CÔ-LÔ-SE

MỤC LỤC

CÔ-LÔ-SE

1. LỜI CHÀO THĂM CỦA PHAO-LÔ (Co 1:1-2)

Phao-lô mở đầu bức thư gởi người Cô-lô-se giống như cách nhiều tác giả viết thư đời xưa đã làm, với ba chi tiết: tên người gởi, tên những người nhận và lời chào thăm (cũng xem bài viết về “đọc các bức thư” Reading the Letters). Tuy nhiên, có mấy điểm khác nhau quan trọng giữa các bức thư của Phao-lô với nhiều bức thư khác trong thời cổ đại (xem bài viết tổng quát về “Đọc Các Thư Tín”). Thứ nhất sứ đồ này đã đề cập chính tên ông và các thư giới thiệu liên quan đến hoàn cảnh của từng bức thư thứ hai, ông ngỏ lời với các độc giả bằng những thuật ngữ Cơ Đốc, và thứ ba, lời chào mở đầu không phải là một lời chúc sáo rỗng, nhưng là sự bày tỏ mối quan tâm sâu sắc của mình dành đôc giả trong mối liên hệ với ân điển và sự bình an của Đức Chúa Trời.

Với cương vị một sứ đồ của Đức Chúa Giê-xu Christ, Phao-lô đã được Chúa Giê-xu phục sinh trực tiếp kêu gọi và sai phái để trở nên một người có thẩm quyền đại diện cho Ngài trong công cuộc truyền giảng Phúc Âm và thành lập Hội Thánh. Ông thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu và đề cập đến chức vụ sứ đồ của mình, không phải vì nó đang bị công kích tại Cô-lô-se (như đã từng bị công kích tại Ga-la-ti, Cô-rinh-tô, Ga 1:1,10-12  ICo 9:1-3  IICo 11:10-13), nhưng là để tuyên bố về sự kêu gọi và chức vụ của ông ngay ban từ đầu,  hầu cho cộng đồng chú ý đến phong cách viết trịnh trọng của bức thư này . Một sứ đồ có quyền dạy dỗ (ITi 2:7) và có thái độ của một người chăn để chăn dắt các hội thánh (IICo 13:10). Cả sự kêu gọi lẫn chức vụ của Phao-lô đều là theo ý muốn Đức Chúa Trời, một cụm từ nhấn mạnh rằng chúng ta chỉ nhờ duy nhất ân điển của Đức Chúa Trời mà thôi, và rằng Phao-lô có một trách nhiệm đặc biệt trong kế hoạch của Đức Chúa Trời đối với các hội thánh ngoại bang (Eph 3:1-13). Ti-mô-thê đã được đề cập (IICo 1:1 Phi 1:1), không phải với tư cách là đồng trước giả của bức thư, nhưng vì ông vốn là bạn đồng hành với Phao-lô trong phần lớn thời gian mà Phao lô thi hành chức vụ ở tại Ê-phê-sô và hiện đang ở cùng Phao-lô lúc ông viết bức thư này. Người Cô-lô-se  đã được mô tả bằng một ngôn ngữ cao quý: gởi cho các anh em chúnh ta thành --se, những người thánh trung tín trong Đấng Christ. Giống như dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời, những người đã được Ngài chọn và giao cho trách nhiệm phục vụ Ngài (Xu 19:16), họ là “những người thánh” vì đã được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời để phục vụ Ngài. Do đó, cuộc đời họ (và chúng ta nữa) đều phải bày tỏ được nếp sống tin kính. Họ là các anh em trung tín vì với tư cách là những tín hữu, họ được hiệp lại với nhau trong một mối thông công sống động trong Chúa Cứu Thế (về chủ đề được “ở trong Chúa Cứu Thế”, xin xem Co 2:6-15). Anh em (có nghĩa là anh chị em) nói về các mối liên hệ chặt chẽ giữa các Cơ Đốc nhân với tư cách là những thành viên của gia đình Đức Chúa Trời. Như những người đã được lựa chọn và là công cụ bày tỏ tình yêu của Chúa Cứu Thế dành cho họ, người Cô-lô-se phải bày tỏ tình yêu thương anh chị em với nhau. Lời chào thăm nguyền xin ân điển sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta cho thấy mối quan tâm chân thành của Phao-lô đối với người Cô-lô-se, để họ hiểu rõ và cảm kích càng đầy đủ hơn ân điển của Đức Chúa Trời mà họ đã nhận được, và mối liên hệ hoà thuận mà Đức Chúa Trời đã thiết lập với họ (Ro 5:1-2).

2. TẠ ƠN CHÚA VỀ ĐỨC TIN, TÌNH YÊU, HY VỌNG VÀ PHÚC ÂM (Co 1:3-8)

Theo lệ thường, sứ đồ Phao lô cảm tạ Đức Chúa Trời vì các đôc giả của mình. Trong phân đoạn cảm tạ này, ông sử dụng cách viết biến thể đặc biệt theo bút pháp Hi văn. Phân đoạn này cho thấy được nhịp điệu của bức thư và một số chủ đề chính của nó, khi Phao-lô bày tỏ mối quan tâm của ông, với tư cách là một mục sư và một sứ đồ, dành cho các Cơ Đốc nhân này. Khác với nhiều lời cảm tạ bày tỏ lòng tri ân vì những lợi ích cá nhân và có thể mang tính tự kỷ trung tâm, những lời cảm tạ của Phao-lô là dành cho Đức Chúa Trời vì những điều Ngài đã làm cho đời sống nhiều người khác. Ông tạ ơn Đức Chúa Trời vì cớ người Cô-lô-se tăng trưởng trong đời sống Cơ Đốc và sau đó cầu xin Chúa giúp họ ngày càng hiểu biết và sống tin kính hơn (Co 1:9-14). Bởi sự đề cập đến những điều ông cầu nguyện cho họ, các mối thông công giữa ông với các Cơ Đốc nhân mà ông chưa từng gặp mặt trong trũng Lycus này chắc chắn được củng cố thêm rất nhiều (2:1).

3  Trong khi chúng tôi cầu nguyện cho anh em không thôi, thì cảm tạ Đức Chúa Trời. Chúng tôi không phải là từ chỉ đề cập một mình Phao lô và cũng không có ý nói rằng ông đang ở xa người Cô-lô-se nhưng bao gồm luôn cả Ti-mô-thê và có lẽ là nhiều người khác nữa (trong 1:23 khi muốn nhấn mạnh chức vụ riêng của Phao-lô, thì chữ “tôi” số ít được sử dụng). Qua đó, chúng ta cũng thấy rằng Phao lô và các đồng sự của ông thường xuyên nhóm nhau lại và cầu ngyện cho tín đồ ở Cô-lô-se. Chữ không thôi cho thấyhọ dâng lời cảm tạ thường xuyên như thế nào,  không có nghĩa là vào mọi lúc trong ngày, nhưng được giải thích rằng trong khi chúng tôi cầu nguyện cho anh em,  nghĩa là “thường xuyên”, có lẽ là vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối (theo thói quen cầu nguyện ba lần trong ngày) và mỗi khi họ cầu nguyện (các nhóm từ như “liên tục” “bất cứ lúc nào”, “cả ngày lẫn đêm” đều có cùng một ý nghĩa tương tự). 4  Cơ sở để Phao-lô cảm tạ là đức tinsự yêu thương của các độc giả, hai điều mà Phao-lô đã được nghe Ê-pháp-ra kể lại (8). Đức tin được đề cập trước tiên, vì nếu không có nó, sẽ không có đời sống Cơ Đốc (Ro 10:9). Đức tin sống và hành động trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, vì các Cơ Đốc nhân đều hợp nhất trong Ngài, và đức tin chứng tỏ được sự thực hữu của nó bằng cách “thể hiện qua sự yêu thương” (Ga 5:6). Tình yêu thương này đang được các độc giả thể hiện với các Cơ Đốc nhân nói chung, nhất là với các Cơ Đốc nhân tại Cô-lô-se và nhiều Hội Thánh khác trong trũng Lycus. Chính bởi tình yêu mà các Cơ đốc nhân phục vụ lẫn nhau và những tín hữu này biết thêm hơn về sự phục vụ ấy.

5  Cả đức tintình yêu thương đều được đặt trên nền tảng là sự trông cậy (cả ba ân tứ này được kết chặt vào nhau ở Ro 5:1-5  ICo 13:13  Ga 5:5-6  ITe 1:3 5:8) và ở đây nó có nghĩa là “thoả lòng về sự trông cậy”, “điều người ta trông cậy”. Nó được bảo đảm hoàn toàn, được dành cho họ trên trời, nơi chẳng hề có quyền thế, con người hay bất cứ điều gì có thể chạm đến được. Tuy họ không nhìn thấy , nhưng sự trông cậy này được tập trung nơi Chúa Cứu Thế (Co 1:27) và sẽ được bày tỏ khi Ngài tái lâm (3:4). Đó là lý do tại sao các Cơ Đốc nhân phải hướng tâm trí mình về thiên đàng, và để cho những suy nghĩ về Chúa Cứu Thế cai trị đời sống của họ (3:1-4). Phao-lô đã chẳng nói điều gì mới mẻ cho người Cô-lô-se cả vì họ đã biết về sự trông cậy đó trong Phúc Âm khi họ quy đạo. Với tư cách là đạo chân thật thì Phúc Âm là hoàn toàn đáng tin cậy. Đó là lời của Đức Chúa Trời, và giống như tính cách của Ngài: nó chống lại “tin lành” của các giáo sư giả.

6  Phao-lô đi ra ngoài đề để nhấn mạnh vào đặc tính đầy quyền năng và gần như thiên về cá nhân của Phúc Âm: nó đã tạo đắc thắng nên bước tiến thắng lợi của nó,và đang đến với người Cô-lô-se và chiếm được một vị trí chắc chắn trong đời sống của họ. Trong cả thế gian (không có nghĩa là ở khắp nơi hay với mỗi một người sống dưới trời, nhưng là trong các thành phố và thị trấn lớn, thí dụ như Đa-mách, Tạt-sơ, An-ti-ốt, Cô-rinh-tô và Ê-phê-sô, đã được dùng làm các trung tâmcủa những công cuộc truyền giáo). Phúc Âm đang có kết quả tấn bộ. Trong Cựu Ước, nhóm từ này đã được dùng chỉ sự phát triển về mặt con người (Sa 1:22,28  8:17  9:1,7) và sự gia tăng dân số của Y-sơ-ra-ên (Gie 3:16 23:3) trong Tân Ước, nó đã được dùng để mô tả hột giống (nghĩa là lời Chúa) trong ẩn dụ về người gieo giống (Mac 4:1-41). Cũng như hột giống kia, Phúc Âm đã kết quả, sản sinh ra mùa gặt về các việc lành (nghĩa là những việc làm bày tỏ được lòng tin kính Chúa ) trong đời sống của các tín hữu (Phi 1:11) và nó tăng trưởng khi số người ăn năn quy đạo tăng lên. Người Cô-lô-se đã nghe bức thông điệp về ân điển của Đức Chúa Trời đó trong Chúa Cứu Thế Giê-xu và đã nhận biết được sự thật về nó khi họ ăn năn quy đạo.

7-8  Nhà truyền giáo Ê-pháp-ra đã đem Phúc Âm đến cho người Cô-lô-se. Ông dạy họ rất cẩn thận về đạo ấy, và họ đã hết lòng sống cho lời truyền dạy ấy (Co 2:6-7). Phao-lô viết bằng một tình cảm thật nồng ấm về Ê-pháp-ra, người đã được Đức Chúa Trời chọn và biệt riêng ra để phục vụ Ngài. Là bạn đồng sự thiết nghĩa của Phao-lô, ông là người cộng tác đáng tin cậy của sứ đồ này, là người bảo đảm với Hội Thánh Cô-lô-se rằng họ đã nhận được Phúc Âm chân thật của các sứ đồ. Ông đại diện cho Phao-lô khi truyền giảng tại Cô-lô-se (người giúp đỡ chúng tôi, câu 7). Kẻ giúp việc (“tôi tớ”) là một danh từ tâm đắc của Phao-lô, theo nguyên gốc có nghĩa là một người giúp việc thuộc tầng lớp thấp hèn.  Từ này đã được dùng để nói về chính Chúa Cứu Thế (Ro 15:8), Phao-lô (IICo 11:23  Eph 3:7), những người cộng tác với vị sứ đồ này trong hoạt động truyền giáo (ICo 3:5  ITi 4:6) và kể cả Ê-pháp-ra, một kẻ giúp việc trung thành của Đấng Christ. Ông vừa mới đến thăm Phao-lô tại Rô-ma và kể cho Phao lô biết tình hình phát triển của các Hội Thánh trong trũng Lycus . Đời sống cộng đồng đang tràn đầy tình yêu thương phát sinh bởi Đức Thánh Linh, và nhờ tình yêu thương đó, họ đã sẵn lòng tiếp trợ cho toàn thể các thánh đồ (các tín hữu Cơ Đốc).

3. LỜI CẦU XIN CHO SỰ THÔNG BIẾT VÀ NẾP SỐNG TIN KÍNH (Co 1:9-14)

Khi đọc lên nội dung  lời cầu nguyện của ông cho người Cô-lô-se, Phao-lô cũng giới thiệu một số vấn đề chính của bức thư. Qua những câu Kinh Thánh này, độc giả biết được những những điều mà ông suy nghĩ là những điều rất quan trọng, và tỏ ý khuyến khích người Cô-lô-se hãy đáp ứng thật tích cực. Nói một cách đơn giản, Phao lô cầu xin cho họ có thể biết được ý chỉ của Đức Chúa Trời và có năng lực để làm theo đó. Các mối liên hệ chặt chẽ giữa lời cảm tạ trong những câu 3-8 và phân đoạn cầu thay của câu 9-14 chứng minh rằng Phao-lô là một mục sư chân chính: ông biết ơn Đức Chúa Trời về sự tiến bộ của người Cô-lô-se, nhưng cũng muốn họ tăng trưởng trong sự hiểu biết và nếp sống đạo đức và tin kính để đối phó với tà thuyết đang tìm cách xâm nhập Hội Thánh. Có lẽ Phao lô cũng muốn những người đọc thư này bắt chước theo lời cầu nguyện của ông khi họ cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Chắc chắn đây là một trong những bài cầu nguyện hay nhất trong các bức thư của ông (Eph 1:17-19  3:14-19) và từng được dùng làm bài cầu nguyện mẫu cho nhiều thế hệ Cơ Đốc nhân sau này.

9  Từ khi biết được đời sống thuộc linh của tín đồ Cô-lô-se có sự tăng trưởng, Phao lô không chỉ thường xuyên dâng lời cảm tạ Đức Chúa Trời là Cha, mà ông còn cầu nguyện nhiều hơn cho họ. Biết rõ Đấng mà mình cầu xin đã ban cho một cách rời rộng (Phi 4:19  Ro 15:13  Gia 1:5), Phao-lô và các bạn đồng sự của ông luôn luôn cầu xin cho người Cô-lô-se nhận được “ đầy dẫy” (một từ ngữ rõ ràng đã được các giáo sư giả dùng) các phước hạnh từ bàn tay ân điển của Đức Chúa Trời: xin Đức Chúa Trời ban cho anh em đuợc đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài. Không có gì làm Phao lô hài lòng hơn sự trưởng thành trọn vẹn của họ trong đời sống Cơ Đốc. Sự hiểu biết ông cầu xin ở đây khác hẳn với các loại tri thức khác, vì nó cốt ở sự khôn ngoanhiểu biết mọi sự ở phương diện thuộc linh. Ý muốn của Đức Chúa Trời, luôn rộng lớn hơn ý muốn của cá nhân ông đối với đời sống cá nhân của mỗi Cơ Đốc nhân, đôi khi được mô tả là kế hoạch tuyển chọn và cứu rỗi của Ngài (Eph 1:5,9). Ở đây, nó liên quan với sự vâng lời trọn vẹn của các độc giả, và điều này có thể nhìn thấy được trong các hành động của họ (Ro 12:1-2).

10  Tuy có nhấn mạnh nhiều đến sự hiểu biết và sự khôn ngoan (gồm cả yếu tố tri thức giúp người Cô-lô-se có thể chống lại những điều sai trái), sự hiểu biết mà Phao-lô cầu xin phải sinh ra nếp sống đúng đắn: hầu cho anh em ăn cách xứng đáng với Chúa. Theo nghĩa đen thì sống (ăn ) là “bước đi” nên Phao-lô rất thường dùng động từ này để mô tả đời sống Cơ Đốc (Ro 6:4  8:4  Ga 5:16  Eph 4:1  Phi 3:17). Người Cô-lô-se phải sống sao cho xứng đáng với Đấng mà họ tôn xưng là Chúa. Ngoài ra, sứ đồ Phao lô còn cầu xin cho họ được đẹp lòng Ngài mọi đường, một nhóm từ không nhằm mô tả một thái độ khép nép sợ sệt khi đứng trước một thượng cấp nhưng để mô tả một nếp sống làm vinh danh Chúa vì nó xuất phát từ một tấm lòng vui vẻ vâng lời Ngài. Ở chỗ khác, Phao-lô có nói rằng Cơ Đốc Nhân phải sống cho đẹp lòng Đức Chúa Trời (hay cho tha nhân như một kết quả của việc họ vâng lời Ngài) thay vì sống đẹp lòng chính họ (Ro 8:8  15:1-3  ICo 7:32). Ở đây, cách sống này phải được thể hiện trong mọi lãnh vực, mọi việc. Phao-lô kể chi tiết hơn những gì cần làm để sống một đời sống xứng đáng với Chúa. Các tín hữu phải kết quả trong mọi việc lành. Phúc Âm đạt được kết quả khi người Cô-lô-se biết sống một đời sống tin kính (6) nên giờ đây Phao-lô cầu xin để họ có thể kết quả trong mọi việc họ làm. Các tín hữu cũng phải tăng trưởng trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời. Nếu họ đáp ứng mối liên hệ cá nhân giữa họ với Đức Chúa Trời thể nào, thì mối liên hệ ấy sẽ càng phát triển và sự hiểu biết Đức Chúa Trời của họ sẽ ngày càng sâu nhiệm hơn thể ấy. 11  Được sức mạnh mọi bề cho thấy họ phải sống thế nào cho xứng đáng với Chúa. Người Cô-lô-se phải đối diện với những tiêu chuẩn rất cao, cao hơn các tiêu chuẩn của các giáo sư giả, và có vẻ như họ không thể nào đáp ứng được những tiêu chuẩn ấy. Nhưng sự việc không phải như vậy. Phao-lô đã sử dụng rất nhiều từ ngữ chỉ quyền năng và sức mạnh để nhấn mạnh rằng quyền năng lớn lao của Đức Chúa Trời vận hành trong họ sẽ không bao giờ thiếu, bởi đó họ có thể sống đẹp lòng Ngài quyền phép vinh hiển Ngài vượt xa hơn nhu cầu của người Cô-lô-se, và sức mạnh ấy sẽ được ban cho họ hằng ngày khi họ phải đối diện với nhiều hoàn cảnh khác nhau (thì hiện tại của động từ được sức mạnh gợi ý rằng họ luôn luôn được Đức Chúa Trời ban thêm sức lực). Quyền năng Đức Chúa Trời không phải ở tại các phép lạ nhưng trong sự nhịn nhụcchịu (đựng), nhất là khi phải đối diện với sự chống đối. Nhờ kiên trì chịu đựng khi khốn khổ, các Cơ Đốc nhân chứng tỏ được rằng họ luôn trông cậy nơi Đức Chúa Trời.

12-14  Cuối cùng, Phao-lô cầu xin để người Cô-lô-se biết vui vẻ tạ ơn Đức Chúa Cha vì đây cũng là điều làm đẹp lòng Ngài mọi đường. “Sự tạ ơn” trong các bức thư của Phao-lô là một thái độ tạ ơn của tâm trí được bộc lộ công khai ra bên ngoài . Khi chúng ta công khai những việc lành mà Đức Chúa Trời đã làm qua con Ngài, thì các Cơ Đốc Nhân khác cũng được khích lệ để ca ngợi Ngài, mà hễ càng có nhiều người cảm tạ Đức Chúa Trời thì Ngài càng được tôn vinh (IICo 1:11  4:15). Vui vẻ tạ ơn phải là việc làm thường xuyên của Cơ Đốc Nhân. Chúng ta có lý do chính đáng để tạ ơn Đức Chúa Trời. Thật vậy, thường xuyên dâng lên lời tạ ơn Đức Chúa Cha là một dấu hiệu cho thấy bạn là một Cơ Đốc nhân thật.

12  Đấng Toàn Năng đã hành động thay họ, và cho họ được xứng đáng hưởng một nghiệp đời đời. Lời nói này được lập lại nhiều lần trong Cựu Ước và nhắc lại lời hứa ban đầu đã được ban cho Áp-ra-ham (Sa 13:14-17) và về sau được làm mới lại cho dân Y-sơ-ra-ên (Dan 26:52-56). Cơ nghiệp mà Phao-lô đề cập thuộc một bình diện cao hơn và tồn tại lâu dài hơn xứ Ca-na-an, vì nó ở trong nước sáng láng, nghĩa là vương quốc của sự sáng trong thời đại hầu đến, chính là nước thiên đàng. Nó thuộc về khía cạnh thuộc linh, không thể bị tàn phá bởi chiến tranh, đói kém hay những tai hoạ giống như thế . Cơ nghiệp này là “sự trông cậy để dành cho anh em ở trên trời” (Co 1:5 so sánh 3:1-4) và là chính Chúa Giê-xu. 13-14  giải nghĩa câu 12, nhấn mạnh sự thay đổi quan trọng mà Đức Chúa Trời đã khiến xảy ra khi người Cô-lô-se ăn năn quy đạo. Cũng như mọi người khác, họ từng ở dưới quyền cai trị của ma quỉ và cam chịu quyền trị vì khủng khiếp của nó, là quyền của sự tối tăm. Hoàn cảnh của họ được mô tả trong 1:21, họ bị xa cách với Đức Chúa Trời, thù nghịch với Ngài và làm nhiều điều gian ác. Nhưng Đức Chúa Trời đã giải thoát chúng ta (chúng ta gồm luôn Phao-lô và nhiều tín hữu khác) khỏi bạo quyền của sự tối tăm. Ngài giải thoát những kẻ bị nô lệ (như khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai cập vậy) và đem chúng ta vào nơi được Con yêu dấu của Ngài cai trị. Việc thay đổi quyền cai trị này được mô tả thật sinh động bằng hai từ “sáng láng” và “tối tăm”. Giờ đây người Cô-lô-se là con cái sáng láng (ITe 5:5) và phải sống theo sự sáng láng đó. Nước của Con rất yêu dấu Ngài ám chỉ Nước Trời hay quyền cai trị của Đức Chúa Trời trong thời hiện tại trước ngày Chúa Giê-xu tái lâm. 14 Trong nước mà Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chúa Tể, có sự cứu chuộc, nghĩa là trả lại quyền tự do cho những người đang ở dưới ách nô lệ thuộc linh (cái giá phải trả là sự chết của Chúa Giê-xu, Eph 1:7  IPhi 1:18). Sự cứu chuộc này hiện tại người Cô-lô-se đã nhận được, có liên hệ mất thiết với sự tha tội. “Sự cứu chuộc giải thoát người ta khỏi quyền lực của tội lỗi và tha thứ mọi lỗi lầm” (D. Guthrie).

4. CỨU THẾ GIÊ-XU, CHỦ TỂ CỦA CÔNG CUỘC SÁNG TẠO VÀ HÒA GIẢI (Co 1:15-20)

Ở cuối câu 14, với câu đề cập về sự tha tội, Phao lô thay đổi từ giọng văn cầu nguyện và cảm tạ sang giọng văn uy nghi (có khi còn được gọi là một “bài thánh ca”) trong phân đoạn để ca tụng Chúa Cứu Thế là Chúa Tể của công cuộc sáng tạo và giải hoà. Phân đoạn này là trọng tâm, các chủ đề từ đó được nắm bắt và ứng dụng xuyên suốt phần còn lại của bức thư (Co 1:19 với 2:9  1:20 với 2:15). Mặc dù phân đoạn này ca ngợi Chúa Cứu Thế, điều đáng ngạc nhiên là các danh xưng “Giê-xu, “Christ” và “Chúa” không xuất hiện trong đó, nó chỉ bắt đầu bằng “Ngài là…”. Nhưng , rõ ràng Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng được ca ngợi trong phân đoạn này. Sự ca ngợi không thể dành cho ai khác cả. Đã có sự tranh luận ở đây, phải chăng Phao-lô đã đưa một bài thánh ca có sẵn vào bức thư của ông. Điều này cũng có thể, nhưng nếu ông làm như vậy thì chắc chắn  ông cũng đã đan dệt phần còn lại của bức thư chung quanh ý nghĩa của bài thánh ca đó, còn sự tập trung vào quyền tối thượng của Chúa Cứu Thế nhằm giúp các độc giả được vững mạnh và sửa lại các quan điểm sai lầm của các giáo sư giả. Cho dù người nào đã viết ra nó đi nữa, thì phân đoạn này cũng hoàn toàn phù hợp với các chủ đích của sứ đồ Phao lô khi viết thư này cho người Cô-lô-se.

Co 1:15-17 Chúa Tể trong công cuộc sáng tạo 15 Hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được chỉ rõ bản chất và tính cách của Đức Chúa Trời được bày tỏ trọn vẹn trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, trong Ngài cái vô hình đã trở thành hữu hình. Chưa từng có ai nhìn thấy Đức Chúa Trời, nhưng Con Một của Đức Chúa Trời đã khiến cho Ngài được mọi người biết đến (Gi 1:18). Nhân loại, tuyệt đỉnh của công cuộc sáng tạo, vốn được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời (Sa 1:26-27). Từ trước vô cùng, Chúa Giê-xu trong chính bản chất của Ngài, là hình ảnh của Đức Chúa Trời. Từ tiếng Anh “image” (hình ảnh) có lẽ gợi ý về một phiên bản không hoàn thiện, trong nguyên văn Hi Lạp, là một thuật ngữ nói về sự măc khải, nên không có hàm ý như thế. Đức Chúa Giê-xu, Đấng hoàn toàn giống Đức Chúa Cha, đã tự bày tỏ Ngài là ai trong tất cả những gì là toàn thiện toàn mỹ của Ngài (Ch 8:22). Nếu có ai muốn biết Đức Chúa Trời như thế nào, thì người ấy phải mở Kinh Thánh ra và tìm thấy mọi điều chép về Chúa Giê-xu, vì qua Chúa Giêxu chúng ta thấy được một cách đầy đủ Đức Chúa Cha như thế nào.

Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. Trong Cựu Ước con đầu lòng xuất hiện 130 lần để mô tả Đâng tối cao hoặc Đấng trước nhất về phương diện thời gian. Nó cũng ám chỉ người có địa vị đặc biệt trong tình yêu của người cha: cũng như vậy đối với “Y-sơ-ra-ên là trưởng nam ta” (Xu 4:22). Tuy con đầu lòng có thể đề cập đến người đứng đầu trong số những người con trong gia đình (c.18  Ro 8:29), ở đây từ này không mang ý nghĩa đó văn cảnh này cho thấy rõ Chúa Giê-xu không phải là Đấng đứng đầu trong toàn thể loài thọ tạo, vì bởi Ngài mà muôn vật được dựng nên(16). Đáng tiếc là từ con đầu lòng trong tiếng Anh không chú ý đến khái niệm về sự tối cao hay quyền ưu tiên về cấp bậc này. Là con đầu lòng Chúa Cứu Thế là độc nhất vô nhị, được phân biệt với mọi loài thọ tạo (He 1:6). Ngài vừa có trước, vừa cầm quyền tối cao trên toàn thể công cuộc sáng tạo vì Ngài là Chúa Tể của nó.

16 Sau đó, địa vị có một không hai của Chúa Cứu Thế trên công cuộc sáng tạo được giải thích: muôn vật đã được dựng nên trong Ngài. Rõ ràng,  Ngài không thể là một thành phần trong loài thọ tạo, bởi vì muôn vật đã được chính Ngài dựng nên. Thể thụ động được dựng nên cho thấy Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá, còn bởi Ngài gợi ý rằng Chúa Cứu Thế là một công cụ (nếu dịch là trong Ngài, thì Ngài là phạm vi mà trong đó công cuộc sáng tạo được thực hiện, và nó hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài). Ngôn ngữ mà Phao-lô sử dụng được lấy từ Sa 1:1-31 và Sách về Sự khôn ngoan của Cựu Ước, trong đó sự khôn ngoan được gọi là “Thợ Cái” (Ch 8:30). Với Phao-lô thì “thợ cái” không phải là một cách nói bóng gió, nhưng chính là Chúa Cứu Thế ở trên trời, Đấng mà ông đã gặp trên đường đến Đa-mách. Muôn vật được mở rộng trong một câu song song với mọi vật trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được. Rồi bằng cách ám chỉ đặc biệt về tà giáo tại Cô-lô-se, Phao-lô nhấn mạnh rằng ngay cả các thế lực và quyền cai trị thuộc linh, dù thiện hay ác, đều phải đầu phục Chúa Cứu Thế là Đấng Tạo Hoá. Bốn giai cấp được liệt kê từ cao đến thấp: ngôi vua, quyền cai trị, chấp chánh, cầm quyền, , đều được tạo dựng trong Ngài, bởi Ngài và vì Ngài. Lời dạy rằng Chúa Cứu Thế là mục tiêu tối hậu của toàn thể công cuộc sáng tạo (muôn vật đều Ngài được dựng nên) là điều không thấy có trong các sách về Sự Khôn Ngoan của người Do Thái hay thật sự có trong bất kỳ nguồn tài liệu Do Thái nào. Và cần phải nhớ rằng Đấng đã bị đóng đinh trên thập tự giá như một tội đồ tầm thường, chính là Chúa Cứu Thế Giê-xu, là Đấng mà trong Ngài cả công cuộc sáng tạo, và do đó cả lịch sử nữa, đang chuyển động.

17 Vì Chúa Giê-xu đã có trước muôn vật, nên câu nói của tà thuyết Arius trong thế kỹ thứ hai rằng “Đã có thời Ngài không hiện hữu” không thể nào đúng. Là Đấng đã có từ trước vô cùng (Gi 8:58), Chúa Giê-xu là Chúa Tể của vũ trụ này. Từ nhấn mạnh Ngài tương ứng với chữ “Ta” uy nghiêm trong Cựu Ước, chỉ về Yahweh (Đức Giê-hô-va) chính là Đấng Chúa Tể.  Muôn vật đứng vững trong Ngài. Toàn bộ công cuộc sáng tạo chỉ được vững lập trong một mình Ngài. Ngài là Đấng giữ vững vũ trụ và là nguyên lý hợp nhất để nó tồn tại. Nếu không được Ngài liên tục giữ vững ( như chúng ta thấy được qua thì của động từ Hi văn) muôn vật không thể nào hợp nhất mà sẽ tách rời nhau(He 1:2-3). Tuy ở đây có nhiều điểm tương đồng với ngôn ngữ của thuyết Khắc kỷ (Stoicism), câu nói của Phao-lô khác hẳn với linh hồn của thế giới đang bao trùm tất cả của thuyết Khắc kỷ. Mọi người, dù có thừa nhận hay không, đều hoàn toàn mắc nợ Chúa Giê-xu ở cương vị là Đấng Tạo Hoá và Đấng Bảo Tồn. Vì chẳng những Ngài đã dựng nên từng người trong thế gian này, mà Ngài còn duy trì sự sống hằng ngày, ban sự sống và hơi thở cho từng người . Những người “ở trong Chúa Cứu Thế”, vì biết rõ Ngài một cách riêng tư, đều phải bày tỏ lòng tri ân đối với Ngài, Đấng Tạo Hoá và Đấng Bảo Tồn, bằng cách sống đời sống tin kính. Những kẻ không tôn trọng Ngài hay không biết tạ ơn Ngài (Ro 1:21) được giục giã phải ăn năn và lấy đức tin quay trở lại với Ngài.

Co 1:18-20 Chúa Tể trong công tác hoà giải Tác giả chuyển sự chú ý từ lãnh vực sáng tạo sang mối liên hệ giữa Chúa Cứu Thế với Hội Thánh và địa vị Chúa Tể của Ngài trong công tác hoà giải. Ở nhiều chỗ khác trong các bức thư của ông, Phao-lô mô tả Hội Thánh như một thân thể để ám chỉ mối liên hệ và bổn phận hai chiều của các thành viên trong Hội Thánh (Ro 12:4-5  ICo 12:12-27), mà “đầu” của thân thể ấy không được đề cập hoặc tôn trọng đặc biệt nó được kể như một chi thể bình thường (12:21) Tuy nhiên trong hai thư Cô-lô-se và Ê-phê-sô, mối liên hệ của Hội Thánh, với tư cách là thân thể của Chúa Cứu Thế, đối với Ngài, là “đầu”, được nhấn mạnh. 18 Qua câu chính Ngài đầu của thân thể, tức đầu Hội Thánh, chúng ta thấy tính trung tâm của Chúa Cứu Thế trong mối liên hệ với dân Ngài được nhấn mạnh. Quyền làm đầu của Ngài nói lên mối liên hệ cá nhân mật thiết và sống động với các thần dân mà Ngài cai trị, theo như cách đầu của một thân thể tạo ảnh hưởng trên những chi thể khác nhau. Quyền làm đầu cũng nói lên việc họ phải lệ thuộc hoàn toàn vào Ngài để có sự sống và quyền năng. Hội Thánh không phải là một cộng đồng tin Chúa nào đó, ở rải rác khắp nơi trên thế gian , nhưng là một Hội Thánh của thiên đàng, nhóm lại chung quanh Chúa Cứu Thế. Dù họ  đang làm gì trong công việc thường nhật của mình, tất cả Cơ Đốc nhân đều là những thành viên của Hội Thánh trên thiên đàng này, vì cớ mối thông công của họ với Ngài. Chúa Cứu Thế là ban đầu với ý nghĩa là Ngài đã được sanh trước nhất từ trong những kẻ chết, là người sáng lập một nhân loại mới. Kỷ nguyên của sự phục sinh đã bắt đầu, và với tư cách người đầu tiên đã từ cõi chết sống lại (ở đây sanh trước nhất có nghĩa là người đầu tiên trong một loạt) Ngài là “trái đầu mùa” bảo đảm cho sự phục sinh trong tương lai của nhiều người khác (15:20,23). Bài “thánh ca” từng nói trước đây về địa vị đứng đầu của Chúa Cứu Thế trong công cuộc sáng tạo, giờ đây lại đề cập địa vị đứng đầu của Ngài trong sự phục sinh. Trong cả hai công cuộc sáng tạo cũ và mới, quyền tối cao giờ đây thuộc về chỉ một mình Ngài.

19 Lý do của địa vị đứng đầu được giải thích rõ: Chúa Cứu Thế Giê-xu là “nơi” mà tại đó Đức Chúa Trời, trong sự đầy dẫy của Ngài, đã vui lòng ngự vào. Mọi đức tính, mọi hoạt động của Đức Chúa Trời – Thần Linh, lời phán, sự khôn ngoan và vinh hiển của Ngài – đều được biểu hiện hoàn toàn trong Chúa Cứu Thế. Hơn nữa, việc Ngài ngự trong Chúa Cứu Thế “trong dạng thể xác” (Co 2:9) không chỉ là tạm thời mà là vĩnh viễn. Vì Chúa Cứu Thế là Đấng Trung Bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và thế giới loài người, và đã đưa các Cơ Đốc nhân người Cô-lô-se vào trong mối liên hệ với Cha Ngài, nên họ chẳng cần phải sợ hãi các thế lực siêu nhiên mà loài người vẫn cho là mình phải sống dưới sự kiểm soát của chúng. Họ cũng chẳng cần phải sợ những thế lực giống như thế hoặc tương tự như thế trong thời đại hiện nay.

20 Cao điểm của phân đoạn này là những đề cập về công tác hoà giải và kiến tạo hoà bình nhờ sự chết của Chúa Cứu Thế. Mấy lời mở đầu của phân đoạn này cho chúng ta thấy rõ rằng muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bởi Ngài và vì Ngài. Ngài là Chúa Tể của chúng trong công cuộc sáng tạo. Tuy nhiên, điều đã không được nói ra là những gì đã xảy đến cho muôn vật kể từ sau công cuộc sáng tạo: sự thống nhất và hoà thuận của vũ trụ đã có một rạn nứt nghiêm trọng, cần được hàn gắn (tham khảo Sáng Thế Ký 3). Chính Đức Chúa Trời đã vui lòng giảng hoà mọi sự qua Chúa Cứu Thế (IICo 5:19). Trời và đất đã được đưa trở lại với  trật tự mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng chúng. Vũ trụ đang ở dưới quyền Chúa Tể của nó, và sự hoà bình của vũ trụ đã được phục hồi. Giảng hoà và làm cho hoà bình (gồm luôn ý niệm bình định, nghĩa là lật đổ điều ác) đã được xem là những từ đồng nghĩa để mô tả một công cuộc lớn lao mà Chúa Cứu Thế đã hoàn tất trong lịch sử qua sự chết của Ngài trên thập tự giá như một sinh tế (Ro 3:25  ICo 11:25  Eph 1:7). Sự hoà bình mà Chúa Cứu Thế đã đem đến, có thể “được tiếp nhận vô điều kiện, hay… bị áp đặt do thúc ép” (F. F. Bruce). Các quyền cai trị cùng các thế lực mà Đức Chúa Trời đã chiến thắng (Co 2:15) đã không chịu vui vẻ đầu phục ân điển của Đức Chúa Trời. Chúng đã được “bình định”. Chúng vẫn tồn tại, chống lại loài người (Ro 8:38-39), nhưng cuối cùng chúng chẳng làm hại được người ở trong Chúa Cứu Thế, và tương lai chắc chắn chúng sẽ bị lật đổ (ICo 15:24-28  Co 2:15). Hơn nữa, ta không thể căn cứ vào câu này để cho rằng tất cả tội nhân đều đã được nhận vô điều kiện sự hoà giải nhờ sự chết của Chúa Cứu Thế. Tuy đến cuối cùng, mọi vật đều sẽ cùng quỳ xuống nhân danh Chúa Giê-xu và nhìn nhận Ngài là Chúa (Phi 2:10-11), chúng ta không nên nghĩ rằng mọi người sẽ vui vẻ thực hiện điều này, và cho rằng câu 20 nói đến sự hoà giải toàn cầu, trong đó, mọi người cuối cùng đều sẽ được hưởng các phước hạnh của sự cứu rỗi.

5. CÔNG TÁC HÒA GIẢI ĐÃ HOÀN TẤT VÀ CÓ HIỆU LỰC (Co 1:21-23)

Bằng cách nói trực tiếp với những độc giả (anh em), Phao-lô cho thấy rõ rằng công tác kiến tạo hoà bình của Chúa Cứu Thế, bao gồm việc giải hoà muôn vật trong vũ trụ này, đặc biệt liên quan đến họ. 21  Anh em ngày trướcnhưng bây giờ (22).  Một sự phân biệt rõ ràng giữa quá khứ trước khi tin nhận Chúa và hiện tại đang ở trong Chúa Cứu Thế. Nói đến tính nghiêm trọng của tình trạng trước đây của họ chỉ với mục đích nhấn mạnh sự kỳ diệu của việc làm lớn lao và nhân từ của Đức Chúa Trời trong công cuộc hoà giải, nghĩa là đã khiến họ trở thành bạn hữu của Ngài. Trước khi ăn năn quy đạo, họ vốn xa cách, hoàn toàn bất hoà với Đức Chúa Trời, thờ thần tượng và làm nô lệ cho tội lỗi. Họ từng chống laị Đức Chúa Trời trong tư tưởng, và điều này tự nhiên được nhận thấy trong cách ăn ở gian ác của họ.

22  Nhưng bây giờ nghe như tiếng kèn báo hiệu một tin vui. Đức Chúa Trời đã hành động một cách mạnh mẽ thay cho họ: Ngài đã đưa họ vào trong một mối liên hệ mới với chính Ngài và làm thay đổi thái độ của họ. Mọi việc đó thực hiện nhờ sự chết của Con Ngài chịu lấy trong thân the của xác thịt, tác giả cố tình cho chúng ta thấy rõ rằng Chúa Giê-xu đã thật sự trở thành người (chống lại một tà giáo cho rằng Ngài chỉ giả bộ, hay làm ra vẻ như một con người mà thôi) và rằng Ngài đã chết thật sự. Sự chết của Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá là một cái giá rất cao. Đức Chúa Trời hoà giải với người Cô-lô-se với mục đích chuẩn bị họ cho ngày cuối cùng khi họ sẽ phải đứng trước mặt Ngài: để anh em đứng trước mặt Ngài cách thánh sạch không vết, không chỗ trách được. Là những người đã được tha tội và giải hoà, họ được tuyên bố là không chỗ trách được (Ro 8:33-34), không tì không vết (Eph 1:4  5:27  Phi 2:15) trong ngày cuối cùng đó.

23  Việc họ cứ tiếp tục đứng vững trong đức tin cho thấy đức tin đó có thật như thế nào cho nên phân đoạn này kết thúc bằng một điều kiện. Nếu quả thật các thánh đồ sẽ kiên trì cho đến cùng, thì như nhau, họ cũng phải kiên trì cho đến cùng giống như vậy. Như một ngôi nhà được xây trên một cái nền vững chắc và được đứng vững nhờ những trụ cột chắc chắn, các độc giả phải luôn giữ trung tín với Phúc Âm và đừng rời khỏi nền móng vững chắc là sự trông cậy Cơ Đốc. Lời công bố về Phúc Âm của Phao-lô (chú trọng vào sự trông cậy này) là bức thông điệp thật của Đức Chúa Trời được trình bày qua lời kêu gọi chung của nó.  Phúc Âm đã được truyền giảng trong nhiều thị trấn và thành phố tiêu biểu của đế quốc này – Phao-lô không có ý nói rằng cá nhân từng người đều đã được nghe.

6. SỨ MẠNG VÀ MỐI QUAN TÂM MỤC VỤ CỦA PHAO-LÔ (Co 1:24-2:5)

Co 1:24-29. Sau khi nói rằng mình là kẻ giúp việc cho Phúc Âm (23), Phao-lô mô tả chức vụ mà Đức Chúa Trời đã giao cho ông đối với người Ngoại bang, kể cả người Cô-lô-se, bằng nhiều hình ảnh (24-29). Tuy ông chưa gặp mặt phần đông độc giả (Co 2:1), ông tự đồng nhất hoá với họ qua việc cùng chia sẻ trong những nỗi thống khổ của Chúa Cứu Thế vì cớ Hội Thánh (24) và như vậy ông có thể viết thư cho họ như cách ông đang viết.

24  Với cương vị một sứ đồ, ông vui mừng khi được chịu khổ vì cớ người Cô-lô-se, nghĩa là vì thân thể Chúa Cứu Thế, là toàn Hội Thánh. Những nỗi khốn khổ này chỉ là một phần rất nhỏ trong những nỗi thương khó của Chúa Cứu Thế – không phải cái chết của Ngài trên thập tự giá hay những nỗi thống khổ trong công cuộc cứu chuộc đã được “hoàn tất” – nhưng là những khốn khổ của dân Ngài mà Ngài gánh chịu. Nhóm từ sự thương khó của Chúa Cứu Thế phải được hiểu trong bối cảnh Cựu Ước của Do Thái giáo cùng với khái niệm của nó về những hoạn nạn của thời kỳ sau rốt. Những khó khăn ấy vốn được gọi là “những cơn quặn thắt của Đấng Mê-si-a”, tức là những khó khăn hoạn nạn phải xảy đến trước khi Vua được xức dầu của Đức Chúa Trời, tức là Đấng Mê-si-a, ngự đến. Trong Tân Ước chúng xuất hiện giữa lần giáng lâm thứ nhất và thứ hai của Chúa Giê-xu. Chúa Cứu Thế được tôn cao hiện ở trong thiên đàng, và trước ngày tái lâm, Ngài đang chịu khổ trong các chi thể của mình, và không phải là ít  trong đời sống của chính Phao-lô (Cong 9:4). Nhưng nỗi thống khổ đó đã được Đức Chúa Trời giới hạn , mức độ sẽ đầy đủ khi đến kỳ sau rốt. Toàn thể các Cơ Đốc nhân đều có phần trong những sự thương khó ấy chính qua chúng, chúng ta vào được vào Nước Trời (14:22  ITe 3:3,7). Chịu khổ với Chúa Cứu Thế là điều thiết yếu nếu chúng ta muốn được vinh hiển với Ngài (Ro 8:17). Qua những hoạn nạn ông phải chịu ngay trong thân xác mình, Phao-lô dự phần vào toàn bộ, vào điều vẫn đang thiếu. Ông càng chịu khổ nhiều bao nhiêu, thì người Cô-lô-se sẽ càng phải chịu ít đi bấy nhiêu.

25-27  Chức vụ của Phao-lô là một sự uỷ thác dành cho ông theo kế hoạch-Phúc Âm của Đức Chúa Trời. Ông là một quản gia (ICo 4:1) đã được giao phó nhiệm vụ này (9:17). Ông không thể nào rút lui khỏi trách nhiệm quan trọng đó, mà phải vâng lời để hoàn thành nó.  Là một quản gia của các sự huyền nhiệm của Đức Chúa Trời, người ta luôn mong mỏi ông là một người đáng tin cậy (4:2). Nhiệm vụ đặc biệt của ông là phải làm sao cho mọi người đều biết lời của Đức Chúa Trời. Cách trọn vẹn gợi ý “đưa đến sự toàn vẹn”, vì sự rao giảng của Phao-lô, nhất là cho người ngoại bang, đã góp phần cho sự hoàn thành tối hậu các chủ đích cứu rỗi của Đức Chúa Trời được măc khải trong lời Ngài (Es 55:11). Chính thông điệp này không gì khác hơn là sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời,  là “bí mật đã được tiết lộ” của Ngài, trước đây từng bị giấu kín, nay, qua hành động quyết định của Ngài trong Chúa Cứu Thế, điều đó đã được bày tỏ ra (Ro 16:25  Eph 3:3). Sự giàu vinh hiển cho thấy sự mầu nhiệm ấy là diệu kỳ về mọi phương diện: nó là một phần trong tính cách của Đức Chúa Trời (do đó mà có vinh hiển) và trong đó, Đức Chúa Trời tuôn đổ các ơn phước của Ngài trên loài người, nhất là người Ngoại bang. Nội dung của sự mầu nhiệm đó là Đấng Christ trong anh em, là những người Cô-lô-se. Ê-phê-ra đã rao giảng về Chúa Cứu Thế cho họ là những người Ngoại bang. Họ đã tiếp nhận Ngài làm Chúa và giờ đây Ngài đang sống trong họ. Là các chi thể của thân thể Ngài, họ có trong mình sự sống của Ngài cùng với sự sống đó là sự trông cậy rõ ràng và chắc chắn (Co 3:4).

28  Trong công tác truyền giáo, Phao-lô và các bạn đồng sự của ông đã lao động cật lực để rao giảng – một từ ngữ quan trọng dùng chỉ về Phúc Âm hoặc một yếu tố trong đó (ICo 9:14  Phi 1:17-18) – Chúa Cứu Thế là Chúa Tể. Công tác truyền bá Phúc Âm ra hải ngoại của họ không phải được thực hiện bằng những bài giảng nông cạn nào đó về thông điệp cứu rỗi của Chúa Cứu Thế cho thế gian, nhưng bằng cách thường xuyên răn bảodạy dỗ từng người (cùng với động từ rao giảng, các động từ này đều được dùng theo thì hiện tại) đoàn sứ đồ đã ra đi để đem nhiều người trở về cùng Chúa Cứu Thế, gây dựng họ trong mọi hoàn cảnh mục vụ. Phao-lô viết ba lần chữ mọi người (từng người một) nhấn mạnh rằng sự giáo huấn Cơ Đốc được dành cho tất cả mọi người (không phải chỉ riêng cho người trải nghiệm thuộc linh một cách sâu sắc), và công tác sứ đồ bao gồm trách nhiệm chăm sóc đặc biệt từng linh hồn (ITe 2:11-12). Nhiệm vụ của họ vẫn chưa xong sau khi đem người ta trở về ăn năn tin nhận Chúa, nên họ đặt ra mục tiêu cho mình là phải làm sao để trong ngày sau rốt, trước mặt Đức Chúa Trời mọi người đều trở nên trọn vẹn trong Đấng Christ, vì trong ngày đó Đức Chúa Trời sẽ tra xét kết quả của chức vụ mà họ đảm nhiệm. Mối quan tâm của họ là làm cho các hội thánh vững lập và ổn định, với các thành viên mạnh mẽ trong đức tin. Các mục tiêu truyền bá Phúc Âm và mục vụ của Phao-lô là những tấm gương mẫu mực cho những người tham gia chức vụ sứ đồ thật sự hiện nay noi theo. 29 Ấy cũng đó mà Phao-lô tận dụng mọi năng lực của mình cho chức vụ truyền bá Phúc Âm của ông. Làm việc lao khổ nói lên sự nỗ lực cao độ, còn chiến đấu, có thể là một từ mạnh hơn, nhiều khi được dùng chỉ những cuộc đua tranh và thi đấu điền kinh. Phao-lô vui vẻ thừa nhận rằng sức lực cho nỗ lực này đến từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời, Đấng đã chứng minh quyền năng mạnh mẽ của Ngài bằng cách khiến Chúa Cứu Thế từ cõi chết sống lại, hành động mạnh mẽ trong ông khi ông dốc sức làm việc cho Ngài.

Co 2:1-5. 1  Tôi muốn anh em biết Sau khi đã nói chung chung về chức vụ sứ đồ của mình (Co 1:24-29). Phao-lô ngỏ lời trực tiếp với người Cô-lô-se. Mục tiêu của ông là siết chặt các mối liên hệ với họ và cho họ biết rằng cuộc chiến đấu vì Phúc Âm của ông có liên quan đến họ và nhiều Cơ Đốc nhân khác trong khu vực, dù trước đây ông chưa được gặp mặt phần đông trong số họ. (Hội Thánh tại Cô-lô-se, Lao-đi-xê và Hi-ê-ra-bô-li đã được thành lập bởi bạn đồng sự của ông là Ê-pháp-ra 1:7 tham khảo 4:12).

2-3  Mục đích trong chức vụ sứ đồ của ông là để giúp đời sống họ ngày càng mạnh mẽ. Lấy sự yêu thương liên hiệp cho thấy rằng tình yêu thương đã gắn bó họ lại với nhau thế nào, thì họ cũng sẽ được sự hiểu biết trọn vẹn thể ấy. Nhưng ở đây, động từ này có thể mang nghĩa là “được chỉ giáo” như trong bộ LXX. Vì văn cảnh nhấn mạnh đến sự thông biết và khôn ngoan, và Phao-lô ít quan tâm đến nhu cầu hiệp một của người Cô-lô-se bằng nhu cầu được chỉ giáo trong đức tin để chống lại tà giáo, nên “được dạy dỗ” hay “được chỉ giáo” có lẽ là đúng hơn. Sự yêu thương, với cả chiều rộng của nó, ám chỉ phần nền móng của đời sống Cơ Đốc. Mọi sự quý báu về khôn ngoan thông sáng: chính từ “quý báu” này được dùng ở 1:27 để chỉ của cải thuộc linh, nhưng ở đây của cải là một sự tin quyết được công khai rõ ràng, là kết quả của sự hiểu biết, tức khả năng để phân biệt đúng sai. Như thế, họ sẽ đạt đến sự hiểu biết cá nhân một cách sâu nhiệm hơn về Chúa Cứu Thế. Có lẽ khi xem xét sơ qua tà thuyết ấy, Phao-lô khuyến khích các độc giả hãy nhìn chăm vào Chúa Cứu Thế như là “nơi” duy nhất có các kho báu về sự khôn ngoan hiểu biết dành sẳn cho họ. Giấu kín không có nghĩa là “che giấu” nhưng là “ký gởi”, “tàng trữ”, (1:26). Đi tìm các nguồn khôn ngoan khác ngoài Chúa Cứu Thế là việc làm vô ích.

4  Đến đây thì lần đầu tiên mối đe doạ đối với Hội Thánh được đề cập rõ ràng. Chẳng ai được sử dụng với nghĩa chung là “chẳng có một ai” mà không nói thẳng vào một con người cá biệt nào đã khởi xướng tà thuyết ấy, trong khi mối đe doạ có thể đến từ những lý luận dường như đúng nhưng thật ra là sai. 5  Bản thân Phao-lô đang ở xa cộng đồng, nếu ông có mặt, ông sẽ đích thân đối phó với tình hình đe doạ đó. Tuy nhiên, Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã kết hợp cả ông và người Cô-lô-se lại cùng với Chúa Cứu Thế (ICo 5:3-5). Vì mọi người đều cùng sống với Chúa Cứu Thế, Phao-lô vẫn ở với họ về mặt tinh thần. Ông khích lệ họ bằng những tin tức tốt lành mà ông đã nghe được: lối sống Cơ Đốc nề nếp của cộng đồng cùng với đức tin vững vàng chỉ đặt nơi Chúa Cứu Thế, là cơ sở để sứ đồ Phao lô mừng rỡ. Những lời khen này cho thấy về cơ bản, cộng đồng đang lành mạnh, và tà giáo vẫn chưa có bước tiến nào quan trọng.

7. PHƯƠNG THỨC CHỮA SAI LẦM: CHÚA CỨU THẾ TRONG SỰ ĐẦY DẪY CỦA NGÀI (Co 2:6-15)

6-7  Những câu này là trọng tâm của bức thư, và được xem như một bản lề. Chúng tóm tắt những gì đã được viết rồi và đặt nền tảng cho sự tấn công tà giáo (8-23). Chúa Cứu Thế Giê-xu mà người Cô-lô-se đã tiếp nhận làm Chúa của đời sống họ khi họ ăn năn quy đạo, chính là Chúa Tể của công cuộc sáng tạo và cứu chuộc (Co 1:15-20), và là Đấng ở tại trung tâm của sự huyền nhiệm của Đức Chúa Trời (1:27). Nhận là một thuật ngữ có nghĩa là “chấp nhận một truyền thống” và ở đây có nghĩa là họ đã vui nhận cả con người lẫn sự dạy dỗ đầy quyền năng về Ngài. Đời sống Cơ Đốc đòi hỏi họ phải tiếp tục như lúc họ bắt đầu, cho nên các độc giả được khích lệ phải cứ tiếp tục sống (nguyên văn: “bước đi”,  1:10  Ga 5:16) trong Ngài. Giáo lý với nếp sống đạo, thần học và đạo đức học phải đi đôi với nhau. 7  Để khuyến khích họ trong sự tăng trưởng Cơ Đốc, tác giả nhắc họ rằng Đức Chúa Trời đã châm rễ họ vững chắc trong Chúa Cứu Thế, Ngài đang tiếp tục gây dựng họ trong Ngài (ICo 3:6-11), và giúp họ mạnh mẽ trong đức tin mà họ đã được dạy dỗ.  Hiện nay, Đức Chúa Trời vẫn đang hành động mạnh mẽ, và như vậy, khi họ sống dưới quyền tể trị của Chúa Cứu Thế, họ phải dật trong sự cảm tạ. Chúa Cứu Thế Giê-xu thừa sức để đối phó với các nguy cơ từ tà giáo. Họ cần thấy rằng lối sống và suy nghĩ của họ phải luôn tuân theo sự dạy dỗ của Ngài .

8-15  Phao-lô đưa ra lời cảnh cáo đầu tiên trong nhiều lời cảnh cáo (8) rồi trình bày lời giải thích tích cực về công việc của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế và sự hợp nhất của người Cô-lô-se với Ngài trong sự chết, sự chôn, và sống lại của Ngài (Co 9:15).

8 Người Cô-lô-se phải cảnh giác để khỏi bị kéo đi lạc xa chân lý mà sa vào ách nô lệ của điều sai lầm. Bắt phục anh em có nghĩa “bắt cóc”, và là phương pháp mà các giáo sư giả này sử dụng làm nhãn hiệu cho triết lý của họ (xem phần Dẫn nhập), vốn đầy quyến rũ và lừa dối. Là lời truyền khẩu, về bề ngoài nó có giá trị, có thẩm quyền và sự măc khải, nhưng Phao-lô bác bỏ mọi ý kiến cho rằng nó có nguồn gốc từ Đức Chúa Trời: nó chỉ là sản phẩm của con người. Từ ngữ Hi văn stoicheia (nguyên bản) có thể ngụ ý “mọi quyền cai trị và mọi thế lực”, là các thế lực của ma quỉ, của con người, chuyên áp bức bóc lột mọi người. Tệ hại nhất là tà thuyết này chống lại Chúa Cứu Thế. Chủ nghĩa hợp pháp, sự xưng công bình bởi việc làm, hoặc bất cứ tà thuyết nào ngày nay làm mất đi giá trị cứu rỗi của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá, đều có thể bị các quyền lực của bóng tối lợi dụng để giam cầm loài người trong ách nô lệ thuộc linh.

9-10 Hai lý do được nêu ra để giải thích tại sao triết lý này chống lại Chúa Cứu Thế. Lý do thứ nhất, vì Ngài là Đấng mà trong xác thịt Ngài có đầy dẫy bản tánh của Đức Chúa Trời, nhưng tà thuyết này không thừa nhận điều đó. Sự đầy dẫy có thể là một khẩu hiệu của các giáo sư giả dùng để mô tả Đức Chúa Trời đời đời mà chỉ có những người trung gian mới được đến gần được. Trong tư tưởng Trí huệ phái sau này (căn cứ vào “kiến thức nội tâm”), Chúa Cứu Thế được xem là người cuối cùng trong hàng ngũ những người trung gian. Nhưng Phao-lô khẳng định rằng tất cả sự đầy dẫy của Đức Chúa Trời đều ở ngay trong Chúa Cứu Thế và sự trú ngụ này là vĩnh viễn. Nhóm từ như hình (có thể có nghĩa là “có thật”, “thực tại cụ thể”, đối lập với “vẻ bề ngoài đơn thuần”) có thể hiểu một cách đúng nhất là “mặc lấy một hình dạng thể xác” và ám chỉ sự nhập thể. Sự đầy dẫy chỉ tìm thấy được trong Chúa Cứu Thế mà thôi, không phải bởi sự luồn cúi trước “sức mạnh của vũ trụ” hay tuân thủ các quy tắc của chúng. 10 Thứ hai, tà thuyết này chống lại Chúa Cứu Thế vì các độc giả đã được đầy dẫy trong Ngài, nghĩa là trong sự hợp nhất với Chúa Cứu Thế, họ đã nhận được sự cứu rỗi trọn vẹn. Cho nên họ chẳng cần phải hạ mình xuống trước các thế lực thuộc linh của vũ trụ, hay phải tuân thủ các luật lệ này để đạt đến sự đầy dẫy như tà thuyết của họ đòi hỏi. Đấng mà ở trong Ngài các tín hữu này được đầy dẫy là Đầu, nghĩa là Đấng cai trị trên mọi thế lực và uy quyền (1:18).

11 Chủ đề về sự hợp nhất trong Chúa Cứu Thế được tiếp tục khi Phao-lô mô tả cách các độc giả được ràng buộc với các biến cố của Phúc Âm , tức là với sự chết, sự chôn và sống lại của Chúa Cứu Thế (11-13). Để giới thiệu, chúng ta không biết rõ tại sao tác giả nói đến phép cắt ở đây: dường như các giáo sư giả không đòi hỏi việc ấy (như trong các Hội Thánh tại Ga-la-ti), vì nếu có, chắc chúng ta chắc sẽ thấy nó bị chỉ trích trong các c.16-23. Có lẽ người Cô-lô-se đã nhầm lẫn về vấn đề này. Phép cắt của Đấng Christ là cách nói bóng, ám chỉ việc Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, còn “lột bỏ tánh xác thịt” thì nên hiểu là sự mô tả cái chết làm đất rúng động của Ngài (tuy có người cho rằng nó đề cập việc lột bỏ bản tính cũ của Cơ Đốc nhân). Người Cô-lô-se cũng chịu cắt trong Ngài, nghĩa là họ cũng đã cùng chết với Chúa Cứu Thế trong sự chết của Ngài. Trái với phép cắt bì của người Do Thái, phép cắt bì của họ không phảibởi tay người ta làm ra nó là việc làm của Đức Chúa Trời, bởi đó chính Ngài làm cho con người thay đổi từ đời sống cũ sang đời sống mới.

12 Như sự chôn Chúa Cứu Thế (ICo 15:4) đã đóng ấn trên sự chết Ngài, thì việc người Cô-lô-se cùng bị chôn với Ngài trong phép báp-tem cũng chứng minh rằng họ đã thật sự dự phần trong sự chết của Ngài và bị chôn cùng Ngài trong phần mộ của Ngài. Một cái chết thật sự đã diễn ra, cho nên đời sống cũ là việc của quá khứ (Ro 6:4). Chúa Cứu Thế đã phục sinh người Cô-lô-se cũng được sống lại với Ngài như một sự kiện quá khứ. Sự dự phần của tín đồ trong sự sống lại của Chúa Cứu Thế được bày tỏ rõ ràng trong 2 thư Cô-lô-se và Ê-phê-sô (Co 3:1  Eph 2:6) còn quyền phép của Đức Chúa Trời là quyền phép đã đưa Chúa Cứu Thế từ cõi chết sống lại và hiện nay quyền phép đó ban năng lực cho tất cả các chi thể của thân Chúa Cứu Thế.

13-14 Quan điểm thay đổi trong hai câu này: người Cô-lô-se không còn được xem là đã dự phần với Chúa Cứu Thế trong sự chết, sự chôn và sống lại của Ngài nữa. Trái lại, Phao-lô đối chiếu quá khứ ngoại đạo của họ với hiện tại. Chết chỉ tình trạng bị phân rẽ khỏi Đức Chúa Trời như tình trạng hiện tại của những người chưa tin Chúa. Cái tình trạng đáng sợ này vốn do tội lỗibản chất tội lỗi không chịu phép cắt của họ gây ra. Tội lỗi là những hành động chống nghịch Đức Chúa Trời, còn bản tính tội lỗi nói về một tình trạng luôn luôn bất tuân người Cô-lô-se vừa ngoại đạo vừa bất kính. Nhưng giờ đây, nhờ sự chết của Chúa Cứu Thế, Đức Chúa Trời đã khiến họ sống lại trong Ngài. Ngài đã nhân từ tha thứ mọi tội “chúng ta” (tội lỗi của cả người Do Thái lẫn người ngoại bang) do đó, nguyên nhân của sự chết thuộc linh đã được giải quyết. Đức Chúa Trời không những chỉ xoá nợ, mà Ngài còn huỷ bỏ tờ khế của món nợ ấy (Cheirographon, tờ khế, có nghĩa là một “tờ giấy nợ”, một đấu hiệu nhắc nhở về món nợ ấy được viết trên bàn tay (người mắc nợ) như bằng chứng cho một bổn phận) . Dân Do Thái đồng ý tuân thủ luật pháp, nên trong trường hợp của họ, hình phạt đối với sự vi pham giao ước này là cái chết (Phu 27:14-26  30:15-20). Phao-lô cho rằng lương tâm của họ là những người ngoại bang cũng đã kết ước trong một nghĩa vụ tương tự, trong luật đạo đức ở phạm vi hiểu biết của họ (Ro 2:14-15). Cả hai nhóm người đều không ai đáp ứng được nghĩa vụ đó, nên nó nghịch cùng chúng ta vì các điều khoản kèm theo đó. Món nợ vốn không thể nào trả nổi, nhưng Đức Chúa Trời đã giải quyết nó, Ngài đã xoá nợ và huỷ tờ giấy nợ bằng cách đóng đinh nó vào thập tự giá. Đây là một cách nói sinh động rằng vì Chúa Cứu Thế đã chịu đóng đinh trên thập tự giá, cho nên món nợ của chúng ta đã được tha hết.

15 Lời nói về thập tự giá là một thông điệp đầy hy vọng cho những ai đang sống trong sự lo sợ các thế lực siêu nhiên và gian ác. Các quyền chấp chánh ấy có trong tay tờ khế nên đã giữ chặt chúng ta trong gọng kìm của chúng. Sử dụng hình ảnh về cuộc diễu hành khải hoàn của người chiến thắng trong đó các tù binh chiến tranh bị bêu riếu để đề cao vinh quang của kẻ chiến thắng, Phao-lô muốn nói rõ rằng Đức Chúa Trời đã đánh bại và tước khí giới các thế lực gian ác. Bằng việc nộp ra tỏ tường các thế lực ấy, “Đức Chúa Trời” (chớ không phải là “Chúa Cứu Thế”) đã vạch trần cho cả vũ trụ đều thấy sự bất năng bất lực hoàn toàn của chúng “trước Ngài” (tức ‘Chúa Cứu Thế’, đúng hơn là ‘trước nó’, thập tự giá xem bản NIV mg.) trong cuộc diễu hành khải hoàn của Ngài để cho cả thế gian thấy được sự đắc thắng vẻ vang của Ngài

8. ĐƯỢC GIẢI PHÓNG KHỎI CHỦ NGHĨA HỢP PHÁP (Co 2:16-23)

Trong một phân đoạn nói bóng gió về lời dạy và các khẩu hiệu của triết học, Phao-lô đưa ra “một bản hiến pháp về quyền tự do của Cơ Đốc nhân”. Triết học tồi dẫn đến các tập quán tồi! Các ý niệm sai lầm về “ sự đầy đẫy” và công việc của Chúa Cứu Thế (mà vị sứ đồ sửa sai trong mấy câu 8-15) đều có những sai lầm tương ứng về phương diện thực hành. Những lời chỉ trích của Phao-lô về các tập quán sai lầm và bản thân các giáo sư giả rất sắc bén.

16-17  Theo tà giáo, thì người tin rằng người Cô-lô-se với tư cách là những Cơ Đốc nhân sẽ đạt đến mức “ đầy dẫy” bằng cách tuân thủ một số điều cấm kỵ của người Do Thái về đồ ăn và gìn giữ khắt khe những ngày lễ đặc biệt của họ. Tuy nhiên, những luật lệ nghiêm khắc thuộc loại ép xác này là cái bóng của các việc sẽ tới. Chúa Cứu Thế và trật tự mới của Ngài mới là thực tại toàn hảo mà các điều răn ban đầu hướng vào. Thực tại đó đã đến rồi, nên những điều liên quan đến hình bóng đã không còn sức trói buộc nữa, chúng không còn là mẫu mực để phán xét nữa. Ngày nay, nếu có những qui định nào cho rằng để tăng trưởng thành Cơ Đốc Nhân bạn phải kiêng cữ một số đồ ăn nào đó, hoặc nghiêm giữ các kỳ lễ tôn giáo, thì những qui định ấy cũng sẽ bị chỉ trích nặng nề như vậy.  18  Nhằm chống lại các giáo sư giả luôn khoe khoang về những từng trải thuộc linh đặc biệt của mình, những lời chỉ trích của Phao-lô đều rất sắc bén. Sự phản bác của sứ đồ này đối với những lời rêu rao của các giáo sư giả thật khó hiểu đối với chúng ta vì chúng ta không hiểu nhiều về những tập tục ấy. Chớ để ai đoán xét (lên án) anh em (tham khảo c.16). Phao-lô trích dẫn các khẩu hiệu của tà giáo vốn là cơ sở của lập trường và thái độ kiêu ngạo của các giáo sư giả. Khiêm nhượng ở đây có nghĩa là “ép xác”, mô tả việc kiêng ăn và nhiều kỷ luật khác đối với thân thể vốn là những tập tục ép xác trong dân Do Thái, thái độ ngoan đạo thần bí được cho là mở đường để người ta thấy được các khải tượng về những điều mầu nhiệm của thiên đàng. Thờ lạy các thiên không đề cập sự thờ phượng hướng về các thiên sứ, nhưng là “sự thờ phượng (Đức Chúa Trời) mà các thiên sứ thực hiện”. Họ theo những sự mình xem thấy (nguyên văn là “những điều mà họ chiêm ngưỡng khi bước vào”) là khẩu hiệu thứ ba của cái “triết lý” này. Các giáo sư giả nói rõ rằng họ đã dự phần trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời của các thiên sứ ấy khi họ vào thiên đàng, và chuẩn bị tiếp nhận các khải tượng về những sự huyền nhiệm của Đức Chúa Trời. Do đó, họ khẳng định tình trạng sâu nhiệm thuộc linh của mình dựa trên cơ sở những từng trải được nâng cao đó. Bởi tính xác thịt nổi lòng kiêu ngạo ích Lời chỉ trích của Phao-lô thật sắc bén: thái độ và quan điểm này bị xác thịt thống trị. Các giáo sư giả khoe rằng họ được tâm trí hướng dẫn Phao-lô đáp lời “vâng, nhưng đó là tâm trí của xác thịt”. Đối với lời gợi ý cho rằng họ vốn quen thuộc với sự “ sự đầy dẫy” của Đức Chúa Trời, thì câu trả lời là tất cả những gì họ có đều đầy dẫy thói kiêu ngạo của chính họ! 19  Lời chỉ trích sắc bén nhất đó là họ đã lợi dụng các từng trải riêng về tôn giáo của mình làm nền móng cho uy quyền của riêng mình để rồi thật sự khước từ Chúa Cứu Thế làm Đầu của họ. Ngài là nguồn của sự sống và sự nuôi dưỡng nhờ đó thân thể Ngài sống, là nguồn của sự hợp nhất nhờ đó mà thân thể Ngài được trở nên một thân thể toàn diện.

20-21  Nếu người Cô-lô-se trở thành nạn nhân của tà thuyết và tự nguyện tuân thủ các luật lệ và quy tắc như: chớ lấy, chớ nếm, chớ rờ mà các quyền cai trị và các thế lực áp đặt, thì họ lại quay trở về với ách nô lệ, chịu sự bó buộc của chính các thế lực của vũ trụ mà họ từng được giải thoát lúc họ cùng chết với Chúa Cứu Thế trong sự chết Ngài! Không phải tất cả các Cơ Đốc nhân đều đã được giải phóng khỏi sự mê tín dị đoan, vốn có thể có ảnh hưởng hơn là đức tin của họ. 22  Các vấn đề liên quan đến những điều cấm kỵ kia đều là những vật hư nát của thế giới vật chất (như đồ ăn thức uống) một khi đã được dùng đến thì đều tiêu mất đi cả. Hơn nữa điều cấm kỵ có hơi hám Do Thái giáo đó chỉ là những điều do loài người đặt ra (nguyên văn: “theo quy tắc và giáo thuyết của loài người”, Es 29:13  Mac 7:7), để xuyên tạc sự dạy dỗ thuần khiết của Đức Chúa Trời bằng thông điệp tự do của nó. 23  Những quy tắc này, cũng như các quy tắc đã được đề cập trong câu 21, vốn có tiếng là khôn ngoan trong những nơi có sự thờ phượng tự nguyện, là sự khiêm nhượngkhắc khổ thân thể. Nhưng chúng thiếu thực tế và sự khôn ngoan đó chỉ là bề ngoài so với sự khôn ngoan thật chỉ được tìm thấy trong Chúa Cứu Thế (Co 2:3  1:15-20). Dù có vẻ tốt lành và đòi hỏi cao về sự tự giác kỷ luật, mục đích của những quy tắc này chẳng có giá trị gì cả. Những điều cấm kỵ đó chẳng đá động gì đến các vấn đề liên quan đến sự đam mê xác thịt.

9. TÌM KIẾM NHỮNG ĐIỀU Ở TRÊN TRỜI (Co 3:1-4)

Phân đoạn ngắn này giữ vị trí then chốt trong bức thư (2:6-7). Chứa đựng cả những câu khẳng định lẫn những lời khích lệ, nó là phần kết luận cho đoạn thư mà Phao-lô công kích cái “triết lý” của các giáo sư giả và đưa ra cách chọn lựa đúng thay cho tà thuyết. Phân đoạn này thu thập lại các chủ đề đã được đề cập trước đây (2:11-13,20) và tạo nên nền tảng thần học cho những lời khích lệ tiếp theo đó.

1-2  Như một bản sao tích cực của 2:20, câu này khẳng định rằng người Cô-lô-se đã được cùng sống lại với Chúa Cứu Thế. Giờ đây họ được dự phần trong sự sống phục sinh của Ngài, cho nên cuộc đời của họ sẽ phải khác hẳn đi. Những điều họ quan tâm phải tập trung vào Chúa Cứu Thế tâm trí, mục tiêu, ước vọng, tóm lại là toàn bộ tầm nhìn của họ đều phải tập trung vào thiên đàng, nơi Ngài đang cai trị và là nơi mà họ thật sự thuộc về. Cần phải liên tục nổ lực (nguyên văn “hãy cứ tiếp tục điều chỉnh lòng/trí anh em”) vì sự tập trung như thế không phải tự nhiên mà có. Người tin kính phải thường xuyên suy nghĩ xem các tham vọng và nếp sống của mình có phù hợp với mục tiêu tối hậu mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi mình hay không, nghĩa là thiên đàng là nơi Ngài ngự trị. Thiên quốc trên trời này phải được tìm kiếm cách chuyên tâm (trái với bất cứ sự tìm kiếm sai lạc nào về các kinh nghiệm thiên đàng của những kẻ đề cao “triết lý” của người Cô-lô-se), vì đó chính là nơi Chúa Cứu Thế ngự trong địa vị một vì vua, một địa vị rất cao trọng. (Về vấn đề Chúa Cứu Thế thăng thiên để ngồi bên hữu Đức Chúa Trời, xin xem Cong 2:33-35  Ro 8:34  Eph 1:20).

3  Những nền tảng để Phao-lô kêu gọi họ hãy ham mến các sự trên trời (2) gồm hai phương diện. Thứ nhất, họ đã chết với cái trật tự cũ cùng với các thế lực thuộc linh của nó (Co 2:20) với việc từ chối mình và làm nô lệ cho các quy tắc, các kinh nghiệm về khải tượng và sự thờ phượng tư kỷ vô ích. Thứ hai, cuộc đời mới của họ đã được giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời. Với Đấng Christ vì họ đã dự phần với Ngài và phục sinh của Ngài, và trong Đức Chúa Trời vì chính Chúa Cứu Thế cũng “ở trong Đức Chúa Trời” và những người thuộc về Ngài cũng ở trong đó nữa. “Được giấu trong Đức Chúa Trời” có nghĩa là sự sống kín giấu của họ được an toàn, không thể bị bất cứ ai đụng đến. 4  Đời sống mới của họ trong Chúa Cứu Thế thì người khác không nhìn thấy được và trong một chừng mực nào đó, cũng bị giấu kín đối với chính họ nữa. Nó sẽ trở thành hiển nhiên trọn vẹn khi nào Chúa Cứu Thế, vốn chính là sự sống đó, sẽ hiện ra lúc Ngài tái lâm. Thật vậy, ngày mà Con Đức Chúa Trời được bày tỏ ra sẽ là ngày mà các con trai con gái của Đức Chúa Trời cũng sẽ được bày tỏ ra nữa. Việc bày tỏ này sẽ xảy ra trong sự vinh hiển vì nó sẽ liên quan đến việc được trở nên giống như Chúa Cứu Thế và nhận được một thân thể phục sinh vinh hiển.

10. LỘT BỎ TỘI LỖI QUÁ KHỨ (Co 3:5-11)

Khi khuyên họ hãy chú tâm vào thiên đàng (1-2), Phao-lô không hề có ý rằng các Cơ Đốc nhân phải sống như ở trên mây vậy! Trái lại, kết quả của việc ham mến các sự ở trên trời là sự vâng lời cụ thể đối với những việc sau đây: Vậy hãy làm chết (5), trừ bỏ hết (8), chớ nói dối (9) và tự mặc lấy (12). Thật ra, cả phân đoạn từ 3:5 đến 4:6 này là một phần của lời giáo huấn Cơ Đốc được bắt đầu từ 3:1-4. Một tín đồ thật sự ham mến thiên đàng sẽ có ích lợi tối đa cho trần gian này! Cuộc chiến tranh giữa xác thịt với Đức Thánh Linh vẫn cứ tiếp diễn cho đến ngày cuối cùng, nên chúng ta được sứ đồ Phao lô khuyến khích phải “bươn tới” trong đời sống Cơ Đốc của mình trong khi chúng ta chờ đợi sự tiếp nhận cuối cùng, tức sự cứu chuộc phần thân thể của chúng ta.

5  Làm cho chết nhắc lại sự hợp nhất của họ với Chúa Cứu Thế trong sự chết của Ngài (2:20  3:3  2:11-12) họ đã chết với Ngài, vậy họ phải giải quyết bằng cách tuyệt giao với các thói quen và các tư tưởng xấu xa gian ác. Có hai bảng liệt kê, mỗi bảng gồm năm tội (c.8), tương tự với những tội được thấy giữa vòng các nhà đạo đức học ngoại đạo và trong các luận cứ chống ngoại giáo của người Do Thái, được tiếp theo bởi năm ân tứ trong câu 12. Năm tội trong quá khứ ngoại đạo của họ được kết hợp với bản tính thế gian của họ (nguyên văn “các chi thể… ở nơi hạ giới”). Phao-lô đồng nhất một cách thiết thực các chi thể với những tội lỗi mà họ đã phạm khi ông mô tả những biểu lộ bên ngoài của tội lỗi ( dâm) trước rồi đến những khao khát ở trong lòng (ham muốn xấu xa).  Mối nguy hiểm của lòng tham lam được đặc biệt nhấn mạnh như một “tội nặng” vì nó được đặt ngang hàng với tội thờ thần tượng. Một người tham lam, thay vì hướng cả cuộc đời vào những việc ở trên trời, là nơi Chúa Cứu Thế đang trị vì với cương vị một nhà Vua, thì lại đi tìm kiếm những việc của thế gian, do đó họ thờ lạy và phục vụ cõi thọ tạo thay vì Đấng Tạo Hoá (Ro 1:25). Phao-lô biết mối nguy hiểm đặc biệt của tội lỗi này (7:7-8  Mat 6:24). Nó nguy hiểm như thế vì nó có thể khoác trên mình nhiều hình thức khả kính. Rốt cuộc, có phải những điều mà chúng ta thiết tha ham muốn nhưng không có được đều chỉ là những “thứ cần thiết”? Chúng ta tự lừa dối mình để biến chính các đòi hỏi của mình thành thần tượng.

6  Ở đây, cũng như trong những phân đoạn Kinh Thánh khác, bảng liệt kê các tội lỗi của người ngoại đạo thường được đặt trong bối cảnh của sự phán xét của Đức Chúa Trời. Cơn giận của Đức Chúa Trời (Ro 1:18-32) mô tả cơn giận thánh khiết của Ngài đối với tội lỗi và sự đoán phạt trên chúng. Nó chẳng có liên quan gì với phản ứng ác cảm hay sự bùng nổ của cảm xúc. Nó cũng không phải là một tiến trình bất biến của luật nhân quả. Trái lại, nó là sự bày tỏ đức thánh khiết của Đức Chúa Trời chống lại tất cả những gì không công bình. Giáng trên cho thấy rằng Đức Chúa Trời trừng phạt tội lỗi trong hiện tại cũng như trong ngày cuối cùng.

7-8  Tác giả sử dụng một sự tương phản “lúc trước - bây giờ” để cho các độc giả có thể thấy được nếp sống hiện nay của họ đã khác với quá khứ chưa tin Chúa của họ như thế nào. Trước kia đời sống họ bị nhiễm những thói xấu mà chính vì đó, cơn giận của Đức Chúa Trời sẽ giáng xuống trên họ (Về từ “bước đi” để mô tả đời sống Cơ Đốc , xin xem ở Co 1:10). 8  Họ phải từ bỏ (nghĩa đen “lột bỏ”) các thói quen cũ đáng ghê tởm của họ, kể cả thói nói hành, như rũ bỏ một bộ quần áo đã cũ: sự thạnh nộgiận huỷ hoại sự hoà thuận trong các mối liên hệ giữa loài người. Hung ác (malice: quỉ quyệt) là một từ chung được dùng để mô tả một sức mạnh gian ác phá hoại mối giao hảo. Nói hành ở đây có nghĩa là nhục mạ bản tính con người, nhưng ở nhiều chỗ khác thì có thể có nghĩa là lộng ngôn đối với Đức Chúa Trời (Ro 2:24  ITi 6:1). Lời tục tỉu đứng cuối cùng trong loạt này, được nhấn mạnh: nó phải bị ngăn chặn trước khi ra khỏi miệng họ.

9  Có hai lý đo để từ bỏ các lối sống gian ác này. Một là, họ đã lột bỏ người cùng công việc rồi. Người đề cập toàn thể nhân cách của một người lúc bị tội lỗi cai trị (Ro 6:6  Eph 4:22) đồng thời nó ngụ ý rằng người đó thuộc về con người tội lỗi cũ trong A-đam. Công việc bao gồm những thói xấu được kể ra trong hai câu 5 và câu 8. Vì những việc làm ấy đều đã bị lột bỏ trong sự chết của Chúa Cứu Thế, người Cô-lô-se chẳng còn liên quan gì với lời nói dối trá và các thói quen đáng ghê tởm như đã được đề cập.

10  Lý do thứ hai là con người mới đã được thay vào chỗ của con người cũ rồi. Người mới có nghĩa là bản tính mới mà mỗi người Cô-lô-se mặc vào khi họ cùng được phục sinh với Chúa Cứu Thế. Nhóm từ này cũng ám chỉ “con người mới” theo nghĩa đen và cũng biểu thị một hình thái hợp nhất có liên quan đến con người mới trong Chúa Cứu Thế (IICo 5:17  Ga 6:15). Hình ảnh của Đấng Tạo Hoá dùng làm kiểu mẫu cho việc phục hồi một con người mới – một sự đổi mới được thấy qua sự tiến bộ của các độc giả trong sự hiểu biết chân chính, bao gồm khả năng nhận biết ý chỉ và mạng lệnh của Đức Chúa Trời (Co 1:9). Hình tượng Đấng dựng nên người ấy (Sa 1:27) dựa theo Co 1:5, trong câu Kinh Thánh này Chúa Cứu Thế được ca ngợi là hình ảnh của Đức Chúa Trời, có nghĩa là Đức Chúa Trời tái tạo nhân loại “theo khuôn mẫu của Chúa Cứu Thế, Đấng tuyệt đối giống với Đức Chúa Trời” (C. F. D. Moule). Có một ý niệm tương tự trong Ro 8:29 (ICo 15:49), trong đó chúng ta thấy sự thay đổi của Cơ Đốc nhân là “ nên giống như hình bóng Con Ngài”. 11  Trong con người mới này, sẽ chẳng có sự thấp kém thua thiệt giữa các giai cấp. Mọi người từ nhiều nguồn gốc hoàn toàn khác nhau đều cùng hiệp lại với nhau trong sự hợp nhất trong Chúa Cứu Thế, cùng trung tín với Chúa mình. Chúa Cứu Thế là tất cả những gì quan trọng. Ngài sống trong tất cả các chi thể của thân thể Ngài, bất chấp chủng tộc, giai cấp, hoặc lý lịch, và ban cho họ sự sống và quyền năng.

11. MẶC LẤY ÂN TỨ CỦA CHÚA CỨU THẾ (Co 3:12-17)

Với mệnh lệnh hãy mặc lấy (12), một lời kêu gọi tích cực được bắt đầu. Từ mở đầu vậy cho thấy rằng phân đoạn này, tương phản với câu 5-11, cũng tiếp sau Co 3:1-4. Một bảng liệt kê năm đức hạnh (12) tương phản với hai bảng liệt kê năm thói xấu (5,8) của phân đoạn trước. Sau khi đã đề cập bản tính mới trong câu 10, Phao-lô cho biết rõ hơn ý của ông muốn nói ở đây là gì.

12  Với cương vị là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời đã mặc lấy “con người mới”, người Cô-lô-se phải tự mặc lấy người mới cho mình bằng các ân tứ chứng minh rằng họ đã được biến đổi. Kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, người thánh rất yêu dấu của Ngài là những danh hiệu đặc biệt đã được dùng để chỉ dân Y-sơ-ra-ên như tài sản riêng của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh Cựu Ước (Es 43:20  65:9) và Chúa Cứu Thế trong Tân Ước (“Đấng Đức Chúa Trời đã lựa”, Lu 23:35 “Đấng Thánh”, Mac 1:24  Lu 4:34 “Con yêu dấu của ta”, Ma 3:17). Phao lô sử dụng chúng ở đây để nhấn mạnh quan điểm cho rằng Cơ Đốc nhân giống với Chúa Cứu Thế. Chính Chúa Giê-xu là Đấng được chọn. Thế thì, khi chúng ta được gọi là giống như Chúa Cứu Thế, quả là một đặc ân lớn lao! Đây là động cơ mạnh mẽ để chúng ta sống giống như Chúa Cứu Thế.

Năm ân tứ, mà các tín hữu phải mặc lấy, được xem là các đặc tính của Đức Chúa Trời hoặc của Chúa Cứu Thế trong những khúc Kinh Thánh khác (Thi 25:6  Gie 33:11  Mat 9:36  IICo 1:3) và cho thấy họ phải cư xử như những người được chọn của Đức Chúa Trời khi tiếp xúc với người khác, đặc biệt là với các Cơ Đốc nhân bạn. Ba trong số các ân tứ đó, nhơn từ, mềm mại nhịn nhục, được kể là trái của Thánh Linh trong Ga 5:22.

13  Như kết quả của sự mặc lấy sự nhịn nhục, họ phải luôn tỏ ra chịu đựng lẫn nhau. Khi trong cộng đồng phát sinh những lời than phiền chính đáng, thì các độc giả được khuyên hãy tha thứ nhau. Phao-lô dùng một động từ đặc biệt chỉ sự tha thứ (“xoá nợ” trong ẩn dụ về hai kẻ mắc nợ, Lu 7:42) được dùng trong những khúc Kinh Thánh khác để chỉ ơn ban cho và tha thứ cách nhân từ của Đức Chúa Trời (Ro 8:32  ICo 2:12  Eph 4:32). Thì hiện tại cho thấy rõ rằng ơn tha thứ này không hề dứt, thậm chí còn không hề mệt mỏi nữa (chú ý lời dạy của Chúa Giê-xu ở Mat 18:22). Cơ sở vững chắc và động cơ thúc đẩy mạnh mẽ cho cách đáp ứng này là vì : Chúa đã tha thứ cho anh em. Công tác giải hoà (Co 1:22) lớn lao của Chúa Cứu Thế là cơ sở để có được sự tha tội đó, trong khi ảnh hưởng đầy đủ của sự hy sinh của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá đã được trình bày như một khuôn mẫu cho nếp sống mà người tín hữu phải “ noi theo”.

14  Nếu mỗi một ân tứ đã được đề cập trên đây đều được xem như một đặc điểm của Đức Chúa Trời hay của Chúa Cứu Thế, thì lòng yêu thương cũng vậy (tham khảo ICo 13:4 về khái niệm tình yêu thương phản ảnh rõ ràng bản tính của Chúa Cứu Thế). Trên hết mọi sự đó có lẽ ngụ ý “ trên hết mọi sự mặc lấy khác” (C. F. D. Monle). Trong Ga 5:6 “tình yêu thương” là động lực mạnh mẽ của đức tin, và trong ICo 13:13, nó là ân tứ của Cơ Đốc nhân. dây liên lạc của sự trọn lành (hay “điều ràng buộc chặt anh em trong sự hợp nhất trọn vẹn”) có thể nói rằng tình yêu là mắt xích liên kết và buộc chặt tất cả các ân tứ vừa được kể ở câu 12 lại với nhau. Tuy nhiên, từ “trọn lành” có thể nói lên mục đích: yêu thương là sợi dây dẫn đến sự trọn lành. Nó buộc chặt các thành viên trong hội thánh lại với nhau (thay vì là các ân tứ của câu 12) để trở nên một trong thân thể Chúa Cứu Thế, và như thế tạo nên sự trọn lành. Cách lý giải này rất phù hợp với những mối quan tâm của Phao-lô đối với đời sống trong cộng đồng Cơ Đốc của các độc giả.

15  Đây là câu Kinh Thánh mà nhiều Cơ Đốc nhân vốn tâm đắc, vì nó tuyên bố rằng sự bình an của Chúa Cứu Thế sẽ hoạt động như một trọng tài trong lòng chúng ta, ban cho chúng ta sự bình an bên trong tâm hồn khi chúng ta cần được hướng dẫn hay giúp đỡ để đưa ra một quyết định nào đó. Nhưng sự bình an của Đấng Christ không nói đến một sự bình an riêng tư trong tâm hồn. Đúng hơn, đó là sự bình an mà Ngài là hiện thân và đem đến (Gi 14:27), và có giá trị tương đương với sự cứu rỗi. Hơn nữa, đó không phải là vấn đề sự bình an của Chúa Cứu Thế “hành động như một trọng tài”. Trái lại, động từ này có nghĩa là “cai trị”, chính Chúa Cứu Thế là “Chúa bình an” (Eph 2:14  IITe 3:16) , Ngài hiện diện và cai trị giữa vòng họ. Ngài phải kiểm soát mọi lãnh vực của đời sống họ khi họ liên hệ với nhau. Vì người Cô-lô-se đã biết rằng họ đã được gọi theo sự bình an này (qua Phúc Âm), nên nó cũng mô tả lãnh vực hay phạm vi mà họ hiện đang sống với tư cách là các chi thể trong thân thể Chúa Cứu Thế.

16  Trong bức thư nhấn mạnh đến con người và công việc của Chúa Cứu Thế, Phao-lô có nói đến lời của Đấng Christ, không phải là “lời của Đức Chúa Trời” (Co 1:25) hay “lời (riêng của) Chúa” (ITe 4:15). Của Đấng Christ có thể có nghĩa là chính Chúa Cứu Thế là người phát ngôn khi lời Ngài được truyền giảng nhưng có thể ngụ ý đến sứ điệp tập trung nói về Chúa Cứu Thế, là lời của chân lý, tức là Phúc Âm (Co 1:5). Lời đó phải có tác dụng đầy ân điển và vinh hiển trong đời sống họ trong mỗi cá nhân và cộng đồng. Để lời của Chúa Cứu Thế ngự trị thật phong phú ở trong lòng (Ro 8:11  IICo 6:16  IITi 1:5 về sự ngự trị của chính Đức Chúa Trời, Đức Thánh Linh và đức tin) họ phải cùng nhau đến, lắng nghe lời ấy khi nó được rao giảng và phải đầu phục uy quyền của nó. Họ phải dạy bảo và cảnh cáo nhau cách khôn khéo và thận trọng,  bằng những hoạt động được nhắc đến trong các bài thi thiên, thánh ca bài ca được Thánh Linh cảm động khi người Cô-lô-se hết lòng ca tụng Đức Chúa Trời của họ. Các thi thiên, thánh ca bài ca thuộc linh là một cách nói theo nghĩa rộng và bao gồm các thi thiên của Cựu Ước, những bài thánh ca thờ phượng, cũng như các bài ca ứng tác trong Cơ Đốc giáo.

17  Phân đoạn này được tóm tắt bằng cách bao hàm mọi phương diện của đời sống. Mọi hoạt động đều phải thực hiện trong sự vâng lời Chúa Giê-xu và sự tạ ơn Đức Chúa Cha thông qua Chúa Giê-xu (chú ý câu đề cập sự cảm tạ theo ba phương diện ở c.15-17). Mặc dầu anh em nói hay làm không đề cập các tập tục theo nghi lễ về “truyền giảng” và “Tiệc Thánh” trong một bối cảnh thờ phương, mà giải thích ý nghĩa mặc dầu mang tính bao quát… Nếu sự hiện diên phong phú của Lời Chúa trong đời sống của độc giả được bày tỏ qua sự dạy dỗ và cảnh cáo nhau, như người Cô-lô-se ca ngợi Đức Chúa Trời bằng lòng biết ơn, thì người ta cũng thấy được sự hiện diện quyền năng của nó.

12. NẾP SỐNG TRONG GIA ĐÌNH CƠ-ĐỐC (Co 3:18-4:1)

(Co 3:18-25). Phân đoạn này đề cập đến các mối liên hệ trong gia đình Cơ Đốc. Những lời khuyên tương tự được tìm thấy trong Eph 5:22-6:9  ITi 2:8-15  Tit 2:1-10  IPhi 2:18-3:7. “ “Bổn phận ở trong nhà”, như nó vẫn được gọi , có lẽ là một phần nhỏ trong phân đoạn dài hơn đề cập những lời dạy về giáo lý và đạo đức – một sách giáo lý Cơ Đốc đầu tiên, dễ thuộc lòng dành cho người mới quy đạo. Những câu này qui định các chuẩn mực về cách cư xử trong gia đình Cơ Đốc và tiếp theo câu 17. Phân đoạn này có nhiều chỗ đề cập từ Chúa, cho thấy toàn bộ đời sống, cả tư tưởng lẫn cách cư xử, đều phải đầu phục Chúa Cứu Thế Giê-xu, không một lãnh vực nào của đời sống được nằm ngoài quyền kiểm soát của Ngài, cho nên không có sự phân biệt nào mang tính quyết định giữa những điều thiêng liêng với điều phàm tục. Một cuộc đời biết tìm kiếm các sự ở trên trời, nơi Chúa Cứu Thế đang cai trị (Co 3:1-4), là một đời sống thể hiện trong hôn nhân, tư cách làm cha mẹ và công việc hằng ngày. những lời chỉ giáo này được chia thành ba cặp và lần lượt nói trực tiếp đến những người làm vợ và làm chồng (18-19), con cái và cha mẹ, nhất là người cha (20-21), và cuối cùng là tôi tớ với chủ (Co 3:22-4:1) – từ mối liên hệ gần gũi mật thiết nhất, đến mối liên hệ xa xôi nhất. Trong mỗi trường hợp, vợ, con hoặc tôi tớ đều được đề cập trước và được nói đến như một cộng sự có trách nhiệm với hy vọng họ góp phần làm “điều hợp ý Đức Chúa Trời “.

18  Người làm vợ, với tư cách những tác nhân tự do và có trách nhiệm, được khuyên phải tự nguyện vâng phục chồng vì điều này là hoàn toàn phải lẽ (đáng nên nghe có vẻ như thuyết Khắc kỷ nhưng động cơ hoàn toàn mang tính Cơ Đốc giáo). Trong Chúa có nghĩa là trong mối liên hệ mới của những người đã tôn Chúa Cứu Thế làm Chúa mình. “Vâng phục” :người vợ được kêu gọi phải tôn trọng và khẳng định quyền lãnh đạo của người chồng và giúp chồng thực hiện vai trò của mình trong gia đình. Điều này không có nghĩa là từ bỏ hoàn toàn ý muốn của người vợ, vì Chúa Cứu Thế, mà không phải là người chồng, mới có quyền tuyệt đối trên người vợ. Cũng không hề có ý cho rằng vợ về mặt tự nhiên hay về mặt thuộc linh, là thấp kém hơn chồng mình. 19  Song song đó, bổn phận của người chồng là phải yêu vợ. Chồng được dạy phải yêu vợ và đây không phải chỉ đơn giản là vấn đề người chồng có cảm xúc trìu mến hay bị thu hút về tình dục đối với vợ. Đúng hơn, người chồng phải luôn dùng tình yêu thương mà chăm sóc và phục vụ vợ vì ích lợi trọn vẹn của vợ mình (Eph 5:25-33, trong phân đoạn này chúng ta thấy tình yêu của Chúa Cứu Thế đối với Hội Thánh phải là khuôn mẫu cho tình yêu của người chồng đối với vợ mình). Với tư cách là một lãnh đạo biết hy sinh và giống như Chúa Cứu Thế, người chồng sẽ luôn giữ được lợi ích tối hậu của vợ mình. Cũng giống như những người lãnh đạo tin kính trong những lãnh vực khác, người chồng phải lấy tinh thần phục vụ làm nền tảng cho trách nhiệm lãnh đạo. Cho nên chồng không nên cay cú với vợ dù là trong ý nghĩ, lời nói hay việc làm.

20  Con cái trong gia đình Cơ Đốc được xem là những thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng (đây là điểm đáng lưu ý) và được khuyên phải vâng lời (một từ có nghĩa mạnh hơn vâng phục trong c.18) cha mẹ mình trong mọi . Đây là dấu hiệu của sự vâng phục Chúa Cứu Thế, như câu tiếp theo đó cho thấy: điều đó đẹp lòng Chúa. 21  Đồng thời, cha mẹ, đặc biệt là người cha không nên chọc tức, hay khiêu khích con cái mình, kẻo e chúng có thể chán nản, thất vọng nghĩ rằng vâng lời cha mẹ trong sinh hoạt gia đình chỉ là vô ích mà thôi. Phải cương quyết và đầy tình yêu thương trong sự dạy dỗ con cái , chớ nên nô lệ hoá (6:4).

22-25  Phần dài nhất trong lời giáo huấn này dành cho các tôi tớ (6:5-9), có lẽ phản ảnh tập tục xã hội của các Hội Thánh (về chế độ nô lệ hồi thế kỷ thứ nhất, xem bức thư gởi cho Phi-lê-môn). Phao-lô không đưa ra một lời bình luận về mặt xã hội nào liên quan đến tập tục trong thế kỷ thứ nhất, nhưng đưa ra những lời khuyến khích đặc biệt cho các đầy tớ là Cơ Đốc nhân. Lời dạy trong đoạn này cũng có thể ứng dụng trong công việc làm ngày nay và cho thấy rằng động lực thúc đẩy của người làm công và các tiêu chuẩn lao động của họ phải là tốt nhất  bởi chúng được thực hiện vì Chúa Cứu Thế. 22 Các nô lệ là Cơ Đốc nhân phải chấp nhận địa vị tôi tớ của mình và vâng lời (tham khảo câu 20, liên quan đến “các con cái”) kẻ làm chủ mình về phần xác trong mọi sự. Họ không nên làm việc qua loa hay làm để được chú ý, mà trái lại, phải lấy lòng thật thà làm việc, nghĩa là tận tuỵ và được thúc đẩy bởi những động lực lành mạnh. 23-25 Khi họ sốt sắng làm việc cho chủ, thì qua chính việc làm đó, họ đang phục vụ Chúa mình ở trên trời. Họ phải luôn đặt mục tiêu tối hậu của mình trước mặt: một nô lệ bình thường có thể sẽ bị chủ nhân ở đời này của mình trừng phạt vào cuối ngày lao động. Nhưng Chủ này thì khác hẳn vì Ngài ban nghiệp đời đời của sự sống trong đời hầu đến như phần thưởng rời rộng của Ngài. Đồng thời họ phải nhận thức được rằng đối với vị thẩm phán này, không sự tây vị nào, Ngài chắc chắn phán xét kẻ bất tuân, cũng như chắc chắn thưởng cho người trung tín vậy.

Co 4:1  Một lời cảnh cáo ngắn gọn nhưng nghiêm trọng đã được dành cho các ông chủ. Họ không được dạy rằng phải giải phóng các nô lệ của mình, mà phải đối xử công bằng và tốt đẹp với họ. Về cơ bản, động cơ cho việc làm này cũng giống như động lực thúc đẩy người nô lệ vâng lời chủ mình: cả hai đều có chung một Chủ lớn hơn trên trời. Cả hai đều phải vâng lời Chủ đó. Cho nên mối liên hệ của họ với nhau phải được hiểu theo sự soi dẫn này.

 Nếu mỗi Cơ Đốc Nhân trong thế kỷ 21 này nghiêm chỉnh tuân thủ hết những lời dạy của Phao lô về quyền lợi và trách nhiệm của từng thành viên trong gia đình Cơ Đốc, thì các mối quan hệ cá nhân trong gia đình thật sự sẽ là sự nếm trải trước về thiên đàng. Trong khi đó, nhiều người khác, khi thấy cách những Cơ Đốc nhân này yêu thương nhau, có lẽ cũng sẽ bị thu hút để đến với Đấng mà họ xưng là Chúa.

Co 4:1; Xem giải nghĩa Co 3:18-25

13. NHỮNG LỜI KHÍCH LỆ SAU CÙNG (Co 4:2-6)

Phân đoạn ngắn này, với lời khích lệ về sự cầu nguyện và cảm tạ (2-4) và những hướng dẫn cho người Cô-lô-se về cách cư xử trong các mối liên hệ giữa họ với người ngoài (5-6), là phần kết cho đoạn thư này.

Co 4:2-4  Phao-lô khuyên các độc giả nên thường xuyên cầu nguyện và cầu thay (Ro 12:12  Eph 6:18  Phi 4:6) và ông cũng nhờ họ cầu nguyện cho ông trong công việc rao truyền Phúc Âm gian khó khăn của ông (Ro 15:30-32  IICo 1:11  Eph 6:19  Phi 1:19  ITe 5:25). Rõ ràng ông cho rằng việc cầu thay cho nhau giữa ông và những người mới vừa được ông giúp quy đạo là điều vô cùng quan trọng. Ông bảo đảm với các độc giả người Cô-lô-se rằng ông luôn cầu thay cho họ (Co 1:9-14), nên bây giờ trong phần kết của bức thư ông khuyến khích họ thường xuyên cầu nguyện cho ông. 2  Họ phải bền đỗ cầu nguyện. Đặc biệt là tiếng kêu Ma-ra-na-tha (“Lạy Chúa, xin kíp đến”) phải ở trên môi miệng và trong lòng họ khi họ trông đợi sự tái lâm quang vinh của Chúa Cứu Thế (3:4). Cảm tạ là sự bày tỏ ra bên ngoài lòng tri ân đối với Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha, bởi ân điển đã hành động dứt khoát trong Con Ngài vì họ (1:12-14), phải đi kèm với lời cầu xin này. 3-4  Phao-lô yêu cầu họ đưa ông và các bạn đồng công của ông (chúng tôi) đến trước ngôi thi ân, để cầu xin Đức Chúa Trời mở ra một cánh cửa cho sứ điệp Phúc Âm (ICo 16:9  IICo 2:12) và vì vậy cho cả vị sứ giả, điều này có lẽ liên quan đến việc ông được ra khỏi nhà tù. Là một sứ đồ rao giảng cho người ngoại quốc, Phao-lô được đặc quyền lớn là nói cho mọi người biết mục đích của Đức Chúa Trời, vốn bị giấu kín trước đây, tức là điều “bí mật đã được tiết lộ” (Co 1:26-27  2:2-3). Giờ đây, ông yêu cầu người Cô-lô-se hãy cầu xin Đức Chúa Trời hằng sống giúp ông giãi bày sự huyền nhiệm đó của Đức Chúa Trời một cách đơn giản và rõ ràng.

Co 4:5-6  Nói đến các nguyên tắc chung về đạo đức Cơ Đốc, sứ đồ Phao-lô khuyên độc giả của ông hãy cư xử khôn ngoan với những người chưa tin nhận Chúa. Ở đây, sự khôn ngoan  liên quan đến sự hiểu biết về ý muốn của Đức Chúa Trời (1:9) và sống xứng đáng cho Chúa (1:10). Về cơ bản, nó thực tế và khả thi. Cho nên họ phải khéo léo nhưng cũng dạn dĩ trong sự làm chứng về Chúa của họ khi họ tận dụng mọi cơ hội. “Tận dụng” (nguyên văn “mua lấy”) gợi ý về một hoạt động tích cực nhằm tận dụng mọi khả năng sẵn có vì biết rằng thì giờ của họ rất hạn chế. 6 Là những người phải cư xử khôn ngoan với người ngoại, họ phải nói ra những lời vừa có  ân hậu vừa khôn khéo y như điều Phao-lô muốn đối với lời giảng của chính ông. Họ đã nhận được ân điển của Đức Chúa Trời, vậy hãy để ân điển đó tỏ rõ trong từng lời họ nói ra. Nêm thêm muối có nghĩa là “tế nhị” theo cách dùng của người ngoại đạo, nhưng ở đây nói về cách ăn nói không nặng lời hay nhạt nhẽo nhưng lý thú và khéo chọn (các thầy ra-bi đôi khi dùng từ “muối” theo nghĩa “khôn ngoan”). Cơ Đốc nhân cần trả lời bằng lời lẽ thích hợp với những người đặt câu hỏi, có lẽ liên quan đến tín ngưỡng và cách ăn ở của họ. Lời đáp phải thích hợp (IPhi 3:15) “mọi người phải cư xử làm sao để chính mình được xem trọng và tránh đưa ra những lời lẽ hô hào nhàm chán” (G. B. Caird).

14. NHỮNG LỜI CHÀO THĂM VÀ CHỈ GIÁO RIÊNG (Co 4:7-18)

Phao-lô kết thúc bức thư này như thường lệ, nghĩa là bằng những lời chào thăm và chỉ giáo riêng. Phân đoạn này có đề cập đến việc các sứ giả sẽ mang bức thư này đến Cô-lô-se (7-9) sau đó là một loạt những lời chào thăm của những cộng sự từng quen biết Hội Thánh Cô-lô-se (10-14), vài lời chỉ giáo vắn tắt và lời chào cuối cùng của chính tác giả (15-18).

7  Ti-chi- sẽ thông báo cho cả hội chúng về tình hình bản thân của sứ đồ Phao lô(xin lưu ý cách nói tương tự trong Eph 6:21-22). Ông là một người anh em đặc biệt được yêu mến và là một bạn đồng sự được đánh giá cao của Phao-lô, từng phục vụ “đắc lực” cho ông, cho người Cô-lô-se hoặc cho Chúa Cứu Thế (tham khảo Co 1:7 về Ê-pháp-ra). Trong Chúa có thể có nghĩa là “trong công tác của Chúa” hoặc muốn nói rằng ông đang thi hành nhiệm vụ với cương vị một người “trong Chúa”, tức một Cơ Đốc nhân.

8  Phao-lô đã sai Ti-chi-cơ đi nhằm mục đích thông báo cho người Cô-lô-se biết mọi tin tức liên quan đến ông và ghi sâu lời truyền dạy của ông trong hội chúng để làm cho họ vững mạnh. (2:2).

9  Ô--sim, một người sinh quán tại Cô-lô-se, cũng chính là người được đề cập trong bức thư gởi cho Phi-lê-môn. Ông cũng được Phao-lô khen ngợi bằng một tình cảm nồng ấm: anh em rất yêu dấu trung tín của chúng tôi. Cùng với Ti-chi-cơ, Ô-nê-sim sẽ thông báo cho các bạn thân của Phao-lô biết tất cả những gì đã xảy ra (về phần mô tả hoàn cảnh của Ô-nê-sim, xin xem phần giải nghĩa thư Phi-lê-môn).

10-11  Có ba Cơ Đốc nhân người Do Thái gởi lời chào thăm của họ cho người Cô-lô-se: A-ri-tạc, một người sinh quán tại Tê-sa-lô-ni-ca và là bạn đồng hành với Phao-lô (Cong 19:29), cũng là bạn đồng với ông, có lẽ ngụ ý ông đã ở trong nhà tù với Phao-lô chớ không phải ông là một “tù nhân của Chúa Cứu Thế” theo nghĩa bóng. Mác, anh em chú bác với Ba-na-ba mà Phao-lô đã không cho đi theo trong hành trình truyền giáo thứ hai (15:36-41) vì đã bỏ về nửa chừng trong hành trình thứ nhất (13:13), rõ ràng là đã nối lại liên hệ thân thiết với Phao-lô (IITi 4:11). Vì Ba-na-ba được đề cập ở đây, chúng ta có thể nghĩ rằng ông được biết nhiều ở Cô-lô-se. Chúng ta không biết những lời dạy bảo về Mác đến từ Phao-lô hay một ai khác (như Phi-e-rơ hay Ba-na-ba) hay Phao-lô có xác nhận những lời đó hay không. Mặt khác, chúng ta cũng không được biết gì về Giê-su gọi Giúc-tu. Ba người đầu tiên này là những Cơ Đốc nhân người Do Thái duy nhất vẫn còn là những bạn đồng công trung tín của Phao-lô vì Nước Đức Chúa Trời. Thường thường trong các bức thư của Phao-lô, nhóm từ Nước Đức Chúa Trời đề cập về tương lai (ICo 6:9-10  15:50), nhưng Ro 14:17 cho chúng ta thấy còn có một phương diện hiện tại trong nó nữa (Co 1:13), và đó chính là ý nghĩa ở đây.

12-14  Ba người khác là người ngoại quốc (c.11) gởi lời chào thăm của họ. Ê-pháp-ra được đề cạp một cách đặc biệt. Phao-lô nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa chức vụ của ông với chức vụ của Ê-pháp-ra. Là một người sinh quán tại Cô-lô-se, ông đã truyền đạo trong thị trấn quê hương mình (cũng như ở Lao-đi-xê và Hi-ê-ra-pô-li) cũng tham gia chiến đấu cho Phúc Âm như Phao-lô vậy (2:1  Phi 1:30). Điều này được thấy rõ trong những lời cầu nguyện khẩn thiết của ông cho người Cô-lô-se để họ “trở nên toàn vẹn (“toàn vẹn” nói đến một vấn đề then chốt tại Cô-lô-se) và đầy dẫy mọi sự theo ý chỉ Đức Chúa Trời”. Sự trưởng thành này, tức sự trọn vẹn được trông đợi trong ngày sau rốt, còn được định nghĩa đầy đủ hơn là “theo đúng ý muốn Thượng Đế trong mọi việc” (theo bản dịch Diễn Ý). Ê-pháp-ra muốn cho họ tiến bộ từ hôm nay để đạt đến sự đầy dẫy trong Chúa Cứu Thế trong ngày sau rốt. Chỉ đến đây chúng ta mới biết được Lu-ca một thầy thuốc. Chính vì căn cứ vào câu này, câu phân biệt ông với các Cơ Đốc nhân người Do Thái đã được đề cập trong câu 11, mà Lu-ca được xem là một Cơ Đốc nhân người ngoại quốc. IITi 4:10 cho biết Đê-ma đã từ bỏ Phao-lô vì “ham hố đời này”.

15-18  Trong phân đoạn cuối cùng này, những lời chào thăm đã được gởi cho nhiều người khác nhau. Phao lô nhờ người Cô-lô-se chuyển lời chào thăm của ông đến cho các anh em Lao-đi- tức là Hội Thánh tại đó (c.16). Có lẽ Phao-lô muốn thắt chặt mối liên hệ giữa hai Hôi Thánh này. Nim-pha có lẽ là một người phụ nữ  mà trong bản NIV dịch  Hội Thánh nhóm trong nhà ba (her) là đúng. 16  Câu này là một bằng chứng quan trọng cho thấy các bức thư của Phao-lô đã được công khai đọc lên giữa Hội Thánh các bức thư được trao đổi giữa nhiều Hội Thánh. Nếu điều được gọi là “tà giáo” đang đe doạ cả khu vực này, chắc người Lao-đi-xê cũng sẽ được ích lợi khi biết rõ câu trả lời mà Phao-lô đã gởi cho người Cô-lô-se. Bức thư Lao-đi- gởi đến giờ đây đã bị thất lạc nhưng chắc là của Phao-lô viết cho Hội Thánh ấy. 17 A-chíp là một thành viên trong nhà Phi-lê-môn, có lẽ là con trai của Phi-lê-môn và Áp-bi, đã tận hiến cho công tác phục vụ Phúc Âm (Phil 1:2). Chúng ta không biết rõ chức vụ mà người phải làm cho thật trọn vẹn là gì, dù có người cho rằng đó là chức vụ truyền giáo.

18 Sau khi viết hết những lời chào thăm của những người khác gởi cho người Cô-lô-se, Phao-lô đã tự tay viết thêm lời chào thăm của riêng ông. Hãy nhớ về xiềng xích của tôi là lời kêu gọi hãy tiếp tục cầu nguyện cho ông, tuy vắn tắt và đơn giản, nhưng thật cảm động. Rồi ông kết thúc bằng câu chào thăm thông thường: nguyền xin ân điển cùng anh em

Lên đầu trang