101. TRẺ TUỔI CŨNG LÀM ĐƯỢC VIỆC LỚN CHO CHÚA
(Người nhỏ, việc lớn)
Có người thuật rằng ông Mục sư Mổ được sai đến một xứ kia ở một miền tại nước Ấn Độ mà đường lối thật khó khăn đi, để làm phép Báp-têm cho sáu bảy mươi người lớn trước kia thờ lạy hình tượng. Ông mới bắt đầu làm phép Báp-têm, thì trông thấy một cậu chừng 15 tuổi ngồi ở sau lưng mình, trong góc nhà. Ủa lạ, cậu bước tới! Ông Mục sư hỏi rằng:
-Cậu cũng muốn chịu Báp-têm như ông bà nầy sao?
-Thưa ông, vâng.
-Nhưng cậu còn ít tuổi lắm. Nếu tôi làm phép Báp-têm cho cậu, rồi sau cậu vấp ngã và làm sai lạc, thì Hội Thánh sẽ mang tiếng xấu, và công việc Chúa ở đây sẽ bị hư hại. Xin cậu chờ đợi sáu tháng nữa, để tôi có đủ dịp tiện xét cậu có lòng trung tín với Chúa chăng?
Ông vừa nói dứt lời, thì cả đám đông tín đồ đứng dậy, và một người nói rằng:
-Thưa ông, chính cậu nầy đã chỉ bảo cho hết thảy chúng tôi biết về Đức Chúa Jêsus Christ. Ông Mục sư lấy làm lạ quá, bèn vui lòng làm phép Báp-êm cho cậu, rồi khuyên cậu rằng: Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng hãy lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ (ITi-mô-thê 4:12). Hỡi các em yêu dấu, chắc anh em đọc chuyện nầy, thì lấy làm cảm động lắm. Thật có nhiều lần các em tự nghĩ rằng vì mình còn ít tuổi, nên không thể nào làm việc lớn cho Đức Chúa Jêsus Christ được. Các em nghĩ vậy thì lầm và không hiệp ý Chúa. Các em nên luôn luôn nhớ đến cậu con trai trong chuyện nầy, lại phải soi gương của cậu ấy mà hết lòng hầu việc Chúa và dẫn dắt nhiều người đến cùng Ngài.
Gospel Herald
102. MAU TIN NHẬN CỨU CHÚA
(Anh nhận em, em chẳng nhận anh!)
Câu chuyện nầy đã xảy ra ở Sa-đéc, do một người Trung Hoa thuật lại. Có hai anh em kia, vốn là người Việt Nam; lúc còn thơ ấu, thì ở với cha mẹ, anh em gần gũi, yêu mến nhau lắm. Đến khi lớn lên, không biết vì lẽ gì, người em sang qua nước Tàu, nhập tịch dân Trung Quốc. Từ đó anh em phải chia lìa cách biệt, kẻ Việt, người Hoa, hà hải lam sơn vĩnh biệt.
Từ đây, cái kiếp phù sanh sống tạm ở nhờ, còn mong chi anh được gặp em! Song, may thay, mấy năm sau, em đó lại trở về đất Việt, ngụ tại Sa-đéc để lo sinh kế.
Người anh lúc bấy giờ ở Cao Lãnh, nghe tin, quên cả gia đình sự nghiệp, vội vã đi đường bộ xuống Sa-đéc mà nhận em. Anh em gặp nhau ra sao, quý vị độc giả thử tưởng tượng?
Tưởng là mất, hay đâu lại còn, tưởng là vĩnh biệt hay đâu lại gặp gỡ, người anh mừng quá, vì thương nhớ em cảm động đến chảy nước mắt.
Còn em thì sao? Có cảm động lắm không? – Không! Bình an như mồ mả. Than ôi, cái tánh chất bình sanh của người Việt Nam đã đổi mất rồi, chỉ hiện diện là người khách trú buôn bán mà thôi! Y không chịu nhìn nhận anh, thậm chí người anh lấy bức ảnh của em đã chụp khi còn nhỏ để nhận cho chắc, mà y cũng quyết định từ chối, chỉ xưng mình là người Tàu.
Trong thế gian hiện nay cũng vậy. Đấng Tạo Hóa là thân phụ thiêng liêng của chúng ta. Chúng ta sanh ra trong đời, sống động và có đều bởi Ngài, nhờ Ngài; thế mà chúng ta vội chối bỏ Ngài và làm con hư hỏng, đem lòng bội nghịch, đeo đuổi theo cuộc phù thế hư không, xa xí; cầm bán linh hồn cho ma quỷ.
Đức Chúa Trời là Cha nhân lành hay thương xót, đã bằng lòng sai Đức Chúa Jêsus, là Con độc sanh của Ngài, là Anh cả của chúng ta, xuống ở trần gian nầy để tìm kiếm và Cứu chuộc chúng ta khỏi chốn hư mất, đặng hưởng sự sống đời đời (Lu-ca 19:10; ITi-mô-thê 1:15).
Vậy, Chúa Jêsus vốn là Đấng từ trời rất vinh hiển mà đành lòng từ bỏ sự sang trọng đó, xuống thế gian để cứu chúng ta khỏi đường tội lỗi, và chịu nhìn nhận chúng ta là anh em với Ngài, làm con cái của Đức Chúa Trời Chí cao. Đáng cảm động thay!
Quý vị độc giả thân mến! Chúng ta nên hổ thẹn mà từ chối Ngài, hay là vui vẻ mà nhìn nhận Ngài là Cứu Chúa của mình? Nếu ta từ chối Ngài trong đời tạm nầy, thì chắc Ngài cũng sẽ hổ thẹn và từ chối ta trong đời sau.
Chúng ta hãy suy nghĩ, có lẽ Chúa Jêsus đang chảy nước mắt vì cớ nhiều người từ chối Ngài, không nhìn nhận Ngài.
Phước thay cho ai biết tin cậy danh Ngài, vì được Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời (Giăng 1:11-12).
L T.V.
103. ƠN YÊU THƯƠNG KHÔNG HỀ DỨT
(Sẽ gởi thêm...)
Ông Rowland Hill quen thuật truyện nầy: một người giàu và một người nghèo trong chi hội mình. Người giàu muốn làm việc từ thiện, bèn trao cho bạn một món tiền để phát cho người nghèo. Bạn gởi cho người nghèo 45 đồng bạc, cặp theo mấy lời vắn tắt: “Tiền bạc của ông đấy. Ông nên tiêu dùng cho khôn khéo. Sẽ gởi thêm.” Cách đó ít lâu, bạn lại gởi 45 đồng với mấy chữ: “Sẽ gởi thêm.” Từng hồi từng lúc, bạn cứ gởi tiền cho người nghèo và lần nào cũng có mấy tiếng giục lòng hy vọng: “Sẽ gởi thêm.”
Ân điển lạ lùng của Chúa cũng vậy, Ngài “sẽ gởi thêm” luôn.
Moody
104. TRÍU MẾN THIÊN QUỐC VÌ ĐÃ CÓ THÂN NHÂN Ở ĐÓ
(Em đã qua sông)
Một Mục sư có con mới qua đời, nên mời một Mục sư khác giảng thay mình buổi sáng Chúa Nhật. Đương khi giảng, ông này nói rằng:
-Tôi ỡ bờ sông bên nầy, và có ít cảm tình với cư dân ở bờ sông bên kia. Nhưng về sau, con gái tôi lấy chồng và dọn nhà sang ở thành phố trên bờ bên ấy. Vậy, mỗi buổi sáng, tôi đứng nơi cửa sổ, nhìn qua sông và nảy ra rất nhiều cảm tình đối với thành phố và cư dân ở thành phố bên ấy...
-Bây giờ em bé, con của bạn tôi, tạm từ giã đời nầy, qua sông Sự chết mà vào ở Thiên đàng là nơi vui vẻ, bình an, hạnh phước vô cùng. Vì thương nhớ con, nên bạn tôi sẽ nhìn xem Thiên đàng là nơi con đang ở, và bởi đó sẽ yêu quý thiên đàng hơn trước. Vậy, ta thấy ý chỉ của Chúa là trọn vẹn thay!
Moody
105. GIẢNG VỀ THẬP TỰ GIÁ CHÚA ẮT CÓ QUYỀN NĂNG
(Đạo lý hay là luân lý?)
Hồi ông Moody đến nước Pháp, có một Mục sư trẻ tuổi đến chất vấn ông rằng:
-Thưa ông, tại sao ông giảng đạo rất có quyền và được danh tiếng lẫy lừng, còn tôi thì không?
Ông Moody trả lời:
-Trước khi muốn biết sự khác nhau đó, xin ông hãy cho tôi biết ông truyền giảng sự gì?
-Thưa ông, khi giảng, ông quá chú trọng về sự chết của Đức Chúa Jêsus, còn tôi thì ít giảng về điều ấy. Tôi chỉ giảng về đời sống của Ngài mà thôi.
-Ông nghĩ thế nào về câu Kinh Thánh nầy: “Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ” (IPhi-e-rơ 2:23)?
-Tôi chẳng hề biết sự ấy.
-À, còn câu nầy, ông tính sao? “Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt Ngài chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi Ngài chúng ta được lành bịnh” (Ê-sai 53:5)?
-Tôi cũng chẳng hề giảng điều ấy.
-Thật vậy à? Thế còn câu nầy ông bảo làm sao? “Không đổ huyết thì không có sự tha thứ” (Hê-bơ-rơ 9:22).
-Ồ, tôi chẳng khi nào nói đến việc như thế. Tôi côt giảng về luân lý của đời.
-Bạn ơi, nếu ông trừ bỏ huyết của Đấng Christ ra khỏi Kinh Thánh, thì Kinh Thánh sẽ còn chi? Đạo lý chẳng phải là luân lý đâu.
-Đối với tôi, thì khoa thần đạo chẳng qua là một nền luân lý cao siêu.
Bấy giờ ông Moody nghiêm nghị nói rằng:
-Tôi xin khuyên ông hãy từ chức Mục sư ngay. Ông đã được Chúa kêu gọi đi giảng Tin Lành, tại sao ông chỉ lo giảng về luân lý? Nếu Lời Kinh Thánh là giả dối thì thôi, ông đừng giảng làm chi nữa, hãy tìm cách chống trả và đánh đổ sự sai lầm dối trá của Kinh Thánh như hạng người kia đã làm. Nhưng nếu Tin Lành là chân chánh, nếu Đức Chúa Jêsus Christ đã thật lìa ngôi trời, xuống thế gian, chịu đổ huyết để cứu vớt kẻ có tội, thì ông ơi, tại sao ông nỡ bỏ qua mà giảng một điều khác, tức là luân lý của đời? Luân lý của đời không hề cứu được người ta. Đó là điểm khác nhau trong sự giảng dạy của tôi và của ông. Chính tại đó mà sự giảng của tôi có quyền, còn sự giảng của ông thì thiếu quyền.
N.T.L.
106. BỔN TÍNH GHÉT NGƯỜI
(Giết tánh ghét nhau)
Có hai người buôn bán cạnh tranh nhau kịch liệt và rất ghét nhau. Một người trở lại đạo, đến nói với Mục sư rằng:
-Tôi còn ghét người kia, và không biết làm thế nào để thắng tánh xấu đó.
Mục sư đáp:
-Nầy, nếu ai vào tiệm ông mua hàng mà ông không có sẵn, thì ông nên bảo họ qua tiệm kẻ tình địch mình.
-Tôi không thích làm như thế.
-Ông nên làm như vậy, ắt sẽ giết được tánh ghen ghét.
-Tôi sẽ thử coi.
Từ đó, hễ ai vào tiệm ông mua hàng mà ông không có sẵn thì ông liền bảo họ qua tiệm kẻ kình địch mình mà mua. Cách ít lâu người kia cũng bắt đầu đưa khách qua tiệm ông, thành thử vết thương lành lặn.
Moody
107. ÍT TIỀN NHƯNG CŨNG PHẢI DÂNG CHO CHÚA.
(Góp gió thành bão)
Suốt một mùa hạ, con ong chỉ chế được một thìa (muỗng) mật. Nhưng có khi một tổ ong chứa hơn 30 cân mật. Vậy ta không nên vin cớ ít ỏi mà chẳng chịu dâng tiền hầu việc Chúa. Nhiều người nghèo dâng ít, hiệp thành một món tiền to. Chớ quên rằng ong phải phó mạng sống để chế mật. “Đức Chúa Trời yêu kẻ dâng của cách vui lòng” (IICô-rinh-tô 9:7).
James Smith.
108. CẦN QUYỀN NĂNG HƠN TÀI NĂNG
(Ta cần có gì?)
Ngày nay, Đức Thánh Linh cũng có thể khiến lời giảng sanh ra hiệu quả như trong đời các Sứ đồ. Ngài có thể cứu hàng trăm, hàng ngàn người, cũng như cứu từng người một. Ta không được kết quả mỹ mãn vì thiếu quyền phép của Đức Thánh Linh đã bày tỏ trong Hội thánh đầu tiên. Nếu Đức Thánh Linh đóng ấn cho chức vụ ta bằng quyền phép của Ngài, thì trình độ tài học của ta không quan trọng lắm.
Có lẽ sứ giả của Chúa nghèo túng, vô học, nói sai mẹo và không lưu loát, đến nỗi người ta chẳng được nghe văn chương cao kỳ hoặc lời biện bác hùng hồn như của các tay đại diễn giả; nhưng nếu có quyền phép của Đức Thánh Linh, thì bài giảng của viên Truyền đạo thấp kém hơn hết sẽ có hiệu quả hơn bài giảng của các nhà Truyền đạo hùng hồn bậc nhất và của các ông Thần khoa Tấn sĩ trứ danh.
Cốt ở ân tứ lạ lùng, chớ tài năng không quan trọng lắm. Ta cần có quyền phép thiêng liêng lạ lùng hơn là cần có trí thông minh lạ lùng. Người giảng có thể đầy dẫy năng lực của trí khôn, nhưng Hội thánh phải được đầy dẫy quyền phép thiêng liêng. Cần có trí thông minh để sắp đặt Hội thánh, song chỉ có quyền phép thiêng liêng cứu vớt được linh hồn người ta. Vậy, ta há chẳng cần có quyền phép thiêng liêng lắm sao?
Tôi biết nhiều người tài trí hơn tôi bội phần, nhưng chẳng có một chút quyền thiêng nào hết. Đương khi giảng dạy, họ không có Đức Thánh Linh ở với mình.
Trái lại, tôi quen nhiều người khác có lòng đơn sơ, có giá trị, không nói cáo kỳ, song mỗi lời mỗi được đóng ấn bởi Thánh Linh Đức Chúa Trời. Nghe họ giảng, nhiều tấm lòng tan chảy, nhiều linh hồn được cứu rỗi... nhiều tội nhân được tái sanh.
Lạy Thánh Linh của Đức Chúa Trời hằng sống, chúng tôi cần có Ngài! Ngài là sự sống, linh hồn và nguồn thành công của dân Đức Chúa Trời. Không có Ngài, chúng tôi không làm chi được. Có Ngài, chúng tôi làm được mọi sự. “Lời nói và sự giảng dạy của tôi chẳng phải bằng lời dỗ dành do sự khôn ngoan loài người, nhưng bằng sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép” (ICô-rinh-tô 2:4).
C.H. Spurgeon
109. CẦN GHI VÀO TÂM TƯ SỰ HIỂU BIẾT VÀ KÍNH SỢ CHÚA
(Bia nào không mòn?)
Nếu ta ghi khắc điều gì vào đồng, vào đá, thì thời gian sẽ xóa nhòa; nếu ta xây cất đền thờ thì thời gian sẽ làm cho đổ nát. Nhưng nếu ta ghi khắc vào tâm trí bất tử của người đời những nguyên tắc trọn vẹn cùng sự kính sợ Đức Chúa Trời và yêu thương đồng loại, thì tức là ghi khắc trên tâm trí đó những điều sẽ sáng chói đời đời.
Daniel Webster
110. NƯỚC ĐÃ KHÁT ĐỜI ĐỜI
(Cho tôi uống! Cho tôi uống!)
Sau một trận đánh kịch liệt, tôi đi xuống sông Tennessée, nước Mỹ, với một toán lính bị thương. Nước sông không trong trẻo. Trong xứ nóng, kẻ bị thương kêu la luôn miệng.
Cho nước uống! Cho nước uống! Tôi có múc một ly nước đục cho một người. Dầu khát khô cổ, người ấy cũng chỉ uống một hớp, rồi nói rằng:
-Ôi! Ước gì tôi được một ngụm nước của giếng nhà Cha tôi!
Có ai khát chăng? Hãy đến uống nơi suối đã văng ra từ lòng Đấng Christ.
Moody
111. TƯ CÁCH XẤU LÀM THẸN DANH TỐT CỦA CHÚA
(Giống tên, khác nết)
Ngày xưa, trong đạo binh của vua Alexandre Le Grand có một tên lính trùng danh với vua, song ăn ở bậy bạ lắm. Vua gọi hắn đến, dạy rằng: “Ngươi khá sửa nết, bằng không, hãy đổi tên đi.” Tín đồ Đấng Christ chẳng nên làm thẹn danh tốt đẹp quý báu của Ngài. (Gia-cơ 2:7)
Le Réveil
112. DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRÊN THÁNH ĐỊA
(Nhìn qua đất hứa)
Gần 80% dân cư Pa-lét-tin theo Hồi giáo, chừng 10% tin Đức Chúa Jêsus và hơn 10% theo đạo Giu-đa. Tổng cộng có 80 vạn người sống trên dải đất từ bắc đến nam, đo được chừng 140 cây số, từ đông qua tây chừng 80 cây số. Tinh thần của 12 chi phái vẫn còn; người theo đạo Giu-đa và người theo Hồi giáo gần như chia ra làm hai nước nhỏ.
The Leader
113. Ý NGHĨA, MỤC ĐÍCH VỀ SỰ GIÁNG SANH CỦA CHÚA
(Kinh Thánh chép gì về sự Đức Chúa Jêsus giáng sanh)
Kinh Thánh vốn làm chứng chắc chắn về sự sống, sự chết, sự sống lại, sự thăng thiên và tái lâm cùng công việc và sự cứu chuộc của dcj. Kinh Thánh chép rõ từng điều, nay tôi chỉ chọn những câu nói về sự giáng sanh của Ngài để chúng ta cùng xem mà suy gẫm, hầu cho lòng kính mến và yêu thương Chúa sẽ mặn mà hơn.
Kinh Thánh dự ngôn rằng Ngài sẽ sanh ra bởi một người nữ đồng trinh (Ê-sai 7:14; Ma-thi-ơ 1:23). Ngài là Đức Chúa Trời ở cùng loài người, thật Ngài là Đấng khiêm nhường dường nào!
Kinh Thánh dự ngôn rằng Ngài sẽ là con trai ban cho chúng ta (Ê-sai 9:5). Ngài là lẽ thật quý báu của Đức Chúa Trời ban cho loài người. Còn gì quý báu hơn nữa?
Kinh Thánh chép về nơi Ngài giáng sanh (Mi-chê 5:1-2). Bết-lê-hem nghĩa là “Nhà lương thực”. Ai bằng lòng làm thành nhỏ Bết-lê-hem thì Ngài chịu ngự vào.
Kinh Thánh chép mục đích Ngài giáng sanh là để “Cứu dân mình ra khỏi tội” (Ma-thi-ơ 1:21)
Kinh Thánh chép Ngài bởi Thần linh cảm mà sanh ra (Lu-ca 1:35; Ma-thi-ơ 1;20), khác hẳn với sự sanh của loài người.
Kinh Thánh chép sự giáng sanh của Ngài là lạ lùng (ITi-mô-thê 3:16).
Kinh Thánh chép Ngài giáng sanh bởi sự yêu thương lớn lao của Đức Chúa Trời (Giăng 3:16)
Kinh Thánh chép Ngài giáng sanh để giữ luật pháp thay cho loài người (Ga-la-ti 4:4). Chúng ta ở trong Ngài sẽ không còn sợ luật pháp lên án nữa, vì Ngài đã làm trọn.
Kinh Thánh chép Ngài giáng sanh để tỏ Đức Chúa Trời ra cho loài người thấy (Giăng 1:14,18).
Kinh Thánh chép Ngài giáng sanh để lấy lẽ thật dạy dỗ loài người (Hê-bơ-rơ 1:2-3). Chính Ngài là lẽ thật (Giăng 14:6).
Kinh Thánh chép Ngài giáng sanh để từng trải như loài người (Hê-bơ-rơ 4:15).
Kinh Thánh chép Ngài giáng sanh để phá diệt quyền của sự chết và ma quỉ (Hê-bơ-rơ 2:14-15)
Kinh Thánh chép Ngài giáng sanh để làm cho loài người được trở nên thánh sạch như Ngài (Hê-bơ-rơ 2:11). Nhờ Ngài, ta từ bậc thấp hèn được đến nơi cao thượng.
Kinh Thánh chép Ngài giáng sanh để làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời là cứu loài người chìm đắm trong tội lỗi (Hê-bơ-rơ 10:5,7,12).
H.M.Y.
114. LÒNG VUI MỪNG DO TIN NHẬN CHÚA JÊSUS
(Vị thuốc sanh lòng vui mừng)
Trong thế gian nầy có nhiều vị thuốc lắm. Vài vị không có mùi gì, vài vị có mùi thơm tho dễ chịu; nhưng phần nhiều có mùi khó chịu và khó uống, nên các em không thích. Có lẽ khi đau ốm mà phải uống thuốc, thì các em ngửi, nếm thử một chút, rồi cuối cùng mẹ phải cố ép các em uống cạn.
Trong các em có ai thích cho người khác uống thuốc không? –“Tôi không thích đâu!” Các em hẳn vội trả lời. Nhưng hãy chờ đợi một chút. Có một vị thuốc tốt, tốt nhứt thế gian, tôi rất mong các em cho tôi uống vị thuốc ấy luôn. Trong Kinh Thánh có một ông vua rất khôn ngoan nói cho chúng ta biết vị thuốc ấy: “Lòng vui mừng vốn một phương thuốc hay” (Châm-ngôn 17:22).
Phần nhiều chúng ta đã thấy người Trung Hoa ngâm rắn, thằn lằn và một vài loài sâu bọ khác để làm thuốc. Có lẽ các em phải rùng mình ghê sợ khi thấy họ mở bình, rút ra những con rắn dài lòng thòng và đen nhánh, giơ cho mọi người xem. Nhiều vị thuốc khác lại chế bằng lá và rễ cây.
Bây giờ em nào có thể nói cho tôi biết vị thuốc sanh “Lòng vui mừng” từ đâu mà ra? – “Từ Đức Chúa Jêsus!” Phải, các em nói đúng lắm. Khi nào ta nhận Đức Chúa Jêsus làm Cứu Chúa và để Ngài rửa sạch tội lỗi của mình, thì ta mới có lòng vui mừng.
Ai cũng cần uống vị thuốc ấy. Nó không đắng hoặc khó chịu như mấy vị thuốc nầy (chỉ vào lọ thuốc), cho nên mặt mày chúng ta hớn hở, sung sướng, vá mắt chúng ta sáng ngời vì vui vẻ. Chúng ta thường hay hát bài gì thế?
...Ngài dạy tôi canh và cứ cầu nguyện,
Và lòng kính khen vì ân điển.
Ngày vui vẻ, ngày vui vẻ!
Khi Jêsus rửa lòng tôi sạch sẽ (Thánh ca 27).
Ai muốn làm thầy thuốc thì phải học hành khó nhọc lâu năm, nhưng nếu chúng ta có tấm lòng vui mừng thì có thể làm thầy thuốc ngay lập tức. Khi gặp ai bối rối, buồn bực, ta có thể cho họ uống một ít thuốc bởi nói cho họ biết “ngày vui vẻ khi Jêsus rửa lòng tôi sạch sẽ”, và nói cho họ biết rằng nếu tiếp nhận Ngài thì họ cũng hưởng được cái ngày vui vẻ không bao giờ hết.
Cái vị thuốc trong mấy lọ nầy không chữa khỏi bịnh luôn đâu. Ở đời có biết bao nhiêu vị thuốc, thế mà người ta vẫn chết. Nhưng nếu chúng ta phát vị thuốc của tấm lòng vui mừng và đầy dẫy sự yêu thương của Đức Chúa Jêsus thì dám chắc kẻ uống thuốc ấy sẽ được cứu chuộc khỏi tội lỗi và không hề bị hư mất (Rô-ma 10:13).
Chính ngày hôm nay, các em hãy bắt đầu phát vị thuốc ấy cho mỗi người mình gặp. Bây giờ xin các em hát bài Thánh ca số 27 “Ngày vui mừng”.
N.M. Cressman
115. ĐỪNG CƯ XỬ NHƯ KHÔNG CÓ CHA THIÊN THƯỢNG
(Có cha mà không biết)
Đương lúc giảng trong nhà nuôi trẻ mồ côi, một ông Mục sư nói:
-Những em nào không có cha, xin giơ tay lên. Hàng rừng tay lập tức giơ lên.
-Vậy thì các em chứng nhận rằng mình không có cha à?
-Thưa ông, vâng.
Các em biết bài cầu nguyện Chúa chăng? Xin đọc cho tôi nghe thử. Chúng bắt đầu đọc “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời...” (Ma-thi-ơ 6:9).
-Thôi. Các em đọc đúng không?
-Chúng đọc lại “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời...”
-Thôi. Nầy, các em đọc “Lạy Cha chúng tôi.” Vậy chắc các em có một Cha nhơn lành, giàu sang chớ?
Hỡi anh em; có khi nào anh em ăn ở dường như mình không có một Cha Thiên thượng, Toàn năng, Toàn ái và Toàn thiện chăng?
T.K.B.
116. CẦN PHẢI MỀM DỊU
(Mềm thắng cứng)
Nghe vậy, ai cũng cho là lập dị, nhưng thật có như thế. Dòng nước cứ chảy qua đá cứng hơn hết, thì đá sẽ theo thời gian mà mòn đi. Tỉ như sông Colorado bên Mỹ, chảy qua nhiều miền có núi đá màu đẹp đẽ, nên lòng sông càng sâu vì đá cứ mòn. Kim cương là khoáng vật cứng nhứt, đến nỗi xưa nay chỉ có kim cương cắt và mài được kim cương. Nhưng mới đây, khoa học phát minh rằng bánh xe bằng chất Carborundum (không cứng như kim cương) quay tít dưới mặt nước có thể cắt và mài kim cương rất dễ dàng. Cao su mềm dễ uốn, bền hơn sắt bội phần, tỉ như gót giày bằng cao su bền hơn gót giày bằng sắt. Nếu vỏ bánh xe hơi bằng sắt, thì chóng bị hư hỏng và cọ mòn. Nhờ cao su, cuộc vận tải bằng xe hơi đã trổi hơn cuộc vận tải bằng xe lửa. Bởi vậy, hiện nay bên Âu Mỹ, người ta bắt đầu dùng cao su bọc bánh xe lửa để được mềm và êm hơn. Mềm thắng cứng!
Mềm thắng cứng, đó cũng là một chân lý thích đáng với cuộc đời của chúng ta! Một Mục sư nói rằng: “Tôi thắng nhiều trận bởi hàng phục.” Ấy nghĩa là ông ăn ở nhơn ái, nhu mì, thậm chí nhường những đặc quyền mình được hưởng, nên thắng được thái độ ương ngạnh của kẻ thù địch, đến nỗi họ phải hổ thẹn vì đã nói năng xẳng xớm và cư xử hèn mạt. Ngày xưa, khi gặp cơn bắt bớ, Đức Chúa Jêsus có thể gọi hết các đạo thiên sứ đến hủy diệt kẻ thù nghịch, nhưng Ngài đã vui lòng hàng phục và chết trên thập tự giá. Đương khi chịu thảm hình. Ngài cất tiếng thiết tha cầu nguyện “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (Lu-ca 23:34). Cao thượng thay! Nào ai tả xiết? Nhờ đó, Ngài toàn thắng và được vô số linh hồn.
117. ĐƯỜNG THẬP TỰ GIÁ LÀ ĐƯỜNG ĐẮC THẮNG
(Đường xuống tức là đường lên)
Sa-lô-môn nói: “Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận” (Châm-ngôn 15:1). Muốn thắng, ta phải vui lòng chịu khổ, hàng phục và để tánh nhu mì, khiêm nhường của Đấng Christ cai trị tâm hồn mình. Chớ ôm mối ghen ghét, căm hờn, nhưng hãy mềm mại và tha thứ, thì anh em có thể đồng thinh với Đa-vít mà rằng: “Sự hiền từ Chúa đã làm tôi nên sang trọng” (Thi-thiên 18:35). Dưới đời luật pháp, thì mắt đền mắt, răng đền răng. Nhưng, đã mang danh hiệu tốt đẹp của Đấng Christ, ta phải lấy lành trả dữ, hầu cho kẻ thù nghịch ăn năn. Thập tự giá oanh liệt hơn cây gươm. Yêu thương thắng ghen ghét, khiêm nhường thắng kiêu ngạo. Kẻ thất bại sẽ là kẻ đắc thắng. Hỡi anh em yêu dấu, hãy đi đường thập tự, đường khiêm nhường và đầu phục. Mềm thắng cứng!
T.K.B.
118. DÂNG MÌNH VÌ ĐƯỢC BUÔNG THA
(Vì được buông tha)
Một người tôi mọi phải từ giã vợ con, và bị đem ra chợ bán. Ông chủ mới nói với hắn rằng: “Tôi đã bỏ giá cao để mua anh và buông tha anh.” Hắn bèn đáp: “Chủ đã buông tha tôi, vậy tôi xin suốt đời làm tôi mọi cho chủ.”
Đấng Christ đã trả giá rất cao, là huyết vô tội của Ngài, để cứu ta khỏi ách tội lỗi. Vậy, ta nên dâng trọn đời làm tôi mọi cho Ngài.
T.A.W.
119. KHÁ KHOE MÌNH TRONG HOẠN NẠN
(Dấu hiệu nên thánh)
Con cái Đức Chúa Trời ví như ngôi sao sáng láng hơn hết trong đêm tối tăm hơn hết; như trái nho nếu chưa bị ép thì chưa tỏ ra ngọt dường nào; như cây càng bị bão tố lung lay thì đâm rễ càng sâu và bám đất càng chặt; như cây nhỏ càng bị tỉa sửa thì càng lớn lên; như trầm hương càng bị đốt cháy thì càng thơm. “Chúng ta cũng khoe mình trong hoạn nạn nữa, vì biết hoạn nạn sanh sự nhịnh nhục.”
T.K.B.
120. KINH THÁNH LÀ ĐỊA BÀN CHO ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
(Địa bàn của linh hồn)
Một cậu con trai ở thôn quê phải từ giã Trường Chúa Nhựt và bạn bè để ra chốn đô thị làm ăn. Một người bạn đã tin Đấng Christ cùng đi với cậu đến chỗ chia tay hai ngã. Bạn dịu dàng nói với cậu rằng: “Nầy anh, hãy nhớ rằng anh sắp thả tàu xuống một biển rộng nguy hiểm.” Cậu đáp: “Phải, tôi biết vậy.” Đoạn, cậu móc túi lấy cuốn Kinh Thánh, giơ cao lên mà nói tiếp “Nhưng tôi sẽ nhờ cái địa bàn đúng đắn nầy mà cầm vững tay lái”.
Kim chỉ nam của Ti-mô-thê vẫn là kim chỉ nam của bạn thanh niên (IITi-mô-thê 3:15).
Sunlight for the young
121. AI CHỐI ÂN ĐIỂN CỦA CỨU CHÚA ẮT PHẢI CHẾT ĐỜI ĐỜI
(Được ân xá nhưng không chịu nhận lãnh)
Năm 1829, George Wilson bị kết án xử giảo vì ăn cướp và giết người. Tổng thống Andrew Jackson ký sắc lệnh ân xá cho hắn. Nhưng hắn không chịu lãnh, và quả quyết rằng đã không chịu thì sắc lệnh ấy ra vô dụng. Luật nước chưa hề nói tới trường hợp đó, nên Tổng thống xin Thượng thẩm pháp viện giải quyết. Tòa đáp rằng: “Wilson cứng cổ không chịu nhận ơn, thì cứ việc xử giảo hắn đi”. Vậy, hắn bị hành hình.
Đấng Christ có quyền tha tội và cứu vớt mọi người, không cứ họ là ai hoặc làm gì. Muốn được như vậy, họ phải tin nhận ơn lớn của Ngài. “Đức Chúa Trời có lòng nhơn từ hay thương xót” (IISử-ký 30:9).
S.S Times
122. VUI MỪNG VÌ CON ĐƯỢC CỨU SỐNG
(Dũng cảm hay tình mẫu tử)
Bên nước Thụy Sĩ, có vợ một anh nông phu nghèo khó sanh được một đứa con trai ngộ nghĩnh. Nhằm mùa gặt, bà muốn đi làm giúp chồng đôi chút, bèn lấy mền bọc con cẩn thận, đặt ở một chỗ kín đáo bên bờ ruộng, rồi đi cắt lúa. Thỉnh thoảng bà đưa mắt ngó chừng cái “kho tàng” yêu quí. Sau vì mải làm, nên bà quên con.
Đương khi ấy, có một con chim phụng hoàng to lớn bay liệng trên không, thèm cái mồi ngon, tức là cậu bé. Mau như chớp, nó sà xuống, giơ vấu cắp mồi và bay đi. Tiếng kêu ghê gớm của một người thợ gặt làm cho ai nấy giựt mình. Bà mẹ hốt hoảng chạy theo chim để cứu con.
Ổ chim phụng hoàng ở trên chót núi gần đó. Bà chạy bừa vào con đường hẹp có gai đâm vào chơn tay bà đau lắm. Hết đường nầy, bà phải liều mình bò theo dốc núi, lên đến ổ chim. Chim gần “dự bữa tiệc ngon” thì bà xông đến, đánh nhau với nó, và giựt lại cậu con yêu quí vẫn ngủ yên vì chẳng biết mình gần phải chết, khi đem con về đến nhà, ai nấy ngợi khen bà, song bà chỉ cười và nói: “Hãy chung vui với tôi, vì con tôi đã mất mà nay tìm lại được.”
Le Relèvement
123. PHẢI THÁNH SẠCH
(Vĩnh biệt tội lỗi)
“Ai ở trong Ngài thì không phạm tội” (IGiăng 3:6)
Khi ta được nên thánh, bổn tánh cũ hóa ra thế nào? Có nhiều người quá lo cho biết có thể giết cho nó chết chăng, và dường như ước ao được giấy chứng chỉ rằng nó đã chết và bị chôn rồi. Nhưng biết rằng nó ở ngoài và Đấng Christ ở trong thế là đủ. Có lẽ nó lại tỏ mặt, thậm chí cũng gõ cửa và nài nỉ xin vào. Nhưng đương khi chúng ta ở trong Đấng Christ, thì nó vẫn ở ngoài.
Nếu ta bước ra ngoài Đấng Christ và bước vào tội lỗi, thì ta có cơ gặp cái xác cũ rích ở trong nghĩa địa ghê sợ, và mùi hôi dơ dáy của nó lại có thể bốc lên cùng bao bọc chúng ta. Nhưng ai ở trong Ngài thì không phạm tội, và cũng không thể nào phạm tội.
Vậy, chúng ta hãy ở trong Đấng Christ, và chớ ước ao vượt khỏi thành lũy “Cẩn trọng đời đời” và “cư trú mãi mãi”. Đường lối chúng ta đã khai quan rồi, sức lực để noi theo đường lối ấy cũng đã sẵn rồi, chúng ta khá đi đường lối ấy. Đức Chúa Trời đã dự bị cho chúng ta một địa vị nên thánh đầy trọn. Ngài ban cho chúng ta chính sự thánh khiết của Ngài, rồi mới đòi chúng ta nên thánh, và buộc chúng ta ăn ở thánh khiết cũng như chính mình Ngài là thánh khiết nào có lạ lùng gì đâu?
Thế thì chúng ta hãy mặc y phục tốt đẹp và trắng trẻo để được sẵn sàng cùng đi với Ngài!
A.B. Simpson
124. PHƯỚC HẠNH DO ĐẠO ÂN ĐIỂN CHÚA
(Phương cứu người hèn yếu)
Đấng Christ đã đến một thế giới thành nhơn, tại đó con trẻ mất sản nghiệp; đã đến thế giới của đờn ông, tại đó đàn bà mất sản nghiệp; đẵ đến một thế giới thờ lạy Ma môn, tại đó kẻ yếu nghèo và bị ức hiếp và kẻ giàu bị mất linh hồn. Tin Lành về sự yêu thương và ân điển của Đấng Christ được rao giảng về sự tiếp nhận ở nơi nào, thì con trẻ được lại sản nghiệp, đờn bà được giải phóng, và của cải được dâng cho Đức Chúa Trời để làm những công việc tốt lành.
Thế gian và bổn tánh của nó vẫn không thay đổi. Vẫn có “sự mê tham của xáx thịt, mê tham của mắt và sự kiêu ngạo của đời” (IGiăng 2:16). Tội lỗi khắp thế giới gồm trong ba điều nầy: tình dục, tiền bạc và bổn ngã.
T.K.B.
125. Ở ĐIỂM NÀO CŨNG CÓ THỂ ĐƯỢC CỨU
(Được tái sanh trong chuồng ngụa)
Nhơn đến thăm thành Luân Đôn, ông giáo sĩ kia vào một chuồng ngựa và nói cho gã cởi ngựa đua biết về ơn cứu rỗi. Gã nầy nói rằng: “Đây không phải là một nơi nói chuyện về đạo.”
-Ồ, không phải nói chuyện đâu! Chỗ nầy là khởi đầu chuyện đó, chớ không phải nơi cùng tận. Vì đạo Tin Lành bắt đầu từ một cái chuồng, Đấng Christ giáng sanh trong cái chuồng, và chính anh có thể được sanh lại trong chuồng nầy.
Đoạn, ông cứ nói về Đức Chúa Jêsus, đến nỗi gã tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình.
Christian Herald
126. SỰ GIÁNG SANH CỦA CHÚA LÀ CẦN YẾU CHO NHÂN LOẠI
(Nếu ta không đến)
TINH THẦN run sợ, lòng dạ buồn thảm, từng trời trở nên tối tăm như lúc nửa đêm. Tiếng rên siết thất vọng vang dậy suốt các thời đại dai dẳng của lịch sử nhân loại.
NẾU ĐẤNG CHRIST KHÔNG ĐẾN! Lạy Đức Chúa Trời ở trên trời, tôi thấy chi? Hãy hạ màn (bức sáo) che khuất cuộc đời người để mặt trời đừng rọi vào. Hãy nhắm mắt để khỏi thấy nhân loại hư mất. Hãy gắng sức quên một loài không có Đức Chúa Trời, không có hy vọng trong thế gian, một loài đã sa xuống dưới trình độ thú vật và vẫn càu nhàu cắn xé lẫn nhau, một loài không còn cảm biết sức kích thích của sự thuần khiết, trong sạch, danh dự, nhơn từ, yêu thương và chơn lý, - một loài chỉ biết “công lệ của thú riêng”, tức là hơn thì sống, kém thì chết.
NẾU ĐẤNG CHRIST KHÔNG ĐẾN! Hãy bịt tai, kẻo phải nghe tiếng kêu la kinh khiếp của muôn vàn con trẻ sanh ra trong một thế giới chỉ biết các chủ nghĩa của địa ngục; những con trẻ ấy sẽ không hề được sự gì may mắn, sẽ không hề nghe nói về lễ Giáng sanh, hoặc nghe thuật sự tích Giáng sanh, là truyện bùi tai nhất thế giới, hoặc bập bẹ hát bài thơ thánh Giáng sanh. Ức triệu con trẻ chết oan đi lũ lượt trước mặt chúng ta kia sẽ dừng lại được chăng? Không, chúng nó cứ đi, đi mãi. Con trẻ chết oan của mọi thời đại sẽ rên siết mãi mãi, vì đã chịu khốn khổ suốt đời.
NẾU ĐẤNG CHRIST KHÔNG ĐẾN! Tôi thấy thành Mô-lóc được tôn làm vua cả thế giới. Đâu cũng có sự tử vong, đổ nát và hoang vu. Tôi thấy một thế giới đầy dẫy ghen ghét, một thế giới không được tia sáng yêu thương và nhân từ nào cứu vớt, một thế giới có chiến tranh không dứt, tại đó người ta hung hăng cắn xé đồng loại cho đến khi loài người bị trừ sạch khỏi mặt địa cầu.
NẾU ĐẤNG CHRIST KHÔNG ĐẾN! Lạy Đức Chúa Trời! Ghê gớm thay, buồn thảm thay, tôi thấy một thế giới có toàn những bài ca ghen ghét, một thế giới nhọc nhằn, thất vọng, kinh khiếp của loài người đã trở nên như máy móc, cứ làm lụng cho hao mòn linh hồn, thân thể mà chẳng có hy vọng gì, cứ chạy nhào tới nơi bị đoán phạt đời đời.
NẾU ĐẤNG CHRIST KHÔNG ĐẾN! Mồ mả lặng thinh; các từng trời đen ngòm vì cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; cái đuôi gớm ghiếc, xấu xa của con rắn sẽ ngoe ngoảy khắp nơi; tiếng rên siết của loài người thất vọng sẽ vang dậy bên tai ta; ma quỷ và địa ngục sẽ hớn hở, vui mừng; còn sự khốn khổ của loài người sẽ làm nát lòng ta.
NẾU ĐẤNG CHRIST KHÔNG ĐẾN! Nguyện ý tưởng kinh khiếp đó tiêu mất! Hãy nhắm mắt, đừng xem những sự ở trên kia nữa, hay mở toang cửa sổ, hãy cuốn mành lên để ánh sáng mặt trời rọi vào.
ĐẤNG CHRIST ĐÃ ĐẾN! Có ánh sáng, có tiếng cười cùng sự vui mừng, bình an trong lòng ức triệu người đàn ông, đàn bà mà Ngài đã cứu chuộc. Điệu nhạc thiên thượng chứa chan linh hồn họ. Họ uống no nơi dòng sông của Đức Chúa Trời đã phô bày tại thành Bết-lê-hem, đã văng ra từ mồ mả trống và đương chảy khắp địa cầu.
ĐẤNG CHRIST ĐÃ ĐẾN! Dùng đạo Tin Lành mà giải tỏ sự sống không hề chết. Sự bình an và nhơn ái là bài hát dọn đường cho Ngài giáng sanh giữa loài người. Quả thật, hết thảy muôn vật chưa phục quyền Ngài, song theo các lời Đấng tiên tri thì chẳng bao lâu Ngài sẽ lập sự công bình trên đất và ban sự bình an đến tận đầu cùng thế gian.
Hỡi những kẻ bối rối, lo lắng, hỡi những ông bà đương khom lưng dưới gánh nặng tội khiên, ngày nay hãy đến thành Bết-lê-hem mà xem Con trẻ sanh ra làm Cứu Chúa của loài người, của các ông bà cũng như của tôi, và của mọi người tin cậy Ngài! Hỡi các nước thế gian vẫn luống công tìm kiếm sự hòa bình trong các hội nghị và điều ước. – Hãy đến thành Bết-lê-hem mà xem Con trẻ sanh ra làm Vua trên các vua, làm Chúa trên các chúa, làm Đấng mà vạn quốc vẫn ước mong, và làm Chúa Hòa bình.
Ev. Christian
127. ĐẤNG CHRIST LÀ “MỌI SỰ TRONG MỌI SỰ”
(Ai hiểu thấu được)
Đấng Christ là ngọc châu hiếm có, nhưng ít có người biết giá trị của Ngài. Ngài là Mặt Trời chói lòa luôn, nhưng ít người thấy sự vinh quang của Ngài, hoặc cố đi trong ánh sáng của Ngài. Ngài là khu vườn nhan nhản những hoa thơm quả ngọt, là tổ ong tràn trề mật, là mặt trời chẳng có một chấm đen nào, là ngôi sao sáng láng luôn, là cây hường trổ bông mãi, là cái nền không hề suy sụp, là người dẫn lối không hề lầm lạc và là bạn hữu không hề lìa bỏ ta.
Chẳng tâm trí nào có thể dò thấu sự vinh hiển, tốt đẹp và giá trị của Ngài. Chẳng miệng lưỡi nào có thể tuyên bố hết tình yêu thương của Ngài. Có chép về Ngài rằng: “Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy” (Giăng 7:46), và rằng: “Ngài làm mọi việc được tốt lành” (Mác 7:37).
Ngài là gốc mọi việc thiện hiền, là nguồn mọi điều tối hảo, là gương trọn lành, là ánh sáng thiêng liêng, là kỳ quan hệ nhứt của thế giới, là công trình tuyệt tác của muôn đời, là sự vinh hiển của cõi vĩnh viễn, là tuyệt điểm của sự hạnh phúc, và là đường vĩnh sanh. Phải, NGÀI LÀ MỌI SỰ TRONG MỌI SỰ. Sa-lô-môn nói rằng: “Thật, toàn thể cách Ngài đáng yêu đương” (Nhã-ca 5:16). Ngài là buổi sáng không có mây mờ, là ban ngày không có bóng tối, là cây hoa hồng không có gai. Miệng lưỡi Ngài dường như phun thả tàng ong. Mắt Ngài lòa ra thiện cảm và từ ái; lòng Ngài văng ra sự yêu thương.
Tín đồ được nuôi nấng bởi bàn tay Ngài; được bồng ẵm trên lòng Ngài, được nâng đỡ bởi cánh tay Ngài, được chăm nom trên ngực Ngài, được dắt dẫn bởi con mắt Ngài, được dạy dỗ bởi môi miệng Ngài, và được ấp ủ bởi tình yêu thương Ngài. Những vết thương của Ngài là sự sống của họ; nụ cười của Ngài là ánh sáng của đường lối họ, sức mạnh của linh hồn họ, và sự yên nghỉ cùng thiên đàng của họ trên thế gian nầy. Phải, Ngài trổi hơn trong mọi sự “hôm qua, ngày nay và cho đến đời không hề thay đổi” (Hê-bơ-rơ 13:8)
The Witness
128. CHỌN THÁI ĐỘ KHIẾN TA HÂN HOAN
(Từ lòng đến lòng)
(Hai đằng chọn một)
Hãy nghĩ đến sự ác anh em có thể làm:
-Bởi một lời nói nông nổi;
-Bởi một sự phán đoán vội vàng và kém nhơn hậu;
-Bởi một cử chỉ vị kỷ hoặc kiêu căng;
-Bởi ghẻ lạnh đối với những kẻ mong mỏi mình giúp đỡ.
Vậy, nên hãy coi chừng, coi chừng để khỏi làm cớ vấp ngã và khỏi làm cho kẻ khác đau đớn.
Trái lại, hãy làm lành:
-Bởi một lời nói đích đáng,
-Bởi một sự phán đoán công bình và nhân hậu,
-Bởi một thái độ khả ái và hòa nhã.
-Bởi một cử chỉ trung thực và khiêm tốn,
-Bởi một lời nói thân thiện,
-Bởi bắt tay thân mật,
-Bởi kiên nhẫn nghe thở than của một trái tim đau khổ,
-Bởi thăm viếng kẻ cô đơn,
-Và như vậy, lòng ta sẽ vui mừng, hớn hở khôn xiết.
129. TIN CẬY QUYỀN NĂNG VÀ LÒNG YÊU THƯƠNG CỦA CHÚA
(Đức Chúa Trời ở đâu?)
Năm 1669, thành Luân Đôn bị dịch lệ hành hại, ông Graven, một bậc quý phái, sắp về biệt thự ở thôn quê lánh nạn; nhưng thình lình ông nghe người da đen đánh xe ngựa cho mình nói rằng: Đức Chúa Trời của ông chủ tôi ở nhà quê, chớ không ở thành phố.
Ông Graven hiểu ngay, ông không đi nữa, nhưng cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ cho mình cái tội không tin cậy quyền tể trị khôn ngoan và lòng yêu thương vô hạn của Ngài.
Chẳng những ông không bị dịch lệ làm hại, nhưng còn cứu giúp được các bệnh nhân đáng thương trong thời kỳ khủng bố ấy.
130. AN ỦI NGƯỜI TRONG CƠN THỬ THÁCH
(Trong lò thử thách)
Anselme, Tổng giám đốc ở Canterbury (nước Anh) là nhà Thần đạo học trứ danh về thời Trung cổ (1033-1109), có khuyên những kẻ chịu đau thương và thử thách rằng: “Sự đau khổ phải nâng cao linh hồn, cũng như nước lụt càng dâng lên, càng nâng cao tàu của Nô-ê.”
Luther nói: “Đức Chúa Trời, Cha nhơn lành, từ ái của chúng ta ví như một người thợ sắp chữ. Chúng ta có thể thấy Ngài và rờ đến bài văn Ngài đương sắp, nhưng muốn hiểu nghĩa, thì phải kiên nhẫn chờ cho đến khi bài văn ấy đã in xong.”
131. TRÁI TIM NÓI LÊN TÀI KHÉO CỦA CHÚA
(Cái máy tối tân)
Một ông thầy thuốc đố các con rằng: “Cha thấy một cái máy tối tân, làm bằng một chất không cứng hơn đồng hoặc thép, cũng không cứng hơn thịt của cánh tay các con. Hiện bây giờ nó đang chạy, tiếng nó thật đều, khác nào một cái máy đồng hồ mà các con đã thấy và nghe nó chạy hơn bốn ngàn lần trong một giờ, hơn một trăm ngàn lần trong một ngày, và hơn ba mươi sáu triệu bảy trăm ngàn lần trong một năm. Có khi cái máy đó chạy luôn một thế kỷ. Vậy cái máy tối tân đó là chi?
-Ồ! Các con nói, chắc là một cái máy khó kiếm lắm, phải không cha?
Không phải đâu, mọi người đều có, người nghèo cũng như người giàu. Các con mỗi đứa đều có một cái. Không ở đâu lạ hơn là ở trong ngực các con. Nó làm cho máu chạy khắp thân thể. Ấy là trái tim mà Đức Chúa Trời đã sáng tạo từ đời thượng cổ ở trong A-đam và Ê-va.
T.M.B.
132. ĐỪNG LO TÍCH TRỮ MÀ HÃY DÙNG TIỀN BẠC LÀM VIỆC LÀNH
(Của quí hay người?)
Một hôm bạn tôi thuật cho tôi nghe một chuyện sau đây: Có hai người khách trú ngồi xuồng đi mua heo. Chủ biết lội, có đem theo 50 bạc giấy, ngồi trước mũi. Người làm công thì không biết lội bơi. Rủi xuồng chìm, chủ sợ ướt bạc giấy, mau lội vào bờ, bỏ anh nọ chơi vơi trên mặt nước. Vào bờ, anh ta mở sợi dây nịt, dòm không thấy ai, bèn để dưới gốc cây, đặng lội ra vớt người làm công. Anh vừa lội, vừa dòm chừng số bạc. Rủi có một thằng bé thấy. Khi anh nầy lội được nửa chừng, thì nó mau lại thỉnh dây nịt, dông mất. Thấy vậy, anh chủ không còn tưởng đến sự cứu mạng người, mau lội vào bờ, rượt theo thằng nhỏ mà lấy năm chục bạc lại. Nào đâu kịp, vì bé nọ chạy biệt rồi. Trong lúc anh chủ rượt bạc, thì người làm công vẫy vùng đuối sức; luồng nước mạnh cuốn mất người bất hạnh. Chủ kiếm thằng nhỏ không được, trở lại chỗ cũ, thì người làm công cũng đã biệt tăm.
Nghe qua chuyện này, tôi rất đau đớn trong lòng. Chớ chi người chủ thương anh em mình, liều ướt, hoặc bỏ số tiền, vớt người khỏi chết, thì chắc sau người ấy cũng cảm động, ở trừ năm chục bạc cho mình, mà lại ơn cứu tử trăm năm tạc dạ. Nay tiền mất, bạn hữu không còn, ăn năn đã muộn.
Thử nghĩ, Chúa đầy lòng thương xót, ban cho biết bao người ở thế hạ nầy ăn no, ngủ kỹ, con tốt, vợ đẹp, lên se, xuống ngựa, tiền của dư dật! Song khi thấy tình cảnh người nghèo nàn, côi cút, tật nguyền, bữa đói, bữa no, nào mấy ai mở dạ? Miễn ăn no, mặc ấm, tưởng rằng tiền của còn đời. Nhưng một cơn kinh tế khủng hoảng làm cho đế vương thất quốc, tư bản nhăn mày, kỹ nghệ suy đồi, công thương ngưng trệ. Thật Chúa “đuổi kẻ giàu về tay không” (Lu-ca 1:53).
-Của Trời, Trời lại lấy đi;
Nhướng hai con mắt, làm chi đặng Trời?”
Những bậc vương hầu khanh tướng, học vấn lỗi lạc, văn chương uyên bác, cho đến những nhà đại chính trị, luân lý, khoa học, thiên văn, y học, triết học, có tài bày ra nhiều điều kỳ diệu, sáng chế nhiều vật tài tình, vậy trong lúc kinh tế khủng hoảng nầy, lúa bán hai cắc một giạ, sao mấy ông không làm cho mất nạn ấy đi? Mấy ông tự khoe cướp tài Tạo Hóa, ngày nay cũng phải hàng đầu khủng hoảng; thúc thủ, vô sách. Ôi, loài người, chối bỏ Chúa, nên chỉ là sai lạc trong đường lối mình! “Đấng ngự trên trời sẽ cười, Chúa sẽ nhạo báng họ” (Thi-thiên 2:4).
Hỡi anh em rất yêu dấu, kìa biết bao nhiêu linh hồn chìm đắm nơi biển trầm luân, ta nỡ nào ngồi ngó! Hãy dốc chí trượng phu mở lòng ra, kẻ của người công, để cứu đồng bào ra khỏi cơn thạnh nộ tương lai của Đức Chúa Trời, chúng ta phải thương yêu đồng bào, đừng như chú khách nọ, kẻo khi qua đời, tiền của không đem theo được, mà mão triều thiên cũng không có. Ai có của, ắt sợ ăn trộm, phải kiếm cách thế giữ gìn. Hôm nay, chúng ta đã có một của rất quý, là JÊSUS, vì yêu thương Ngài, tỏ cho đồng bào biết Ngài, và lo cho nước Ngài mau đến. “Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất, là nơi có sâu mối, ten rét làm hư, và kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy; nhưng phải chứa của cải ở trên trời, là nơi chẳng có sâu mối, ten rét làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy. Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó” (Ma-thi-ơ 6:19-21).
Vậy thì, người quí hơn của. Ông Phao-lô nói: “Hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (ICô-rinh-tô 15:58). “Nầy Ta đến mau chóng và đem phần thưởng theo với Ta để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm” (Khải-huyền 22:12).
H.K.D.
133. GƯƠNG VỮNG VÀNG TRONG CHÚA
(Vua La-mã cũng chịu thua)
Thuở xưa, trước một tòa án đặc biệt, hoàng đế nước Rô-ma ép ông Baisel, giáo phụ Hội Thánh rằng:
-Ngươi phải bỏ đạo Tin Lành, thì ta sẽ ban cho chức cao, lộc hậu.
Nhưng ông đáp:
-Úi chà, lời bệ hạ phán đó chỉ dụ dỗ được trẻ con. Kinh Thánh dạy tôi khác hẳn, nên tôi thà chết ngàn lần còn hơn lìa bỏ Đấng Christ.
-Ngươi không biết trẫm là ai sao?
-Tôi không chịu vâng phục ý chỉ của bệ hạ đâu.
-Ngươi không biết ta có quyền ban chức tước cho ngươi sao?
-Chức tước đó có thể thay đổi như chính bệ hạ.
Thấy cảnh giàu sang không lay chuyển được lòng đá sắt của ông, vua bèn đòi tịch biên, lưu đày, tra khảo, giết chết.
Giáo phụ dạn dĩ đáp:
-Vua tịch biên chăng? Tôi chẳng có của gì. Vua lưu đày chăng? Chỉ có thiên đàng làm quê hương tôi. Vua tra khảo chăng? Thân thể nầy sẵn sàng cam chịu. Vua giết chết chăng? Tôi càng mau được hiển vinh.
Vua tức mình quá, bèn kêu la rằng:
-Ngươi thật điên cuồng!
-Tôi mong được điên cuồng mãi như thế nầy.
Giáo phụ đứng vững tỏ mình thật tin theo Đấng Christ, đến nỗi các viên chức trong tòa án chịu cảm động, và hoàng đế không dám chống nghịch đầy tớ Chúa.
“Tôi chẳng kể sự sống mình làm quím miễn chạy cho xong việc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Jêsus, để làm chứng về Tin Lành” (Công-vụ Các Sứ-đồ 20:24).
T.K.B.
134. GIÚP NGƯỜI NGHÈO THIẾU ẮT ĐƯỢC CHÚA BAN BỘI PHẦN
(Cho một đồng, được vạn quan)
Chúng ta chẳng biết một việc nhơn đức nhỏ mọn có thể sanh những hiệu quả gì. Chàng thiếu niên nọ, học trường Mỹ thuật, vào phòng việc của một danh họa nước Pháp, đang lúc ông đi vắng. Chàng thấy một người ăn mày ngồi làm kiểu vẽ, bèn cho đồng tiền.
Người đó là ai? Té ra là Nam tước Jacques de Rothschild. Nam tước rất ưa mỹ thuật, nên bằng lòng ngồi kiểu kẻ ăn mày, vì họa sĩ bào đầu Nam tước có cái vẻ đặc biệt lắm.
Nam tước cầm đồng tiền, và cám ơn chàng thiếu niên hào hiệp. Khi họa sĩ trở về, Nam tước mới biết chàng đó là một sinh viên rất nghèo, nhưng giàu tài năng. Nam tước bèn gởi cho chàng một vạn quan, lại cắt nghĩa rằng đó là số lãi của món tiền bố thí.
Những ai biết sự vui mừng bởi ban cho mà chẳng trông mong được thưởng, nấy sẽ thuật được nhiều việc giống thế, và sẽ minh chứng cho lẽ thật đã chép trong Châm-ngôn 19:17 “Ai thương xót (bản tiếng Pháp dịch là bố thí) kẻ nghèo, tức cho Đức Giê-hô-va vay mượn; Ngài sẽ báo lại việc ơn lành ấy cho người.”
L.B.R.
135. MUÔN VẬT NHƯ DÂY CHUYỀN ĐEM ƠN HUỆ CHÚA CHO TA
(Dây chuyền ơn phước)
Luồng gió rung cây dẻ bộp, cuống rời trái dẻ, rơi nhằm trên lớp đất khô. Hột mưa rơi xuống, đọng đầy cái cuống. Chim anh vũ uống nước đã khát, rồi đậu trên nhành hoa trước cửa sổ của nhà văn sĩ mà hót líu lo. Tiếng đó khiến nhà văn sĩ cảm hứng, làm bài thơ kiệt tác. Thơ đưa phát hành khắp thiên hạ qua tai bệnh nhân, tới cùng kẻ ở thôn quê và người trong đền đài. Mỗi lòng đều được an ủi.
Khi người ta khen ngợi bài thơ, nhà văn sĩ đáp rằng: “Tiếng chim đã gợi hứng cho tôi.” Chim rằng: “Giọt nước giục lòng tôi.” Giọt nước rằng: “Nhờ cái cuống trái dẻ hứng lấy tôi.” Cuống rằng: “Nếu không bởi luồng gió, thì tự tôi sao có giọt nước kia?” Gió cũng từ chối rằng: “Hãy ngợi khen Đấng toàn năng đã làm ra gió!”
Muôn vật mầu nhiệm hiệp lại như những vòng tròn nối nhau, thành sợi dây lưu truyền ơn phước từ Đấng Tạo Hóa. “Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Chớ quên các ân huệ của Ngài” (Thi-thiên 103:2).
136. BỎ TẬT XẤU NHỜ TIN LÀNH QUYỀN NĂNG
(Tôi mất hết cả)
Trong một xưởng thợ, mấy bạn gái cùng làm việc đương chê bai đạo lý, cho rằng lòng mộ đạo làm mê muội trí khôn, bắt hiếp lẽ phải và làm sai lạc trí phán đoán của người ta.
Một người thợ đàn ông nghe họ từ lâu, vừa khi họ im lặng bèn cất tiếng nói: Phải, vì đạo Tin Lành, tôi đã mất hết cả!
Mọi người cũng sững sờ nhìn, người thợ nói tiếp:
-Trước tôi thích rượu, đạo Tin Lành đã làm cho tôi mất hẳn tánh ấy. Trước tôi chỉ mặc quần áo rách rưới, đội cái mũ (nón) bẩn thỉu. Vì đạo Tin Lành, tôi mất cả các thứ đó, đạo Tin Lành còn làm cho tôi mất cả tâm địa xấu xa nữa... Xưa địa ngục cai trị gia đình tôi, vì sự sống trong gia đình đã thành ra như trong chốn ngục hình. Thì nay, trở nên tín đồ Đấng Christ, tôi đã mất cả. Hỡi các anh chị, bây giờ các anh chị biết sự tin đạo Tin Lành đã làm cho tôi mất những gì. Hãy làm như tôi, tôi xin cam đoan chắc chắn các anh chị sẽ không hối hận nữa đâu.
T.N.B.
138. PHẢI XƯNG DANH CHÚA TRƯỚC MẶT MỌI NGƯỜI
(Trò bạo hơn thầy)
Có một cậu học sinh ở Nhật Bản tỏ ra gương dạn dĩ lạ lùng, khiến lắm người phải thẹn mình và tỉnh thức.
Tại học đường Nagasaki, nước Nhật, có chừng 150 học sinh, song chỉ có một trò tin Chúa thôi. Mỗi bữa ăn, trò nầy lấy thái độ tự nhiên, dạn dĩ, chắp tay lại, cúi đầu cầu nguyện cám ơn Chúa, rồi mới ăn. Nhiều trò khác cho như vậy là kỳ, có ý giễu cợt, chế nhạo, khinh bỉ và học lại với thầy giáo. Ngày kia, trước giờ học, thầy kêu trò ta lại hỏi:
-Tại sao trò phải làm như vậy, đang khi các trò khác không làm? Trò không lấy lời chế nhạo làm thẹn sao?
Trò ta bạo dạn đáp rằng:
-Tôi là tín đồ Đấng Christ, nên phải tạ ơn Chúa trước khi ăn. Tôi không thể nào dám vô phép với Chúa, nhận lãnh vật thực của Ngài mà không tạ ơn Ngài.
Liền đó, thầy úp mặt xuống bàn viết, khóc nức nở, vừa hổ thẹn, vừa nói:
-Trò ôi! Ta đây là một người tin Chúa, song ta chẳng dám tỏ cho ai biết. Từ đây sắp tới, nhờ ơn Chúa, ta sẽ rán làm trọn phận sự của tín đồ.
“Ai xưng Ta ra trước mặt thiên hạ, thì Ta cũng xưng họ trước mặt Cha Ta ở trên trời; còn ai chối Ta trước mặt thiên hạ, thì thì Ta cũng chối họ trước mặt Cha Ta ở trên trời” (Ma-thi-ơ 10:32-33).
N.V.H.
139. PHẢI SOI SÁNG LUÔN LUÔN
(Thiếu dầu, tàu đắm)
Maeterlinck, văn sĩ nước Bỉ, thuật truyện rằng nhằm mùa đông nọ, một bọn thuyền chài không kiếm đủ ăn, đến nỗi dầu thắp đèn cũng thiếu thốn. Người cai giữ đèn biển ở gần đó bèn đem dầu vốn dùng để thắp đèn biển cho họ. Mỗi ngày một ít nên dầu hao hụt, đèn biển lu mờ, tàu lớn không thấy rõ đường, đâm phải lố rạn (recifs), vỡ tan tành.
Hỡi độc giả, anh em phải luôn chiếu sáng cho cõi đời đời mờ tối. Vậy, trong dịp Tết Nguyên đán, đừng cúng lạy, đừng ăn của cúng, đừng cờ bạc, rượu chè, chơi bời như người ngoài Chúa. Nếu theo thói đời mà bỏ ý Chúa, thì ngọn đèn đạo đức của anh em lần lần lu mờ, và chính anh em phải chịu trách nhiệm về vô số linh hồn hư mất trong tội lỗi.
T.S. Macmillan
140. GIÁ TRỊ CỦA NHỊN NHỤC
(Nhịn nhục quí bằng kim tuyến)
Một tạp chí khoa học kia, in tấm tranh làm thí dụ rằng phải có bao nhiêu kim khoáng (minerai) mới lấy được một đê (của các bà đeo khi khâu vá) quang tuyến (radium). Tranh vẽ tám cái xe chở đầy kim khoáng và một cái đê đựng quang tuyến để cho ta biết rằng phải có chừng ấy kim khoáng mới chế ra chừng ấy quang tuyến. Ấy là chưa kể mấy mươi ngàn tấn than và nước dùng để luyện lọc.
Trong cõi vật chất, quang tuyến rất hiếm và quý thế nào, thì trong cõi thiêng liêng sự nhịn nhục cũng hiếm và quý thể ấy. “Hoạn nạn sanh ra sự nhịn nhục” (Rô-ma 5:3). Cần có bao nhiêu xe kim khoáng để được một đê quang tuyến, thì cũng cần bấy nhiêu xe hoạn nạn để sanh được một đê nhịn nhục.
Chas. E. Dunn
141.CẦN BIẾT RÕ THỰC TRẠNG CỦA MÌNH
(Anh em là gì?)
Cái cột chống đỡ hay là người ngủ?
Cái cánh hay là khối nặng?
Quyền phép hay là nan đề?
Người đề xướng việc phải hay là người xui giục việc quấy?
Người ban hay là người nhận lãnh?
Người lính đánh trận hay là người biếng nhác?
Người làm việc hay là người làm phiền?
Người bạn tốt hay là người bạn xấu?
Người giúp đỡ hay là người ngăn trở?
T.L.
142. CẦN PHẢI TÁI SANH BỞI ĐỨC THÁNH LINH
(Chết mà sống lại)
Một bữa em có việc cần đến con dao, em bèn lấy con dao bén mà làm việc. Rủi đứt tay, máu ra nhiều, em phát choáng ván vì cớ máu, bà em liền hái một vài lá cây, hơi dày, màu không xanh, đem về đâm nhỏ, rịt chỗ vết đứt, máu cầm lại liền. Em thấy vậy hỏi bà em tên lá đó là gì, bà em đáp đó là lá lữ ông. Em nhớ tên rồi cũng bỏ qua. Đoạn, em lượm những lá còn dư lại, đem quăng gần lu nước. Chẳng bao lâu nhờ ơn Chúa, tay em được lành.
Vài ngày sau, em lấy làm lạ quá, vì thấy lá những cây lữ ông em bỏ ngày nọ mọc lên rất nhiều cây lữ ông khác. Em lật đật gỡ lên, thì thấy có rễ đâm ra trắng xóa. Em liền đem vào nhà, khoe với bà em. Bà em nói: “Lá nầy tuy lìa khỏi cây mặc dầu, nhưng nó không phải như các lá cây khác. Chúa cho trong nó có sự sống riêng, để gần nướcc thì nó sống hoài và sanh ra nhiều cây khác; nhưng đem để nơi khô khan thì tự nhiên nó chết.” Nghe mấy lời bà em nói, em lấy làm lạ quá, không ngờ rằng Chúa sanh ra lá cây nầy mà cho nó sự sống như vậy!
Luôn dịp, bà em nói tiếp: “Con ơi, loài người cũng vậy, mỗi người đều chết lìa khỏi Chúa. Ngài cho mọi người có linh hồn. Nếu ta đem linh hồn mà phó vào nơi khô khan, tức là phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, thì tất nhiên phải chết mà thôi! Nhưng nếu ta tự hạ mình xuống, nhờ Chúa Jêsus mà đến gần ngôi ơn phước của Đức Chúa Trời, tắm tưới trong nguồn ân điển và sự sống phục sanh của Ngài, thì chúng ta sẽ được sống và sanh bông trái.”
Em nghe bà em dùng lá lữ ông mà làm thí dụ về loài người, thật em vui vẻ lắm, liền mở Kinh Thánh ra xem, thấy câu: “Nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời” (Giăng 3:5). Cầu xin Chúa ban phước cho chúng ta được gội nhuần ơn phước Chúa luôn luôn, và cầu xin Chúa kêu gọi nhiều người khác cũng được đến nơi mạch nước hằng sống của Ngài! A-men.
N.T.T.
143. CẦN TIN CHÚA TRƯỚC KHI VÀO CỬA ĐỜI ĐỜI
(Cây gậy về ai?)
Một quan lớn kia có nuôi một tên hề để hầu hạ. Quan trao cho nó một cây gậy, bảo nó cứ giữ đến khi nào có ai điên rồ hơn nó thì hãy cho.
Cách vài hôm sau, quan thọ bịnh nguy kịch. Hề ta vào thăm, hỏi rằng:
-Khi qua đời rồi, quan sẽ đi đâu?
-Ta đi xa lắm!
-Vậy bao giờ quan về?
-Một tháng nữa chăng?
-Không.
-Một năm à?
-Cũng không.
-Vậy thì bao giờ quan mới về?
-Chẳng bao giờ về được.
Thế thì trong cuộc man du đó quan đã sắm sẵn hành trang gì chưa?
-Chưa sắm gì hết.
-Đi xa mà chẳng có hành trang gì, quan thật điên hơn tôi! Vậy xin nhận lấy cây gậy nầy.
H.N.B.
144. PHƯƠNG THỨC HỘI THÁNH ĐƯỢC QUYỀN PHÉP CHÚA
(Có gì khó quá cho ta chăng?)
Ai hỏi câu đó? Chúa hay người?
Không phải người đâu, vì họ hay quên Chúa, hay nhờ quyền lực và phương lược hèn mọn của mình. Đức Chúa Trời đầy lòng yêu thương đã hỏi câu đó (Giê-rê-mi 32:27), để nhắc cho người ta biết rằng khi đành chịu bó tay, họ có thể nhờ Đức Chúa Trời luôn với mọi tài đức của Ngài. Chúa Cha trông mong ban ơn cho con cái Ngài, cũng “tỏ... những việc lớn và khó.”
Ta há chẳng nên làm đẹp lòng Chúa bởi xin Ngài làm việc cả thể? Trong mọi nước, mọi dân, nhiều tín đồ chịu Đức Thánh Linh cảm động, nên trông mong một cuộc linh tu. Tình hình Hội Thánh, thế gian, và bầy chiên lạc Y-sơ-ra-ên lớn tiếng đòi một cơn dứt dấy thiêng liêng. Hồn ta cũng kêu la: “Lạy Chúa, xin giáng ơn phước phấn hưng bắt đầu từ lòng tôi.”
Ta mong thế nào Đức Thánh Linh đập tan lòng tôi, tẩy sạch tín đồ, nhóm lửa yêu thương; nào các chi hội, các nhà giảng trở nên đền thánh Chúa ngự, và nhứt là trên người gánh chức vụ giảng đạo, “hầu cho đạo Chúa được đồn ra và được sáng danh” (IITê-sa-lô-ni-ca 3:1). Mọi sự nầy có thể thực hiện miễn là ta đầu phục mọi ý chí của Đấng phán rằng: “Có gì khó quá cho ta chăng?” Muốn Chúa tỏ quyền phép trong Hội Thánh, thì mọi tín đồ phải GIỮ TRỌN MỌI ĐIỀU KIỆN NGÀI ĐÃ TỎ RIÊNG CHO MÌNH BỞI ĐỨC THÁNH LINH.
T.K.B.
145. GƯƠNG YÊU MẾN KINH THÁNH
(Từ bỏ của tạm)
Cô Phước là cựu học sinh của Trường Chúa Nhật. Cha mẹ cô nghèo, không đủ sức cho cô cùng bạn gái theo đuổi sự học tập đến bậc thành chung. Cô phải kiếm sở làm để giúp cha mẹ trong lúc khủng hoảng nầy. Ông cả Buôn trong làng mướn cô giúp đỡ con gái ông có chồng làm quan ở một tỉnh xa, lương tháng mười đồng, y phục, thuốc men chủ chịu. Về phần cha mẹ cô Phước, ông Hương Cả chịu cho mượn một cặp trâu làm ruộng.
Giao kèo đã ký xong, cô Phước sửa soạn hành lý lên đường. Cô không hề quên quyển Kinh Thánh. Dầu rương chật, cô cũng cố chèn lời Chúa vào. Ông Hương Cả đứng coi, mới bảo rằng: “Nhà tôi và nhà con tôi không ai ưa thứ sách ấy, cô chớ đem theo làm chi.”
Lời ông Hương Cả thốt làm cô Phước bất bình, thấy rõ là nhà vô đạo. Cô chạy về nhà, học lại cùng cha mẹ. Cô Phước quyết định không đi, cả nhà đều bằng lòng như vậy, vui mà thấy cô kính mết Chúa hơn là sợ người ta. Tờ giao kèo kia phải hủy.
Tác giả cảm động và ngợi khen Chúa đã dùng cô Phước treo gương nhi nữ. Giữa cơn khủng hoảng đạo đức nầy, lắm người vì ham mê của tạm mà không nhớ tương lai. Kìa, thiếu chi kẻ vì danh, quyền và lợi mà không đọc Kinh Thánh, xao lãng cầu nguyện, làm chứng, và bỏ sự nhóm lại (Hê-bơ-rơ 10:25). Ước chi hết thảy chúng ta làm như cô Phước, thì đạo Chúa càng sáng tỏ!
“Phước cho người nào chẳng theo mưu kế kẻ dữ, không đứng trong đường tội nhân, không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng!”
H.K.Đ.
146. CẦN BIẾT CHÚA YÊU THƯƠNG MÌNH
(Jêsus vẫn thương hồn tôi)
Thuở xưa ông Wesley đương lúc buồn bực, ngồi trong cửa sổ và ngắm vườn hoa để tìm cách giải buồn. Bỗng thấy một con chim nhỏ, đẹp, liệng ở trên trời, và một con chim ưng sắp sà xuống bắt con chim ấy. Con chim nhỏ sợ hãi lắm, bay vội vàng tìm một chỗ ẩn mình. Không dám đậu vào một đám cây nào, e chim ưng biết mà xuống bắt nó. Nó thấy cái cửa sổ mở, liền bay vào ẩn mình, đậu gần trước ngực ông Wesley. Bấy giờ, nó run và thở lắm, vì nó đương sợ con chim ưng bắt nó. Ông bèn gìn giữ cho nó khỏi cái chết thê thảm.
Ông nầy thấy con chim nương tựa ở trước ngực mình mà được bình yên, tức thì nghĩ đến cảnh ngộ mình: Tuy đang buồn bực, nhưng đã được nương dựa vào ngực Đức Chúa Jêsus, thì còn lo lắng chi nữa? Bởi sự cảm xúc ấy mà ông phát ra bài hát sau đây:
“Jêsus, Đấng vẫn thương hồn tôi, Tôi muốn đến nghiêng trên ngực Ngài” (Thơ thánh 41).
Muôn người đương khi gặp sự khốn khổ mà hát bài nầy, thì được an ủi bội phần.
R.M.J.
147. NÓI VỀ CHÚA CHỚ KHÔNG NÓI VỀ NGƯỜI
(Hãy nói về Đấng Christ)
Tấn sĩ William Carey, nhà truyền đạo trứ danh ở Ấn Độ, đương hấp hối. Những người đứng quanh ông nói nhiều về sự nghiệp ông. Nhưng ông cố gắng nói nghiêm trang rằng:
-Tôi nài xin anh em về điều nầy; Khi tôi ngủ yên trong Chúa rồi, thì đừng nói về Carey nữa, song hãy nói luôn về Cứu Chúa của Carey.
Le Reveil
148. KHẢO CỔ HỌC XÁC CHỨNG CHƠN THẬT CỦA KINH THÁNH VỀ THÀNH GIÊ-RI-CÔ ĐỔ
(Các tường thành Giê-ri-cô đổ thật chăng?)
Thơ Hê-bơ-rơ 11:30 chép như vầy:
“BỞI ĐỨC TIN CÁC TƯỜNG THÀNH GIÊ-RI-CÔ ĐỔ XUỐNG.” Giáo sư Garstang nói rằng: “Bởi một cơn động đất...” Dẫu thế nào cũng không có bàn tay loài người giơ ra hủy diệt thành Giê-ri-cô. Người Y-sơ-ra-ên không hề dùng mai xuổng để đào sụt vùng đất mấp mô ở chung quanh nền thành.
Ba mươi ba thế kỷ về sau, người ta tìm được tường thành vẫn sập đổ y như ngày xảy ra biến động lạ lùng ấy: Chẳng ai có thể dựa theo công lệ thiên nhiên mà cắt nghĩa sự đổ sập thành Giê-ri-cô.
Giáo sư Garstang nói thêm: “Các tường lũy đổ lật ra ngoài, vỡ tan tành hết cả, do đường dốc mà dồn xuống rồi tụ cao lên, nên dễ vào được trong thành. Phía trên thành có một cái đống tro dày chừng 65 phân tây” Giô-suê 6:17 chép rằng: “Cái thành và mọi vật ở trong sẽ bị phú dâng cho Đức Giê-hô-va như vật đáng diệt.”
Giáo sư Garstang cứ nói rằng: “Dường như sau khi chiếm được thành, dân Y-sơ-ra-ên bèn thiêu thành đi để dâng làm tế lễ đầu mùa của đất hứa cho Đức Giê-hô-va.” So sánh các vò, hũ, tìm được trong thành với các vò, hũ trong những mổ mả có ghi niên hiệu, ta có thể nhất định thành Giê-ri-cô đổ sụp nhằm thế kỷ thứ 15 trước Chúa.
Trong công việc bênh vực Kinh Thánh, ta khó lường biết cuộc phát minh lạ lùng trên đây là quan trọng dường nào! Nó cho ta một bằng cớ hiển nhiên xác chứng cái biến động mà bao kẻ hoài nghi vẫn coi là một phép lạ khó tin nhất chép trong Kinh Thánh. Hỡi những ai bấy lâu nghi ngờ muốn đánh đổ Kinh Thánh, hãy biết rằng có vô số bằng cớ thiêng liêng và vật chất binh vực Kinh Thánh. Ai muốn phá lại Kinh Thánh thì chỉ chuốc lấy sự hổ thẹn.
S. S. Times
149. KHẢO CỔ HỌC XÁC CHỨNG SỰ CHÂN CHÍNH CỦA KINH THÁNH VỀ THÀNH GA-XA
(Thành xưa, dấu cũ)
Thật lạ lùng thay là kết quả của những công cuộc đào bới chung quanh các thành lũy rộng lớn của xứ Phi-li-tin thuở xưa! Công cuộc nầy hiện đương tiến hành và ở dưới quyền quản đốc Flinders cùng bà Petrie. Xây cất từ 3000 năm trước Chúa, thành Ga-xa minh chứng cho một nền văn minh rực rỡ.
Hai nhà quản đốc trên đây viết như nầy: “Việc đào bới trong mấy tuần lễ vừa qua làm chứng mạnh mẽ thành Ga-xa là một chỗ trọng yếu trong những thế kỷ đầu tiên của lịch sử tối cổ. Có vô số quả cân nhỏ bằng đá và theo lối cổ, tỏ ra rằng thành Ga-xa hay thông thương với nhiều xứ tiếp cận Có vô số bọ hưng Ê-díp làm chứng rằng thành Ga-xa giao thông với xứ Ê-díp-tô trong khoảng từ 3000 đến 2000 năm trước Chúa.”
Hiện nay các cuộc phát kiếm do sự đào bới nhọc nhằn bằng mai và thuẫn đều chứng thực cho truyện tích Kinh Thánh. Kinh Thánh không buộc phải “Giơ gậy để binh vực mình.” Những di tích đào được tại thành Ga-xa đem chúng ta trở lại quãng đời 3000 năm trước Chúa, gần lúc Ca-in xây thành, vì Ca-in làm công cuộc ấy chừng 4000 năm trước Chúa (Sáng-thế Ký 4:17-24.)
The Anvent Witness
150. PHẢI TIN NHẬN ĐẤNG CHRIST ĐỂ ĐƯỢC THOÁT KHỎI SỰ NGUY HẠI KINH KHIẾP CỦA TỘI LỖI
(Vi trùng đáng sợ)
VI TRÙNG! VI TRÙNG! Các nhà bác học đã bao phen luận đến vi trùng! Người ta phải dùng hết tài năng trí tuệ để bài trừ ảnh hưởng độc hại của vi trùng ở khắp mọi nơi. Cuộc chiến trận giữa nước nầy và nước khác sẽ hết chăng? Cuộc cạnh tranh giữa đảng nọ và đảng kia sẽ thôi chăng? Có lẽ. Nhưng cuộc vật lộn với vi trùng biết đến bao giờ mới kết liễu? Trước câu hỏi nầy, những người học rộng tài cao không khỏi ngậm ngùi.
Để mắt trần xem, nào ai thấy được vi trùng? Chúng nhỏ lắm, đường kính dài nhất chỉ từ năm phần vạn một ly đấn hai phần ngàn một ly! Thì đây, xin anh em ngó qua kính hiển vi xét giọt nước và chút không khí nầy. Kìa, kìa, chúng sống, chúng ngọ nguậy, chúng lanh lẹ vô cùng, đến nỗi chỉ trong chớp mắt có thể tràn khắp một miền.
Chúng sanh hóa không biết cơ man nào mà kể, bám vào một sanh vật mà mưu cách sống còn. Cũng có một vài thứ vô hại, còn phần nhiều thì nguy hiểm lắm, thường truyền bịnh thúi tha.
Xét một gramme bụi, ta thấy được tới 1.300.000 vi trùng! Ta coi được là trong lành làn nước nào chỉ có 1000 vi trùng mỗi phân khối (centimètre cube). Nước sông Sein có từ 2 đến 14 vạn vi trùng mỗi phân khối. Còn nước cống thì tới 63 triệu vi trùng mỗi phân khối! Đáng ghê thay!
Vi trùng truyền dễ lắm. Chúng xâm phạm thân thể người ta do nhiều ngõ. Chúng kiêng nể người mạnh khỏe. Nhưng nguy thay cho kẻ yếu đau, mệt nhọc, hư mòn không chịu dùng phương sẵn có mà bài trừ độc hại của chúng! Chúng bé nhỏ, nhưng giết chết bao người! Bên cạnh những vị thuốc của khoa học dùng làm khí giới đánh nhau với vi trùng có hai trường hợp tự nhiên chẳng giúp ích chi cả: ánh sáng và nơi cao. Nếu nóng đến một chừng mực nhất định, ánh sáng ắt làm hại vi trùng: Mặt trời mùa hạ giết chết vi trùng ở cách mặt hồ 3 thước. Núi non cũng làm hại chúng: lên cao hơn mặt biển 300 thước, ta ít thấy vi trùng. Còn trên đỉnh núi, thì tìm 7 ngày không ra một con.
Thân thể bị vi trùng phá hoại đã hẳn rồi; nhưng linh hồn, thảm thay cũng bị vi trùng “Tội khiên” tiêu nuốt. Tội lỗi còn đáng sợ hơn vì khiến ta phải chết đời đời trong địa ngục, mất hết hạnh phước đích thực lâu bền.
Có tội lỗi tỏ tường, nhưng cũng có biết bao tội lỗi giấu kín trong đáy lòng, làm tiêu ma, hết linh lực. Chắc còn sót ít nhiều cảm tình tốt lành, tánh hạnh đáng khen, song ảnh hưởng độc hại độc hại vô số. Nếu chỉ gắng sức riêng, loài người sao khỏi sa ngã?
Cũng như vi trùng, tội lỗi sanh hóa mau chóng và tràn lan khắp nơi, đến nỗi “mọi người đều đã phạm tội” (Rô-ma 3:23). Mắt thấy sự xấu, tai nghe lời xấu, miệng đọc sách xấu, kìa, hột giống tội lỗi đã vào lòng. Ban đầu lỗi lầm đôi chút, rút cục tội ác, ghê gớm. Quen phạm tội, người đời không chống cự gian ác, nhưng chiều theo tư dục đê hèn. Họ chẳng khác con thuyền trôi xuôi dòng nước, sa vào vực thâm biển khơi. Lìa bỏ Đức Chúa Trời, họ mất nguồn sức mạnh, nên đành chịu tội khiên hủy phá.
Xưa nay bao kẻ luống công tìm cách bài trừ tội lỗi! Đức Chúa Trời động lòng thương xót, sai Con Một xuống trần gian để “cứu dân mình ra khỏi tội” (Ma-thi-ơ 1:21). Huyết báu của Cứu Chúa có quyền rửa sạch tội ta “dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son sẽ trở nên trắng như lông chiên” (Ê-sai 1:18). Một khi lòng được tẩy sạch, ta được “đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jesus Christ” (Ê-phê-sô 2:6), và “đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng” (IGiăng 1:7) ngõ hầu “được giữ vẹn, không chỗ trách được khi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đến” (ITê-sa-lô-ni-ca 5:23).
Paul Faivre
151. GƯƠNG TIN NHẬN KINH THÁNH CỦA MỘT NHÀ BÁC HỌC TRỨ DANH
(Đức tin của một nhà Bác học)
Danh tiếng của ông Ambrose Fleming, nhà khoa học trứ danh nước Anh, đã lừng lẫy khắp thế giới. Ông đã phát minh được một phần trong bộ máy vô tuyến truyền thanh. Chẳng những là một nhà khoa học trứ danh, ông Fleming cũng là một môn đồ tin kính của Đấng Christ và hết lòng tin lời Đức Chúa Trời.
Mới đây, diễn thuyết tại Hội Triết học nước anh, ông lại tỏ lòng tin các phép lạ trong Kinh Thánh và chối không chịu nhận thuyết tiến hóa. Phải can đảm lắm mới dám nói như thế – sự cương quyết của ông chắc đã cảm động đại biểu các hãng thông tin, đến nỗi họ đánh điện một phần lớn của bài diễn thuyết ấy sang xứ Gia-nã-đại.
Dưới đây, chúng tôi xin trưng dẫn một vài lời tuyên bố đáng ghi nhớ của nhà khoa học ấy:
“Đáng buồn thay, nhiều người thuộc về Tân phái chịu công nhận những lẽ phỏng định vô bằng của khoa học vật chất! Họ cũng từ chối rằng Đức Chúa Trời không thể nào làm các phép lạ và các công việc đặc biệt.”
“Vậy, họ xây cất trên nền bằng cát của khoa học mập mờ và thay đổi luôn, chớ không chịu yên nghỉ trên nền đá của lời Kinh Thánh. Kinh Thánh do Đức Thánh Linh soi dẫn, càng ngày càng được chứng nghiệm, không chứa người lời đoán phỏng của trí khôn hay lầm lạc, song chứa những lời do người thánh của Đức Chúa Trời; các người ấy nói vì chịu Đức Thánh Linh cảm động.”
“Đức Chúa Jesus Christ từ kẻ chết sống lại, đó là một thực sự rõ rệt. Bằng vậy, thì đối với việc Ngài thình lình dựng nên vô số cá trong hồ, thình lình dựng nên cá và bánh để nuôi nấng đoàn dân đông đúc, chúng ta không thể nào chối đi và cho là huyền hoặc.”
Ông Fleming cũng giảng luận rằng: “Nếu mười ngàn năm trước A-đam đã có loài người sống trên mặt đất, thì loài người ấy chắc phải sanh sản đến nỗi đã đầy tràn khắp địa cầu. Nhưng di tích của loài người đông đúc ấy ở đâu? Ta chỉ tìm được vài chục bộ xương. Thật ra thì mọi sự trên trái đất nầy hòa hiệp bội phần với chuyện tích sáng tạo chép trong Kinh Thánh.”
The Evangelical Christian
152. CÁCH SỐNG ĐẸP LÒNG CHÚA LÀ ĐỪNG ĐỂ Ý ĐẾN SỰ KHEN CHÊ CỦA LOÀI NGƯỜI
(Muốn đẹp lòng mọi người)
Một nhà họa sĩ trứ danh vẽ một bức tranh, có ý làm đẹp lòng mọi người. Ông đem hết tài nghệ vào đó và khi đã vẽ xong bèn đem trưng bày và xin khán giả lấy bút chì đánh dấu vào chỗ nào mình không cho là đẹp.
Khán giả khen ngợi toàn thể bức tranh, nhưng muốn tỏ ra mình tài giỏi đây, nên ai nấy đánh dấu chỗ mình cho là bất toàn. Buổi tối, khi trở về phòng triển lãm, họa sĩ đau đớn vì thấy bức tranh đầy những dấu chê bai. Sự phán đoán cay nghiệt ấy không làm cho ông ngã lòng, ông nhứt định trưng bày bức tranh ấy một lần nữa và xin công chúng đánh dấu chỗ nào mình cho là hoàn toàn đẹp đẽ.
Lần nầy, bức tranh lại cũng đầy những dấu. Cái bị chê bai hôm trước, thì hôm nay được khen ngợi nhiệt liệt. Họa sĩ bèn nói rằng:
-Tôi thấy cách tốt nhứt để làm đẹp lòng một phần nửa người là đừng để ý đến lời phê bình nửa phần nửa kia. Nhưng cách tốt nhứt để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời là đừng để ý đến sự chê, khen của loài người.
153. ĐỜI SỐNG ĐÃ TỪ TỐI TĂM QUA SÁNG LÁNG
(Ông chưa từng ở nơi tối)
Một ông tù trưởng người Ấn-độ bỏ sự thờ lạy tà thần mà tin theo Đức Chúa Jesus. Ông rất sốt sắng cầu nguyện, luôn luôn đứng lên ngợi khen Chúa, và nhất là dâng tiền rất rộng rãi. Giáo sĩ hỏi tại sao làm như vậy, thì đây, một câu đáp rất cảm động: Chà. Ông ơi, ông chưa từng ở trong bóng tối tăm.
T. S. S. CH.
154. MA QUỈ ĐỂ YÊN KẺ THUỘC VỀ NÓ, VÀ LO ĐỐI ĐỊCH KẺ ĐÃ TÁI SANH
(Đuổi chim nào trước)
Có người thuật truyện một tín đồ già ở miền Nam nước Mỹ làm tôi mọi cho một kẻ không ti Đấng Christ. Bữa nọ, ông chủ đi bắn vịt trời, có đem theo người tôi mọi ấy. Thình lình ông nói với người rằng:
-Nầy chú, cớ sao ma quỉ không hề cám dỗ tôi, nhưng luôn khuấy rối chú. Cớ sao cám dỗ người tin Jêsus hơn kẻ không tin?
Người tôi mọi chưa biết trả lời thế nào, thì một bầy vịt trời thẳng hàng bay qua. Chủ bèn chĩa súng bắn, truyền cho người tôi mọi kíp đuổi bắt những con vịt bị thương trước, và cuối cùng sẽ bắt những con chết sải.
Lúc trở lại bên cạnh chủ, thì người tôi mọi đã tìm được một câu trả lời:
-Thưa ông, tôi tưởng ma quỷ cũng theo cách nầy. Nó nghĩ rằng tôi chẳng qua là một linh hồn nghèo cực, bị thương, nên muốn bắt lấy trước nhứt; còn ông chắc thuộc về nó rồi, nên nó không cần bắt vội.
Lý luận của ông già chứa nhiều thần học. khi nào một người thật “sanh bởi Đức Chúa Trời” (IGiăng 3:9), thì dường quyền lực của tội ác dấy nghịch cùng người. Nếu không thật được tái sanh, người ắt chẳng đứng vững.
Moody
155. ĐỜI SỐNG TÍN ĐỒ LÀ ÁNH SÁNG GIÚP THẾ GIAN BIẾT CHÚA
(Ánh sáng của thế gian)
Mới đây, tôi đi xe điện tại một thành phố lớn. Thình lình ba em bé một trai, hai gái, mặt mày vui vẻ, cặp mắt sáng ngời cũng bước lên xe. Chúng cư xử thật đáng yêu và có vẻ con nhà giáo dục, đến nỗi tôi tự nhiên liếc mắt xem cha mẹ chúng đang đứng sau lưng chúng. Tôi thấy hành vi của bọn trẻ, nên sanh lòng ước ao biết ít nhiều về cha mẹ chúng; như vậy, tư tưởng tôi từ bọn trẻ hướng về cha mẹ có phước đã nuôi dạy chúng.
Rồi tôi tự nghĩ: “Đối với thế gian, tín đồ há chẳng cũng thế.”
Thấy tín đồ cư xử như Đấng Christ, thế gian tự nhiên hỏi trong lòng rằng: “Cái gi khiến họ được trở nên thể ấy? Họ nhờ bí quyết nào mà khiêm nhường, mềm mại, yêu thương không vị kỷ, tôn kính lẫn nhau, vị nể không cứ ai khác và khác hẳn mọi người?” Vì rõ ràng thay, nếu thường thấy bọn trẻ đáng yêu như ba đứa bé kia, ắt tôi ít để ý đến. Nhưng chúng ít giống bọn trẻ bằng tuổi chúng – bọn nầy thường quay cuồng bạo gan, làm rộn, ích kỷ, - nên lập tức khiến tôi để ý đến chúng luôn với cha mẹ đã nén đúc chúng bởi ảnh hưởng và sự giáo dục.
Việc tình cờ nầy, há chẳng làm thí dụ cho câu Kinh Thánh Ma-thi-ơ 5:16? Chúa khuyên giục môn đồ chiếu sáng để người ta thấy việc lành của môn đồ và ngợi khen ân điển Đức Chúa Trời đã hành động trong họ; như vậy, Đức Chúa Trời được tôn vinh trong họ và bởi họ. Hạnh kiểm của con cái thường phản chiếu hạnh kiểm của cha mẹ; cho nên cha mẹ bị quở trách hoặc được kính trọng tùy theo con cái đi đường ác hoặc đường thiện. Kinh Thánh có nhiều gương chứng rõ ràng kẻ không biết Đức Chúa Trời vẫn phán đoán Ngài tùy theo điều đã thấy trong con cái Ngài.
Sau khi Đa-vít phạm tội, tiên tri Na-than nói với người như vầy: “Vì việc nầy, vua đã gây dịp cho những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va nói phạm đến Ngài.
Nguyện ý tưởng nầy thúc giục ta, khiến ta cẩn thận để được xứng đáng với Chúa và đẹp lòng Ngài mọi đường. Nguyện mục đích lớn lao của đời ta là Tôn vinh Đức Chúa Trời, Cha mình bởi sự ăn ở không chỗ trách được!
L.B.R.
156. PHẢI KÍP RAO TIN LÀNH VÀ CẦU XIN CHÚA BÌNH AN TÁI LÂM
(Giá chiến tranh rất cao)
Một ông chủ ngân hàng ở Paris nói rằng: “Nếu lại có một cuộc thế giới chiến tranh như hồi 1914-1918 nữa, thì các nước văn minh sẽ khánh tận trong khoảng một trăm năm. Với số tiền to lớn chi phí về cuộc Âu chiến trước đây người ta có thể:
Tậu một nhà hàng đáng giá 1.500 Anh-viên, cho mỗi gia quyến ở các nước Mỹ, Gia-nã-đại, Anh, Pháp, Bỉ, Đức, Nga.
Dựng một nhà thương đáng giá 1.875.000 Anh-viên, một thư viện cũng giá ấy, một trường Cao Đẳng đáng giá 3.750.000 Anh-viên cho mỗi thành phố trên 20 vạn người của các nước nói trên.
Năm sáu mươi triệu người phải đem mồ hôi trang trải số chi phí cho cuộc chiến tranh suốt 15 năm sau khi cuộc chiến tranh kết liễu. Nếu loài người lại phải dâng một LỄ THIÊU như thế nữa, thì chẳng ai có thể biết sẽ phí tổn chừng nào. Sẽ có một cảnh trạng cướp phá, tàn sát kinh khiếp bội phần. Tàn sát! Đó là đặc sắc của cuộc Âu chiến vừa rồi mà nhiều người không muốn nghĩ đến. Hãy đọc những con số đúng chắc dưới đây:
Trong 74 triệu người ra mặt trận, có 10 triệu người chết; lại thêm 19 triệu người bị thương; 10 triệu người bị què chơn hoặc cụt tay, 7 triệu người chịu đói rét vì phải làm tù binh, 9 triệu con mồ côi, 5 triệu bà góa, 10 triệu người lang thang đây đó, không nhà cửa, không tiền bạc.
Chúng ta là con cái yêu dấu của Đức Chúa Trời bình an, nên phải cầu nguyện Chúa gìn giữ thế giới khỏi nạn chiến tranh. Cũng phải sốt sắng rao giảng Tin Lành khắp chốn để Đức Chúa Jesus, là vua bình an, kíp tái lâm mà cho chúng ta dự vào nước bình an của Ngài.
United Press
157. SỰ TIN KÍNH TRUNG KIÊN CỦA CUFF
(Tên mọi Cuff)
Chuyện thật
Cuff là một tên mọi da đen sanh ra và lớn lên ở phía Nam nước Hoa Kỳ, vào khoảng trước nội chiến vì việc đánh đổ sự buôn tôi mọi. Mọi Cuff là một đầy tớ rất trung thành, cũng là một tín đồ rất vui vẻ. Một ngày kia, Cuff bị bán cho một chủ mới không tin kính.
Khi bị bán, chủ cũ nói với chủ mới rằng:
Ông sẽ biết mọi Cuff là một tay làm việc rất siêng năng, có thể tin cậy được. Nó sẽ được vừa lòng ông mọi đàng, chỉ trừ một điều là nó hay cầu nguyện và ông không thể ngăn cấm.
-Rồi sẽ coi, đã có roi sẽ khiến nó bỏ cái thói quen ấy, chủ mới vô tín trả lời.
-Chủ mới dặn Cuff rằng: “Nếu ta bắt được mày còn cầu nguyện, thì ta sẽ đánh đòn, không thương xót?” Chính chiều hôm đó, khi làm xong việc, Cuff bèn quỳ gối giao thông với Chúa như mọi ngày, giống bạn Đa-ni-ên thuở xưa. Sáng mai, chủ gọi đến trước mặt hỏi sao dám không vâng lời.
Cuff thưa rằng: “Thưa chủ, tôi phải cầu nguyện. Tôi không thể sống mà không cầu nguyện. Chủ muốn làm gì tôi thì làm.”
Chủ nổi cơn thịnh nộ, truyền trói Cuff vào cây cột, rồi đánh đòn cho đến mỏi tay mới thôi. Đoạn, chủ bảo lấy nước muối xát vào lưng đầy máu của Cuff, rồi cho mặc áo. Sau khi đánh đòn, chủ lại bắt Cuff phải đi làm ngay. Cuff vừa đi làm việc, vừa cất tiếng hát thảm thiết.
Dầu trận đòn buổi sáng đã khiến máu chảy ròng ròng, rất đỗi đau nhức, nhưng Cuff vẫn cứ chăm chỉ làm việc suốt ngày, không chút nghỉ tay.
Nhằm lúc ấy, Đức Chúa Trời làm việc trong trái tim chủ nhà. Người chủ nghỉ rằng tên mọi khốn khổ kia, chỉ phạm một tội là trung tín với Đức Chúa Trời, vậy mà mình đã đối đãi nó thật là độc ác; lòng người chủ bị cáo trách nặng nề về tội lỗi mình. Khi lên giường ngủ, nhưng ông không thể nào ngủ được. Tâm hồn hồi hộp đến cực điểm, rất đỗi đang nửa đêm, chủ nhà gọi vợ dậy mà nói rằng mình sắp chết.
Vợ rất sợ hãi, hỏi chồng:
-Phải mời thầy thuốc không?
-Không, không, tôi không cần dùng thầy thuốc. Trong trại ta có ai cầu nguyện cho tôi được không? Tôi sợ phải xuống địa ngục ngay bây giờ mất!
-Tôi không biết ai, vợ trả lời, trừ ra tên mọi mình đã đánh gần chết sáng hôm nay.
-Mình tưởng nó sẽ bằng lòng cầu nguyện cho tôi chăng?
-Tôi tưởng nó sẽ bằng lòng.
-Vậy, hãy cho gọi nó lên đây, mau lên!
Lúc đó Cuff đang quỳ gối cầu nguyện, nghe chủ gọi, tưởng có lẽ sẽ bị đem ra hành hình lần nữa. Khi vào phòng của chủ, Cuff thấy chủ đang quằn quại, đau đớn, rên la, run rẩy trên giường. chủ vừa run, vừa nói không ra lời:
-Cuff ơi, con có thể cầu nguyện cho thầy không?
-Thưa chủ, tôi rất ngợi khen Đức Chúa Trời! Vì tôi đã cầu nguyện cho chủ cả đêm nay. Bây giờ tôi rất vui lòng lại cầu nguyện cho chủ.
Cuff bèn quỳ gối khẩn nguyện nài xin cho chủ mình, như Gia-cốp đời xưa phấn đấu trong sự cầu nguyện gần bên dòng nước vậy. Trước khi mặt trời mọc, Cuff được thấy ông bà chủ mình ăn năn tội, trở lại cùng Chúa.
Người chủ lập tức buông tha cho Cuff, và cùng Cuff là tôi mọi của mình, đồng giảng Tin Lành khắp các xứ Miền Nam Mỹ, làm chứng về quyền phép của Đấng Christ có thể cứu trọn tất cả mọi tội nhân.
Đ.T.N.
158. LOÀI NGƯỜI CHẾT SONG ĐỨC CHÚA TRỜI SỐNG ĐỜI ĐỜI
(Chết tức là thắng)
Dưới đây là lời ông C.T. Studd, Hội trưởng một Hội Truyền Giáo bên Phi Châu, luận về sự CHẾT nhằm năm 1915:
-“Nếu Studd chết, sẽ có gì xảy ra?” Phải đáp lại câu hỏi thông thường dại dột ấy. Đây, Studd xin tự trả lời:
“Bây giờ miệng chúng tôi đầy sự vui cười, lưỡi chúng tôi hát những bài mừng rỡ” (Thi-thiên 126:2). Hết thảy chúng tôi sẽ reo hò: HA-LÊ-LU-GIA! Thế gian sẽ mất một tên điên dồ nhứt, và Đức Chúa Trời sẽ làm những việc lạ lùng hơn bội phần vì đã bớt được một tên điên dồ ngăn trở Ngài. Đừng có đám tang, đừng phúng vòng hoa, đừng nhỏ nước mắt, vàcũng đừng hát điệu u sầu. Ai nấy hãy chúc mừng nhau. “Nếu mạng tôi bị dâng lên, thì tôi sẽ làm vui lòng và chúc mừng anh em; còn anh em cũng hãy vui lòng và chúc mừng tôi” (Phi-líp 2:17-18). (Theo bản dịch của Giám mục Lightfoot, thuộc hội Anglicane). Tôi nài xin một điều đặc biệt, là hãy ca hát bài vui mừng như đám cưới. Đức Chúa Trời chúng ta vẫn sống, nên chẳng có việc chi khác đáng kể là nghiêm trọng. Đám tang thứ nhứt của Trung ương Phi-châu Truyền giáo Hội sẽ cử hành khi nào Đức Chúa Trời chết. Nhưng cõi đời đời chưa chết, thì Đức Chúa Trời chưa chết đâu; vậy mọi người khá vui mừng! Tiến lên! Ai nấy hãy nhìn thẳng trước mặt mình mà tiến tới! Ha-lê-lu-gia! Ngợi khen Đức Chúa Trời toàn năng! Chết tức là thắng!
T.K.B.
159. NGƯỜI NHU MÌ ĐƯỢC CHÚA CHỈ DẠY ĐƯỜNG LỐI
(Nhìn mặt trời đi!)
Đời Trung-cổ, có một ông truyền đạo trứ danh và rất tin kính gặp một chàng thiếu niên đang đi đường; chàng mới học năm tốt nghiệp và muốn tỏ cho ông biết mình rất thông thái, bèn bắt đầu luận khéo về Đức Chúa Trời.
Ông truyền đạo già cả yên lặng nghe chàng nói một lúc, rồi đặt tay trên vai chàng mà rằng: “Hãy ngước mắt ngó xem mặt trời!”
Chàng thiếu niên nhìn lên, nhưng phải cuối xuống ngay, vì bị ánh sáng chói lòa làm cho quáng mắt... Ông liền nói: “Hỡi bạn! Bạn không thể ngó mặt trời hữu hình mà lại muốn hiểu thấu Đức Chúa Trời, là Mặt trời của linh hồn loài người sao?”
Ông nói thật đó, kẻ kiêu ngạo muốn nhìn mặt Đức Chúa Trời, nhưng vinh quang Ngài làm cho họ quáng mắt. Kẻ khiêm nhường hạ mình trước mặt Ngài ắt thấy đường lối Ngài, tức là con đường đầy dẫy ánh sáng của Ngài. “Đức Giê-hô-va chỉ dạy con đường Ngài cho người nhu mì” (Thi-thiên 25:8).
Eugène Bersier
160. SỰ CAO QUÍ VÀ SỰ HIỆP NHỨT CỦA BỘ KINH THÁNH
(Nghiên cứu yếu từ nguyên văn Hy-lạp)
Trải qua 2.500 năm đầu lịch sử thế giới, không có gì chép về sự khải thị của Đức Chúa Trời. Mãi đến 1.500 năm trước khi Đấng Christ giáng sanh, Môi-se mới được Đức Chúa Trời lựa chọn để được Ngài trực tiếp soi dẫn chép 5 quyển đầu Kinh Thánh.
Còn những quyển khác do tay ngót 40 người ở địa vị khác hẳn nhau, và trải qua 1600 năm. Kinh Thánh toàn bộ có 66 quyển, hầu hết 39 quyển Cựu Ước chép bằng tiếng Hê-bơ-rơ, và hầu hết 27 quyển Tân Ước chép bằng tiếng Gờ-réc. Bản chính do tay các tác giả chép thì đã thất lạc, nhưng hiện có mấy ngàn bản sao. Những bản sao tiếng Hê-bơ-rơ cũ nhứt thuộc về thế kỷ thứ 8 sau Chúa, còn những bản sao tiếng Gờ-réc thì thuộc về thế kỷ thứ 4.
Các nhà Bác học chuyên khảo cứu và so sánh mấy ngàn bản sao kể trên, đều công nhận rằng những bản ấy không phản đối nhau chút nào, dầu đến ý tứ nhỏ nhặt nhứt cũng vậy. Duy những câu và những chữ để bày tỏ ý tứ có khác nhau đôi chút, nhưng không khác tới một phần ngàn và không đủ thay đổi một lẽ đạo nào cả.
Vả, thật do thiên cơ sắp đặt nên trong đời Đấng Christ tiếng Gờ-réc cũng phổ thông như tiếng Anh, tiếng Pháp ngày nay, vì đường giao thông tiện lợi và nước La-mã nắm hết chủ quyền. Tiếng Gờ-réc có nhiều ý nghĩa sâu xa, diễn tả được những lẽ huyền vi của môn thần học. Văn Gờ-réc trong Tân Ước không phải văn cổ điển, nhưng là văn thường dùng để viết thư từ; cho nên Đức Chúa Trời dùng văn ấy để truyền bá Tin Lành thật là thích đáng lắm.
Bà C.
161. TỘI NHÂN CẦN TIN NHẬN CỨU CHÚA ĐỂ KHỎI CHẾT
(Không cần phải chết)
Tại một thành phố bên Trung Hoa, một viên cảnh binh dẫn một người đến nhà thương Hội Truyền Giáo do ông Hudson Taylor sáng lập để khám bệnh. Bác sĩ Fish, giám đốc nhà thương ấy phải khám xem người kia có thật mắc bệnh phung chăng? Nếu không mắc hắn được tha ngay, nếu mắc hắn sẽ bị bắn ngay.
Không cần khám lâu, Bác sĩ Fish nhận thấy người kia đã mắc bệnh phung, bèn quay lại nói với viên cảnh binh rằng:
-Phải, chính là bệnh phung. Nhưng người nầy không cần phải chết.
Rồi Bác sĩ tìm một nơi cho người đó dưỡng bệnh. Bác sĩ tận tâm cứu chữa, nên bệnh tình khá nhiều.
Về phần kẻ có tội cũng vậy, người không cần phải chết, vì Con Đức Chúa Trời đã phó mạng sống để đền hết tội của người rồi.
162. GƯƠNG SỐNG HẠNH PHƯỚC
(Ông Thánh tàn tật)
Tấn sĩ Tauler, Truyền đạo trứ danh ở thành Strasbourg về thế kỷ 13, tuy được công chúng hâm mộ, tán tụng, nhưng vẫn chưa được thỏa chí. Suốt hai năm ông thành tâm cầu khẩn Đức Chúa Trời sai người đến dạy cho mình biết chơn lý của Đạo Tin Lành và đường hạnh phước. Sau thời gian ấy, bởi một phương pháp mà ta khó biết, Tauler được lệnh đi đến tiền đàng một nhà thờ kia để gặp tay hướng đạo thiêng liêng.
Ông bèn đến đó và chỉ gặp một người tàn tật nghèo khổ. Ông đoán chắc người dạy dỗ ông chưa đến, nên cứ đợi mãi. Rồi ông nhớ lại Đức Chúa Trời hay dùng những người hèn hạ hơn cả, nên mới nói với người tàn tật rằng:
-Nầy bạn, cầu Chúa cho bạn một ngày tốt!
-Tôi cám ơn Chúa vì chưa gặp một ngày nào xấu.
Nghe người nghèo khổ kia đáp như thế, Tauler lấy làm lạ lắm, bèn tiếp:
-Nầy bạn, cầu Chúa cho bạn một cuộc đời sung sướng.
-Tôi cám ơn Chúa vì tôi không hề khổ sở.
-Ủa, bạn nói gì vậy?
-Đây nầy: Khi trời tạnh ráo, đẹp đẽ, tôi cám ơn Chúa. Khi trời mưa, tôi cũng cám ơn Ngài. Khi dư dật, tôi cám ơn Ngài. Khi thiếu ăn, tôi cũng cảm tạ Ngài. Ý muốn của Đức Chúa Trời là ý muốn của tôi, điều nào đẹp lòng Ngài cũng đẹp lòng tôi, thế thì tôi còn khổ sở làm sao được?
-Nhưng ví thử Đức Chúa Jêsus quăng bạn xuống địa ngục?
-Bấy giờ, tôi sẽ giơ tay đức tin nắm lấy nhơn tánh thánh khiết của Ngài, giơ tay yêu thương nắm lấy thần tánh tuyệt diệu của Ngài. Đã liên hệ với Ngài như vậy, tôi bèn ép buộc Ngài cùng xuống địa ngục với tôi. Ở đấy mà có Ngài còn hơn ở bất luận chỗ nào khác mà không có Ngài.
-Nghe câu đáp cao siêu như thế, Tauler kinh ngạc khôn xiết, bèn hỏi rằng:
-Bạn là ai mà nói được như vậy?
-Tôi là vua.
-Vua. Nhưng nước của bạn ở đâu?
-Ở trong lòng tôi, Đức Chúa Jêsus há chẳng phán rằng: “Nước Đức Chúa Trời ở trong các ngươi.” hay sao? (Lu-ca 17:21)
-Nhưng sao linh hồn bạn đạt đến bậc ấy được?
-Bởi cầu nguyện, kiêm nhường và hiệp một với Đức Chúa Trời.
-Bạn tìm được Đức Chúa Trời ấy ở đâu?
-Ở chỗ tôi lìa mọi người và mọi vật.
Kể từ buổi trò chuyện ấy, nhà Truyền đạo trứ danh bước vào một cuộc đời mới.
La Bonne Revue
163. CON NHỆN
(Ai ăn khỏe bằng nhện?)
Ông John Lubbock là một nhà thông thái nước Anh. Ông có đăng bài thuật về kết quả sự xem xét loài nhện.
Đã cân cẩn thận nhiều con nhện trước và sau khi chúng ăn. Ông Lubbock nói rằng:
Nếu con nhện to bằng một người lớn, thì trong khoảng 24 giờ nó phải ăn hết hai con bò, 13 con chiên, 12 con heo và 4 thùng cá.
Như vậy, từ nay ta không nên nói: “Phường ma đói” nữa nhưng nên nói “Phường nhện đói” thế mới đúng.
L’Aube
164. PHẦN THƯỞNG QUÝ LÀ DO CHÚA BAN KHI NGÀI TÁI LÂM
(Noi gương Giáo sĩ)
Nouvelle-Guinée là một cù lao rộng lớn thuộc về Úc Châu, chánh quyền xứ này có phát hành một tập tem kỷ niệm, trong số đó có hai thứ tem in ảnh ông W. G. Lawes và ông James Chalmers. Hai ông này thuộc về Hội Truyền Giáo Luân Đôn (Société des Missions de Londres); nhằm năm 1887, hai ông đến cù lao Nouvelle-Guinée để rao giảng Tin Lành, và cùng bị hành hạ và bị giết chết bởi tay dân bổn xứ hay ăn thịt người.
Mão miện của kẻ tuận đạo mà Đức Chúa Jêsus sẽ đội trên đầu hai ông khi Ngài tái lâm mới thật là cái vinh dự tuyệt đối của hai ông.
La Semaine Religieuse
165. ĐỜI SỐNG TIN KÍNH GƯƠNG MẪU CỦA GOERGES V
(Anh hoàng Goerges V)
Tiếng nhạc đạo binh rền rĩ, bước chân quân tướng rập ràng, người khiêng di hài vua Goerges V đi khoan thai, ấy đấy; ngày 28 Janvier 1936, máy vô tuyến truyền thanh cho chúng tôi ở Sài Gòn mà cũng được gián tiếp dự lễ truy điệu một vị đế vương tên tuổi lừng lẫy thế giới.
Tại nhà thờ hoàng tộc ở thành Windsor, nước Anh, có cả tám hoàng đế và nhiều ông hoàng, bà chúa, chánh khách từ hơn 70 nước đến nghiêng mình trước di hài Goerges V, một vị vua đã đi ứng hầu Thượng Đế sau một cuộc đời 71 năm và cuộc trị vì hơn 25 năm. Suốt đời đứng về phía hòa bình, vua Goerges V dầu hình vóc nhỏ bé nhưng chẳng thiếu phong độ hoàng đế, dầu cư xử như dân thường nhưng vẫn xứng với địa vị cao quý và trách nhiệm nặng nề.
Lúc lên ngôi vào năm 1910, vua ban dụ cho toàn thể quốc dân, có câu rằng: “Trẫm sẵn can đảm, đầy hy vọng nhìn vào cuộc tương lai, và vững lòng tin mạnh mẽ trong Đức Chúa Trời.” Vào hồi ấy, một nhà Truyền đạo trứ danh khi nói đến lễ đăng cực, có kể 3 yếu tố của một nước phú cường:
Gia đình thánh khiết.
Nhận biết mình chỉ là người và trên mình còn có Đức Chúa Trời.
Chuyên tâm làm theo Kinh Thánh.
Vua Georges và hoàng hậu Mary đã làm gương mẫu về 3 điều đó.
Cư xử giữa Hội Thánh thế nào thì cư xử ở gia đình thể ấy, vua dám quả quyết rằng trong 55 năm trời, dầu công việc bận rộn nhưng vẫn thành tín giữ vẹn lời hứa với mẹ, là mỗi ngày đọc một đoạn Kinh Thánh. Thế mới xứng với lời khuyên bảo thần dân rằng: “Trẫm trông mong ở nhân dân không bao giờ bỏ lòng thiết tha yêu mến gia tài cao quí ở trong bộ Kinh Thánh tiếng Anh. Kinh Thánh là kho tàng đệ nhất của tổ quốc, quí báu hơn mọi sự ở đời.”
Chúng tôi chỉ xin trưng dẫn một đôi việc để làm chứng rằng vua Georges và hoàng hậu Mary lo lắng tài bồi đời thiêng liêng, đạo đức là dường nào. Luôn luôn dự cuộc cầu nguyện và thờ phượng buổi sáng ngày Chúa Nhật, hai ngài đã yên lặng nhưng nghiêm nghị quở trách những ai hờ hững với Đấng Phục sanh. Mục sư Grant chép rằng: ‘Đối với tôi, hoàng gia dự tiệc thánh là một lễ long trọng lắm. Tôi được chủ tọa lễ ấy thật là một đặc quyền. Vui thay là thấy cả hoàng gia và các cung nữ, nội thị quỳ chung quanh bàn tiệc thánh!”
Vua hết lòng tin Đức Chúa Trời, rất chú trọng sự hiệp nhứt của tín đồ Đấng Christ. Vua và hoàng hậu rất nhiệt thành tán trợ mọi công cuộc và cách thức truyền bá đạo Tin Lành. Hồi niên thiếu vua đã là trang thủy binh anh hùng phiêu lưu trên làn sóng bạc nên có cảm tình đặc biệt với những Hội Truyền đạo cho các Lính thủy.
Một vị đế vương đã sống một đời trọn vẹn, đầy đủ, xứng đáng dường ấy, thật chẳng những dân Anh, song hết mọi người trên thế giới đều phải nghiêng mình kính phục. Hỡi hoàng đế Georges V! Hỡi người con hiếu thảo, chồng tốt, cha hiền, vua minh, tín đồ trung thành! Thật ngài có thể nói với năm châu rằng: “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta” (IITi-mô-thê 4:7-8).
Vào thế kỷ thứ ba, một Giáo phụ Hội Thánh ở Carthage tên là Tertullien minh giải thái độ của tín đồ Đấng Christ đối với các vua chúa rằng: “Tín đồ không thù nghịch ai hết, và đối với vua chúa lại càng không thù nghịch nữa. Tín đồ biết rằng vua chúa do Đức Chúa Trời lập nên, cần phải yêu mến, kính trọng, sùng bái và cầu cho vua chúa được mọi sự lành. Tôn thượng vua chúa, ta phải coi đó là việc xứng đáng cho mình và tốt đẹp cho vua. Phải coi vua chúa là bậc chỉ kém Đức Chúa Trời và do chính Ngài ban quyền phép cho.”
Tertullien viết những lời trên đây đương khi Hội Thánh bị các bạo chúa La-mã bắt bớ, chém giết hung hăng. Nhưng nếu vua chúa đi đường thánh khiết, thì các lời trên lại càng xứng hiệp dường nào!
Than ôi! Non sông ứa lệ, thương bậc minh quân, thế giới chau mày tiếc trang tuấn kiệt, hỡi ai đạp đất đội trời, hãy định trí ngưng thần giây lát mà nghe tiếng khóc xa xăm.
T.K.B.
166. TRÌ HOÃN TRONG TỘI LỖI SẼ BỊ CHẾT KINH KHIẾP
(Trí hoãn thì chết)
Một vùng tại nước Anh có nhiều mỏ kẽm và cũng lẫn các kim loại khác nữa nhưng cửa mỏ lại ở ngoài biển! Ai ở vùng biển cũng biết con nước, tức là mặt nước trên trái đất bị khí mặt trăng hút nên cứ ngày hai lần mặt nước lại lên lên xuống xuống. Con nước lên xuống như vậy gọi là thủy triều, thường là ngập mỏ và lấp kín miệng hang. Vì thế, khi vào mõ lấy kẽm chỉ có thể lấy một ít rồi lại ra ngay. Khi nước xuống lại vào, cứ làm việc đều như vậy thì bình yên lắm! Kẻ có lòng tham lam trái lại cố ở lại nhặt nhiều, tuy lúc thủy triều lên, nước chảy vào một ít chỉ thấy ướt chân; rồi trong vài phút, nước đã lên đến mắt cá, lại xuống nhưng không xuống hẳn đâu! Bỗng nhiên dòng nước ầm ầm kéo vào làm vang hang đá, sóng lên cao, đuốc tắt, rồi nước lên đến bụng, đến vai. Thôi, vô kế khả thi, người không ra đến ánh sáng ban ngày nữa, bị chết trong sự tối tăm! Không ai thấy người Đức Chúa Trời đó cho đến ngày đoán xét lớn, muôn đời sẽ đứng trước tòa án của Thượng Đế.
Số phận của người trì hoãn trong tội lỗi lại càng kinh khiếp hơn. Ngày nay có dịp tiện tránh sự nguy cập của đời tối tăm, nhưng nếu vì lòng ham muốn thế gian, không chịu tin Chúa, thì sẽ bị khổ hơn bội phần. Nếu ta cứ vui chơi trong sự lạc thú giả dối của đời, ta sẽ giống như người chơi trong hang đá, không chú ý về nước thủy triều… Sự chết từ từ đến, nhẹ nhàng, rồi bỗng nhiên thấy mình không còn dịp tiện được cứu nữa.
Đức Chúa Jêsus đã chết vì tội lỗi chúng ta. Vậy chúng ta cần tiếp nhận sự cứu rỗi do Ngài ban cho. Theo tiếng Ngài, chúng ta nên nghe theo đặng ra khỏi cảnh ngộ của sự chết, đến ánh sáng của sự sống và vui mừng đời đời.
H. Dixon
167. CHƯƠNG TRÌNH TỐT ĐẸP CHO THANH NIÊN
(Tặng bạn thanh niên)
-Đừng khi nào nói về:
-sự đọc sách: “Tôi không phải con nít nữa”;
-cha mẹ mình: “Hai người bảo thủ quá”;
-công việc mình: “Không cần làm vội”;
-cuộc vui chơi: “Ta chỉ có một cuộc đời”;
-tương lai mình: “Ta sẽ có cơ hội”;
-kẻ khác: “Mặc họ toan liệu”;
-nết xấu của mình: “Bổn tánh tôi thế”;
-tội lỗi mình “Nó mạnh hơn tôi”;
-bước thất bại: “Số phận tôi thế”;
-sự cầu nguyện: “Tôi không có thì giờ”;
Đó là những tiếng giết người, giết đức hạnh, giết năng lực, giết tình yêu thương, và giết linh hồn, anh em có thấy không? Đó là chương trình của kẻ lương tâm chai lì, của kẻ vô ích, của kẻ say mê vật dụng, chớ không phải là chương trình của anh em đâu!
Trait d’Union des Jeunes của KEP
168. TỘI LỖI CỦA CHÍNH TA ĐÃ GIẾT CHÚA JÊSUS
(Đấng Christ chịu hình vì ta)
Đêm kia, ông Mõ chiêm bao thấy Đức Chúa Jêsus bị một tên lính Rô-ma trói. Ông thấy rõ trong tay tên lính cái roi có dây da rất dầy, và những mũi đinh nhọn. Ông rùng mình sởn óc vì thấy những vết thương ghê gớm, máu chảy như suối.
Khi lính giơ tay đánh nữa, ông bèn xông tới ngăn cản.
Tên lính thình lình quay lại, và nầy… ông nhìn biết là chính mình! Ông sửng sốt không hiểu ra sao…
Ta thường tưởng đao phủ quân hành hình Đấng Christ là những quỷ dữ, nhưng là chính tội lỗi chúng ta đã đánh đập Ngài đó.
“Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt Ngài chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh” (Ê-sai 53:5).
Hỡi độc giả, anh em có tin điều đó chăng?
La Bonne Revue
169. CẢM TẠ VÀ NGỢI KHEN LÀM ĐẸP LÒNG CHÚA
(Đàn bướm nhà vua)
Tôi dạo chơi nơi ngự tuyển. Mặt trời tung ánh dịu dàng vỗ về nhánh hoa tươi rải hương thơm ngào ngạt. Giọng hát thần tiên từ xa đưa lại rũ sạch bụi trần bấy lâu vương vấn lòng tôi. Bầu không khí tươi đẹp bao bọc linh hồn tôi đến nỗi tôi sửng sốt hồi lâu, cúi đầu thờ lạy.
Đoạn tôi đưa mắt nhìn đàn bướm nhỏ bé, đẹp đẽ, sắc vàng, lóng lánh, bay từ cánh hoa nọ tới cánh hoa kia.
Vua hỏi tôi rằng:
-Ngươi nhìn chi đó?
-Tâu Thượng Đế, tôi nhìn đàn bướm mỹ miều kia. Chúng nó làm hình bóng về cái gì đấy ạ?
-Đó là những lời con cái Ta ngợi khen Ta vì các việc rất nhỏ mọn. Những lời đó từ đất bay lên đến tận đây và làm cho vườn Ta thêm đẹp. Tôi cúi nhìn. Cánh bướm đó có biên mấy chữ bằng vàng: Cảm tạ Đức Chúa Trời! Cám ơn Chúa! A-lê-lu-gia! Ngợi khen Chúa! v.v…
Tôi không hiểu.
Vua bèn phán cùng tôi:
-Hãy xuống thế gian thì người sẽ hiểu mấy chữ đó.
Tôi liền xuống.
…
Khi gần tới ga xe lửa, tôi thấy một ông chạy theo. Xe lửa gần chuyển mình: Ông vào ga, xông tới, nhảy chòm lên nắm cửa toa rồi vào.
Ông ngồi xuống, có vẻ mệt nhọc, vừa thở hổn hển, vừa lẩm bẩm: Cám ơn Đức Chúa Trời!
-Sao cám ơn Đức Chúa Trời?
-Vì tôi trông nom thuốc thang cho vợ con cả đêm, nên rất sợ trễ chuyến xe lửa đi làm…
Tôi ra khỏi toa, đi trên con đường vắng vẻ. Kìa, một ông cụ đi lảo đảo, miệng ấp úng một vài lời.
-Cụ nói gì đấy ạ?
-Tôi nói: “Cám ơn Chúa,” vì tôi mới vấp nhằm hòn đá, gần ngã. Nếu tôi ngã, thì trên con đường vắng vẻ nầy, ai sẽ giúp tôi đứng dậy?
Một con bướm – thế gian không thấy nó – từ cặp môi tái mét nhưng mềm mại của cụ bay lên nhập với đàn bướm mà vui vẻ ngắm xem.
Tôi cứ đi.
Một bọn học trò tan học.
Tôi thấy rõ một cô bé vẻ mặt nghiêm trang; tôi lại gần nghe, và nầy, cô vừa mỉm cười vừa nói: “Cám ơn Đức Chúa Jêsus!”
-Sao em cám ơn Đức Chúa Jêsus?
-Vì mẹ tôi cần tôi đỡ đần đến nỗi không có thì giờ học bài đủ và tôi sợ không thuộc; nhưng tôi cầu xin Đức Chúa Jêsus giúp đỡ tôi, nên tôi đã học thuộc làu.
Đó là mầu nhiệm về lòng kính mến và đức tin!
Kế đến, một chàng thanh niên bước tới, dáng đi vững vàng, cất tiếng mạnh mẽ:
-Cám ơn Chúa!
-Sao thầy cám ơn Chúa?
-Vì tôi gần chìu theo ý bạn tôi mời hút thuốc và tôi đã hứa với mẹ tôi rằng không khi nào tôi chịu hút thuốc.
Tôi cứ đi, rồi vào một nhà tầm thường. Có một bà đứng đọc bức thư mới nhận được, hai hàng nước mắt lã chã rơi. Bà nói:
-Cám ơn Cha trên trời, vì cha đã giục lòng chị con gởi con món tiền nầy mà con rất cần!
Tôi vừa vui bước đi ra, vừa nói một mình rằng:
-Chúa lại được một con bướm đẹp đẽ nữa!
…
Tôi vào nhà nghèo và nhà giàu, song, than ôi, nhà giàu ít có tiếng cảm tạ, vì họ quen hưởng của cải thế gian rồi.
Tôi lại vào một phòng khách, có một bà ngồi trước giá sách, vẻ mặt lo nghĩ, tay cầm bức thư. Bà xé đi và ném mạnh vào sọt giấy, bà thở dài và lẩm bẩm:
- Cám ơn Đức Chúa Trời!
Tôi lại gần và hỏi bà cám ơn vì cớ gì.
-Bức thư nầy làm cho tôi đau đớn, lời nào cũng độc ác và bất công; nhưng, nhờ Đức Chúa Trời giúp đỡ, nên tôi không muốn binh vực mình mà chỉ muốn làm thinh thì hơn…
Từ chỗ này tới chỗ kia, tôi trải qua khắp thế giới, để thâu góp các tiếng của con cái Chúa tỏ ý biết ơn vì những công việc nhỏ mọn hơn hết: hoặc tìm thấy đồ vật đã mất, hoặc mượn được cuốn sách hay, hoặc làm việc nhọc nhằn cả ngày rồi ăn một bữa cơm ngon, hoặc sau cơn hạn hán được trận mưa dào, hoặc có người đến thăm và yên ủi mình, hoặc thắng cơn cám dỗ, hoặc nhận được tin vui .v.v… Kìa, đàn bướm vô tình bay lên và sẽ làm cho vua vui vẻ.
…
Sau đó, tôi bèn ngồi trên bờ biển và thấy Vua của các vua, Chúa của các chúa vừa cho dân đói ăn, vừa cúi đầu tạ ơn vì mấy con cá nhỏ (Mác 8:7).
N. Wiedeman
170. CHỈ TRONG CHÚA MỚI CÓ SỰ BÌNH ANH THẬT
(Hai tấm tranh “Yên nghỉ”)
Có hai nhà họa sĩ muốn hình dung sự yên nghỉ bằng những nét vẽ trên tấm vải.
Họa sĩ thứ nhứt chỉ vẽ một cảnh hồ chơ vơ, lặng lẽ giữa một phong cảnh miền núi. Họa sĩ thứ hai vẽ một thác nước chảy ào ào, lại có một cây bạch dương (Bouleau) nhỏ, thấp, rủ nhánh tốt tươi trên mặt thác. Ở một kẻ nhánh chỉ hơi có giọt nước bắn vào, một con chim đẹp đẽ bình tĩnh đậu trên ổ.
Bức tranh thứ nhứt chỉ hình dung sự tù túng, âm thầm, hiu quạnh. Bức tranh thứ hai mới thật là yên nghỉ.
Bề ngoài cuộc đời Đức Chúa Jêsus toàn là lo sợ, bối rối, giông tố ào ào, y như tác giả Thi-thiên đã dự ngôn rằng: “Các lượn sóng và nước lớn của Chúa đã ngập tôi” (Thi-thiên 42:7). Nhưng trong lòng Ngài như một biển pha lê, bao giờ cũng có sự bình tĩnh tuyệt điểm. Không cứ lúc nào ta gặp Ngài ta cũng cảm thấy mình đối mặt với sự bình an trọn vẹn. Cả đến khi bị bầy muông sói THÈM KHÁT HUYẾT theo dõi, Ngài cũng vẫn giải luận cho các môn đồ biết gia tài cuối cùng Ngài để lại cho họ là sự BÌNH AN.
Bình an không phải là một tình cảm qua lại trong lòng ta tùy theo cảnh ngộ, nhưng là sự yên nghỉ của tấm lòng, rễ đã đâm sâu trong Đức Chúa Trời. Sự bình an ấy Đức Chúa Jêsus sẵn lòng ban cho ta y như Ngài đã phán: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các người được yên nghỉ” (Ma-thi-ơ 11:28).
L.B.R.
171. Ý NGHĨA CỦA LƯƠNG TÂM
(Lươn tâm là gì?)
Tiếng sẽ sẽ của Đức Chúa Trời.
Bạn chí thiết.
Người thưởng công, bạo thù.
Bảng chỉ đường.
Con chó không chịu mang hàm khớp.
Án lệnh tịch biên các vật xấu của ta.
Tiếng nho nhỏ kêu làm bổn phận.
Lính cảnh sát của trí khôn.
Dây buộc tình dục.
Con ong mật chẳng đốt lầm ai.
Sự thương xót gõ cửa tội lỗi.
Một bạn gầy ốm bị khinh dể, bỏ mặc trên giường.
Cuốn sách chép tội mình bằn chữ lửa mà ta thấy khi sắp chết.
Hòn đá của linh hồn để thử cho biết tội ác và đạo đức.
Dây neo, nếu không đứt, giữ vững được thuyền đóng ở cửa biển.
Tấm gương mà Chúa đã đặt trong ta, bởi đó tư tưởng và việc làm ta được phản chiếu.
Mảnh kính phản chiếu lẽ thật rất đúng, đến nỗi ai nấy cũng phải kinh ngạc.
Người tuyền lẽ thật trong đền của linh hồn.
172. PHẢI CÓ LƯƠNG TÂM SÁNG SUỐT
(Lương tâm sáng suốt giữ khỏi tội lỗi.)
Chúng ta là tín đồ của Đấng Christ còn ở thế gian nầy, thiết tưởng cần nhất phải có lương tâm sáng suốt để nhận biết thế nào là tội lỗi, thế nào là tẻ tách ra ngoài đường lối Ngài vì phạm những lỗi rất nhẹ. Chúng ta cần phải khiếp sợ mà lánh xa mọi sự dẫn đến tội lỗi và làm ô uế đền thánh là nơi thần linh thánh khiết đương ngự. Ta phải sợ mọi điều ngăn trở ảnh hưởng và quyền phép thiêng liêng của mình vẫn có đối với kẻ khác. Ta phải khiếp sợ tội lỗi, thì mới tránh được nó, và phải dễ cảm thấy tội lỗi thì mới biết khiếp sợ nó. Ta phải “gắng sức cho có lương tâm không trách móc trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người.” (Công-vụ các Sứ-đồ 14:16).
173. LƯƠNG TÂM SÁNG SUỐT LÀ NHỜ THÁNH LINH VÀ LỜI KINH THÁNH
(Nhờ Thánh Linh lương tâm mới sáng suốt)
Muốn có lương tâm trọn vẹn, chúng ta cố nhiên phải biết chắc rằng lương tâm trọn vẹn là lương tâm sáng sủa hay phân biệt lành dữ. Chúng ta được lương tâm ấy vì kê cứu Kinh Thánh và nhờ cậy Đức Thánh Linh làm cho những lời Kinh Thánh trở nên sống động và thực tại trong linh hồn mình. Lương tâm là tay hướng đạo của đời ta, nhưng tri thức là con mắt của tay hướng đạo. Nếu mắt đui mù thì cả người dắt lẫn người chịu dắt sẽ sa xuống hố.
Con tàu giữa biển nhờ có địa bàn dắt dẫn, nhưng ta phải xem xét nó rất cẩn thận và giữ cho nó đúng hướng luôn. Khi địa bàn sai ít hoặc sai nhiều, viên hoa tiêu đều phải lo sợ và để ý đến ngay. Khi Phi-e-rơ vào nhà thầy tế lễ cả một cách bàng quan, thì lương tâm ông đã hơi sai lệch rồi. Kìa ông ngồi sưởi chung với kẻ thù địch, và không tự nhận mình là môn đồ Đấng Christ! Ông rất dễ phản đối lời chứng đối nghịch Thầy mình, thế mà ông lại làm thinh. Cho nên sau đó, ông bị cám dỗ nặng nề mà sa ngã, thì cũng chẳng lạ gì.
174. THÓI QUEN HƯ XẤU BÓP NGHẸT LƯƠNG TÂM
Chúng ta hãy tin quyết đến cực điểm rằng nếu muốn có lương tâm thanh sạch trong mọi sự, thì phải nghe nó thỏ thẻ phán đoán những việc dường như là nhỏ mọn. Có nhiều thói quen nếu không hẳn là tội lỗi thì cũng làm phiền ta lắm, tỉ như: ăn trầu, hút thuốc, đánh phấn, bôi son, kẽ lông mày, theo đuổi thời trang như các bà các cô phóng túng. Cũng có thói quen đọc tiểu thuyết ô uế vẫn hủy diệt sự sống thiêng liêng của linh hồn, làm cho ta yếu đuối và bỏ mất tánh ham chuộng những điều cao thượng. Lương tâm sáng suốt luôn luôn lên án những thói quen ấy; nhưng than ôi, ta nào mấy khi cho phép lương tâm đá động đến! Chúng ta có để thói quen ấy ngăn trở mình làm việc ích lợi cho Đức Chúa Trời và hủy phá ảnh hưởng mình vẫn có trên kẻ khác không? Biết bao nhiêu linh hồn hư mất vì tín đồ ăn ở trái với lẽ đạo thật.
175. CẦN LÀM THEO LƯƠNG TÂM, DẦU KHI CHỈ CÓ MỘT MÌNH
(Thận trọng những khi chỉ có mình ta)
Khi ở riêng một mình, ta có làm theo lương tâm chăng? Ta có chịu theo công việc hoặc thói quen ô uế nào đến nỗi linh hồn bị dơ bẩn, và nếu có Đấng Christ đứng bên thì ta phải hổ thẹn chăng? Trong chốn gia đình chúng ta có ăn ở theo lương tâm không? Có trị phục tánh nóng nảy, giận hờn, quạu cọ không? Có trừ bỏ những ý muốn vị kỷ và e ngại làm cho lòng kẻ khác đau thương không? Ta có tránh lời độc ác phê bình và công kích kẻ vắng mặt, hoặc ăn nói cay nghiệt và cư xử thất đức chăng?
Trong chỗ buôn bán làm ăn không cứ cách nào, chúng ta có cư xử theo lương tâm chăng? Chúng ta có làm bừa những việc đáng bị lương tâm lên án chăng? Có lẽ cả công việc làm ăn của chúng ta đương theo đuổi đó đều vấn vương tội lỗi, vấy vết ô uế, lại làm cho kẻ khác và chính mình bị ô uế nữa. Nếu có lương tâm sáng suốt, sao tín đồ còn dám bán rượu và thuốc phiện, là hai thứ thuốc độc đã hủy phá biết bao gia đình và thường làm cho linh hồn phải hư mất? Lại có một ít tín đồ tuy không chịu dự phần thờ lạy thần tượng, nhưng lại buôn bán giấy tiền vàng mã, là những thứ chỉ dùng vào việc thờ lạy thần tượng. Thấy những việc trái đạo ấy, thì Chúa chúng ta đau đớn dường nào! Quả thật, những tín đồ như vậy không thể “Có lương tâm không trách móc trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người.”
176. TRONG SẠCH TRONG NGHỀ NGHIỆP VÀ DÂNG 1/10 VỀ HOA LỢI LÀ ĐẸP LÒNG CHÚA
(Dám mời Chúa dự vào công việc ta)
Có lẽ nghề nghiệp là chính đáng, nhưng bên trong ta phải thi hành mưu kế gian dối, để được thạnh lợi. Chúng ta có muốn Chúa đứng sát bên cạnh đương khi mình làm như vậy không? Nầy đây, một câu hỏi dò xét lòng dạ loài người “Anh em có muốn Đấng Christ xem xét công việc hằng ngày của mình chăng? Anh em dám để Ngài dự phần công việc mình và không giấu giếm Ngài một chút nào chăng?”
Khi các môn đồ đã đánh lưới suốt đêm mà chẳng được con cá nào. Đấng Christ đến và dự vào công việc họ, chỉ cho họ biết phải thả lưới nơi nào, bấy giờ họ mới được thành công mỹ mãn. Ngày nay Đấng Christ cũng sẵn lòng dự vào nghề nghiệp của ta miễn là nó hoàn toàn hiệp với đạo Ngài và ta vui lòng dâng Ngài một phần mười hoa lợi.
177. KHÁ CƯ XỬ HIỆP VỚI DANH TÍN ĐỒ CHÚA
(Tính sao cho xứng danh hiệu Tín đồ)
Đi xuôi giòng nước, không hoàn toàn ăn ở ngay lành, cư xử như kẻ khác, buôn bán những thứ phá hại linh hồn và thân thể, làm những việc ấy nào khó gì đâu. Nhưng muốn cư xử khác thói thường thì phải có can đảm, tánh tình cao thượng và lương tâm sáng suốt. Làm tín đồ Đấng Christ như thế mới xứng đáng. TÍN ĐỒ ĐẤNG CHRIST là một danh hiệu rất đẹp đẽ, thiêng liêng, ta không dám cư xử trái với danh hiệu ấy. Biết bao nhiêu người tự nhận là tín đồ, nhưng nếu không gặp họ tay ôm Kinh Thánh đi nhà giảng, thì nào ai biết họ là tín đồ. Vì họ tuy đem Kinh Thánh theo luôn, nhưng chẳng hề vâng theo lời dạy dỗ của Kinh Thánh.
Cầu Chúa cho quí độc giả tự xét mình và soi gương Phao-lô mà “gắng sức cho có lương tâm không trách móc trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người.”
Bà C.
178. LÝ LUẬN CHỨNG CHÚA GIÁNG SÁNH DO NỮ ĐỒNG TRINH
(Lý luận lắm)
Hai người Giu-đa, một người thì tin Chúa và một người thì không, nói chuyện với nhau về việc Đức Chúa Jesus do nữ đồng trinh sanh ra. Người không tin Chúa hỏi:
-Nếu tôi nói với anh rằng cách đây ít lâu, trong thành phố nầy có một đứa trẻ sanh ra mà không có cha, thì anh có tin không?
-Tin lắm chớ, miễn là đứa trẻ ấy sinh hoạt, cư xử như Đức Chúa Jesus, và làm những việc Ngài đã làm.
Quả thật, nếu Đức Chúa Jesus sanh ra trong đời nầy theo công lệ sanh hóa tự nhiên, thì Ngài mắc tội tổ tông lưu truyền, và nếu đã mắc tội, thì làm sao cứu được muôn triệu người trải qua 19 thế kỷ rồi ra khỏi vòng tội lỗi như ta đã thấy đó? Đàng rằng Ngài trở nên người để cảm thương loài người yếu đuối, bởi đó Ngài mới do nữ đồng trinh hoài thai mà sanh ra để làm người một cách phi thường vậy.
L.B.R.
179. TRỐN TRÁNH CÁC CUỘC GIẢNG DẠY ĐƯA ĐẾN SỰ CHẾT
(Mẹ giết con)
Tôi đi giảng phục hưng tại một thành phố kia; mọi người nhận được tờ báo cáo cho biết rằng tôi sẽ giảng luôn ba mươi ngày. Một bà tín đồ nói:
-Tôi chẳng muốn cho con trai tôi chịu ảnh hưởng của những buổi giảng đó. Tôi sợ nó bị kéo vào Cơ đốc Thanh niên Giáo hữu Hội, rồi họ sẽ dẫn nó ra đầu đường xó chợ, bảo phát sách đạo. Nếu con tôi làm vậy thì tôi sẽ hổ thẹn vô cùng.
Bà đặt nhiều hy vọng nơi con trai mình và mong muốn con mình sau nầy được ở vào giai cấp thượng lưu. Vì vậy, bà định đem con đi thành phố khác suốt ba mươi ngày đó. Bà tỏ duyên cớ nầy cho mục sư bổn hội, chớ tôi có biết gì đâu.
Cuộc giảng bắt đầu, mục sư vẫn ngồi bên hữu tôi, nhưng đến buổi nhóm cuối cùng ông thình lình biến mất. Chúc phước xong, hội chúng gần ra về, thì ông rảo bước vào nhà thờ, tỏ ý buồn, rồi tiếp:
-Người ta vừa mời tôi đi làm một việc buồn thảm nhứt đời tôi.
Đoạn ông nói cho tôi biết rằng bà mẹ kia đã đem con trai đi nơi khác để thoát khỏi ảnh hưởng của cuộc phục hưng, nhưng nay bà đã đem nó trở về trong chiếc quan tài và mời ông đi làm phép chôn về.
Kẻ làm cha mẹ mà không lo dắt đem con cái đến cùng Đấng Christ nhưng chỉ lo tìm kiếm lợi cho chúng, thì sao khỏi mang tội giết linh hồn chúng đời đời?
Moody
180. ĐỨC TIN CỨU RỖI
(Lịch sử khác với đức tin)
– Một người Nhật Bản đã trở lại đạo nói: “Tin Đức Chúa Jesus chết thì chẳng được cứu, vì chỉ là điều thuộc về lịch sử mà thôi. Nhưng tin Đức Chúa Jesus chết vì tội, thì được cứu, vì đó là đức tin.” Vậy, hỡi anh em! Muốn có đức tin hay muốn thuộc lịch sử?
181. TÌNH YÊU CỦA CHÚA ĐỐI VỚI TÍN HỮU LÀ LỚN LAO VÔ CÙNG
(Tình mẫu tử)
Có thể nói Đức Chúa Trời yêu linh hồn người cũng như tôi yêu con bằng tình yêu nồng nàn, bằng tình yêu chia vui xẻ buồn và muốn hiểu thấu lòng con, bằng tình yêu trằm trồ ao ước, nuôi nấng và săn sóc. Há có sự gì mà tôi không dâng làm hy sinh cho con tôi đâu? Chắc không, tôi hy sinh hết thảy. Cái gì tôi muốn làm mà không làm cho con tôi được thì Đức Chúa Trời làm cho. Ngài phán: “Dầu đờn bà quên con mình, ta cũng chẳng quên người” (Ê-sai 49:15).
182. CẨN THẬN GÌN GIỮ TẤM LÒNG
(Người Ả-rập và con lạc đà)
Mùa đông, một người Ả-rập ngồi trong nhà trại. Thình lình có con lạc đà đến nói rằng:
-Ngoài nầy lạnh lắm, nên xin ông cho tôi thò mõm vào nhà trại rất ấm áp của ông.
Người Ả-rập thấy không nguy hiểm gì bèn đáp:
-Ta vui lòng cho phép ngươi.
Được giục lòng can đảm bởi bước thành công thứ nhứt đó, lạc đà tiếp:
-Xin ông cho tôi thò cả đầu vào.
Con trai Ích-ma-ên bắt đầu lấy thái độ của lạc đà làm lo ngại, nên trả lời rằng:
-Thò đầu vào mà thôi đấy.
Sung sướng vì thành công lần nữa, con vật mưu mẹo và sáng trí liền xin thò hai chơn trước nữa, nó nói:
-Hai chơn nầy gần đầu lắm.
Người Ả-rập kinh sợ vì nghe lạc đà nài ép, bèn đáp:
-Hai chơn trước mà thôi, không được thò thêm cai chi nữa.
Vậy, hãy coi chừng bước đầu! Dốc trơn lắm, và Sa-tan nhiều mưu. “Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra” (Châm-ngôn 4:23).
183. QUYỀN NĂNG VÔ ĐỐI CỦA CHÚA
(Quyền Chúa giấu đâu)
Một nhà khoa học mỗi ngày có chừng 44.000 cơn sấm chớp, và mỗi giây có chừng 100 lần chớp xảy ra trong vũ trụ. Nếu đem so sánh thì mỗi cơn sấm chớp đó mạnh gấp mười cả luồng điện sanh bởi hết thảy các thứ máy dùng bên Bắc Mỹ. Vậy, đủ biết một chút quyền Đức Chúa Trời trội hơn cả sức loài người.
184. ẢNH HƯỞNG ĐỜI SỐNG JOHN WESLEY TRÊN THẾ HỆ SAU
(Chỉ tại John Wesley)
Một chàng thiếu niên thuộc về quí phái nước Anh đi đến làng kia thuộc quận Cornouailles lần thứ nhứt. Trời nóng lắm và chàng có vẻ bực tức khó chịu. Chàng khát khô cổ, cỡi ngựa đi khắp phố xá trong làng để tìm quán rượu. Gặp một cụ già, chàng gắt hỏi rằng:
-Nầy cụ, tại sao đi suốt cả cái làng khốn nạn nầy mà không tìm được một quán rượu?
Cụ già thấy chàng là quý phái, bèn ngã mũ chào cung kính, rồi đáp rằng:
-Thưa Ngài, ấy vì hơn một trăm năm trước, một người tên là John Wesley đã ở trong làng nầy ít lâu.
Chỉ nói chừng ấy rồi cụ già bước đi, nhưng trên cặp mắt lờ đờ của cụ lộ một tia sáng tự hào. Thật thú vị nếu ta biết được ý nghĩ của chàng thiếu niên kia khi chàng cứ phải chịu khát mà đi đường.
Lời của ông cụ làng chứng cho ảnh hưởng của một người chết đã hơn một thế kỷ. Trong thời gian ấy lời giảng của John Wesley gìn giữ làng đó khỏi nạn ma men phá hại. Người đã sống vì Đức Chúa Trời và vì kẻ đồng loại há có thể ước mong một đài kỷ niệm tốt đẹp hơn?
185. QUYỀN NĂNG TIN LÀNH THẮNG LÝ LUẬN VÔ THẦN
(Đạo Đấng Christ với thuyết vô thần)
Tại thành San Francisco, trong một góc đường nọ, có mấy nhà truyền đạo đang hát thơ thánh và nói về Tin Lành cho một đám chừng ba bốn trăm người nghe. Một ông giáo sư danh tiếng và cũng là một tín đồ sâu nhiệm trong Chúa tên là Ironside, vừa đi ngang qua. Nhơn dịp tiện, ông ta dừng chơn lại để nối lời các viên truyền đạo mà làm chứng về mọi ơn mình đã nhận từ nơi Đấng Christ. Ông vừa nói xong, thì có một người ăn mặc rất đường hoàng diện mạo khôn lanh, bước tới và trao cho ông một tấm danh thiếp.
Giáo sư rất ngạc nhiên thấy trên tấm danh thiếp ấy tên của một nhà diễn thuyết danh tiếng thuộc phái vô thần. Chính nhà vô thần ấy vừa biết bằng bút chì trên tấm danh thiếp câu nầy: ‘Thưa ông, tôi mời ông Chúa Nhật tới đây 4 giờ chiều, đến viện Hàn lâm khoa học dự một buổi diễn thuyết có cho phép thính giả phản đối. Đề mục là THUYẾT VÔ THẦN CHỐNG VỚI ĐẠO CƠ ĐỐC. Tôi sẽ chịu mọi phí tổn.”
Giáo sư đọc cho mọi người nghe câu ấy và tuyên bố rằng:
-Tôi nhận sẽ đi dự buổi diễn thuyết nầy, nhưng trước hết yêu cầu ông một điều: Ấy là hôm đó ông phải dẫn thêm hai người có đủ bằng cớ chứng rằng thuyết vô thần có thể thay đổi một đời người và cải đạo tâm tính.
Trong hai người đó thứ nhứt phải là một người đàn ông có một cuộc đời dĩ vãng không ra gì, làm nô lệ cho tội ác, nhưng vì đã nghe ông phỉ báng Kinh Thánh và khen ngợi thuyết vô thần, nên người đó đã đổi tánh tình, một quyền phép lạ lùng đã làm cho người đó ngày nay gớm ghê tội ác và yêu chuộng sự công bình , nhơn ái, thánh khiết.
Thứ hai, phải là một người đàn bà ngày trước là hư mất, khốn nạn, xấu nết, nhưng vì đã nghe ông chế giễu lời Kinh Thánh và tôn vinh thuyết vô thần, nên người đàn bà xấu nết đó đã được thoát khỏi xiềng xích tội lỗi và trở nên một người đàn bà vô thần khôn ngoan, hăng hái gớm ghiếc đời cũ của mình, khi nào cũng tránh những nơi tội ác, mà ngày trước người đàn bà đó năng lui tới. Tóm lại bây giờ người đó sống trong sạch, đáng kính, vui vẻ.
Thưa ông, nếu ông hứa sẽ dẫn hai người đó đến làm chứng cho mọi cái tốt lành của thuyết vô thần, thì trước mặt mọi người đây, tôi xin hứa rằng Chúa Nhật, đúng 4 giờ chiều, tôi sẽ có tại nơi ông định diễn thuyết. Tôi sẽ dẫn theo ít nữa là trăm người, đàn bà có, đàn ông có, mà cả trăm người đều có đủ bằng cớ chắc chắn làm chứng rằng họ đã được cứu, được dựng nên bởi Tin Lành nầy mà ông chế giễu. Tất cả những người đó sẽ cùng tôi lên diễn đàn mà làm chứng về quyền phép lạ lùng của Đức Chúa Jesus Christ và sự chơn thật của Kinh Thánh.
Giáo sư dứt lời, thì nhà vô thần cười gằn, đưa tay ra hiệu rằng mình không thể nhận lời, rồi rẽ đám đông người mà lẩn đi, trong lúc mọi người đứng đó đua nhau vỗ tay reo hò.
N.Đ.N. (Dịch báo L’Appel)
186. CHA TRÊN TRỜI HẰNG PHÙ HỘ
(Cha chúng tôi ở trên trời)
Cậu Cẩn và cô Chuyên mới đi chơi về, có vẻ đứng đắn lắm. Chúng ngồi thơ thẩn trong bàn, chớ không làm bài để sáng mai đi học, hoặc chơi đùa ngoài vườn, trong phòng riêng. Hai anh em vẽ lăng nhăng trên bảng đá đen, chẳng ra hình, cũng chẳng ra cái chữ gì cả.
-Nầy Chuyên, cậu Cẩn nói, cứ thế lại rảnh chuyện; nó muốn làm gì thì làm không cần phải sợ ai...
-Ừ, nhưng chẳng có ai che chở nó, anh Cẩn ạ. Chắc anh thấy nó thường có vẻ buồn; nó ít đi chơi lắm. Khi nào nó cất tiếng hát thì, chao ôi, muốn đứt ruột, chảy nước mắt, buồn quá.
Lúc đi chơi Cẩn và Chuyên gặp thằng Liên. Nó nghèo lắm, ở một mình với mẹ trong miền đó đã ngót hai năm. Cẩn và Chuyên gặp nó đi về phía rừng, hai tay thọc vào túi, mắt nhìn xuống đất. Chúng tôi hỏi tên đầy tớ gái ở nhà chúng rằng:
-Ba thằng Liên đâu?
Người đầy tớ đáp:
-Nó không có cha.
Rồi chúng không hỏi chi nữa. Không có cha? Thằng Liên không có cha, thì làm gì được? Chắc nó phải khổ sở và sợ hãi còn Cẩn và Chuyên có cha, - cha chúng hiện làm việc sang trọng ở một tỉnh xa. Vả một ngày kia, tên đầy tớ gái vốn ghét Liên, có nói rằng: Nếu thằng ấy gặp việc ác, ắt nó dám làm liền.
Việc ác! Không, Cẩn không thể tin rằng Liên có thể làm việc ác. Nhưng khi không biết có người nào để ý mình, thì...?
Có tiếng người đi, rồi cửa mở, kìa má chúng đã về. Bà hớt hơ hớt hải kêu:
-Cẩn ơi! Chuyên ơi! Hai con đâu? À, hai con đây rồi! Hai con làm gì thế? Không chơi à? Sao lại ngồi nơi tò mò như vậy? Nầy, hai con tìm thấy sợi dây chuyền của má không? Chắc lúc về đến nhà, má vẫn còn đeo. Thế mà má tìm khắp các phòng cũng chẳng thấy.
Cẩn và Chuyên có thấy gì đâu. Bà Khôi bối rối nói tiếp:
-Chính vì dây chuyền có lồng ảnh của ba nên má tiếc lắm. Cái ảnh đó đẹp lạ, ba chụp từ trước khi làm phép cưới. Không còn cái nào thế nữa. Tiếc quá! Nếu ba biết mất cái ảnh đó, thì ba sẽ buồn lắm.
Rồi ba mẹ con yên lặng. Nhưng bên ngoài, trong bóng tối, có tiếng bước đi và giọng con nít hát buồn rời rợi.
-Thằng Liên đấy!
Cẩn nói, đoạn nghĩ đến lời tên đầy tớ gái: “Nếu thằng Liên ấy gặp việc ác, ắt nó dám làm liền.”
Bà Khôi nói tiếp:
-Chính là Liên! À phải, lúc về nhà, má có gặp nó. Có lẽ nó đã bắt được sợi dây chuyền của má.
Bà mở cửa sổ, gọi ra ngoài rằng
-Liên ơi! Liên ơi! Vào đây một chút! Mau lên! Tôi có việc nầy muốn nói với em.
Bà đóng cửa sổ, bảo đầy tớ thắp đèn, rồi đi ra ngoài phòng, còn ngoái cổ dặn hai con rằng:
-Buổi chiều nay hai con chưa học hành chi cả. Phải sửa soạn bài vở ngày mai.
Ba giờ sau, mẹ con bà Khôi đã ăn cơm tối rồi, thì liên bước vào nhà, vẻ mặt hơi ngượng nghiệu nói rằng:
-Thưa bà, sợi dây chuyền của bà đây.
-Ồ! Tôi vui lắm vì lại thấy sợi dây chuyền nầy. Nhưng em tìm thấy ở đâu thế?
-Thưa bà, tôi tìm thấy ở trong rừng. Hồi chiều tôi thấy bà đi về phía đó, nên tôi tưởng rằng có lẽ...
-Trong rừng! Mà trời tối, em nhìn thấy thế nào được?
-Dạ, có ánh trăng, Liên đáp.
Cô Chuyên lấy làm lạ, hỏi rằng:
-Liên không sợ à?
-Sợ gì? Liên mạnh bạo đáp. Không, từ xưa đến nay tôi không biết sợ là gì?
Cậu Cẩn đỏ mặt và chực hỏi một câu táo bạo, cậu rụt rè, nhưng cũng cứ hỏi xem sao:
-Nầy, anh không định ý giữ sợi dây chuyền nầy cho mình sao? Có ai thấy đâu?
Nghẹn ngào, Liên cãi:
-Giữ cho tôi? ... Nhưng tôi cò phải phường ăn cắp đâu? Má tôi vẫn dạy tôi rằng lấy những đồ vật không thuộc về mình là xấu xa lắm. Nếu tôi có làm thế thì tôi mới sợ. Khi ở tỉnh thành, tôi vẫn đi học Trường Chúa Nhật, được nghe thầy giáo dạy rằng Đức Chúa Trời chỉ che chở những kẻ ăn ở ngay lành, chớ không hề che chở phường trộm cướp.
Bà Khôi buồn lắm vì Cẩn dám nghi ngờ Liên như vậy. Nhưng Cẩn thú thực rằng mình rất lấy làm lạvì một đứa trẻ mồ côi lại không sợ bóng tối và có thể làm lành mặc dầu không buộc phải làm. Bà bèn giảng rằng:
-Hai con không hiểu. Có một Đấng thấy tấm lòng của các con, che chở các con trong bóng tối, gìn giữ các con khỏi tội ác; Đấng ấy chính là Đức Chúa Trời ở trên trời, Ngài là cha của mọi người tin theo Đức Chúa Jesus. Chính Ngài nghe những lời các con cầu nguyện mỗi buổi tối ở trên giường. Chính Ngài nghe các con xưng tội và tha thứ cho các con. Nếu các con hết lòng tin theo Đức Chúa Jesus, thì có thể kêu Ngài bằng “Cha chúng tôi ở trên trời.” Ngài nghe mọi lời các con nói, thấy mọi việc các con làm, biết mọi điều các con suy nghĩ; cho nên các con phải ăn ở thật thà, ngay thẳng luôn luôn như em Liên đây để được lòng Ngài.
Rồi bà xây lại Liên mà nói rằng:
-Tôi cám ơn em lắm vì đã có can đảm đi tìm giúp tôi, và cũng có sự thật thà mà trả lại. Đây, tôi xin thưởng cho em năm đồng. Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho mẹ con em luôn luôn. Trưa mai xin mời mẹ em đi với em đến nhà tôi xơi cơm.
Theo E. Olgiata
187. CÁCH ĐẾN VỚI CHÚA ĐỂ ĐƯỢC MÃO TRIỀU THIÊN
(Bao giờ phải đến?)
Điều nầy hệ trọng lắm. Nếu bạn mời dự tiệc vào hồi bảy giờ tối, ắt anh em không đến vào hồi tám, chín giờ, hay là không thèm đến chi hết. Làm vậy thật có lỗi với bạn lắm. Nhưng tôi sợ có nhiều người dám đối đãi Đức Chúa Jêsus cách ấy. Vì Ngài phán rằng: “Hãy đến, mọi sự đã sẵn rồi”, nhưng họ trì hoãn và thường khi cũng không chịu đến nữa.
ĐẾN THẾ NÀO?
Được mời đi dự tiệc, phần nhiều người mặc quần áo sang nhứt và trang điểm cho thêm phần diễm lệ. Nhưng Đức Chúa Trời muốn tội nhân đến cùng Đấng Christ y nguyên chơn tướng, bày tỏ hết mọi tội ác xấu xa, chớ không chịu họ làm ra vẻ công bình đạo đức. Ngài muốn họ đến cùng Đấng Christ như chàng thiếu niên phóng đãng ăn bận rách rưới quay đầu trở về nhà. (Lu-ca 15:11-32).
ĐẾN ĐƯỢC GÌ?
Được mọi sự. Hiện nay được tha tội, được cất bỏ mối hoài nghi, được làm hòa với Đức Chúa Trời, và về sau chắc sẽ được vinh hiển với Đấng Christ. Anh em có thấy mão miện ở trên đầu thang không? Ấy nghĩa là chúng ta đến cùng Ngài như những tội nhơn đáng thương và hầu việc Ngài trong đời nầy, thì Ngài chẳng những cứu chúng ta, nhưng sau nầy còn thưởng cho chúng ta mão miện không hề tàn héo. Vậy, bây giờ xin khuyên anh em đến cùng Đấng Christ và tin cậy Ngài.
W.E.W
188. NHỊN NHỤC SANH HẠNH PHƯỚC
Một ông Vua đi du lịch, thấy một gia đình mà cha mẹ, con cái, dâu, rễ, tôi tớ sống bình yên, thuận hòa, Vua rất ngạc nhiên, Vua hỏi người cha trong gia đình đó về bí quyết của họ là gì mà được hưởng hạnh phúc như thế. Ông nầy lấy bút chì viết rằng: “Nhịn nhục! Nhịn nhục! Nhịn nhục!”
189. CHÚA BAN ƠN HUỆ NHIỀU HƠN SỬA TRỊ
(Trong quyển Kinh Thánh của một bà cụ)
“Đời ta ví như cái mặt đồng hồ. Hai cái kim là hai tay của Đức Chúa Trời luôn luôn cử động. Kim ngắn là kim sửa trị, kim dài là kim thương xót. Kim sửa trị là kim chậm chạp và chắc chắn là tiếng chuông đồng hồ reo ví như tiếng phán của Đức Chúa Trời.
Nhưng kim thương xót chạy gấp 12 lần kim sửa trị, nghĩa là ơn phước Chúa ban nhiều hơn sự sửa phạt. Cả hai, kim vặn chặt và một chốt vững chắc, là tấm lòng sâu rộng, từ ái, không hề thay đổi của Đức Chúa Trời.”
CỨU CHÚA LẠ LÙNG THAY!
Không cứ ta cần gì, Đấng Christ cũng làm đầy đủ.
Anh em muốn lành hẳn vết thương chăng? – Ngài là thầy thuốc.
Anh em hầu gần chết khát chăng? – Ngài là suối nước.
Anh em mòn mỏi vì gánh tội chăng? – Ngài là Đấng xưng công bình.
Anh em cần được cứu giúp chăng? – Ngài là sức mạnh.
Anh em sợ chết chăng? – Ngài là sự sống.
Anh em ao ước ơn phước thiêng thượng chăng? – Ngài là đường đi.
Anh em muốn tránh bóng tối chăng? – Ngài là ánh sáng.
Anh em đói chăng? – Ngài là thức ăn.
Hãy nếm thử Ngài, thì sẽ thấy Ngài ngọt ngào dường bao! Phước cho kẻ nào trông cậy Ngài!
Thánh Ambroise
190. KHUYÊN GIỤC TÍN ĐỒ “CỨ Ở TRONG CHÚA”
(Một giấc chiêm bao)
Thình lình một bàn tay vỗ vào tôi đang gục trên quyển Kinh Thánh vẫn mở để trên bàn. Giựt mình nhìn lên, tôi thấy đứng bên tôi một ông như quen lắm. Nhìn ông tôi vừa yêu vừa sợ. Tôi đứng dậy mời ông ngồi. Nét mặt ông rất khoan hòa, nhu mì, lại sáng lòa khiến tôi càng thêm kính sợ. Không đợi tôi hỏi, ông tự giới thiệu ngay: “Ta là Jêsus ở Na-xa-rét đây.”
Nghe nói, lòng tôi khấp khởi nhưng còn bán tín, bán nghi. Tôi đưa mắt nhìn bàn tay ông để trên bàn; chẳng còn hồ nghi nữa. Chao ôi! Ngót hai ngàn năm nay, tưởng rằng sẹo phải hết rồi. Song cũng phước, nếu không thấy vết sẹo xuyên qua giữa mu bàn tay thì chưa chắc tôi đã dám nhận là Chúa. Tôi cảm động quá, chỉ kêu được một tiếng: “Chúa ôi!”
Sẵn quyển sách đang mở, Chúa chỉ vào dòng 11, cột 2, trang 61 của Tân Ước mà bảo tôi đọc. Vừa vui vừa sợ, tôi cất tiếng đọc, hơi run run khác lúc thường: “Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ư!” Chúa lấy tay làm dấu cho tôi im. Đoạn Ngài cất giọng nhơn từ mà nghiêm nghị phán cùng tôi rằng:
-Giờ nầy là giờ con ngủ và nghỉ ư? Con có biết giờ ta sắp trở lại không? Con có để mắt nhìn xem tình hình thế giới cùng mọi việc xảy ra như lời Ta đã nói và được chép trong sách nầy không? Sa-tan biết ngày của nó gần rồi, nên nó hết sức tấn tới trong công việc nó, con có thấy không? Con khá coi chừng mưu chước nó. Lắm kẻ đang tìm phương phá hủy công việc Ta và muốn làm hại anh em chị em con ở các nơi, con có hay không? Phần nhiều anh em chị em con đã lãnh đạm đối với Ta, khiến Ta đau đớn không thua gì lúc bị treo lên thập tự giá vì tội của con và của họ, con đã rõ chưa? Con có nghiệm thấy lòng người đời càng ngày càng cứng cỏi không? Đấy con xem, con làm chứng về Ta thì họ chê cười, bắt bẻ. Mời đến nghe giảng thì họ chẳng đến. Số phận tương lai họ ra sao, hẳn con còn nhớ lời Ta nói, đã chép trong sách nầy. Con ơi, tính ra trong nước Việt Nam con, khoảng hai ngàn người mới có một người tin Ta. Như vậy đó,con ngủ và yên nghỉ ư???
Nghe bấy nhiêu lời, tôi toát cả mồ hôi, chỉ cúi đầu làm thinh. Hồi lâu, không hiểu sao lòng tôi lại được yên ủi. Tôi tin rằng vì Chúa đang ở cùng tôi và sẵn lòng tha thứ mọi sự vi phạm cho tôi. Kế đến, tôi mới dám se sẽ cất tiếng như kẻ thất vọng vừa được yên ủi, hỏi rằng: “Chúa ơi! Con cứ làm đầy tớ vô ích của Chúa đến chừng nào? Nhớ ngày Chúa sai con đến tỉnh kia vừa một năm tròn mà chẳng nên công cán gì cho Chúa. Lại bây giờ ở đây làm tám tháng trường, chỉ thấy công việc Ngài càng sa sút. Anh em đã tản lạc hầu hết, chỉ còn sót lại năm ba người, nhưng chẳng ai chịu nhóm lại thờ phượng Chúa. Còn chính con thì đời thiêng liêng khi chìm khi nổi, thiếu quyền lực Chúa để kéo tội nhân đến với Ngài.”
Chúa chỉ tay vào quyển Kinh Thánh tôi vừa mới đọc và hỏi tôi rằng:
-Con có tin những lời chép trong nầy chăng?
-Lạy Chúa, con tin… song trước mặt Chúa con đâu dám nói dối, vì Chúa biết lòng con. Xin Chúa tha tội cho, nhiều khi con tần ngần ngồi trước quyển sách nầy; lắm lúc cách ăn ở của con thật không muốn mà lại trái với Lời sách nầy.
-Vậy, con có thấy những lúc đó lòng con như mê chợt tỉnh, hồi hộp nhưng rồi hớn hở không?
-Lạy Chúa, có.
-Những lúc ấy chính là những lúc ta đến để yên ủi và dạy dỗ con đó.
Đoạn Chúa lấy Kinh Thánh chỉ cho tôi sách Giăng đoạn 15. Ngón tay Chúa đưa đi đưa lại mãi trên câu 5.
Còn tôi, khóc to một tiếng, giựt mình tỉnh dậy thì ra một giấc chiêm bao.
V.T.H.
191. HẦU VIỆC CHÚA QUÍ HƠN TIỀN BẠC
(Trọng nghĩa khinh tài)
Có một hội bán dầu họp Ban Trị Sự để bầu cử một người làm quản lý chi nhánh mới mở ở bên Tàu. Ông Hội trưởng báo cáo điều lệ rằng: “Phải có đủ ba tư cách này thì mới nhận được chức quản lý. Ấy là phải có học thức, phải biết tiếng Tàu, phải có tài sắp đặt công việc.” Nhiều người được giới thiệu, song chưa ai có đủ ba tư cách ấy.
Đến khi gần bế mạc cuộc họp, có một người trẻ tuổi đứng lên thưa rằng: “Tôi biết một người có đủ ba tư cách ấy. Người nầy đương ở bên Tàu, tại chính thành phố các ông muốn mở chi nhánh. Người 28 tuổi, có ba bằng cao đẳng, thông thạo tiếng Tàu, nên được người Tàu kính trọng, và rất có danh tiếng.”
Một nhân viên trong Ban Trị Sự hỏi rằng: “Ông ấy được lương bao nhiêu?” Người trẻ tuổi đáp: “Mỗi năm được 600đ.” Nghe vậy, ai nấy lấy làm lạ mà nghi ngờ rằng người nầy nói dối. Người trẻ tuổi biết họ nghi ngờ mình, bèn đứng lên nói rõ ràng: “Ít lương không phải tại bạn tôi bất tài, nhưng là theo điều lệ hội, vì bạn tôi làm mục sư.”
Ông hội trưởng bèn cử đại biểu sang Tàu tìm mục sư đó mà giao việc cho. Khi hai bên gặp nhau, đại biểu bày tỏ sự thể rồi nói rằng:
-Hội tôi bằng lòng trả ông một năm một vạn đồng.
-Không được!
-Thế thì hội tôi xin trả một vạn hai.
-Không được!
-Vậy ông đòi bao nhiêu?
Tôi không nhận không phải vì tiền lương ít đâu; kể thế thì nhiều lắm rồi, song tôi so sánh việc bán dầu với việc giảng đạo, thì việc bán dầu là nhỏ quá. Thà tôi làm việc cứu linh hồn mà ít tiền, còn hơn là làm việc bán dầu mà nhiều lương. Nếu tôi bỏ việc giảng đạo mà nhận việc bán dầu, thì thật điên dại lắm. Cám ơn ông, tôi không nhận việc đó.
Js
192.MỖI HẠNG NGƯỜI ĐỀU CẦN NHỜ HUYẾT BÁU CHÚA CHE CHỞ
(Ba vạn sáu ngàn ngày)
Tuần báo “Vie et Liberté” có đăng một bảng thống kê cuộc đời 100 chàng thiếu niên 25 tuổi như sau:
-Lúc 35 tuổi: 10 giàu, 10 khá, 40 có làm mới có ăn, 35 nghèo, 5 qua đời.
-Lúc 45 tuổi: 1 giàu, 3 khá, 65 có làm mới có ăn, 13 phải nhờ kẻ khác, 16 qua đời.
-Lúc 55 tuổi: 1 giàu, 4 khá, 46 có làm mới có ăn, 30 phải nhờ kẻ khác, 20 qua đời.
-Lúc 65 tuổi: 1 giàu, 4 khá, 5 có làm mới có ăn, 54 phải nhờ kẻ khác, 36 qua đời.
-Lúc 75 tuổi: 1 giàu, 2 khá, 34 phải nhờ kẻ khác, 63 qua đời.
-Lúc 100 tuổi: qua đời hết, và nếu không tin Đức Chúa Jêsus thì hết thảy bị hình phạt đời.
Hỡi ai trong cõi trần, hãy kíp ẩn mình dưới dòng huyết của Chúa Jêsus để thoát khỏi cơn thạnh nộ.
Vie et Liberté
193. GIÀU ĐỪNG KIÊU, NGHÈO ĐỪNG THẸN, CỨ THEO GƯƠNG CHÚA JÊSUS
(Vì sa rãnh, mới làm lành)
Ước hán, con nhà giàu, ít tuổi, không biết gì. Ở nhà sang, nuôi ngựa con, mặc quần áo đẹp. Tánh nó kiêu ngạo lắm. Nghĩ mình được sanh ra làm con nhà giàu, hạnh phước biết bao! Ước chẳng bao giờ nghĩ đến học để thành người tốt. Càng ngày nó càng vô lễ: đãi tôi tớ rất bạc; có khi lại ngược đãi cả chó, mèo nữa. Một bữa, Ước giơ chân đá con Thấu-tắc vốn rất dữ. Sau khi bị đá, chó nhe răng, làm bộ muốn cắn trả. Ước sợ, từ đó không dám ngược đãi nó nữa. Còn tôi tớ trong nhà thì sợ Ước, thấy vậy nó lại cứ làm già. Gặp trẻ nhà nghèo, Ước thường đối đãi một cách hung ác.
Một hôm, Ước đang chơi trong vườn hoa trước sân, vừa thấy một cậu bé trạc tuổi với Ước, mặc áo cũ, đội mũ rách, đi chân không, đứng nơi cửa vườn, tay cầm một cái thùng nhỏ chứa đầy trái mơ, tỏ vẻ yêu Ước. Đó là một cậu bé con nhà nghèo. Ước đến gần mắng rằng: “Đi mau! Đi mau! Ta không muốn thấy một đứa ăn mặc rách rưới đến đứng ở đây.” Cậu bé kia nói: “Hãy thong thả. Tôi đương khát, xin anh làm ơn cho tôi chén nước uống. Anh là con nhà giàu, chắc không tiếc gì chén nước.” Ước lại mắng: “Ta không thể cho mầy một vật gì được. Mầy không đi ngay, thì ta xuỵt chó ra đuổi bây giờ.” Không làm sao xin được, cậu bé kia bèn đi.
Giây lát, Ước nghĩ đến mơ, thèm ăn quá, chạy ra ngoài tìm kiếm. Thấy một cây ở chỗ lối rẽ trên đường, sai trái lắm. Bên kia rãnh, lại có một cây, trái sai hơn và lớn hơn. Ước muốn hái những trái đó, lại thấy rãnh không rộng lắm, tưởng nhảy qua được, bèn lùi lại vài bước, rồi chạy vội lên, nhảy phắt một cái. Không ngờ rãnh rộng quá tầm, nên Ước trượt chân sa ngay xuống rãnh.
Ước bị lún xuống trong bùn gần nửa người, không thoát ra được. Sợ quá, nó kêu cứu lớn tiếng, nhưng không ai trả lời cả vì ở gần đấy không có người ở. Ước vẫn biết vậy, song cứ kêu la cầu cứu cho đến chừng không còn đủ sức mới thôi. Nó nghĩ thầm rằng, bữa nay chắc mình phải đứng hoài trong rãnh. Đang khi bối rối, bỗng nghe trên đường có tiếng người đi, nó nhìn lên thì ra cậu bé nghèo mà mình mới đuổi khỏi vườn bữa sớm. Ước chẳng kể đến sự mình đã đuổi hắn, cũng không kể đến hắn có thù mình hay không, vội la lên rằng: “Anh ơi! cứu tôi với! Tôi sẽ biếu anh, một đồng bạc.” Cậu bé nghèo kia nói: “Giơ tay ra! Tôi không mong anh đền ơn đâu.” Nói rồi cậu bé ấy liền khom người xuống đón lấy tay Ước, cố sức lôi lên.
Ước lên đến chỗ đất khô ráo, suốt mình lấm láp, mũ mất, giày tuột một chiếc ở trong rãnh không thể lấy lên được, trông rất là khốn nạn! Cậu bé nghèo nhìn Ước mỉm cười mà rằng: “Hãy xem ai trong chúng ta bây giờ dơ dáy hơn?” Ước nói: “Tôi. Song tôi đã nhờ anh khỏi nạn nầy, lòng thật áy náy! Vì sáng nay tôi đã đuổi anh ra khỏi cửa vườn.” Cậu bé nghèo không đáp.
Hôm sau cậu bé ấy qua cửa nhà Ước, Ước ở trong ngó thấy, liền ra rủ vào chơi, đem thỏ và vịt con ra cho xem, lại đem ngựa con ra cho cỡi. Cậu bé ấy hỏi Ước: “Sao nay anh có lễ phép như vậy?” Ước đáp: “Vì cái rãnh bùn nó đã dạy tôi.”
Rất mong các em đọc truyện nầy để răn mình. Ai giàu chớ tự kiêu, song phải ăn ở nhã nhặn, ai nghèo chớ tự thẹn, song phải làm tròn bổn phận. Đừng cậy tài, cậy của mà khinh dễ ai, nhưng phải sẵn sàng giúp đỡ mọi người, dẫu là người đã ở bạc với mình cũng vậy. Trong mọi sự, hãy noi gương sáng của Đức Chúa Jêsus.
-Dịch Báo Tàu-
194. LÀM VỮNG LÒNG NGƯỜI SỢ SỰ CHẾT VÀ MỒ MẢ
(Bóng tối)
Tối thứ bảy kia, tôi làm việc trong buồng giấy, thình lình có người đến mời đi thăm một cụ chăn chiên đang hấp hối. Cụ là tín đồ sốt sắng. Tôi lập tức vượt cánh đồng cỏ, đến gian nhà nhỏ hẹp sơ sài của cụ.
Bước tới buồng lụp sụp, tôi thấy cụ tựa lưng vào mấy chiếc gối và thở rất khó nhọc. Cụ bảo vợ kéo ghế cho tôi ngồi rồi phải ra ngay để chỉ còn tôi với cụ ở đó. Cửa vừa đóng lại, cụ bèn lộ vẻ buồn thảm quá đỗi – tôi chưa từng thấy ai buồn thảm như vậy – cụ nói:
-Thưa ông, tôi gần chết, nên sợ hãi lắm!!!
Tôi đọc cho cụ nghe mấy lời Chúa hứa chắc chắn hơn hết trong Kinh Thánh, song cụ cản lời tôi và buồn bực nói như vầy:
-Tôi biết các lời hứa ấy, nhưng nó chẳng yên ủi tôi chút nào.
-Cụ có đức tin không?
-Có chớ, tôi hết lòng tin Chúa.
-Cụ tin một Cứu Chúa rất oai quyền, sao còn sợ hãi?
-Thưa ông, dầu tin nhưng tôi vẫn kinh khiếp lắm.
Tôi cầm quyển Kinh Thánh trên giường cụ, mở nhằm Thi-thiên 23 rồi nói:
-Cụ thuộc Thi-thiên 23 chăng?
-Thuộc Thi-thiên 23 à? Tôi thuộc nó trước khi ông ra đời. Đang đi chăn chiên trên núi, tôi đọc nó hàng ngàn lần nên không cần nghe đến nữa.
-Dẫu vậy, còn một câu trong Thi-thiên đó cụ chưa ứng dụng cho mình.
Cụ nghiêm sắc mặt, nhìn tôi:
-Tôi há chẳng nói rằng tôi thuộc Thi-thiên đó từng chữ, từng tiếng trước khi ông ra đời sao?
Tôi đọc chậm rãi câu: “Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi.” Đoạn tôi nói:
-Cụ chăn chiên suốt đời, chắc thấy bóng tối vây phủ trũng, che khuất ánh sáng mặt trời ít lâu, thấy vậy cụ sợ hãi chăng?
Cụ cau miệng cãi:
-Tôi sợ hãi à! Chẳng khi nào. Tôi can đảm lắm nên chẳng sợ bóng tối hoặc thú dữ.
-Bóng tối có khiến cụ tưởng mặt trời đã biến mất cho đến đời đời chăng?
-Chẳng khi nào. Tôi đâu có ngu đến thế!
-Dẫu vậy, thái độ cụ bây giờ làm chứng rằng cụ có sợ, có tưởng như thế. Nầy hiện nay bóng chết bao phủ cụ, che khuất mặt trời công bình ít lâu, nhưng Mặt Trời vẫn chói sáng. Bây giờ cụ chỉ thấy bóng tối. Cụ nên nhớ rằng tác giả Thi-thiên chỉ coi sự chết như là cái bóng mau qua. Bóng tối qua rồi cụ sẽ thấy Núi Vinh Quang đời đời, chẳng có một chút bóng tối!
Cụ giơ hai tay run rẩy che mặt và nín lặng vài phút, đoạn buông hai tay trên mền, nói rằng:
-Lạ thay! Ngoài đồng cỏ, tôi đọc câu nầy hàng ngàn lần mà chẳng hiểu nghĩa. Cớ sao tôi sợ bóng tối?
Rồi cụ quay về phía tôi, vẻ mặt có vinh quang thiên thượng chiếu rọi, giơ tay lên trời mà rằng:
-Phải, phải, bây giờ tôi thấy sự chết chẳng qua là bóng tối, đằng sau có Đấng Christ. Quả thật, bóng tối sẽ biến mất. Tôi không sợ nó nữa!!!
Hạnh phước thay, tín đồ được ơn đến mồ mả, chẳng phải như đến nơi mình không hề biết, nhưng như đến nơi Đấng Christ đã trải qua! Nếu anh em muốn khỏi sợ sự chết và mồ mả, muốn có sự trông cậy chắc chắn được sống đời đời trong nước Đức Chúa Trời thì hãy kíp tin Đức Chúa Jêsus, là Đấng đã chịu chết vì tội lỗi anh em.
195. CẦN LƯU Ý ĐẾN LINH HỒN MÌNH
(Anh em có nghĩ đến linh hồn mình không?)
Những bậc đế vương trị vì dân nước, những văn sĩ trứ danh, những tay lãnh tụ chốn nghị trường, những diễn giả đã làm say mê hàng ngàn vạn thính giả, những đại tướng đã lập được quân công hiển hách, - hết thảy những bậc ấy đã bước vào cõi đời đời vô tận. Ta chỉ còn hỏi những bậc ấy một câu rất quan hệ nầy:
LINH HỒN HỌ Ở ĐÂU???
Hỡi độc giả yêu quí, chúng tôi nài nỉ anh em đừng bỏ qua vấn đề ấy nếu chưa giải quyết xong.
Vì tình yêu thương vô hạn của Đức Chúa Trời, vì Đấng Christ chịu chết trên thập tự giá, vì Đức Thánh Linh làm chứng có quyền, vì cõi đời đời kinh khiếp dành sẵn cho kẻ tội lỗi, vì linh hồn bất diệt của anh em có giá trị vô cùng, vì mọi hạnh phúc và hỉ lạc của Thiên đàng và mọi sự đau đớn đáng sợ của địa ngục, - vì thế cho nên, hỡi ai chưa nhận được sự cứu rỗi, chúng tôi nài nỉ anh em hãy đến cùng Chúa Jêsus ngay.
Chớ trì hoãn, chớ biện luận, chớ bắt bẻ. Hãy đến cùng Ngài ngay bây giờ. Anh em thể nào, hãy đến cùng Ngài thể ấy, đem theo tấm lòng ô uế, mảnh hồn xấu xa, cuộc đời hư hoại, thì huyết báu của Đức Chúa Jêsus sẽ bôi xóa hết thảy và cho anh em trở nên con cái thánh khiết của Đức Chúa Trời toàn năng.
Hỡi anh em yêu quí! Anh em có nghĩ đến linh hồn mình không?
C.H.M.
196. SỰ ĐỔI MỚI ĐÁNH BẠI SỰ CƯƠNG GIẢI KINH THÁNH
(Đừng hiểu lầm)
Vào thế kỷ thứ hai, Celse, nhà triết học Rô-ma, kình địch đạo Tin Lành, dám cắt nghĩa sai lời Đức Chúa Jêsus phán trong Ma-thi-ơ 9:13 “Ta đến đây không phải để kêu kẻ công bình, song kêu kẻ có tội.”
Ông than phiền rằng: “Đức Chúa Jêsus đến thế gian để lập một xã hội ghê gớm, kinh khiếp nhứt, vì Ngài kêu gọi kẻ tội lỗi chớ không kêu gọi kẻ công bình. Như vậy, Ngài đến tổ chức một đoàn thể độc ác, bị phân rẽ với lương dân. Ngài xua đuổi hết thảy người lành và nhóm họp hết thảy kẻ dữ.”
Một người đáp: “Thật thế, Đức Chúa Jêsus đến để kêu gọi tội nhân; nhưng Ngài kêu gọi họ ăn năn. Ngài nhóm họp phường xấu xa, song đổi họ nên người mới. Thấy mình có lòng hà tiện, tà dâm, hung tợn, vô tín, chúng tôi bèn đến cùng Ngài, liền được Ngài đổi nên rộng rãi, thanh khiết, nhu mì, tin kính.”
Sứ đồ Phao-lô nói: “Nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đã trở nên mới” (IICô-rinh-tô 5:17).
-Scattered Seed-
197. BÌNH TĨNH KHI CHÚA ĐIỂM DANH
(Có tôi đây!!!)
Mùa thu năm 1870, một người lính bị trọng thương được điều trị trong bệnh viện nước Pháp. Tội nghiệp! Chàng thiếu niên càng lâu càng yếu đuối; thầy thuốc đang canh gác thình lình nghe chàng đáp rất rõ: “Có tôi đây!”
Không hiểu là gì, ông lại gần người hấp hối, ôn tồn hỏi rằng:
-Chàng muốn gì?
-Tôi không muốn chi hết, nhưng tôi nghe trên trời đang điểm danh; người ta gọi đến tên tôi, tôi bèn thưa “Có tôi đây!”
Nghe mấy lời đó, thầy thuốc lấy làm lạ, nghiêng mình trên chàng chiến sĩ thanh niên, cầm tay chàng… và chàng chết!
Hỡi độc giả, khi tiếng oai nghiêm vang dậy của Đức Chúa Trời gọi tên bạn, thì bạn có thể bình tĩnh và vắn tắt thưa: “Có tôi đây” chăng?
-Le Réveil-
198. CHĂM VỀ SỰ ĐỜI ĐỜI
(Ba câu khẩu hiệu)
Nhà thờ thành phố Milan, nước Ý, có ba cửa, mỗi cửa có một câu khẩu hiệu bao hàm ý nghĩa sâu xa. Dưới một chùm hoa hồng ta đọc mấy chữ: “Mọi sự làm cho ta thỏa thích chỉ còn trong giây lát.” Lại dưới một cây thập tự ta đọc mấy chữ: “Mọi sự làm cho ta bối rối chỉ trong giây lát.”
Nhưng trên cửa chánh có câu nầy: “Cái gì còn lại đời đời mới là quan trọng.”
Ước gì ai nấy cũng nói như Phao-lô rằng: “Chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không vùng vậy” (IICô-rinh-tô 4:18).
199. CỨ THEO CHÚA LUÔN DẦU GẶP NGHỊCH CẢNH
(Ông tướng lạ kỳ)
Có truyện thuật rằng Đại tướng Garibaldi một ngày kia nhóm họp quân đội ăn bận rách rưới mà hiểu dụ rằng:
-Ta cho các ngươi sự đói khát, lạnh lẽo, thương tích và chết trận. Ai vui lòng nhận các điều ấy thì theo ta!
Chẳng một ai chịu lìa bỏ hàng ngũ của mình. Anh em theo Đức Chúa Jêsus cách nào? Ngài phán rằng: “Ai gìn giữ sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ Ta mất sự sống mình thì sẽ tìm lại được” (Ma-thi-ơ 10:39).
200. ĐỪNG ÍCH KỶ
(Lời con trẻ)
Em Nam phạm lỗi, mẹ em bắt em sang ngồi trong phòng bên cạnh mà suy nghĩ và xét mình một lúc. Chừng mười phút sau, em trở lại, mặt mày hớn hở, vui mừng nói với mẹ rằng:
-Con đã suy nghĩ và cầu nguyện rồi, má ạ.
Mẹ nói:
-Chà! Tốt quá! Thật là có ích cho con, chắc con sẽ đổi ra ngoan ngoãn, đáng yêu, đáng quí.
-Ô! Thưa má, con không cầu xin Đức Chúa Trời đổi lòng con nên ngoan ngoãn, nhưng cầu xin Ngài làm cho má nín chịu mọi điều lầm lỗi con đã phạm.
Đó há chẳng phải là cách ta thường đối đãi với người khác và muốn người khác đối đãi với mình sao? Chúng ta không chịu hy sinh một chút gì, nhưng bắt kẻ khác hy sinh đủ thứ.