựng một Ê-va cho A-đam chứ không phải nhiều Ê-va hoặc một A-đam khác. Do đó Đức Chúa Trời có ý nói rằng Ngài không tán thành chế độ đa thê (so sánh Le 18:18  Phu 17:17) và chuyện đồng tính luyến ái (Le 18:22  Ro 1:26-27)

2. Sự sa ngã (Sa 3:1-24)

(Sa 3:1-8). Cảnh sống hài hoà vô tội ở vườn Ê-đen đã tiêu tan vì tội lỗi xen vào. Lỗi lầm của A-đam và Ê-va tiêu biểu cho tất cả mọi tội lỗi, vì họ là tổ phụ của toàn thể nhân loại nên hành động của họ đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng nhất. Sự cám dỗ do con rắn thực hiện, sau này nó được mô tả là loài vật không sạch (Le 11:31) và do đó con rắn là biểu tượng thích đáng về điều ác. Con rắn bắt đầu tấn công bằng cách nhấn mạnh quá đáng tính cách nghiêm khắc của điều cấm (Đức Chúa Trời chỉ cấm họ dùng một cây thôi) và nêu nghi vấn về ý chỉ tốt đẹp của Đức Chúa Trời dành cho con người (là điều mà chương 2 đã tường thuật rất rõ ràng). Ê-va bác bỏ ý của Sa-tan mặc dù không chính xác (‘ngươi không được đụng vào cây đó’ không nằm trong phần lịnh cấm nguyên thuỷ (Sa 2:17). Sau đó con rắn thách thức sự đoán phạt của Đức Chúa Trời bằng cách tuyên bố rằng ‘chắc chắn ngươi sẽ không chết đâu’ và thay vào đó là những lời hứa rất tinh vi (rằng mắt các ngươi sẽ được mở ra) và sự thăng tiến về thuộc linh (rằng các ngươi sẽ giống như Đức Chúa Trời).

Bị lôi cuốn bởi viễn tượng được thoả mãn ngay (bà thấy trái cây bộ ăn ngon) và nghĩ rằng nó sẽ làm mình khôn ngoan, bất chợt Ê-va đành khuất phục rồi bà thuyết phục chồng cùng ăn. Khi chiều theo ý bà ông tỏ ra chuộng điều con rắn hứa hẹn hơn là mạng lịnh của Đức Chúa Trời. (Trong suốt Kinh Thánh, cốt lõi của tội lỗi là đặt sự phán đoán của con người lên trên mạng lịnh của thiên thượng). Ngay lập tức cảm nhận tội lỗi và sự xấu hổ phủ trùm trên họ. Mắt họ mở ra chỉ để nhận thấy thân thể của họ loã lồ, và rồi họ lẩn tránh nhau và trốn tránh khỏi Đức Chúa Trời.

(Sa 3:9-20). Xét xử tuyên án. Sau đó người nam, người nữ và con rắn bị vị quan toà thiên thượng thẩm vấn và tuyên án. Đức Chúa Trời nêu câu hỏi là nhằm thúc đẩy họ xưng tội chứ không phải là để tìm hiểu, vì Ngài biết rõ những hành động của họ rồi.

Sau đó hậu quả lâu dài của tội lỗi bắt đầu xuất hiện. Con rắn bị phạt phải bò và phải thường xuyên giao chiến với con người là dòng dõi người nữ (15). Vì dòng dõi người nữ sẽ giày đạp đầu con rắn, nên số phận con rắn sẽ đen tối trong cuộc chiến dai dẳng này. Do đó sự đoán phạt trên con rắn đồng thời cũng là lời hứa cho con người. Vì vậy theo truyền thống, người Do Thái và Cơ Đốc nhân đều thấy rằng đây là lời gợi ý đầu tiên về một Cứu Chúa cho nhân loại, và Sa 3:15 được gọi là ‘protevangelion’ nghĩa là ‘tiền thân phúc âm’. Nhiều chỗ trong Kinh Thánh có nói đến điều này: Ro 16:20  He 2:14  Kh12:1-18. Trong phạm vi Sáng Thế Ký, lời hứa cho Áp-ra-ham rằng ‘các dân thế gian sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước’ (Sa 22:18) bắt đầu khiến cho lời hứa mơ hồ trong 3:15 được cụ thể hơn. Đáng chú ý là lần đoán phạt đầu tiên này nhen nhúm một tia hi vọng, một niềm hi vọng xuất hiện xuyên suốt Kinh Thánh (so với 6:5-8), vì xự thương xót của Đức Chúa Trời lớn hơn sự thạnh nộ của Ngài (so với Xu 20:5-6).

Án phạt dành cho Ê-va khiến cho thiên chức làm mẹ của bà gặp nhiều đau thương. Mỗi một người nữ trong thời Cựu Ước đều nuôi hi vọng làm một người mẹ hạnh phúc có đông con (Sa 30:1  Thi 113:9), nhưng sự đau đớn khi sinh nở nhắc cho họ nhớ đến tội lỗi của người mẹ đầu tiên. Hơn nữa nét đặc trưng trong hôn nhân thường thường lại là bầu không khí căng thẳng thay vì lo chăm sóc nhau. Dục vọng của ngươi có thể là sự đòi hỏi để được thoả mãn về tình dục hoặc để được độc lập cuối cùng vẫn ở dưới quyền làm đầu của người chồng. Chồng sẽ cai trị ngươi có thể ngụ ý về lối cai trị hà khắc nhưng cũng có thể chỉ nhằm tái xác định hệ quyền hành (Đức Chúa Trời - người nam - người nữ) được thiết lập khi sáng tạo nhưng bị đảo lộn vào lúc sa ngã (6). Hướng giải thứ hai có lý hơn vì câu dẫn trước trong án phạt dành cho A-đam là Vì ngươi nghe lời vợ (17). Sau đó Đức Chúa Trời tuyên án rằng người nam phải chịu khổ trong công việc (người làm vườn, người nông dân phải vật lộn trường kỳ với cỏ dại để sản xuất lương thực). Người nam lao động khó nhọc để mưu sống nhưng rồi cũng sẽ chết. Trong án lịnh này cũng ngụ ý ông sắp bị trục xuất khỏi vườn Ê-đen và mất quyền đến gần cây sự sống.

(Sa 3:21-24). Sự đoán phạt. Sự trục xuất khỏi vườn chứng minh rằng lời hứa của con rắn là họ sẽ không chết chỉ là chuyện rỗng tuếch (4). Vì mặc dù A-đam và Ê-va được tiếp tục sống ngoài vườn, nhưng cuộc sống này chẳng qua chỉ là một bóng mờ của cuộc sống đầy đủ ở trong vườn, nơi đó họ được hưởng một sự tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời. Giờ đây giá đầy đủ phải trả cho tội lỗi đã rõ ràng. Không phải chỉ có lương tâm bất an (7-8), không phải chỉ có những cuộc cãi vã giữa vợ chồng - hai người thân thiết nhất (12), không phải chỉ có những nỗi đau đớn (16) hoặc nhọc nhằn trong công việc hằng ngày (17-19) mà còn bị phân cách khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời và cuối cùng là thể xác phải chết (Ro 6:23). Chê-ru-bim về sau được dùng để trang trí hòm giao ước, đền tạm và đền thờ (Xu 25:18-22  26:31  IVua 6:23-28) với cánh sư tử và đầu người (Exe 41:18).

4. Gia đình đầu tiên của nhân loại (Sa 4:1-26)

Trong khi sơ lược câu chuyện Ca-in và dòng dõi của ông, Sáng Thế Ký có ý chứng tỏ rằng tội lỗi ngày càng kềm chặt nhân loại.

(Sa 4:1-16). Ca-in A-bên. Chương ba cho thấy tội lỗi đã gián đoạn mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời với con người và mối quan hệ giữa vợ chồng. Chương 4 cho thấy tội lỗi đã phá huỷ tình huynh đệ. Thật vậy Ca-in được mô tả là một nhân vật lì lợm hơn A-đam. Giết em ruột của mình là hành động gian ác hơn việc ăn trái cấm. Phải lắm lời thuyết phục A-đam mới phạm tội. Còn không ai can gián Ca-in khỏi phạm tội được dù chính Đức Chúa Trời cũng đành chịu (6-7). Tội lỗi được nhân cách hoá như một con thú đang rình chỉ chực phóng lên vồ mồi (7 so với IPhi 5:8). Khi bị Đức Chúa Trời chất vấn về tội lỗi, mặc dù A-đam có cáu kỉnh nhưng ít nhất ông nói thật, còn Ca-in đã nói dối rồi còn giễu cợt nữa (Sa 3:9-11 so với 4:9. A-đam im lặng lãnh sự đoán phạt của Đức Chúa Trời còn Ca-in lại cực lực phản đối (13-14) để rồi bị đuổi đi cách xa vườn Ê-đen hơn nữa (16).

Chú giải. 5 Không rõ vì lý do nào của lễ của Ca-in không được nhậm. Có lẽ sự tương phản giữa thổ sản của Ca-in và con chiên đầu lòng trong bầy ... cùng mỡ nó của A-bên là manh mối của sự việc. Có lẽ A-bên dâng phần tốt nhất trong bầy mình còn Ca-in thì không. Đức Chúa Trời chỉ chấp nhận của lễ khi nó trọn vẹn và có giá trị (Le 22:20-22  IISa 24:24). Ngàikhông chấp nhận của lễ hạng hai (Ma 1:6-14  Ro 12:1).

Chú giải. 15 Không rõ đánh dấu trên mình Ca-in là một vết xăm và xăm tên Ca-in hoặc hình dạng một con chó hoặc đánh dấu gì khác. Cũng như quần áo mặc cho A-đam và Ê-va trong Sa 3:21, dấu hiệu này có hai công dụng. Một là nhắc Ca-in nhớ đến tội lỗi của ông, và hai là bảo đảm cho ông về sự bảo vệ của Đức Chúa Trời đối với những kẻ thù tiềm ẩn. Như vậy Đức Chúa Trời không bỏ lơ một lời cầu xin trong tinh thần phản kháng vì dù một tội nhân cứng đầu như Ca-in vẫn có thể cầu xin sự thương xót và được Đức Chúa Trời chấp nhận.

(Sa 4:17-26). Dòng dõi của Ca-in. Người ta tin rằng nhiều hậu duệ của Ca-in (có lẽ vợ ông là con gái của A-đam và Ê-va) đã đem đến những bước tiến bộ trong lĩnh vực văn hoá và kỹ thuật: xây thành (17), cuộc sống du cư (20), âm nhạc (21) và rèn kim loại (22). Những thành tựu này được qui cho dòng dõi của Ca-in chớ không qui cho dòng dõi của Sết là dòng dõi thánh khiết hơn (chương 5), cho thấy rằng tất cả những bước tiến bộ của con người đều bị tội lỗi làm hoen ố ít nhiều.

Lê-méc được chú ý đến nhiều nhất. Ông là một con người tàn bạo, nô lệ cho tình cảm. Ông cưới hai người vợ xinh đẹp: A-đa (‘Châu ngọc’) và Si-la (‘Nhạc điệu’). Chế độ đa thê chứng tỏ sự suy đồi trong lĩnh vực hôn nhân do Đức Chúa Trời thiết lập trong vườn Ê-đen với dạng mô hình một chồng một vợ. Nhưng điều đáng nói hơn là tánh khát máu nơi Lê-méc đòi báo oán bảy mươi bảy lần, cho thấy ông coi thường sự công bình và sẵn sàng thanh toán tất cả những ai cản trở ông. Xã hội loài người đang phân huỷ và đáng bị đoán phạt.

Các câu 25-26 báo trước dòng dõi của Sết ở chương 5. Trong Sáng Thế Ký, thường ở cuối phần luôn có một câu trung chuyển qua phần tiếp theo (thí dụ 6:5-8 trung chuyển qua chương 6:9 - 9:17 9:18 -27 trung chuyển qua chương 10.)

Kêu cầu danh Đức Giê-hô-va nghĩa là thờ phượng Đức Chúa Trời cũng bắt đầu vào thời kỳ này.

3. TƯỜNG THUẬT VỀ DÒNG DÕI A-ĐAM (Sa 5:1-6:8)

Phần này gồm có hai phần. Phần thứ nhất (5:1-32) liệt kê mười thế hệ kể từ A-đam cho đến Nô-ê qua đứa con thứ ba của ông là Sết. Đây là khởi đầu của dòng dõi được chọn trong Sáng Thế Ký. Sự cứu chuộc chung cuộc cho nhân loại sẽ đến qua dòng dõi này (chỉ có gia đình Nô-ê còn sống sót sau trận đại hồng thuỷ). Phần thứ hai (6:1-8) nói đến một trong những tội lỗi tồi tệ nhất của thời tiền hồng thuỷ - những cuộc hôn nhân giữa các con trai Đức Chúa Trời (6:1-8) và con gái loài người - làm cho Đức Chúa Trời đổ trận hồng thuỷ xuống. Tuy nhiên phần này kết thúc với một gợi ý là Nô-ê sẽ được cứu (6:8).

1. Gia phả của A-đam (Sa 5:1-32)

Bản gia phả này có đặc điểm là lặp lại theo một mẫu. Sự lặp lại này làm sáng tỏ bốn điểm về mỗi tổ phụ: tuổi khi sinh con trai đầu lòng, tuổi đời, việc họ sinh những con trai, con gái khác và tuổi thọ lúc qua đời. Các con khác được đề cập đến với ngụ ý là các tổ phụ đã tuân thủ mạng lệnh ‘Hãy sinh sản và gia tăng’ (1:28) và cho thấy số dân cư trên địa cầu dần dần tăng. Tuổi thọ của những người này hàm ý rằng họ đã sống rất lâu hồi xưa và rằng sự suy đồi do tội lỗi gây ra dẫn đến việc giảm tuổi thọ dần dần.

Thật khó quyết định nên hiểu như thế nào về tuổi thọ của những người sống trước trận đại hồng thuỷ. Tương đươnglà một bản danh sách các vua Sumerian liệt kê tám vị vua cai trị trước thời nước lụt với tổng cộng số năm là 241.000 năm. Như vậy tổng số năm trong chương 5 (1500 năm) hoá ra quá khiêm nhường, nhưng vẫn không lý giải được làm thế nào A-đam chẳng hạn có thể sống đến 930 năm. Có khá nhiều ý kiến về việc này. Ý thứ nhất là ‘những năm’ của họ ngắn hơn năm của chúng ta nhiều. Nhưng trong bảng tính thời gian của trận đại hồng thuỷ (7:11-8:14) cho thấy Sáng Thế Ký ngầm ấn định một năm có 360 ngày. Ý thứ hai là số năm trong cuộc đời các tổ phụ không chỉ về tuổi thọ của họ nhưng nói về chi tộc họ đã gây dựng ra. Nói cách khác nhiều thế hệ đã bị bỏ qua. Ý này thật khó chứng minh vì ngay từ đầu danh sách, rõ ràng Sết là con trai kế tiếp của A-đam và cuối bảng Lê-méc - Nô-ê- Sem, Cham và Gia-phết là một chuỗi liên tục. Ý thứ ba, những năm này được dùng tượng trưng. Đó là trong thiên văn, thí dụ 365 năm của Hê-nóc tương ứng với những ngày của mặt trời. Ý thứ tư, những con số này là số tượng trưng, do một phép tính đặt cơ sở trên con số 60 của dân vùng Mê-sô-bô-ta-mi. Các bảng tính trong toán học của người Ba-by-lôn sử dụng nhiều thừa số của 60 (30,20,15...), bình phương và phép nhân của những số đó. Vì vậy những người dân quen thuộc với lối tính này, thí dụ 930 (tức tuổi của A-đam) là 302 + 30 chắc không cảm thấy ngỡ ngàng đối với những con số trong chương 5 và trong bản liệt kê danh sách các vua Sumerian. Dầu vậy chúng ta không thể áp dụng phương án này cho mọi con số, cũng không thể lý giải chuyện những con số tượng trưng lại được ghép với một số người đặc biệt như vậy. Hiện nay, những con số lớn như thế cùng lắm chúng ta có thể kết luận rằng số người này đã sống vào thời rất xa xưa. Những chi tiết rõ ràng dứt khoát về họ gợi ý rằng họ là những nhân vật thật đã sống và đã qua đời. Để biết thêm xin xem G.J. Wenham, Genesis 1-15 (Work Book, 1987) trang 103-104.

Còn Hê-nóc vì ông kính sợ Chúa (ông đã đồng đi với Đức Chúa Trời) nên có lẽ ông không chết mà được cất lên trời (Đức Chúa Trời tiếp người đi, so với Ê-li trong IIVua 2:11-12).

2. Những cuộc hôn nhân giữa con người với thần linh và hậu quả (Sa 6:1-8)

Trong thế giới cổ đại người ta thường kể chuyện thần thánh lấy người sinh ra con cái lai thần. Đám hậu duệ này xem như có sức mạnh phi thường kèm với lắm quyền phép khác. Trong vùng Mê-sô-bô-ta-mi và xứ Ca-na-an, người ta tổ chức hôn lễ cho thần lấy người với nghi thức huyền bí trong các đền đài. Họ tin rằng những nghi thức này bảo đảm cho đất đai được màu mỡ phì nhiêu và những cuộc hôn nhân giữa người với người được con đàn cháu đống. Trong thực tế nhiều người làm cha phải đem con gái chưa chồng hiến cho đền thờ để làm gái điếm đặc biệt phục vụ giới tư tế và người giàu có cúng bái ở đền thờ.

Câu 1-2,4 mô tả những việc này. Các con trai của Đức Chúa Trời là nói đến những linh thể (được dịch là ‘thiên sứ’ trong Giop 1:6  2:1 mặc dù ở đây và trong Gióp, những thiên sứ này không phải là những thiên sứ thiện). Trong Cựu Ước, thỉnh thoảng dân Y-sơ-ra-ên (Phu 14:1) hoặc các vua (IISa 7:14) cũng được gọi là ‘các con trai’ của Đức Chúa Trời, nhưng từ này dùng nơi đây không có nghĩa đó. Con gái loài người là nói đến những người phụ nữ bình thường của loài người. Người Nê-phi-lim là những siêu nhân của thời cổ đại được xem là hậu duệ của những cuộc hôn nhân giữa thần và loài người. Khi dân Y-sơ-ra-ên xâm chiếm xứ Ca-na-an (Dan 13:33) còn một ít người Nê-phi-lim.

Theo Sáng Thế Ký nạn hành dâm trên cơ sở tín ngưỡng với ý thờ tụng này vừa không cần thiết (vì lúc đó loài người đã gia tăng đông đúc rồi, câu 1) vừa là việc hết sức ghê tởm đối với Đức Chúa Trời (5). Hậu quả là đời người bị giảm xuống còn 120 năm (3) và Chúa tính đến một kế hoạch quét sạch loài người và những loài vật khác (7).

Ở đây, nạn hành dâm trên cơ sở tín ngưỡng bị xem như một tội lỗi cuối cùng trong dây tội lỗi với đầu mối là tội ăn trái cấm của A-đam, tiếp tục với tội giết em của Ca-in và sự báo thù không hạn chế của Lê-méc. Nhìn loài người, Đức Chúa Trời kết luận rằng họ gian ác vô phương cứu chữa và mọi ý nghĩ của họ luôn luôn hướng về điều ác. Câu 5 công bố giáo lý về sự sa đoạ trắng trợn đến khiếp đảm của loài người. Quan điểm này cũng được các tác giả Thi Thiên, các tiên tri, Chúa Giê-xu và Phao-lô nói đến (Thi 51:3-6  Gie17:9-10  Mac 7:5  Ro 1:18  3:20). Tội lỗi của con người đã châm ngòi cho một phản ứng mãnh liệt trong Đức Chúa Trời, một sự bất mãn đắng cay (lòng Ngài đầy đau đớn) tương tự như đám anh trai cảm thấy khi em gái họ bị hãm hiếp (Sa 34:7), hoặc tương tự với cảm xúc của người cha khi con trai tử trận (IISa 19:2). Do đó Đức Chúa Trời quyết định huỷ diệt công cuộc sáng tạo của Ngài. Tuy nhiên, cũng như khi tuyên bố án phạt lần trước, vẫn còn một tia hi vọng loé lên - Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va (c.8).

4. TƯỜNG THUẬT VỀ NÔ-Ê (Sa 6:9-9:29)

Nhiều dân tộc thời cổ đại trên khắp thế giới có câu chuyện về trận đại hồng thuỷ, chỉ có một người và gia đình ông sống sót nhờ đóng một con tàu. Nhưng có lẽ đúng như thiên hạ ước đoán tương đương và gần gũi nhất với câu chuyện trong Kinh Thánh là chuyện kể ở vùng Mê-sô-bô-ta-mi trong thiên sử thi Atrahasis và Gilgamesh. Niên đại của cả hai văn bản này đều vào khoảng năm 1600 T.C.. Tương tự như trong Kinh Thánh, chuyện kể rằng có một người (tên là Atrahasis hoặc Utnapishtim) được thần khuyên đóng một con tàu để tránh nạn lụt. Ông này vâng lời chất thực phẩm lên tàu, đem theo cả loài thú, lênh đênh trên mặt nước một thời gian ngắn sau đó thả chim ra để thăm dò xem mức nước rút xuống chưa. Cuối cùng con tàu tấp trên đỉnh một ngọn núi, người sống sót này rời khỏi tàu và dâng của lễ cảm tạ thần khiến các thần rất hài lòng và thưởng cho ông sự sống đời đời. Những nét tương tự giữa câu chuyện trong Kinh Thánh và chuyện kể của người Ba-by-lôn về trận đại hồng thuỷ chứng tỏ câu chuyện này rất quen thuộc ở vùng Cận Đông cổ đại.

Tuy nhiên vẫn còn nhiều chi tiết dị biệt chứng tỏ rằng không có chuyện vay mượn qua lại. Thí dụ kích thước và hình dáng con tàu, thời gian của trận lụt và các loài chim được thả ra để thăm dò nước lụt. Nhưng những điểm dị biệt này đều không đáng kể. Điều quan trọng hơn là những khác biệt trong lĩnh vực thần học giữa hai câu chuyện này. Thần học trong hai câu chuyện khác nhau quá xa đến nỗi coi như tác giả của câu chuyện trong Kinh Thánh có dụng ý điều chỉnh hoặc bài bác quan điểm phổ biến của người Trung Đông về trận đại hồng thuỷ. Ngoài ra, Sáng Thế Ký còn tìm cách trình bày Đức Chúa Trời là như thế nào và Ngài có quan hệ với thế giới này ra sao.

Trong các bản văn của người Ba-by-lôn, các thần nhất trí dùng trận lụt để chấm dứt tình trạng gia tăng dân số của loài người, nhưng có một vị thần phản đối nên đã mách nước cho một tín đồ của mình là Atrahasis (tương đương với Nô-ê). Khi trận lụt bung ra, các thần khiếp vía như thể những con chó hoảng sợ, vì không thể kiểm soát được nước lụt. Sau trận lụt các thần vội vàng chạy đến chỗ dâng của lễ như thể người đói bụng vì suốt thời gian lụt lội chẳng có ai dâng của lễ cả. Một trong các vị thần chóp bu rất ngạc nhiên khi thấy còn một người sống sót (rõ ràng vị thần này không có quyền năng vô hạn cũng không có khả năng biết hết mọi chuyện).

Toàn bộ quan điểm thần học và đạo đức của Sáng Thế Ký khác hẳn. Trước hết trận lụt xảy ra không phải để hạn chế sự náo loạn hoặc sinh sản của loài người nhưng vì loài người sa đoạ trong tội lỗi (6:11-12). Thứ hai, Nô-ê được cứu không phải nhờ ông may mắn thờ trúng một vị thần bất đồng ý kiến với các thần khác về trận lụt nhưng vì ông là người công bình và trọn vẹn trong số những người thời đó. Xuyên suốt câu chuyện về trận lụt, nhân vật Nô-ê làm đúng theo những điều Đức Chúa Trời phán dặn ông (6:22  7:9  8:18). Thứ ba, Đức Chúa Trời của Sáng Thế Ký là Đấng vô sở bất năng, vô sở bất tri. Ngài luôn luôn nắm quyền kiểm soát toàn bộ trận lụt và biết chính xác chuyện đang diễn ra. Khi Đức Chúa Trời nhớ đến Nô-ê thì nước lụt bắt đầu rút xuống (8:1-2). Của lễ sau trận lụt không để làm no bụng Đức Chúa Trời (Ngài không cần thực phẩm của loài người như các vị thần của người Mê-sô-bô-ta-mi) nhưng để làm cho Ngài nguôi cơn thạnh nộ. Mặc dù tình trạng tội lỗi của loài người vẫn cứ tiếp diễn (so sánh 8:2 với 6:5), Đức Chúa Trời hứa rằng Ngài chẳng bao giờ huỷ diệt địa cầu bằng nước lụt nữa. Cầu vồng biểu tượng cho lời Đức Chúa Trời đã hứa rằng Ngài sẽ duy trì và bảo vệ toàn thể địa cầu (8:22-9:16). Cuối cùng, trong khi thiên sử thi Atrahasis kết thúc với chuyện các thần tính kế giảm mức gia tăng dân số bằng biện pháp sẩy thai và gây vô sinh nơi phụ nữ, thì Đức Chúa Trời truyền dạy Nô-ê ba lần rằng ‘Hãy sinh sản, thêm nhiều làm cho đầy dẫy đất’ (9:1 so với 8:17  9:7). Mặc dù loài người tội lỗi, Đức Chúa Trời vẫn đứng về phía chúng ta và quan tâm đến phúc lợi của loài người. Của lễ do Nô-ê dâng lên và của lễ vĩ đại hơn do Đấng Christ dâng lên dẫn đến ý chỉ tốt lành này.

1. Câu chuyện về trận đại hồng thủy (Sa 6:9-22)

Theo Sáng Thế Ký trận đại hồng thuỷ là một biến cố lớn lao phân chia dòng lịch sử thế giới. Trận đại hồng thuỷ là một hành động huỷ hoại sự sáng tạo. Trận đại hồng thuỷ bao trùm địa cầu trong tình trạng hỗn mang nguyên thuỷ dưới lớp nước dày như trước khi Đức Chúa Trời phán trong Sa 1:3. Sự sống đã bị huỷ diệt. Nước phủ lút mọi sự, kể cả những đỉnh núi cao khiến cho hành tinh này có dạng như thuở Đức Chúa Trời mới khai thiên lập địa (1:2). Sau khi Đức Chúa Trời nhớ đến Nô-ê, Ngài sai một ngọn gió thổi trên trái đất (so sánh linh vờn - thần vận hành - gió của Đức Chúa Trời trong 1:2) mở lại một tiến trình sáng tạo mới, thế giới được tái sinh. Đất khô và nước dồn lại, và Nô-ê, người đứng đầu dòng giống mới của loài người tiến ra khỏi con tàu. Rồi cũng như A-đam, ông nhận được lịnh ‘Hãy sinh sản thêm nhiều’ (9:1 so với 1:28). Do đó Nô-ê được xem là hình ảnh của A-đam thứ hai.

Tính cách song hành đảo giữa hành động dữ dội phá huỷ công trình sáng tạo với trận đại hồng thuỷ và công tác tái tạo sau trận lụt được biểu thị rõ trong Sáng Thế Ký qua khung bố cục của câu chuyện. Khung bố cục này được xây dựng theo phép giao thoa mở rộng (hoặc dạng ‘tháp chóp nhọn’) nhằm tô đậm nét cân đối của câu chuyện. Xin nêu ra dưới đây vài nét rõ ràng nhất trong cấu trúc này (muốn biết xin xem thêm Wenham, Sáng Thế Ký 1-15 trang 155-158).

A Các con trai Nô-ê (6:10)  A’ Các con trai Nô-ê (9:18-27)

B. Vào tàu (7:1)                      B’ Rời tàu (8:16)

C. Bảy ngày (7:4)                    C’ Bảy ngày (8:12)

D. Bảy ngày (7:10)     D’ Bảy ngày (8:10)

E. Bốn mươi ngày (7:17)                    E’ Bốn mươi ngày (8:6)

F. Núi bị phủ lút (7:20)           F’ Núi lộ ra (8:5)

G. Nước dâng 150 ngày (7:24)           G’ Nước rút 150 ngày (8:3)

H. Đức Chúa Trời nhớ đến Nô-ê

Cấu trúc này không những khiến ta chú ý đến sự tương ứng giữa việc huỷ phá của Đức Chúa Trời khi khiến trận lụt xảy ra với công tác tái tạo của Ngài mà còn cho thấy rằng điểm chuyển là lúc Ngài nhớ đến Nô-ê. Đức Chúa Trời của Sáng Thế Ký không tỏ ra bất lực đối với trận lụt như các vị thần của người Ba-by-lôn nhưng Ngài kiểm soát tất cả, là Đấng toàn quyền khi đoán phạt hoặc thương xót.

Lệnh đóng tàu Những ai muốn vẽ hoặc làm mô hình con tàu trong Sáng Thế Ký phải bổ sung đôi chi tiết, và chắc cũng thắc mắc không rõ những chi tiết trong Sáng Thế Ký hợp lý tới mức nào. Đặc biệt là không rõ về lối thiết kế mái tàu trong câu 16. (Xin xem những bộ bình giải chi tiết hơn về chuyện này). Điều Sáng Thế Ký quan tâm nhất là con tàu để có mục đích giữ tròn sự sống cho tất cả các loài vật. Do đó phải đem vào tàu từng cặp để bảo đảm chúng tiếp tục sinh sản.

2. Vào tàu và trận đại hồng thủy bắt đầu (Sa 7:1-24)

Loài thú không tinh sạch (không dùng làm của lễ, không dùng làm thức ăn), chỉ cần một cặp là đủ để bảo đảm cho sự tồn tại của loài đó, nhưng loài thú tinh sạch thì cần đến bảy cặp (có thể dùng làm của lễ/ có thể dùng làm thức ăn) để bảo đảm có sinh tế làm của lễ sau khi lụt lội mà vẫn không đe doạ tuyệt chủng loài đó.

Mỗi chặng của trận đại hồng thuỷ xảy ra trong một quãng thời gian ấn định cách chi tiết (thí dụ 7:11  8:13,14). Như vậy là thích đáng vì trận đại hồng thuỷ kết liễu thế giới cũ và từ đó một thế giới mới được sinh ra.

Chú giải về niên đại và thời gian của trận đại hồng thuỷ. Bảng danh sách các vua Sumerian cho rằng trận đại hồng thuỷ xảy ra ngay trước thời đại đầu tiên, cho ta thấy có thể định niên đại cho trận đại hồng thuỷ vào năm 3000 T.C. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều bằng chứng về những trận lụt địa phương ở vùng Mê-sô-bô-ta-mi trong thời kỳ này, nhưng không có bằng chứng nào về một trận lụt bao trùm toàn vùng. Một ý kiến khả dĩ khác là trận lụt này xảy ra vào cuối thời kỳ băng giá trước đây (khoảng 10.000 năm T.C.). Lúc đó có những trận mưa lớn trên những vùng bình thường khô hạn rồi băng tuyết tan ra làm mực nước biển dâng lên cao 100m (300 bộ), biến những vùng trước kia có thể sinh sống thành đầm lầy (xem thêm Thánh Kinh Tự Điển về phần này). Với kiến thức của chúng ta hiện nay về môn địa lý, tự dưng chúng ta hiểu rằng chuyện mô tả một trận lụt toàn cầu. Nhưng nếu đứng trong vị trí của Nô-ê mà kể chuyện (là người hiểu biết về địa lý còn hạn chế) thì một trận lụt có phần nhỏ hoá ra là một trận lụt toàn cầu.

3. Nước lụt rút dần. (Sa 8:1-22)

Nhờ Đức Chúa Trời nhớ đến Nô-ê (1) (tức là một ý nghĩ dẫn đến hành động) nên công cuộc tái tạo được bắt đầu. Dần dà mặt đất, cây cỏ, chim chóc, thú vật và loài người lại tái xuất hiện trên mặt đất (so với chương 1). Núi A-ra-rát (4) không phải là núi A-ra-rát hiện nay, nhưng nằm trong lãnh thổ của nước Urartu cổ đại mà có lẽ là Armenia hiện nay, trong vùng giáp giới Thổ Nhĩ Kỳ và I-ran. Ngôn từ trong câu 21 rất tương tự với 6:5. Của lễ dâng lên thay đổi thái độ của Đức Chúa Trời đối với loài người chớ không phải đối với Nô-ê. Nô-ê, người công bình, một A-đam thứ hai, bảo đảm cho loài người không còn bị hình phạt thảm khốc trong tương lai bằng trận đại hồng thuỷ nữa.

4. Giao ước của Đức Chúa Trời đối với Nô-ê. (Sa 9:1-17)

Mặc dù trong một mức độ, kỷ nguyên mới kể từ trận đại hồng thuỷ có những điểm tương tự với kỷ nguyên kể từ công cuộc sáng tạo ban đầu nhưng vẫn có những điểm khác biệt. Cũng như A-đam, Đức Chúa Trời chúc phước cho Nô-ê và phán rằng: ‘Hãy sinh sản’ (c.1), nhưng giờ đây loài người bắt đầu được phép ăn thịt (chương 3). Mặc dù A-bên (4:2) và Gia-banh (4:20) chăn chiên, A-đam chỉ được phép dùng thực vật làm thức ăn (1:30). Nhưng nay Nô-ê được phép ăn thịt miễn là làm cho huyết trong con thú tuôn ra hết để bày tỏ lòng tôn trọng đối với sự sống mà Đức Chúa Trời ban cho ở trong huyết. Cấm ăn huyết là một trong những luật lệ quan trọng nhất về thực phẩm trong Cựu Ước (Le 3:17  Phu 12:16-25  ISa 4:32-34).

Đặc điểm của lịch sử thời tiền hồng thuỷ là bạo lực (Sa 6:11): A-bên bị sát hại mà không ai đứng ra báo thù còn Lê-méc lại hành động quá đáng (4:23-24). Cho nên nay Đức Chúa Trời đưa ra một luật lệ kiểm soát chặt chẽ sự báo thù: Hễ kẻ nào làm đổ máu người thì sẽ bị người khác làm đổ máu lại (c.6). Sự trừng phạt phải tương xứng với tội phạm là ý niệm căn bản trong luật pháp Cựu Ước (Xu 21:23-25) và trong lẽ công bằng, cùng lẽ phải hiện nay. Mặc dù tử hình là mức án thích đáng theo lẽ ‘hãy làm cho người ta điều mình muốn người ta làm cho mình’ câu 6 vẫn đưa lý do khiến phải áp dụng án này. Mỗi một người đều được dựng nên theo hình tượng của Đức Chúa Trời (tức là người đại diện Đức Chúa Trời trên đất) vì vậy phải áp dụng án phạt nặng nề nhất để bảo vệ giá trị độc đáo của mạng sống con người. Mục đích của Đức Chúa Trời là loài người và loài vật sẽ đầy dẫy địa cầu này (7-9) vì giao ước biểu tượng bằng cầu vồng được lập với mọi loài sống. Sáng Thế Ký không nói rằng sau trận đại hồng thuỷ cầu vồng mới xuất hiện lần đầu, mà cầu vồng trở nên dấu chứng cho lời hứa về ý chỉ tốt lành của Đức Chúa Trời.

5 Tội lỗi của Cham. (Sa 9:18-29)

Điều đáng buồn là Nô-ê, người công bình trọn vẹn đã không thắng nổi sự say sưa và loã thể khi nằm ngủ. Tội lỗi của ông tương đối nhỏ (so với A-đam trong Sa 3:6), nhưng sau đó con thứ của ông là Cham phạm tội nghiêm trọng hơn (so với Ca-in 4:8). Với tiến trình này, một lần nữa Sáng Thế Ký bày tỏ rằng lịch sử đang lặp lại. Nhân loại phát xuất từ Nô-ê cũng tuột dốc như loài người trong kỷ nguyên trước.

Độc giả thời nay khó thấy tội lỗi của Cham là nghiêm trọng và có thể thắc mắc rằng anh chị em ruột nói hành hoặc bông đùa với nhau về những khuyết điểm của cha mẹ thì có gì là sai đâu. Vì vậy nhiều người tìm cách gán cho ông tội loạn luân hoặc những hành vi bất lịch sự trong tình dục. Nhưng những ý kiến này đều sai và chưa nhận thức được tầm mức quan trọng mà Cựu Ước và những nền văn hoá cổ đại khác dành cho bổn phận làm con. ‘Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi’ là mạng lịnh kế tiếp theo mạng lịnh về bổn phận đối với Đức Chúa Trời. Vì vậy đánh đập hoặc rủa sả cha mẹ có thể bị tử hình (Chúa Giê-xu trích dẫn Xu 21:15,17 trong Mac 7:10).

Những lời nói duy nhất của Nô-ê trong Sáng Thế Ký (25-27) là lời ngợi khen Sem cùng Gia-phết và rủa sả Cham (hoặc ít nhất cũng rủa sả dòng dõi của ông là người Ca-na-an). Những lời này tương tự như những lời chúc phước của Y-sác (Sa 27:27-29) và của Gia-cốp (49:2-27) lúc sắp qua đời, qua đó tương lai của những người có tên được báo trước. Ở đây Nô-ê tiên tri về ưu thế, thế thống trị của dòng dõi Sem và Gia-phết (chương 10 chép rõ về dòng dõi của họ) còn Ca-na-an sẽ phải phục tùng. Vậy là những câu này làm phần trung chuyển cho chương tiếp theo (so với 4:25-26  6:1-8).

Vì sao Ca-na-an lại bị rủa sả vì tội của Cham, cha ông? Vấn đề này không có câu giải đáp dứt khoát. Có lẽ ông đã tham gia phạm tội với cha của ông. Có lẽ là vì Cham, con trai của Nô-ê phạm tội với cha nên Ca-na-an, con trai của Cham phải bị trừng phạt. Có lẽ chính tội lỗi của Cham là điềm báo trước về tội lỗi của dân Ca-na-an, là dân nổi tiếng về sự vô đạo đức của họ trong thời Cựu Ước (Le 18:3).

5. TƯỜNG THUẬT VỀ SEM,CHAM VÀ GIA-PHẾT.(Sa 10:1-11:26)

Phần này bao gồm hai phần: Bảng danh sách các dân tộc (Sa 10:1-32) và câu chuyện tháp Ba-bên (11:1-9), và nhắm ba mục đích. Thứ nhất, xác định mối liên hệ của dân Y-sơ-ra-ên với các dân tộc khác. Thứ hai, giải thích nguồn gốc các ngôn ngữ. Thứ ba, cho thấy các dân tộc phạm tội thêm khiến cho Đức Chúa Trời phải hình phạt nữa. Và như vậy cũng mở đường cho một nỗ lực khác của Đức Chúa Trời để giải cứu nhân loại, đó là sự kêu gọi Áp-ra-ham.

1. Bảng danh sách các dân tộc (Sa 10:1-32)

Văn bản lạ lùng này đặt dân Y-sơ-ra-ên trong khung cảnh thế giới mà các tác giả Cựu Ước biết. Bảng danh sách bảy mươi dân tộc (có lẽ là một con số tượng trưng so với bảy mươi người của Gia-cốp đi xuống Ai Cập Xu 46:27) đại diện cho tất cả các dân tộc trên thế giới chớ không phải là một bản liệt kê đầy đủ tất cả các dân tộc mà người ta biết trong thời Y-sơ-ra-ên cổ đại. Bản liệt kê có vẻ như một bản gia phả nhưng không chắc tất cả các mối liên hệ nêu nơi đây đều thuộc trong gia phả. Trong thế giới cổ đại những hiệp ước và giao ước khiến cho các dân tộc tự nhận mình là anh em hoặc con cháu của người đối tác trong hiệp ước hoặc giao ước. Bản liệt kê các dân tộc này mô tả sự quan hệ giữa các dân tộc khác nhau dẫu rằng họ cùng có một nguồn gốc trong lịch sử.

Nhưng đây không phải là một bài học về địa lý trong dòng lịch sử. Trong Sáng Thế Ký, bản liệt kê luôn luôn được sử dụng vì một lý do thần học, đó là vạch lại mối liên hệ của dòng dõi Sem là dòng dõi được chọn với các dòng dõi không được chọn khác. Gia phả của dòng dõi không được chọn luôn được ghi ra trước dòng dõi được chọn: Ca-in trước Sết (các chương 4-5), Ích-ma-ên trước Y-sác (chương 25), Ê-sau trước Gia-cốp (chương 36-37). Sự lựa chọn Sem và từ bỏ Cham đã được nói đến rồi (Sa 9:25-27) và chương này coi như xác nhận việc đó. Giữa vòng người Semic có người A-ram, quan hệ rất gần gũi với các tổ phụ và các tổ phụ thường kiếm vợ người A-ram cho con trai mình. Trong số dân thuộc dòng dõi Cham không phải chỉ có các dân tộc ở Ca-na-an nhưng còn những dân tộc khác đông đảo hơn và là kẻ thù của người Y-sơ-ra-ên như Ai Cập (Míc-ra-im), Ba-by-lôn và A-sy-ri. Dòng dõi Gia-phết gồm những dân tộc xa xôi hơn tận miền bờ biển phía đông bắc Địa Trung hải. Dường như dân Y-sơ-ra-ên ít liên hệ với những dân tộc này dù là thù hoặc là bạn. Cũng nên chú ý rằng Kinh Thánh phân loại các dân tộc theo dòng Sem, Cham và Gia-phết không trùng hợp với sự phân loại dân tộc hiện nay theo ngôn ngữ. Một số dân thuộc dòng dõi Cham (thí dụ người Ca-na-an) nói tiếng Semic, còn trong các dân Semic có người Ê-lam lại không nói tiếng Semic. Cách phân chia của Kinh Thánh nhằm phân biệt những dân tộc mà dân Y-sơ-ra-ên xét nghĩ là bạn hoặc thù địch.

(Sa 10:2-5). Dòng dõi của Gia-phết. Vì không thể xác định tất cả các dân tộc trong bản liệt kê nên ở đây chỉ bàn về những dân tộc được biết chắc chắn. Địa bàn cư ngụ của những dân tộc được biết rõ này lại nằm ở những vùng xa dân Y-sơ-ra-ên nhất về mặt địa lý, tức là ở tận viễn bắc hoặc viễn tây. Xin đọc thêm bài tham luận chi tiết về những dân tộc này trong bộ Thánh Kinh Tự Điển (IBD) hoặc bộ bình giải Kinh Thánh của Sarna hoặc Wenham.

Gô-me là người Cimmerian Ma-gót là một vùng nào đó ở phía Bắc (Exe 38:2), Ma-đai là người Mê-đi trong vùng phía Bắc I-ran, Gia-van là người Ionian ở Hi Lạp Tu-banh, Mê-siếc và Ti-ra được xác định là ở Thổ Nhĩ Kỳ. 3 Ách-kê-na là người Scythian, còn Tô-ga-ma là một tỉnh phía bắc Carchemish. 4 Có lẽ Ê-li-sa ở đảo Crete. Ta-rê-si là một thành phố ở Địa Trung hải, có lẽ là Carthage. Kít-tim được xác định là đảo Chíp-rơ và Rô-đa-nim là đảo Rô-đơ (có thể đọc là Đô-đa-nim theo cách đọc của người Aegean).

Câu 5 dự báo về sự phân tán các dân tộc có tường thuật trong Sa 11:1-9.

(Sa 10:6-20). Dòng dõi của Cham. Độ dài của khúc sách chứng tỏ phần này quan trọng. Trong số những hậu duệ của Cham, có những dân tộc láng giềng gần gũi nhất của dân Y-sơ-ra-ên nhưng lại là những thù địch gay gắt nhất.

6 Cúc là một vùng ở phía nam Ai Cập. Mích-ra-im là Ai Cập và Phút là Libya. Ca-na-an được xác định kỹ hơn trong các câu từ 15-19.

7 Các con của Cúc dường như là một vùng phía nam Arabia.

8-12 Cho thấy nền văn hoá Mê-sô-bô-ta-mi bắt nguồn từ Cham qua trung gian Cúc. Sự truy nguyên này không nhằm khen ngợi nhưng mở đường cho sự phê phán thẳng thắn sau này về sự tự phụ của người Ba-by-lôn trong 11:1-9. Không xác định được Nim-rốt cách dứt khoát, nhưng tánh hiếu chiến và ưa thích săn bắn là nét đặc trưng của những vị vua vùng Mê-sô-bô-ta-mi. Hầu hết những thành phố mà ông xây dựng đều nổi tiếng trong vùng.

13-14 Chỉ có thể xác định dứt khoát một số ít bộ tộc hoặc những dân tộc này. Người Bát-ru-sim là những người Ai Cập ở miền nam. Người Phi-li-tin là những đối thủ của dân Y-sơ-ra-ên trong việc giành quyền kiểm soát xứ Ca-na-an (ISa 4:1-31:13). Người Cáp-tô-rim la người Cơ-rết.

15-19 Ở đây đặc biệt chú ý đến những cư dân ở xứ Ca-na-an là những người mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ thay thế. Si-đôn là thành phố duyên hải cổ xưa nhất của người Phê-ni-xi. Người Hê-tít (so với Sa 23:2-20) khác với người Hê-tít nổi tiếng ở Thổ Nhĩ Kỳ. Người Giê-bu-sít là những cư dân ở Giê-ru-sa-lem. Người A-mô-rít,, Ghi-rê-ga-sít và Hê-vít là các dân tộc ở Ca-na-an thường được nhắc đến. Người A-rê-kít ... Ha-ma-tít là những cư dân trong các thành phố nổi tiếng ở Sy-ri.

Biên giới của Ca-na-an chạy từ Si-đôn ở phía bắc đến Ga-xa ở phía nam và Sô-đôm (gần Biển Chết) ở phía đông. Dan 34:2-12 xác định biên giới của Ca-na-an chi tiết hơn.

(Sa 10:21-31). Dòng dõi của Sem. Vì Áp-ra-ham là hậu duệ của Sem nên dân Y-sơ-ra-ên cảm thấy đặc biệt liên quan đến những dân trong nhánh này. Tuy nhiên, chỉ có thể xác định dứt khoát một số ít dù phần nhiều những dân này có lẽ là các bộ lạc A-ram hoặc Ả-rập.

Cham là con thứ của Nô-ê là điều đã được xác định rõ trong Sa 9:24, nhưng con đầu lòng là Gia-phết hoặc Sem thì còn tuỳ thuộc vào cách dịch câu này (bản NIV). Dân Ê-lam ở vùng tây nam của I-ran. A-su-rơ không chắc là người A-Sy-ri mà có thể là một bộ lạc ở vùng Si-na-i (Dan 24:22). Dân A-ram sống ở Sy-ri và có lẽ những bộ tộc của dân này được liệt kê ở đây đã sống trong vùng đó. Trong một giới hạn nào đó thì họ là hậu duệ của Giốc-tan và dòng dõi của ông dường như đã sống ở miền nam Ả-rập.

2. Tháp Ba-bên. (Sa 11:1-9)

Câu chuyện ngắn ngủi này đưa lịch sử của thời trước các tổ phụ đến một kết cục thật hãi hùng. Nhân loại được gây dựng trở lại qua Nô-ê bắt đầu hư hỏng vì chuyện say rượu của Nô-ê và hành vi bất nhã của Cham bản liệt kê các dân tộc cũng gợi nhắc đến những hệ quả của lời rủa sả trên dòng dõi Cham. Thật ra đoạn Sa 10:5,18-20,31-32 đã tiên báo về tình trạng chia tách vì ngôn ngữ bất đồng rồi phân tán đi khắp nơi. Nhưng giờ đây Sáng Thế Ký tường thuật việc này đầy đủ rõ ràng hơn. Giờ đây tội lỗi của loài người đã bứt xa tất cả mọi giới hạn. Cụ thể là họ muốn xâm phạm lãnh vực của Đức Chúa Trời bằng cách xây một đền thờ chọc trời. Nỗ lực này châm ngòi cho một biện pháp hình phạt ảnh hưởng trên toàn thể nhân loại. Thế là loài người phân tán đi khắp địa cầu. Rồi ngôn ngữ bất đồng đã đập tan sự hợp tác giữa các dân tộc, ngăn cản họ tiếp tục quấy nhiễu trời cao. Thế là cảnh đời đã dàn dựng xong chuẩn bị cho nhân loại bắt đầu trở lại một lần nữa qua sự kêu gọi Áp-ra-ham.

Tuy vậy tháp Ba-bên không đơn thuần là một trong những câu chuyện về tội lỗi và đoán phạt được ghi đầy các chương từ 1-11. Tất cả những chương này còn ngầm phê phán tín ngưỡng đa thần của loài người trên thế giới đồng thời với dân Y-sơ-ra-ên. Sáng Thế Ký trình bày lịch sử của sự sáng tạo và trận đại hồng thuỷ theo một quan điểm về Đức Chúa Trời và mối quan hệ của Ngài với thế giới hoàn toàn khác với quan điểm trong truyện thần thoại Đông Phương cổ đại. Cho đến lúc này, nói chung, chỉ có dạng phê bình ngầm, nhưng trong chương 11 thì sự phê bình đã lộ rõ.

Ba-by-lôn rất nổi tiếng về cái tháp của đền thờ hoặc là Ziggurat, với nền móng sâu thẳm trong lòng đất còn đỉnh ở trên trời. Không, Sáng Thế Ký viết rằng đỉnh cao nhất vẫn không đến tận trời vì từ trời không nhìn thấy tháp được - Đức Giê-hô-va phải ngự xuống để xem (c.5). Ba-bên nghĩa là ‘cổng của thần’ và Ba-by-lôn tự xem mình gần gũi với thần hơn bất kỳ nơi nào khác trên trái đất. Ba-by-lôn tự xem mình là trung tâm tôn giáo, tri thức và văn hoá của toàn thế giới cổ đại, một tuyệt tác của văn minh nhân loại. Sa 11:9 cho là ‘chuyện nhảm nhí’ cả Ba-bên không có nghĩa là ‘cổng của thần’ nhưng có nghĩa là ‘lộn xộn’ hoặc ‘điên rồ’. Di tích của đền thờ đổ nát của Ba-by-lôn triển lãm sự bất lực hoàn toàn thay vì sự khôn ngoan của loài người đối với sự đoán phạt của Đức Chúa Trời. Nói theo ngôn từ hiện đại, việc xây dựng thành và tháp có thể được xem là một nỗ lực của con người để đổi lấy sự an toàn tự tạo trên nền tảng tiến bộ kỹ thuật. ‘Muôn sự tại nhân, thành sự tại Thiên’.

3. Tường thuật về Sem (Sa 11:10-26)

Bản gia phả ngắn gọn về Sem khá tương tự với bản gia phả trong chương 5 mặc dù tuổi đời của các tổ phụ có phần ngắn hơn và không ghi rõ tổng cộng tuổi đời của mỗi người. Bản gia phả này nối liền lịch sử của Áp-ra-ham với lịch sử thế giới, do đó làm nhịp cầu giữa thời tiền sử trong các chương 1-11 và câu chuyện về các tổ phụ (12-50). Mặc dù chúng ta không có một dữ kiện nào về những người được liệt kê ở đây, nhưng Lu 3:34-36 nhắc chúng ta nhớ đến tầm quan trọng của họ vì từ họ mới có hậu duệ của Áp-ra-ham, rồi nhờ người đó mà tất cả các chi tộc trên thế gian đều được phước.

6. TƯỜNG THUẬT VỀ THA-RÊ VÀ CÂU CHUYỆN VỀ ÁP-RA-HAM (Sa 11:27-25:11)

Tha-rê, thân sinh của Áp-ra-ham, hầu như sống suốt thời gian xảy ra các sự kiện có ghi từ chương 12 đến 23. Do đó tên của ông nằm ở đầu phần này (so với Sa 25:19 37:2). Nội độ dài của phần này cũng đủ nói lên vị trí quan trọng của phần này trong sách. Chẳng những Áp-ra-ham là tổ tiên của người Do Thái mà qua ông, mục đích cứu chuộc của Đức Chúa Trời bắt đầu thành tựu. Sự bất tuân của A-đam đã gây ra một dòng thác đầy tội ác để rồi kết thúc bằng trận đại hồng thuỷ. Nô-ê, tổ phụ mới của nhân loại, vốn là người ‘trọn vẹn’, nhưng rồi ông cũng sa ngã và nhân loại đạt tột đỉnh kiêu ngạo ở tháp Ba-bên. Lần này, biện pháp trừng phạt ảnh hưởng đến toàn nhân loại. Giờ đây Đức Chúa Trời bắt đầu trở lại với Áp-ra-ham. Lần này Ngài hứa rằng ‘các dân tộc trên thế giới sẽ nhờ ngươi mà được phước’ (12:3).

1. Sự kêu gọi Áp-ram (11:27-12:9)

Phần này giới thiệu ngắn gọn về Áp-ram, gia đình và quê hương của ông, rồi mô tả sự kêu gọi ông bằng một câu nói gói trọn hành trình đức tin của ông.

(Sa11:27-30) Gia đình U-. Có thể viết phần này ra dưới dạng cây phả hệ.

Có hai điều quan trọng cần lưu ý. Thứ nhất, Sa-rai là người son sẻ, một thảm hoạ cho một thiếu phụ trong thế giới cổ đại. Thứ hai, Lót là một người cháu mồ côi của Áp-ram và chắc ông đã nhận Lót làm con nuôi. Lót đi với Áp-ram và coi như nếu Sa-rai không có con luôn thì biết đâu ông trở nên người kế tự của Áp-ram.

(Sa 11:31-32). Từ U- đến Cha-ran. Toàn thể gia đình này rời khỏi U-rơ, một trung tâm văn hoá quan trọng ở miền nam I-rắc đến Cha-ran ở miền đông Sy-ri. Tại đó, Tha-rê qua đời hưởng thọ 205 tuổi, lúc ấy Áp-ram 135 tuổi (so với câu 26). Có lẽ Áp-ram để cha mình ở lại Cha-ran 60 năm trước khi ông cụ qua đời (Sa 12:4).

(Sa 12:1-9). Từ Cha-ran đến Ca-na-an. Trong một xã hội nặng lòng với truyền thống, việc rời bỏ quê hương và gia đình là một quyết định rất lớn so với một quyết định tương tự trong một xã hội cơ giới hoá và nặng về cá nhân chủ nghĩa trong thời nay. Áp-ram chấp nhận bỏ mọi điều thiết tha nhất để vâng theo sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Cũng vậy, Đấng Christ vẫn thách thức con người bỏ mọi sự để theo Ngài (Mat 10:37-39  Phi 3:8).

Câu 2-3 tóm tắt quan điểm thần học của Sáng Thế Ký và đưa ra manh mối để giải nghĩa (xem phần dẫn nhập về thần học của các chương 12-50). Câu 4 gợi ý rằng Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ram ở Cha-ran chứ không phải ở U-rơ. Xứ Ca-na-an bao gồm lãnh thổ hiện nay của quốc gia Y-sơ-ra-ên, Li-băng và lãnh thổ miền nam của Sy-ri. Hành động vâng lời của Áp-ram được thưởng bằng một lời hứa cụ thể, xứ ta sẽ chỉ cho (1) trở thành xứ nầy (xem phần dẫn nhập về thần học của các chương 12-15). Lời hứa đầy nhân hậu của Đức Chúa Trời thúc giục Áp-ram tỏ lòng cảm tạ bằng cách dâng của lễ thờ phượng Đức Chúa Trời nhiều lần, ông lập một bàn thờ (7,9).

2. Áp-ram ở Ai Cập (Sa 12:10-20)

Niềm tin nhiệt thành ban đầu trong Áp-ram chùng xuống khi ông đối diện với nạn đói ở Ca-na-an, buộc lòng ông phải di cư đến Ai Cập. Ở đây, nỗi sợ hãi của con người đã thay thế cho lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời vốn là nguyên tắc hành động của ông. Câu nói Sa-rai là em gái chỉ là một lời nửa dối nửa thật (Sa 20:12) nhằm ngăn chận những người ngưỡng mộ (so với 24:55). Cũng có thể Áp-ram hi vọng hoãn một lời xin cưới để rồi trốn khỏi Ai Cập trước khi chuyện đó xảy ra. Nhưng ông không thể từ chối lời yêu cầu của một vị vua. Thế là Sa-rai bị đem vào hậu cung của Pha-ra-ôn (c.15).

Theo tinh thần câu chuyện (c.19) thì rõ ràng hành vi của Áp-ram không xứng đáng. Tuy nhiên Chúa đã can thiệp và giải cứu ông bằng cách giáng tai vạ lên Pha-ra-ôn để Áp-ram, cũng như dòng dõi của ông sau này, được rời khỏi Ai Cập với nhiều của cải (Xu 12:35-36). Đây là một vụ xuất Ai Cập cỡ nhỏ dự báo cho một cuộc xuất Ai Cập đông đảo vĩ đại hơn (12:1-14:31  Lu 9:31). Đức Chúa Trời bảo vệ Áp-ram cho thấy Ngài vẫn thực hiện lời hứa của Ngài (Sa 12:3) mặc dù ông thiếu tin cậy. Đức Chúa Trời vẫn tể trị một cách nhân hậu vì cớ lợi ích lâu dài của người được kêu gọi ngay cả khi họ vấp phải lỗi lầm (45:5-8 so với Ro 8:28).

3. Áp-ram và Lót chia tay (Sa 13:1-18)

Được trau luyện bởi kinh nghiệm ở Ai Cập, Áp-ram trở về Bê-tên, nơi trước đây ông đã gặp Đức Chúa Trời, và tại đó ông lại cầu nguyện. Giờ đây một vấn đề khác mới xảy ra. Phước lành dồi dào vật chất kéo theo sự tranh cãi giữa đám người chăn của Áp-ram và Lót. Lần này thay vì tìm cách xoay sở để phần lợi nghiêng về phía mình, Áp-ram khẩn khoản hoà giải, tự mình tạo bầu không khí ôn hoà, bày tỏ một tấm gương rộng lượng đối với cháu và cho cháu quyền ưu tiên chọn đất.

Nhưng ‘chớ thấy sáng mà tưởng là vàng’. Mới nhìn, thung lũng sông Giô-đanh trông như vườn Ê-đen (c.10) nhưng dân gian ác cư ngụ tại đó, phạm tội tày đình chống lại Đức Chúa Trời (c.13). Đây không phải là lần duy nhất người nông dân chất phác quáng mắt trước chốn thị thành phồn vinh vì không ý thức đúng mức tình trạng suy đồi tiềm ẩn trong đó.

Tấm lòng rộng lượng của Áp-ram dành cho cháu được đền bù bằng một lời hứa phong phú hơn nhiều. Từ xứ nầy (Sa 12:9) đã trở thành cả xứ nầy, và tất cả xứ đó được ban cho dòng dõi của Áp-ram đời đời (c.15). Chẳng những dòng dõi ông sẽ nên một dân lớn (12:2) mà còn trở nên đông đúc như bụi trên đất (c.16). Khi đề nghị giải pháp ôn hòa là chia xứ thành vùng và cho Lót ưu tiên chọn trước, Áp-ram đã biểu lộ tấm lòng yêu hòa bình và sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân, đó là điều Kinh Thánh luôn luôn tán thưởng (Thi 133:1-3  Mat 5:9  Phi 2:1-15).

Chú giải. 10 Sô-đôm, Gô-mô-rơ và Xoa là ba thành phố trong vùng đồng bằng, không định vị chắc chắn được. Có năm địa điểm trên bờ phía đông của Biển chết đã bị huỷ hoại trong một thời gian ngắn trước năm 2000 T.C., có lẽ đó là những thành này.

4. Áp-ram giải cứu Lót (Sa 14:1-24)

Đời sống sung túc êm ấm của Lót bị xáo trộn vì một cuộc xâm lược. Kết-rô-lao-me, vị vua của Ê-lam (một vùng thuộc I-rắc) lãnh đạo ba vị vua khác đánh chiếm thung lũng Giô-đanh. Mười ba năm sau, các thành trì trong vùng này phản loạn nên liên minh phương đông này lại kéo quân đến chinh phạt. Lực lượng của Sô-đôm và Gô-mô-rơ thua trận, các thành trì bị cướp phá và Lót bị bắt làm tù binh.

Nhưng Áp-ram lãnh đạo 318 gia nhân đã thắng các đạo quân ngoại quốc này, giải thoát tất cả tù binh và hoàn lại cho họ tất cả tài sản bị cướp. Sự kiện này chứng minh hùng hồn rằng Đức Chúa Trời ở cùng Áp-ram. Nhưng không phải ai ai cũng công nhận sự thật này. Vua Sô-đôm là người mang ơn Áp-ram nhiều nhất đã không nói một lời cảm ơn mà còn sống sượng đòi lại tù binh. Áp-ram biện minh rằng ông không có ý mưu lợi trên sự bất hạnh của Sô-đôm (21-24).

Trong khi đó Mên-chi-xê-đéc, vua và thầy tế lễ của Sa-lem (có lẽ là Giê-ru-sa-lem) lại tiếp đón Áp-ram như đón một vị vua và bày tiệc thết đãi ông. Sau đó Mên-chi-xê-đéc nhơn danh Đức Chúa Trời chí cao, là Đấng dựng nên trời và đất chúc phước cho Áp-ram. Để đáp lại sự đón tiếp nồng hậu này, Áp-ram dâng cho Mên-chi-xê-đéc một phần mười chiến lợi phẩm ông lấy được.

Thái độ của Mên-chi-xê-đéc và vua Sô-đôm tương phản nhau rõ rệt. Họ tiêu biểu cho hai thái độ của thiên hạ đối với Áp-ram đã được dự báo trong Sa 12:3. Mên-chi-xê-đéc là một trong những người chúc phước cho Áp-ram trong khi vua Sô-đôm thì khinh thị ông (bản NIV dịch rủa sả là quá nặng). Kết quả Mên-chi-xê-đéc có thể được Đức Chúa Trời ban phước, còn vua Sô-đôm chỉ có thể chờ đợi sự rủa sả. Như vậy số phận của thành Sô-đôm (chương 19) coi như đã gợi ý báo trước nơi đây (13:13).

Sáng Thế Ký không ghi rõ Mên-chi-xê-đéc nhận phước hạnh gì làm phần thưởng vì đã chúc phước cho Áp-ram. Tuy nhiên Thi 110:4 có ghi lời Đức Chúa Trời thề với Đa-vít rằng: ‘Ngươi là thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc’, điều đó hàm ý rằng ở Giê-ru-sa-lem, Mên-chi-xê-đéc vẫn được nhớ đến và tôn kính như người tiền khu của dòng dõi Đa-vít. Tân Ước xem Mên-chi-xê-đéc là ‘hình bóng’ về Đấng Christ, một người tiền khu của Đấng Mê-si. Áp-ram công nhận địa vị cao trọng của Mên-chi-xê-đéc bằng cách dâng cho vua một phần mười chiến lợi phẩm (He 5:1-7:28). Tuy nhiên, ngoài những câu Kinh Thánh này, không thấy Mên-chi-xê-đéc tái xuất hiện trong Sáng Thế Ký nữa. Ông chỉ là người nhắc cho chúng ta nhớ rằng hễ ai công nhận Đức Chúa Trời đang vận hành trên Áp-ram thì chính người đó sẽ kinh nghiệm phước hạnh.

Chú giải. Nhiều đặc điểm cổ xưa trong chương này (xem Wenham, Genesis 1-15, trang 318-20) cho thấy tác giả vận dụng một nguồn tài liệu cổ xưa nhưng việc này cũng làm cho một số chi tiết trở nên khó hiểu.

1 Tên của các vua (Am-ra-phên, A-ri-óc, Kết-rô-lao-me, Ti-đanh) có dạng thuộc thiên niên kỷ thứ hai, nhưng bằng chứng khảo cổ hiện nay không cho phép chúng ta xác định một cách rõ ràng. Si-nê-a là Ba-by-lôn, Ê-la-sa có lẽ là phía đông Thổ Nhĩ Kỳ Ê-lam là I-rắc hiện nay và Gô-mi có lẽ là người Hê-tít.

2 Chúng ta không có nhiều dữ kiện về tên các thành trì này cùng các vua cai trị trên thành (về vị trí của thành xem phần chú giải Sa 13:10).

3 Si-điêm là một tên riêng chỉ được dùng ở đây và trong câu 8, 10 để chỉ thung lũng quanh Biển Chết, có lẽ nói đến vùng cực nam của thung lũng. 5-7 Theo tình hình định vị các địa danh và các dân tộc thì quân xâm lăng đến từ phương đông này dường như đã tràn xuống miền nam bằng cách vượt qua Giô-đanh ngày nay, từ Ách-tê-rót ở phía bắc đến Ên Ba-ran (có lẽ là Ê-li-át) nằm ở đầu vịnh Aquaba. Sau đó họ hướng về phía tây bắc, băng qua bán đảo Si-na-i đến Ca-đe Ba-nê-a. 10 Nhựa chai. Dầu thô trào ra trên mặt đất trong miền nam Biển Chết và người ta có thể đào lên để khai thác. 13 Mam-rê và Ếch-côn là tên riêng của hai người đồng minh với Áp-ram, nhưng cũng là tên của hai nơi gần Hếp-rôn. 14 Đan là một vùng ở cực bắc của Y-sơ-ra-ên và có người của chi phái Đan cư trú (Cac 18:29). 15 Không định vị được Hô-ba. Đa-mách là thủ đô Sy-ri. 17 Thung lũng Sa-ve có thể là ‘Thung lũng của Vua’ ở phía nam Giê-ru-sa-lem (IISa 18:18).

5. Lời hứa giao ước (Sa 15:1-21)

(Sa 15:1-12). Hoàn cảnh của Áp-ram cũng không khá hơn sau khi chiến thắng các vua đông phương. Mặc dù Đức Chúa Trời đã hứa, nhưng ông vẫn chưa sở hữu một thửa đất nào, cũng chưa có lấy một mụn con. Lót, người cháu mà ông hi vọng sẽ thừa kế ông, lại sống ở Sô-đôm, ngoài vùng đất hứa. Người khả dĩ sẽ thừa kế ông có lẽ là người đầy tớ Ê-li-ê-se.

Do đó Đức Chúa Trời phán với Áp-ram với chủ ý giải toả nỗi thất vọng này, ‘Hỡi Áp-ram, người chớ sợ chi ... phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn’. Thế là Áp-ram được khích lệ trình bày với Đức Chúa Trời nỗi thất vọng, buồn chán của mình. Những lời chân thành của Áp-ram không khiến Đức Chúa Trời nổi giận mà khiến Ngài tái xác quyết và củng cố những lời hứa ban đầu. Ông sẽ là cha của một người con trai (4), và dòng dõi ông sẽ đông như sao trên trời (5).

Áp-ram tiếp nhận lời xác quyết của Đức Chúa Trời, ông tin nơi Đức Giê-hô-va (6). Động từ được dùng ở dạng diễn tả một hành động liên tục, tức là ông cứ tin nơi lời hứa, cứ tiếp tục trông cậy nơi Đức Giê-hô-va. Vì vậy Đức Chúa Trời kể ông là công bình. Công bình là tình trạng của một người được Đức Chúa Trời chấp nhận, xuất phát từ sự vâng theo luật pháp cách trọn vẹn. Trong Sáng Thế Ký, rõ ràng Áp-ram không đạt những yêu cầu của luật pháp. Tuy nhiên ở đây ông tin nơi lời hứa của Đức Chúa Trời về một người con nên ông được kể là công bình. Đối với Phao-lô, hành động này cho thấy đức tin chứ không phải công việc là điều kiện tiên quyết để Đức Chúa Trời chấp nhận (Ga 3:6-14). Gia 2:18-24 và He11:8-9 vạch ra rằng những việc làm tốt của Áp-ra-ham đã chứng minh rằng ông có đức tin thật. ‘Đức tin dẫn đến hành động’ là trung tâm điểm của những sự hiểu biết của Cơ Đốc nhân về sự cứu chuộc và về nếp sống công nghĩa chính trực.

Chắc chắn đức tin của Áp-ram không thụ động. Ông hỏi lại để biết chắc ‘... làm sao tôi có thể biết?’. Không có chỗ nào trong Kinh Thánh lên án những người chân thành thắc mắc hoặc thành tâm muốn biết chắc chắn. Trong trường hợp này, Áp-ram nhận được một khải tượng về vận mệnh của dòng dõi ông trong một tương lai xa ở tại xứ này. Trước hết ông giết năm con thú làm của lễ, tượng trưng cho dân Y-sơ-ra-ên và sau đó ông đuổi bầy chim đáp xuống ăn xác những con sinh tế này. Khi hoàng hôn buông xuống, ông thấy một lò lớn bốc khói lên và một ngọn lửa loè ngang qua xác mổ đôi của các con sinh tế, chi tiết này tượng trưng rằng Đức Chúa Trời đồng hành với dân Y-sơ-ra-ên trong trụ mây và trụ lửa khi họ đi từ Ai Cập đến Ca-na-an (Xu 14:24). Câu 13-16 củng cố cho lời bình giải trên đây về các con sinh tế, vì mấy câu này cũng tiên tri về thời kỳ nô lệ ở Ai Cập và sau đó là cuộc xuất Ai Cập. Đây là lần đầu tiên Đức Chúa Trời bày tỏ rõ rằng thời gian Ngài hoàn thành lời hứa là rất dài. Sau mười năm kể từ khi Đức Chúa Trời hứa (so sánh Sa 12:4 và 16:6) chẳng mấy điều được thành tựu, Áp-ram bắt đầu mất kiên nhẫn, trong khi Đức Chúa Trời dự định thời gian thành tựu là 400 năm (c.13). IIPhi 3:3-10 khuyên các Cơ Đốc nhân không nên ngạc nhiên khi các lời hứa chỉ được thành tựu sau một thời gian dài hơn mong đợi của chúng ta.

Chú giải. 2 Kẻ kế nghiệp ... người Đa-mách là một câu khó, nhưng cách dịch của NIV cũng tốt như những cách dịch khác. 16 Ở đây dân A-mô-rít bao gồm tất cả những cư dân ở Ca-na-an. Dân Y-sơ-ra-ên chỉ có thể chinh phục xứ khi tội lỗi của dân A-mô-rít đáng bị trừng phạt. Nếu ban xứ cho Áp-ra-ham thì hoá ra gây chuyện bất công. Lời hứa chỉ thành tựu khi khớp với một trường hợp trong đó lẽ công bình được áp dụng đàng hoàng đầy đủ (so với Le 18:24-27  Phu 9:4-5). 19-21 Đây là một bản liệt kê dài nhất về các dân cư ở xứ Ca-na-an trước dân Y-sơ-ra-ên, chỉ có thể xác định một vài dân tộc trong số này (xem phần bình giải của Sa 10:15-19).

6. Ích-ma-ên ra đời (Sa 16:1-16)

Có lẽ Áp-ram sẵn sàng chờ đợi Đức Chúa Trời hoàn thành lời hứa của Ngài về một người con nhưng Sa-rai không chờ đợi được. Tuyệt vọng vì son sẻ, Sa-rai quyết định áp dụng hình thức thay mặt trong cuộc hôn nhân. Đây là một tục lệ được tôn trọng trong những xã hội có văn hoá ở vùng Cận Đông thời xưa. Một đứa con do người tớ gái với ông chủ sinh ra có thể xem như là con của người vợ chính nếu bà ấy không có đứa con nào.

Thời xưa, nhiều người không thấy hình thức thay mặt trong cuộc hôn nhân là sai quấy. Và cho tới nay, người ta vẫn còn tranh luận trong vấn đề này. Nhưng rõ ràng,Sáng Thế Ký không đồng ý tục lệ này. Sa-rai trách Đức Chúa Trời về sự son sẻ của bà cho thấy động cơ của bà là không đúng. Câu 3-4 vang vọng lại sự sa ngã (3:6), hàm ý về tội lỗi, và cuối cùng sự tự phụ của A-ga và sự giận dữ của Sa-rai chứng tỏ kế hoạch này không phải của Đức Chúa Trời.

Tuy nhiên dù con người có dại dột, lòng thương xót của Đức Chúa Trời vẫn làm nảy sinh những điều tốt đẹp. Đang lang thang đây đó sau khi trốn khỏi nhà chủ, A-ga gặp thiên sứ của Đức Giê-hô-va. Đức Chúa Trời thường hiện ra trong hình dạng loài người vào những lúc con người rơi vào những cơn khủng hoảng để bảo đảm rằng họ chắc chắn được cứu thoát. Đức Chúa Trời bảo đảm với A-ga rằng dòng dõi của bà sẽ đông đúc đến nỗi không đếm được như Ngài đã nói với Áp-ram trước đó (13:6). Tên của con trai bà sẽ là Ích-ma-ên (nghĩa là ‘Đức Chúa Trời có nghe’), và ông sẽ sống du cư, là nếp sống điển hình của người dân Ích-ma-ên về sau (11-12). A-ga buộc lòng trở về ở với Sa-rai và đến kỳ bà sanh một con trai. Nhưng nếu trước kia Sa-rai có kỳ vọng rằng đứa bé đó sẽ là con của mình, thì câu 15-16 xác định rõ rằng Ích-ma-ên là con trai của A-ga và Áp-ram chứ không phải con của Sa-rai. Kế hoạch của bà đã không đem lại cho bà một đứa con. Nhưng Ích-ma-ên có phải là con của lời hứa cho Áp-ram không? Chúng ta đành cứ phân vân thắc mắc thôi. Nhưng theo 17:8 thì Áp-ram kết luận rằng Ích-ma-ên là đứa con mà Đức Chúa Trời đã hứa.

Chú giải. 7 Vị trí của Su-rơ còn trong vòng bàn cãi nhưng đường đi về Su-rơ là một trong những con đường dẫn đến Ai Cập băng qua bán đảo Si-na-i. A-ga đang trên con đường trở về Ai Cập, quê hương của bà (1). 13 Tiếng Hi Bá Lai trong câu ‘Bây giờ tôi đã nhìn thấy Đấng nhìn thấy tôi’ (tức là ‘chăm sóc tôi’) là một câu khó và dẫn tới nhiều dạng hiệu đính và phiên dịch. Bản dịch NIV cũng tốt như những bản khác. Đó là một cách bày tỏ lòng biết ơn xen lẫn sự kinh ngạc vì Đức Chúa Trời đã chăm sóc con người trong tình huống éo le nhất (Thi 139:1-2). 14 Ca-đe xem Sa 14:7, nhưng vị trí của Bê-re thì không rõ.

7. Giao ước về phép cắt bì (Sa 17:1-27)

Chương này là một bước rẽ trong câu chuyện về Áp-ra-ham, đánh dấu một khúc quanh rất có ý nghĩa. Tác giả áp dụng mọi cách để vạch rõ tầm quan trọng của chương này. Một mặt thời gian được ghi rất chi tiết, rõ ràng. Hàng loạt mốc thời gian (16:16  17:1,17,24) đã làm cho phần này trở nên đặc biệt như câu chuyện về trận đại hồng thuỷ cũng được đánh dấu bằng hàng loạt mốc thời gian vậy. Nổi bật hơn hết là việc đổi tên của Áp-ram và Sa-rai thành hai tên thân thuộc hơn là Áp-ra-ham và Sa-ra. Năm lời phán dài của Chúa (1-2,4-8,9-14,15-16,9-21) giải thích chi tiết về những lời hứa trong giao ước được sắp xếp theo cấu trúc A-B-C-B-A đã làm cho chương này trở nên đặc biệt trong câu chuyện về Áp-ra-ham. Kể từ đây trở đi những lời phán của Chúa trong sách này hiếm đi. Nhưng những lời phán này không những bàn rộng các lời hứa trong giao ước mà còn nói đến sự thiết lập giao ước và phê chuẩn giao ước (7,19) đồng thời nói đến dấu cắt bì biểu hiện cho tính cách không thay đổi của giao ước (9-14).

Phần này bắt đầu bằng một câu nhắc đến quãng thời gian kể từ khi Ích-ma-ên ra đời, khoảng mười ba năm (so sánh 16:6 và 17:1). Trong suốt thời gian này Sa-rai mất hết mọi hi vọng được làm mẹ (18:11), và Áp-ram cũng chấp nhận ý tưởng Ích-ma-ên là đứa con của lời hứa (18). Tuy nhiên hầu như ngay lập tức Đức Chúa Trời lại bắt đầu bàn rộng về những lời hứa của Ngài. Áp-ram không chỉ trở thành một ‘dân lớn’ (12:2) mà còn là cha của nhiều dân tộc (c.5). Để làm chứng, tên ông được đổi từ ‘Áp-ram’ nghĩa là ‘cha cao quí’ thành một ‘Áp-ra-ham’, một biến dạng của tên cũ. Mặc dù người ta không biết rõ có từ ra-ham nào nghĩa là nhiều nhưng chắc là tiếng Semic có một từ như vậy nên mới có thể đổi tên của ông theo dạng này.

Đức Chúa Trời cũng hứa thêm rằng giao ước này mãi mãi có hiệu lực và dòng dõi của ông sẽ sở hữu toàn xứ Ca-na-an (c.8). Đây là lần đầu tiên đất hứa được xác định rõ ràng (12:5). Trong lần này cốt lõi của giao ước cũng được xác định rõ ràng nhất, Ta sẽ ... là Đức Chúa Trời của ngươi. Áp-ra-ham và dòng dõi của ông ở trong mối quan hệ duy nhất với Đức Chúa Trời. Dòng dõi của Áp-ra-ham được kể gộp chung trong giao ước cũng là một điều mới trong chương này.

Cắt bì tức là cắt da qui đầu của người nam là dấu chứng của giao ước này. Tất cả những người nam trong nhà Áp-ra-ham, dù là người tự do hoặc nô lệ đều phải chịu cắt bì. Những ai không chịu cắt bì sẽ bị truất đi (c.14), tức là sẽ bị chết yểu và chết bí ẩn. Cắt bì là một tục lệ khá phổ biến trong vùng Cận Đông cổ nhưng chỉ có Cựu Ước mới gán cho cắt bì một ý nghĩa như vậy, biến cắt bì thành một dấu chứng về địa vị của dân Y-sơ-ra-ên trong giao ước.

Những lời hứa này rất đặc biệt nhưng đến bây giờ thì hóa ra rất lạ lùng. Tên của Sa-rai được đổi thành Sa-ra (cả hai từ đều có nghĩa là ‘công chúa’) là dấu hiệu báo trước rằng bà sẽ có con trong lúc đã cao tuổi. (Mặc dù con số 100 và 90 không phải là số tuổi của Áp-ra-ham và Sa-ra theo nghĩa đen nhưng ít ra hai con số đó cũng cho biết rằng họ đã quá tuổi sinh sản theo thói thường (18:11). Vì hoài nghi nên Áp-ra-ham cầu xin cho Ích-ma-ên làm đứa con của lời hứa nhưng Đức Chúa Trời khẳng định rằng người con được tuyển chọn sẽ do Sa-ra sinh ra và được gọi là Y-sác. Tuy nhiên, Ích-ma-ên cũng không bị bỏ rơi.

Cuối cùng, sau khi nhận được sự khải thị chưa từng có của Đức Chúa Trời về mục đích của Ngài, Áp-ra-ham nhanh chóng hành động cắt bì cho mình, cho Ích-ma-ên và tất cả những người nam trong nhà của ông. Lần này (cũng như lần trước trong 12:4-9), ông hoàn toàn vâng theo sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dù thể xác phải chịu đau. Còn một lần nữa ông sẽ phải hành động trong tinh thần vâng phục dù rất đau lòng. Nhưng Đức Chúa Trời sẽ đòi hỏi hành động đó để làm dấu ấn cho giao ước một lần đủ cả (chương 22).

Chú giải. 1 Đức Chúa Trời Toàn Năng (tiếng Hi Bá Lai là El Shaddai), cũng như ‘Đức Chúa Trời Chí Cao’ (tiếng Hi Bá Lai là El Elyon, 14:9) là một trong những danh xưng của Đức Chúa Trời trong Sáng Thế Ký trước thời Môi-se. Chúng ta không biết đích xác ý nghĩa của danh xưng đó. Nhưng danh xưng này luôn đi kèm với những lời hứa của Đức Chúa Trời về con cái (28:3  35:11  43:14  48:3). (19) Y-sác nghĩa là ‘Ngài - tức Đức Chúa Trời - cười, mỉm cười’ (17:17 ‘ông ấy cười’). Tên riêng này biểu lộ nỗi hân hoan của cha mẹ khi sanh một cậu con trai. Cũng như tên riêng Ích-ma-ên và Gia-cốp, Y-sác cũng là một tên riêng cổ đặc trưng của thiên niên kỷ thứ hai.

8. Thành Sô-đôm bị tiêu hủy (Sa 18:1-19:38)

Trong cuộc đời của Áp-ra-ham từ đầu chí cuối không có một giai đoạn nào được mô tả đầy đủ hơn giai đoạn này. Như vậy chứng tỏ phần này rất có tầm quan trọng đối với người thuật chuyện. Tuy nhiên, mới nhìn chuyện huỷ diệt Sô-đôm có vẻ không liên quan đến sự hoàn thành những lời hứa dành cho Sa-ra. Đồng ý là phần mở đầu về chuyện các thiên sứ đến thăm Áp-ra-ham và Sa-ra đồng thời loan báo rằng, mặc dù gián tiếp, bà sẽ có một con trai. Tuy nhiên, phần còn lại của câu chuyện không góp phần xây dựng chủ đề về lời hứa nữa.

Nhưng đặc biệt rõ là câu chuyện này tương ứng với chuyện đại hồng thuỷ nhiều hơn. Trong cả hai chuyện đều có một người công bình và gia đình của ông được thoát khỏi sự huỷ diệt toàn cầu nhờ sự can thiệp của Đức Chúa Trời. Cả hai câu chuyện đều có phần phụ lục ngắn kể về người cha say rượu bị con cái làm nhục (Sa 9:20-27  19:30-38). Cả hai câu chuyện được bố cục theo phép ‘tháp chóp nhọn’ (palistrophes) hoặc phép ‘phản chiếu’ (mirror-images) (xem phần bình giải của 6:9-9:29).

A Áp-ra-ham nhìn về hướng Sô-đôm (18:16)

A1 Lót nhìn về hướng Sô-đôm (19:17-18)

B Đức Chúa Trời nghĩ về Sô-đôm (18:17-21)

B1 Sô-đôm bị huỷ diệt (19:23-26)

C Áp-ra-ham cầu thay cho Sô-đôm (18:22-23)

C1 Lót cầu xin cho Xoa (19:17-22)

D Các thiên sứ đến Sô-đôm (19:1-3)

D1 Rời khỏi Sô-đôm (19:15-16)

E Lót và thiên sứ bị tấn công (19:4-11)

E1 Các con rể của Lót từ chối (19:14)

F Tuyên án huỷ diệt Sô-đôm (19:12-13)

Câu chuyện về sự hủy diệt Sô-đôm có quan hệ như thế nào đến chủ đề chính của Sáng Thế Ký, tức là hoàn thành những lời hứa cho Áp-ra-ham? Trước hết, câu chuyện cho thấy mức độ thân mật giữa Áp-ra-ham và Đức Chúa Trời. Chính Chúa đã cho Áp-ra-ham biết ý định của Ngài đối với Sô-đôm. Nhờ đó Áp-ra-ham được thúc giục cầu thay cho những người công bình ở thành đó. Chúa chấp nhận lời cầu thay của ông, nếu Ngài tìm thấy trong thành có mười người công bình, Ngài sẽ tha cả thành. Nhưng thật đáng tiếc chỉ có Lót là người công bình duy nhất. Mức độ gian ác của tất cả những người khác đã thể hiện qua việc tất cả những người nam già, trẻ trong thành hùa nhau vây nhà của Lót (19:4). Nhưng Chúa đã nghe lời cầu nguyện của Áp-ra-ham và giải cứu Lót khỏi thành (19:29). Đáng lẽ thành Sô-đôm được phước qua Áp-ra-ham (12:3) nhưng chính những hành vi tội lỗi của họ đã cắt đứt hoàn toàn sự thương xót của Đức Chúa Trời dành cho họ.

Thứ hai, trong Sa 14:21 cho thấy dấu hiệu báo trước về sự huỷ diệt Sô-đôm - vua Sô-đôm tỏ ra khinh miệt Áp-ra-ham là chuốc lấy tai hoạ cho tương lai. Vì 12:3 đã cảnh cáo rằng ai khinh miệt Áp-ra-ham sẽ bị rủa sả. Không công nhận Áp-ra-ham là người được tuyển chọn của Đức Chúa Trời là một tai hoạ (Mac 3:22-30). Mặc dù Lót được cứu khỏi sự huỷ diệt kinh khiếp của thành Sô-đôm nhờ lời cầu nguyện của Áp-ra-ham, nhưng đời của ông kết thúc trong cảnh thảm hại. Đó là chung cuộc của một quyết định phân rẽ khỏi Áp-ra-ham để hoà mình vào cuộc sống hào nhoáng của thành Sô-đôm. Qua chuyện này, Sáng Thế Ký mô tả hậu quả tệ hại khi lựa chọn con đường của bản ngã thay vì hết lòng hòa hiệp với Đức Chúa Trời và những tôi tớ được chọn của Ngài.

Cuối cùng sự hủy diệt Sô-đôm như gióng lên hồi chuông cảnh cáo về những việc sẽ xảy ra cho toàn thể dân Ca-na-an nếu họ cứ khăng khăng theo con đường tội lỗi của họ. Cựu Ước quả quyết rằng dân Y-sơ-ra-ên chiến thắng họ và thay thế họ sống trong xứ Ca-na-an vì chính sự gian ác của họ (Sa 15:16  Le 18:24-28  20:22-24). Do đó sự huỷ diệt Sô-đôm là một dấu bảo đảm trước về sự chinh phục Ca-na-an và về sự hoàn thành lời hứa dành một xứ cho Áp-ra-ham. Nhưng Kinh Thánh Tân Ước xem sự huỷ diệt tương tự như trận đại hồng thuỷ, nghĩa là nhắm đến toàn thể nhân loại. Chúa Giê-xu cảnh cáo rằng thành nào không hưởng ứng sự giảng dạy của Ngài (Mat 11:20-24) sẽ chịu hình phạt nặng hơn Sô-đôm. Sách Khải Thị lấy sự kiện trong Sáng Thế Ký 19 làm hình bóng để mô tả sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên tất cả những thành phố và những dân tộc chống lại Đấng Christ (Kh 11:8).

(Sa 18:1-15). Sa-ra nghe báo tin về sự ra đời của Y-sác.

Sự lặp lại lời hứa về Y-sác ra đời không phải là thừa. Trong Sa 17:19 chỉ có Áp-ra-ham nghe báo tin này, bây giờ Sa-ra cũng cần biết tin (câu 10) vì rõ ràng Áp-ra-ham đã không báo tin đó cho bà. Báo hai lần cùng một tin cũng như cho thấy chiêm bao hai lần cùng một nội dung (41:32) nhằm nhấn mạnh sự việc chắc chắn sẽ xảy ra dứt khoát, đúng kỳ ấn định trong một năm nữa.

Chú giải. 1 Mam-rê gần Hếp-rôn, cách Giê-ru-sa-lem 32 km (20 dặm) về phía nam. 2-8 Mối quan tâm của Áp-ra-ham dành cho khách là gương mẫu hiếu khách ở Đông Phương, đó là một nét đặc trưng mà Đức Chúa Trời muốn thấy thể hiện nơi tất cả dân sự của Ngài (He 13:2). Trong Kinh Thánh, các thiên sứ thường hiện ra như một người bình thường, nhưng sau đó lời nói và việc làm của họ chứng tỏ họ không phải là con người. Một trong ba thiên sứ có lẽ là thiên sứ của Đức Chúa Trời, tức là chính Đức Chúa Trời (22) còn hai thiên sứ kia tiếp tục đi đến Sô-đôm (Sa 19:1) là phụ tá của Ngài.

(Sa 18:16-33). Áp-ra-ham cầu thay cho -đôm.

Chính vì Đức Chúa Trời đã chọn Áp-ra-ham nên nay Ngài bày tỏ kế hoạch của Ngài với ông (17-20). Ở đây, Áp-ra-ham được mô tả trong vị thế một tiên tri lớn, một người biết những bí mật của Đức Chúa Trời và chuyển sự hiểu biết của mình thành lời cầu thay cho dân của mình (ISa 12:23 Am 3:7). Chẳng những Áp-ra-ham cầu thay cho người thân của ông mà ông còn cầu thay cho cả thành là những người đã đối với ông rất tệ bạc (Mat 5:44).

Chú giải. 21 Các thiên sứ viếng thăm Sô-đôm (Sa 19:1-3) để xác định sự gian ác nổi tiếng của dân cư.

(Sa 19:1-26). Gia đình của Lót được cứu khỏi -đôm.

1-3 Lót đón tiếp những vị khách nồng hậu y như Áp-ra-ham (18:2-8) dù Kinh Thánh mô tả phần này ngắn gọn hơn. Chẳng ai tiếp đón khách lạ ngoài Lót là điềm xấu.

4-11 Chẳng bao lâu, chính dân Sô-đôm tự chứng minh sự gian ác nổi tiếng của mình. Thay vì tiếp đón khách, họ (chú ý là tất cả những người đàn ông của thành này) đều muốn cưỡng hiếp các vị khách đó. Bọn đồng tính luyến ái dám đòi cưỡng hiếp khách lạ trong một bối cảnh như vậy là một sự miệt thị nặng nề quá sức tưởng tượng đối với những tục lệ tiếp đãi khách lạ ở Đông Phương. Các xã hội thời cổ thường bỏ qua quan hệ tình dục đồng giới giữa những người thông dâm thành niên, nhưng luôn luôn lên án chuyện hãm hiếp, đặc biệt hãm hiếp khách, là dứt khoát sai quấy. Lòng tận tâm của Lót đối với các vị khách được thể hiện qua việc ông hiến hai con gái của mình để cứu khách. Nhưng may mắn thay, sự hiến dâng không đúng đắn của ông bị những người đó khước từ. Các thiên sứ phải làm cho họ bị mù tạm thời.

14 Như bản NIV đã nói rõ, không biết theo tiếng Hi Bá Lai từ con rể có nghĩa là đã làm lễ cưới hoặc chỉ mới đính hôn. Một lần nữa, người Sô-đôm chỉ có thể tự trách khi bị huỷ diệt vì họ đã bác bỏ lời khuyên của Lót là bỏ thành trốn chạy.

16-26 Ngay cả Lót và gia đình ông cũng không đánh giá được tình hình khẩn cấp như thế nào nên các thiên sứ phải lôi họ ra khỏi thành. Vùng Biển Chết hiện nay vẫn còn sặc mùi lưu huỳnh và những tảng đá hình thành trong dáng kỳ lạ gợi nhớ cái chết của vợ Lót, là người gắn bó với Sô-đôm hơn (Lu 17:32).

(Sa 19:30-38). Các con gái của t.

Những câu này mô tả kết cuộc hết sức thảm thương của một người công bình sống thoả hiệp với thế gian. Do đặt lòng ao ước có con lên trên luật lệ (vì hành động của họ vi phạm luật lệ về sự loạn luân lẫn bổn phận làm con), các con gái của Lót đã dùng mưu mẹo để ăn nằm với ông. Đây là nguồn gốc của dân A-môn và Mô-áp, hai dân tộc láng giềng gần nhất của Y-sơ-ra-ên. Người Am-môn sống ở phía đông sông Giô-đanh và người Mô-áp sống ở phía đông bắc của Biển Chết (Dan 21:24).

9. Sa-Ra và A-Bi-Mê-Léc (Sa 20:1-18)

Những hành động thánh thiện của Áp-ra-ham trong chương 18 tương phản với những hành vi hèn nhát gian trá trong chương này đến độ độc giả nào cũng phải sửng sốt. Nếu khi ở Ai Cập (Sa 12:10-20) ông sợ hãi thì ta còn có thể thông cảm, dù không thể biện minh, nhưng nay ở Ghê-ra, một thành nhỏ, nép trong góc phía đông nam xứ Ca-na-an (10:19) ông vẫn lập lại những chuyện dối trá về vợ của mình thì còn ai có ý kiến gì được nữa? Sau khi tương giao thân thiết với Đức Chúa Trời trong chương 18 tại sao ông lại có vẻ mất lòng tin nơi sự bảo vệ thiên thượng để nhờ cậy vào sự dối trá của ông? Trong khi đó, chúng ta thấy dân Ghê-ra cư xử khác xa dân Sô-đôm. A-bi-mê-léc quả quyết ông hành động với động cơ trong sạch và ông tỏ ý muốn làm vừa lòng Đức Chúa Trời. Vì vậy chúng ta học tập được rằng Áp-ra-ham không luôn luôn thánh thiện như trong chương 18, và không phải tất cả các dân tộc ở Ca-na-an đều gian ác như Sô-đôm. Trong thực tế cuộc sống thường là một sự tổng hợp của những điều tương phản - sự thánh sạch hoàn toàn hoặc sự gian ác cực điểm chỉ có trong tiểu thuyết.

Tuy nhiên mặc dù Áp-ra-ham có sai lầm, Đức Chúa Trời vẫn bảo vệ ông và Sa-ra, làm cho họ giàu có, ban cho họ những quyền lợi rộng rãi (c.15). Hơn nữa, Ngài còn nhậm lời cầu nguyện của Áp-ra-ham, chữa lành sự son sẻ cho A-bi-mê-léc và những người vợ của ông (17-18). Dù Áp-ra-ham sa ngã, những lời hứa vẫn cứ được thành tựu. Nhưng nếu Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện của Áp-ra-ham và chữa lành sự son sẻ cho những người vợ của A-bi-mê-léc, thế còn Sa-ra thì sao? Có phải là bà sẽ có con như đã hứa không?

Chú giải. 1 Từ đó, tức là Mam-rê (18:1). Về Ca-đe xin xem 14:7, và về Su-rơ xin xem 16:7. Ở đông phương thời cổ đại, tội thông dâm bị xử tử hình (Le 20:10  Phu 22:22). 5 Tội lỗi của người lãnh đạo gây hậu quả cho dân của họ (IISa 24:1-20). 12 Luật pháp trong Kinh Thánh sau này cấm kết hôn với chị, em ruột hoặc cùng mẹ khác cha, cùng cha khác mẹ (Le 18:9,11).

10. Y-Sác và Ích-Ma-Ên chia rẽ nhau (Sa 21:1-21)

Việc Y-sác ra đời được mô tả ngắn gọn một cách đáng ngạc nhiên so với những phần viết về tình trạng son sẻ của Sa-ra. Tuy nhiên câu Đức Giê-hô-va đã làm như lời Ngài hứa được lập lại ba lần trong các câu 1-2 tỏ ra sự ra đời này rất có ý nghĩa. Nếu không có một con trai thì những lời hứa về lâu về dài dành cho Áp-ra-ham về chuyện sở hữu đất đai, dòng dõi đông đúc hoặc làm nguồn phước cho các dân tộc không thể hoàn thành được. Sự kiện một cặp vợ chồng già nua khác thường sinh hạ một cậu con trai chứng tỏ rằng những lời hứa của Đức Chúa Trời là đáng tin cậy và cũng chứng tỏ rằng không có gì khó quá cho Đức Giê-hô-va (Sa 18:14). Như đã được chỉ dẫn (17:12), Áp-ra-ham cắt bì cho Y-sác vào ngày thứ tám sau khi ra đời.

Cái cười của Sa-ra biểu lộ niềm hân hoan của bà khi Y-sác ra đời và cũng rất thích hợp với tên của ông (‘Y-sác’ nghĩa là ‘ông ấy cười’ 17:19). Nhưng đáng tiếc là niềm vui của bà biến thành sự cáu kỉnh khi thấy Ích-ma-ên chế nhạo (tức là isaacing theo nghĩa đen) Y-sác. Chúng ta hoàn toàn không rõ Ích-ma-ên đã làm gì (lúc này tối đa Ích-ma-ên được mười lăm tuổi. Trong thời Kinh Thánh, khi trẻ hai, ba tuổi mới cai sữa). Tuy nhiên dường như Ích-ma-ên chế giễu Y-sác về địa vị làm người thừa kế của Áp-ra-ham. Do đó cậu phạm vào tội ‘khinh thị’ Áp-ra-ham và người thừa kế của ông, và như câu chuyện về vua Sô-đôm đã làm chứng, tội này rất nghiêm trọng (12:3  14:21). Vì vậy Đức Chúa Trời chấp nhận yêu sách giận dữ của Sa-ra là đuổi Ích-ma-ên đi (10-12). Tuy nhiên Áp-ra-ham rất yêu mến Ích-ma-ên (17:18) và ông đã nổi giận (bản NIV dịch rất buồn phiền là diễn tả đúng mức cảm xúc của ông) đối với đề nghị của Sa-ra (12). Chỉ đến khi Đức Chúa Trời xác quyết rằng chính Ích-ma-ên cũng sẽ nên một dân lớn Áp-ra-ham mới chịu để cho A-ga và Ích-ma-ên ra đi, và ông cho họ bánh và nước tuỳ thích.

Chẳng bao lâu lương thực cạn kiệt, hai mẹ con lạc đường và sắp chết. Ích-ma-ên bắt đầu cầu nguyện, có lẽ ông hối hận hành vi của mình là lý do khiến ông bị đuổi khỏi nhà. Lời cầu nguyện của ông đã được nhậm, một thiên sứ của Đức Chúa Trời (16:7-11) gọi A-ga, lặp lại những lời hứa (18) và chỉ cho bà một cái giếng. Kết quả là họ được cứu sống. Một lần nữa ý nghĩa tên riêng Ích-ma-ên (‘Đức Chúa Trời có nghe’) đã được chứng minh và cũng cho thấy Đức Chúa Trời sẵn sàng đáp lời cầu nguyện của những người rơi vào tình cảnh khốn khó vì cớ sự dại dột của chính mình, miễn là họ quay về với Ngài trong tinh thần ăn năn. Trong khi đó, địa vị của Y-sác là người con độc nhất được củng cố và qua ông những lời hứa sẽ thành tựu.

Chú giải. 14 Bê-e-sê-ba cách Giê-ru-sa-lem 80 km (50 dặm) về phía nam. 21 Đồng vắng Pha-ran, một sa mạc lớn nhất phía nam Ca-na-an, bao trùm phần lớn bán đảo Si-na-i, Nê-ghép và Arabah.

11. Hiệp ước với A-Bi-Mê-Léc (Sa 21:22-34)

Hiệp ước lập với A-bi-mê-léc (chương 20) đánh dấu một bước nhỏ nhưng có tính cách quyết định về sự thành tựu của lời hứa. Theo hiệp ước đó, Áp-ra-ham có quyền trên một cái giếng ở gần Bê-e-sê-ba. Đối với một người chăn thú vật hoàn toàn lệ thuộc vào một nơi bảo đảm có nước cho bầy súc vật uống thì đây là sự cung ứng quan trọng nhất. Đây là nơi cắm dùi đầu tiên mà Áp-ra-ham đã đạt được trong xứ Ca-na-an. Để bày tỏ lòng biết ơn Đức Chúa Trời, Áp-ra-ham trồng một cây me và thờ phượng Đức Chúa Trời (c.33).

Chú giải. 22 Không rõ sự kiện này liền theo sau 20:18  21:7 hoặc 21:21. 23 A-bi-mê-léc đề nghị một hiệp ước với Áp-ra-ham và sau đó (25-30) Áp-ra-ham lợi dụng cơ hội này giành được quyền sở hữu của cái giếng mà đám thợ chăn chiên của ông đã đào. 31 Bê-e-sê-ba theo NIV nghĩa là ‘giếng bảy con chiên’ hoặc là ‘giếng thề nguyền’.

12. Dâng Y-Sác làm của lễ (Sa 22:1-24)

Đây là một đoạn văn vừa gây xúc động mạnh mẽ nhất vừa nặng ý nghĩa thần học nhất trong Sáng Thế Ký. Dâng Y-sác làm của lễ là mạng lịnh nghe thật tàn nhẫn, con đường hiu quạnh dẫn lên núi nơi hai cha con Áp-ra-ham lầm lũi đi đến chỗ dâng của lễ trông thật buồn thảm, rồi việc trói con cho thật chặt, đặt con lên bàn thờ trông thật đau xót, và vào giây phút chót, sự can thiệp bất ngờ từ trời, tất cả những yếu tố này khiến cho đoạn này trở thành một trong những câu chuyện hay nhất trong văn chương thế giới. Nhưng còn hơn thế nữa, đây là cuộc thử thách cuối cùng và lớn nhất về đức tin của Áp-ra-ham, có thể so với sự kêu gọi ban đầu bảo ông bỏ quê hương và gia đình ra đi (so sánh câu 2 với 12:1). Mặc dù câu 1 cho chúng ta biết đây là một sự thử thách nhưng đối với Áp-ra-ham, mạng lịnh của Đức Chúa Trời thật sự là một lịnh truyền phải làm theo. Trên phương diện tình cảm và thần học thì đây là một việc khủng khiếp vì tất cả những lời hứa và phước hạnh đều thành tựu qua Y-sác. Áp-ra-ham bị xâu xé giữa tình yêu thương dành cho con và sự vâng lời Đức Chúa Trời khi ông đứng trước một sự chọn lựa gay go. Từng bước một đức tin và hi vọng khắc phục được sự sợ hãi và nghi ngờ để ông có thể giơ dao lên định đâm giết con mình. Trong việc này, ông đã chứng tỏ rằng ông sẵn sàng đặt sự kêu gọi của Đức Chúa Trời lên trên mọi cam kết và mọi ràng buộc trong tình cảm, và cũng đúng vào lúc này cuộc thử thách kết thúc. Ông thành công rực rỡ trong thử thách này. Một con chiên đực dùng làm của lễ thế cho Y-sác và thiên sứ tuyên bố rằng hành động vâng lời của Áp-ra-ham đã thay đổi tính cách của những lời hứa. Nay những lời hứa đó biến thành những lời thề bảo đảm cho ông một dòng dõi đông đúc, sự chiếm xứ, và phước hạnh cho ông rồi qua ông phước hạnh cho tất cả các dân tộc trên thế giới.

Câu 16-18 là những lời cuối cùng Đức Chúa Trời đã phán với Áp-ra-ham trong Sáng Thế Ký. Đừng vội coi nhẹ ý nghĩa của những lời này. Từ bây giờ trở đi, không còn nghi ngại về thành tựu lời hứa nữa. Sự vâng lời của Áp-ra-ham thúc giục Đức Chúa Trời bảo đảm những lời hứa của Ngài bằng một lời thề.

Tuy nhiên, đối với Tân Ước, trong việc dâng Y-sác làm của lễ ngoài tấm gương cao cả của một người quyết tâm vâng phục Đức Chúa Trời hoàn toàn (He 11:17-19) còn có hình ảnh của tình yêu thương trong tinh thần hi sinh của Đức Chúa Trời. Như Áp-ra-ham dâng con trai độc nhất của mình làm sinh tế thì Đức Chúa Cha cũng ‘không tiếc chính con Ngài’ vì thế gian (Ro 8:32  Gi 3:16). Trong việc Y-sác hoàn toàn đầu phục ý muốn của Áp-ra-ham, chúng ta cũng thấy hình ảnh đầu phục của Con khi Con cầu nguyện rằng ‘Lạy Cha ... không theo ý con nhưng ý Cha được nên’ (Lu 22:42).

(Sa 22:20-24). Vì tương lai của Y-sơ-ra-ên đã được bảo đảm (c.17), giờ đây câu chuyện hướng cái nhìn xa hơn cho cho chúng ta thấy gia phả của người vợ tương lai của Y-sác là Rê-bê-ca. Như trong chương 24 sẽ nói rõ, Đức Chúa Trời sắp xếp mọi sự. Bản gia phả ngắn gọn này cho thấy Đức Chúa Trời cung cấp cho chúng ta trước khi chúng ta nhận ra nhu cầu của mình (Mat 6:25-34).

Chú giải. 1 Đức Chúa Trời thử thách con người để lột trần bản chất thật của họ (Phu 8:2,16). 2 Thường thường người ta cho rằng Mô-ri-a là một ngọn núi ở Giê-ru-sa-lem, nơi đền thờ đang toạ lạc (IISu 3:1). Như vậy Áp-ra-ham dâng con chiên đực làm của lễ là hình bóng về các sinh tế bằng thú vật sau này trong đền thờ cũng như là ‘Chiên con của Đức Chúa Trời’ (Gi 1:29). Như Áp-ra-ham sau đó khám phá ra, Mô-ri-a nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ cung cấp (Sa 22:8,14). Tưởng đâu con trai của ông sẽ chết ở nơi đó, nhưng nơi đó lại là nơi Đức Chúa Trời cung cấp, cho đến nỗi tên gọi nơi đó cũng chứng minh rằng Đức Chúa Trời cung cấp. Đức Chúa Trời không có ý đòi hỏi dân sự của Ngài phải dâng của lễ bằng mạng sống của con người. Của lễ thiêu là loại thường được dâng lên với con sinh bị thiêu trên bàn thờ (Lê-vi Ký 1). 9 Thông thường người ta trói con sinh trước khi dâng. Trong Cựu Ước chỉ có câu này đề cập đến việc trói, chứng tỏ Y-sác bằng lòng biến thành con sinh.

13. Sự mai táng cho Sa-Ra (Sa 23:1-20)

Sa-ra, tổ mẫu của dân Y-sơ-ra-ên đáng được chôn trong một cái lăng đồ sộ. Tuy nhiên, mua cho được một thửa đất làm mộ địa là việc nhiều ý nghĩa hơn. Áp-ra-ham quyết tâm sở hữu một mảnh đất hứa trước khi ông qua đời và cũng để mai táng vợ ông. Cuộc thương thuyết dài dòng cho thấy ông vin cớ cần đất mai táng Sa-ra để mua cho được một thửa đất ở xứ Ca-na-an.

Cuộc thương thuyết nhã nhặn nhưng khó khăn được tiến hành trong ba giai đoạn. Trước hết, Áp-ra-ham xin người Hê-tít cho ông (bản NIV dùng từ bán thì quá lộ liễu) một miếng đất để làm nghĩa trang. Lập tức, họ đề nghị với ông bất kỳ ngôi mộ nào của họ (có lẽ là ‘Những hang động’) để chôn Sa-ra (c.3-6). Thứ hai sự đáp ứng nhiệt tình của họ khích lệ Áp-ra-ham yêu cầu Ép-rôn bán cho ông động Mặc-bê-la. Sau đó Ép-rôn đề nghị tặng Áp-ra-ham cái động lẫn cánh đồng (7-11). Nhưng quà tặng không bảo đảm quyền sở hữu chắc chắn bằng bỏ tiền ra mua. Vì vậy Áp-ra-ham nhất quyết bỏ tiền ra mua. Thế là ông thuyết phục Ép-rôn báo giá. Bốn trăm siếc-lơ có lẽ quá cao so với mảnh đất. Với số tiền đó người ta có thể mua được một thửa đất lớn hơn. Nhưng Áp-ra-ham không so đo, kỳ kèo (12-16). Giờ đây miếng đất cùng cánh đồng dứt khoát thuộc quyền sở hữu của ông và ông mai táng Sa-ra ở đó. Thế là trước khi qua đời Áp-ra-ham đã là người sở hữu hợp pháp một thửa đất trong xứ Ca-na-an rồi. Vậy là một khía cạnh khác của lời hứa được ứng nghiệm một phần.

Chú giải. 1 Hếp-rôn gần Mam-rê (18:1), nơi Áp-ra-ham đã nhận nhiều lời hứa (13:8  18:1). 3 Người Hê-tít, những tên riêng gốc Semitic nên không mấy hi vọng họ có liên quan với người Hê-tít ở Tiểu Á. Họ chỉ là một bộ tộc trong số nhiều bộ tộc khác ở Ca-na-an (15:19-21). 9 Đền Hồi giáo hiện nay ở Hếp-rôn nằm trên nền móng có từ thế kỷ thứ nhất T.C. Như vậy chứng tỏ những lời xưng nhận đồn đãi rằng nền móng này toạ lạc trên nghĩa trang của các tổ phụ truyền lại từ thời rất xa xưa.

14. Rê-Bê-Ca được kêu gọi đi lập gia đình (Sa 24:1-67)

Theo tầm nhìn của chương 24 thì có vẻ như sau khi Sa-ra qua đời và được an táng thì đến Áp-ra-ham qua đời. Còn chương 25:7 hàm ý là một thời gian khá dài trôi qua giữa hai cái chết đó. Trong câu 1, Áp-ra-ham có vẻ như đang hấp hối, và đến lúc người đầy tớ trở về cùng với Rê-bê-ca, thì chỉ còn một mình Y-sác làm chủ gia nhân (c.65).

Là một người đã đặt cả cuộc đời cho những thành tựu của những lời hứa nên trong những lời cuối cùng Áp-ra-ham cũng yêu cầu rằng sau khi ông mất, ưu tiên hàng đầu của gia đình cũng là mục tiêu đó. Ông buộc người đầy tớ thề là phải tìm cho Y-sác một người vợ. Đây là điều kiện tiên quyết nếu muốn cho lời hứa về một dòng dõi đông đúc được thành tựu. Vợ của Y-sác phải là một người trong vòng bà con của Áp-ra-ham chớ không phải là người Ca-na-an, và cô đó cũng phải đồng ý đến Ca-na-an định cư như ông (5-9).

Người đầy tớ này là một tấm gương về một người đầy tớ trung thành. Ông có lối ăn nói đầy sức thuyết phục. Ông quan tâm đến quyền lợi của chủ mình bằng lời nói và việc làm. Ông cân nhắc kỹ lời nói để thuyết phục gia đình Rê-bê-ca gả cô cho một người chưa biết mặt là Y-sác (34-49). Rồi qua ngày hôm sau, khi họ tỏ ý muốn hoãn ngày ra đi của Rê-bê-ca thì ông từ chối và nhất quyết xin ra đi liền (54-58). Nhưng ngoài những tài năng thiên bẩm đó, người đầy tớ này còn là con người biết cầu nguyện. Ông trông cậy nơi Đức Chúa Trời chứ không dựa trên cơ may hoặc khả năng riêng. Khi đến bên giếng, ông cầu nguyện rằng ‘Hỡi Giê-hô-va ... xin cho tôi được thành công ngày hôm nay’, và cứ như chuyện thường xảy ra, lời cầu nguyện của ông đã được trả lời nhanh chóng hơn (người chưa dứt lời) và đầy đủ hơn (một con gái của Bê-tu-ên ... rất đẹp) mức trù liệu của ông (Es 65:24  Eph 3:20).

Chẳng những Rê-bê-ca đã tự mình hành động vượt quá mức mong đợi của Ê-li-ê-se mà cô còn tỏ ra là người vợ hoàn hảo cho Y-sác (Ch 31:10-31). Bà là một người năng nổ (chạy đi múc nước cho mười con lạc đà uống, câu 20), mến khách (hăm hở mời người đầy tớ về nhà, c.28) và trên hết là người có đức tin (giống như Áp-ra-ham, sẵn sàng rời bỏ quê hương, gia đình để đến đất hứa, câu 57, (Mat 19:29).

Chú giải. 10 A-ram Naharaim bây giờ là một vùng ở phía bắc Sy-ri, phía đông của sông Ơ-phơ-rát. Thành của Na-cô có lẽ là Cha-ran (Sa 11:31) hoặc một thành gần đó. 15 Xin xem bản gia phả đầy đủ trong 22:20-24. 53 Tặng phẩm cho gia đình, những nơi khác gọi là sính lễ rước cô dâu hoặc là quà cưới (Xu 22:16-17) làm chứng cho sự đồng ý cho cưới gả. 62 La-chai-roi xin xem Sa 16:14.

15. Những ngày cuối cùng của Áp-Ra-Ham (Sa 25:1-11)

Có lẽ độc giả thời nay mặc nhiên cho rằng Áp-ra-ham tục huyền sau khi Sa-ra qua đời, nhưng ở đây không có điểm nào chứng minh cho chuyện này. Vì coi như hợp lý hơn có lẽ sau khi ly dị A-ga, ông lấy Kê-tu-ra.

Bản gia phả trong các câu 2-4 liên hệ dân Y-sơ-ra-ên (qua Áp-ra-ham) với các bộ lạc và dân tộc đang cư trú ở ngoại vi xứ Ca-na-an (thí dụ người Ma-đi-an là một bộ tộc thương gia, Sa 37:28-36  sống trong hoang mạc Si-na-i Xu 3:1 và vùng bên kia sông Giô-đanh (Dan 25:1-18  Cac 7:1-8:35). Bản gia phả này cho thấy mối quan hệ huyết thống giữa dân Y-sơ-ra-ên với các dân tộc này và cũng cho thấy lời hứa về chuyện Áp-ra-ham sẽ là tổ phụ của nhiều dân tộc (Sa 17:4-6) đã được thành tựu ít nhiều.

Chú giải. 8 Qui về nơi tổ tông không chỉ có nghĩa là thể xác ông được yên nghỉ với những người thân trong ngôi mộ của gia đình mà còn có nghĩa là linh hồn ông còn tái hợp với họ trong đời sau. 9 Về Mặc-bê-la xem chương 23.

7. TƯỜNG THUẬT VỀ ÍCH-MA-ÊN (Sa 25:12-18)

Lịch sử các tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên được tường thuật trong Sáng Thế Ký. Xen giữa những bài tường thuật dài về dòng chính như Áp-ra-ham (12-25), Y-sác (25-35) và Gia-cốp (37-50), là những phần tóm tắt về dòng phụ như Ích-ma-ên (25:12-18) và Ê-sau (36:1-37:1). Ích-ma-ên là con đầu của Áp-ra-ham và là tổ phụ của dân Ích-ma-ên, một dân gồm mười hai chi phái cư ngụ ở những hoang mạc phía nam và đông nước Y-sơ-ra-ên. Nhiều tên riêng trong câu 13-14 đường như là những địa danh hoặc tên các bộ tộc ở bán đảo Ả-rập hoặc Si-na-i.

Tuy nhiên Sáng Thế Ký không chỉ chú ý đến lịch sử và địa lý. Thiên sứ có phán với A-ga, mẹ của Ích-ma-ên rằng: ‘Nó sẽ đối địch với tất cả anh em mình’ (16:12). Đức Chúa Trời cũng bảo đảm với cha của Ích-ma-ên là Áp-ra-ham rằng Ích-ma-ên sẽ là tổ phụ của mười hai vua chúa. Đoạn này cho thấy tất cả hai lời hứa đều trở thành sự thật (16,18). Nếu Chúa đã làm trọn những lời hứa nhỏ nhoi này thì chắc chắn Ngài sẽ hoàn thành những lời hứa quan trọng hơn đã lập với Y-sác, là người con được chọn của Áp-ra-ham.

8. TƯỜNG THUẬT VỀ Y-SÁC VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ GIA-CỐP VÀ Ê-SAU (Sa 25:19-35:29)

Phần tường thuật về Tha-rê chú trọng viết nhiều về Áp-ra-ham là con trai ông. Phần tường thuật về Y-sác cũng chú trọng viết nhiều về hai con trai ông là Gia-cốp và Ê-sau. Câu chuyện này mở đầu bằng chuyện hai cậu bé chống nghịch nhau trong bụng mẹ, rồi tiếp tục với chuyện Gia-cốp lừa Ê-sau để giành quyền trưởng nam và phước hạnh của ông. Sau đó, tánh mạng bị đe doạ, Gia-cốp chạy trốn khỏi nhà về với cậu, rồi kết cuộc cũng quay trở lại Ca-na-an để làm hoà với anh của ông. Cũng như phần bài viết về Tha-rê, bài viết dài này quan tâm vạch ra mối quan hệ giữa dân Y-sơ-ra-ên (Gia-cốp) và những dân tộc láng giềng (Ê-sau đại diện cho dân Ê-đôm) và những sự thành tựu về những lời hứa quan trọng đối với đất đai, xứ sở, những phước hạnh và hậu duệ. Phần này cũng có những chủ đề nhỏ riêng, đó là Gia-cốp thắng Ê-sau và sự hiện diện, sự bảo vệ của Đức Chúa Trời ở với Gia-cốp. Đây là một gia đình tan nát vì tranh chấp, những thành viên trong gia đình gặp Đức Chúa Trời trong cảnh khốn quẫn và cuối cùng họ đã làm hoà với nhau.

1. Cuộc đụng độ đầu tiên giữa Gia-cốp và Ê-sau (Sa 25:19-34)

Hai bài tóm tắt giới thiệu với chúng ta về Gia-cốp và Ê-sau. Sau hai mươi năm son sẻ (25:20,26 so với Sa-ra), cuối cùng Rê-bê-ca đã có thai, và bà có thai đôi. Hai đứa trẻ đánh nhau (bản NIV dùng từ chen lấn là quá nhẹ nhàng) trong bụng mẹ. Cuộc chiến trong bụng này báo trước một cuộc tranh đấu kéo dài trọn đời giữa hai người con này.

Trong nỗi khốn cùng, Rê-bê-ca tìm đến một vị tiên tri và ông giải nghĩa cho bà với lời lẽ khá bí ẩn: ‘Hai nước đang ở trong bụng ngươi ... đứa lớn sẽ phục vụ đứa nhỏ’. Trong khi hai bé chào đời, cuộc đấu tranh vẫn chưa suy giảm. Gia-cốp ra sau, nắm lấy gót anh mình. Ê-sau có da đỏ (admoni) và có nhiều lông (sear) dự báo quê hương tương lai của ông là Ê-đôm và Sê-i-rơ. Cũng vậy, tên riêng Gia-cốp được giải nghĩa theo tư thế của ông lúc chào đời. Gia-cốp là một tên riêng cổ xưa thời thiên niên kỷ thứ hai (cũng như Ích-ma-ên và Y-sác) mà các học giả cho rằng có nghĩa là ‘(Đức Chúa Trời) ban thưởng hoặc bảo vệ’. Nhưng ở đây, như thường thấy trong Cựu Ước, tên riêng theo truyền thống được gán cho một nghĩa mới. Gia-cốp có quan hệ với từ ‘gót’ (eqeb) và có thể hiểu là ‘người nắm gót’ (tức là nắm lấy, đối thủ lừa đảo).

Mặc dù là hai anh em sinh đôi, tánh tình của họ phát huy khác nhau. Gia-cốp trở thành một người quanh quẩn trong nhà, điềm tĩnh, tính toán, trong khi Ê-sau trở thành một thợ săn bốc đồng, năng động. Một ngày nọ, Gia-cốp lợi dụng lúc anh mình đói để đổi một bát canh đậu lấy quyền trưởng nam tức là những quyền lợi dành cho người con trai đầu lòng trong gia đình. Ở đây, người thuật chuyện không chủ ý công khai tán thành chuyện Gia-cốp thiếu tình yêu thương anh em, hoặc chuyện Ê-sau coi thường quyền lợi trưởng nam, nhưng ông chỉ trình bày một sự việc cho thấy lời tiên tri về chuyện đứa lớn phải phục vụ đứa nhỏ đã bắt đầu ứng nghiệm.

Chú giải. 20 Pha-đan A-ram là vùng phía bắc Mê-sô-bô-ta-mi gần Cha-ran.

2. Y-sác và dân Phi-li-tin (Sa 26:1-33)

Nhân vật Y-sác bị lu mờ so với cha ông và các con ông. Ngoài chương này, không chỗ nào nói nhiều về ông nữa. Ở đây chúng ta có một số cảnh ghi nhanh về cuộc đời của ông chứng minh rằng dù là người nhút nhát, có sai lầm trong phần đạo đức, nhưng Y-sác vẫn nhận được những lời hứa lạ thường và được kinh nghiệm những phước hạnh đặc biệt mà trong một vài khía cạnh còn lớn lao hơn cả những phước hạnh của Áp-ra-ham nữa.

Cuộc đời của ông được so sánh với cuộc đời của Áp-ra-ham là rõ ràng qua câu 1. Câu này nhắc lại trận đói trước kia trong đời Áp-ra-ham (12:10). Những lời Đức Chúa Trời hứa với Y-sác vượt hơn những lời hứa ban cho Áp-ra-ham vì đã được bảo đảm. Ở đây lời hứa được lập lại với Y-sác là dòng dõi ông và tất cả các xứ này đã được ban cho ông chớ không phải chỉ có xứ Ca-na-an.

Cũng giống như cha mình, Y-sác giả vờ nói rằng vợ ông là em gái ông. Nhưng thật may mắn, Rê-bê-ca không bị đem vào hoàng cung như Sa-ra. Nhưng lời nói không thật của Y-sác cũng đáng bị khiển trách như cha ông vậy (10-11). Tuy nhiên, cũng như Áp-ra-ham, Y-sác phát tài cách lạ lùng vì mùa gặt hái bội thu gấp trăm lần (c.12).

Sự thịnh vượng của ông khiến người Phi-li-tin ghen tỵ. Họ không cho ông dùng các giếng nước do Áp-ra-ham đào (quyền sử dụng các giếng này là quyền hợp pháp đầu tiên mà Áp-ra-ham giành được ở Ca-na-an,  22:22-34). Trong thực tế, Y-sác đành chịu thúc thủ trước sự chèn ép của người Phi-li-tin. Sáng Thế Ký không giải thích rõ là vì tánh ông hèn nhát hoặc vì ông là người ôn hoà.

Tuy nhiên Đức Chúa Trời xác quyết với ông rằng: ‘Đừng sợ, ta ở cùng ngươi’ và lời hứa về con cái lại được tái xác nhận. Như thể để xác minh những lời hứa này, một phái đoàn từ Ghê-ra đến yêu cầu Y-sác lập một hiệp ước an ninh với họ, bởi vì ‘chúng ta thấy rõ rằng Đức Giê-hô-va phù hộ ngươi’. Thế là cuối cùng Y-sác được bình yên và có những nguồn cung cấp nước trong đất hứa.

Như vậy, qua những sự kiện này, chúng ta thấy những lời hứa của Đức Chúa Trời lập với Áp-ra-ham lúc ban đầu bây giờ thành tựu khá nhiều trong cuộc đời của Y-sác. Và một lần nữa chúng ta thấy rằng không phải vì ông có đạo đức tốt, nhưng dù ông có lỗi lầm những lời hứa đó vẫn thành tựu. Người nhút nhát vẫn được kinh nghiệm những phước hạnh thiên thượng bằng những người đáp ứng lại sự kêu gọi của Đức Chúa Trời một cách dạn dĩ. Thật vậy, những chiếc bình càng yếu đuối hơn thì ân điển của Đức Chúa Trời càng rõ ràng hơn (IVua 1:27-31  IIVua 4:7).

Chú giải. 1 Dân Phi-li-tin trong thời Sáng Thế Ký không phải là dân Phi-li-tin trong thời các quan xét. Họ là những người đã đến xứ Ca-na-an vào khoảng 1200 T.C.. Dân Phi-li-tin thời các quan xét đến từ Tiểu Á và vùng biển Aegean, và dân Phi-li-tin trong thời Sáng Thế Ký có lẽ cũng đến từ những vùng đó. 7-11 Có lẽ sự kiện này xảy ra trước khi sinh Ê-sau và Gia-cốp trong Sa 25:26. 26 Người tham mưu (quân sư) (bảng tiếng Việt là quan tổng binh), tốt hơn nên dịch là ‘người đứng đầu bọn chăn chiên’. Ông ta là người có trách nhiệm giám sát các quyền lợi trên các đồng cỏ với một ‘lực lượng cảnh sát’ để thi hành những quyết định của ông, một dạng cảnh sát trưởng. 33 Một cách giải nghĩa địa danh Bê-e-sê-ba (Sa 21:30-31).

3. Gia-cốp cướp phước lành của Ê-sau (Sa 26:34-28:9)

Đây là một trong những câu chuyện có sức lôi cuốn nhất trong Sáng Thế Ký. Những biện pháp cải trang của Gia-cốp có lừa dối được cha ông không? Bữa ăn và sự chúc phước có xong trước khi Ê-sau trở về không? Đức Chúa Trời có chấp nhận sự lừa dối của Gia-cốp không? Ngài có tán thành giáng phước cho người chiếm đoạt bằng sự lừa gạt không?

Mới đọc qua lần đầu, chúng ta có cảm tưởng Rê-bê-ca và Gia-cốp là những tay lừa đảo, lợi dụng sự mù loà của Y-sác để hạ bệ Ê-sau. Thực ra, không thể dứt khoát kết luận như thế. Ê-sau đã cưới hai người vợ, nội việc này tự nó đã là bước sai lầm rồi (Lê-méc, 4:19-24). Hơn nữa hai người vợ đó lại là dân Hê-tít, tức là người Ca-na-an (23:3). Trước đó, Áp-ra-ham đã rất quyết liệt không cho Y-sác cưới một cô gái Ca-na-an (24:3). Tại sao Y-sác lại không kiên quyết hoặc không sắp xếp một đám cưới xứng đáng cho Ê-sau? Tệ hại hơn nữa, lúc sắp qua đời, Y-sác vẫn thiên vị Ê-sau, coi thường tục lệ. Khi các tổ phụ biết mình sắp chết, họ phải cho tụ họp tất cả con cái lại để chúc phước cho từng người (chương 48-50). Bây giờ viện lẽ cách qua loa là không biết chết ngày nào (c.2), Y-sác chỉ cho gọi người con mình thương nhất đến, đó là Ê-sau. Vì vậy chẳng có gì lạ khi Rê-bê-ca, người yêu mến Gia-cốp hơn, tức giận (25:28).

Không rõ Gia-cốp đã chấp nhận kế hoạch của Rê-bê-ca tới mức độ nào nhằm lừa gạt Y-sác để đoạt phước hạnh của Ê-sau. Ông hợp tác với mẹ một cách miễn cưỡng có lẽ một phần vì sợ bị phát hiện, một phần có lẽ ngại ngùng về mặt đạo đức (c.11,12). Người kể chuyện cũng không đánh giá chuyện này cho rõ ràng. Y-sác biết chắc rằng sự chúc phước của ông không thể thay đổi được: vì những phước đó đã được chúc cho Gia-cốp rồi nên thuộc về Gia-cốp (37).

Tuy nhiên, về lâu dài rõ ràng sự lừa gạt của Gia-cốp đập lại ông và Rê-bê-ca. Ê-sau nổi giận về hành động của Gia-cốp khiến Gia-cốp phải bỏ nhà ra đi, và mặc dù Rê-bê-ca hi vọng là ông chỉ vắng nhà một vài ngày (một thời gian, c.44) nhưng rốt cuộc bà chẳng bao giờ gặp lại ông. Gia-cốp, người đã lừa gạt cha mình, chẳng bao lâu đã bị cha vợ là La-ban lừa gạt buộc Gia-cốp phải cưới Lê-a lẫn Ra-chên. Sự thể này trở thành nỗi giằng co triền miên trong phần đời còn lại của ông. Rồi đến lượt các con trai của Lê-a gạt ông. Họ giết một con dê để lừa Gia-cốp về cái chết của Giô-sép cũng như Gia-cốp đã giết một con dê để lừa Y-sác (37:31-35  27:9,16). Về sau, Gia-cốp cũng công nhận lỗi lầm của mình. Khi trở về Ca-na-an, ông tặng cho Ê-sau những bầy súc vật và nài nỉ Ê-sau nhận với những lời này: ‘Xin anh hãy nhận lấy những phước hạnh của (bản NIV và bản tiếng Việt dịch ‘lễ vật’ là không chính xác) em đã dâng cho anh’ (33:11). Với cử chỉ này, ông tìm cách trả lại cho Ê-sau những phước hạnh mà ông đã giành cướp.

Dù sao, lời chúc phước mà Gia-cốp đã nhận được bằng cách lừa đảo, giành giật vẫn có hiệu lực. Những lời cuối cùng của Y-sác dự báo về mối quan hệ giữa Gia-cốp (Y-sơ-ra-ên) và Ê-sau (Ê-đôm) trong tương lai. Nước Y-sơ-ra-ên thường nắm quyền hành trên nước Ê-đôm. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ hưởng một nếp sống nông nghiệp ổn định, còn dân Ê-đôm sẽ là một dân du mục ở trong những vùng hoang mạc khô khan (28-29,39-40). Hơn nữa, những lời hứa lúc đầu lập với Áp-ra-ham, lặp lại với Y-sác giờ đây sẽ thành tựu qua Gia-cốp (28:3-4).

Ở đây, như thường thấy trong Sáng Thế Ký, một bước tiến mới trong lịch sử cứu chuộc lại diễn ra trong khung cảnh những hành vi vô lương tâm của các tổ phụ trong cuộc. Sự thể này một lần nữa chứng tỏ rằng niềm hi vọng căn bản cho sự cứu rỗi là lòng thương xót của Đức Chúa Trời chứ không phải sự xứng đáng của con người (Ro 9:10-18).

Chú giải: Sa 28:2 Về Pha-đan A-ram xin xem 25:20)

1-46 (xem giải nghĩa 26:34-35)

1-9 (xem giải nghĩa 26:34-35)

4. Gia-cốp gặp Đức Chúa Trời tại Bê-tên (Sa 28:10-22)

Sự khủng hoảng cá nhân thường là cơ hội để có kinh nghiệm thuộc linh sâu sắc. Đối với Gia-cốp cũng vậy. Trên con đường chạy trốn sang nước ngoài trong một đêm ngủ ngoài trời ông chiêm bao. Trong giấc mơ, chính Chúa đã nhắc lại những lời hứa trước kia đã lập với Áp-ra-ham, sau đó lập lại với Y-sác về dòng dõi và phước hạnh cho muôn dân. Nhưng có thêm một yếu tố mới: ‘Nầy, Ta ở cùng người ... đem ngươi về xứ này’ (c.15). Đức Chúa Trời đã hứa với nhiều nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên về việc Ngài sẽ hiện diện và đồng hành với họ (Xu 3:12  Gios 1:5  Cac 6:15). Thật vậy, đó cũng là những lời hứa của Đấng Christ dành cho tất cả những người tin Ngài (Mat 28:20  He 13:5-6). Nhưng khác hẳn nhiều người, Gia-cốp được ban đặc ân nhìn thấy những thiên sứ bảo vệ ông (Mat 18:10  26:53).

Sáng hôm sau, khi thức dậy, ông dựng một tảng đá làm trụ thờ, tức là một biểu tượng về sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Ông đổ dầu trên tảng đá để thánh hoá trụ thờ và sau đó ông hứa nguyện rằng nếu Đức Chúa Trời đem ông trở về bình an, ông sẽ dâng cho Ngài một phần mười thu nhập của ông. Nhiều người trong những cảnh khốn đốn thường hay hứa nguyện (ISa 1:1). Kinh Thánh Cựu Ước không cản sự hứa nguyện miễn là đương sự lo làm trọn lời hứa nguyện của mình (Phu 23:21-23  Tr 5:4-6). Những lời hứa nguyện không nhất thiết là chuyện mặc cả với Đức Chúa Trời, nhưng để bày tỏ chúng ta lệ thuộc vào Ngài. Ở đây lời khấn nguyện của Gia-cốp không biểu lộ lòng vô tín đối với những lời hứa vừa mới được lập với ông (c.15), vì tất cả những lời cầu xin của chúng ta đều dựa trên những lời hứa của Đức Chúa Trời để Ngài cung cấp cho mọi nhu cầu (so sánh Mat 6:11 với 6:25-34).

Chú giải. 19 Bê-tên (‘nhà của Đức Chúa Trời’) nằm về phía bắc của Giê-ru-sa-lem 19 km (12 dặm).

5. Gia-cốp cưới Ra-chên và Lê-a (Sa 29:1-30,34-35)

Chẳng bao lâu lời hứa của Đức Chúa Trời bảo vệ Gia-cốp được chứng minh. Giống như người đầy tớ của Áp-ra-ham lâu năm về trước, Gia-cốp hành trình tới tận phía bắc Sy-ri và tại đó, ông gặp người vợ tương lai của mình bên một cái giếng. Và cũng giống như người đầy tớ đó, ông trọ tại nhà cậu của mình. Nhưng trong khi người đầy tớ mang đến hàng đống của cải của Áp-ra-ham thì Gia-cốp tay không và như vậy thì càng không có giá trị gì đối với một người ham tiền bạc như La-ban.

Tuy nhiên, ông lại yêu Ra-chên (đây là một trong những cuộc hôn nhân lãng mạn nhất trong Cựu Ước). Vì La-ban đề nghị trả công nên Gia-cốp xin được lấy Ra-chên làm vợ. Thông thường khi cưới hỏi phải có sính lễ để làm bằng (quà cưới) do nhà trai đem đến cho nhà gái (xem chú giải Sa 24:53). Nhưng Gia-cốp đơn thân độc chiếc nên ông không thể nộp sính lễ theo tục lệ. Vì vậy, thay vì sính lễ, ông xin làm việc bảy năm để cưới Ra-chên. Mãn bảy năm, dường như La-ban có ý định lờ chuyện hôn nhân đi nên Gia-cốp phải nhắc (c.21). Chúng ta biết rất ít về những thủ tục cưới hỏi trong thời đại Kinh Thánh ngoại trừ những điều được đề cập đến trong chương này và Các Quan Xét 14. Có lẽ mục chính là bảy ngày đãi tiệc bạn bè, họ hàng nhưng chắc chắn có phần thề hứa giữa cô dâu, chú rể (Os 2:2,16). Đêm đầu tiên, người ta đưa cô dâu đến giao cho chú rể đầu và mặt trùm kín. Chắc chắn là cái khăn trùm, bóng đêm và rượu khiến Gia-cốp không phát hiện sớm chuyện đánh tráo Lê-a vào chỗ Ra-chên. Sự phẫn nộ của Gia-cốp được ghi ngắn gọn trong câu 25 (xem phần chú giải Sa 29:31  30:24 ở dưới). Tuy nhiên mặc dù con người phạm tội, kế hoạch của Đức Chúa Trời vẫn được xúc tiến. Do nơi Lê-a, sáu chi phái của Y-sơ-ra-ên trong đó có chi phái Giu-đa được sinh ra. La-ban nhượng bộ Gia-cốp một chuyện, ông cho Gia-cốp cưới Ra-chên ngay, nhưng lại ác độc đòi Gia-cốp phải phục vụ thêm bảy năm nữa vì Lê-a. Bảy năm này không trôi nhanh như bảy năm đầu (20 so với 29:30 tiếp theo).

Chú giải. 24 Ở Phương Đông có một tục lệ phổ biến là cha mẹ cho con gái của hồi môn khi lấy chồng. Thường thì không thấy Kinh Thánh đề cập đến của hồi môn, nhưng ở đây có nói đến vì của hồi môn của Lê-a có dạng ngoại lệ, đó là một nàng hầu tên Xinh-ba. Xinh-ba và Bi-la (c.29) cũng trở thành mẹ của những chi phái Y-sơ-ra-ên (30:3-13).

6. Các con của Gia-cốp ra đời (Sa 29:31-30:24)

(Sa 29:31-35). Đức Chúa Trời chẳng hề muốn loài người theo chế độ đa thê vì Ngài đã ban cho A-đam chỉ một người vợ và trong 4:19-24 cho chúng ta thấy sơ qua người hai vợ có thể độc ác đến độ nào. Còn ở đây chúng ta thấy thảm trạng trong cuộc đời những người vợ trong gia đình đa thê. Vì bị lừa dối trong cuộc hôn nhân với Lê-a nên Gia-cốp chẳng bao giờ thật sự yêu bà và những đứa con của bà. Thật vậy, dường như ông chẳng xem bà là vợ của ông. Nhưng bà rất cần tình cảm của ông, thể hiện qua những cái tên bà đặt cho các con của mình. Niềm khao khát sâu xa nhất của bà là ‘bây giờ chồng sẽ yêu mến tôi’ (c.32-35  30:18-20). Nhưng những nỗ lực của bà để đạt đến điều này chẳng có hiệu quả. Ngược lại Ra-chên thì héo hon vì ghen tị Lê-a khi thấy chị sinh được nhiều con còn bà thì vẫn son sẻ. Đương nhiên là Gia-cốp yêu bà nhưng bà cần một đứa con. Bà đã nài nỉ ông: ‘Hãy cho tôi con cái, bằng không tôi chết’ (30:1).

Sự tuyệt vọng của hai bà vợ bộc lộ rõ hơn trong câu 3-6. Trước hết Ra-chên cho nàng hầu của mình là Bi-la gần gũi Gia-cốp để sinh con thay cho mình (một tập tục đã bàn đến trong chương 16 khi Sa-ra cho A-ga có thai thế cho bà). Nhưng nỗi bất hạnh do quyết định đó biểu thị rõ trong chương 21. Ở đây Lê-a đối phó với kế hoạch của Ra-chên bằng cách cho con đòi của bà là Xinh-ba làm vợ thứ của Gia-cốp. Dầu vậy cuộc tranh chiến vẫn chưa kết thúc. Ru-bên (con trai đầu của Lê-a) ra đồng hái được một mớ trái phong già, có dược tính tăng khả năng sinh sản. Thế là hai bà thương lượng với nhau. Lê-a được ngủ với Gia-cốp vài đêm còn Ra-chên được mớ trái phong già. Lê-a hi vọng chiếm được tình yêu của Gia-cốp, còn Ra-chên hi vọng có khả năng sinh sản trong vụ đổi chác này.

Kết quả là Lê-a sinh thêm ba đứa con nữa còn Ra-chên vẫn không có gì. Chỉ khi Đức Chúa Trời nhớ lại Ra-chên thì nàng mới sinh sản (c.22-23). Chính ân điển của Ngài thoả đáp nhu cầu của Ra-chên chớ không phải thuốc men. Thế là mười hai chi phái trưởng của dân Y-sơ-ra-ên ra đời trong một gia đình ít hạnh phúc nhất trong số các gia đình có ghi trong Kinh Thánh. Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi ... cũng là tên của các chi phái nữa (xin xem ghi chú bên lề bản NIV về ý nghĩa của các tên này. Nghĩa hầu hết các tên đó nêu ở đây là do cách chơi chữ chớ không phải theo ý gốc gác trong lịch sử). Những lời hứa dành cho Áp-ra-ham tiến thêm một bước quan trọng, đến gần sự thành tựu hơn qua sự ra đời của những người con trai này. Một lần nữa niềm hi vọng cứu rỗi của thế giới đặt trên cơ sở ân điển của Đức Chúa Trời chớ không phải trên nỗ lực của con người.

Chú giải: 14 Trái phong già (mandrake) được nhiều người biết vào thời xưa, vì nó kích thích dục tính và tăng cường khả năng sinh đẻ (Nha 7:13). 21 Trong các bản gia phả ít khi đề cập đến con gái nhưng trong chương 34 Đi-na là nhân vật trung tâm (Rê-bê-ca trong Sa 22:23). 24 Lời cầu nguyện của Ra-chên được nhậm, nhưng bà qua đời khi sinh Bên-gia-min (35:16-20).

Sa 30:1-24; xem giải nghĩa 29:31-35

7. Gia-cốp hơn La-ban (Sa 30:25-31:1)

(Sa 30:25-43). Đọc phần này, độc giả thời xưa rất hài lòng vì La-ban, một tên cáo già, bủn xỉn đã thua mưu một người cháu là Gia-cốp trong một cuộc ngã giá do ông suy nghĩ quyết định.

Sau khi Ra-chên sinh một bé trai, Gia-cốp thấy đó là dấu hiệu báo cho ông nên trở về nhà. Giờ đây, vợ ông đã sinh được một người con trai ông phải quay về xứ đã hứa cho ông. Vì vậy ông xin La-ban cho phép đi. La-ban từ chối khéo bằng những lời đạo đức giả. Ông nói rằng ông không thể để Gia-cốp đi vì ông nhận được quá nhiều phước hạnh (c.27). Vì vậy Gia-cốp đưa ra một lời đề nghị không gây tốn kém gì cho La-ban cả. Chiên thường có màu trắng còn dê có màu đen. Gia-cốp nói: ‘Cậu hãy đưa tất cả những con thú có rằn, có đốm đi nơi khác rồi cháu chỉ chăm sóc những con chiên và dê đơn sắc thôi. Nếu con nào sinh ra có vằn, có đốm sẽ thuộc về cháu’. La-ban tính rằng khả năng chiên trắng sinh con nhị thể và dê đen sinh con nhị thể là rất nhỏ, vì vậy ông đồng ý ngay.

Đến lúc chúng giao phối, Gia-cốp đặt những nhánh cây có hai màu (nhờ lột vỏ) trước mắt những con thú mập mạnh khiến chúng sinh ra những con thú có vằn, có đốm. Về phương diện khoa học, việc này không thể xảy ra trừ phi chúng ta giả định rằng những con thú mập mạp đó là những con vật lai, vì vậy chúng sinh ra những con có rằn, có đốm. Nhưng hiểu như vậy là lệch khỏi luồng ý tưởng của Sáng Thế Ký. Gia-cốp thành công là do tài khôn, mưu khéo và Đức Chúa Trời ở với ông (28:5). Đoạn này cho thấy Đức Chúa Trời đã can thiệp giúp đỡ khiến ông trở nên rất giàu có (c.43). Mặc dù các con trai của La-ban cảm thấy Gia-cốp chơi trò lừa bịp (31:1), nhưng câu chuyện cho thấy rằng Gia-cốp đã thực hiện nghiêm túc đúng theo thoả hiệp.

Sa 31:1; xem giải nghĩa 30:25-43

8. Gia-cốp rời bỏ La-ban (Sa 31:2-32:2)

 (Sa 31:2-55). Trong gia đình La-ban đang nhen nhúm một cơn khủng hoảng khác. Lần này không phải là ông anh ruột tính chuyện sát hại Gia-cốp mà là những người anh em bên vợ muốn ám hại ông. Một lần nữa khi Gia-cốp rơi vào tình cảnh đen tối nhất thì Đức Chúa Trời truyền dạy ông. Lần này Ngài bảo ông trở về nhà và xác nhận một lần nữa rằng ‘Ta sẽ ở với ngươi’ ( c.3 so với 28:13-15).

Nhưng thoát khỏi nanh vuốt của La-ban khó hơn thoát khỏi Ê-sau nhiều vì nay Gia-cốp có bốn vợ, mười ba người con và rất nhiều bầy súc vật đông đúc. Đến nay ông trở thành một phần tử trong dòng họ của La-ban và không dễ thoát ra khỏi. Chương này cho chúng ta biết rốt cuộc làm sao ông bứt đi được và thực hiện chuyến hành trình về nhà.

Trước hết ông thuyết phục mấy bà vợ của mình chịu lìa bỏ nhà cha của họ. Chú ý trong câu chuyện ông không đề cập đến những khía cạnh có thể làm họ nản (tức là sự ghen ghét của Ê-sau, hôn nhân không hạnh phúc của họ) nhưng ông nhấn mạnh đến sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời dành cho ông trong những lúc khó khăn (4-16). Thứ hai, Gia-cốp chọn lúc La-ban bận hớt lông chiên ở một địa điểm xa nhà để ông có được thời gian ba ngày hành trình trước khi cha vợ đuổi theo (19,22).

Cuối cùng La-ban đuổi kịp Gia-cốp, thế là xảy ra một trận cãi vã kịch liệt. Thật vậy, một trận đánh nhau, chém giết có thể xảy ra nếu đêm hôm trước Đức Chúa Trời không hiện ra trong giấc chiêm bao mà cảnh cáo La-ban là ông không được đụng đến Gia-cốp (câu 24), làm ứng nghiệm lời hứa là Ngài sẽ đem ông trở về xứ Ca-na-an (28:15). Nhưng sau khi cãi cọ, trách móc, biện bạch, cuối cùng họ đồng ý lập giao ước và chia tay nhau trong tình thân. Cuối cùng khi Gia-cốp gần đến xứ Ca-na-an và sắp gặp lại anh mình, ông lại gặp các thiên sứ khiến ông nhớ rằng họ đã bảo vệ ông trong suốt cuộc hành trình (28:12).

Chú giải. 10 Sa 30:31-43 không ghi chép về điềm chiêm bao này. 21 Sông ở đây là Ơ-phơ-rát. Ga-la-át là một vùng đồi phía đông sông Giô-đanh nằm giữa biển Ga-li-lê và Biển Chết. 32-34 Không rõ vì sao Ra-chên ưa thích những thần trong nhà là một loại hình tượng (IISa 19:13,16). Người ta tin rằng ai sở hữu được những hình tượng này được quyền hưởng gia tài, nhưng có lẽ Ra-chên xem những hình tượng này là một loại bùa có khả năng bảo vệ bà trong chuyến hành trình ra ngoại quốc. 39 Thông thường chủ không bắt đền người chăn về những con chiên bị thú dữ bắt (Xu 22:13), nhưng Gia-cốp đã phải đền. Gia-cốp đã mưu lợi cho La-ban quá sức mong đợi thông thường. 50 Thật trớ trêu khi La-ban buộc Gia-cốp không được cưới thêm vợ trong khi ông đã áp đặt chuyện đa thê lên Gia-cốp!

Sa 32:1-2; xem giải nghĩa 31:2-55

9. Gia-cốp và Ê-sau làm hòa (Sa 32:3-33:20)

(Sa 32:3-32). Với chuyện này chúng ta trở về khởi điểm. Gia-cốp trở về nhà đương nhiên ông phải gặp lại Ê-sau. Mặc dù Đức Chúa Trời đã củng cố tinh thần của ông, cuộc hội ngộ này vẫn ngầm chứa nhiều bất trắc. Ê-sau có tha thứ cho ông chưa? Liệu Ê-sau có lợi dụng cơ hội này để giết Gia-cốp không? Những nỗi lo âu này ám ảnh Gia-cốp nhiều nhất trong chuyến hồi hương. Ông sắp xếp mọi chuyện nhằm làm đệm chống đỡ cuộc chạm trán nghiêm trọng này. Ông đã sai một phái đoàn đi tiếp xúc trước (c.3-5). Họ trở về mang theo tin báo rằng Ê-sau đi đón đem theo bốn trăm người. Họ không cho biết đám người này có thiện ý hoặc thù địch khiến Gia-cốp sợ có chuyện chẳng lành.

Tình cảnh này thúc đẩy ông cầu nguyện. Đây là một lời cầu nguyện chuẩn. Trước hết, ông nhắc lại mạng lịnh của Đức Chúa Trời về sự hồi hương (c.9) và sau đó ông nhắc đến ân huệ của Đức Chúa Trời trong việc làm ứng nghiệm những lời Ngài đã hứa với ông khi xưa (c.10) rồi ông mới trình bày cảnh ngộ khốn khó hiện tại và cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu ông và gia đình ông để bảo đảm cho lời hứa được thành tựu. Ở đây, Gia-cốp đặt sự trông cậy của mình vào lòng thành tín của Đức Chúa Trời đối với lời hứa của Ngài. Tuy nhiên, cầu nguyện thành khẩn không phải là để khỏi hành động cụ thể. Gia-cốp chia bầy súc vật và đầy tớ ra làm nhiều nhóm, và gởi hàng loạt quà đến cho Ê-sau với hi vọng có lẽ người sẽ tiếp rước mình (c.20).

Suốt đêm hôm đó, Gia-cốp đưa cả gia đình mình qua sông Gia-bốc. Sau đó, bất thình lình có người đến vật lộn với ông. Mặc dù người ấy không chịu nói rõ danh tánh của mình nhưng Gia-cốp nhận biết đó là Đức Chúa Trời. Người ấy chỉ chạm nhẹ một cái là xương hông của Gia-cốp bị trật. Tên Gia-cốp được đổi là ‘Y-sơ-ra-ên, vì ngươi đã có vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta, ngươi đều được thắng’ (c.28). Toàn bộ những sự việc này bao trùm trong một bầu không khí bí ẩn. Bí ẩn vì nhiều lý do. Đức Chúa Trời tấn công Gia-cốp để làm gì? Vì sao Ngài không thể hoặc không muốn thắng hơn ông? Hơn nữa, vụ việc lại xảy ra vào ban đêm. Chuyện này gói trọn những tình cảnh nghịch lý trong đời sống của con người. Một mặt Đức Chúa Trời để cho, thậm chí còn đặt dân của Ngài vào những hoàn cảnh khó khăn vô kể mà họ hoàn toàn không thể nào đối phó được. Rồi cũng chính Đức Chúa Trời giải cứu họ khỏi những hoàn cảnh đó. Chúng ta cầu nguyện rằng ‘Xin chớ để chúng con bị cám dỗ, song cứu chúng con khỏi điều ác’. Kinh nghiệm của Gia-cốp ở sông Gia-bốc tóm gọn sự nghiệp của ông. Chính Đức Chúa Trời đã đưa ông vào cảnh khủng hoảng này - đối diện với Ê-sau - rồi cũng chính Đức Chúa Trời đưa ông vượt qua cách đắc thắng. Cuộc đối đầu thành công nghiêng về phía ông là điềm bảo đảm rằng cuộc hội ngộ với Ê-sau sẽ tốt đẹp. Ông là một con người mới theo như ý nghĩa của cái tên mới ‘Y-sơ-ra-ên’, thắng hơn Đức Chúa Trời và người ta.

Sáng hôm sau Gia-cốp đi khập khiễng nhưng vững tâm đón Ê-sau. Ông đi trước tất cả đám vợ con (Sa 33:1-3). Thình lình, Ê-sau xuất hiện và chạy đến đón Gia-cốp, ôm choàng cổ mà hôn (c.4). Sự tha thứ hoàn toàn của Ê-sau làm Gia-cốp sững sờ, khó tin. Thật vậy, ông so sánh sự tha thứ của anh mình như sự tha thứ của Đức Chúa Trời (c.10). (Có thể Chúa Giê-xu cũng dựa trên câu chuyện này để mô tả bức tranh của người cha và người con hoang đàng trong Lu 15:20). Gia-cốp tìm cách trả lại phước hạnh (c.11) mà ông đã lừa của Ê-sau. Ê-sau miễn cưỡng tiếp nhận và nài nỉ Gia-cốp về sống chung với ông ở Ê-đôm. Gia-cốp nhã nhặn khước từ (có phải đây là sự trung thành với mạng lịnh của Đức Chúa Trời hay ngấm ngầm nghi ngại lòng chân thành của Ê-sau?). Thế là họ lại chia tay nhau. Gia-cốp vào xứ Ca-na-an và mua một miếng đất ở đó. Đây là một bất động sản thứ hai mà các tổ phụ tậu được ở Ca-na-an. Mặc dù chậm nhưng những lời hứa chắc chắn sẽ thành tựu. Việc này thúc giục Gia-cốp thờ phượng Đức Chúa Trời (c.20).

Chú giải. 3 Sê-i-rơ là một vùng núi non ở phía đông nam Biển Chết. 22 Gia-bốc (ez-Zerqa) là một phụ lưu của sông Giô-đanh, đổ vào sông Giô-đanh 40 km phía bắc Biển Chết (25 dặm). 26 Để giữ bí mật thần tánh của mình, người đó đòi đi trước bình minh. 28 Tên gọi cũ của Gia-cốp gợi lại quá khứ xấu xa của ông (27:36). Tên mới của ông, Y-sơ-ra-ên, là một lời hứa về sự đắc thắng trong tương lai. 32 Gân bắp vế nơi xương hông là nói đến thần kinh hông trông giống như một cái gân. Tập tục không ăn phần gân này chỉ được đề cập ở đây (trong Cựu Ước). Sa 33:3 Sấp mình xuống không phải chỉ là một cử chỉ tỏ lòng tôn trọng mà có lẽ còn ngụ ý khác nữa. Có thể Gia-cốp thể hiện một trong những việc mà Y-sác đã để đề cập  đến trong lời chúc phước dành cho Ê-sau ‘nguyện các con trai của mẹ con quì lạy trước mặt con’ (27-29). 17 Su-cốt là một địa điểm trong thung lũng Giô-đanh (Cac 8:5-6). 18 ‘Người đến Sa-lem, một thành của Si-chem’ (bên lề bản NIV) có lẽ sát ý hơn là người đến Si-chem bình an.

Sa 33:1-20; xem giải nghĩa Sa 32:3-32

10. Các anh trả thù cho Đi-na (Sa 34:1-31)

Sự chung sống hài hoà giữa Gia-cốp và các con trai Hê-mô (Sa 33:19) bị đổ vỡ vì sự cố kinh khiếp này. Gia-cốp đã vượt qua hai mươi năm gian khổ ở Pha-đan A-ram và đã khó khăn lắm mới thoát khỏi nanh vuốt của La-ban. Sau đó là một sự đoàn tụ vui vẻ ngoài mong đợi với Ê-sau đã đem ông trở về Ca-na-an, miền đất hứa, nơi ông được định cư một cách hạnh phúc. Thế mà hành động dã man của các con trai của ông (c.30) khiến ông lâm vào một tình cảnh hết sức nguy nan.

Nhưng ai là người đáng trách trong vụ này? Sự cố này bày tỏ mục đích của Đức Chúa Trời như thế nào? Sự cố này góp phần làm thành tựu những lời hứa của Đức Chúa Trời như thế nào? Theo quan điểm của Sáng Thế Ký, vụ việc hết sức phức tạp và nhiều người can phạm. Lẽ ra Đi-na không nên giao du với giới phụ nữ địa phương đến mức đó, giao du với người Ca-na-an có thể dẫn đến những cuộc hôn nhân với người Ca-na-an (28:7-8). Nhưng so với tội của Si-chem thì tội này hoá ra nhỏ. Theo Cựu Ước và Tân Ước thì quan hệ tình dục trước hôn nhân là luôn luôn sai trái. Trường hợp này nặng nề hơn vì là một sự cưỡng hiếp. Tuy nhiên, Si-chem chẳng phải là người đáng trách duy nhất. Tham dục trong ông ta biến thành tình yêu, nhưng rất có thể Gia-cốp và các con trai ông không nhận biết là Đi-na đã ở trong nhà của Si-chem ưng ý hoặc miễn cưỡng (26).

Đáng ngạc nhiên là dường như Gia-cốp không quan tâm đến số phận của Đi-na, vì dù sao Đi-na cũng chỉ là một người con gái của Lê-a và đối với ông, con cái của Lê-a không đáng quan tâm! Nhưng các anh của Đi-na căm phẫn không những vì cảnh ngộ của Đi-na mà còn vì Gia-cốp không quan tâm đến. Phản ứng của họ là ‘nếu cha không binh vực con gái, chúng ta binh vực’.

Vì vậy, tiếp theo sau đó là buổi điều đình phức tạp. Về phía các con trai Gia-cốp thì rõ ràng dối trá nhưng so sánh kỹ những điều Hê-mô và Si-chem nói với các con trai Gia-cốp (8-12) và những điều họ nói với những người dân thành (21-23) thì họ cũng xảo quyệt đôi chút. Nhưng dù sao sự tàn sát của các con trai Gia-cốp cũng quá đáng và chúng ta phải đồng ý với Gia-cốp khi ông lên án hành động của họ trong lần này và trong lần sau (49:5-7). Ở đây Gia-cốp chỉ phê phán hành động của họ vì nó đe doạ tính mạng của ông (c.30). Nhưng chẳng bao giờ có thể đề cao giá trị đạo đức nếu chúng ta không dám chống lại người khác khi cần. Si-chem đã đối xử với Đi-na như một con đĩ mà Gia-cốp bằng lòng nhận sự đền bù của Si-chem, thì Gia-cốp cũng quan niệm về Đi-na như kiểu Si-chem thôi. Như vậy một cách gián tiếp các con trai của ông xem ông như là một tên ma cô.

Do đó không ai trong câu chuyện này đáng được khen ngợi. Tuy nhiên, mặc dù cách cư xử của họ thật đáng trách, Gia-cốp và gia đình ông trở nên giàu có vô cùng. Sự tàn sát người Si-chem là hình bóng về sự chinh phục xứ. Người Ca-na-an phải bị huỷ diệt vì sự vô đạo đức trong lãnh vực tình dục (Le 18:24-25). Nhưng việc đó có ngụ ý nói rằng dân Y-sơ-ra-ên xứng đáng với xứ mà họ chinh phục không? Phu 9:5 có chép, ‘Ngươi vào nhận lấy xứ của các dân tộc ấy, chẳng phải vì sự công bình ngươi, hay là lòng chánh trực của ngươi đâu, nhưng vì cớ sự gian ác của chúng nó nên Đức Giê-hô-va ... làm cho ứng nghiệm lời hứa Ngài đã thề cùng các tổ phụ ngươi là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp’. Tội lỗi của tuyển dân Đức Chúa Trời có thể làm cho những lời hứa chậm thành tựu chớ không vĩnh viễn xoá bỏ lời hứa được.

Chú giải. 2 Người Hê-tít thường ở tại miền bắc Ca-na-an (Sa 10:17). 12 Trong trường hợp quan hệ tình dục trước hôn nhân, luật Cựu Ước đòi hỏi phải trả sính lễ (giá của cô dâu) - thường là tương đương với tiền lương nhiều năm - cho cha của cô gái. Sau đó nếu ông bằng lòng, ông có thể cho tiến hành đám cưới (Xu 22:16,17  Phu 22:28-29  Sa 24:53).

11. Cuộc hành trình chấm dứt đối với Gia-cốp và Y-sác (Sa 35:1-29)

Gia-cốp chết điếng vì sợ người Ca-na-an tấn công, nhưng mạng lịnh của Đức Chúa Trời đã thúc giục ông đi đến Bê-tên, nơi ông đã lập một lời thề trên đường trốn khỏi quê hương (28:10-22). Bê-tên (nhà của Đức Chúa Trời) là một nơi thánh nên những người bị ô uế bởi chiến tranh (cũng xem Dan 31:1-54) và sự thờ lạy hình tượng đều phải tẩy uế trước khi đến đó. Sau đó họ ra đi và điều lạ là không ai tấn công họ vì Đức Chúa Trời đã giáng một sự kinh hãi trên người Ca-na-an (Xu 23:37). Vậy là một lần nữa lời hứa: ‘Ta sẽ ở cùng ngươi và theo dõi ngươi’ (Sa 28:15) được ứng nghiệm.

Như Áp-ra-ham, sau ba ngày hành hương đến núi Mô-ri-a, Đức Chúa Trời đã ban cho ông những lời hứa diệu kỳ nhất xưa nay (22:16-18), Gia-cốp hành hương đến Bê-tên cũng nhận được phước như vậy. Những lời hứa dành cho ông lần này (11-12) vượt quá tất cả những lời trước đây ‘ông sẽ là cha của nhiều dân tộc, các vua sẽ từ ông mà ra, và dòng dõi ông sẽ thừa hưởng xứ đã hứa với cha ông và ông nội ông. Chỉ có lời hứa về sự hiện diện của Đức Chúa Trời là không được lặp lại vì rõ ràng lời hứa này đã được thành tựu qua việc ông đến Bê-tên an toàn.

Tuy nhiên theo sau sự phấn chấn thuộc linh là tang tóc trong gia đình. Ra-chên, người vợ yêu quí nhất của Gia-cốp qua đời khi sinh bé trai thứ hai mà bà mong mỏi từ lâu (so với 30:24). Sau đó, người con đầu của ông lại ăn ở cùng Bi-la có lẽ là để cố ngăn cản bà thay Ra-chên làm người vợ yêu quí của Gia-cốp và để tuyên bố quyền lãnh đạo gia đình. Theo Le 20:11 (so với Sa 18:18), hành động loạn luân như vậy đáng tội chết. Về vụ đó, mãi cho đến sau này (49:3-4) Gia-cốp mới bình luận, nhưng rõ ràng vụ này khiến cho mối quan hệ giữa các con trai của Lê-a và Gia-cốp càng lạnh nhạt hơn. Sự xung đột giữa họ rất rõ ràng trong chương 34 (Đi-na, Si-mê-ôn và Lê-vi là con của Lê-a) khiến cho những năm cuối của Gia-cốp chép trong chương 37 tiếp theo thật là tan nát. Nhưng một bản liệt kê ngắn tất cả các con trai của Gia-cốp nhắc chúng ta nhớ tất cả đã được sinh ra nhằm làm thành tựu lời hứa của Đức Chúa Trời. Việc Gia-cốp không chấp nhận họ không ảnh hưởng gì đến địa vị của họ. Cuối cùng, mối bất hoà của Gia-cốp và Ê-sau dường như hoàn toàn tan biến khi họ hiệp lại để an táng cha mình trong ngôi mộ gia đình ở Mặc-bê-la (49:31).

Chú giải. 8 Lần đề cập duy nhất về Đê-bô-ra. 10 Nhắc lại ý nghĩa của tên riêng mới đặt cho Gia-cốp trong 32:28. 16 Còn cách Ơ-phơ-rát chừng vài thôi đường nên dịch là ‘cách Ơ-phơ-rát chừng hai tiếng đồng hồ’ tức là khoảng 11 km (7 dặm) phía bắc của Ơ-phơ-rát. Thành Bết-lê-hem nằm trong vùng này (Mi 5:2) gợi ý rằng Ra-chên được chôn ở một nơi nào đó gần Ra-ma (Gie 31:15) phía bắc Giê-ru-sa-lem, chớ không phải ngôi mộ khá cận đại mang tên bà gần Bết-lê-hem. 21 Tháp Ê-đe có lẽ gần những cái hồ của Sa-lô-môn, cách Bết-lê-hem 5 km (3 dặm) về phía tây nam.

9. TƯỜNG THUẬT VỀ Ê-SAU (Sa 36:1-37:1)

(Sa 36:1-43). Như chúng ta đã thấy, Sáng Thế Ký lần lượt thuật những câu chuyện về dòng dõi không được chọn như Ích-ma-ên và Ê-sau xen vào những phần tường thuật về dòng dõi được chọn như Tha-rê và Áp-ra-ham (chương 12-25), Y-sác (chương 25-35) và Gia-cốp (chương 37-50). Tương tự như trong trường hợp của Ích-ma-ên, phần ghi chép về Ê-sau không có gì nhiều, ngoại trừ những chi tiết trong gia phả (so sánh 1-8 với Sa 25:12-18).

Lời mở đầu tóm tắt về sự nghiệp của Ê-sau ghi là ông đã di dời khỏi Ca-na-an vì lý do kinh tế như Lót (6:8  13:5-12).

Phần này có dạng tương tự như chương 25:12-18 khiến chúng ta tưởng sẽ có một bản sơ lược về gia đình Ê-sau, nhưng thay vì vậy câu 9 đưa ra một tiêu đề thứ hai theo sau đó là một bản liệt kê các con trai của Ê-sau (10-14), các trưởng tộc từ Ê-sau mà ra (15-19), các con trai của Sê-i-rơ (20-28), các trưởng tộc Hô-rít (29-30), các vua Ê-đôm (31-39) và nhiều trưởng tộc khác (40-43). Trong các danh sách này, có nhiều điều trùng lặp, nhiều nhân vật được liệt kê không chỉ trong một bảng. C. Westermann (Sáng Thế Ký 12-36/SPCK, 1986) gợi ý rằng có lẽ tác giả tìm tòi trong hồ sơ lưu trữ của người Ê-đôm do Đa-vít đem về Giê-ru-sa-lem khi Đa-vít chinh phục Ê-đôm (IISa 8:13-14) rồi dùng những bản danh sách này (c.10-43). Dù chỉ là ước đoán nhưng ý kiến này giúp giải đáp những điểm trùng lặp trong chương này.

Một lần nữa cho thấy những lời hứa đang thành tựu. Ê-sau ra đi để xứ Ca-na-an lại cho một mình Gia-cốp (Sa 37:1). Xưa kia có lời tiên tri báo trước cho Rê-bê-ca rằng bà mang thai tổ tiên của hai dân tộc và ‘đứa lớn phải phục đứa nhỏ’ (25:23). Sự hình thành nước Ê-đôm đã được ghi ở đây, còn sau này Ê-đôm phải thần phục Y-sơ-ra-ên chứng minh cho lời tiên tri đó là đúng. Nếu những lời tiên tri không quan trọng cho lắm mà đã thành tựu thì chắc chắn những lời hứa quan trọng lập với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp sẽ thành tựu càng hơn nữa.

Chú giải. 12 A-ma-léc là một trong những kẻ thù không đội trời chung của dân Y-sơ-ra-ên (Xu 17:8-15). 20 Nêu lên sự quan hệ giữa Sê-i-rơ, địa danh của vùng (Sa 32:3) với những cư dân thời xa xưa nhất và những cư dân sau này là người Ê-đôm (Phu 2:12). 31 Dường như các vua ở Ê-đôm không theo thể chế quân chủ tập trung quyền lực. Cũng giống như các quan xét của Y-sơ-ra-ên, các vua Ê-đôm cai trị những vùng khác nhau vào những thời điểm khác nhau.

Sa 37:1; Xem giải nghĩa Sa 36:1-43

10. TƯỜNG THUẬT VỀ GIA-CỐP (Sa 37:2-50:26)

Người ta thường đặt tiêu đề ‘chuyện của Giô-sép’ cho phần tường thuật về Gia-cốp. Như vậy là không chính xác lắm, vì phần này kể về gia đình đông đúc của Gia-cốp và ông cũng là gia trưởng. Phần tường thuật về Tha-rê (chương 12-25) và Y-sác (chương 25-35) chú trọng viết về các con trai của vị tổ phụ. Do đó phần tường thuật này cũng chú trọng đến các con trai của Gia-cốp, chứ không riêng gì Giô-sép. Phần này trình bày mối tương quan giữa Giô-sép và các anh, nhất là Giu-đa. Sau Giô-sép và Gia-cốp, Giu-đa là nhân vật quan trọng nhất trong chuyện này.

Chuyện Gia-cốp cho chúng ta biết các con trai của ông ăn ở không thuận hoà với nhau. Gia-cốp không yêu Lê-a và mấy người vợ lẽ nên cũng không yêu con của họ. Ông chỉ biết có Giô-sép và Bên-gia-min là hai con của Ra-chên, người vợ yêu quí. Trong chương 34-35, chúng ta thấu hiểu bầu không khí gay cấn giữa các con của Lê-a và Gia-cốp. Giờ đây gia đình này tan vỡ. Các con trai của Lê-a bán Giô-sép cho người ta đem qua Ai Cập rồi báo tin cho Gia-cốp rằng Giô-sép đã bị thú dữ giết, lòng ông tan nát. Trong khi đó Giô-sép trải qua một thời gian làm nô lệ, một thời gian ở tù và cuối cùng trở thành cánh tay phải của Pha-ra-ôn. Rốt cuộc gia đình họ lại hoà thuận.

Tuy nhiên phần này không chỉ tường thuật về một gia đình đổ vỡ rồi lại hoà thuận. Câu chuyện còn cho thấy Đức Chúa Trời dùng những việc làm của con người tội lỗi để cứu thế giới đúng như

Giô-sép nói với các anh: ‘Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời toan làm điều ích cho tôi hầu cứu sự sống của nhiều người ...’ (Sa 50:20). Trong chuyện của Gia-cốp những lời hứa được thành tựu thêm nhiều bước nữa. Gia đình của Gia-cốp sinh sản đông đúc thêm. Cuối Sáng Thế Ký Gia-cốp có bảy mươi người vừa con vừa cháu. Gia-cốp và các con trai ông nhận được sự bảo vệ và ơn phước của Đức Chúa Trời. Qua việc Giô-sép cung ứng lương thực trong nạn đói ‘nhiều người được phước’. Một khía cạnh duy nhất của lời hứa dường như khựng lại trong những chương này là đất đai, vì toàn thể gia đình của Gia-cốp đã bỏ Ca-na-an di dời qua Ai Cập. Tuy nhiên trước khi qua đời, cả Gia-cốp lẫn Giô-sép đều buộc dân Y-sơ-ra-ên phải chôn họ tại lăng mộ của dòng dõi ở Mặc-bê-la, vì ‘chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ ... đem các anh về xứ mà Ngài đã thề hứa cùng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp’ (50:24).

1. Các anh Giô-sép bán ông sang Ai Cập (Sa 37:2-36)

Cha thì thiên vị còn Giô-sép hỗn xược vì còn bé làm các anh lớn hết chịu nổi. Phần đầu câu chuyện kể lại tiến trình nứt rạn dẫn đến đổ vỡ. Trước hết Giô-sép mách với cha về các anh (c.2) và sau đó là việc Gia-cốp cho Giô-sép một cái áo đặc biệt để bày tỏ tình yêu thương, và cuối cùng là sự kiện Đức Chúa Trời cho Giô-sép hai điềm chiêm bao dự báo sau này Giô-sép sẽ cai trị các anh.

Theo như chương 41:32 người ta tin rằng những điềm chiêm bao đôi chắc chắn sẽ xảy ra. Tuy nhiên, các anh Giô-sép nhất quyết chứng minh rằng những giấc mơ ấy là láo lếu. Họ định giết ông. Tuy nhiên, món lợi nắm liền trong tay khiến họ thay đổi ý định. Hai mươi miếng bạc (bằng tiền lương ba năm của một người chăn chiên) là một số tiền phụ trội hữu ích. Vì vậy họ bán Giô-sép cho các tay lái buôn. Rồi những người này lại bán ông làm nô lệ cho một quan chức Ai Cập. Khi nghe tin báo rằng Giô-sép chắc chắn đã chết, lòng Gia-cốp tan vỡ. Con cháu hết sức an ủi ông nhưng vô ích, ông tuyên bố rằng ông sẽ để tang cho con cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay. Thế là gia đình chia rẽ này đã tan nát tưởng chừng không còn hi vọng gì nữa. Dầu vậy, những điềm chiêm bao đó vẫn còn nguyên giá trị của nó. Tinh thần của Sáng Thế Ký muốn là độc giả nhận biết rằng những điềm chiêm bao này đề ra chương trình hành động của Đức Chúa Trời, và quan tâm đến vấn đề làm sao Giô-sép đạt được những điều điềm chiêm bao dự báo trong thân phận một người nô lệ.

Chú giải. 3 Cái áo dài là một loại áo khoác ngoài, một loại ‘áo tròng đầu ngắn tay’ dài đến đầu gối hoặc mắt cá. 10 Từ mẹ mầy không nhất thiết ngụ ý là Ra-chên còn sống. 12 Về Si-chem xin xem 12:6. 14 Về Hếp-rôn xin xem 23:1  18:1. 17 Đô-than ở phía Bắc Si-chem 22 km (14 dặm). 20 Những cái bể chứa đục từ đá vôi dùng để chứa nước dành cho mùa khô. 25 Dân Ích-ma-ên cũng được xem là dân Ma-đi-an (28,36 so với 39:1). Trong câu này và trong Cac 8:24, hai từ này xem như được dùng lẫn lộn. Hoặc ‘người Ích-ma-ên’ là lái buôn du mục còn ‘Ma-đi-an’ là tên bộ lạc có liên quan, hoặc người Ma-đi-an là một chi tộc trong các bộ lạc mang tên Ích-ma-ên. 29 Rõ ràng Ru-bên đã đi khỏi khi những người Ích-ma-ên đến mua Giô-sép. 31 Chú ý sự công bình của Chúa đã báo trả Gia-cốp về chuyện ông giết một con dê để lừa cha mình (Sa 27:9-16).

2. Ta-ma sỉ nhục Giu-đa (Sa 38:1-30)

Với kỹ thuật đột ngột ngắt ngang câu chuyện tác giả Sáng Thế Ký tạo không khí hồi hộp cho câu chuyện Giô-sép. Phải đợi thêm một thời gian mới biết chuyện gì xảy đến cho ông ở Ai Cập. Nhưng câu chuyện giữa Ta-ma và Giu-đa không phải là không liên quan đến chủ đề chính của câu chuyện. Trong nhiều mặt chuyện này liên quan đến những chủ đề và cách diễn đạt trong các chương từ 37-50. Chuyện này quan tâm trình bày sự thành tựu của lời hứa dành cho các tổ phụ về vấn đề hậu duệ. Chuyện cũng trình bày con người với lòng dạ sắt đá cỡ Giu-đa bị xử lý ra sao, và cũng chuẩn bị tinh thần cho chúng ta gặp một Giu-đa đầy lòng thương cảm trong chương 44. Chuyện này cũng cho chúng ta biết về một cặp anh em sinh đôi khác mà đứa nhỏ cũng vượt trội hơn đứa lớn (38:27-30).

Tuy nhiên, độc giả hiện đại hết sức ngỡ ngàng trước những hành vi kỳ quái trong vấn đề tình dục của những người trong cuộc. Có phải người kể chuyện chấp nhận hành vi của Ta-ma? Vì sao Giu-đa và mấy con trai của ông lại xử sự như vậy? Thời gian xen giữa chương 37:6  39:2 có đủ dài cho những sự kiện trong chương 38 không? Cho dù chấp nhận rằng trong thời đại Kinh Thánh, người ta cưới vợ lấy chồng ngay sau tuổi dậy thì liệu khoảng hai mươi năm có đủ thời gian cho mọi diễn biến của chuyện trong chương 38 không? Theo chương 37:2  41:46-47  45:6, khoảng thời gian kể từ khi Giô-sép bị bán đến khi ông gặp lại các anh là hai mươi năm.

Trong nhiều xã hội xưa và nay, phong tục tái giá với anh em chồng là phổ biến. Theo Cựu Ước, người anh, em chồng của goá phụ không con cần phải cưới goá phụ để sinh con cho người anh, em quá cố. Phu 25:5-10 cho rằng cuộc hôn nhân như vậy là thích đáng nhưng không bắt buộc. Tuy nhiên, trong thời đại của Giu-đa và Ta-ma, người anh, em chồng buộc phải cưới chị dâu goá bụa và người cha chồng có bổn phận phải giám sát việc thi hành bổn phận này.

Giu-đa và các con trai của ông miễn cưỡng thực hiện bổn phận và Ô-nan đã áp dụng một hình thức tránh thai. Hành vi này vi phạm tinh thần của Sa 1:28, vi phạm phong tục nối dõi và lời hứa dành cho các tổ phụ về một dòng dõi đông đảo. Thế là Ô-nan chết yểu (c.10) vì ông chống lại ý chỉ của Đức Chúa Trời đã truyền ra cách rõ ràng. Còn Giu-đa - lẽ ra ông phải bảo ban Sê-la thực hiện bổn phận hợp lý hợp tình đó nhằm bảo đảm cho sự thành tựu của lời hứa - nhưng ông không làm gì cả. Ta-ma, một goá phụ, không có cách nào khiếu nại về sự vô tình của ông gia, vì vậy bà đã gài bẫy ông. Bà gài bẫy ông và đạt được ước nguyện theo luật nối dõi và sinh cho nhà Gia-cốp thêm hai cháu trai. Thật vậy, một trong hai người con của bà là tổ phụ của Đa-vít và Chúa Giê-xu. Bằng cách này bà vạch trần sự giả hình của Giu-đa và biến ông thành một trò hề đến nỗi ông phải thú nhận rằng: ‘Nàng phải hơn ta’ (c.26). Nhưng như vậy không có ý công nhận chuyện ăn ở với ông gia. Câu ‘người không đến cùng nàng nữa’ (26) so vớiLe 18:15) cho thấy hành vi trên là sai. Tuy nhiên, trong trường hợp này, hành vi ngoại lệ của Ta-ma còn châm chước được vì thái độ bất chấp luật lệ đạo đức và nguyên tắc thần học nơi ông gia của bà còn tệ hơn. Hành vi kỳ quái của Ta-ma đã làm cho Giu-đa sực tỉnh.

Chú giải. 1-5 A-đu-lam và Kê-xíp gần Hếp-rôn. 12 Thim-na cách Bết-sê-mết khoảng 6 km (4 dặm). 13 Hớt lông chiên là một ngày hội náo nhiệt và cuốn hút (Sa 31:19  ISa 25:2-37). 18 Con dấu có dây xỏ qua ở giữa. 24 Nghề kỵ nữ theo một bản dịch là ‘quan hệ tình dục bất hợp pháp’ là hợp lý hơn. Có lẽ Giu-đa cho rằng Ta-ma phạm tội gian dâm vì ông cho rằng bà là vợ đã hứa hôn với Sê-la. Trong trường hợp này án phạt là tử hình nhưng không phải thiêu sống, vì thiêu sống là biện pháp trừng phạt dành cho những tội nặng nề hơn (Phu 22:21  Le 21:9). 29 Bản gia phả trong Ru 4:18-22 có Phê-rết.

3. Giô-sép ở Ai Cập (Sa 39:1-47:31)

Sau phần ra ngoài đề viết về Giu-đa, câu chuyện quay lại với chuyện đời của Giô-sép. Bước đường đời của ông ở Ai Cập có thể chia ba giai đoạn: ở nhà Phô-ti-pha (39:1-20) ở tù (39:21-40:23) và ở hoàng cung (41:1-47). Hai giai đoạn đầu mở đầu bằng câu Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sép (2,23) và kết thúc bằng tù tội. Ông bị tống giam (c.20) và bị bỏ quên trong ngục (40:23). Phần thứ ba hoàn toàn ngược lại bắt đầu lúc Giô-sép ở tù và kết thúc lúc ông làm tể tướng Ai Cập.

Ba giai đoạn này hoàn toàn tập trung vào Giô-sép và sau đó thuật chuyện ông đoàn tụ với gia đình như thế nào. Chuyện này cũng chia làm ba phần mô tả ba lần đến Ai Cập của gia đình Giô-sép (42:1-38  43:1-45  46:1-47:31). Cứ thêm một chuyến đi thì số người thân của Giô-sép xuống Ai Cập đông hơn, và đến lần cuối cùng thì toàn thể đại gia đình của ông đến Ai Cập.

(Sa 39:1-20). Giô-sép trong nhà Phô-ti-pha. Đặt chân vào đất Ai Cập là Giô-sép bị bán cho Phô-ti-pha, người chịu trách nhiệm quản lý nhà ngục nhốt các tù nhân của hoàng cung (40:3-4). Có lẽ ông ta cùng chịu trách nhiệm về chuyện thực phẩm của hoàng cung.

Giô-sép thăng tiến nhanh chóng từ một nô lệ làm việc ngoài đồng được vào làm việc trong nhà, trong nhà của chủ mình (c.2). Sau đó ông được chỉ định làm người trợ lý của Phô-ti-pha (c.4), và cuối cùng làm quản gia (c.4-5). Sự thành công của Giô-sép không những phản ảnh khả năng của ông mà còn chứng tỏ rằng Đức Giê-hô-va ở với ông và qua ông, Phô-ti-pha được ơn phước của Đức Chúa Trời (c.5).

Lòng trung thành của Giô-sép đối với chủ thể hiện ở cao điểm khi vợ Phô-ti-pha dụ dỗ ông. Ông cương quyết khước từ lời đề nghị đó và nói ‘thế nào tôi dám làm điều đại ác ấy mà phạm tội cùng Đức Chúa Trời sao?’ (c.9). Đây là một thái độ được tất cả các phần trong Kinh Thánh ủng hộ (Ch 5:1-7:27  Mat 5:27-32). Nhưng thiếu phụ liều lĩnh này đã có cách báo thù. Đợi lúc chỉ có một mình Giô-sép trong nhà, bà ta đã lột áo của ông (bản NIV dịch là áo khoác ngoài) nhưng có lẽ là áo chẽn hoặc áo ngắn thì đúng hơn). Rồi bà ta hô hoán và giơ cái áo đó lên cho những nô lệ khác thấy và sau đó bà tố với chồng rằng Giô-sép định cưỡng hiếp bà ta. Lời tố cáo của bà ta trái ngược với sự thật (so sánh câu 11-13 với 14-15 và 17-18) thế mà đủ làm Phô-ti-pha tin. Ông ta có thật lòng tin lời bà nói không? Ông ta không xử tử Giô-sép đúng theo luật pháp về những trường hợp hãm hiếp như vậy có lẽ Phô-ti-pha cũng không hoàn toàn tin câu chuyện của vợ ông. Tuy nhiên ở tù vì bị vu khống cũng là một kết cuộc thảm thương đối với một người nô lệ trung thành như Giô-sép, mặc dù ông không phải là người cuối cùng chịu bắt bớ vì sự công bình (Mat 5:10-12  IPhi 2:21-25). Chúng ta thường xem Giô-sép là ‘hình bóng’ về Đấng Christ, một đầy tớ trọn vẹn chịu hình phạt một cách bất công. Vì vậy những ai theo Chúa có thể phải đi qua những chặng đường gian nan của Giô-sép và Chúa Giê-xu.

Chú giải. 6 Có một người khác trong Cựu Ước cũng được mô tả là hình dung đẹp đẽ, mặt mày tốt tươi là Ra-chên (Sa 29:17). Do đó có lẽ Giô-sép giống mẹ.

Sa 39:21-23 (xem giải nghĩa 40:1-23).

Giô-sép (Sa 40:1-23)

Hi vọng rồi thất vọng là từng trải quen thuộc của con người, nhưng tình cảnh của Giô-sép thật là thương tâm vì ông bị bán làm nô lệ và bị giam giữ một cách bất công (40:15). Sau khi giải điềm chiêm bao cho quan tửu chánh, ông nghĩ rằng người ta sẽ cho ông một phần thưởng đó là sự tự do, nhưng ông lại thất vọng.

Kinh nghiệm của ông trong tù lặp lại kinh nghiệm trong nhà Phô-ti-pha. Ông đã nhanh chóng được thăng tiến và trở thành người quản lý cho quan thượng thiện và quan tửu chánh. Hai quan này không những dâng rượu cho vua và làm bánh cho vua mà còn là những quân sư cho vua nữa. Giô-sép có lý do để hi vọng rằng quan tửu chánh nhận biết ông đang gánh chịu một sự bất công. Nhưng sau khi được tha, vị quan nọ đã quên hẳn ông. Một lần nữa lời nhận xét của người kể chuyện Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sép (39:23) có vẻ không thích hợp lắm với sự kiện ông đang mòn mỏi trong ngục tù. Giô-sép có khả năng giải nghĩa chiêm bao là một bằng chứng rằng Đức Chúa Trời vẫn còn ở với ông (40:8), nhưng bằng chứng quan trọng nhất về sự hiện diện và sự ủng hộ của Đức Chúa Trời là sự giải cứu thì vẫn chưa đến với Giô-sép. Chịu khổ là con đường dẫn đến vinh quang chưa được bày tỏ cho ông (Phi 2:5-11).

Chú giải. 19 Bản NIV dịch treo ông lên cây chính xác hơn là 'đóng ông vào cọc'. Giô-sép báo trước án tử hình dưới hình thức nặng nề đối với quan thượng thiện: ông bị xử tử rồi bị bêu. Bị bêu là để linh hồn không được an nghỉ trong đời sau (Phu 21:22).

Giô-sép trong hoàng cung (Sa 41:1-56)

Mười ba năm nô lệ, tù đày kết thúc thật bất ngờ. Người ta nhanh chóng đưa Giô-sép ra khỏi tù để diện kiến Pha-ra-ôn. Không phải chỉ có hoàn cảnh bên ngoài đổi khác. Một thiếu niên hỗn hào trêu chọc cả gia đình, giờ đây trở thành một nhân vật tài trí, khôn ngoan. Trũng nước mắt chính là trũng rèn luyện tâm hồn, và cuối cùng, lý do Giô-sép chịu khổ dần dần lộ rõ. Sự tể trị của Đức Chúa Trời đã được thể hiện rõ ràng khi Ngài cho vị Pha-ra-ôn tự mãn thấy hai điềm chiêm bao. Và điều đó càng trở nên rõ ràng hơn khi quan tửu chánh đề nghị Pha-ra-ôn nên mời Giô-sép thông giải chiêm bao và Giô-sép nói ‘nhưng ấy là Đức Chúa Trời sẽ ... đáp lại cho bệ hạ’ (c.16), và cuối cùng Pha-ra-ôn đã giao trách nhiệm cho Giô-sép với lời nói ‘Chúng ta há dễ tìm một người như người nầy, có thần linh của Đức Chúa Trời sao?’ (c.38).

Do đó Giô-sép là tấm gương tiêu biểu của những người có ơn tiên tri và ơn quản trị khôn ngoan. Ông có một cái nhìn thấu vào tương lai và cai trị Ai Cập bằng Thần Linh của Đức Chúa Trời, do đó Ai Cập và các nước xung quanh đã được cứu sống qua nạn đói (Thi 72:16  Es 11:2). Trong việc này, một lần nữa ông là ‘hình bóng’ về Đấng Christ, một tiên tri vĩ đại và một vị vua, một Đầy Tớ chịu khổ để loài người được cứu và mọi đầu gối phải quì xuống phủ phục trước mặt Ngài (Phi 2:10  Sa 41:43). Kinh nghiệm của Đấng Christ về sự chịu khổ và sau đó được vinh hiển là con đường tất cả các Cơ Đốc nhân phải sẵn sàng bước theo (IPhi 5:6).

Trong tầm nhìn của Sáng Thế Ký, phần này nảy sinh một số thắc mắc. Hai lần những đoạn Kinh Thánh kế tiếp nhau Giô-sép thông giải hai điềm chiêm bao, và ông cho rằng lý do chiêm bao đến hai lần là Đức Chúa Trời đã quyết định điều đó rồi và Ngài mau mau làm điều đó cho thành (c.32). Thế còn hai giấc mơ của riêng ông thì sao (Sa 37:5-11)? Có được ứng nghiệm không? Phải chăng ông đặt tên cho hai con là Ma-na-se và Ép-ra-im với ngụ ý là còn thiếu một điều và ông vẫn còn nhớ đến nhà cha ông? Đây là những mốc gợi ý rằng Giô-sép được cất nhắc lên chức vụ cao nhất ở Ai Cập chưa phải là đỉnh điểm của câu chuyện. Đức Chúa Trời vẫn còn bày tỏ mục đích của Ngài thêm nữa.

Chú giải. 17-24 So sánh với nội dung chiêm bao mà Pha-ra-ôn kể lại lần đầu (c.1-7) để nhận thấy ấn tượng ở trong ông. 33-36 Chú ý sự hiểu biết về mục đích của Đức Chúa Trời là sự thôi thúc con người hành động chứ không phải là cái cớ bào chữa cho tình trạng thụ động, không chịu làm gì cả. 39-43 Mô tả về công việc của Giô-sép và mô tả lễ phong chức cho ông. Nghi lễ này cho thấy ông được phong làm tể tướng Ai Cập. 43 Chữ dọn đường nên dịch là ‘cúi xuống’ thì đúng hơn (xem bản NIV). 57 Khắp thế gian là tất cả các nước gần Ai Cập.

Các anh Giô-sép đến Ai Cập lần đầu tiên (Sa 42:1-39)

Chuyến đầu tiên của các anh đến Ai Cập được trình bày trong bảy cảnh và lần thứ hai cũng được mô tả theo cách này: Gia-cốp sai các con trai đi Ai Cập (1-4 so với 43:1-14) họ đến Ai Cập (c.5 so với 43:15-25) diện kiến Giô-sép lần đầu tiên (6-16, so với 43:26-34) bị giam trong ngục (c.17 so với 44:1-3) diện kiến Giô-sép lần thứ hai (18-24 so với 44:14-45:15) rời Ai Cập (25-28 so với 45:16-24) và họ thuật lại với Gia-cốp (29-38 so với 45:25-28).

Ngay sau khi Giô-sép nói rằng ‘Đức Chúa Trời đã làm cho ta quên... cả nhà cha ta’ (41:51) thì các anh của ông đến Ai Cập. Điều đáng ngạc nhiên hơn là mặc dù vào lúc đó có nhiều người đến Ai Cập, Giô-sép lại nhận ra họ. Dĩ nhiên ông biết họ nhưng họ không biết ông.

Đây là chuyến đầu tiên trong ba chuyến hành trình của các anh Giô-sép đến Ai Cập và chuyến hành trình sau lại quan trọng hơn chuyến trước. Khi Giô-sép thấy các anh, ông nhớ lại điềm chiêm bao của mình (c.9 so với 37:5-11). Ở Ai Cập mười người anh đã quì xuống trước mặt ông, nhưng trong điềm chiêm bao mười một anh em cùng cha mẹ ông đều tôn trọng ông. Vậy còn người em và người cha ở đâu? Lời dự báo trong điềm chiêm bao và thực tế xảy ra không giống nhau cộng với ý muốn biết rõ thực hư thúc giục Giô-sép chất vấn cặn kẽ các anh mình.

Ông cũng dàn một cảnh tương tự như cảnh mấy chục năm xưa khi họ đẩy ông qua Ai Cập khiến các anh trở về nhà thiếu một người. Ông giữ Si-mê-ôn lại làm con tin để thử xem họ có bán lương thực để chuộc lại, như khi họ bán Giô-sép để lấy tiền không. Các anh của Giô-sép nhận ra sự tương đồng này và lương tâm tội lỗi của họ lên tiếng cho họ thấy Đức Chúa Trời đang hình phạt họ qua tình cảnh khốn khó này và cũng khiến họ nhắc lại hành vi tội lỗi của mình mà lâu nay chưa hề có ai kể ra (21-22).

Những dấu hiệu đầu tiên về sự ăn năn được củng cố khi họ thấy có tiền trong mỗi bao đựng thóc (c.28). Họ tiếp tục hồi tưởng lại chuyện hai mươi năm về trước cho đến lúc về tới nhà. Một lần nữa, họ phải giải thích lý do tại sao lại thiếu mất một người. Gia-cốp nhất mực không chấp nhận cho họ đem Bên-gia-min xuống Ai Cập để giải thoát Si-mê-ôn vì trong đời sống tình cảm của Gia-cốp Bên-gia-min đã thế chỗ của Giô-sép. Gia-cốp cũng không hoàn toàn tin lời các con trai của ông kể, liền sau đó chuyện của họ được xác minh một cách đáng sợ. Khi họ trút các bao lúa thì những gói bạc cũng văng ra. Gia-cốp nghĩ rằng họ đã bán Si-mê-ôn. Ông gián tiếp buộc tội họ bằng câu nói: ‘Bay làm mất con tao, Giô-sép đã mất biệt, Si-mê-ôn cũng mất biệt’ (c.36), và sau đó ông tuyên bố: ‘Con út tao sẽ chẳng đi xuống với bay đâu’ (c.38). Tất cả những đau đớn và sầu khổ trong hai mươi năm qua nay bung ra lại. Làm thế nào hàn gắn gia đình tan nát này lại? Những điềm chiêm bao của Giô-sép sẽ được thành tựu như thế nào? Chuyến đầu tiên đi Ai Cập của các anh Giô-sép đã gây ra nhiều thắc mắc chưa giải đáp được trong ý tưởng của độc giả.

Chú giải. 30-34 Chú ý là các anh Giô-sép không kể cho Gia-cốp những chuyện hiểm nghèo họ đã gặp ở Ai Cập như bị ở tù hoặc bị doạ giết (17,20). Dầu vậy, những chuyện khác cũng không thuyết phục được Gia-cốp.

Lần thứ hai các anh đi Ai Cập (Sa 43:1-45:28)

Sa 43:1-34

Căn cứ vào toàn bộ bài tường thuật về chuyến đi thứ hai, chúng ta có thể đưa ra nhiều sự so sánh với chuyến đi trước, và muốn thưởng thức đầy đủ thi vị của hai câu chuyện về hai chuyến đi này chúng ta cần so sánh kỹ. Chuyến đi này không những đáng so sánh với chuyến đi trước mà còn dự báo về chuyến đi thứ ba là khi cả gia đình đều xuống Ai Cập.

Gia-cốp vẫn là chủ gia đình nên hễ ông còn phản đối thì họ không thể đi được. Cuối cùng, vì nạn đói kéo dài và vì Giu-đa đứng ra bảo đảm chắc chắn cho Bên-gia-min, Gia-cốp đành phải bằng lòng. Cũng như khi ông chuẩn bị cho cuộc đoàn tụ với Ê-sau, lần này ông cũng chuẩn bị quà cáp cho người đó ở Ai Cập và đặt lòng tin tưởng nơi sự cầu nguyện (so với 32:7-21). Lời cầu nguyện của Gia-cốp biểu lộ đức tin của ông suy kém dầu vậy lòng thương xót của Đức Chúa Trời vẫn vượt quá lòng mong đợi của ông. Ông cầu nguyện rằng ‘Người đó sẽ tha đứa em kia và Bên-gia-min cho bay’ (c.14). Gia-cốp muốn nói đứa em kia là Si-mê-ôn nhưng sau đó ông cũng đoàn tụ với Giô-sép nữa.

Gia-cốp hết sức lo lắng về sự an toàn của Bên-gia-min còn các con trai ông thì lo sợ tội lỗi của họ bị báo trả. Hễ có chuyện bất ngờ nào xảy ra là họ đâm hoảng (18,23 so với câu 33) và gán cho mọi diễn biến một dấu hiệu của sự hình phạt.

Khi họ gặp lại, Giô-sép rất tử tế, từ tốn hỏi thăm về ‘người cha già’, chúc phước cho Bên-gia-min (‘con út ơi, cầu xin Đức Chúa Trời làm ơn cho ngươi’) và cuối cùng đãi họ một bữa tiệc thịnh soạn. Bầu không khí trái ngược với những câu chất vấn gay gắt trong lần trước (42:6-16) càng làm cho họ bối rối hơn. Và làm thế nào mà vị tể tướng Ai Cập nầy lại biết thứ tự tuổi tác của họ (c.33)? Tuy vậy xem ra họ chấp nhận việc đó như là chuyện đương nhiên và ăn uống thoải mái với Giô-sép.

Sáng hôm sau vừa khi họ có thể chúc mừng nhau là được phép rời khỏi Ai Cập an toàn với Si-mê-ôn, Bên-gia-min và thực phẩm thì thế giới của họ liền tan tành. Bên-gia-min bị bắt vì tội ăn cắp cái chén bạc, và tất cả phải quay trở lại tư dinh của Giô-sép. Đó là sự sụp đổ của một thế giới xây trên sự ghen ghét, dối trá và lừa gạt, và nhờ đó bản chất thật của họ mới bị lột trần. Cụ thể là Giu-đa, con người có lòng dạ sắt đá, là người đã đề nghị bán Giô-sép làm nô lệ và đòi hoả thiêu con dâu (37:27  38:24) giờ đây là một người hoàn toàn đổi khác. Với bài nói dài nhất trong Sáng Thế Ký ông hùng hồn nài nỉ Giô-sép phóng thích Bên-gia-min. Ông mô tả những hậu quả thương tâm đối với người cha cao tuổi một khi Bên-gia-min không trở về, và cuối cùng ông xin ở lại làm nô lệ thế cho Bên-gia-min. Thế là cuối cùng sự tình đã rõ ràng. Mối thù hằn lâu năm giữa đám con trai của Lê-a (tức Giu-đa) với đám con trai của Ra-chên (Giô-sép và Bên-gia-min) không còn nữa. Một khi Gia-cốp chỉ xem Ra-chên và hai con trai của bà mới thật sự là gia đình của ông thì lẽ ra đám con của Lê-a phải chọn chuyện Bên-gia-min làm nô lệ ở Ai Cập để làm ông đau lòng mới phải chứ (44:33-34).

Giu-đa tỏ lòng sẵn sàng vì em và vì cha mà hi sinh đã cho phép Giô-sép tỏ thật với anh em về nguồn gốc của mình và bày tỏ mục đích của Đức Chúa Trời trong chặng đời khổ đau đã qua của ông. Đức Chúa Trời dùng những việc làm xấu xa của các anh để cứu nhiều người (45:7). ‘Không phải các anh sai tôi đến đây đâu, ấy là Đức Chúa Trời’ (45:8) là một câu gói trọn mục đích của cuộc đời Giô-sép. Đức Chúa Trời tể trị những hành động của con người tốt hoặc xấu nhằm đạt mục đích cứu rỗi của Ngài. Chúa đã tuyên bố với Áp-ra-ham rằng qua ‘dòng dõi ngươi các dân thế giới sẽ được phước’ (22:18). Qua Giô-sép và chương trình cứu đói của ông, lời hứa này đã được ứng nghiệm phần nào.

Dù có khẳng định rằng Đức Chúa Trời tể trị mọi hành động của con người Sáng Thế Ký vẫn không phủ nhận sự kiện con người hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành động của họ trên phương diện đạo đức. Câu chuyện cùng lúc khẳng định cả hai lẽ thật này bằng cách nhấn mạnh đến nỗi đau lớn lao do các anh em gây ra, Gia-cốp đau khổ khôn nguôi, Giô-sép làm nô lệ và ở tù vì chuyện bất công và các anh của Giô-sép bị lương tâm tội lỗi cáo trách. Chính vì tin rằng con người phải nhận biết trách nhiệm về hành vi và phải chịu sự cáo trách về tội lỗi của mình mà Giô-sép đã đối xử với các anh cách nghiêm khắc trong câu 14-15 và trong chương 42. Khi Giu-đa xưng nhận tội lỗi (câu 16: ‘Đức Chúa Trời đã thấu rõ điều gian ác của tôi tớ chúa rồi’ ám chỉ chuyện các anh bán Giô-sép) và bày tỏ lòng ăn năn sửa đổi chân thành qua cử chỉ bằng lòng làm nô lệ thay cho Bên-gia-min, thì sự tha thứ và phục hoà mới thể hiện được. Vừa khi các anh đạt được bước đó, lòng khoan dung rộng lượng của Giô-sép bung ra vô bờ bến. Ông cung cấp mọi thứ cần dùng, thực phẩm và phương tiện cho các anh đi trở về nhà.

Cuối cùng khi họ đem tin tức về đến nhà, Gia-cốp sững sơ không dám tin chuyện các con trai của ông kể. Dầu vậy rốt cuộc ông tin, và sau hai mươi năm để tang trong đau buồn, giờ đây ông bộc lộ được niềm hi vọng ‘Giô-sép con trai ta hãy còn sống, ta sẽ đi thăm nó trước khi ta qua đời.’

Chú giải. 26 Điềm chiêm bao của Giô-sép chỉ thành tựu mới có một phần (so với 37:9-10  42:6). 32 Các tác giả cổ điển thường đề cập đến sự kiện người Ai Cập không thích dùng bữa chung với người ngoại quốc. Sa 44:5 Không rõ thật giả thế nào, khi cái chén được mô tả là dùng để bói thì tội ăn cắp trở nên nghiêm trọng hơn. 28 Đây là lần đầu tiên Giô-sép biết cha của mình phản ứng ra sao đối với chuyện ông mất tích (so với 37:33). 45:8 Cha Pha-ra-ôn tức là cố vấn hàng đầu. 45:10 Gô-sen ở phía đông châu thổ của sông Ni-lơ.

Sa 44:1-34 (xem giải nghĩa 43:1-34)

Sa 45:1-28 (xem giải nghĩa (43:1-34)

Gia-cốp đến Ai Cập (Sa 46:1-47:31)

(Sa 46:1-34) Khi so sánh với hai phần cuối, phần này dường như chùng lắng xuống vì những bản liệt kê dài và bóng đen ám ảnh cái chết kề cận của Gia-cốp. Dầu vậy đây là cuộc hành trình đến Ai Cập lần thứ ba và quan trọng nhất. Trong cuộc hành trình này, Gia-cốp rời Ca-na-an là đất hứa để đến Ai Cập, vùng đất nô lệ tương lai. Phải chăng đây là một sai lầm lớn? Không. Gia-cốp di cư không phải chỉ vì được Giô-sép mời mà thôi mà còn được Đức Chúa Trời cho phép nữa. Chương 46:3-4 ghi lại một khải tượng duy nhất trong chuyện của Giô-sép. Đức Chúa Trời phán với Gia-cốp rằng: ‘Hãy xuống Ai Cập’ và Ngài cũng bảo đảm với ông rằng: ‘Chính Ta sẽ xuống đó với ngươi và chính ta cũng sẽ dẫn ngươi về chẳng sai’ (so với 28:15). Họ chỉ định tạm ngụ ở Ai Cập một thời gian thôi. Thật vậy, đó cũng là một phần trong mục đích của Đức Chúa Trời (so với 15:13-14). Phần này kết thúc với chuyện Gia-cốp buộc Giô-sép phải an táng mình chung với các tổ phụ ở xứ Ca-na-an (47:29-30). Rồi đây lời hứa của Đức Chúa Trời sẽ được ứng nghiệm

Thật vậy, lời hứa này đang trên đà thành tựu vì gia đình Gia-cốp lúc này đã được bảy mươi người, một con số thiêng liêng ( so với bảy mươi dân tộc trong 10:2-31). Dân Y-sơ-ra-ên đang trở thành một ‘dân lớn’ như lời đã hứa với Áp-ra-ham và đã tái lập với Gia-cốp (46:3). Phần lớn những người được liệt kê ở đây là tổ phụ của những chi phái và bộ tộc của dân Y-sơ-ra-ên thời xưa, và các độc giả thời xưa hẳn cũng đã nhận thấy rằng những lời hứa này đã được thành tựu ra sao.

Tác giả nhanh chóng quay trở lại câu chuyện. Đối với Gia-cốp, Giô-sép xuất hiện đầy hào quang như trong mơ. Nhưng khi Giô-sép ôm choàng lấy ông, ông mới nhận biết rằng đó là sự thật và Giô-sép vẫn còn sống. Cuộc hội ngộ với người con trai mà Gia-cốp tưởng là chết rồi đã thay đổi thái độ của ông đối với sự chết. Giờ đây ông sẵn sàng ra đi với lòng bình an (so với Lu 2:29), cũng như sự phục sinh của một ‘Giô-sép vĩ đại’ khiến cho vô số người qua đời với niềm hi vọng (IPhi 1:3). Dù đỉnh cao trong tầm nhìn của Gia-cốp là được đoàn tụ với Giô-sép, nhưng Giô-sép hướng nhìn xa hơn vào tương lai. Ông được sai đến để cứu sống gia đình, nay ông cần bảo đảm cuộc mưu sinh của các anh ở Ai Cập. Do đó ông dặn dò họ những điều cần trình bày với Pha-ra-ôn, tức là trình bày rằng họ không có chủ ý xin việc làm hoặc xin lương thực, rằng họ có nghề chăn nuôi và họ có dẫn theo bầy sức vật, nên họ chỉ cần đồng cỏ cho bầy súc vật và họ sẽ không thêm một gánh nặng nào cho Ai Cập. Theo chương Sa 47:1-6 thì kế hoạch này thành công mỹ mãn. Pha-ra-ôn vui lòng cấp cho họ đồng cỏ tốt nhất ở Ai Cập và nhờ họ chăn bầy cho hoàng gia luôn. Một lần nữa chúng ta cần nhận thấy sự vận hành vô hình của Đức Chúa Trời (so với 39:3,21  41:37-38).

Sau đó Giô-sép đưa cha đến giới thiệu với Pha-ra-ôn. cụ Gia-cốp già nua được đưa vào triều và phải có người phụ đỡ để yết kiến Pha-ra-ôn (đây là nghĩa đen của 47:7). Bộ dạng Gia-cốp trông rất thảm thương nhưng Pha-ra-ôn lại tỏ ra rất tôn trọng cụ, hỏi han về tuổi tác cụ và hai lần nhận lời chúc phước của cụ. Mặc dù cuộc đời cụ có nhiều chặng đáng buồn (47:9) nhưng chính yếu cụ vẫn là con người đầy phước hạnh, qua cụ ‘mọi dân trên đất đều được phước’ (28:14).

Ơn phước của Đức Chúa Trời trên Ai Cập càng được biểu thị rõ ràng qua việc Giô-sép cung ứng lương thực cho dân Ai Cập trong suốt trận đói. Đọc phần này các độc giả hiện đại có cảm tưởng như Giô-sép đã nhẫn tâm áp dụng một chính sách bóc lột đối với người Ai Cập đang đói khát. Sao ông không cấp phát lương thực cho họ thay vì buộc họ phải đem bầy súc vật, đất đai và sự tự do mà đổi lấy lương thực? Cựu Ước nhìn sự việc này theo ý khác. Le 25:14-23 cho thấy rằng mua đất của người cùng túng và cho họ việc làm (nô lệ) là một cử chỉ tế chẩn tốt. Thật vậy, một số người cho rằng làm việc (nô lệ) cho một ông chủ tốt còn hơn là tự do (kiếm việc làm) với lắm chuyện bấp bênh. Đến lúc được trả tự do, một số nô lệ vẫn từ chối (Xu 21:5-6  Phu 15:16-17). Chế độ nô lệ trong thời Cựu Ước rất khác với lối bóc lột tàn nhẫn của phường buôn bán nô lệ ở vùng Đại Tây Dương mấy thế kỷ trước đây. Cuộc sống nô lệ dễ chịu nhất trong thời Cựu Ước có nghĩa là làm việc trọn đời với một ông chủ nhân hậu. Chắc chắn đây là cảm nghĩ của người Ai Cập đối với chính sách của Giô-sép, vì họ tuyên bố rằng ‘Chúa đã cứu mạng chúng tôi ... chúng tôi sẽ làm tôi mọi cho Pha-ra-ôn’ (Sa 47:25).

Phần này kết thúc bằng cái nhìn thoáng qua tiến trình thành tựu của lời hứa vì dân Y-sơ-ra-ên sanh sản và thêm nhiều bội phần (so với 17:2,6  28:3). Phần này cũng hướng cái nhìn vào tương lai gần cận là Gia-cốp qua đời và lễ an táng (chương 48-50). Tác giả Sáng Thế Ký đặt phần ‘trung chuyển’ ở cuối phần trước để dẫn nhập vào phần sau (thí dụ 6:5-8  9:18-27  37:36  39:20  41:57  45:28).

Chú giải. 1 Về Bê-e-sê-ba xin xem (21:14). 4 Giô-sép sẽ vuốt mắt ngươi nhắm lại là một lời hứa ngụ ý rằng Gia-cốp qua đời an ổn. 12 Hết-rôn và Ha-mun là các con trai của Phê-rết (38:29), có lẽ cũng giống như các con của Giô-sép (46:27) ra đời tại Ai Cập (46:21). 34 Vì dân Ê-díp-tô có tánh gớm ghê hết thảy kẻ chăn chiên có lẽ phản ánh lòng nghi ngại phổ thông của dân thành phố đối với dân du mục (so sánh với thái độ của xã hội hiện đại đối với dân du thực du cư). 47:11 Miền Ram-se tức là gần thành Rameses (Xu 1:14  12:37), có lẽ đây là một tên gọi khác của Gô-sen.

Sa 47:1-31 (xem giải nghĩa Sa 46:1-34)

4. Những ngày cuối đời của Gia-cốp và Giô-sép (Sa 48:1-50:26)

(Sa 48:1-22)

Phần mô tả dài dòng về sự qua đời của Gia-cốp và đám tang xem ra có vẻ cường điệu và không lành mạnh. Thật ra phần này nhằm biểu dương sự thành tựu của các lời hứa. Tại Bê-tên (Lu-xơ) Đức Chúa Trời đã hứa với Gia-cốp rằng Ngài sẽ khiến dòng dõi của ông đông đúc, đồng thời cũng ban xứ sở cho ông (35:11-12). Giờ đây Gia-cốp hồi tưởng lại xem những lời hứa này trở thành sự thật ra sao. Ông không hề hi vọng gặp lại Giô-sép thế mà nay ông được thấy cả cháu nội (48:11). Ông cũng đã sở hữu một thửa đất ở Ca-na-an: một nghĩa trang tại Mam-rê (50:29-32) và một giải đất chiếm đoạt được của dân A-mô-rít (48:21-22).

Tuy nhiên những điều này cũng chỉ là bước đầu của sự thành tựu trong tương lai. Sự việc Gia-cốp đặt Ép-ra-im và Ma-na-se vào vai con của ông dự báo trước vai trò tương lai của họ là hai chi phái lớn nhất của Y-sơ-ra-ên, ngang hàng như Si-mê-ôn và Ru-bên vậy (48:5). Nhưng trong chương 49, Gia-cốp nhìn vào tương lai xa hơn và ông thấy rằng tất cả con trai ông sẽ trở thành những chi phái định cư trong khắp các vùng tại xứ Ca-na-an. Giu-đa sẽ nổi tiếng với nghề trồng nho, Sa-bu-lôn ở nơi mé biển, A-se sẽ được thực phẩm phong phú (49:11,13,20). Thế rồi sau khi đã vẽ nên bức tranh về sự vinh hiển tương lai của dân Y-sơ-ra-ên ở Ca-na-an, Gia-cốp một lần nữa quyết liệt yêu cầu con cháu phải an táng ông ở Ca-na-an sau khi ông qua đời. Chương 49 được gọi là lời chúc phước của Gia-cốp mặc dù không phải tất cả những lời chúc của ông là phước hạnh (thí dụ 3-7), chương này cũng là một bài thơ cổ nhất trong Cựu Ước. Với nhiều lời bình luận về các sự kiện trong Sáng Thế Ký, chương 49 dường như được sáng tác nguyên chương trọn bài chứ không phải là một bài sưu tập những câu tục ngữ với nguồn gốc riêng rẽ. Trong chương này Gia-cốp nói đến những thành tựu trong quá khứ và tương lai của các con trai của mình sắp theo gần đúng thứ tự ra đời. Do đó chương này là một trong những bài thơ cổ nhất của Cựu Ước. Nhưng thông thường trong thể loại tiên tri bằng văn vần luôn luôn có một số từ khó hiểu nên rất khó dịch.

Sau lễ tang trọng thể theo kiểu Ai Cập, thi hài của Gia-cốp được long trọng rước về Ca-na-an. Đây không phải chỉ là việc các con trai ông thực hiện theo lời trối của ông nhưng còn là một hành động dự báo về cuộc xuất Ai Cập, là dịp tất cả con cháu của ông sẽ rời khỏi Ai Cập để trở về đất hứa. Nội lộ trình bất bình thường của đám tang – đi vòng Biển Chết để tiến vào Ca-na-an từ phía đông dường như cũng dự báo về con đường mà Môi-se và Giô-suê sẽ dẫn dân Y-sơ-ra-ên đi qua. Cũng vậy trước khi qua đời, Giô-sép buộc họ phải thề ‘dời hài cốt tôi khỏi xứ này’ (50:25). Do đó Sáng Thế Ký kết thúc bằng niềm hi vọng chắc chắn rằng những lời hứa đã lập trước hết với Áp-ra-ham, sau đó được lặp lại với con ông và cháu nội ông sẽ thành tựu.

Tuy nhiên sự sở hữu xứ Ca-na-an chỉ là một khía cạnh trong những lời hứa đã lập với Áp-ra-ham và những chương cuối này còn liên quan đến những vấn đề khác. Mối quan hệ giữa Giô-sép và các anh lại thành vấn đề sau khi Gia-cốp qua đời. Các anh băn khoăn lo ngại rằng liệu ông có lợi dụng hoàn cảnh này để báo thù không. Giô-sép bàng hoàng khi được biết mối lo ngại này. Ông lặp lại quan điểm của mình về vấn đề này: ‘Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời toan làm điều ích cho tôi hầu cho cứu sự sống của nhiều người’ (50:20 so với 45:5-8). Qua dòng dõi của Áp-ra-ham tất cả các dân tộc sẽ được phước và điều này đã được ứng nghiệm phần nào trong kế hoạch tổ chức cứu đói của Giô-sép. Nhưng lời chúc phước của Gia-cốp còn nói xa hơn. Từ trong chi phái Giu-đa sẽ xuất hiện một người cai trị các dân tộc, kỷ nguyên của người đó sẽ rất thịnh vượng đến nỗi Người buộc lừa tơ mình vào gốc nho và giặt áo mình trong rượu nho (49:11). Thoạt tiên lời tiên tri này được ứng nghiệm với sự thịnh vượng dưới triều đại Đa-vít và Sa-lô-môn, nhưng sẽ được ứng nghiệm đầy đủ hơn trong Chúa chúng ta khi Ngài hiện đến lần thứ nhất, rồi sẽ được ứng nghiệm trọn vẹn khi Ngài hiện đến lần thứ hai (cũng xem chú giải dưới đây). Do đó, Gia-cốp và Giô-sép đã qua đời trong hi vọng – ‘Họ chưa nhận lãnh những điều đã hứa cho mình, chỉ trông thấy và chào mừng những điều ấy từ đàng xa ... họ trông đợi một quê hương tốt hơn – tức là quê hương ở trên trời’ (He 11:13,16,40). Thật vậy tất cả những ai trông cậy nơi Đức Chúa Trời sẽ sống với họ nơi quê hương này.

Chú giải. 5-6 Nhận cháu nội làm con là chuyện phổ biến ở vùng Cận Đông cổ. 8 Gia-cốp hỏi ‘Những đứa này là ai?’ có lẽ là tại ông mù hoặc là một câu hỏi trong nghi thức nhận con nuôi. 11 Lời cầu nguyện đầy thở than của Gia-cốp trong Sa 43:14 đã được đáp lời vượt quá ý mong đợi (Eph 3:20). 13-20 Trong thời đại Kinh Thánh, vị trí bên hữu là địa vị được tôn trọng và phước hạnh (Phu 11:29  Mat 25:33). Gia-cốp đã cố tình đặt vị trí của Ép-ra-im lên trên vị trí của con đầu là Ma-na-se, một mô hình thường thấy trong Sáng Thế Ký (so với Sa 4:1-8  38:27-30  chương 27). 22 Dường như câu này nói đến cuộc tấn công thành Si-chem của các con trai Gia-cốp (34:25-29). Gia-cốp đã mua một miếng đất gần đó (33:18-19) và sau này Giô-sép cũng được an táng trong vùng này (Gios 24:32).

(Sa 49:3-4). Tương tự như những người con đầu khác (Ca-in, Ích-ma-ên và Ê-sau), Ru-bên mất địa vị cao trọng vì tội lỗi của ông (35:22).

(Sa 49:5-7). Nói đến cuộc tấn công trong 34:24-29. 6 Trong văn chương Ca-na-an, đôi khi những người lãnh đạo được gọi là ‘bò đực’, vì vậy sự ‘cắt nhượng bò đực’ có lẽ là nghĩa sát hại những người lãnh đạo là Hê-mô và Si-chem hoặc là sự mô tả nỗi phiền phức Gia-cốp phải chịu vì hậu quả của cuộc tấn công này (so với 34:30). 7 Người Lê-vi không được chia lãnh thổ riêng, chỉ có bốn mươi tám thành. Chi phái Si-mê-ôn thì ghép vào với chi phái Giu-đa (Gios 19:1-9  21:1-45).

(Sa 49:8-12). Mặc dù ý nghĩa tổng quát của phước hạnh này đã rõ (tức là nói tiên tri về sự vượt trội của chi phái Giu-đa giữa các chi phái) vẫn còn nhiều chi tiết không rõ. 8 ‘Tay con sẽ chận cổ quân nghịch’ nghĩa là đánh bại kẻ thù’. 9 Giu-đa sẽ trở nên nguy hiểm như sư tử bảo vệ mồi của mình nếu gặp sự khiêu khích. Câu ‘Sư tử của chi phái Giu-đa’ bắt nguồn từ câu này. 10 Chi phái Giu-đa luôn luôn có người thừa tự (từ giữa chơn nó) để cai trị dân tộc này (cây phủ việt là biểu tượng của uy quyền), Xin sửa một chút câu cho đến chừng người thuộc về nó hiện đến thành ‘cho đến chừng đồ triều cống được mang đến cho người ấy’ (bản Việt ngữ ‘cho đến chừng Đấng Si-lô hiện đến’). Khó lòng giải nghĩa câu này cho chính xác, nhưng hầu như cách giải nghĩa nào cũng xem phần này nói tiên tri về vương quốc của Đa-vít, nhiều nước sẽ thần phục vị vua ra từ chi phái Giu-đa (Thi 72:8-11). Vua này là nhân vật tiền thân của con cháu Đa-vít mà mọi dân tộc phải vâng phục (Phi 2:10-11). 11 Trong thời kỳ đó sản lượng nho rất nhiều đến nỗi vị vua thuộc dòng họ Đa-vít đó không bận tâm đến chuyện con lừa của vua ăn nho khi cột nó vào cây nho ngon nhất. Người giặt áo xống mình trong nước nho là một hình ảnh khác về chuyện dư thừa rượu nho (so với Le 26:5). 12 Có lẽ đây là hình bóng về vẻ đẹp của người lãnh đạo. 13 Chi phái Sa-bu-lôn được chia cho phần đất ở vùng biển nội địa Ga-li-lê, và chúng ta không rõ họ đã định cư ở vùng duyên hải khi nào hoặc bao lâu. 14-15 Dường như những câu này phản ảnh một giai đoạn trong lịch sử của chi phái Y-ca-sa khi họ phải làm nô lệ cho người Ca-na-an. 16-17 Những câu này tiên tri về các chiến công của chi phái Đan, đem lợi ích về cho dân Y-sơ-ra-ên so những kỳ công của Sam-sôn Cac 13:1-16:31 và cuộc tấn công thành La-ít 18:27). 18 Mặc dù có những thành công nhỏ trong thời các quan xét nhưng nhìn chung, sau thời gian chinh phục xứ, dân Y-sơ-ra-ên gặp nhiều khó khăn, vì vậy Gia-cốp cầu nguyện cho họ. 19 Gát là một chi phái ở vùng biên giới nên thường lâm chiến. 20 Vùng đất màu mỡ của chi phái A-se sản xuất nhiều thực phẩm thích hợp cho các vua. 21 Có lẽ đây là hình ảnh về chi phái Nép-ta-li dần dần được ổn định ở Ca-na-an. 22 Đây là hình ảnh hoặc về một con lừa hoang (xem lề bản NIV) hoặc (ít có khả năng hơn) về một cây nho sai trái, nói lên sinh lực và sức mạnh của chi phái đó. 23-24 Có lẽ những câu này viết về những thế lực chống nghịch Giô-sép suốt thời gian công tác của ông. Nhưng rốt cuộc Đức Chúa Trời làm cho họ phải nín bặt. 25-26 Chú ý từ ‘phước’ được lặp lại sáu lần trong những câu này. Đây là một trong những từ then chốt của Sáng Thế Ký. Ở đây phước hạnh thiên thượng được biểu hiện qua việc cung cấp nước dư dật, tức là mưa (‘trên trời’), các dòng suối (‘vực sâu’) qua việc có nhiều con cái (‘vú và lòng mẹ’), và các chóp núi màu mỡ trên cao. 27 Có lẽ câu này nói đến những chiến công của các dũng sĩ Bên-gia-min (3:15-30  5:14) và có thể là Sau-lơ (ISa 10:1-14:52). 31 Đây là câu duy nhất đề cập đến chỗ mai táng Rê-bê-ca và Lê-a (so sánh Sa 23:19  25:9  35:29).

2-3 Người ta ướp xác của Gia-cốp chứng tỏ ông được trọng vọng. 10 Sân đạp lúa của A-tát là một địa điểm gần biên giới Ca-na-an, có lẽ gần Ga-xa hoặc Giê-ri-cô. Nếu là Giê-ri-cô thì có ý nói rằng đám tang này đã đi con đường mà sau đó dân Y-sơ-ra-ên sẽ đi khi ra khỏi Ai Cập. 15-17 Người ta thường cho rằng các anh của Giô-sép đã bịa ra lời trối này nhưng chúng ta không dám kết luận dứt khoát.

Lên đầu trang