Những Tìa Sáng (201 đến 300)

MỤC LỤC

201. Ý TƯỞNG TA BÀY TỎ TRƯỚC MẶT CHÚA

(Tưởng đi đâu?)

Một cô bé, một hôm, hỏi mẹ rằng:

-Người ta nói rằng không có gì mất được. Vậy thì ý tưởng của ta đi đâu?

Mẹ nghiêm nghị đáp:

-Đi lên đến Đức Chúa Trời. Ngài nhớ ý tưởng của chúng ta mãi mãi.

-Mãi mãi!

Rồi cô gục đầu vào lòng mẹ mà lẩm bẩm rằng:

-Điều ấy làm con sợ lắm.

Ai trong vòng chúng ta mà chẳng phải nói như cô bé ấy!

202. PHẢI QUÍ TRỌNG NGÀY THÁNH

(Đố biết vì sao?)

Một ông Mục sư tỏ cho bạn biết những lời tín đồ trong chi hội mình nói thác vì không siêng năng nhóm họp thờ phượng Đức Chúa Trời. Ông nói:

-Nếu trời lạnh, họ sợ sanh ho; nếu trời nóng, họ sợ mỏi mệt, nếu trời mưa họ sợ nhức gân cốt, nếu trời nắng...

Thấy Mục sư ngập ngừng, bạn bèn hỏi:

-Trời nắng thì sao?

Mục sư thong thả nói tiếp:

-Họ sợ bụi vì trong bụi có vô số vi trùng truyền bịnh, nhứt là bịnh lao. Song những người đi xem chớp bóng, coi hát và dự cuộc vui chơi trong ngày Chúa Nhật thì được ngoại trừ, vì họ chẳng cần sợ lạnh, nóng, mưa, nắng chi hết.

203. CUỘC ĐỜI HẠNH PHÚC CỦA CALVIN

(Sống chết vinh hiển)

Lúc gần chết, Calvin gởi thơ cho bạn, nói rằng: "Tôi khó thở, sắp tắt hơi, nhưng tôi lấy làm vui vì sống và chết trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng khiến sự sống và sự chết giúp ích mọi con cái Ngài. Quả thật, ông đồng thanh với Phao-lô mà nói rằng: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy" (Phi-líp 1:21).

Ta sống như thế chăng? Ta sẽ chết như thế chăng? Không có cuộc đời nào hạnh phúc dường ấy. Không có sự chết nào vẻ vang dường ấy. Nguyện Chúa cho chúng ta sống và chết như vậy!

204. ĐƯỢC SỐNG NHỜ SỰ THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA HẰNG SỐNG

(Cánh tay cụt cứu được mạng người)

Thuở xưa, bên Hi-lạp, ông Eschyle bị dân thành A-thên kết án xử tử, phải đem ra pháp trường. Anh ông là Amynstas, đã nổi tiếng làm việc cho nhà nước, mất một bàn tay đương khi cầm quân và thắng trận lừng lẫy. Hay tin em bị khép án chết, ông bèn đến đứng trước tòa án chẳng nói chẳng rằng, chỉ giơ cao cánh tay cụt cho mọi người xem. Sử gia chép rằng: “Thấy dấu hiệu về sự đau đớn ông đã chịu, các quan tòa liền nhớ những công việc ông đã làm cho đất nước, nên vì cớ ông mà tha bổng Eschyle, là người bị xử tử.”

Đức Chúa Jêsus “có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ cậy Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy” (Hê-bơ-rơ 7:25).

205. CÁCH ĐỨC CHÚA JÊSUS CỨU TA KHỎI TỘI LỖI

(Giày Chúa, giày tôi)

Ngày kia, có một ông theo phái hoài nghi đến hỏi một bà già dốt nát rằng:

-Có phải bà là một nữ thánh đồ của Đức Chúa Jêsus Christ không? Hôm nay tôi muốn biết người thánh đồ là thế nào? Bà có biết chi về đạo của Đấng Christ?

Bà ấy liền đáp:

-Thưa ông, ông dư biết tôi có phải là một đứa học trò nhỏ đâu mà không thể cắt nghĩa rõ các điều ấy được. Song chính mình tôi chỉ biết một điều, ấy là tôi tin cách quả quyết rằng tôi đã được cứu bởi ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ. Và bởi cớ ấy tôi được vui mừng trong đời này, và tôi cũng trông cậy vào nước Thiên đàng trong đời sau nữa.

Ông kia lại hỏi nữa:

-Ủa, bà chỉ biết bao nhiêu đó thôi sao? Chắc bà còn biết nhiều hơn những sự ấy nữa chớ? Vậy đã được cứu rỗi là thế nào?

Bà ấy đáp:

-Sự được cứu rỗi cũng ví như Đức Chúa Jêsus Christ đã đi đôi giày của tôi, và tôi đi đôi giày của Ngài. Tức là Ngài đã chịu ở trong địa vị ô uế, tội lỗi xấu xa trước kia của tôi, tức là Ngài đã thay thế mọi sự của người cũ tôi. Mà hôm nay tôi được ở trong địa vị thánh sạch, vinh hiển của Ngài, và sẽ được biến hóa giống như Ngài.

"Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương" (Ê-sai 53:5).

-G.C. Ferry-

206. SỰ KHÔN NGOAN TRONG CHÚA CAO SIÊU HƠN
SỰ KHÔN NGOAN TRẦN GIAN

(Ngọn lửa diêm sanh)

Khoa học thực nghiệm chứng rằng dầu ta không cần nhận biết tỏ tường, diêm sanh vẫn nảy ánh sáng vì đã giải thể, và giải thể vì đã hư nát. Trong một vài cơ hội, sự khôn ngoan cao siêu của thế gian rủ quyến tín đồ; nhưng nầy, sánh với sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus, nó chẳng qua là diêm sanh cháy bùng đó thôi. Sự khôn ngoan thế gian cao siêu nhưng chỉ tạm thời và giả dối, vì là bông trái của loài

người hư hoại.

207. PHẢI NHỜ CHÚA JÊSUS ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI VÀ BẢO HỘ

(Nếu dám cứ bắn đi)

Đây, một thí dụ rõ ràng về ơn bảo hộ của Huyết Đấng Christ có giá trị là thế nào:

Một người Anh bị cáo và bị xử bắn vì đã can dự vào một cuộc phiến loạn và bị bắt tại một thành phố bên Nam-Mỹ thuộc quyền cai trị của nước Y-pha-nho. Hắn phải bị điệu đến đứng trước quân đội hành hình. Lãnh sự nước Anh và bạn đồng nghiệp là viên Lãnh sự Hoa Kỳ, đã gắng sức cứu hắn, nhưng luống công.

Lúc viên chỉ huy gần truyện lịnh bắn, thì lãnh sự nước Anh thình lình xông tới chỗ tội nhơn, rồi vừa lấy lá cờ Anh che phủ hắn, vừa la lên rằng: "Nếu dám, cứ bắn đi!" Viên Lãnh sự Huê Kỳ cũng lấy cờ nước mình che phủ hắn, rồi đứng một bên.

Lính hạ súng xuống; và người đó được giao trả về thượng cấp.

Tội nhân tin cậy Đức Chúa Jêsus Christ, được cứu rỗi vì mặc lấy sự công bình của Ngài. "Hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ" (Rô-ma 8:1). Họ được cứu chuộc bởi huyết báu Đức Chúa Jêsus và, theo tư cách con cái Đức Chúa Trời, được Ngài bảo hộ.

208. LINH HỒN ĐƯỢC CỨU MỚI THẤY SỰ ĐẸP ĐẼ THIÊN THƯỢNG

(Mở mắt linh hồn)

Có một đứa con trai đui mù từ lúc mời ra đời. Người ta dùng phép mổ xẻ để cứu chữa nó và được kết quả mỹ mãn; nhưng phải cho nó thấy ánh sáng lần lần thôi.

Một bữa, mẹ nó dắt nó ra trước cửa nhà, rồi cởi cái băng bịt mắt để nó được thấy cõi thiên nhiên lần thứ nhứt.

Nó la rằng: "Chà, má ôi, sao trước má không nói cho con biết trời đất đẹp đẽ dường nầy?"

Mẹ đáp: "Má đã cố nói cho con hiểu, nhưng con không hề hiểu nỗi."

Đứa trẻ giờ lâu nức lòng mừng rỡ, ngắm xem những cảnh vật lạ lùng mà Đức Chúa Trời đã dựng nên.

Cũng vậy, nếu muốn biết mọi sự trên trời, thì ta phải mở mắt linh hồn ra.

-Đ. Đ. T.-

209. TA THUỘC HẠNG NÀO TRONG CÕI ĐỜI ĐỜI

(Góc nhà hay cửa sổ)

Trời bắt đầu lạnh, một bà đem cây cảnh vào nhà. Có cây mới mọc, không lớn, không trổ hoa, chỉ sống, thế là hết. Có cây tốt lắm, mọc cao, đẹp đẽ, đền đáp công khó cho bà bằng những chùm hoa tươi tốt.

Cây không hoa được đem vào, được cứu khỏi chết lạnh, nhưng phải ở nơi thấp thỏi, ít được để ý và ít có ích. Còn cây trổ hoa được bày trong phòng khách, nơi cửa sổ, được mọi người ngắm nghía và khen ngợi.

Những người ở trong “nhà” và trong “vườn” của Đức Chúa Trời cũng vậy. Có kẻ “được cứu dường như qua lửa”; có kẻ chỉ đủ đức tin để “vào lọt cửa Thiên đàng.” Nhưng cũng có kẻ dâng trọn đời hầu việc Đức Chúa Trời và loài người, nên cũng được Thiên đàng mở rộng cửa tiếp rước và ở địa vị vinh hiển đời đời. Anh em thuộc hạng nào?

210. HÀNH ĐỘNG TA PHẢI TƯƠNG XỨNG VỚI SỰ NHẬN BIẾT CHÚA

(Lý thuyết và thực hành)

Đấng Christ, Chúa chúng ta, phán cùng chúng ta như vầy:

-Các ngươi xưng Ta là Thầy, nhưng không để ý đến Ta.

-Các ngươi nhận Ta là Ánh sáng, nhưng không nhìn xem Ta.

-Các ngươi nói Ta là Đường đi, nhưng không đi cùng với Ta.

-Các ngươi gọi Ta là Sự sống, nhưng không ham thích Ta.

-Các ngươi kêu ta là Hiền Triết, nhưng không theo Ta.

-Các ngươi bảo Ta là Vĩ nhân, nhưng không yêu mến Ta.

-Các ngươi nhận Ta là Đấng giàu có, nhưng không xin Ta ban chút chi.

-Các ngươi xưng Ta là Đấng Hằng Hữu, nhưng không tìm kiếm Ta.

-Các ngươi kêu Ta là Đấng thương xót, nhưng không nhờ cậy Ta.

-Các ngươi gọi Ta là Đấng Cao thượng, nhưng không hầu việc Ta.

-Các ngươi biết Ta là Đấng Công Bình, nhưng không kính sợ danh Ta.

Nếu một ngày kia, Ta phạt các ngươi thì chớ trách Ta.

211. CÁCH SỐNG HẠNH PHƯỚC

(Để sống sung sướng)

Việc gì có thể làm hôm nay đừng để đến ngày mai.

Việc gì mình làm được thì đừng giao cho kẻ khác làm.

Trước khi có món tiền nào trong tay thì đừng định dùng món tiền ấy vào việc gì.

Phải xem xét mọi sự theo phương diện tốt lành. Nếu đương giận thì phải đếm từ một đến mười rồi hãy nói; nếu giận lắm thì phải đếm đến một trăm. Mọi việc ta vui lòng làm đều là dễ dàng cả.

Người ta thường lo lắng quá về những tai họa không hề xảy đến.

212. SỐNG THEO DẤU CHƠN TỐT LÀNH CỦA CHÚA

(Làm người)

Con có biết chăng? Làm người không phải là chuyện dễ. Phải kiên nhẫn, phải công bình, phải mạnh mẽ, phải yêu, phải dâng trọn đời sống và sức lực cho không cứ công cuộc cao thượng nào.

Phải đem sức mạnh mà hầu việc kẻ yếu. Phải chịu khổ, phải phấn đấu chung với những kẻ bị hà hiếp. Phải nâng đỡ những ai bị kẻ khác hạ xuống, phải yêu thương thiết tha những người tàn tật, cùng khổ.

Muốn làm người, phải ước ao sự thánh khiết, lòng phải có sự thương xót của Đức Chúa Trời, phải đi theo đường công chính, cách xa những chỗ vui chơi, sung sướng phàm tục.

Làm người tức là đi theo dấu chơn tốt lành của Đức Chúa Jêsus để lại trong thế gian nầy, là có lòng yêu thương như Ngài, sống như Ngài, lại được Ngài nâng đỡ trong những cuộc chiến đấu mãnh liệt.

-Bà De Préssensé-

213. CẦN LO TRAU DỒI TÀI ĐỨC

(Lo gì trước?)

Dân Giu-đa tưởng giết Đức Chúa Jêsus thì tiêu diệt được đạo đức, quyền phép, tình yêu thương, lòng thánh khiết và sự nghiệp của Ngài. Nào ngờ những đức tánh ấy lại càng rõ rệt bởi sự sống lại của Ngài.

Cho nên ta chẳng lo ai vùi dập mình đi, chỉ nên lo sao cho có tài đức đầy đủ thì sự nghiệp mình đối với nước Chúa sẽ càng ngày càng vinh hiển rõ rệt.

-J.W.R.-

214. ĐỜI SỐNG GƯƠNG MẪU CỦA ÔNG HOA THỊNH ĐỐN

(Danh nhơn với đạo đức)

Lúc thơ ấu

Lúc ông mới 11 tuổi thì cha qua đời. Trong thời kỳ ấy cha ông cố ghi khắc vào tâm hồn ông sự yêu quí lời Đức Chúa Trời, sự kính trọng các lễ nghi và lòng vị tha. Bởi vậy, ông suốt đời làm theo những nguyên tắc cao quí ấy, ông cũng chịu ảnh hưởng đạo đức rất sâu xa của mẹ ông. Lúc 13 tuổi, ông đã nghiêm trang và hay suy gẫm, đã có những tư tưởng đạo đức thâm thúy. Ví dụ như trong cuốn nhật ký ông chép những câu:

-Khi nào nói về Đức Chúa Trời và đức tánh của Ngài thì phải nghiêm trang và cung kính.

-Hãy tôn kính và vâng phục cha mẹ, dầu hai người nghèo cũng vậy.

-Những cuộc giải trí của anh em phải thanh sạch, không bị vấy bẩn tội lỗi.

-Hãy gắng sức giữ vẹn cái đóm lửa ở trong mình, tức là lương tâm.

Lòng nhơn đạo

Trong thời kỳ khởi nghĩa, ông bị bạn bè mưu phản và vu cáo nhiều phen, nhưng tâm tính ông chẳng vì đó mà biến cải, đủ tỏ ra linh hồn ông cao thượng dường nào. Nhờ nghịch cảnh, ông lịch duyệt hơn và càng tấn tới trong đời sống đạo đức.

Vấn đề giải phóng tôi mọi rất được ông chú ý; chính ông cũng giải phóng nhiều tôi mọi của ông, lại cấp cho họ ruộng đất và nhà cửa. Năm 1769, có mấy người tôi mọi của ông mắc chứng đậu mùa, ông thân hành thăm viếng họ, lại cho họ thuốc uống và mền đắp. Ông cũng cho họ ăn những món bổ dưỡng do chính tay vợ ông nấu nướng.

Đời tin kính

Hoa Thịnh Đốn, Mục sư yên ủi và nghị lực ở trong Kinh Thánh. Đọc nhật ký của ông, ta thường thấy ông siêng năng nhóm họp thờ phượng Chúa trong ngày Chúa Nhật, dầu lúc thanh nhàn hoặc khi rối loạn cũng vậy. Một người dân Mỹ nói rằng: “Hiện nay nhiều người đang giày đạp ngày thánh dưới chơn, dùng làm một ngày chơi bời, thể thao và phóng túng, thiết tưởng họ nên nhớ đến cha của đất nước chúng ta (Chỉ về Hoa Thịnh Đốn). Ngài coi sự tin kính là cần yếu cho đời mình. Đối với Ngài, sự thờ phượng vào buổi sáng Chúa Nhật, sự hội họp của dân Chúa là nguồn vui vẻ và nên thánh.

Lúc ăn cơm ông luôn cầu nguyện cảm tạ Chúa, dầu gấp rút lắm cũng không bỏ. Ông xưng Đức Chúa Trời là “Đấng Toàn năng sắp đặt mọi sự”, là “Đấng Tể trị muôn nước”, là “Đấng làm ra mọi sự tốt lành cho quốc gia và cá nhân”. Ông ham đọc Kinh Thánh và cũng sốt sắng cầu nguyện. Cứ 4 giờ sáng, ông vào phòng giấy để đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Cháu ông làm thư ký riêng cho ông nói rằng: “Một ngày kia, mình bắt gặp ông quì trước một quyển Kinh Thánh.”

Hãy noi theo gương sáng

Ông không lưỡng lự, cũng không hổ thẹn mà công nhiên tuyên bố mình là tín đồ Đấng Christ. Khi làm tổng thống, ông cũng ban hành sắc lệnh khuyên nhân dân hạ mình cầu nguyện vì đã phạm tội nghịch cùng Đức Chúa Trời. Khi có nội loạn, tổng thống Abraham Lincoln cũng làm như thế, và trong thời Âu chiến, tổng thống Wilson cũng làm như thế. Hiện nay, chúng ta trải một thời kỳ khủng hoảng, nếu chịu làm theo sắc lệnh của ông thì phước biết chừng nào.

Từ hồi thơ ấu, Hoa Thịnh Đốn đã tỏ ra lòng quả quyết tin Chúa. Lúc qua đời, ông càng bày tỏ đức tin mạnh mẽ vì nói vắng tắt một câu “Mọi sự tốt lành”, rồi linh hồn về với Đấng mà mình đã phụng sự và kính mến suốt đời.

Thuật theo C.E. Scott

215. THÚC GIỤC TÍN ĐỒ DÂNG MÌNH CHO CHÚA

(Cho mượn khóa đờn)

Đã lâu năm trước đây, có chàng thiếu niên thân hình cao, gầy gò, vẻ mặt như người Y-sơ-ra-ên, bước vào một nhà thờ cổ ở miền Nam Âu châu. Nhà thờ nổi tiếng vì có những đờn phong cầm quí báu và cũng vì có một nhạc sư đại tài.

Một ông cụ vốn là nhạc sư chuyên giữ chìa khóa đờn phong cầm. Bước vào nhà thờ buổi sáng đó, chàng thiếu niên hỏi cụ rằng:

-Thưa cụ, ở đây có những đờn phong cầm kỳ diệu lắm phải không ạ?

Con mắt cụ già lòe sáng, cụ đáp rằng:

-Phải, kỳ diệu nhất nước.

-Cụ có thể cho tôi đánh thử không? Xin cụ vui lòng trao chìa khóa cho tôi.

Cụ già đứng dậy, lộ vẻ nghiêm trang, rồi nói lễ phép rằng:

-Thưa ông, không được. Xin ông đừng nài ép tôi, ông cũng biết rằng những đờn phong cầm nầy quí báu lắm, không thể cho người lạ động tới.

Nhưng chàng thanh niên cứ năn nỉ:

-Tôi rất ham mê âm nhạc. Tôi từ xa đến đây xem các đờn phong cầm của cụ. Tôi đánh cũng khá khá… Xin cụ làm ơn cho tôi mượn chìa khóa.

Chàng cứ năn nỉ… Sự kiên nhẫn bao giờ cũng có kết quả tốt. Chàng thiếu niên được chìa khóa, mở đờn, kéo mấy cái nút (registres),đạp bao gió. Lúc ấy cụ già đứng tựa vào cây cột, tự hỏi mình bị ếm chú hay sao mà lại đưa chìa khóa cho chàng. Rồi chàng thiếu niên bắt đầu đánh đờn, cụ lẩm bẩm rằng:

-Người này đã tạo được một điệu nhạc thánh thót, du dương mà tôi không ngờ. Người này là ai?

Cụ sững sờ đứng trân, hai mắt giương to, nín thở để nghe. Thoạt tiên, tiếng nhạc êm ái như luồng gió hiu hiu thở than trên ngọn cây; rồi lần lần lên bỗng như tiếng oai nghiêm ở cõi xa xăm. Rồi thì bão tố nổi dậy, sấm vang động, chớp lòe làm cho cụ quáng mắt. Rồi như trời mưa, cụ cảm thấy mình ướt tới xương. Nhưng… bốn bề lại yên lặng, chim chóc lên tiếng ca hát. Tiếng nhạc lại êm đềm như hơi thở của đứa trẻ nằm trong tay mẹ.

Chàng thiếu niên khóa đờn lại, trao trả chìa khóa và nói:

-Cám ơn cụ lắm. Đờn phong cầm này tốt lạ lùng. Tôi rất đội ơn cụ.

-Ông là ai? Tên ông là gì?

-Thưa cụ tôi tên là Félix Mendels Sohn Bartholdy (1)

-Than ôi! Vị nhạc sư lừng danh nhất một thời đến đây mà ban đầu tôi không dám cho mượn chìa khóa.

Đấng Tạo Hóa đã đặt sẵn trong mỗi người chúng ta những điệu nhạc thần kỳ, du dương hơn hết. Song chỉ hai bàn tay bị đóng đinh của Đức Chúa Jêsus có thể dạo đờn và làm nảy điệu véo von. Ta chịu trao chìa khóa cho Ngài chăng?

  1. Ông là nhạc sư trứ danh người Đức.

L.B.R

216. TRÁCH NHIỆM VỀ THÌ GIỜ TA

(Học cái đồng hồ)

Một cuốn sách phổ thông nhan đề là THÌ GIỜ, CHỦ TA của nhà thiên văn học Charles Nordmann xuất bản độ 36 năm nay, có mô tả rõ nhiều điều tỉ mỉ kỳ diệu về bốn chiếc đồng hồ quả lắc chạy đúng lạ của thiên văn đài ở Paris. Có lẽ là đồng hồ quả lắc tốt nhất thế giới; ít nữa, cũng là tốt nhất trong thời đó. Muốn giữ cho thời tiết thay đổi khỏi ảnh hưởng đến sự chuyển động đều đặn của nó, người ta bèn để nó trong những hầm nhỏ ở dưới mặt đất 27 thước, tại đó, khí hậu không hề thay đổi chút nào, lại đặt trong mấy phòng kín mít, tại đó áp lực của không khí bao giờ cũng đều. Chẳng ai được đến gần những đồng hồ ấy. Người ta lên giây nó bằng điện và chính nó dùng vô tuyến điện mà tự truyền báo cho cả thế giới.

Một trong bốn đồng hồ đó tên là “1228 L” có động cơ kiểu Reid cải tiến, chạy đúng hầu như đến cực điểm. Năm 1925, tác giả chép rằng: “Nó chạy đã bốn năm không hề ngừng, không phải lau dầu; trong 48 giờ chỉ sai một, hai phần trăm của một giây. Và, thì giờ nó chỉ định, có ba cái kia xem xét dường như là chắc thật hơn thì giờ thấy bởi phương tiện thiên văn, và lạ thay, lại thường sửa được, kết quả của phương thức ấy cho đúng nữa.”

Chiếc đồng hồ lạ lùng nầy ở nơi yên lặng tối tăm, chẳng ai ngó thấy, song nó chỉ định thì giờ cứ luân chuyển, nó dạy ta biết giá trị của những giờ và những phút đáng phải đắn đo kỹ càng dường ấy.

Ai cũng đã biết đồng hồ đi biển mà các nhà hàng hải dùng để xem xét địa thế tàu mình, cần phải đúng là dường nào. Thí dụ, ở đường xích đạo chỉ mau hoặc chậm một chút, chỗ đóng tàu cũng đủ sai chuyển 30 cây số! Ta dễ tưởng tượng hiệu quả nguy hiểm và thường khốc hại do những lúc đi sai hướng như thế, nên các thủy thủ càng ngày càng quen nhờ vô tuyến điện mà theo thì giờ của đồng hồ trong thiên văn đài Paris vốn rất đúng hơn đồng hồ đi biển của họ.

Đời ta đã bỏ phí biết bao giây phút quý báu! Nếu ta dùng những giây phút ấy cho phải cách, có lẽ đời mình đã theo một phương châm thuận lợi hơn. Người ta nói Elisabeth, nữ hoàng nước Anh, kêu la trong cơn hấp hối rằng: “Ta ước ao sống một phút nữa, Ta bằng lòng mua một phút vài triệu bạc!” Nhưng quyền lực bà, tài khéo của các thầy thuốc bà hoặc nhiệt tâm của những thị thần bà đều không thể tặng cho bà một phút quí báu đó mà bà cần có để phục hòa với Đức Chúa Trời.

Không mất thì giờ, đó là bí quyết của những cuộc đời hưng thịnh. Khi ngó một năm qua đi thì mối sầu tất nhiên phần nhiều dày vò ta bởi lòng quá thương tiếc những giờ, những phút đã mất.

Cái đồng hồ “1228 L” còn răn bảo ta cần có tánh đúng mực. Tánh nầy làm nền tảng cho các bài toán của tay thủy thủ hoặc nhà thiên văn, cho cuộc tìm tòi của nhà bác học và cho những điều cực nhọc trong bước tiến hành của xã hội sanh hoạt. Đồng hồ chạy sai, thì mọi sự lộn xộn. Tánh đúng mực làm cho mọi sự trở nên tốt đẹp, nào thì giờ được nhiều thêm, nào các thói lật đật, bịnh nóng nảy, chứng giựt mình và theo lời người ta nói, cả bịnh yếu gân cũng chữa được nữa. Ông Buffon thuật rằng: “Theo lời tôi bảo, ngày nào đầy tớ tôi cũng đánh thức tôi lúc 6 giờ sáng, và nếu cần thì dùng sức ép tôi thức dậy, mặc dầu tôi chống cự hoặc ngăm đe.” Nhà bác học ấy lại nói thêm rằng ông làm thêm được mười hoặc mười hai cuốn sách là nhờ tên đầy tớ cứ theo đúng giờ, chẳng chút thương xót.

Ta cũng phải luôn nhớ rằng không phải chỉ vua giữ đúng hẹn mới là lễ phép. Những kẻ không hề đúng hẹn, hay tới trễ vô cớ bắt phải đợi chờ khó chịu, thật dễ khiến ta có vẻ không vui; nhưng vì lòng kính trọng kẻ khác, nên ta phải nén đi. Ta không có quyền bỏ phí thì giờ bất luận là của ai. Để đồng hồ chạy đúng cũng là một bổn phận thuộc trong tình thương anh em.

Luận về giờ thờ Đức Chúa Trời, giờ hẹn hội diện, thì những lời chú giải nầy há chẳng lại càng đích thực sao? Một nữ tín đồ kia có một lòng tin kính được người ta để ý đến vì lý do tới dự lễ đúng giờ. Có ai chực khen ngợi bà, thì bà liền đáp: “Tôi coi sự không ngăn trở kẻ khác thờ phượng như một phần trong cuộc thờ phượng mà tôi dâng cho Đức Chúa Trời.”

Ta phải nghĩ đến Đấng tạo nên thì giờ, là Đấng tính sổ thì giờ thật phân minh hơn mọi người. Trước mặt Ngài, ta phải chịu trách nhiệm về thì giờ Ngài ban cho.

Theo lời nhà Truyền đạo nói: “Lòng người khôn ngoan biết thì thế” (Truyền-đạo 8:5), ta có thể thấy trong Kinh Thánh cách dùng thì giờ quí báu, theo như chính Đức Chúa Trời đã xác định. Có giờ thức dậy, giờ tìm Đức Giê-hô-va, giờ đi làm trong vườn nho Ngài; có lẽ là 6 giờ sáng, 9 giờ sáng hoặc 10 giờ sáng. Có thì giờ thuận tiện cho sự cứu rỗi tức là hiện nay. Có thì giờ Ngài thăm viếng ta; lòng nào được Ngài thăm riêng, thì lòng ấy có phước! Có một giờ cuối cùng mà Ngài đã nhứt định nhưng không khải thị cho ai: ấy là giờ đoán xét. Mọi giờ khác phải dự bị cho ta ứng hầu trong giờ ấy.

L.B.R .

217. PHẢI NÔN NẢ LÀM VIỆC CHÚA

(Soi gương Chúa)

Đức Chúa Jêsus bao giờ cũng chăm chú và vui vẻ lo tròn bổn phận. Lúc 12 tuổi, Ngài đã nói với mẹ rằng: “Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi sao?” (Lu-ca 2:49). Rồi Kinh Thánh cứ chép: “Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ” (Lu-ca 2:51). Có lẽ trong xưởng thợ mộc của Giô-sép, Ngài đã phải làm biết bao nhiêu việc tầm thường! Có lẽ nhiều người trong vòng chúng ta tránh những “bổn phận” ấy để tìm công việc dễ dàng, xứng đáng hơn. Không cứ gặp Đức Chúa Jêsus ở chốn nào, chúng ta cũng thấy Ngài sốt sắng làm theo ý chỉ của Cha Ngài, không bỏ mất một giây lát nào, hoặc kéo dài một công việc nào. Chúng ta thấy Ngài luôn luôn vội vã đi từ chỗ này đến chỗ khác, làm công việc kia, việc nọ, dạy dỗ và chữa bịnh; làm phép lạ và cầu nguyện riêng.

Ngài không khi nào đi lững thững, không bỏ mất một giây phút. Kinh Thánh tỏ cho ta biết Ngài là một người có việc phải làm và nôn nả hết sức tần tiện thì giờ để làm tròn. Ngài luôn luôn bình tĩnh, không hề nóng nảy vội vàng, nhưng cứ lặng yên hoạt động bằng một nghị lực vô định để làm tròn chức vụ thánh khiết. Chúng ta phải có tinh thần của Chủ mình. Thì giờ ngắn ngủi mà bổn phận to tát. Cái đặc ân được sống mà chúng ta đương hưởng đây chẳng bao lâu sẽ qua đi. Trong khoảng thì giờ Đức Chúa Trời chỉ định cho chúng ta, nếu muốn làm trọn công việc Chúa giao phó cho thì đừng phí một giây phút nào. Đời ta phải đầm thấm tinh thần mẫn tiệp của Chúa đến nỗi nôn nả làm việc này việc nọ, không hề nghỉ ngơi hoặc biếng nhác, xao lãng.

218. CÓ HY SINH MỚI TRÒN BỔN PHẬN

(Hy sinh)

Chúng ta tự nhiên là người lười biếng và thích thanh nhàn, phóng túng. Phải lìa khỏi bản tánh xác thịt của mình. Ngoài tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời và kẻ đồng loại không có cớ tích nào mạnh mẽ hơn để thúc giục chúng ta làm như thế. Tình yêu thương cùng tội đối với Đức Chúa Trời mới có thể khiến ta nôn nả và vui vẻ làm theo mọi điều Ngài dạy bảo! Tình yêu thương đối với đồng loại sẽ kéo ta đi làm những việc nhơn ái và từ thiện cho họ, ta không quản công khó và tiền bạc. Do những cớ tích ấy ràng buộc chúng ta không thể hờ hững được.

Ai cũng biết bổn phận không phải là dễ dàng nó thường bắt ta phải hy sinh. Từ bỏ những tập quán và tư dục bất khả dung hiệp, nó là giá mua những vật quí báu trong cõi trí thức và đạo đức. Muốn trở nên lương y, luật sư, nhạc sư hoặc tín đồ tài giỏi và có tiếng tốt, thì phải tự bỏ mình. Nhưng có biết bao nhiêu người chỉ nói được như thế, chớ không hề làm được như thế.

219. CÁCH TIÊU DÙNG TIỀN BẠC

(Tín đồ đối với tiền bạc)

  1. Tôi chỉ là người giữ tiền bạc của tôi thôi. Tiền bạc thuộc về Đức Chúa Trời cũng như tôi thuộc về Ngài vậy.
  2. Tiền bạc không phải là “cội rễ mọi điều ác”, nhưng “sự tham tiền bạc mới là cội rễ ấy” (ITi-mô-thê 6:10). Nó không phải là phần thưởng của ma quỉ cho đâu, nhưng là sức lực của loài người dồn chứa lại; chúng la đáng phải dùng sức lực ấy đề hầu việc Đức Chúa Trời.
  3. Đức Chúa Trời nhờ tiền bạc ấy để rao truyền Tin Lành khắp thế gian.
  4. Tiêu tiền phải phép dường là một bổn phận đầu nhứt của tôi. Nếu tôi chưa giữ trọn bổn phận ấy, thì lời cầu nguyện tôi nào có khác chi nói: "Lạy Chúa! Lạy Chúa!" nhưng không làm theo ý chỉ của Ngài!
  5. Trong Kinh Thánh Đức Chúa Trời bảo tôi để riêng một phần mười số thu nhập cho công việc Ngài. Bởi đó tôi nhìn nhận rằng của cải của tôi cũng như chính thân tôi thuộc trọn về Ngài. Sự dâng phần mười cứu tôi thoát khỏi tội vị kỷ và dạy tôi tiêu tiền cho phải phép.
  6. Tôi phải vì Đức Chúa Trời mà tiêu dùng phần mười ấy một cách cẩn thận cũng như tôi lo lắng các việc khác của đời mình. Tôi phải lập một "sổ thu chi về tiền Chúa" và giữ gìn hết sức cẩn thận.

220. LỢI ÍCH VÀ NGUY HẠI CỦA TIỀN BẠC

(Tiền bạc là gì ?)

  1. Tiền bạc là biết bao sức lực của loài người dồn chứa lại. Lương bổng của tôi tức là giá trị biết bao công việc của chân tay, trí óc tôi.
  2. Tiền bạc là thế lực. Có tiền bạc, tôi mới mua được cơm ăn, áo mặc và nhiều vật nhu dụng khác. Nó truyền lệnh ra thì kẻ khác làm việc cho tôi ngay. Nhờ nó, tôi có thể hoạt động ở bất luận chỗ nào, nghĩa là nhờ người khác làm môi giới truyền bá Tin Lành cho các linh hồn hư mất.
  3. Tiền bạc lại là sự hiểm nghèo. Sách Tin lành có chép đến ba người giàu. Một người ngu dại đến nỗi đổi linh hồn lấy vựa thóc và đồng ruộng. Một người cứng lòng và đui mù đến nỗi không thấy Đức Chúa Trời và cũng không thấy kẻ ăn mày đứng trước cửa. Một người hèn nhát đến nỗi không dám bỏ hết của cải mà đi theo Chúa.
  4. Tiền bạc cám dỗ ta sanh lòng vị kỷ và coi thường các vật quí giá đời đời tức là sự công bình, yêu thương và lương tâm sáng suốt.
  5. Tiền bạc là dịp tiện tốt. Nó cho loài người bao nhiêu cơ hội phóng túng theo tư dục, thì cũng cho bấy nhiêu cơ hội hầu việc Đức Chúa Trời và kẻ đồng loại.
  6. Tiền bạc là trách nhiệm. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về tiền bạc đối với Đức Chúa Trời. Phải lợi dụng nó, phải tiêu cho đúng phép, phải có mục đích kiếm phần ích lợi hơn hết cho Chúa. Nào có chi ích lợi hơn là các linh hồn quí báu kia, các linh hồn có giá cao hơn cả thế gian?

221. ÍCH LỢI CỦA SỰ DÂNG PHẦN MƯỜI

(Được lợi vì dâng phần mười)

  1. Ta sẽ có một quan niệm minh bạch hơn về bổn phận mình đối với Đức Chúa Trời và loài người.
  2. Ta khiến cho người ngoại đạo nhận chắc rằng đạo Tin Lành là chân chánh. Họ xét ta theo việc ta làm hơn là theo lời ta nói.
  3. Hội Thánh và công việc của Đức Chúa Trời sẽ được cung cấp đầy đủ.
  4. Tiêu số phần mười một cách ích lợi hơn hết cho Chúa ắt ta sẽ được vui vẻ, sung sướng bội phần hơn là tiêu chín phần mười còn lại của huê lợi mình.
  5. Kho báu riêng của chúng ta ở trên trời sẽ thêm lên.

222. ĐỪNG DÂNG TIỀN CÁCH TRÁI LẼ

(Cách dâng tiền trái lẽ)

  1. Lo xong các vật nhu dụng cho mình, rồi trích một phần còn lại mà dâng cho Chúa; ấy nghĩa là gần như chẳng dâng chi cả.
  2. Dâng tiền không bởi lời cầu nguyện, đức tin và lòng khiêm nhường.
  3. Kẻ khác dâng bao nhiêu, mình cũng dâng bấy nhiêu, chớ không xét xem mình đã thu thập được bao nhiêu và đáng phải dâng cho Chúa mực nào.
  4. Dâng mà không biết mình có thật dâng đủ một phần mười hay chăng; như vậy, ta mất phước thiêng liêng vì không hoàn toàn vâng phục Chúa. Nếu biết mình không ăn cắp của Đức Chúa Trời thì ta được thảnh thơi biết bao!

Gospel Banner

223. LỜI CẦU XIN ĐƯỢC NHẬM CÁCH KỲ DIỆU

(Chúa nhậm lời cầu nguyện)

Đức Chúa Trời đặt con cái Ngài trong hoàn cảnh xứng hiệp nhứt cho các ân tứ thiêng liêng nẩy nở. Ngài đặt kẻ lanh lợi với kẻ chậm chạp, người yên tĩnh với người hay nói, ngõ hầu kẻ lanh lợi tập tành nhịn nhục với kẻ chậm chạp, người yên tĩnh tập tành nhịn nhục với người hay nói.

Ngài đặt kẻ có trật tự với kẻ không có trật tự ngõ hầu cả hai học bài riêng. Hoàn cảnh ta thường là cách Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của ta.

  1. Ta xin sự nhịn nhục, Đức Chúa Trời bèn sai kẻ đến chọc giận ta. Vì "hoạn nạn sanh sự nhịn nhục" (Rô-ma 5:3).
  2. Ta xin sự vâng lời. Đức Chúa Trời bèn khiến ta đau đớn; ấy vì ta "học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu" (Hê-bơ-rơ 5:8).
  3. Ta xin sự từ bỏ. Đức Chúa Trời bèn cho ta dịp tiện hy sinh mà "chăm về lợi kẻ khác" (Phi-líp 2:4).
  4. Ta xin sự đắc thắng. Mọi sự trong thế gian và mọi cơn cám dỗ hung hăng xông hãm ta như bão tố; vì "sự thắng hơn thế gian ấy là đức tin của chúng ta" (IGiăng 5:4).
  5. Ta xin sự khiêm nhường và năng lực. Kìa, một quỉ sứ của Sa-tan khuấy rối ta cho đến khi ta nằm trong bụi đất và kêu cầu Đức Chúa Trời giải cứu mình thoát khỏi nó (IICô-rinh-tô 12:7 và 8).
  6. Ta xin sự hiệp một với Đấng Christ! Đức Chúa Trời bèn cắt đứt những dây thân ái tự nhiên và để bạn bè thân thiết nhứt của ta cũng hiểu sai hoặc hững hờ với ta (Giăng 15:9-10).
  7. Ta xin thêm tình yêu thương. Đức Chúa Trời khiến ta đau đớn ê chề, đặt ta đứng gần kẻ có mặt đáng ghét; lại để họ chọc giận ta, nói với ta những lời làm đau lòng và làm thương tổn lương tâm ta; vì "tình yêu thương... chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận... tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ" (ICô-rinh-tô 13:4-8).
  8. Ta xin theo Đức Chúa Jêsus. Ngài phân rẽ ta với bà con họ hàng, vì chính Ngài phán rằng: "Nếu ai trong các ngươi không bỏ mọi sự mình có, thì không được làm môn đồ ta" (Lu-ca 14:33).
  9. Ta xin sự sinh hoạt như Chiên Con, nên phải làm việc hèn hạ, kẻ khác lâm hại ta và ta phải cắn răng chịu vậy; vì "như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt... Người chẳng từng mở miệng" (Ê-sai 53:7).
  10. Ta xin sự nhu mì, nên bị cám dỗ chiều theo tánh nóng nảy, cứng cỏi.
  11. Ta xin sự bình tĩnh, cho nên mọi sự ở quanh ta và ở trong ta đều làm ta bối rối, ngõ hầu ta học biết rằng "Khi Ngài ban cho bình an, ai sẽ làm cho rối loạn?"

L.B.R.

224. TÔN TRỌNG THÁNH NHẬT LÀ BỔN PHẬN TA

(Em lớn hơn tôi)

Sam là con một người làm ruộng. Nhà nước mới đặt đường xe lửa qua làng Sam. Một buổi sáng Chúa Nhật, Sam lấy làm lạ vì thấy một xe hơi ngừng trước nhà mình. Ông Giám đốc sở xe lửa bước ra, bắt đầu xem xét một cái cầu mới bắc. Sam đi chân không, theo sau ông Giám đốc. Một lúc sau, ông này quay lại hỏi Sam rằng:

-Này, em có biết tôi là ai không ?

-Dạ, thưa ông, Sam đáp, chắc ông đứng đầu sở xe lửa.

-Em có biết chính lúc nầy tôi cần cái gì hơn hết chăng?

-Thưa ông, tôi tưởng ông cầu xin Đức Chúa Trời tha tội cho, vì đã dám lấy ngày của Ngài mà đi xem xét cầu mới.

Sững sờ nhìn Sam một giây lát, ông Giám đốc hỏi thêm rằng:

-Ai bảo em nói như vậy?

- Chẳng ai bảo cả, tôi mới vụt nghĩ như vậy.

-Em nghĩ phải lắm. Cám ơn em đã nhắc tôi nhớ bổn phận đối với Đức Chúa Trời. Chắc tôi không bao giờ xao lãng nữa. Em tỏ ra mình là lớn hơn viên Giám đốc sở xe lửa.

-Beams of Light-

225. MỌI NGƯỜI ĐỀU LÀ TỘI NHÂN VÀ CẦN NHỜ CẬY HUYẾT CHÚA

(Tem đóng dấu rồi)

Một ông kia vẫn quả quyết rằng Đức Chúa Trời đối đãi loài người có sự phân biệt tùy theo địa vị, tài năng; giá trị, và chủng tộc của mỗi người. Có bạn đến thăm, ông bèn đem vấn đề ấy ra bàn luận. Nhơn vì ông thích sưu tầm tem (cò) Việt Nam bạn mới đáp rằng:

-Ông thử coi những cái tem nầy. Cái một phần mười xu, cái một phần năm, một phần nửa, một xu, hai xu, ba xu, bốn xu, năm xu, v.v... Còn màu thì đỏ, xanh, tím khác nhau. Nhưng xin hỏi ông, những tem nầy bây giờ có giá trị khác nhau chút nào không?

-Không khác nhau chút nào cả.

-Sao vậy, xin ông cho tôi biết.

-Vì đã có cái đấu đen đóng vào rồi, thì còn có giá gì đâu.

- Những giá tiền ghi vào đó và những màu sắc khác nhau có quan hệ gì nữa không?

-Không, chỉ là những tem chết mà thôi.

- Loài người cũng vậy, tuy địa vị, chủng tộc, tài năng, giá trị khác nhau, thưng họ đều chết trước mặt Đức Chúa Trời vì đã mang cái dấu "Tội lỗi" đen thui. Kinh Thánh dạy rằng: "Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ" (Rô-ma 3:23-24).

-Đ. Đ. T-

226. BỬU HUẤN NHÂN DỊP NĂM MỚI

(Sứ mạng lúc Tân xuân)

"Vì Ta là Đức Giê-hô-va, Ta chẳng hề thay đổi" (Ma-la-chi 3:6).

Năm cũng như ngày, liên tiếp nhau và không giống nhau. Mọi sự thay hình đổi dạng hoặc mau hoặc chậm, rồi biến mất và tiêu tan. Các biến động và các nhân vật đều mau qua và không vững bền. Chính cõi thiên nhiên cũng cứ tiến hóa không cùng. Nhưng có một Đấng không hề thay đổi và đã sắm sẵn một nhà đời đời cho những kẻ được Ngài yêu mến.

Có sự dời đổi trên mặt biển. Lượn sóng lên xuống. Có khi mặt trời chói lòa, có khi lại ẩn mất. Có khi buổi sáng cảnh vật tưng bừng, tươi vui, thế mà đến chiều đã nổi cơn bão tố. Nhưng ngọn hải đăng xây trên vầng đá vẫn phát ra tia sáng khắp chung quanh, vẫn đứng trơ trơ giữa những làn sóng quay cuồng, vẫn không hề thay đổi.

Có sự dời đổi trong vườn hoa. Hoa nở rồi tàn, cánh hoa theo nhau mà rơi xuống. Màu sắc lộng lẫy và hương thơm ngào ngạt không còn nữa. Nhưng ở giữa vườn, vầng thái dương vẫn y nguyên suốt bốn mùa và thuật chuyện những ngày qua.

Có sự dời đổi trong gia đình chúng ta. Có cha mẹ qua đời, có con cái ra đời. Có người yên nghỉ trong phần mộ, có người vui mừng làm lễ thành hôn. Nhưng Đấng ở Thiên đàng đương săn sóc chúng ta có một danh hiệu thiên nhiên bất dịch là "CHA ĐỜI ĐỜI" (Ê-sai 9:5).

Bây giờ chúng ta bước sang năm mới, và lời hứa "Ta không hề thay đổi" lại vang lừng như một chứng cớ phước hạnh gieo niềm vui vào cõi lòng ta.

Hỡi anh em đương đọc những hàng chữ này, năm mới đây có lẽ sẽ là CHỖ RẼ của đời anh em. Anh em sẽ phải tự hỏi rằng: "Tôi đi sang phía hữu hay phía tả? Tôi sẽ sa xuống trũng thấp hơn nữa, hay là sẽ leo lên sườn núi đến tận đỉnh?" Chung quanh anh em bao người cuồng dại cứ di đường và không tự hỏi về những câu ấy. Chỉ có một vài người nói rằng: "Mục đích chúng tôi cao hơn! Chỉ có một Đấng Christ làm nguôi đau khổ của linh hồn chúng tôi! Chúng tôi sẽ quay về với Ngài để được tha thứ, an ủi và yên nghỉ." Cớ sao anh em không thuộc về số ít ỏi nầy?

Đang khi năm tháng quay cuồng đi mất, chính anh em há lại không cảm biết rằng giữa những sự đau thương, thất vọng, tang chế, có cần một Đấng Toàn năng, từ ái và nhơn đức vô cùng hiểu biết mình và giúp đỡ mình sao? Chắc anh em có cảm biết như vậy.

Nầy, năm mới đã đến, trẻ và đẹp như là lúc hừng đông. Ôi! Ước gì chúng ta có thể gìn giữ nó như vậy, không một nét nhăn, không một điểm u ám! Ước gì những sự ham muốn cũ của ta được tẩy sạch, những gánh nặng cũ của ta được cất bỏ, những tội lỗi cũ của ta được tha thứ! Ước gì mọi sự đổi ra mới cũng như năm mới vậy!

Kẻ nào tin, nghĩa là kẻ nào muốn thì có thể được mọi sự!

-H. P.-

227. BA THÀNH PHỐ QUAN TRỌNG

(Thành nào làm bá chủ?)

Mạc Tư Khoa, La-mã, Giê-ru-sa-lem. Ấy là tên ba thành phố được Kinh Thánh ghi chép đặc biệt, coi là trung tâm của những quyền lực trong ngày sau rốt sẽ chiến đấu với nhau để tranh quyền cao cả trên thế giới.

Hai mươi lăm năm trước, chẳng một thành phố nào trong số ấy được đứng đầu hàng trên trường chính trị quốc tế. Trước kia Mạc Tư Khoa chỉ có một địa vị tầm thường ở nước Nga, vì kinh đô là thành St. Pétersbourg, nhưng bởi một sức thúc giục mầu nhiệm, chính phủ Sô-viết lại thiên đô ra Mạc Tư Khoa (Moscou). Vì người ta cố ý làm như vậy, nên những lời tiên tri trong Kinh Thánh có cớ được ứng nghiệm đầy đủ. Đằng sau bóng tối, Đức Chúa Trời làm thành ý định của Ngài.

Trước kia thành La-mã (Rome) chỉ có danh tiếng là nơi trưng bày các cổ tích và đồ mỹ thuật khiến người tưởng nhớ cuộc dĩ vãng hiển hách của Đế quốc La-mã. Vua nước Ý và Giáo hoàng còn tranh quyền bao lâu, thì thành La-mã chẳng có mảy may hi vọng làm bá chủ thế giới. Dường như để làm ứng nghiệm lời tiên tri, vua nước Ý và Giáo hoàng đã phục hòa với nhau dưới bàn tay nhà độc tài Mussolini.

Trải bao thế kỷ bị chà nát bởi dân Thổ Nhĩ Kỳ vô tín, thành Giê-ru-sa-lem dường như chẳng còn được thế giới chú ý, bất quá là thành thánh của Y-sơ-ra-ên bị tản lạc, là nơi Chúa chúng ta đã bị đóng đinh trên cây thập tự. Nhưng để làm ứng nghiệm lời tiên tri, thành Giê-ru-sa-lem đã sống lại từ trong bụi đất của các thời đại, mặc áo tốt đẹp, thâu góp hết của báu trong xứ và như vậy cứ làm mồi cho dục vọng và sự tương tranh của Mạc Tư Khoa và La-mã, làm mồi cho đến chừng nào phục hòa cùng Đức Chúa Trời.

Rốt lại, ta phải hỏi rằng: "Mạc Tư Khoa, La-mã hay là Giê-ru-sa-lem sẽ làm chủ thế giới?" Đảng Sô-viết đáp: "Mạc Tư Khoa." Mussolini đáp: "La-mã!" Nhưng Đức Chúa Trời đáp: "Giê-ru-sa-lem"! Tình hình này đã đánh mạnh vào tâm trí ta, và cũng rắc rối vì, ghê gớm thay, Sa-tan quả quyết tranh phần thắng lợi với Đức Chúa Trời! Nhưng công việc nó khác nào đem trứng chọi với đá.

Ngày xưa Sa-tan đã bảo Con Đức Chúa Trời thờ lạy nó thì nó sẽ cho quyền cai trị cả thế gian - "Ví bằng ngươi sấp mình trước mặt ta mà thờ lạy, thì ta sẽ cho ngươi hết thảy mọi sự nầy" Ma-thi-ơ 4:9). Con Đức Chúa Trời không chịu. Nhưng chẳng còn bao lâu nữa, nó lại đem quyền kia cho một nhân vật khác, và nhân vật ấy sẽ nhận. Bây giờ ta phải tự hỏi rằng: "Nó sẽ cho ai? Cho Mạc Tư Khoa, La-mã hay Giê-ru-sa-lem?"

Đức Chúa Trời đã thề với vua Đa-vít rằng không bao giờ cho một ngươi nào ngồi trên ngai vua ấy. Lời thề nầy đã được ứng nghiệm trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời cũng đã tuyên bố rằng dân Y-sơ-ra-ên hiện đương tản lạc sẽ được trở về đất thánh để phục quyền vua CHRIST. Sa-tan tự biết mình không thể hủy diệt vua CHRIST, nhưng nó nó có thể hủy diệt dân của vua ấy, thì mưu định mà Đức Chúa Trời đã tuyên bố sẽ hỏng mất. Như vậy, vì quyết đánh bại Đức Chúa Trời (!) Sa-tan sẽ chọn một người làm đại biểu cho nó, người ấy sẽ dùng mưu thần, chước quỷ làm cho dân Giu-đa đầu phục chính mình, cốt ý để họ xa cách Đức Chúa Trời và hủy diệt họ trơn trọi.

-P. W. PITT-

228. TIẾN LÊN NHỜ SỰ BỀN ĐỖ

(Phải có năng lực để tiến lên!)

Phải chiến thắng thì mới có năng lực. Ấy chính là dời bỏ nơi thấp hèn, quả quyết thăng tiến và bay lên cho tới tiếng gọi xa xăm của Đấng Christ. Hết thảy những cuộc đời vĩ đại đều là đời của những người hay tìm tòi, của những người không thỏa mãn, Cromwell, nhà chính trị và chiến tướng trứ danh, có viết trong Kinh Thánh của mình rằng: "Nếu tôi thôi không trở nên tốt hơn, thì tôi cũng thôi không phải là người tốt nữa." Sứ đồ Phao-lô nói rằng: "Ấy không phải tôi đã giựt giải rồi, hay là đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đã được Đức Chúa Jêsus Christ giựt lấy rồi" (Phi-líp 3:12). Có những đức tánh thúc giục một người xông ra gánh vác công cuộc nào đó, song người lại thiếu những đức tánh cần yếu. Nhiệt thành, hăng hái, ý định tốt lành, những năng lực ấy xô đẩy ta tiến bước, nhưng tới quãng đường gay go, thì ba năng lực ấy không đủ làm cho người ta cứ tiến. Vậy, cần phải có một năng lực thiêng liêng khác, mà năng lực ấy không thông thường như mấy năng lực trước. Chúng bắt đầu tốt nhưng không kết liễu tốt. Sự thử thách cuối cùng chính là ta có đủ sức làm trọn một cách tốt đẹp không. Tiểu sử của người nào chẳng qua là lời phê bình xem người ấy có bền đỗ suốt đời hay không. Sứ đồ Phao-lô chẳng những nói rằng: "Tôi đương chạy", song khi hết cuộc đời giáo sĩ kỳ diệu, ông cũng nói rằng: "Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin." (IITi-mô-thê 4:7).

229. TIẾN LÊN, NHỜ ĐỨC TIN SỐNG

(Phải có đức tin để tiến lên!)

Phải tin rằng mình cần đi trọn con đường dài, nhưng cũng phải tin rằng nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, mình sẽ đi được hết đường đó một cách cao thượng. Làm việc gì ta cũng cần có đủ sức để làm việc ấy. Nếu phận sự là vô cùng tận, Chúa sè ban cho ta năng lực vô cùng tận để mà làm trọn. Nếu nhận Đấng Christ là Chủ và Đức Thánh Linh là Hướng đạo của mình, ắt chúng ta sẽ làm trọn được, vì Ngài sẽ đặt trong chúng ta một sự sống mới, và sự sống mới ấy có thể làm cho ta đạt đến cái mục đích vẻ vang mà Đức Chúa Trời đã chỉ định cho chúng ta.

230. TIẾN LÊN, NHỜ THUẬN PHỤC CHÚA LUÔN

(Phải đầu phục Chúa để tiến lên!)

Có lẽ ban đầu đời thiêng liêng của chúng ta đã đầu phục Đức Chúa Trời nhiều lắm; nhưng trong mọi sự, đời thiêng liêng ấy cần phải luôn luôn đầu phục Ngài đến cực điểm. Khi đọc sách ta phải loại bỏ mọi đoạn ngăn trở mình tấn tới, nhưng chỉ nên đọc những lời giúp đỡ và nâng mình lên cao. Phải đuổi hết tư tưởng không xứng đáng và chỉ nên suy gẫm về những điều chơn thật, đáng tôn, công bình, thanh sạch, đáng yêu chuộng, có tiếng tốt, có nhân đức đáng khen (Phi-líp 4:8). Khi trò chuyện, phải tránh những lời rồ dại, hư xấu, chỉ nên nói sự thật để cất nhắc linh hồn lên bậc cao thượng. Hãy ngoảnh mặt đừng xem những tranh ảnh ô uế phàm tục.

Chỉ liếc mắt nhìn vào tủ kính của mấy tiệm bán sách vở và báo chí "tân thời" cũng đủ hiến dịp tiện cho ma quỉ cám dỗ mình vào việc ô uế. Nếu hàng ngày ta lấy ý chí mà lựa chọn phần cao thượng quí trọng hơn hết, thì ta nắn đúc được những thói quen sẽ dẫn mình tiến trên con đường sáng láng để đạt tới một tâm tánh cao thượng giống như Đấng Christ. Đức Chúa Jêsus phán rằng: "Cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít" (Ma-thi-ơ 7:l4). Anh em muốn thuộc trong số ít người kiếm được con đường sáng láng nầy không?

231. TIẾN LÊN, NHỜ NHẪN NẠI

(Phải kiên nhẫn để tiến lên!)

Ta nhìn thấy ánh sáng nào, thì phải theo ánh sáng ấy một cách kiên nhẫn và bền đỗ. Đừng sợ cải cách cuộc đời mình. Hôm nay là thì giờ thuận tiện để làm việc ấy. Ta hãy xem xét đời mình ngay bây giờ. Gặp cơ hội làm việc khó ư? Ta phải lợi dụng ngay. Ta chỉ tiến lên từng bước một. Rõ ràng lắm, kiên nhẫn là năng lực để nhìn thấy suốt cuộc đời, nhìn đến cái kết cuộc vĩ đại. Trong hết thảy các đức tánh, sự kiên nhẫn là khó toàn vẹn hơn cả. Nhưng nếu không có kiên nhẫn thì dường như không có gì ở thế giới nầy tiến được, vì chính thế giới đã được cấu tạo bởi những công việc kiên nhẫn.

Dẫn người ta đến một kết cuộc vĩ đại trong đời tư, sự kiên nhẫn ấy phải dựng trên nền đức tin vững chắc là tin Đức Chúa Trời là Cha và Đức Chúa Jêsus là Cứu Chúa mình. Chúng ta "Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được" (IITi-mô-thê 2:15). Nhờ Đức Chúa Trời giúp đỡ, chẳng những người tự nhiên mạnh mẽ và được phú bẩm dồi dào mà người yếu đuối và bất tài cũng đạt tới một kết cuộc tốt đẹp. Sứ đồ Phao-lô đã tập tành nhờ cậy năng lực của Đức Chúa Trời, nên được nghe Ngài phán cùng mình rằng: "Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối." Vậy ông nói rằng: "Khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ", vì khi ấy ông đủ khiêm nhường để nhờ cậy Đấng Christ (Xem IICô-rinh-tô12:9,10).

Trong đoàn thể thao của một trường Cao đẳng kia, có một sinh viên được hết thảy bạn bè yêu mến và kính trọng vì tánh tình trang nhã. Bí quyết của năng lực chừng ấy là chàng nhận câu Kinh Thánh nầy thuộc về mình: "Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong tôi sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ" (Phi-líp 1:6). Cuộc đời rất giống như người đang đập một tảng đá. Thợ giơ búa sắt lên đập lia lịa trên tảng đá cho đến khi xong việc. Nếu bây giờ hỏi nhát búa nào đã đập vỡ tảng đá, thì phải trả lời rằng hết thảy đã làm việc ấy. Nhưng nếu không có nhát búa cuối cùng, thì những nhát trước hóa ra vô ích cả. Biết bao cuộc đời thất bại chỉ vì người ta không thể "đập nhát búa cuối cùng." "Đừng cho ai là sung sướng trước khi người ấy qua đời." Đó, một câu tục ngữ chua chát, nhưng phát ra từ sự biết thấu bước đường từng trải của loài người.

232. ĐỔI MỚI NHƠN NĂM MỚI

(Một ngày là một năm mới)

Thế giới có cần một nguyên tắc cao hơn sự sống cho qua ngày đoạn tháng. Hôm nay mới sáng ta đã ôm những lý tưởng mới mẻ và trong sạch. Hôm nay ta gắng gỏi sống đầy đủ mỗi giờ phút dường như hôm nay gồm cả thời gian và cả cõi đời đời. Ấy đấy là quan niệm và cuộc đời sẽ trừ bỏ sự thương tiếc kỳ quá khứ và sự lo lắng kỳ tương lai đến nỗi sanh ra đau đớn.

Người ta không được phép dùng đời mình làm chi tùy thích. Trái lại phải để cả đời mình đầu phục Đức Chúa Trời khôn ngoan trọn vẹn hầu cho được Ngài dìu dắt trên đường bình an; phải nhận thấy chương trình Ngài vạch sẵn cho mình và luôn luôn hành động y theo chương trình đó; phải quyết định như Đức Chúa Jêsus, là Đấng đã hứa nguyện trọng thể rằng: "Không theo ý muốn Con mà theo ý muốn Cha" (Ma-thi-ơ 26:39).

Mỗi khi bước qua năm mới, ta thường có nhiều ý định mới. Nhưng trong cuộc đời thiết thực của cá nhân, mỗi ngày chính là khởi điểm của một năm mới miễn là người muốn lành như vậy. Chúng ta hay tự hứa vơi mình rằng mỗi ngày sẽ là khởi điểm của một cuộc đời mới hơn, tốt hơn và thật hơn cho chúng ta, cho những kẻ ở quanh ta và cho thế giới. Chúng ta hãy đồng thanh với Phao-lô mà nói rằng: "Không phải tôi đã giựt giải rồi; hay là đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy hầu cho giựt được" (Phi-líp 3:12).

Bà. C.

233. LUẬN LÝ XÁC CHỨNG SỰ SỐNG LẠI

(Có sự phục sanh chăng?)

Anh em tưởng kẻ chết không sống lại sao? Anh em nói rằng: "Hãy chỉ cho tôi thấy một người từ kẻ chết sống lại; khi nào thấy tận mắt thì tôi mới tin." Nầy, nếu tôi có thể chỉ ra một người đã từ kẻ chết sống lại, thì anh em thật sẽ tin chăng?

Hãy nhận biết thời tiết, ngày và đêm qua hết rồi trở lại, ấy cũng như là phục sanh vậy. Còn gì nữa? Hột giống gieo xuống đất chẳng sống lại là chi đó? Thí dụ như hột lúa mì gieo vào đường cày trước hết phải chết, giải thể rồi sau mới sống lại thành một bông lúa mì.

Theo thứ tự Đức Chúa Trời đã nhứt định, thì cây cối chẳng theo kỳ hạn nhứt định mà sanh trái đó sao? Trước kia ta chẳng hề thấy trái ấy. Đó là hiệu quả do sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, là Đấng muốn tỏ ra rằng Ngài rất dễ làm cho mọi người sống lại.

Cũng hãy biết rằng sự sống lại vẫn thực hành trong chính anh em mà anh em không ngờ đấy thôi. Khi đau ốm, anh em mất nhiều sức lực và thể chất, nhưng chẳng bao lâu Đức Chúa Trời nhơn lành đến cứu giúp anh em, ban lại cho anh em phần mình đã mất. Anh em không thể biết sức lực mình mất đã đi đâu, và cũng không thể biết sức lực mình được lại từ đâu mà đến. Anh em sẽ nói rằng: "Chính là thức ăn, thuốc uống đã biến thành huyết."

Tốt lắm, nhưng chính sự biến ấy là công việc của Đức Chúa Trời, vậy chớ cứng lòng, nhưng hãy tin cậy quyền phép và lòng nhơn ái của Đức Chúa Trời!

-Thánh Théophile-

234. ƠN CHÚA KHIẾN TA VUI MỪNG MÃI MÃI

(Hãy vui mừng mãi mãi)

Nhờ lòng nhơn ái của Đức Chúa Trời, chúng ta có nhiều cớ phải vui mừng một cách hợp lý và chánh đáng. Đức Chúa Trời đã gọi chúng ta từ cõi hư không để vào lòng thực hữu; Ngài đã tạo thành chúng ta theo chính ảnh tượng Ngài. Ngài đã cho chúng ta trí khôn và lý tánh, là hai sở năng khiến mình hiểu biết Đấng Chí Cao ngõ hầu được nên trọn vẹn. Các vẻ đẹp đẽ mà Ngài đã rải trên muôn loài thọ tạo chính là một quyển sách chép cho mọi mắt cùng đọc những lời hùng hồn làm chứng về thiên cơ và sự khôn ngoan lạ lùng của Ngài.

Ngài đã ban cho chúng ta cái tài phân biệt thiện, ác, cho chúng ta có lương tâm răn bảo mình phải lựa chọn cái chi xứng hiệp và tránh xa cái chi tàn ác. Tội lỗi đã kéo ta xa cách Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta được huyết của Con Một Ngài làm cho gần lại, cũng đã cứu chuộc chúng ta khỏi làm tôi mọi đê hèn cho tội lỗi và bảo đảm cho chúng ta sau nầy được sống lại, được hưởng hạnh phước với các thiên sứ, được vào nước thiên đàng, được nhận lãnh các sản nghiệp vượt quá mọi sự hiểu biết. Chừng ấy ơn phước không đủ khêu nhóm sự vui vẻ, mừng rỡ vô cùng trong linh hồn chúng ta sao?

Vậy, chúng ta hãy tự coi mình là sung sướng hơn những kẻ ham ăn mê uống, ham điệu nhạc ru hồn, ham chăn êm đệm ấm! Không thèm thuồng được như họ thì chớ, tôi lại còn chẳng ngại thương xót họ. Tôi sẽ coi ai là sung sướng hơn họ bội phần? Chính là những người đương chịu đau khổ trong đời hiện tại, đương trông cậy sản nghiệp tương lai như ba người Y-sơ-ra-ên dầu đương ở trong hồ lửa hực tại nước Ba-by-lôn song linh hồn họ đầy dẫy Đức Chúa Trời. Sự trông cậy làm cho chúng ta vui vẻ.

-Basile-

235. PHẢI LƯU Ý ĐẾN CON CÁI MÌNH

(Con tôi đâu?)

Một Chúa Nhât, ông kia dẫn con ra đồng ruộng chơi; trời nóng lắm, ông bèn ngã lưng dưới một cây xanh tươi rũ bóng mát. Thằng nhỏ chạy lăng tăng đây đó hái hoa và ngắt cỏ, rồi chạy về nơi cha mà rằng: "Đẹp! Đẹp!"

Đến sau ông ngủ vùi, và đương khi ông ngủ thì thằng nhỏ chạy đi xa hơn. Lúc thức dậy, trước hết ông tự hỏi rằng:

-Con tôi đâu?

Ông ngó quanh quất, nhưng chẳng thấy con đâu cả. Ông kêu gọi ầm ĩ, nhưng chỉ nghe tiếng vang thôi. Chạy lên một cái gò thấp, ông nhìn quanh quất và kêu gọi. Chẳng ai trả lời! Rồi chạy đến bờ vực sâu cách đó một quãng; ông nhìn xuống, thì trên đá mấp mô phủ cây đâm gai tua tủa, ông thấy thân thể nát nhừ của đứa con yêu dấu. Ông chạy xuống chỗ đó, đỡ cái xác không hồn lên, ghì nó vào lòng và tự cáo là đã giết con. Lúc ông ngủ thì con ông đã sẩy chơn sa xuống vực sâu.

Đọc chuyện nầy, tôi có cảm tưởng rằng biết bao nhiêu là người làm cha mẹ, biết bao tín đồ của Đấng Christ hiện đương ngủ mê, để mặc con cái mình đi trên vực sâu không đáy! Hiện nay con cái ông bà ở đâu?

-D. L. Moody-

236. TỈNH THỨC ĐỜI THUỘC LINH

(Đồng hồ biết nói)

Hỡi bạn thanh niên, giữa lúc đêm khuya khoắt, bốn bề tịch mịch. Cớ sao bạn không ngủ cho ngon giấc sau một ngày làm việc nhọc nhằn? Cớ sao trán bạn lại nhăn, mắt bạn đăm đăm nét mặt âu sầu, ủ rũ như thế? Tôi biết rồi, tiếng đập ròn rã đều đặn của trái tim tôi đã khuấy rối tâm trí bạn. Có lẽ bạn muốn đem tôi đi một nơi xa để bạn được bình tĩnh. Đừng! Tôi bé nhỏ, cơ thể mỏng mảnh, song dám tự hào là một người bạn quí, một sứ giả của đức Chúa Trời sai đến ở cạnh mọi người, vô luận nam, phụ, lão, ấu, sang, hèn, giàu, nghèo.

Trước hết bạn thấy tôi không hề đi giật lùi. Bạn phải biết thì giờ đã qua sẽ chẳng khi nào trở lại. Một văn sĩ nói rằng mỗi ngày qua đi thì ta có thể nói đời mình thêm một ngày, hoặc nói đời mình bớt được một ngày. Bạn còn trẻ trung, mạnh khỏe, hăng hái, hoạt động, tốt lắm. Nhưng phải nhớ rằng hai kim tôi cứ quay đi, thì lần lần sức bạn tiêu hao, gân cốt yếu đuối. Cho nên lúc còn niên thiếu, phải lo làm hòa Đức Chúa Trời bởi tin Chúa Jêsus để được tấm lòng trong sạch, kẻo lúc già nua, tâm hồn cứng cỏi, ý chí tê liệt, ăn năn không kịp chăng. Nhà hiền triết Sa-lô-môn có nói: "Trong buổi còn thơ ấu, hãy tưởng nhớ Đấng Tạo Hóa ngươi, trước khi những ngày gian nan chưa đến, trước khi những năm tới mà ngươi nói rằng: Ta không lấy làm vui lòng."

Bạn cũng thừa thấy rằng tuy tôi không đi giật lùi, nhưng có lúc phải đứng lại vì hết giây cót (giây thiều). Bấy giờ cần có một bàn tay lên giây cho tôi chạy nữa. Tôi đẹp đẽ, có máy tốt, đặt nơi cao sang ư? Mọi sự ấy là vô ích nếu không có một bàn tay lên giây cót cho tôi. Về phần bạn cũng vậy. Sự thông minh, học thức, tốt đẹp, địa vị của bạn không có ích gì nếu không có Đức Chúa Trời chủ trương cuộc đời bạn. Những khi lớp sóng sầu dào dạt tâm hồn, hoặc bâng khuâng không thấy tiến trình sáng suốt, hoặc ngậm ngùi khóc những ngày qua, há chẳng phải cuộc đời bạn đã ĐỨNG LẠI đấy ư ? Khi đó bạn cần được Đức Chúa Trời LÊN GIÂY cho chạy đúng mực, ngõ hầu cuộc đời bạn khỏi hóa ra vô dụng. Ngài LÊN GIÂY thế nào?

Bởi huyết của Đức Chúa Jêsus tẩy sạch tâm hồn bạn, thay sạch những ý tưởng viển vông và sai lạc, tẩy sạch những dục vọng thấp thỏi, mà cho bạn một sự sống mới, một sự sống phi thường bấy lâu bạn chưa từng nếm trải hoặc nghĩ đến.

Có một điều tôi phải ngợi khen bạn, ấy là trước khi đi ngủ bạn bao giờ cũng nhớ để giây chuông báo thức. Lúc ngủ say mệt mỏi, bạn có biết đâu tôi vẫn đi, đi không dừng lại. Rồi thình lình một hồi chuông reo vang làm cho bạn vùng dậy... Và bạn đã bước vào một ngày mới. Tôi có thể nói rằng Đức Chúa Trời đã vặn giây chuông cho cuộc đời bạn. Thì giờ qua đi, bạn có ngờ đâu. Rồi một ngày kia, một ngày mà bạn không thể định trước, chuông sẽ reo vang, và bạn sẽ thức dậy trong đời sau. Bạn phải lắng tai nghe hồi chuông đó, nghĩa là phải sẵn sàng vui vẻ chờ đợi cái phút mình sẽ từ giã đời nầy mà bước vào đời sau. Bạn phải tính sao cho đời sau có thể hưởng hạnh phúc vĩnh viễn trên thiên đàng? Tính sao? Bạn không tính được đâu, bạn phải nhờ Đức Chúa Jêsus tính cho. Ngài đã thắng tử thần, cầm chìa khóa của Âm phủ, mở cửa Thiên đàng cho ta vào cõi đời đời. Bạn hãy tin Ngài thì sẽ không sợ chết. Hãy nhớ rằng khi nào ta không sợ chết thì mới sống lại một đời đầy đủ được.

Đức Chúa Jêsus chẳng những cho bạn được hạnh phúc trong đời sau, nhưng cũng ban cho bạn năng lực đầy đủ để đời nay có thể ăn ở thánh sạch, giúp đỡ đồng loại phát triển sở năng và tình cảm cao thượng, mạnh dạn phấn đấu trong mọi trường hợp.

Ô! Vui thay! Trán bạn đã hết nhăn, mặt mày đã tươi tỉnh, miệng bạn đã mỉm cười. Phải, bạn đã hiểu rồi; một người thông minh và thành thực như bạn thì dễ hiểu lắm. Thôi! Bạn hãy đi ngủ ngon giấc. Mai tôi sẽ đánh thức bạn. Cầu xin Đức Chúa Trời che chở và dẫn dắt bạn đời đời!

-Đ. Đ. T-

237."Ở TRONG CHÚA" THÌ KHÔNG SỢ CHẾT VÀ HÌNH PHẠT TƯƠNG LAI

(Chuông đổ bao nhiêu tiếng?)

Tôi nhớ rõ rằng trong làng tôi thuộc xứ New England (Nước Mỹ) vẫn có lệ hễ khi đám tang ra khỏi nhà thờ, thì người tạ thế hưởng thọ bao nhiêu tuổi, chuông đổ bấy nhiêu tiếng. Tôi rất chăm chú đến những tiếng chuông rền rĩ ấy, xem thử đời người dài được chừng nào. Thỉnh thoảng có tới bảy, tám chục tiếng; tôi thở dài cho khuây dạ vì nghĩ rằng mình có lẽ sống đến số ấy. Nhưng có khi chuông chỉ đổ mấy tiếng, thì tôi khiếp sợ biết bao vì nghĩ rằng có lẽ chẳng bao lâu mình cũng sẽ bị tử thần cướp đi.

Sự chết và sự đoán phạt trong đời sau cứ làm cho tôi khiếp sợ mãi cho tơí khi tôi nhận biết rằng hai sự ấy chẳng có quyền hành gì trên "những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ" (Rô-ma 8:1).

-Moody -

238. CHÂN HẠNH PHÚC CHỈ DO CHÚA JÊSUS BAN CHO

(Thế nào là hạnh phúc?)

Ý muốn được sung sướng đã ghi tạc vào lòng người đời. Ai thoát khỏi cái công lệ ấy? Thiết tưởng chẳng có.

Mọi sự hoạt động của người đời là đo cớ tích nào? Từ khi sa ngã tại vườn Ê-đen, hay gần 6.000 năm nay, nhân loại dã tìm gì? - Hạnh phúc!...

Bettex, một văn sĩ trứ đanh theo đạo Tin Lành, nói rằng:

"Chúng ta là tội nhân, không thể đạt đến chân hạnh phúc được." Loài người chẳng hề thoát khỏi bệnh tật, đau đớn và sự chết; chẳng hề có thể ngăn cản những tai nạn chiến tranh và chẳng hề lập được nền hòa bình quốc tế, hay sự bình an ở chính lòng mình.

Dẫu loài người có thể tránh được mọi sự đau đớn và mọi mối lo buồn, luôn luôn được mạnh khoẻ và có bạn hữu khả ái, được sống trong những ngày xuân tươi đẹp êm đềm vĩnh viễn thì cũng chưa đủ đâu.

Vì linh-hồn của người là hột giống thiêng liêng mà Đức Chúa Trời đã gieo trên đất vẫn muốn đâm cành cây đến tận Thiên Đàng. Cái phần tử mầu nhiệm không hề di dịch, không hề thỏa mãn đó muốn gì? Thế lực vua Pha-ra-ôn, sự khôn-ngoan và vinh hiển của Sa-lô-môn, thiên-tài của vua Nã-phá-luân cũng không thể làm thỏa lòng nó được.

Bị giam cầm trong cái người hèn mọn hay chết của chúng ta, linh hồn ấy ước mong được tự đo, thánh khiết và được nẩy nở trọn vẹn về phần thiêng liêng. Chỉ khi nào linh hồn ấy biết Đấng Tạo Hóa là Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Chuộc và là Vua mình, thì mới được yên-nghỉ. Ấy nghĩa là chỉ khi nào loài người cảm biết có sự tha tội và sự bình an trong lòng, thì mới được hưởng hạnh phúc thật.

Trước khi chết, Louis d'orléans nói với những bạn hữu đứng xung quanh rằng: "Ta đã nếm trải mọi sự vui sướng trên đời, đã được đầy dẫy tiền của, danh vọng và vinh hiển, nhưng mọi sự đó chỉ để lại trong lòng ta một chỗ trống thôi, và ta không hề tìm được những sự hỉ lạc mà ta trông đợi."

Tại thành Rô-ma, một bậc vĩ nhân đang hấp-hối. Mặt trời gần lặn còn ném những ánh nắng cuối cùng vào phòng của kẻ gần từ giã cõi đời, như muốn chiếu sáng "trũng bóng chết" mà người sắp phải qua. Lúc sanh thời hoàng tử ấy chỉ ưa thích những sự tối tăm trên thế hạ nầy bơn là "ánh sáng chân thật đến từ nơi cao", nên trong giờ trọng thể đó người chỉ thấy sự tối tăm bao phủ mình. Dưới cửa sổ cung điện của hoàng tử, sông Tibre cuồn cuộn chảy rất oai nghiêm và dường như nói về một "sông nước hằng sống... từ ngôi Đức Chúa Trời chảy ra" (Khải-huyền 22:1). Nhưng hoàng tử chẳng hề nếm nước sự sống "mà Đức Chúa Trời ban cho những kẻ nào nhận lấy. Nầy, bây giờ hoàng tử sắp nhắm mắt buông tay! Tình cảnh ghê sợ thay! Bạn hữu người dang đứng ở xung quanh người cũng không thể giúp được gì cho người. Khi ấy miệng người cứ chối Đức Chúa Trời luôn, sau rốt, người lằm bằm cách đắng cay: "Ta không hề có hạnh phúc, dầu ở trên giường chết cũng không có nữa!..."

Không hề có hạnh phúc! Phải chăng là số phận kẻ sống ở trên đời nầy không có Đức Chúa Trời, không lo về sự cứu rỗi linh hồn mình? Nếu suốt đời họ có thể sinh hoạt trong sự bình an điều hòa, thoát khỏi những sự lo lắng về vật chất, thoát khỏi những cuộc vui sướng trần tục luôn luôn thay đổi, thì họ cũng chưa hề được liếm hạnh phúc một tí nào cả. Lòng họ trống trải; linh hồn họ khát khao. Chán nản mọi sự, luống công, bất mãn, trên mặt họ có dấu hiệu thất vọng ghê gớm của một cuộc đời không có Đức Chúa Trời và không có mục đích. Đôi phen họ phải rủa sả về ngày sanh của mình và tự sát. Nhưng hạnh phúc mà chúng tôi muốn luận giải đây, họ không hề mơ ước và biết đến. Thật ra thế gian chẳng có một phương pháp nào làm cho loài người được sung sướng thật. Của cải, danh vọng, mỹ thuật, khoa học cũng không thể nào làm cho thế gian thôi khát khao hạnh phúc. Vua Sa-lô-môn dầu có thể có mọi sự trên thế gian, cũng phải nói rằng: "hư không của sự hư không, thảy đều hư không" (Truyền-đạo 1:2).

Chẳng kíp thì chầy, những kẻ nào ước ao tìm được ở thế hạ nầy cái hạnh phúc đầy dẫy lòng họ cũng sẽ từng như thế. Đến lúc tỉnh ngộ, thấy mình bị thua và bị hư mất trơn trọi, họ mới quăng gánh nặng trên vai xuống chơn thập tự giá ở núi Gô-gô-tha mà ăn năn, và bởi tin Đức Chúa Jêsus, được nhận lấy sự cứu rỗi và sự bình an của Đấng phán rằng: "Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được

yên nghỉ" (Ma-thi-ơ 11:28). Yên nghỉ! Tha thứ! Giải cứu! Đó là những điều linh hồn bất tử mơ ước!

Khi đã có những kho tàng thiêng liêng ấy rồi, tội nhân được tha thứ, rửa sạch, mới hiểu biết thế nào là hạnh phúc và khởi sự hát Thánh ca tạ ơn Chúa.

L. B. R.

239. PHẢI HIẾU THẢO VỚI CHA MẸ

(Con đẽo chén gỗ)

Khi tôi mới bảy, tám tuổi, theo học lớp dự bị tại một trường sơ đẳng ở phố kia, có viết một bài chính tả bằng quốc văn nhan đề như trên mà đến nay tôi vẫn còn ghi nhớ.

Hai vợ chồng nhà kia làm ăn giàu có song tánh rất hà tiện khắc khổ. Còn một cha già ngót tám mươi tuổi, sức yếu, mắt mờ, tay chân run rẩy, nên lúc ngồi ăn thường đánh rơi chén cơm vỡ làm mấy mảnh. Vợ thấy vậy rất bực mình, xui cho chồng tức giận, rầy la ông cụ đến nhức xương. Báo hại ông cụ tuy mắt mờ nhưng hai tai vẫn thính, nên nhiều lúc ngồi ăn mà nước mắt chan cơm.

Cứ vỡ chén hoài như vậy không được, vừa tốn kém, vừa bực mình, vợ chồng mới bàn nhau đẽo cho cha già một cái chén gỗ thật dày. Từ đó tha hồ cho ông cụ đánh rơi, chén vẫn y nguyên, chẳng nứt, chẳng vỡ. Vợ chồng lấy thế làm thỏa lòng quá đỗi.

Một ngày kia, vợ chồng đi chơi xa về, bước qua sân, thầy đứa con trai mới tám tuổi ngồi làm cái chi mải miết. Đến gần xem, té ra thằng nhỏ đương đẽo hai cái chén gỗ. Vợ mới hỏi rằng:

-Làm chi chăm chỉ vậy, con? Thằng nhỏ ngước mắt lên bình tĩnh đáp rằng: Con đẽo hai cái chén gỗ để khi cha mẹ già như ông nội thì bới cơm cho cha mẹ ăn, vợ chồng nghe lời nói sâu sắc bất ngờ của trẻ thơ thì hổ thẹn khôn xiết, bèn vào nhà quì lạy cha già, xin tha tội bất hiếu. Từ đó ông cụ lại được ăn chén cũ như xưa, không phải bưng chén gỗ nặng nề xấu xí nữa.

Xin các em suy nghĩ chuyện nầy, cố tìm một lời dạy dỗ thiết thực cho chính mình, biết bổn phận đối với người đã sanh và nuôi dạy các em.

240. BỀN ĐỖ HẦU VIỆC CHÚA

(Hãy vững lòng và làm việc)

Trên mọi tội ác của đời, sự bất phục của nhân loại, sự lầm lẫn của tín đồ, sự náo loạn của quốc gia, năng lực của sự sống và phong trào của lịch sử, chúng tôi tin rằng Đức Chúa Trời vẫn tế nhị, bình tĩnh, vững vàng và thành tín. Chúng tôi kêu gọi chính

mình và cả Hội thánh phải bình tĩnh tin cậy và nương náu trong Ngài, đầu phục ý chỉ Ngài một cách trọn vẹn; ý chỉ ấy là "không muốn cho người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn" (IPhi-e-rơ 3:9).

Trao cho Ngài chủ trương một cách vững chắc những phong trào trọng đại của cuộc đời vốn không thuộc về chúng ta. Anh em ơi, chúng ta chỉ cần vâng giữ các điều răn của Con Ngài, chỉ cần đem truyền sứ mạng hiền từ, nhơn ái của Ngài cho những ai mà Con Ngài đã sống, đã chết và sống lại vì họ. Chúng ta hiện đương có sứ mạng ấy thì phải đem truyền ra cho những ai chưa có.

Không cứ ở thời đại nào, tín đồ phải tỏ cho kẻ đồng loại loại biết Đức Chúa Jêsus Christ. Cố gắng và vội vã rao truyền Tin lành khắp thế gian là bổn phận của các nhà Truyền đạo và của các thế lực cùng những công cuộc đã được gây dựng ở những nước có ngọn cờ Tin lành phấp phới.

Chúng tôi tin Đức Chúa Trời đương kêu gọi rằng: "Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta?" (Ê-sai 6:8). Chúng tôi khuyên nài hết thảy các vị Mục sư, Truyền đạo đã được Đức Chúa Trời biệt riêng để dẫn dắt Hội thánh, hãy nghe tiếng kêu gọi ấy và truyền lại cho Hội thánh. Hỡi dân Đức Chúa Trời, hãy đồng thinh đáp rằng: CÓ TÔI ĐÂY, XIN HÃY SAI TÔI!

"SAI" bởi sự dâng mình, sự chú ý đến thế giới, sự cầu nguyện, sự dâng tài sản, sự gánh vác công việc Hội thánh thuộc miền tôi ở. Nầy, anh em có đương làm như thế không?

T. L.

241. CHÚA JÊSUS LÀ NGUỒN CHÂN HẠNH PHƯỚC

(Có thể tìm được hạnh phúc chân chính không?)

Chân hạnh phúc không phải do tiền của. Khi nằm trên giường chết, Jay Gould, nhà triệu phú nước Mỹ làm chứng rằng: Tôi tưởng mình là con quỉ khốn nạn nhứt thế giới." Một tờ báo kia mở cuộc thi, có câu hỏi: "Tiền là gì?" Kẻ trả lời thế nầy, người trả lời thế khác, nhưng có một câu trúng giải nhứt, là: "Tiền là giá mua được đủ mọi vật, trừ ra hạnh phúc." Hạnh phúc chân chính không phải đo tiếng tăm. Walter Scott, văn sĩ trứ danh của nước Anh, đã từng viết nhiều sách rất có giá trị, nhưng khi qua đời phải nói rằng: "Xin đem sách đến cho tôi... Chỉ có một sách, tức là Kinh Thánh." Tiếng tăm loài người bất quá như pháo nổ, to lắm thì như sấm vang động, rồi cũng im lìm, còn có gì đâu. Duy có Kinh Thánh bày tỏ cho ta con đường tìm thấy hạnh phúc đời đời.

Chân hạnh phúc không phải do vinh dự. Trong vòng loài người có ai từng được tôn vinh hơn nữ hoàng Victoria của nước Anh chăng? Thế mà khi có một sơn nhân nói chuyện với bà về thiên đàng, thì bà thẳng thắn đáp rằng: "Nhờ ân điển của Đức

Chúa Trời và nhờ huyết báu của Đấng Christ, ta sẽ gặp ngươi ở đó."

Chân hạnh phúc không phải do vui chơi. Lord Byron đã miệt mài trong cuộc truy hoan hết ngày nầy sang ngày khác, nhưng đến lễ kỷ niệm sinh nhật cuối cùng của ông thì ông viết mấy câu thơ dưới đây:

"Những ngày tôi ở trong ngọn lá vàng,

Hoa và quả của cuộc đời đã đi mất.

Sâu bọ, ung độc và sầu khổ,

Bây giờ riêng thuộc về tôi".

Chân hạnh phúc không phải do quyền thế. Hoàng đế Nã-phá-luân viết rằng: "Alexandre César, Cbarlemagne và chính mình tôi đã lập những đế quốc. Nhưng chúng tôi lập trên gì? Trên sức mạnh. Chỉ có Đấng Christ lập nước Ngài trên tình yêu

thương, nên ngày nay có hằng triệu người vui lòng chịu chết vì Ngài."

Chân hạnh phúc không phải do sự mạnh khỏe. Bác sĩ Andre Clarke, một lương y trứ danh của thời đại nầy viết rằng: "Mọi thứ tật bịnh thiêng liêng này chỉ có một thứ thuốc, thuốc ấy ta kiếm được ở trong bản thân và công nghiệp Đấng Christ."

Chân hạnh phúc không phải do lòng vô tín. Lúc qua đời nhà vô thần Tan Payne kêu la rằng: "Ôi Chúa! Xin giúp đỡ tôi! Nguyện Đức Chúa Trời giúp đỡ tôi!" Voltaire cũng nói rằng: "Tôi bị hư mất! Ôi, ước chi tôi không hề sanh ra!"

Vậy, cái gì sẽ làm phu phỉ sự nhu cần cấp bách hơn hết của tâm hồn nhân loại? Đức Chúa Jêsus Christ phán rằng: "Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta ở trong các ngươi, và sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn" (Giăng 15:11). Chỉ Đức Chúa Jêsus có thể cho ta chân hạnh phúc bằng cách đổ vào lòng ta và vào đời ta sự thánh khiết, yêu thương, bình an, can đảm nhân từ và mọi đức tánh cao quí của Ngài.

Từ xưa đến nay biết bao người nhờ tin theo Ngài mà được an hưởng chân hạnh phúc ấy, dẫu rằng họ dang sống trong cảnh nghèo túng, không tiếng tăm, bi xô đuổi họ sống trong sạch, bị ức hiếp, ốm đau, nhưng dốc lòng tin Đức Chúa Trời.

Hạnh phúc là cái mà ta phải cảm thấy ở nơi sâu kín, thiêng liêng của tâm hồn mình, không thể nhờ ngoại vật mà có được. Chỉ khi nào Đức Chúa Jêsus ngự nơi tâm hồn và đời sống ta, thì ta sẽ hưởng được hạnh phúc của Ngài ban cho, mặt mày ta sẽ hớn hở, môi miệng ta sẽ tươi cười, vì đời nầy và đời sau đã phó thác trong tay Đức Chúa Jêsus, là Đấng muôn ngàn đời không thay đổi, không sai lầm, quyền năng đầy dẫy và tình yêu thương vô hạn.

-Prophecy-

242. PHONG TRÀO DO THÁI HỒI HƯƠNG LÀ DẤU HIỆU CHÚA TÁI LÂM

(40 năm vận động phục hưng tổ quốc)

Năm 1895, Théodore Hertzl, một người Do Thái ở Pháp, xướng lên phong trào vận động phục hưng Tổ quốc của dân Do Thái (Sionisme). Năm 1897, hội nghị thứ nhứt nhóm họp và bá tước De Rothschilds bỏ ra hàng mấy triệu đồng để tậu đất ở xứ

Pa-lét-tin cho dân Do Thái trở về cố quốc, họp thành làng xóm.

Các nhà khảo cứu Kinh Thánh đều cho phong trào ấy là dấu hiệu Chúa gần tái lâm. Từ sau cuộcÂu chiến, phong trào này càng ngày càng được kết quả mỹ mãn, đến nay đã 40 năm. Số 40 là hệ trọng trong lịch sử của dân Do Thái. Vậy, năm nay phong trào ấy đã gặp biến động nào chăng?

-Prophecy-

243. KHUYÊN VỀ SỰ XEM XÉT ĐỜI THUỘC LINH CỦA MÌNH

(Dò xét lòng mình)

Về phần thiêng liêng, chúng ta phải giống như lái buôn. Mỗi ngày họ tính toán lời, lỗ thế nào, thì tối đến chúng ta cũng phải cẩn thận xét xem đời thiêng liêng của mình thua được ra sao. Lúc bấy giờ ta phải dò tới đáy lòng mình, và tự hỏi rằng:

"Ngày hôm nay tôi đã làm gì mất lòng Đức Chúa Trời chăng? Tôi có một lời nói sai lầm nào chăng? Tôi có biếng nhác, không làm trọn phận sự chăng? Tôi có chọc giận anh em nào chăng? Tôi có nói phạm đến danh dự của ai chăng? Khi miệng hát Thánh ca lòng tôi có mãi lo nghĩ việc đời chăng? Khi tư dục xác thịt hiến tôi chén thuốc độc nguy hiểm, thì tôi có ghé miệng uống chăng?"

Nếu thấy mình đã thua trong một vài việc như thế thì anh em hãy rên siết, kêu la và sau này phải cẩn thận hơn nhiều để khỏi sa vào lối cũ. Đừng giao thiệp với những người hư xấu, chẳng phải vì ghét bản thân họ, nhưng vì muốn xa tật xấu của họ. Nếu anh em phải sống chung với những tín đồ nguội lạnh, thì phải hết sức cẩn thận dùng hành vi trọn vẹn của mình mà dẫn đến cùng Chúa, và để chính mình khỏi bị sự nguội lạnh của họ lôi cuốn mà xa cách Chúa.

-Ephrem-

244. ĐỨC TIN LIÊN HỆ VỚI ĐỜI SỐNG

(Công dụng của đức tin)

Đức tin không phải cốt để giữ linh hồn chúng ta trên “giường chết” mà thôi, nhưng chính là để dắt dẫn chúng ta một cách bình an trên cả bước đường đời, và để tỏ cho chúng ta biết quyền năng của Đức Chúa Trời vẫn ở bên cạnh mà sẵn sàng cứu giúp mình.

-C. E. Macartney-

245. KHUYÊN VỀ SỰ CHIẾU LÒE ÁNH SÁNG SỰ SỐNG

(Đèn tôi có tắt?)

Một người đi du lịch các xứ bên Âu Châu là nơi mà ít ai để chơn đến, có tìm được một thói tục rất cảm động tại làng kia.

Buổi tối tín đồ đi đến nhà thờ đều đem theo một cây đèn nhỏ bằng nhau; khi đã ngồi yên trên ghế, họ đốt đèn trên cái khay nhỏ ở trước mặt mình.

Chỉ có ánh sáng dịu dàng của những đèn ấy soi sáng nhà thờ. Nếu tín đồ nào không đến, thì chỗ người ấy phải tối tăm.

Khi cùng đi thờ phượng Đức Chúa Trời, chúng ta không đem đèn theo, nhưng chính thân chúng ta lòa ánh sáng ra. Bằng chẳng làm vậy thì mình sẽ ở trong địa vị tối tăm. Anh em hãy coi chừng!

246. TÁI SANH HƠN CẢI CÁCH

(Nếu em là người mù...)

Người ta thuật truyện rằng ông Théodore Monod dạy đạo cho một em nhỏ và có nói đến Ba-ti-mê, là người mù từ thuở mới sanh, đã được Chúa chữa lành. Kể sự tích xong, ông hỏi em ấy rằng: -Nếu em là người mù ấy, thì em phải xin Đức Chúa Trời cái gì?

Hai mặt lộ ý thèm thuồng, em đáp:

-Ồ! Em sẽ xin Ngài một con chó vừa nhỏ, vừa đẹp; một cái vòng cổ và một cái dây để nó dắt em đi.

Không phải chúng ta cần sự cải cách đâu, chúng ta cần được sanh lại (Giăng 3:3). Không phải phương pháp của loài người nhưng chính là quyền phép của Đức Chúa Trời mới có thể đổi chúng ta nên người mới (Ga-la-ti 6:15). Thế mà biết bao người trong vòng chúng ta không xin cho được chữa lành hẳn, nhưng lại xin như cậu bé trong truyện nầy!

247. KHUYÊN GIỤC VỀ SỰ THA THỨ THẬT

(Tha cũng như không)

Có hai anh em cãi nhau. Đến tối, người bảo mẫu đem một cậu ra chỗ riêng:

-Long này! Em phải tha cho Minh, nghe!

-Không đời nào!

-Vậy nếu đêm nay em qua đời, thì sao dám đến trước mặt Đức Chúa Trời?

Suy nghĩ nghĩ một lúc, Long đáp rằng:

-Ừ, tôi tha cho nó, nếu đêm nay tôi không chết, thì sáng mai nó phải coi chừng!

Rất nhiều tín đồ trẻ và già tha thứ theo cách của Long; cách ấy không tốt, không hiệp ý Đức Chúa Trời, vì đó có phải là tha thứ gì đâu. "Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy" (Ê-phê-sô 4:32); "Hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình" (Lu-ca 6:37).

-L.B.R-

248. CHÚA HẰNG Ở VỚI TA LUÔN

("Nầy, ta thường ở cùng?")

Khi David Livingstone, nhà truyền đạo và thám hiểm trứ danh ở Phi châu, trở về nước Anh lần thứ nhứt, thì được toàn thể quốc dân đón rước và nhiệt liệt hoan hô. Giảng cho các sinh viên trường Cao đẳng thành Glasgow, ông kể đến biết bao cơn hiểm nghèo mình đã trải qua trên đất, dưới biển, dưới sông, trong rừng rậm, trên núi với các thú dữ, rắn độc và người dã man. Ông nói thêm:

-Nhưng tôi luôn luôn được bổ sức, được lại can đảm vì nhớ đến lời cuối cùng của Đức Chúa Jêsus phán: "Nầy, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế."

-C. E. Maccartney-

249. DẤU ỨNG NGHIỆM VỀ SỰ ĐO ĐỀN THỜ Ở KHẢI-HUYỀN 11:1

(Xây lại đền thờ chăng?)

Khải-huyền 11:1 chép rằng: "Hãy đứng dậy, đo đền thờ Đức Chúa Trời." Như vậy, ngụ ý rằng một ngày kia, đền thờ phải xây lại. Ngày ấy đã gần rồi.

Ý kiến ủy ban nước Anh tại xứ Pha-lê-tin, các nhà Lãnh-tụ Á-rập trình bày rằng Người Giu-đa đương dòm ngó những đất thánh của dân Hồi giáo." Lãnh tụ Hồi giáo ở thành Giê-ru-sa-lem quả quyết rằng người Giu-đa định xây lại đền thờ trên khu đất hiện nay có đền thờ Hồi giáo. Lord Peel hỏi vị lãnh tụ ấy rằng:

-Ông tưởng chánh phủ Anh sẽ cho phép người Giu-đa hủy phá đền thờ Hồi giáo mà xây đền thờ của họ thế vào chỗ đó sao?

-Người Giu-đa làm gì ở đất Pa-lét-tin cũng được, lãnh tụ đáp.

Tin rằng người Giu-đa đã gom góp vật liệu để xây đền thờ nhưng e rằng người Á-rập chẳng chịu để cho đền thờ của họ bị hủy phá đâu.

-Prophecy-

250. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG THẦN NHÂN

(Thờ Dựng Thần nhân)

Phép lạ của Đức Chúa Jêsus tỏ ra Ngài là Đức Chúa Trời thế nào, thì sự đau khổ của Ngài cũng tỏ ra Ngài là người thế ấy. Nếu Ngài không phải là người, thì ai đó đã nằm trong máng cỏ, bú sữa Ma-ri, chịu phép Báp-têm của Giăng, chịu đói khát mệt nhọc, và khóc La-xa-rơ qua đời?

Nếu Ngài không phải là Đức Chúa Trời thì con trẻ nào đó đã được ba Bác sĩ đến thờ lạy trước nôi và dâng lễ vật quí báu? Nếu Ngài không phải là Đức Chúa Trời, thì Ngài là ai mà lại truyền lịnh cho cõi thiên nhiên, đổi nước ra rượu, nuôi đoàn dân bằng năm cái bánh và hai con cá? Ngài là ai mà tha thứ tội lỗi, quở nặng luồng sóng, dẹp yên bão tố, ban Đức Thánh Linh trên các Sứ đồ, và làm cho trái đất rúng động kinh khiếp

trong giờ Ngài chết?

Ngài là người khi Ngài kêu rằng: "Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?" Nhưng Ngài lại là Đức Chúa Trời khi Ngài hứa cho tên cướp được hưởng hạnh phúc trên thiên đàng, khi Ngài bẻ gãy xiềng xích của tử thần mà sống lại, khi Ngài lên trời để ngự trên ngôi của Cha Ngài. Nếu không vừa là Đức Chứa Trời, vừa là người thì những lời dự ngôn cửa các Đấng tiên tri chưa được ứng nghiệm và

sự hy vọng được cứu rỗi chỉ là ảo tưởng. Lạy Đức Chúa Jêsus, Ngài là Đức Chúa Trời trọn vẹn và là người trọn vẹn. Ngài vừa thuộc về trời, vừa thuộc về đất, vừa thuộc về cõi đời đời, vừa thuộc về thế gian. Nguyện Ngài được vinh hiển đời đời vô cùng.

-Thánh Ephrein-

251. KHÔNG THẤT VỌNG ĐỐI VỚI KẺ CỨNG LÒNG

(Vững lòng đi ! Sao lại tuyệt vọng?)

Chúng ta hãy học tập đừng khi nào tuyệt vọng về sự cứu rỗi của bất cứ người nào đương khi người ấy còn sống. Cha không bao giờ nên tuyệt vọng về con cái cứng cổ muốn làm theo ý riêng. Chồng không bao giờ nên thất vọng về vợ, hoặc vợ thất vọng về chồng.

Chẳng việc gì Đức Chúa Trời không làm được. Cánh tay ân điển dài lắm và có thể nắm lấy kẻ dường như ở xa xăm. Đức Thánh Linh có thể thay đổi bất cứ tấm lòng nào. Huyết của Đấng Christ cỏ thể tẩy sạch không cứ tội lỗi nào. Chúng ta hãy cứ cầu nguyện và hi vọng cho kẻ khác, mặc dầu hiện nay cứ bề ngoài mà xét thì họ không thể nào được cứu rỗi. Trên thiên đàng chúng ta sẽ thấy vô số người mà mình không hề trông mong đang ở đó. Kẻ đầu có thể xuống cuối và kẻ cuối có thể lên đầu, chính Chúa phán như vậy (Lu-ca 13:30).

The Morning Star

252. ĐỜI SỐNG CỦA CHRIST JÊSUS LÀ SỰ ỨNG NGHIỆM KINH THÁNH CỰU ƯỚC

(Thập tự giá làm ứng nghiệm lời tiên tri)

Lời tiên tri ứng nghiệm là bằng cớ lớn nhứt chứng rằng Kinh Thánh do Đức Chúa Trời soi dẫn. Hãy chú ý vào những lời tiên tri về thì giờ, chỗ và trường hợp Đấng Christ Giáng sanh. Có nhiều lời tiên tri về dời sống và chức vụ của Ngài, trong 24 giờ Ngài bị xét xử thì có ít nhất là 25 lời tiên tri đã được ứng nghiệm từng chữ từng tiếng. Sách Tin Lành theo thánh Ma-thi-ơ có nhiều câu: "Để cho ứng nghiệm.” Ông quả quyết rằng nhiều lời và nhiều việc của Đức Chúa Jêsus đã trực tiếp ứng nghiệm những lời tiên tri.

Lời tiên tri chân chánh phải làm theo năm điều kiện:

1) Phải chép ra trước khi ứng nghiệm;

2) Phải tỏ các tiểu tiết, chớ không nói đại cương;

3) Phải vượt quá mọi sự tiên kiến loại người;

4) Phải không do chính Đấng Tiên tri làm cho ứng nghiệm;

5) Phải được ứng nghiệm một cánh rõ ràng, chắc chắn.

Nếu ứng dụng năm điều kiện nầy cho những lời tiên tri về Đấng Christ thì ta thấy là đúng cả. Đó là bằng cớ tốt hơn hết chứng rằng Kinh Thánh là sách độc nhứt được Đức Chúa Trời soi bảo và đáng cho ta vâng theo. Mặc cho kẻ khác nhạo báng vì nghi ngờ, chúng ta vẫn thấy trong Kinh Thánh có "sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trên mặt Đức Chúa Jêsus."

N. M. C.

253. ỨNG NGHIỆM VỀ CA THƯƠNG 2:18

(Khóc bên vách thành đổ nát)

Bức tường Ca thương ở thành Giê-ru-sa-lem đã được cả thế giới chú ý đến, vì năm 1936, có một thời đã phải cấm người Do Thái đến đó mà khóc. Báo Lutherian Companion có đăng một bài rất hay, rất cảm động dưới đây:

Ta không biết người Do Thái tôn sùng bức tường thành ấy từ bao giờ, nhưng các nhà khảo cứu tin là từ lâu lắm. Hadrien, hoàng đế La-mã, cấm người Do Thái lại gần Giê-ru-sa-lem, ai trái lịnh thì phải xử tử. Khi Constantin lên ngôi, chiếu chỉ cay nghiệt ấy mới bãi. Người ta được biết tường thành đó là nơi cầu nguyện từ thế kỷ thứ 12. Đào bới ở đó, nhà khảo cổ làm chứng rằng tường thành cao hơn mặt đất ngót 23 thước tây.

Mấy hàng chữ ghi vào đá là lời hùng hồn tỏ lòng phẫn uất của dân Do Thái. Những phiến đá ấy không phải to nhứt ở Giê-ru-sa-lem đâu, vì người ta ước rằng phiến đá nặng nhứt tìm được cân tới hơn một trăm ngàn tấn.

Tường thành ấy đã được nghe hồi thanh những lời than van của một dân tộc thương khóc về vinh quang thành Giê-ru-sa-lem nay đã tiêu tàn. Một dãy đờn bà đầu trùm khăn và đờn ông bận áo nhung dài lụng thụng đi đi lại lại, lắc lư thân thể rất hung

hăng theo thói quen của dân Do Thái trong khi thờ phượng. Nhiều lần họ hôn nền móng đời đời của tường thành Si-ôn. Ngày xưa tổ phụ họ cai trị trong thành Đa-vít và được Đức Chúa Trời ban ơn đặc biệt nhưng bây giờ họ là một dân tộc bị khinh dể và tản lạc. Họ than van lớn tiếng như những kẻ đang bị tra tấn vậy.

-Prophecy-

254. ỨNG NGHIỆM VỀ TỔ CHỨC CỦA ANTI-CHRIST Ở KHẢI-HUYỀN 13:11-1 2

(Dự bị một đạo quốc tế)

Báo Current History có trưng dẫn lời của ông H. Gowe, giáo sư trường cao đẳng Nagpour (Ấn-độ) nói rằng: "Đương có một phong trào quan trọng cốt lập nên một tôn giáo quốc tế. Một đàng phải điều hòa các tôn giáo có tổ chức bởi trích ra những chỗ giống nhau của mỗi một tôn giáo ấy; một đàng phải lập nên một sự thờ phượng mới mẻ quốc tế, sự thờ phượng ấy sẽ thừa nhận hoặc không thừa nhận có thần minh. Tôi đã tranh luận với mấy nhà bác học nước Đức, thấy ý họ dường thư muốn thừa nhận một sự tín ngưỡng theo lý trí, không có thần minh, không có đạo sĩ, không có thiên đàng để ban phước hoặc địa ngục để hình phạt phạt."

Thật thế, người kê cứu lời tiên tri biết rõ rằng sắp có một tôn giáo quốc tế. Hội thánh của Đức Chúa Jêsus đã bội đạo sẽ hiệp với mọi cách thờ phượng của thế gian mà thành một đoàn thể to lớn dưới quyền Anti-Christ và tiên tri giả của nó (Khải-huyền

13:11-12). Ngày nay trào lưu chắc chắn khuynh hướng về chế độ ấy. Đường lối đang dự bị sẵn sàng. Nhưng thành Ba-by-lôn lớn nầy chắc "trở nên chỗ ở của các quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần" (Khải-huyền 18:2). Khi Chúa cùng các thánh đồ giáng lâm thì thành ấy sẽ bị hình phạt.

-Prophecy-

255. GƯƠNG SÁNG TỈNH THỨC KẺ VÔ TÍN

(Đạo Chúa với vị Quốc trưởng)

Ngày 12 tháng 5 năm 1937, Hoàng đế George VI nước Anh lên ngôi, lễ đăng quang cử hành rất long trọng tại nhà thờ Westminster thuộc về kinh thành Luân-đôn.

Khi đặt mão miện đáng giá hơn một trăm triệu bạc đông dương lên đầu hoàng đế, Tổng Giám mục Hội Tin Lành nước Anh cầu nguyện rằng:

-Ngày nay Ngài đội mão miện bằng vàng ròng lên đầu Hoàng đế, xin Ngài cũng cho tâm hồn Hoàng đế đầy dẫy ân huệ của Ngài. Xin Ngài cũng đội cho hoàng đế những đức tính của bậc vương giả, nhơn danh vua đời đời là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng tôi!

Cầu nguyện xong, dân chúng chúng hoan hô: "Cầu Thượng đế che chở Hoàng đế!" Rồi Tổng Giám mục tâu với vua rằng:

-Xin Hoàng thượng hãy có nghị lực và can đảm. Xin hãy vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và bước đi trong đường thánh của Ngài Xin hãy đánh trận tốt lành của đức tin, nắm lấy sự sống đời đời, hầu cho trong đời nầy Hoàng thượng được đội mão miện của sự thành công và danh dự; rồi khi đi hết đường đời, Hoàng thượng sẽ nhận được mão miện công bình mà Đức Chúa Trời, là Quan án công bình, sẽ ban cho Hoàng thượng trong ngày đó!

Đoạn, Tổng Giám mục trao cho Hoàng đế một quả cầu bằng vàng đặc, trên có cây thập tự, tức là hình bóng về thế gian phục quyền Đấng Christ. Tổng Giám mục lại tâu rằng:

-Khi Hoàng thượng thấy quả cầu ở dưới cây thập tự, xin nhớ rằng cả thế giới phải thần phục quyền lực và đế quốc của Đấng Christ, là Cứu Chúa chúng ta.

Rồi Hoàng đế tuyên thệ rằng:

-Trước mặt Đức Chúa Trời, Trẫm sẽ đem hết quyền thế và năng lực của tâm hồn mà binh vực đạo Tin Lành thánh khiết (la Sainte foi protestante) trọn đời Trẫm!

Hoàng đế cũng hôn quyển Kinh Thánh người ta trao cho. Đấy, ta xem một hoàng đế đứng đầu năm sáu trăm triệu người, gần một phần tư nhân loại - còn phải kính sợ Thượng đế, đầu phục Đấng Christ và tôn quí đạo Tin Lành. Hỡi ai đắm đuối trong vòng vật dục, khoe khoang tư tưởng vô thần, coi thường ơn cứu rỗi, sao không lấy đó làm gương?

-T.K.B-

256. XÁC CHỨNG SỰ THỰC HỮU VÀ LÒNG NHƠN LÀNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

(Rắn sợ lá cây ấy)

Phải chăng anh em nói: "Tôi không tin Đức Chúa Jêsus?" Bằng vậy, linh hồn anh em chắc đã mờ tối. Bữa trước tôi đọc truyện về một người vô tín vào một nhà thờ ở xứ Pérou (Nam Mỹ) và kể lại cách mình gặp Cứu Chúa.

Ông suốt đời đọc sách vô thần, nhưng một con chim bé mọn đưa ông đến cùng Đấng Christ. Bữa nọ, ông ngồi trên một đồng lầy thuộc về xứ Pérou, bỗng nghe tiếng chim kêu trên ngọn cây. Chim vỗ cánh kêu gào và xây quanh dường như điên dại. Ngước

đầu nhìn qua nhành lá sum xuê, ông thấy duyên cớ làm cho con chim kia cuống cuồng. Có một con rắn quấn vào nhánh cây. Ông đã nhận ra ở chỗ mấy nhánh cây ráp nhau có một ổ chim và mấy chú chim non. Mấy chú chẳng biết mình gần gặp số phận nào. Rắn bò về phía ổ chim; chim mẹ biết vậy, nên thiếu điều hóa điên. Nhưng nó thình lình sà xuống bụi, rứt mấy cái lá có sắc riêng bay trở lên, phủ lá trên mình chim non. Nó cứ làm vậy cho đến khi phủ kín bầy con. Rắn tới ổ chim, bèn quay lại, từ ngọn cây bò xuống, lẩn vào bụi rậm.

Khi ông nầy thấy chim mẹ cất bỏ lá, kêu hót âu yếm như nâng niu con, lại ấp ủ con nữa, thì ông hơi ngờ rằng mình trông lầm. Ông nói một mình: "Cái chi vậy? Từ trước đến nay ta chưa từng thấy như thế."

Ông bỏ mấy cái lá ấy vào túi, đến viện khoa học và kể việc mình mới gặp. Vị Giám đốc hỏi:

-Ông có lượm thứ lá ấy chăng?

-Thưa, có. Tối đem theo trong túi, xin đưa để ông coi.

Nhà khoa học mỉm cười và nói:

-Khắp đồng lầy loài rắn chỉ sợ mọt thứ lá nầy. Thứ lá nầy làm hại loài rắn cũng như thuốc độc làm hại loài người vậy.

Đoạn, nhà khoa học nhìn trừng trừng vào mắt ông vô tín kia rồi nói thêm:

-Tôi muốn hiểu tại sao con chim bé mọn kia lại biết như thế?

Anh em không tin Đức Chúa Jêsus chăng? Anh em chối bỏ Đức Chúa Trời, không chịu nhìn nhận sự hiện diện và lòng nhơn lành thương xót của Ngài chăng? Anh em nói rằng mọi việc tự nhiên xảy đến chăng? Bằng vậy, hãy về nhà, soi gương và nói cho tôi biết tại sao anh em không có một con mắt ở giữa lưng? Tại sao hai tai lại ở gần màng tang (thái dương) và lại nhờ gân mà nối liền với óc? Tại sao tai lại có vành? Tại sao mũi ở đằng trước mặt chớ không ở sau gáy? Tại sao anh em không có một chơn ở hông thẳng xuống và một chân ở vai thẳng lên? Tôi xin nói để anh em biết rằng ta thấy phép lạ nhiều nhất của Đức Chúa Trời ở trong muôn vật mà Ngài dã dựng nên và ở trong chính thân mình.

-Cospel Crain-

257. ĐỨC TIN ĐẾN ĐỨC CHÚA TRỜI MÌNH

(Con tin cậy cha)

Một bọn người Tô-cách-lan muốn lấy trứng trong một cái tổ ở miệng vực sâu. Họ thuê một cậu bé nhà nghèo xuống lấy, và hứa sẽ dòng và giữ thừng (dây) cho cậ u xuống. Họ bằng lòng trả nhiều tiền, nhưng vì họ là người lạ nên cậu chẳng chịu. Họ nói thế nào cậu cũng không nghe; sau rốt cậu bảo rằng:

-Nếu ba tôi cầm thừng này thì tôi mới xuống.

Cậu ấy tin cậy cha mình. Chẳng ai chịu tin người lạ. Trước khi tin cậy ai, tôi phải quen biết người ấy đã. Tôi đã quen biết Đức Chúa Trời bốn mươi năm nay, bây giờ tôi lại tin cậy Ngài nhiều hơn trước kia và càng ngày tôi càng tin cậy hơn.

-Moody-

258. CẬU BÊ HÁT DẠO TRỞ NÊN NGƯỜI DÌU DẮT HỘI THÁNH

(Đức Chúa Trời chuẩn bị)

Đời xưa có một người thợ mỏ nghèo quá đến nỗi con trai phải đi hát dạo nuôi thân. Cậu này tốt giọng nên ca hát ngoài phố, và được khách qua đường sẵn lòng nhân đức cho một vài xu. Một buổi tối mùa đông, gió thổi lạnh lùng, cậu đứng gần tòa nhà tráng lệ mà hát rằng:

"Hang kia, cáo ở tháng ngày,

Tổ kia, chim chóc vui vầy cùng nhau.

Riêng ta không chỗ gối đầu,

Một mình vò võ, dãi dầu tuyết sương."

Vợ chồng chủ nhà nghe cậu hát êm tai, lòng lất cảm động. Bà tên là Ursul, nói:

-Chắc là tiếng một đứa con trai.

Ông thì tên là Conrad, mở cửa, thấy cậu bé nghèo cực, quần áo rách rưới. Cậu cung kính thưa:

-Vì tình yêu thương Đấng Christ, xin ông giơ tay cứu trẻ khốn cùng này.

Vợ chồng mời cậu vào nhà, cho ăn rồi cho ngủ trên giường ấm áp. Con trai một của ông bà mới qua đời, nên ông bà rất thương xót cậu. Đương lúc cậu ngủ, họ lẻn vào bên giường đề ngắm xem cậu; quả thật, họ thấy cậu nằm ngủ thiu thiu, hai tay nắm chặt, vẻ mặt khôi ngô, tuấn tú, rất đáng yêu. Đến sáng, họ bàn định với nhau rồi ngỏ ý muốn nuôi cậu làm con. Cậu nghe qua thì rất vui thỏa, bèn ưng chịu ở lại và lòng đầy cảm kích.

Khi đi học, cậu có vào một nhà tu thấy Kinh Thánh cậu bèn lấy đọc rất thích thú. Cậu trở nên con cái Đức Chúa Trời, và lúc lớn lên cậu chịu đi giảng đạo...

Cậu là ai? Chính là Martin Luther, nhà cải chánh Hội thánh trứ danh. Khi nhận cậu bé hát ngoài đường làm con nuôi, hẳn vợ chồng ông Conrad không ngờ cậu sẽ gây nên sự nghiệp vĩ đại dường ấy.

Anh em ơi, linh hồn anh em cũng bơ vơ, đói khát, không chỗ nương dựa. Nhưng Đức Chúa Jêsus đã chịu chết trên thập tự giá để Đức Chúa Trời vui lòng nhận anh em làm con cái yêu quí. Vậy, anh em phải biết ơn Ngài, phải dâng mình trọn vẹn để hầu việc Ngài mới là xứng đáng.

-L'Aube-

259. ÂN HUỆ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI HƠN CẢNH SUNG SƯỚNG TRẦN GIAN

(Yêu quí bơn vàng)

Một nhà triết học nước Rô-ma nói rằng: "Thà tôi được Hoàng đế Auguste mến chuộng còn hơn được Ngài ban phẩm vật." Có một lần vua Si-ru đối với bạn (IISử-ký 36:22), người nầy thì hôn, người kia lại cho một nén vàng. Người được vàng ganh tị với người được hôn và cho đó là cách tỏ lòng thân ái đằm thắm hơn.

Vậy tín đồ chính danh ưa thích được ân huệ của Đức Chúa Trời (tỉ như Ngài chuyện trò đối với Môi-se) hơn là được cảnh sung sướng của thế gian. Ấy vì "nhờ sắc mặt vua sáng sủa bèn được sự sống; ân điển Ngài khác nào áng mây dẫn đưa mưa muộn. Ân dịch Ngài như sương móc xuống trên đồng cỏ" (Châm-ngôn 16:15; 19:12).

-Gospel Banner-

260. VÂNG PHỤC Ý CHỈ ĐỨC CHÚA TRỜI

(Tôi sẽ không về nhà thay y phục)

Được Đức Chúa Trời kêu gọi làm chức vụ đặc biệt thật là một ơn riêng hiếm có. Người được kêu gọi như thế phải cẩn thận và hăm hở gìn giữ đặc ân, cùng lo lắng vâng theo trọn vẹn trong thì giờ thuận tiện.

Một bữa, có người hỏi nguyên soái Stonewall Jackson rằng: "Nếu Đức Chúa Trời kêu gọi ông đi giảng đạo ở nước ngoài, thì ông sẽ làm gì?" Nguyên soái trứ danh ấy đã cẩn thận học tập vâng lời cách trọn vẹn và mau mắn, bèn trả lời ngay rằng: "Tôi sẽ không về nhà thay y phục."

Lại một bữa, có kẻ hỏi ông về kết quả ghê gớm của cuộc ném trái phá do ông chỉ huy. Ông đáp: "Phận sự tôi không phải là xem xét kết quả, nhưng là vâng theo lịnh trên."

Nguyện con cái Đức Chúa Trời cẩn thận vâng theo lời Chủ mình. Bao phen ta bị cám dỗ tránh khỏi bổn phận mình biết rõ, vì sự hoàn toàn vâng cheo ý chỉ Đức Chúa Trời có lẽ gây cho ta bị công kích hoặc chịu sầu riêng. Nguyện chúng ta chớ hề quên rằng đời tín đồ chỉ có một điều đáng kể, tức là hoàn toàn vâng phục ý chỉ mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ!

261. GƯƠNG SÁNG VỀ CÁCH SỬ DỤNG TIỀN BẠC

(Hai ông ấy không thờ tiền)

Ai tin đến Đức Chúa Jêsus, là Đấng có thể tái lâm không cứ lúc nào, mà còn bo bo theo trữ tiền bạc một cách vị kỷ, ắt khiến cho lời làm chứng của mình trước mặt Đức Chúa Trời và loài người ra vô hiệu.

Ông George Muller cầm trong tay 13.500.000. đồng bạc Việt Nam để nuôi đàn trẻ mồ côi; vậy mà lúc chết chỉ còn 1062 đồng gởi ngân hàng.

Chí cao thượng từ bỏ tiền bạc, đó là một bí quyết giúp ông Wesley được quyền phép. Ông nói rằng: "Tôi tung tiền ra hết sức mau chóng, e rằng nó lại tìm được lối vào lòng tôi." Có kẻ tính ra suốt đời ông đã phân phát tới 90 vạn đồng bạc Việt Nam; món tiền ấy phần nhiều của các nhà hảo tâm biếu, còn thì là tiền lãi của ông bán sách vở. Có một người nói rằng: "Khi chết, ông Wesley để lại một thư viện, một bộ đạo y bận đã lâu ngày, một tên tuổi bị thóa mạ, và... Hội Méthodiste" Đáng khen thay tâm chí ấy!

-The Dawn-

262. CHƯƠNG TRÌNH HẠNH PHƯỚC CHO HỘI THÁNH

(Ngày nay Hội thánh cần gì?)

Thêm dâng phần mười và bớt ngồi xe đi chơi.

Thêm hoạt động và bớt rình rập nhau.

Thêm người làm việc và bớt người trốn việc.

Thêm người ủng hộ và bớt người biếng nhác.

Thêm phương lược của Đức Chúa Trời và bớt phương lược của loài người.

Thêm cầu nguyện và bớt đi lạc.

Thêm quyền phép của Đức Chúa Trời và bớt sự "lăng xăng ngoe nguẩy" của loài người.

Thêm "Tin Lành" và bớt "sự phê bình các sách."

Thêm người nâng đỡ gánh nặng và bớt người thèo lẻo, hay mách.

Thêm đạo binh chiến đấu và bớt những viên đạn vô dụng.

Thêm "lưỡi bằng lửa" và bớt lưỡi nóng giận như lửa.

Thêm sự sốt sắng gắng gỏi và bớt tư tưởng ghen tương.

Thêm sự yêu thương Kinh Thánh và bớt sự yêu thương thế gian.

Thêm sự tìm kiếm ân điển và bớt sự tìm kiếm danh vọng.

Thêm sự hoạt động thánh khiết và bớt sự tức bực tranh giành.

Thêm sự kiêng ăn cầu nguyện và bớt sự vui chơi, yến tiệc.

Thêm thì giờ ở "phòng cao" và bớt thì giờ ở phòng ăn.

-First Baptist Church Bulletin-

263. SỰ CÔ THẾ VÀ KHÔNG CÓ THỂ CỦA TIỀN TÀI

(Tung tiền, ta có thể...)

Mua sự tham ăn, chớ không thể mua sự ngon miệng.

Mua thuốc, chớ không thể mua sức khỏe.

Mua sự hiểu biết, chớ không thể mua sự khôn ngoan.

Mua sự xã giao, chớ không thể mua thiết hữu.

Mua giường êm ái, chớ không thể mua sự thỏa lòng.

Mua sự vâng phục, chớ không thể mua lòng quí mến.

Mua một lâu đài, chớ không thể mua một gia đình.

Mua địa vị trong Hội Thánh, chớ không thể thua sự sống đời đời.

Mua những vật trần tục, chớ không thể mua những vật thiên thượng.

-Le Réveil-

ĐƯỢC QUYỀN NĂNG DO CẦU NGUYỆN VÀ LÀM VIỆC

(Người thợ đập đá và một đạo nhân)

Giữa trưa, trời nắng chang chang,

Có người đập đá bên đàng vắng tanh.

Gối quì búa đập tan tành,

Mồ hôi ướt đẫm, thân hình sạm đen.

Đập rồi, búa lại giơ lên,

Siêng năng làm lụng, người quên nhọc nhằn.

Lòng vui, miệng hát bài văn,

Lương tâm yên nghỉ tuy thân nghèo nàn.

Thong dong cưỡi ngựa đàng hoàng,

Đạo nhân thỏa mãn, hiên ngang lại gần.

Than rằng: "Trải cõi hồng trần,

Bao lòng sắt đá, trăm phần khó lay!

Ước chi như chú thợ nầy,

Đập tan lòng đá, ta đây mới mừng.”

Nghỉ tay, thợ ngó trừng trừng,

Đáp rằn: "Muốn vậy, thôi đừng xa hoa.

Gối quì, khấn nguyện Chúa Cha,

Gắng công đập búa như ta bên đường.

Xem lòng người ở bốn phương,

Nghe lời giảng, sẽ khóc thương không nào."

-Gospel Banner-

265. SỰ TRANG SỨC CỦA TÍN ĐỒ

(Lượm ngọc quí)

Không gì có vẻ đế vương bằng sự nhân từ.

Sự sung sướng là kết quả do sự cứu giúp kẻ khác.

Kẻ nào nhớ bạn cũ thì sẽ kết được bạn mới.

Phương pháp tốt nhất để giết kẻ thù chính là khiến kẻ ấy trở nên thiết hữu của mình.

Những bậc vĩ nhân bao giờ cũng nhớ bạn bè rất lâu.

Kỳ hiện tại bao giờ cũng đầy dẫy dịp tốt để ta trả nợ cho kỳ quá khứ.

Kẻ nảo không có thì giờ suy nghĩ về người đồng loại thì là phường trộm cướp độc ác hơn hết.

Kẻ nào khinh dể bước đầu của mình thì sẽ không có cơ hội mà tự hào về sự thành công mỹ mãn.

Người nào cúi xuống cứu giúp người cùng khổ, hèn hạ hơn hết, thì đời họ sẽ lên cao hơn hết.

Không tên tự hỏi rằng: "Ta sẽ đương đầu với kẻ thù mạnh sức cách nào?"

Nhưng nên hỏi rằng: "Ta sẽ hầu việc những bạn hữu yếu đuối cách nào?"

-Henry F. Cope-

266. BỬU HUẤN CHO CON CÁI

(Cha khuyên con)

Dưới đây là một phần bức thơ của Henry Ward Beecher gởi cho con trai tên Herbert vào năm 1870:

"... Con đừng mang nợ. Hãy tránh nợ cũng như tránh ma quỉ vậy. Hãy theo nguyên tắc cốt yếu nầy: Không nợ, có tiền trong tay hay là không có gì.

Hứa ít thôi. Hãy đứng về phương diện đạo đức mà xem xét lời hứa nhỏ mọn hơn hết. Người nào quyết giữ trọn lời hứa thì không dám hứa nhiều. Lúc tuyên bố điều gì, hãy cẩn thận rất mực, phải nói đúng và ngay thẳng. Đừng nói mập mờ, phải nói hết sức thực hay là đừng nói gì cả.

Khi nào làm việc gì vì người khác, con hãy giấu mình đi; hãy tìm kiếm phần lợi của họ. Con nên làm cho người ta cần mình vì cớ mình chăm chỉ, trung tín và thanh liêm. Không gì tai hại bằng tính ích kỷ. Hãy chiu trách nhiệm cao hơn mực người ta muốn chịu. Hãy nêu cao tấm gương của mình. Đừng khi nào tự tha thứ lấy mình, hoặc tự thương xót mình. Con hãy trị phục mình một cách nghiêm khắc, nhưng đối với kẻ khác thì hãy khoan hồng.

Con hãy đem hết năng lực mà làm việc, đừng xây bỏ đi, hãy bền dỗ, vững vàng và chuyên cần. Đừng vội vã, nhưng phải kiên nhẫn. Cha nài xin con hãy sửa lại một tật xấu, là nghiêm khắc phê bình kẻ khác. Đừng nói xấu ai, không cớ là về việc gì. Hùng hổ bới lông tìm vết hoặc nói nghiêm khắc về người vắng mặt thì không phải là quân tử nhưng chính là độc ác và bất công.

Nếu vì thanh liêm, chăm chỉ và thành công, con đáng được đồng bào mến chuộng, thì sau nầy họ sẽ nài xin con nhận lấy vinh dự. Con đừng tìm kiếm vinh dự; lúc còn thanh niên, con đừng chịu nhận vinh dự nào cả. Hãy chờ đợi. Khi đã trưởng thành và có địa vị rồi, con hãy làm vẻ vang tên tuổi của thân phụ con ở giữa tòa án.

Sau cùng, con đừng quên Đức Chúa Trời của cha mẹ con. Con phải giữ vẹn tấm lòng trước mặt Ngài. Đừng khinh dể, các nhà thờ lụp xụp và các ông Truyền đạo tầm thường. Đừng ham muốn những sự cao sang, nhưng phải chịu theo những người thấp thỏi. Hãy thường đọc sách Châm-ngôn và các luật luân lý chép trong Kinh Thánh Tân Ước. Nguyện Đức Chúa Trời của thân phụ con cùng đi với con và che chở con.!..."

-T.L.-

267. LÝ DO GHÉT CHIẾN TRANH

(Tôi ghét chiến tranh)

Tôi ghét chiến tranh vì biết nó là rồ dại. Tôi đã thấy nó tàn phá phần tinh hoa của thế giới.

Tôi ghét chiến tranh và khiếp sợ nó; khiếp sợ vì biết nọc độc của nó.

Tôi ghét chiến tranh và tỉnh giấc mơ, - tỉnh như một người lượm các mảnh thịt đượm máu do chiết tranh.

Tôi ghét chiến tranh và đau thương thảm thiết, - đau thương như người phải hy sinh con trai con gái nếu một mai chiến tranh lại nổ bùng lên.

Tôi ghét chiến tranh vì cớ mặt biển nhuốm máu đào, bầu không khí pha thuốc độc, và những núi xương đáng sợ.

Tôi ghét chiến tranh vì nó làm cho vô số người phải mù, què, cụt.

Tôi ghét chiến tranh vì nó diễn ra bao thảm trạng vợ góa, con côi, hủy phá thành thị và nhà thờ.

Tôi ghét chiến tranh vì nó hủy phá ý chí tốt, làm sai chân lý, tôn cao sự giả dối, khen tặng tội sát nhân, tiêu diệt tình nhân loại, gieo sự ngờ vực.

Tôi ghét chiến tranh, nhưng tin rằng Đức Chúa Trời là Cha mọi người và mọi người là anh em, tin rằng Đức Chúa Jêsus, là Vua Hòa Bình, sẽ bày cảnh hòa bình trên mặt đất.

-Daniel A. Poling-

268. HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỐNG

(Ai là kẻ sống?)

Ấy là kẻ phấn đấu, ấy là kẻ có một ý định vững vàng đầy dẫy linh hồn và mặt mày; ấy là kẻ leo đến đỉnh gồ ghề của một cuộc đời cao thượng; ấy là kẻ trầm ngâm đi đường, say mê một mục đích siêu việt, ngày đêm bao giờ trước mắt cũng có một công việc thánh khiết hoặc một mối yêu thương vĩ đại. Ấy là đấng tiên tri thánh quì trước hòm giao ước; ấy là người làm công, nhà đạo đức, người thợ, người tộc trưởng, tất cả mọi người ai có lòng tốt và sống đầy đủ mỗi ngày.

Chúa ôi! Những kẻ ấy đang sống; còn kẻ khác thì tôi xót thương họ, vì sự hư ảo làm cho họ say sưa bằng một mùi vị buồn chán man mác. Bởi chưng gánh nặng nhứt chính là có ở đời mà không sống.

-Victor Hugo-

269. TAI HỌA TRÊN ETHIOPIE LÀ DẤU HIỆU CHÚA TÁI LÂM

(“Sự buồn rầu ở trong Ethiopie” Ê-xê-chi-ên 30:4)

Một tờ tạp chí Luân-đôn là Living Waters (Nước hằng sống), mới đây đăng một bài rất có giá trị của ông R.T. Nash. Chúng tôi xin trích ra đây một vài đoạn hệ trọng có liên quan với việc nước Ý chiến thắng xứ Ê-thi-ô-bi:

“...Ê-thi-ô-bi là một nước rất lâu đời, nước thứ ba được ghi chép trong Kinh Thánh. Lịch sử nước ấy đã được nói đến từ thời đại tối cổ mờ mịt. Trong thời A-sa trị vì nước Giu-đa (IISử-ký 14:9), vua Ê-thi-ô-bi đã có thể sử dụng một đạo binh một triệu người đi đánh đất thánh...”

Mở Ê-xê-chi-ên 30:3, ta thấy rất rõ rằng: “Ngày ấy gần rồi”, xin chúng ta đọc: “Ngày ấy gần rồi, phải là ngày của Đức Giê-hô-va, ngày có mây, kỳ của các dân tộc.” Rồi câu sau cho ta hay rằng: “Sự buồn rầu ở trong Ê-thi-ô-bi.” Câu 9 lại thêm: “Trong ngày đó sẽ có sứ giả từ trước mặt Ta đi trong tàu đặng làm cho người Ê-thi-ô-bi đương ở yên phải sợ hãi. Dân sự nó sẽ buồn rầu như trong ngày của Ê-thi-ô-bi, vì nầy, nó đến gần rồi!”

Thật thế, các chiến hạm của Ý đã chở binh tướng và chiến cụ và kinh Suez, gieo sự lo sợ cho người Ê-thi-ô-bi bấy lâu bình yên vô sự. Hãy chú ý mấy chữ: "Như trong ngày của Ê-thi-ô-bi." Nó nhắc ta nhớ sự buồn rầu tai hại giáng trên xứ Ê-díp-tô khi Chúa hủy diệt xứ ấy để giải phóng dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Bây giờ Ngài để cho nước Ê-thi-ô-bi bị thua vì đã đến ngày hoàn toàn giải cứu dân Ngài và Đấng Mê-si giáng xuống để cai trị họ.

Anh em sẽ thấy chân lý ấy đã dự ngôn ở Ê-sai 43:3 rằng: "Ta ban Ê-díp-tô làm giá chuộc ngươi, Ê-thi-ô-bi và Sê-ba làm của thay ngươi." Nước thứ nhứt, là Ê-díp-tô, đã bị thanh toán 3400 năm trước; còn nước cuối cùng cùng là Ê-thi-ô-bi, thì bị xử trí năm 1936.

Tại sao Đức Chúa Trời để cho Hoàng đế Ê-thi-ô-bi bị phế? - Vì Hoàng đế tự nhận hai phẩm tước vốn thuộc riêng về Đức Chúa Jêsus Christ: Một vì Vua của các vua và Chúa của các chúa; hai là Sư tử của chi phái Giu-đa. Hai phẩm tước nầy sẽ dành cho Đức Chúa Jêsus khi Ngài tái lâm để cai trị cả thế giới."

Ông Nash cũng phê bình một việc đáng chú ý nữa, tức là Edouard VIII, hoàng đế nước Anh, tình nguyện thoái vị. Tên thánh của ông là David, và một bộ lạc Ấn-độ ở xứ Gia-nã-đại vẫn tôn ông là "Sao mai sáng chói." Vả, sách Khải-huyền xưng Đấng Christ là "Chồi và hậu tự của David, là sao mai sáng chói" (Khải-huyền 22:16). Nào ai biết đường đang dọn sẵn cho Vua chính thống, là Sư tử của chi phái Giu-đa, hậu tự của David, và "Sao mai sáng chói?" Lạy Đức Chúa Jêsus, xin hãy đến!

-Prophecy-

270. KINH THÁNH LÀ CẦN THIẾT LUÔN LUÔN

(Đừng làm cửa sổ)

Rất nhiều người dường như tưởng rằng Kinh Thánh là bất hợp thời, là một quyển sách cổ, mà thời kỳ đắc dụng đã qua. Họ nói rằng: “Kinh Thánh rất tốt cho những người ngu muội, tối tăm. Nhưng tôi sống trong một thời đại văn minh, và hiện nay nếu không có Kinh Thánh, loài người cũng có thể tiến hóa toàn mỹ.”

Nầy, anh em có thể nói về mặt trời như thế chăng? Có chăng anh em sẽ nói được rằng mặt trời đã soi sáng lâu lắm, bây giờ đã già rồi, không hợp thời nữa, và hễ khi nào ai xây nhà thì không cần đặt cửa sổ làm chi vì đã có một ánh sáng mới hơn, tốt hơn, tức là ánh sáng của đèn dầu xăng và đèn điện?

-Moody-

271. ƠN CHÚA THA THỨ DỒI DÀO

(Sao treo nhiều áo thế?)

Miền Pensylvania, nước Mỹ, có một chàng thiếu niên chán cảnh sinh hoạt trong một gia đình ở chốn thôn quê, bèn đi ra tỉnh thành. Chàng chơi bời bậy bạ, sa đắm vào trong tội lỗi hư xấu ghê gớm. Cha mẹ chẳng biết chàng ở đâu vì chàng không hề gởi thơ về nhà. Nhưng tội lỗi lần lần khiến cho chàng chán ngán; ấy bao giờ tội lỗi cũng kết quả như thế. Chàng bèn suy nghĩ đến chốn gia đình êm thấm mà mình đã lìa bỏ, và tự hỏi nếu mình về thì cha mẹ sẽ nhìn nhận không?

Vậy, chàng đi làm việc để kiếm đủ tiền đi xe lửa về nhà. Vừa tới ga quê nhà, chàng xấu hổ quá vì mặt mày hốc hác áo quần tả tơi, e rằng cha mẹ sẽ xua đuổi mình đi. Nghĩ vậy chàng lại mua vé đi quá vài ga nữa. Khi xe lửa chạy qua nhà chàng, thì thấy mọi vật vẫn y nguyên, có vẻ đầm ấm và dường như đón chào chàng.

Lòng chàng xúc động, chàng bèn gởi thơ cho cha mẹ. Chàng xưng hết mọi thứ tội lỗi mình đã phạm, và xin cham mẹ tha thứ cho. Chàng nói rằng ngày mai mình sẽ trở về, và nếu cha mẹ bằng lòng tha thứ và nhìn nhận, thì xin hãy treo một cái áo dạ (nỉ) trên dây trước nhà làm dấu.

Mẹ chàng làm gì? Bà không treo một cái, nhưng đem hết các áo dạ trong nhà ra treo trên giây. Đó là dấu hiệu của ơn tha thứ dồi dào. Đức Chúa Trời cũng sẵn lòng tha thứ và tiếp nhận anh em như thế và hơn nữa. Con một của Ngài chịu đóng đinh trên thập tự giá, đó là dấu hiệu Ngài sẵn sàng tha tội cho anh em. Anh em hãy lăn vào trái tim từ ái, khoan hồng của Ngài.

-M. E. và B. H. Willard-

272. THÚC GIỤC TRUYỀN TIN LÀNH

(Thân phụ ông có biết không?)

Nhà giáo sĩ trứ danh Livingstone đương cắt nghĩa Tin Lành cho một tù trưởng Phi-châu. Thình lình tù trưởng tỏ vẻ nghiêm nghị, lo âu mà hỏi ông rằng:

-Thân phụ ông có biết những đạo lý nầy, có hiểu Kinh Thánh không?

-Có chớ, hiểu biết lắm chớ. Hiểu hơn tôi.

Tù trưởng lại hỏi:

Thế sao thân phụ ông không đến đây giảng đạo cho thân phụ tôi? Nầy thân phụ tôi dã chết trong vòng ngu dốt của đạo thờ tà thần.

273. CẦN PHỔ BIẾN GẤP TIN LÀNH

(Sao lại mất tới 1861 năm?)

Giáo sĩ Duneau, truyền đạo cho dân da đỏ ở Mỹ châu, cũng có dịp nghe một câu tựa như câu hỏi trong bài trên. Ông đang dạy cho mấy tín đồ mới tập đọc và tập viết, và cắt nghĩa cho họ biết phải đề ngày như thế nào. Chính là vào năm 1861. Bọn người sơ dã hỏi rằng:

-Sao biên số năm nhiều như thế?

-Ấy vì chúng tôi tính số năm từ khi Cứu Chúa giáng sanh.

Kinh ngạc lắm, họ lại hỏi rằng:

-Tại sao đạo Tin Lành có từ lâu đời như thế mà mất 1861 năm mới giảng đến xứ sở chúng tôi?

274. CẦN PHẢI SỐNG NHƯ ĐẤNG CHRIST

(Lòng mẹ đẹp như hoa)

Một đám thiếu nữ Trung-hoa đã nghe Tin Lành về sự yêu thương của Cứu Chúa và đã tiếp nhận vào lòng; họ hội họp nhau một buổi chiều để cầu nguyện và xem xét phải làm thế nào để truyền danh Đức Chúa Jêsus cho bà con, bạn hữu còn đương thờ lạy hình tượng.

Một cô buồn rầu nói rằng:

-Cha mẹ tôi có thành kiến nghịch với Kinh Thánh và các sách đạo, đến nỗi không còn nhìn đến.

-Cha mẹ tôi cũng vậy, cô khác tiếp. Tôi bị cấm không được bày các thứ ấy trong nhà.

Ai nấy đương chán nản, thì một cô bàn rằng:

-Mùa xuân trước, có người cho mẹ tôi một ít hột giống xấu xí. Mẹ tôi đem trồng, mọc thành cây, trổ hoa đẹp đẽ, hết thảy xóm giềng tấm tắc khen ngợi. Họ kéo đến xin hoa đẹp về bày trong nhà, nhưng mẹ tôi cho mỗi người một ít hột giống. Họ vui lòng nhận vì đã thấy hoa đẹp kia từ hột giống mà ra. Cũng một lẽ ấy, chúng ta nên sống một cuộc đời đẹp đẽ, giống hệt Đấng Christ, để khi thấy ta, bà con, bạn hữu sẽ vội vã xin nghe lời phán của Đức Chúa Jêsus, là lời đã gieo vào lòng ta và khiến ta bình an, sung sướng.

-T.L.-

275. CẨN THẬN CHỌN LỌC CÁC ĐIỀU MÌNH NGHE

(Lọc qua ba cái rây)

Ngày kia, có một người chạy hớt hãi đến nhà bậc hiền triết Socrate mà nói rằng:

-Tôi muốn kể cho ông nghe một việc có quan hệ đến người bạn ông...

-Thong thả đã! Nhà hiền triết ngắt lời. Trước hết anh hãy nói cho tôi biết anh đã lọc việc anh muốn kể đó qua ba cái rây chưa!

-Ba cái rây! Ông muốn nói gì vậy? Người kia kinh ngạc hỏi ngay.

-Đây nầy, bạn ơi. Trước hết hãy xem việc ấy có thật không. Đó là cái rây thứ nhứt.

-Thật ấy à? Có lẽ là thật, vì người ta mới kể cho tôi nghe.

-Chà! Người ta "kể" cho anh nghe! Thôi ta cũng cho là thật đi. Cái rây thứ hai đây nầy: Việc ấy có tốt không đã?

Người kia ấp úng đáp:

-Tốt... Không chắc có tốt không... Nói là xấu thì đúng.

-Úi chà! Thế thì không xuôi rồi. Nhưng ta hãy thử cái rây thứ ba. Tôi biết cái việc làm cho anh luống cuống đó, thì có ích lợi gì cho tôi chăng?

-Ồ! Không ích lợi mà cũng không cần, nhưng...

-Nghe đây. Nếu việc anh muốn nói với tôi một việc không chắc đúng, không tốt và không có ích, thì tôi không muốn biết làm gì. Nếu anh tin lời tôi, thì cũng nên bắt chước tôi mà đừng nghĩ đến việc ấy.

Nếu chúng ta nghe chuyện gì mà cũng lọc qua ba cái rây trên rồi mới chịu tin, thì sẽ tránh được phân nửa những việc lôi thôi đáng tiếc.

276. THƯỚC ĐO VỀ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI

(Lường giá một người)

Không nên hỏi rằng: "Ông ấy chết cách nào?" Nhưng nên hỏi rằng: "Ông ấy sống cách nào?" Không nên hỏi rằng: "Ông ấy kiếm được gì?" Nhưng nên hỏi rằng: "Ông ấy cho những gì?" Ấy đấy là cái thước đo về giá trị con người, không phân biệt dòng họ người ấy sang hay hèn.

Không nên hỏi rằng: "Ông ấy ở địa vị nào" Nhưng nên hỏi rằng: "Ông ấy có một tấm lòng tốt không?" "Ông ấy có làm xong nhiệm vụ Đức Chúa Trời giao cho không?" "Phải chăng lúc nào ông ấy cũng sẵn sàng nói một lời êm dịu, yên ủi, khuyên lơn để lau ráo một giọt lệ và đem lại một nụ cười?"

Không nên hỏi rằng: "Ông ấy thuộc về Hội Thánh nào và tin những gì?" Nhưng nên hỏi rằng: "Ông ấy có thật cứu giúp những kẻ khốn cùng, đói rét, đau ốm, sống vất vưởng chung quanh mình chăng?"

Không nên hỏi rằng: "Báo chí nói về ông ấy thế nào?" Nhưng nên hỏi rằng: "Bao nhiêu người thương tiếc khi ông ấy qua đời?"

-Earl W. Shoap-

277. KHUYÊN GIỤC VỀ SỰ THƯƠNG YÊU NGƯỜI LÂN CẬN

(Yêu Chúa và yêu người)

Đừng nói: "Tôi yêu Chúa", nếu anh em không thấy trong mình rạo rực sự yêu thương mạnh mẽ, đầy đủ và sâu xa đối với loài người.

Đừng nói: "Tôi yêu Chúa", nếu anh em chưa tự thấy mình vui thích vì chỉ dẫn nơi yên nghỉ cho kẻ nhọc nhằn, chỉ đường đức tin sáng láng cho kẻ hồ nghi, chỉ cửa ân điển cho kẻ lưu lạc, chỉ dẫn kẻ đau thương thấy chỗ mà lòng họ tan vỡ có thể được băng bó, bỏ hết gánh nề, mối lo phiền và sự sầu não quá bội.

Khi nào ta nhận mọi người làm những kẻ lân cận mà ta yêu mến, y theo mực thước cao thượng trong lời Ngài, thì ta có thể ngước mắt lên trời cao kia mà hớn hở nói với chính Đức Chúa Trời rằng: “Tôi yêu mến Chúa!”

-J. B. Layne-

278. THAM TIỀN BẠC SANH TAI HẠI

(Ông ấy nghèo vì)

Không có bạn hữu.

Có lương tâm vướng tội.

Không còn trị phục được chính mình nữa.

Vị kỷ, không có lòng từ thiện, hoặc có lòng độc ác.

Xao lãng tâm thần và linh hồn mình.

Bán hết tâm tính để vơ vét tiền bạc.

Không được vợ con, anh em yêu thương và kính trọng. Mất sự thông công với Đấng Christ vì cớ ham mến thế gian.

Không vun trồng đời thiêng liêng nữa vì mãi lo kiếm tiền.

Ham tiền mà sanh ra cứng lòng đến nỗi tình yêu thương của Đấng Christ và Tin Lành không còn có thể giục giã về việc tích cực ủng hộ cho công cuộc truyền đạo nữa.

Bao nhiêu của cải dầu chứa trên đất, chớ chẳng có chút của báu nào trên trời.

-W. E-

279. CẦN THỰC HÀNH HƠN LÝ THUYẾT SUÔNG

(Thưa ông truyền đạo)

Tôi muốn thấy một bài giảng hơn là nghe một bài giảng mỗi ngày. Tôi muốn ông cùng đi với tôi, chớ đừng chỉ đường cho tôi mà thôi. Con mắt là một học trò giỏi dắn và minh mẫn hơn là tai. Lời khuyên thâm thúy vẫn khó hiểu, nhưng gương ăn ở bao giờ cũng rõ ràng. Tốt hơn hết là ông thực hành điều mình tin, vì ai ai cũng cần thấy việc lành thực hiện.

Nếu tôi thấy ông làm, thi tôi có thể tập làm rất chóng. Những bài giảng của ông có lẽ rất khôn ngoan và xác đáng, nhưng tôi muốn học tập đương lúc ông thực hành. Vì có lẽ tôi hiểu sai ông, hiểu sai lời khuyên cao xa của ông, nhưng tôi không khi nào có thể hiểu sai cách ông làm việc và cách ông cư xử.

-Gospel Banner-

280. ĐƯỢC GIỐNG CHÚA NHỜ HỒNG ÂN NGÀI

(Trắng như tuyết)

Hôm nọ tôi kéo hộc tủ ra đặng tìm một cái thơ quan trọng bỗng gặp một miếng giấy bằng chữ in, đầu đề chữ to, rằng: "TRẮNG NHƯ TUYẾT" tôi bèn dừng sự tìm kiếm kia mà đọc thử coi trong đó nói gì. Chuyện ấy như vầy:

Một ngày kia, bà hoàng hậu tên Victoria ăn mặc thường đi viếng một xưởng làm giấy ở trong kinh thành. Bà bước vào cửa hãng thì có ông chủ ra tiếp rước. Ông nầy chưa biết bà là Hoàng hậu, sau thì biết. Ông dẫn bà đi chỗ này, chỗ nọ, chỉ cho bà biết cách làm ra giấy thể nào, chỉ chỗ giặt giẻ rách, làm sạch lại, nấu thành bã, rồi bỏ vào máy, sau thì thành một thứ giấy ấy trắng tinh, cắt ra và đem cho các hãng buôn. Bà lấy làm thích thú mà được nghe và được biết về cách làm giấy. Ông chủ cũng dắt bà đi xem một nơi khác có đông đúc người đương làm việc soạn những giẻ bẩn mà người ta mới đem về, bay mùi hôi thúi khó chịu. Bà bèn hỏi:

-Vải bẩn thế nầy mà ông dùng để làm gì?

-Thưa đề làm giấy.

-Mà nó đủ thứ màu, thế nào làm cho ra giấy trắng được?

-Thưa bởi cách chế tạo theo hóa học thì không còn thấy màu nữa, mà chỉ ra giấy trắng như tuyết.

-Thật lạ lùng.

Sau đó bà bước ra cửa, cám ơn ông chủ rồi về. Cách ít lâu, bà ấy lại nhận được một xấp giấy thật đẹp, trắng như tuyết, làm bằng thứ vải dơ bẩn mà bà đã thấy hôm nọ, bà bèn lấy ra một tờ giơ lên coi thì cũng thấy hình của bà trong ấy nữa.

Đọc đến đây tôi bèn để mảnh giấy xuống mà suy nghĩ về ơn rất lớn của Đức Chúa Trời đối với loài người. Thật ta là người xấu xa ô uế, đáng bỏ như những giẻ rách kia đúng như Ê-sai 64:6 chép rằng: "Chúng tôi hết thảy trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp..." Nhưng "Đức Chúa Trời là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn của Ngài đem mà yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ" (Ê-phê-sô 2:4-5). Đức Chúa Trời làm cho chúng ta được vào máy, là Đấng Christ, ta bèn trở nên người có lòng tái sanh, công bình, nên thánh, đến nỗi Ngài "thành hình" trong lòng ta. Thật rõ ràng "Ta đã chết mà bây giở lại sống." A-lê-lu-gia!

-P.V.N-

281 . THÚC GIỤC YÊU NGƯỜI VÀ LÀM VIỆC LÀNH

(Ông Bác sĩ thứ tư)

Kinh Thánh chép rằng có ba vị Bác sĩ phương đông lần theo ngôi sao đến thành Bết-lê-hem thờ lạy Đấng Christ mới giáng sanh. Nhưng có một truyện truyền khẩu thuật có 4 vị bác sĩ chớ không phải là ba.

Họ hẹn nhau ở một nơi kia để cùng lên đường. Nhưng vị Bác sĩ thứ tư (xin tạm đặt tên là Ái nhân) chẳng may tới trễ; khi tới nơi thì ba người bạn đã đi rồi. Ái Nhân buồn rầu, lo lắng quá, nhưng sau cũng phải ra đi.

Trèo đèo, lội suối, ông cùng bầy lạc đà và các tôi tớ tiến về thành Bết-lê-hem. Nhưng vừa tới một thành kia, chợ họp đông đúc, ông bỗng thấy một trang thiếu nữ trông kiều diễm, nết na, bị trói chặt hai tay đem bán làm tôi mọi. Nàng ngồi ở một xó chợ vẻ mặt buồn thiu, hai hàng nước mắt chan hòa. Vì bấy lâu dầm thấm những lời đạo đức của Đức Chúa Trời và cũng sẵn mối từ tâm, Ái Nhân bèn xuống lạc đà, giao cho một đầy tớ giữ, rồi lại gần hỏi han trang thiếu nữ. Nàng đáp:

-Thưa ông, tôi là con nhà bần bách, vì mẹ đau nặng không có tiền chạy chữa nên phải liều bán mình với giá rẻ cho chủ nầy để đền ơn mẹ. Bây giờ chủ sắp bán tôi cho người khác, xin ông ra tay cứu giúp.

Nghe qua sự tình, Ái Nhân động lòng rơi lụy, liền mở bao lấy một viên ngọc sáng ngời, dưa cho người chủ mà rằng:

-Đây ta xin mua lại cô nầy.

-Đoạn ông tự cởi trói cho nàng, trao cho một viên ngọc khác, bảo rằng:

-Nàng hãy đem ngọc nầy về, bán đi nuôi mẹ. Cầu xin Đức Chúa Trời báo đền lòng hiếu thảo của nàng!

Thiếu nữ quì xuống tạ ơn, ông vội vàng đỡ dậy:

-Cô đừng làm thế, cứu giúp người cùng khổ tức là tỏ lòng kính yêu Đức Chúa Trời, và có giúp cho kẻ khác sung sướng thì tôi mới hưởng hạnh phúc thật.

Ái Nhân lên đường. Qua rừng xanh, núi đỏ, trăm phần nguy hiểm, nhưng chẳng hề than phiền hay ngã lòng. Ông chỉ ước ao thấy mặt Cứu Chúa của nhân loại. Buổi tối kia, ông tới một quán trọ, ở phòng sang trọng nhứt. Bầu trời điểm muôn vàn sao sáng, vầng trăng tròn vành vạnh chiếu xuống trần gian. Ông đương mải suy nghĩ về quyền năng vô lượng và lòng từ ái từ sâu xa của Thượng đế bỗng nghe có tiếng rên rỉ gần đó. Ông gọi chủ quán lên hỏi. Chủ quán đáp:

-Thưa Bác sĩ, có một người thanh niên nghèo túng nhưng rất ham học ở trọ nhà tôi vào hạng chót, chẳng may đau nặng, không tiền chạy chữa.

Động lòng trắc ẩn, Bác sĩ vội vã đến thăm, thấy chàng có vẻ thông minh, nhưng ốm yếu lắm. Ông bảo khiêng chàng lên phòng mình, suốt đêm đó chính ông săn sóc chàng và cho mời thầy thuốc đến cứu chữa. Ông muốn ở lại cho đến khi chàng lành mạnh, nhưng còn phải lên đường tìm Cứu Chúa, là việc hệ trọng hơn. Vậy, sáng hôm sau, ông gọi chủ quán đến, trao cho mười thoi vàng, dặn rằng:

-Xin ông nhận số tiền nầy lo thuốc thang cho chàng còn thừa thì để giúp chàng ăn học.

Từ giã ân nhân, chàng thiếu niên chẳng biết nói gì hơn, chỉ rơi lụy vì cảm động. Ông cầm tay chàng, an ủi rằng:

-Bạn hãy vững lòng tin cậy Thượng đế và cầu xin ngài giải cứu cho. Nhứt là hãy nhớ rằng những cơn thử thách ở đời chính là những nấc thang đưa ta lên chỗ cao thượng, thánh khiết hơn.

Đoạn Ái Nhân vội vã lên đường. Nhưng ông thấy biết bao người cùng khổ, đau yếu, bị hà hiếp, nên cứ dừng lại, đem vàng, ngọc báu ra cứu giúp. Ngày nầy tới ngày khác, tháng lụn năm qua, chốc đã ba mươi ba năm mà vẫn chưa đi tới đích...

Đi suốt ngày đêm, bầy lạc đà phóng nước đại đã đưa đoàn lữ hành đến núi Gô-gô-tha ở thành Giê-ru-sa-lem. Họ thận nhận thấy kẻ kêu khóc, người mắng nhiếc, kẻ bàn tán, người phê bình, nhân dân lũ lượt đi xem. Bác sĩ cũng lần theo họ. Ô kìa, ba cây thập tự trồng ngang nhau, hai người ở hai bên trông vẻ mặt rất hung tợn, nhưng người treo ở giữa thì lại rất hiền từ, đạo mạo. Ái Nhân tiến đến gần, thấy trên Đầu Người treo giữa có đề mấy chữ: "Người nầy là Jêsus, Vua dân Giu-đa." Người đương lẩm bẩm nói gì nghe không rõ. Đến gần hơn, Ái Nhân nghe tiếng hấp hối của Người cầu nguyện rằng:

-Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì!

Thôi! Chính là Cứu Chúa, chính là Vua dân Giu-đa. Bác sĩ Ái Nhân quì xuống trước Đấng bị đóng đinh, khóc lóc nức nở. Tiếng hấp hối âu yếm hỏi:

-Hỡi con yêu dấu của Ta, cớ sao con khóc?

-Lạy Chúa, xin Chúa tha tội cho tôi. Tôi đã đem nhiều lễ vật quí báu đề dâng cho Chúa ngay khi Chúa mới giáng sanh. Nhưng than ôi, tôi tới trễ, ba bạn tôi đi mất rồi. Dọc đường tôi mải lo cứu giúp người cùng khổ, phung phí hết vàng, bạc, châu báu, đến nay gặp Chúa thì Chúa đã gần trút linh bồn. Bây giờ tôi chẳng còn một vật báu nào để dâng cho Chúa, xin Chúa tha tội cho tôi!

Một nụ cười nở trên môi Đấng hấp hối, Ngài phán rằng:

-Con nghĩ lầm, mọi việc con làm cho những kẻ nghèo khổ, tàn tật, đau yếu và bị hà hiếp ấy là con đã làm cho Ta. Con yêu thương họ ấy là bằng cớ tỏ ra con yêu thương Ta. Chắc con chưa nghe lời Ta phán rằng: "Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em Ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy."

Hỡi anh em, Chúa chúng ta xuống trần để treo cao tấm gương "yêu người như mình". Chúng ta phải noi gương Cứu Chúa, tùy sức giúp kẻ đồng loại về phần linh hồn và thân thể. Băng bó vết thương của đời, đấy là nhiệm vụ chúng ta là tín đồ Ngài.

282. SỰ THÁNH SẠCH TRONG CHÚA LÀM HỔ THẸN KẺ VÔ THẦN

(Đạo Đấng Christ với thuyết vô thần)

Tại thành San Francisco, trong một góc đường nọ, có mấy nhà Truyền đạo đang hát Thánh ca và nói về Tin Lành cho một đám đông chừng ba bốn trăm người. Một ông Giáo sư danh tiếng, và cũng là một tín đồ sâu nhiệm trong Chúa, tên là Ironside, vừa đi ngang qua. Nhơn dịp tiện, ông ta dừng chơn lại để nối lời các viên Truyền đạo mà làm chứng mọi ơn mà mình đã nhận được từ Đấng Christ. Ông vừa nói xong, thì có một người ăn mặc rất đàng hoàng, diện mạo khôn lanh, bước tới và trao cho ông một tấm danh thiếp.

Giáo sư rất ngạc nhiên mà thấy trên tấm danh thiếp ấy tên của một nhà diễn thuyết thuộc phái vô thần và rất có tiếng tăm trên đàn ngôn luận. Trên tấm danh thiếp chính nhà vô thần ấy vừa viết bằng bút chì câu này: "Thưa ông, tôi mời ông Chúa Nhật tới đây đúng bốn giờ chiều, đến viện Hàn lâm khoa học dự một buổi diễn thuyết có cho phép thính giả phản đối. Đề mục là: Thuyết vô thần chống với đạo Cơ đốc. Tôi sẽ chịu mọi phí tổn."

-Tôi nhận sẽ đi dự buổi lễ diễn thuyết này, nhưng trước hết yêu cầu ông một điều: ấy là hôm đó ông phải dẫn theo hai người có đủ bằng cớ chứng rằng thuyết vô thần có thể thay đổi một đời người và cải tạo tâm tính.

Trong hai người đó, thứ nhứt phải là một người đàn ông có một cuộc đời dĩ vãng không ra gì, làm nô lệ cho tội ác nhưng vì đã nghe ông phỉ báng Kinh Thánh và khen ngợi thuyết vô thần, nên người đó đã đổi hẳn tánh tình, một quyền phép lạ lùng đã làm cho người đó ngày nay gớm ghê tội ác mà yêu chuộng sự công bình, nhơn ái, thánh khiết.

Thứ hai, một người đàn bà ngày trước là người hư mất, khốn nạn, chịu mọi tình dục, dâm dật, bậy bạ, đè nén, nhưng vì đã được nghe ông chế giễu lời Kinh Thánh và tôn vinh thuyết vô thần, nên người đàn bà xấu nết đó đã được thoát khỏi xiềng xích tội lỗi, và trở nên một người đàn bà vô thần, khôn ngoan, hăng hái, gớm ghiếc đời cũ của mình, khi nào cũng tránh những nơi tội ác, là nơi ngày trước người đàn bà đó năng lui tới. Tóm lại, bây giờ người đó sống trong sạch, đáng kính, vui vẻ.

Thưa ông, nếu ông hứa sẽ dẫn hai người đó đến làm làm chứng cho mọi cái tốt lành của thuyết vô thần, thì trước mặt mọi người đây tôi xin hứa rằng Chúa Nhật, đúng bốn giờ chiều tôi sẽ có tại nơi ông diễn thuyết. Tôi sẽ dẫn theo ít nữa là trăm người, đờn bà có, đờn ông có mà cả trăm người đó đều có đủ bằng cớ chắc chắn làm chứng rằng họ đã được cứu, được dựng nên bởi Tin Lành nầy mà ông chế giễu. Tất cả những người đó sẽ cùng tôi lên diễn đàn mà làm chứng về quyền phép lạ lùng của Đức Chúa Trời và sự chân thật của Kinh Thánh.

Giáo sư dứt lời, thi ông vô thần cười gằn, đưa tay ra hiệu rằng mình không thể nhận lời, rồi rẽ đám đông người lẩn đi, trong lúc mọi kẻ đứng đó đua nhau vỗ tay reo hò.

-N.D.N -

(Dịch báo L'Appel)

283. CHĂM CHÚ VÀO ĐỨC CHÚA TRỜI ẮT KHÔNG BỊ TỘI LỖI CÁM DỖ

(Bình dầu)

Có sự tích về một người đến xin một ông vua phương đông bảo cho cách tránh sự cám dỗ. Vua truyền cho người lấy một bình dầu đầy tới miệng, và phải mang đi quanh kinh thành, không được đành đổ một giọt nào.

-Nếu người đánh đổ một giọt, thì sẽ bị chém đầu ngay.

Vua phán hai tên lính tuốt gươm trần đi kèm hai bên, sẵn sàng thi hành mệnh lệnh tàn ác đó. Hôm ấy nhằm hội lớn, phố xá đông nghịt khách đi xem hội, hàng quán la liệt.

Người đi mang bình dầu cẩn thận đến nỗi chẳng một giọt nào đổ ra ngoài. Lúc trở về, vua hỏi:

-Ở thành phố có gì không? Ngươi có thấy ai không?

-Tâu bệ hạ, tôi chẳng thấy gì và chẳng thấy ai hết. Tôi chỉ chăm chú nhìn bình dầu.

-Ấy chỉ có cách đó là tránh được sự cảm dỗ. Hãy chăm chú vào Đức Chúa Trời như vậy, các ngươi chẳng còn bị cám dỗ nữa.

284. ƠN CHIÊM NGƯỠNG CHÚA

(Đức Chúa Trời tỏ mình)

Đức Giê-hô-va là ánh sáng tôi (Thi-thiên 27:1).

Loài người không thể thấy Đức Chúa Trời được; nhưng Đức Chúa Trời có quyền phép đề tỏ mình cho kẻ nào Ngài muốn, khi nào và theo cách nào tùy ý Ngài, vì quyền phép của Ngài vô hạn lượng. Các đấng tiên tri đã thấy Ngài trong ngôi vị Đức Thánh Linh, loài người thấy Ngài trong ngôi vị Đức Chúa Con ở thế gian; trong nước Thiên đàng người ta sẽ thấy Ngài trong ngôi vị Đức Chúa Cha.

Trước hết Đức Thánh Linh đã dự bị loài người để họ thấy Đức Chúa Cha; rồi Đức Chúa Cha ban cho loài người bản thể bất diệt ngõ hầu họ thấy được Đức Chúa Trời đời đời.

Khi ta thấy ánh sáng, thì ánh sáng bao bọc ta, và ta nhận biết vinh quang của nó. Kẻ nào nhìn thấy Đức Chúa Trời cũng vậy: Họ chìm ngập trong Đức Chúa Trời và thấy sự vinh hiển của Ngài. Sự vinh hiển ấy làm cho họ tươi mới lại và họ luôn luôn được uống một sự sống mới. Phải theo cánh ấy mà hiểu rằng Đức Chúa Trời là Đấng ta không thể nhận biết, hiểu thấu và nhìn thấy, nhưng cũng là Đấng tự làm cho mình được nhận biết, hiểu thấu và nhìn thấy bởi những kẻ đủ điều kiện để thấy Ngài và để được tươi mới lại bởi chính sự thấy đó.

Ấy sự nhơn hiền của Đức Chúa Trời cũng là vô hạn vô lượng như sự cao dày của Ngài, chính sự nhơn hiền ấy làm cho sống những kẻ được hân hạnh thấy Ngài. Nếu không có sự sống thì không thể biết sự sống là gì. Trên Thiên đàng, yếu tố của sự sống chính là dự phần bản tính Đức Chúa Trời, chính là thấy Đức Chúa Trời và hưởng lấy công hiệu do sự nhơn hiền của Ngài.

-Thánh Irénée-

285. PHẢI HIỂU LỜI PHÁN CỦA CHÚA

(Ông nói gà, bà nói vịt)

Frédéric đại dế, vua nước Phổ (Prusse), rất có lòng thương những đội lính riêng của mình. Ông thân mật với họ, và quen biết từng người một. Hễ thấy một người lính nào mới được tuyển, ông bèn để ý ngay, và khi gặp mặt thì hỏi ba câu rằng:

-Anh ra đời bao nhiêu năm rồi? Anh đã hầu việc ta bao nhiêu năm? Anh có bằng lòng cả số lương bổng với sự ăn ở không?

-Vua có một thói quen là bao giờ cũng hỏi theo thứ tự kể trên.

Có một người ngoại quốc chẳng biết một tiếng Đức nào, được tuyển vào dội lính ấy. Ngày kia hắn được lịnh đến chầu vua Frédéric. Hắn bối rối quá, không biết thế nào để hầu chuyện vua. Nhưng bạn hữu dạy hắn mấy tiếng cần để đối đáp. Hắn định tâm khi vua hỏi câu thứ nhứt là đáp: "Hai mươi mốt"; hỏi câu thứ hai thì đáp: "Một"; hỏi câu thứ ba thì đáp: "Cả hai." Ấy vì họ bảo hắn rằng bao giờ vua cũng hỏi theo thứ tự trên kia.

Đến trước mặt vua, tên lính mới chào theo lối nhà binh đâu đó, rồi đứng thẳng chờ vua hỏi. Chẳng may cho hắn, lần nầy vua lại hỏi câu thứ hai trước:

-Anh đã hầu việc ta bao nhiêu năm?

Chẳng chút ngần ngại, hắn đáp:

-Hai mươi mốt.

Ngạc nhiên, Vua Frédéric hỏi tiếp:

-Hai mươi một năm rồi? Ủa lạ! Thế anh ra đời bao nhiêu năm rồi?

Thấy vẻ mặt ngạc nhiên của vua, hắn tưởng vua lấy làm lạ vì hắn mới hai mươi mốt tuổi đầu đã được tuyển vào đội lính có giá trị ấy. Hắn bèn đáp: - Một.

Kinh ngạc càng hơn, vua tiếp:

Quái lạ! Anh mới có một tuổi mà đã hầu ta hai mươi mốt năm. Chắc là anh hay là ta một người đã hóa điên rồi.

Hắn dạn dĩ đáp: Cả hai.

Nghe vậy, vua đập bàn quát mắng:

-Chà! Anh vô phép quá, dám bảo ta điên à? Lần nầy là lần thứ nhứt một tên lính dám bảo ta là thằng điên.

Thấy vua nổi giận, anh lính mới bèn vội vàng dùng tiếng nước mình mà thưa rằng mình không hiểu tiếng Đức. Té ra vua cũng hiểu tiếng nước hắn, bèn phì cười mà phán rằng:

-Thật vậy à? Thế thì anh nên kíp học tiếng Đức, ta chắc anh sẽ trở nên một người lính giỏi.

Các bạn là lính của Đức Chúa Jêsus, cần phải hiểu biết tiếng phán của Ngài mà vâng theo. Tiếng phán ấy đã chép cả trong Kinh Thánh. Nếu các bạn không hiểu Kinh Thánh, không biết đạo Ngài, thì trên đời sẽ bị lắm phen sai lạc, lầm lỗi, làm trò cười cho thế gian.

-T. K. B.-

286. ĐỨC TIN ĐẾN ĐẤNG ĐÃ SẮM SẴN

(Ai bắc sẵn cầu?)

Một đứa con gái sáu tuổi đi xe lửa lần đầu, cứ đứng nhìn ra cửa sổ để xem sẽ gặp gì. Mỗi khi thấy con sông nào ở đằng xa, thì em sợ hãi quá, nhưng khi tới sông, đi qua cầu thì em vui vẻ. Cứ thế mãi cho đến khi em ngồi uống mà rằng:

-Được rồi, tôi vui vẻ quá, không còn sợ chìm đắm dưới sông, vì tôi thấy rằng đã có một người nào đi trước chúng ta mà bắc cầu qua mỗi con sông!

Cũng thế, đến lúc cần kíp, ta sẽ thấy Chúa đã sắm sẵn trước, nhưng nhiều khi Ngài cũng thử đức tin ta một hồi.

-H. H. Dixon-

287. CẦN PHẢI LOẠI BỎ THAM DỤC

(Một cuộc thí nghiệm mới lạ)

Một Giáo sư kia, định thí nghiệm xem có thể cho sư tử và con chiên ở chung một chuồng không. Mấy tháng sau, có người hỏi Giáo sư rằng:

-Ông được kết quả mỹ mãn không?

Ông đáp: Mỹ mãn lắm, nhưng thỉnh thoảng phải thay một con chiên khác vào.

Ấy chúng ta cũng thường từng trải như thế. Vì muốn các sự ước vọng cao thượng sống chung với những tham dục thấp hèn ở trong lòng mình, nên "thỉnh thoảng" tham dục thấp hèn lại cắn nuốt ước vọng cao thượng.

288. CẦN TRÁNH CÁC CUỘC VUI CHƠI TỘI LỖI

(Mặc áo trắng vào mỏ than)

Tôi tưởng tín đồ Đấng Christ có phép đi không cứ nơi nào.

Đó, lời tự binh vực mình của một thiếu phụ hay đi đến những nơi giải trí khả nghi. Bạn của bà đáp:

-Chắc là đi được, nhưng tôi sực nhớ một chuyện xảy ra mùa hạ vừa rồi, khi tôi cùng một đoàn bạn hữu đi thăm một mỏ than. Có một thiếu phụ bận áo trắng tinh. Khi bè bạn phiền trách thì bà gọi một người thợ mỏ già làm hướng đạo của đoàn du lịch mà hỏi hơi gắt rằng: "Tôi không thể bận áo trắng mà xuống mỏ than sao?" Ông cụ đáp: "Có chớ, chẳng có gì ngăn trở bà bận áo trắng mà xuống đó, nhưng sẽ có nhiều thứ ngăn trở bà cứ bận áo trắng mà trở lên mặt đất.

Chẳng có gì ngăn trở tín đồ bận áo trắng công nghĩa, thánh khiết mà đi dự những cuộc vui chơi tội lỗi chung với người ngoại đạo, nhưng có vô số điều ngăn trở tín đồ bận nguyên áo trắng (giữ áo trắng toàn vẹn như khi vào) mà ra khỏi những nơi ấy.

-The Star of Hope-

289. CHÚA HẰNG ĐI TRƯỚC TA LUÔN

(Tình phụ tử)

Chép lại thời thanh niên của mình, ông John MacNeill, một nhà truyền đạo Tô-cách-lan thuật cái lúc mình trải biết tình phụ tử như sau:

Tôi nhớ lại một bữa thứ bảy đã gần nửa đêm, tôi phải lên đường đi bộ sáu bảy dặm dọc theo cái trũng hiu quạnh để về nhà. Đường có tiếng là nguy hiểm, cướp bóc rất thường. Đêm ấy trời tối như mực, còn hai dặm cách làng tôi thì đường hẹp quá mà lại rất tối tăm. Tôi vừa mới đi vào đường hẹp ấy thì cách mặt tôi chừng vài chục thước, qua bức màn tốt tăm thình lình vang dậy một tiếng mạnh mẽ làm cho tôi yên dạ:

-John! Con đấy phải không?

Chính là cha tôi đi đón tôi, cha tôi, người khỏe mạnh và can đảm nhứt mà tôi từng biết. Từ đó trở đi, khi mọi sự chung quanh hóa ra tối tăm và đường như ngăm dọa, tôi lại nghe một tiếng oai nghiêm, mạnh mẽ hơn tiếng cha tôi, tức là tiếng của Cha Thiên Thượng, của Đức Chúa Trời toàn năng phán rằng:

-Đừng sợ chi! Cha ở cùng con!

Và nầy, Đức Giê-hô-va đi trước mặt chúng ta trong khi chúng ta đi quãng đường đời. Ta đừng quên lẽ đó.

290. CHƯƠNG TRÌNH TÂN NIÊN

(Để sống một năm đầy hạnh phúc)

Dưới đây là sứ mạng năm mới của bà Oliver Rhynas, Hội trưởng Hội Phụ nữ bệnh viện Cứu tế ở thành Ontario, xứ Gia-nã-đại, gởi cho các thuộc viên Hội ấy.

1) Chúng ta không cần hôn bàn tay đánh mình, nhưng có thể bắt tay ấy một cách thân mật thành thực.

2) Chúng ta có thể mỉm cười, và giúp đỡ kẻ đồng loại bởi một nụ cười.

3) Chúng ta có thể cầm giữ mình cho khỏi nôn nao, bồn chồn.

4) Đừng hung ác trong việc làm hoặc lời nói.

5) Hãy cố gắng gánh những nỗi lo phiền hằng ngày một cách êm ái, dịu dàng.

6) Chúng ta có thể làm dịu bớt những sự gắng gỏi, nhọc nhằn hằng ngày bởi biệt riêng thì giờ bình tĩnh để giao thông cùng Ngài là Đấng "đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước" (Công-vụ các Sứ-đồ 10:38).

7) Chúng ta có thể thành tín với mình cũng như với người khác.

8) Chúng ta có thể giữ tâm hồn mình cho đầm ấm, và bởi đó truyền ánh sáng tươi đẹp cho những người cùng khổ hơn mình.

9) Chúng ta chớ tìm bới những điều bất lịch sự nhỏ nhặt của kẻ khác, và cũng đừng cư xử bất lịch sự chút nào vời kẻ khác.

10) Thỉnh thoảng nên khen ngợi kẻ khác đôi chút để giục lòng họ.

11) Đừng đề tánh ghen tương bò vào lòng mình, nhưng bao giờ cũng nên nhận biết công việc tốt của người đồng sự.

12) Mỗi ngày hãy làm một việc lành cho một người nào đó.

13) Đừng chế giễu đừng cạnh tranh, đừng nói bậy bạ, đừng chọc giận ai.

14) Hằng ngày chúng ta hãy cầu nguyện cho các bậc cầm vận mạng quốc gia, ngõ hầu các bậc ấy được Đức Chúa Trời ban cho những ân tứ như liêm khiết, khôn ngoan và can đảm. Những ân tứ ấy rất cần thiết cho chúng ta được hưởng thái bình suốt năm.

15) Hãy rải ảnh hưởng do chính thân mình, và hãy giúp đỡ những công cuộc cốt binh vực công lý và làm cho nhân loại được tốt hơn.

16) Không kể đến người khác thì ta không thể thành công vẻ vang được. Cần có những nam nữ tín đồ đầy dẫy tinh thần cao thượng, chớ không vị kỷ chút nào. Nguyện chúng ta ai nấy dâng mình để mưu cầu hạnh phúc cho mọi người đồng loại.

-T. K. B.-

291 . KHẨU HIỆU TÂN NIÊN

(Vài câu khẩu hiệu năm mới)

1) Hãy trực tiếp với Đức Chúa Trời. Nói cách khác, hãy xua đuổi bọn trung bảo bất tài và đi thẳng đến nơi cao thượng. Ta đắc thắng hoàn cảnh như vậy đó.

2) Chớ bối rối. Dầu bận rộn tới đâu cũng chớ nên mất vẻ bình tĩnh.

3) Hầu việc mọi người, nhưng không làm nô lệ ai! Tốt thay là tánh lịch sự! Còn tánh nô lệ thật đáng khinh và không xứng với con cái của Vua trên các vua.

4) Hãy sốt sắng hầu việc Chúa, song phải khôn khéo rất mực. Hãy học thuật đánh trận tốt lành, nhưng phải luôn dùng khí giới yêu mến, tử tế, cảm thương, như Chúa Jêsus đã dùng để đối phó với những kẻ cừu địch Ngài.

5) "Sự khó nhọc ngày nào đủ cho ngày ấy" (Ma-thi-ơ 6:24). Đó chỗ người thế gian khác với tín đồ chân thật, là kẻ mỗi giờ mỗi nhận được năng lực.

6) Chớ hề phàn nàn vì chẳng ích chi. Không ai làm ơn ta vì đã chịu cất gánh buồn rầu của ta trên họ.

7) Chớ hề tức mình. Có khi ta không sao khỏi làm mích lòng kẻ khác, vì dầu họ ước ao ăn ở tử tế tới đâu, ta cũng chẳng biết họ phán đoán lời nói hoặc công việc ta thế nào. Nhưng bao giờ ta cũng có thể thấy mình không bị họ làm mích lòng; dầu sao, ta cũng tin được rằng kẻ khác có ý tốt; hoặc nếu họ rõ thật không tốt, thì ta có thể yên lặng nín chịu mọi sự như Chúa.

-T.B. "Reaper"-

292. ĐẤNG LẠ LÙNG

(Một người lạ)

Kìa, một người sanh trong một làng hiu quạnh, con một bà quê mùa. Lớn lên người làm thợ mộc suốt ba mươi năm, rồi đi nơi nầy, nơi nọ mà giảng đạo trong ba năm. Người không hề viết một quyển sách, hay làm việc cho nhà nước, không nhà, không đất. Người không hề có gia đình riêng, không hề theo học trường trung đẳng. Người không hề đặt chân vào một thành phố lớn. Người không hề đi xa quê hương mình quá 250 cây số, trừ ra khi còn thơ ấu. Người không được ai che chở, không được quan chức nào gởi gắm. Trái lại, dư luận phản đối người.

Bạn hữu lìa bỏ người. Một bạn chối không biết người. Một bạn nộp người vào tay kẻ thù nghịch. Sau một cuộc xét xử bất công, người bị đóng đinh vào thập tự giá ở giữa hai tên trộm cướp. Bọn lính rút thăm lấy vật có giá trị của người, chỉ một vật ấy thôi, tức là cái áo dài. Khi chết, người được chôn trong một cái huyệt mả mượn.

Từ đó đến nay đã hết mười chín thế kỷ, và bây giờ người là trung tâm của cả loài người, đứng đầu một cuộc tiến hóa chơn chánh.

Vẫn chưa nói hết sự thật khi tôi quả quyết rằng hết thảy đạo binh của thế giới, hết thảy hải quân, hết thảy nghị viện, hết thảy vua chúa, hết thảy bậc anh hùng, hết thảy các nhà bác học cao nhất, chưa hề có ảnh hưởng trên đời người ở địa cầu này bằng người cô đơn và độc nhất vô nhị ấy. Người ấy tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Cứu Chúa của cả loài người.

-Jewish Era-

293. ĐẤNG CHRIST TRỔI HƠN MỌI DANH NHÂN

(Danh nhân với Đấng Christ)

Không cứ những hiện tượng bất ngờ của tương lai sẽ là thế nào, cũng chẳng có gì trổi hơn Đức Chúa Jêsus được... Tất cả các thời đại sẽ tuyên bố rằng trong vòng con cái loài người, chẳng ai trổi hơn Đức Chúa Jêsus.

Từ khi chết đến nay, Ngài được kính yêu gấp ngàn lần khi Ngài đi qua thế gian. Ngài đã trở nên đá góc nhà của nhân loại, đến nỗi xóa danh hiệu Ngài khỏi thế gian tức là lay động tới nền tảng của thế gian... Toàn thắng tử thần, xin Ngài hãy nhận lấy nước Ngài, và hằng mấy mươi đời tín đồ sẽ theo Ngài trên con đường vương giả mà Ngài đã vạch sẵn đề vào nơi đó.

-Ernest Rean-

Với những ai chỉ muốn thấy Đức Chúa Jêsus là một người thường, chúng tôi xin vạch ra sự hoạt động của Ngài khác hẳn sự hoạt dộng của các đấng Tiên tri xưa và các bậc chăn dắt loài người. Đấng Christ đã ban sự sống mới cho hàng ngàn, hàng triệu người thuộc về mọi dân tộc trải qua mọi thời đại. Ngài đã đổi tội nhân ra thánh đồ, kẻ sát nhân ra người lương thiện, kẻ hồ nghi ra người dốc lòng tin, và Ngài đã phục hòa những ai trước kia là cừu địch. Quả thật, một hương thơm êm dịu đã từ Đấng Christ tỏa ra suốt các thời đại và đổ vào hàng mấy mươi triệu linh hồn bối rối, bị ruồng bỏ và chẳng còn hi vọng gì.

-T. W. Forster-

294. PHONG TRÀO VÔ THẦN BÀNH TRƯỚNG LÀ DẤU HIỆU CHÚA TÁI LÂM

(Lợi khí của Antichrist đã sẵn sàng)

Có thể có nhà độc tài Quốc tế chăng? (Đa-ni-ên 11:36).

Ông Martin S. Charles, nguyên Tổng Thư ký liên đoàn vô thần quốc tế và chủ bút báo "Thế giới vô thần" (The Godless World), bỗng trở nên một Giáo sư dạy Kinh Thánh trứ danh. Tín đồ khắp mọi nơi phải biết về việc ông đã hối cải để làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Ông cũng dẫn được bạn đồng chí tên là Ralph E. Underwood, trở lại cùng Chúa. Cũng như ông Charles, ông Underwood vốn là một diễn giả vô thần, giảng cho những đám người đông đúc giễu cợt Kinh Thánh.

Sự hối cải của hai ông là một vết thương đau đớn nhứt cho liên đoàn vô thần. Ban Trung ương ở Mạc-tư-khoa đã cử hai ông đi khắp Mỹ châu để tuyên truyền chủ nghĩa vô thần, chẳng ngờ hai ông lại bị đạo Tin Lành chiến thắng.

Sau khi bối rối trong một bài giảng, ông Charles có giải luận vấn đề Antichrist hầu đến, và dẫn nhiễu bằng cớ mạnh mẽ đánh đổ cái ý tưởng rằng Antichrist là người đứng đầu một nhánh đạo có thế lực kia hay là người cầm quyền độc tài trong một nước nọ. Vì hiểu hết sự quan trọng của phong trào vô thần khắp thế giới, ông nảy ra một quan niệm rất có giá trị. Dưới đây xin tóm tắt quan niệm ấy:

1) Antichrist sẽ là một tay vô thần. Nó sẽ chối: Đức Cha và Đức Con (IGiăng 2:22), đem mình lên cao bằng Đức Chúa Trời (IITê-sa-lô-ni-ca 2:3-4 ; Đa-ni-ên 11:36-37).

2) Con thú ở sách Khải-huyền đoạn 13 sẽ cầm quyền trên khắp thế giới. Nó là một nhà độc tài quốc tế, một tay cai trị cả hoàn cầu, và thế giới bây giờ sẽ là một tổng hợp hết các nước, các chi tộc, các thứ tiếng, các nhân chủng. Nói cách khác, nó là vị Thống lãnh, thủ tướng, thẩm phán tối cao và nhà độc tài tuyệt đối.

Chưa ai từng hành quyền bao trùm đến thế, nên phải kết luận rằng Antichrist chưa hiện ra trên địa cầu này.

3)Antichrist không thể tỏ mặt trước khi Đức Thánh Linh lìa khỏi thế gian nầy, nghĩa là trước khi Hội Thánh được cất lên để gặp Chúa trên không trung.

Nhờ ánh sáng của Kinh Thánh mà thấy ý nghĩa của những biến động ấy, thì chúng ta phải công nhận rằng phong trào vô thần tràn khắp thế giới là điềm chỉ về sắp đến lúc Antichrist hiện ra, Hội Thánh chân chánh được cất lên, Đấng Christ cùng các thánh đồ giáng lâm giữa đám mây, Antichrist cùng tiên tri giả bị hủy diệt trơn trọi, và nước ngàn năm thái bình của Đấng Christ được lập lên.

Ông Charles cho rằng phong trào vô thần có tổ chức hẳn hoi ở khắp thế gian là nền tảng cho Antichrist được tôn cao sau nầy. Phong trào ấy có một trung tâm điểm cho cả thế giới, tức là Mạc tư-khoa, vả có chi nhánh ở khắp các nước. Cũng có hàng ngàn báo chí, sách tuyên truyền, và những văn sĩ, diễn giả, giáo sư, trưởng ban là khác. Phong trào ấy chăm chăm hủy phá đạo Đấng Christ và mọi sự tín ngưỡng thần minh. Những đảng viên vô thần chính là các bộ hạ mà Antichrist cần có để cầm quyền khắp thế gian.

Các bộ hạ ấy đã có rải rác khắp nơi và đã ra tay hoạt động. Họ hết sức chen vào các nhà trường và nhà thờ mà phá hoại. Đang khi ấy biết đâu nhiều tín đồ Đấng Christ chẳng hờ hững với phận sự để đến nỗi quyền phép tối tăm chiếm được phần ưu thắng? Hỡi anh em trong Hội Thánh Tin Lành Việt Nam! Anh em cố gắng hi sinh cho Đấng Christ mau tái lâm và toàn thắng, hay là anh em nhường bước cho quỉ Sa tan?

-Prophecy-

295. QUÍ MẾN SỰ VUI MỪNG TRONG CHÚA HƠN TÀI VẬT

(Thế là mất tiền)

Ở xứ Tô-cách-lan có một Mục sư rất đạo đức nhưng hơi nghiêm nghị. Trong chi hội ông có một bà cụ già rất nghèo. Mỗi khi ông giảng một điều gì có thể bổ sức thiêng liêng đặc biệt, thì cụ la lớn rằng: -Cám ơn Chúa! A-men!

Thói quen ấy làm cho ông Mục sư bối rối lắm. Vậy, nhằm ngày Tết, ông đến thăm cụ và nói rằng:

-Cụ ơi, tôi xin giao ước với cụ. Mỗi khi tôi nói đến phần hay nhứt của bài giảng, cụ lại la lên rằng: "Cám ơn Chúa!" Như vậy, cụ làm rối loạn ý tưởng tôi. Nếu suốt một năm nay cụ không la như thế nữa, đến cuối lăm tôi sẽ biếu cụ hai cái mền (chăn) bằng lông chiên.

Cụ nghèo lắm, nên rất thích được hai cái mền kia. Vậy, cụ cố ngậm miệng để được quà biếu. Hết Chúa Nhật nầy đến Chúa Nhật khác, cụ ngồi yên lặng. Nhưng một ngày kia, chi hội ấy mời một ông Mục sư ở gần đó đến giảng đặc biệt. Ông nầy tánh tình vui vẻ lắm, lúc nào cũng tươi cười. Đang khi ông giảng về sự tha tội và những ơn phước vô giá cặp theo, thì hình ảnh hai cái mền lông chiên lần lần tiêu tan, và sự vui mừng do ơn cứu rỗi lần lần tươi sáng. Sau cùng cụ không sao nín chịu được nữa, bèn đứng phắt dậy mà la lên rằng:

-Có mền hay không cũng được. A-lê-lu-gia! Cám ơn Chúa!

296. ƠN CỨU RỖI LÀ NGUỒN VUI VẺ

(Bịnh phung là phước)

-Tạ ơn Đức Chúa Trời vì tôi mắc binh phung. Một người Tàu nói thế và thêm rằng:

-Nếu không thì đời nào tôi được cứu, vì tôi học biết Đấng Christ ở trong nhà thương chữa binh phung nầy.

297. CẦN PHÁ HỦY HÌNH TƯỢNG THIÊNG LIÊNG

(Phá hay bán hình tượng)

Sử chép rằng khi Hoàng đế Mahmoud, nước Thổ-nhĩ-kỳ, chiến thắng Ấn-độ, có vào một đền thờ nguy nga, lộng lẫy. Bọn đạo sĩ nài xin vua đừng phá hình tượng đặt trước bàn thờ, và xin trả rất nhiều tiền để mua nó.

Vua suy nghĩ một lát, rồi đáp rằng mình muốn được lưu danh là người phá hủy hình tượng, chớ không chịu cho thiên hạ nhớ mình đã bán hình tượng. Vậy, vua giơ cao đao phủ bổ mạnh vào hình tượng một cái. Quân hầu cũng bổ theo. Một trận mưa đao phủ đập tan tành pho tượng. Tượng rỗng, bên trong đựng toàn châu báu quí giá, tính ra gấp mấy trăm lần số tiền bọn đạo sĩ tinh ranh kia xin kính dâng vua.

Tín đồ hủy phá một hình tượng nào, thì luôn luôn được lời hơn là bị lỗ. Nếu tự bỏ mình đi, ta sẽ tránh được biết bao điều bối rối. Cứ hủy phá một hình tượng, sự sống thiêng liêng lại được sức mới, và ta lại càng cảm biết mình đẹp lòng Đức Chúa Trời. Nếu ta sẵn lòng trả giá, thì đời ta hầu việc Chúa chắc được thành công mỹ mãn.

-The Gospel Message-

298. CHÚA TÁI LÂM LÚC BẤT NGỜ

(Lúc không ngờ)

Nhà truyền đạo trứ danh ở xứ Tô-cách-lan, tên là Mecheyne hỏi mấy người bạn rằng:

Anh em tưởng Đấng Christ có thể tái lâm đêm tay không?

Họ lần lượt đáp:

-Tôi không tưởng thế.

Ông Mecheyne bèn mở Kinh Thánh, nghiêm trang đọc câu nầy! "Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ." (Ma-thi-ơ 24:44).

299. CẦN HI SINH ĐỂ PHỔ BIẾN TIN LÀNH CỨU RỖI

(Trước khi đạo Chúa đến thành La-mã)

Dân số thành La-mã có hàng mấy triệu người, phân nửa là tôi mọi. Juvénal, thi si trào phúng trứ danh thời ấy, nói rằng hậu thế không sao trổi hơn thời đại ấy về những phong tục đồi bại: Người ta thâu góp các thói hư nết xấu khắp thế gian đổi thành phong tục ở kinh thành La-mã.

Con cái kẻ nghèo khổ và các trẻ em hay đau yếu thường bị quăng cho thú dữ, cả đến con gái nữa. Các nhà triết học ưng chịu cách hành động dã man ấy. Nhà triết học Sénèque viết rằng: "Không phải cơn thạnh nộ, nhưng chính là lý tánh đã xui người ta đem quăng những đứa trẻ tật nguyền xuống sông." Có đứa bị cắt cụt chân hay tay cho bọn ăn mày hung ác đem bày góc chợ đầu đường. Bọn thầy pháp dùng một vài bộ phận của thân thể họ để làm bùa yêu.

Sự ly dị dễ dàng và thường thấy, đến nỗi có một số phụ nữ lấy vài đời chồng trong một năm. Thành Pompéi bị hỏa diệm sơn Vésuve phá hủy, về sau họ đào bới được nhiều nhà, thì thấy tường, cửa và đồ dùng không có dấu tích nào tỏ ra dân chúng phóng đãng, ô uế quá đỗi như ở thành La-mã. Tinh thần dân tộc đã tắt thở. Những người đàn ông đứng đắn cho rằng không cưới vợ là hiệp với lương tâm hơn. Thà họ cưới một đứa tôi mọi nết na trinh bạch còn hơn cưới một thiếu nữ La-mã thuộc đòng quí phái. Nam giới và nữ giới đều buông theo những tội ác gớm ghê, mới lạ và nghịch với công lệ tự nhiên mà ở thơ Rô ma đoạn 1, Thánh Phao-lô không dám mô tả cạn lời.

Tàn ác "kết hôn" với tư dục. Để thêm vui cho những bữa tiệc linh đình, bọn phú hào thường thuê người đấu võ với người hoặc thú dữ . Đương khi họ nhấp rượu, thì huyết người nóng hổi tuôn chảy trước mắt họ; bọn tôi mọi bước vào, đâm móc xác chết mà kéo ra ngoài, còn bọn tôi mọi khác rải cát trên nền nhà cho phường kỹ nữ nhảy múa nhiều điệu phóng đãng. Một người khách dự tiệc tại nhà Flamininus tình cờ nói rằng mình chưa hề thấy ai chết, lập tức chủ truyền giết một tên tôi mọi để làm vui lòng khách.

Thành La-mã là tấm hình chụp đúng chân tướng của cõi đời không tin theo Đức Chúa Trời. Nhiều người theo đạo nầy, đạo khác, nhưng đành chịu mòn mỏi và ngã chết vào cõi đời đời. Sự chán ngán và tuyệt vọng dọn đường cho một tôn giáo mới. Các thần mọc như nấm trên cây mục nát, bầu không khí hóa ra độc địa vì mùi hôi của các đạo đã suy đồi. Ông Diogène so sánh các đạo của dân chúng với sự tắm trong vũng nước dơ bẩn; ông hỏi rằng: "Những kẻ tắm đây sẽ đi đâu mà tắm lại?" Ông Pline lúc còn thanh niên đã thấy lòng tan nát, phải kêu la rằng: "Hãy cho tôi sự yên ủi mới mẻ, thanh tao mà tôi chưa từng nghe đến hoặc đọc đến. Tôi vẫn nhớ mọi điều mình đã nghe hoặc đọc nhưng mối sầu của tôi lớn quá!"

Giữa tình hình đồi bại trên đây, đạo Đấng Christ đã lan tràn đến La-mã, và hàng ngàn môn đồ trung tín của Ngài đã đổ huyết để đồn rộng Tin Lành. Kẻ chết vì Chúa đã toàn thắng kẻ sống vì ma quỉ, nên Tin Lành đã từ thành La-mã truyền khắp thế gian. Tấm gương hi sinh, bác ái và tuận đạo ấy, anh em phải soi chung, thì mới mong cứu vớt thế giới hiện đương lao đao, sầu khổ vì cách xa và quên bỏ Đức Chúa Trời được.

-A. Marshall-

300. CHÚA JÊSUS LÀ NGƯỜI CỦA MUÔN ĐỜI

(Người của muôn đời)

Chẳng có gì sai bằng nói rằng Chúa Jêsus ít hiệp với đời nầy. Ngài vượt xa hơn chúng ta là phái tân thời, đến nỗi chúng ta phải dụi mắt để nhìn xem tư tưởng Ngài sâu xa và cao thượng dường nào. Đức Chúa Jêsus không ở sau ta nhưng ở trước ta.

-L. Rugaz-

Lên đầu trang