HA-BA-CÚC

MỤC LỤC

HA-BA-CÚC

1. DẪN NHẬP (Ha 1:1)

Đây là một trong những phần nhập ngắn gọn nhất dẫn vào nội dung rao giảng của một vị tiên tri.  Câu này cũng giới thiệu với chúng ta rằng ông Ha-ba-cúc là một vị tiên tri.  Trong toàn bộ Kinh Thánh chỉ có câu này nói về ông Ha-ba-cúc.  Câu này không đề cập cụ thể đến Đức Chúa Trời (so sánh Gion 1:1  Mi 1:1  So 1:1  Ma 1:1), nhưng lời tiên tri (gánh nặng) trong văn cảnh này cho biết đây là một sứ điệp từ Đức Chúa Trời (Exe 12:10  Na 1:1).  Không hẳn những lời tiên tri này được chuyển đạt bằng lời nói, nhưng có thể đây là một sự khải thị theo lối thông thường chung, tức là tiên tri tiếp nhận sứ điệp trong một khải tượng (so sánh Mi 1:1).

2. ĐỐI THOẠI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI (Ha 1:2-2:20)

Trong khi các tiên tri khác chuyển đạt sứ điệp của Đức Chúa Trời cho dân sự, ông Ha-ba-cúc thưa trình với Đức Chúa Trời về hai vấn nạn, và Đức Chúa Trời đã trả lời cho ông.

1. Vấn nạn:  Vì sao sự gian ác không bị hình phạt? (Ha 1:2-4)

Tiên tri Ha-ba-cúc vận dụng thể loại khóc than theo phong tục để hỏi Đức Chúa Trời rằng ông phải khiếu nại về vấn đề của ông cho tới bao lâu thì Chúa mới đáp lời (so sánh Thi 13:1-2).  Đức Chúa Trời có khả năng hoặc có sẵn lòng giải cứu ông khỏi bạo lực hay không?  Cũng như ông Gióp, ông Ha-ba-cúc không ngần ngại gì trong việc chất vấn Đức Chúa Trời khi vốn hiểu biết của ông về Ngài cùng đường lối của Ngài lại không phù hợp với kinh nghiệm trong thực tế.

Hàng chuỗi bất hạnh nghiêm trọng nối nhau đổ xuống trên tôi tớ của Đức Chúa Trời.  Tác giả đặc biệt phiền lòng không phải về những bất hạnh đó mà vì nguồn gốc của những bất hạnh đã giáng trên ông.  Bình thường, tai hoạ bắt nguồn từ kẻ thù ở bên ngoài, đối với cá nhân hoặc toàn dân.  Nhưng trong trường hợp này nó xuất phát từ lòng của dân tộc, kẻ gian ác là thành phần không chịu ăn năn hối cải ở giữa vòng dân tộc.  Có ý kiến cho rằng kẻ gian ác chỉ về người A-si-ri, như vậy là khớp với bối cảnh lịch sử của lời tiên tri, nhưng chủ trương như trên mới lý giải được chi tiết luật pháp không còn quyền hạn (luật pháp không được tôn trọng, bản diễn ý).  Luật pháp này chi phối dân sự của Đức Chúa Trời, nhằm duy trì trật tự xã hội (Xu 18:16,20  Es 2:3) còn A-si-ri không lệ thuộc vào sự chỉ đạo của luật pháp này.  Nhưng nay, tại Y-sơ-ra-ên công lý không còn nữa hoặc tệ hại hơn, bị uốn cong và méo mó mất rồi trong khi đáng lẽ phải làm cột mốc cho nếp sống đạo đức (Am 5:24).

Trong thời của ông Ha-ba-cúc, cũng như trong thời nay, ngay giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời vẫn xảy ra lắm điều bất công nghiêm trọng.  Thay vì dung túng tội lỗi hoặc tìm cách bỏ lơ, bỏ qua, tiên tri Ha-ba-cúc yêu cầu là phải hình phạt theo như luật pháp của Đức Chúa Trời đã quy định.  Cũng như trong thời của tiên tri Ha-ba-cúc, dân của Đức Chúa Trời ngày nay  cho là phải xử lý tội lỗi của người ngoại đạo nhưng lại tỏ ra quá bao dung dễ dãi đối với những việc diễn ra trong nội bộ, là những việc rõ ràng trái ngược với ý muốn của Đức Chúa Trời như Ngài đã khải thị trong Kinh Thánh và trong cõi sáng tạo.  Trong khi nỗ lực cứu kẻ có tội, chúng ta dung túng tội lỗi hoặc ít nhất cũng tìm cách giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của hậu quả mà tội lỗi đó gây ra.  Thay vì đối đầu xử lý tội lỗi để cứu người vi phạm, chúng ta không đối đầu xử lý nên coi như ngầm cho phép đương sự tiếp tục phạm tội (so sánh ICo 5:1-13).  Con cái của Đức Chúa Trời được kêu gọi đương đầu chống lại điều sai quấy trong cộng đồng, dù là có tính cách tập thể, hoặc xã hội, hoặc chính trị. Nhưng sự đương đầu chống cự sẽ rỗng tuếch nếu trong cộng đồng tín đồ chúng ta chấp nhận chuyện “phạm tội trong phạm vi an toàn” và không quyết tâm trừ diệt tội lỗi tận gốc.

2. Đáp:  Kẻ ác sắp bị hình phạt (Ha 4:Ha.1.5-11)

Ông Ha-ba-cúc tha thiết cầu xin Đức Chúa Trời thi hành công lý.  Ngài sẽ trả lời sớm, ngay trong thời của ông và ông sẽ sững sờ khi sự việc diễn ra.  Sự việc sẽ diễn ra giữa vòng các dân tộc. Bản NIV thay đổi một chữ trong nguyên từ Hi Bá Lai nên chuyển ngữ là “kẻ chế nhạo, người phản bội”.  Sự ngờ vực của tác giả phát sinh từ nhân thân của người Ba-by-lôn là công cụ mà Đức Chúa Trời dùng để hình phạt.  Người Ba-by-lôn nổi tiếng về tánh hung dữ bạo tàn, họ sẽ trừ diệt hết mọi người.

Vấn nạn của ông Ha-ba-cúc về việc người Ba-by-lôn gồm hai mặt.  Họ là một dân ngạo mạn, không chấp nhận một sự hướng dẫn của ai cả, cũng không sợ bất cứ một sự kháng cự nào về mặt quân sự.  Họ chỉ lo mưu đồ xây dựng vị trí cao trọng của mình và chỉ biết tuân thủ luật pháp của riêng họ mà thôi.  Khi triển khai quân lực trong chiến tranh, sư đoàn kỵ binh của họ hùng hổ tham tàn chẳng khác gì thú dữ và lẹ làng như chim bay.  Kiêu ngạo và hung bạo là hai bản tánh thâm căn cố đế của dân tộc này vì họ chỉ lo tôn thờ quyền lực của chính mình mà thôi.

3. Vấn nạn: Phải chăng thuốc chữa bệnh lại ghê tởm hơn căn bệnh? (Ha 1:12-17)

Thay vì vui mừng khi Đức Chúa Trời trả lời cho bài thơ than vãn của mình, ông Ha-ba-cúc tiếp tục dâng lên một bài thơ tương tự.  Trong bài này, ông thắc mắc là bản tánh của Đức Chúa Trời là thánh khiết và công bình, sao Ngài lại có thể chấp nhận một biện pháp hình phạt mà tự thân nó xem ra là bất công rồi.

Ông Ha-ba-cúc mở đầu bài thi thiên với niềm tin căn bản là Đức Chúa Trời chẳng những thánh khiết và thực hữu đời đời mà còn là Đức Chúa Trời của giao ước liên quan tới dân tộc của ông là người Y-sơ-ra-ên.  Ông gói ghém ý này trong danh hiệu Giê-hô-va (Yahweh), là danh hiệu mà Đức Chúa Trời dùng khi lập giao ước (Xu 6:2-8),  Ông thưa với Chúa là Đức Chúa Trời của con cho thấy chẳng những Ngài rất gần gũi với ông mà Ngài cũng là một Đức Chúa Trời hiện hữu độc lập tách biệt khỏi sự hiện hữu của dân sự.  Điểm này hoàn toàn trái ngược với niềm tin của người Ba-by-lôn.  Đối với người Ba-by-lôn, đối tượng mà họ tôn sùng thờ kính không có sự hiện hữu độc lập tách khỏi sự hiện hữu của họ vì đối tượng đó chính là lực lượng quân sự của họ đó thôi (11). Đối với ông Ha-ba-cúc, Đức Chúa Trời là Vầng đá bất di bất dịch (so sánh Phu 32:18).  Cho nên, dù ông thắc mắc về việc Ngài chọn dân tộc gian ác này làm công cụ để hình phạt và xét xử dân của Ngài, ông vẫn tin rằng Đức Chúa Trời có lý do khi Ngài quyết định như vậy.  Ông sẵn sàng thảo luận về vấn đề này với lòng tin tưởng rằng dù sao đi nữa mục đích tận cùng của Đức Chúa Trời là bảo tồn dân sự của giao ước cho riêng Ngài.

Dầu vậy, ông Ha-ba-cúc vẫn loay hoay với một vấn nạn trong lãnh vực thần học là làm sao Đức Chúa Trời thánh khiết, trong sạch trong mọi điều và hoàn toàn không dính dáng gì đến tội lỗi lại có thể dung chịu điều gian tà và những hành động lừa phỉnh của dân Ba-by-lôn mà Ngài đã chọn làm công cụ của Ngài trong việc hình phạt (13).  Dù kẻ ác trong dân Y-sơ-ra-ên thật là tồi tệ (4), nhưng lại chẳng có nghĩa lý gì bên cạnh tầm cỡ độc ác ngang ngạnh của dân Ba-by-lôn.  So với Ba-by-lôn thì “tội nhân Y-sơ-ra-ên” có thể được kể là công bình, hiểu theo ý tương đối chớ không phải tuyệt đối.  Tình trạng đạo đức của dân Ba-by-lôn tụt rất xa chuẩn mực mà Đức Chúa Trời yêu cầu, nên tác giả kinh ngạc là làm sao Đức Chúa Trời có thể đưa mắt nhìn đến họ.

Ông Ha-ba-cúc gan dạ đến độ không phải chỉ chất vấn Đức Chúa Trời về những hành động của Ngài, ông còn dám chê trách Ngài về việc biến chất nhân loại khiến cho con người không còn là con người nữa (14-17).  Khởi thuỷ Đức Chúa Trời dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài (Sa 1:26 5:1) và họ là tác phẩm tuyệt vời nhất ở tột đỉnh công trình sáng tạo của Ngài.  Nhưng nay Ngài xử sự với họ như thể các sinh vật trong giai tầng thấp kém hơn, trong hình ảnh ẩn dụ thì họ bị xem như loài cá hoặc một loài bò sát nào đó trước giai đoạn trở thành con người (1:26-28).  Nếu Đức Chúa Trời đã giáng cấp Y-sơ-ra-ên không cho họ làm con người nữa, thì không thể lên án Ba-by-lôn về cung cách họ đối xử với Y-sơ-ra-ên như thể một vật dụng trong môn thể thao như thể cá dành cho lưới và lưỡi câu của họ.  Họ còn sùng bái thờ lạy những dụng cụ đã giúp họ thực hiện sự tàn phá, vì những dụng cụ đó đem lại cho họ bao nhiêu là cao lương mỹ vị - xương thịt của những người mà họ bắt được.  Có nên buông cương cho cảnh tàn bạo, tinh thần phạm thượng này tiếp tục tung hoành không?

Khi con người bị cướp mất nhân phẩm vì lợi lộc kinh tế hoặc vì một ý thích riêng tư của cá nhân thì đã là việc sai quấy tồi tệ rồi.  Còn thời nay người ta tôn sùng “thành quả”, tôn sùng thu nhập vọt cao mặc dù giá phải trả cũng cao là nhân phẩm.  Tinh thần và thái độ đó xúc phạm đến con người nhiều hơn là bản tánh dã man công khai của người Ba-by-lôn.

4. Chờ đợi một câu trả lời (Ha 2:1)

Ông Ha-ba-cúc mong mỏi là Đức Giê-hô-va sẽ trả lời gấp cho ông để giải toả những thắc mắc mà ông đã nêu.  Do đó ông đứng ở trạm canh gác như một người lính canh (so sánh Es 21:8  Exe 33:7).  Thái độ tỉnh táo cảnh giác ở nơi ông là một thái độ cần có nơi một người tiên tri, hướng đến hai phía, một là hướng đến Đức Chúa Trời (so sánh Ha 1:2) hai là hướng về chính mình.  Trước mắt, ông quan tâm đến câu trả lời của Đức Chúa Trời, nhưng ông cũng cần biết là bản thân ông sẽ phản ứng ra sao đối với điều mới mẻ mà Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ.  Thay vì sợ Đức Chúa Trời nổi giận đối với một người đã ngờ vực lại còn dám đòi hỏi, ông Ha-ba-cúc kiên nhẫn đợi chờ Đức Chúa Trời trả lời và ông biết chắc chắn là Ngài sẽ trả lời.

5. Đáp:  Kẻ ác sắp bị hình phạt (Ha 2:2-20)

Đức Chúa Trời không bỏ mặc tiên tri của Ngài trong nỗi tuyệt vọng.  Theo lẽ công bình của Ngài, Ba-by-lôn cũng phải chịu trách nhiệm về những hành động quá đáng của họ.  Ngài bày tỏ những điều đó qua năm bài ca trách cứ Ba-by-lôn.

(Ha 2:2-5) Một khải tượng được ghi chép  Đức tin của ông Ha-ba-cúc đặt nơi Đức Chúa Trời được chứng minh là đúng khi Ngài giải toả nỗi niềm băn khoăn rối reng của ông.  Điều này chứng tỏ Đức Chúa Trời tôn trọng những thắc mắc chính đáng.  Tuy nhiên, nội dung của câu trả lời nhằm làm vững tâm không những một mình ông Ha-ba-cúc mà tất cả những người sau này sẽ chịu khổ vì Ba-by-lôn nữa.  Tin mừng về sự giải cứu chung cuộc được gắn lên bảng, treo lên cao cách lộ liễu để mọi người qua đường đều nhìn thấy và đọc được.  Cụm từ người đang chạy được chuyển ngữ từ một câu không được sáng sủa lắm trong nguyên bản hoặc có ý nói rằng làm sao cho bất cứ ai đi qua chỗ treo bảng tin đều có thể đọc tin mừng dù là họ đang đi vội (bản NRSV) rồi họ kể cho người khác nghe về mẫu tin hoặc có ý nói về người chuyên đưa tin, tức là sứ giả có nhiệm vụ chạy đi khắp nơi rao tin tức đến cho mọi người.  Hiểu theo cách nào thì tin tức cũng được phổ biến dù rằng sự hình phạt mà Đức Chúa Trời đã báo trước có thể chưa xảy ra liền.  Đúng vậy, Đức Chúa Trời làm mọi việc trong thời gian mà Ngài đã ấn định.  Toàn bộ lịch sử đều ở trong tay Ngài, hướng thẳng đến ngày cao  điểm của Ngài.  Nhờ tin tưởng nơi Đức Chúa Trời mà chúng ta không sinh ra phiền tức bực bội trong những lúc có vẻ như Ngài trì hoãn, nhưng thật ra đó là ảo tưởng của chúng ta đấy thôi.  Chắc chắn như đinh đóng cột là các lời hứa của Đức Chúa Trời sẽ thành tựu (IIPhi 3:3-9), thành tựu trong thời điểm của Ngài.  Cuối cùng Đức Chúa Trời sẽ giải cứu dân sự của Ngài, qua một vị cứu tinh theo một trong những chiều hướng thông giải nội dung của khúc Kinh Thánh này (so sánh lề bản NIV) chúng ta có thể xác định vị cứu tinh đó là ai dầu vậy, theo một hướng thông giải tổng quát hơn và phổ thông hơn thì ở đây nói về một sự giải cứu chung chung tổng quát, không xác định thời gian.

Ông Ha-ba-cúc được lệnh ghi khắc sứ điệp của mình trên những tấm bảng nhỏ, một phương tiện lưu tồn chữ viết tại Ba-by-lôn, được làm bằng đất sét (quá trình nung làm cho những tấm đất sét cứng như đá) bằng ngà voi hoặc bằng gỗ.  Các tấm bảng nhỏ này nhắc nhở lâu dài rằng rồi đây chung cuộc lời của Đức Chúa Trời sẽ được thành tựu. 

Lời tiên tri của ông Ha-ba-cúc có gói ghém sứ điệp về niềm hy vọng nhưng không xác định cụ thể là phần nào, cũng có thể là bàng bạc trong toàn bộ nội dung của sách.  Cũng có thể là hai câu sau kế tiếp sau đây mà tác giả nhấn mạnh nhằm lưu ý chúng ta.

Phần quen thuộc nhất trong sách Ha-ba-cúc là câu 4-5.  Trong hai câu này tác giả vạch ra sự trái ngược về nhiều mặt giữa người công bình và người gian ác, dù tác giả không cụ thể nêu ra người gian ác nhưng chỉ dùng đại danh từ người.  Mấy chi tiết nói về hành động thâu góp và những tội ác khác cho thấy chủ ý tác giả là nói về Ba-by-lôn.  Sự so sánh đối ngược này làm nổi bật hành vi và kết cuộc của cả hai thành phần.  Người Ba-by-lôn ngạo mạn phình to với lòng kiêu ngạo.  Họ say vì chiến lợi phẩm (so sánh ISa 30:16), tham lam tàn bạo vô bờ bến.  Họ phá bỏ hết mọi chuẩn mực thông thường về một cuộc sống đứng đắn, đường hoàng và liêm sỉ.  Thói quen say sưa rượu chè này được biểu thị qua dạng động từ của nguyên ngữ Hi Bá Lai trong câu 5.

Trái ngược với người gian ác và kiêu ngạo hão là người công bình (so sánh Ha 1:4,13), tức là người chính trực.  Hành vi của người này phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời, xác định phẩm chất của đương sự, khiến đương sự trở nên gương mẫu cho mọi người chung quanh.  Từ công nghĩa trong nguyên ngữ Hi Bá Lai có nghĩa rộng bao gồm cả địa vị được xưng công nghĩa, được xác minh trước mặt Đức Chúa Trời (so sánh Es 53:11).  Người công bình ở Giu-đa chẳng những chỉ sống công bình đạo đức , Đức Chúa Trời còn công nhận sự công nghĩa của họ nữa.

Cuộc sống của người công nghĩa có đức tin của chính đương sự dẫn dắt, trái hẳn với đời sống của người gian ác.  Họ bị lòng tham kiểm soát và cai trị.  Từ này cũng được dùng trong ý rộng rãi, có thể chỉ về niềm tin tưởng nơi con người (Xu 19:9) hoặc nơi Đức Chúa Trời và lời hứa của Ngài (Sa 15:6), cũng có thể chỉ về niềm tin cậy khiến cho đương sự biết vâng lời, chân thật và trung tín trong hành vi của mình (IIVua 12:15), đến nỗi biểu thị sự kiên trì trong hoàn cảnh thử thách khó khăn.  Khi từ này được dùng để chỉ về hai ý cuối, một cách dùng rất thông thường trong thời đại của chúng ta, thì nên chuyển ngữ là “trung tín” (xem lề bản NIV) hoặc “thật thà chính trực”.  Cả hai ý này đều cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa một quyết định dấn thân và hành động thể hiện quyết định đó trong thực tế.

Tác giả cũng đối chiếu kết cuộc của đôi bên làm nổi bật những điểm trái ngược.  Lòng trung tín sẽ đem lại sự sống cho người công bình không phải chỉ là hiện hữu về mặt thể xác mà thôi, trái ngược với người Ba-by-lôn, chẳng bao lâu họ sẽ sụp đổ.  Kèm với sự trung tín trong Phu 30:19 là phước hạnh đặc biệt đó là lời hứa về sự sống cho Y-sơ-ra-ên, sự sống này liên quan đến đất đai, hiện nay người Ba-by-lôn đang đe doạ mảnh đất này.  Sự sống và đất đai của Y-sơ-ra-ên sẽ tồn tại trong khi sự sống và đất đai của kẻ thù cực kỳ hùng cường sẽ bị huỷ diệt.

Câu 4 nổi tiếng vì được trích dẫn ở vài chỗ quan trọng về ý nghĩa thần học trong Kinh Thánh Tân Ước (Ro 1:17  Ga 3:11  He 10:38).  Nhờ câu này ông Martin Luther nhận thức rằng đức tin là căn bản trong vấn đề xưng công nghĩa.  Nhận thức này như mũi nhọn đâm thấu tâm can ông thúc đẩy ông đi đến chỗ khởi xướng cuộc Cải chánh.

Các câu Kinh Thánh trong Tân Ước trưng dẫn câu này hơi khác nhau là vì họ sử dụng bản LXX thay vì bản Hi Bá Lai.  Trong Ro 1:17 ông Phao-lô nói về kết quả của đức tin, đặt nặng vấn đề quyết chí dấn thân trong tinh thần hiểu biết, dẫn đến công nghĩa.  Đây là bước đầu đi vào nước Đức Chúa Trời - sự công nghĩa trước mặt Đức Chúa Trời nhờ tin Phúc Âm của Con Ngài (so sánh 3:22 5:1).  Còn vâng lời Đức Chúa Trời với thái độ làm trọn yêu cầu của luật pháp mà thôi thì không thể nào được xưng công nghĩa.  Ga 3:11 đối chiếu sự vâng lời Đức Chúa Trời trong tinh thần này với thái độ quyết tâm quyết chí tin nơi Đức Chúa Trời là niềm tin dẫn đến sự sống được ban cho nhưng không.  Không phải do công đức mà đương sự nhận được sự sống này mà là do đức tin của đương sự nơi Đức Chúa Trời.  He 10:38 nhấn mạnh lời kêu gọi kiên trì sống trung tín vâng phục ý muốn của Đức Chúa Trời dù cuộc sống cá nhân bị thử thách.  Có lẽ tác giả hiểu câu này theo bản LXX với nội dung chỉ về Đấng Mê-si (“người công bình của ta”).  Một thủ bản LXX khác chuyển ngữ theo hướng sự thành tín của Đức Chúa Trời, tức là hướng phù hợp với câu của ông Ha-ba-cúc.  Ông khuyên giục dân của Đức Chúa Trời hãy kiên trì trung tín trong khi gánh chịu những sự áp bức của Ba-by-lôn, vì sự sống sẽ đến với họ, và chính mình Đức Chúa Trời sẽ giữ lòng thành tín đối với họ.  Ngài sẽ thực hiện lời hứa của Ngài về niềm hy vọng và sự giải cứu (Ha 2:2-3).  Có người cho rằng chính ông Ha-ba-cúc đã đưa ra lời bình giải về niềm tin trung kiên trong chương 3, nhất là trong câu 16-19.

(Ha 2:6-20) Năm bài khiển trách dành cho Ba-by-lôn  6-8  Thông thường khóc than, thở than là nét đặc thù của những bài ai ca (IVua 13:30) nhưng ở đây tác giả than thở khóc lóc với ý mỉa mai, vì có là một tiên tri người Y-sơ-ra-ên nên ông không mấy nặng lòng đối với hoạ diệt vong đang lơ lửng trên đầu kẻ thù đang mạnh tay trấn áp dân tộc của ông.  Niềm tin của ông Ha-ba-cúc đặt nơi Đức Chúa Trời lộ rõ khi ông tin rằng Đức Chúa Trời sẽ thắng.  Không rõ mấy bài khiển khách này nhắm vào đối tượng nào, nếu nhắm vào người Ba-by-lôn thì phù hợp với nội dung bài văn, còn nếu nhắm vào người A-si-ri thì phù hợp với bối cảnh lịch sử trong thời điểm những lời tiên tri này được viết ra.  Cả hai đối tượng này, vào thời cực thịnh, xem ra đối tượng nào cũng là cường quốc vô song trong thế giới đương thời.  Năm 605 T.C. Ba-by-lôn hoàn toàn đánh gục A-si-ri, còn đến năm 539 T.C. thì tới phiên Ba-by-lôn bị Ba-tư tiêu diệt.  Không phải chỉ một mình tiên tri Ha-ba-cúc mà tất cả những người bị kẻ xâm lăng bóc lột trong quá khứ, đều tham gia trong mấy bài quở trách châm biếm này (5).

Nhại giọng một bài ai ca (so sánh Gie 22:18) ông Ha-ba-cúc chế nhạo dân ở Mê-sô-bô-ta-mi về những mối lợi phi nghĩa.  Đối với người sở hữu đồ đạc của người khác thông qua trộm cắp, lạm dụng của cầm của người mượn nợ, hoặc bòn rút huyết (hiểu theo nghĩa đen hoặc nghĩa bóng là bóc lột) thì khổ đau sẽ dội lại trên đầu người áp bức đó.  Theo thể thức ăn miếng trả miếng, thì người cướp phá sẽ bị chính người vốn là nạn nhân của mình cướp phá lại.  Lạm dụng công quỹ vẫn là chuyện thường diễn ra giữa những người giũ chức vị có trách nhiệm.  Báo chí phanh phui ra, còn toà án thì xét xử và kết án họ chứng tỏ rằng không phải chỉ có Đức Chúa Trời là không chấp nhận những hành vi này mà đến cả nhân loại chìm đắm trong tội lỗi cũng không chấp nhận.

9-11  Lời tán thán lên án này dành cho quốc dân mưu lợi bằng những chuyện bất công và bạo ngược.  Tự thân lợi lộc không có gì phải lên án.  Tuy nhiên, họ mưu lợi bằng cách lường gạt, gian dối, mưu tìm sự an ninh cho mình, giữ mình thoát khỏi tầm tham lam bạo ngược của người khác bằng cách đặt mình ở vị trí cao chót vót quá tầm đe doạ của thiên hạ, nên họ sẽ chết một cách nhục nhã.  Ngay cả những vật liệu xây dựng vô tri vô giác ở những thành phố bị đánh chiếm cũng kêu ca phản đối chống lại những người bóc lột gian ác.  Chính sách của quốc gia cũng như hành vi của cá nhân phải luôn luôn phù hợp với những yêu cầu, những chuẩn mực trong lời của Đức Chúa Trời.

12-14  Họ nhúng tay vào những hành động gian ác thông thường, tức là sát nhân và tội ác, nhằm chiếm giữ đất đai lâu dài nhưng họ sẽ không đạt được mục tiêu.  Họ chẳng hưởng mối lợi lâu dài nào cả vì tất cả đều sẽ bốc hơi bay theo làn khói.  Những ai vẫn còn tham gia đề cao dân tộc của mình là trội hơn tất cả và tìm cách “thanh lọc ngoại lai để có một dân tộc tinh ròng ưu tú” cần nhớ rằng Đức Chúa Trời mãi mãi vẫn còn ghê tởm những chủ trương và việc làm đó (so sánh Am 1:13).  Mưu đồ bành trướng lãnh thổ hoặc gia tăng nguồn lợi, thí dụ dầu mỏ hoặc các mỏ kim loại chiến lược khác bất kể cuộc sống của con người hoặc bất kể quyền sở hữu đất đai lãnh thổ của người khác rốt cuộc đều sẽ trở nên vô nghĩa khi Đức Chúa Trời đứng ra chỉnh sửa lại những chuyện sai trái giữa các quốc gia.

Ông Giê-rê-mi, vị tiên tri cùng thời với ông Ha-ba-cúc cũng nói tiên tri về sự diệt vong tương tự (Gie 51:58), dù rằng chúng ta không rõ giữa hai vị ai là người đã dùng những từ đó trước.  Chính Gia-vê (Yahweh), Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân là tác giả tối cao của những lời đó, mà cũng là Đấng thực hiện những biện pháp hình phạt, là Chiến sĩ Thiên Thượng, sẽ tranh đấu cho chính nghĩa của dân sự của Ngài (Ha 3:8-15).

Giữa bối cảnh tối tăm của những lời lên án xuất hiện một câu đầy ánh sáng và hi vọng cho những người tin cậy Đức Chúa Trời thay vì tin cậy của cải bất nghĩa.  Thay vì một lời tiên tri với thời gian ấn định về sự thất trận của một dân tộc trong dòng lịch sử, câu này phỏng theo Es 11:9 nói về tương lai đầy hi vọng trong thời kỳ cuối cùng.  Toàn thế giới sẽ nhận biết Đức Chúa Trời, tức là kinh nghiệm về Ngài trong một mối quan hệ mật thiết.   Toàn thế giới thọ tạo, chớ không riêng gì A-si-ri và Ba-by-lôn là hai dân tộc chuyên áp bức bóc lột người khác, sẽ nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, tức là hình thức biểu thị quyền năng lạ lùng đáng sợ của Ngài (Xu 40:34  Es 6:3).

15-17  Kẻ gian ác không chỉ phạm tội một mình mà còn lôi kéo người khác cùng phạm tội nữa.  Họ cung cấp cho người ta rượu để lợi dụng người ta trong tình trạng say sưa ngật ngưỡng không còn phân biệt phải trái là gì cả.  Điều này khiến chúng ta liên tưởng đến giới xuất bản sách báo khiêu dâm, các sòng bạc và đội ngũ buôn bán ma tuý.  Không phải họ mua vui cho thoả thích mà họ giăng bẫy thu hút quyến rũ người khác để trục lợi.  Sức lôi cuốn của lối sống bê tha truỵ lạc tiếp tục lan nhanh vượt biên giới quốc gia ngập khắp thế giới, chẳng những đe doạ đời sống của từng cá nhân mà còn đe doạ sự tồn tại của chính quyền thông qua tệ nạn tham ô, thối nát.  Xem ra chỉ có sự hình phạt của Đức Chúa Trời mới có thể phá tan những xiềng xích bền chắc đó.

Một lần nữa mức hình phạt xứng đáng với tội phạm.  Trong trường hợp này, người gây nghiện cho người khác sẽ trở nên con nghiện và dâm loạn.  Trong trường hợp này cái chén hình bóng về cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trong sự hình phạt (so sánh Thi 75:8  Exe 23:33  Lu 22:42).  Những hoạt động đầy bạo ngược của kẻ gian ác vượt ra ngoài biên thuỳ của Y-sơ-ra-ên tràn vào Li-ban nằm sát nách Y-sơ-ra-ên, có lẽ chi tiết này ám chỉ trận đánh tại Cạt-kê-mít năm 605 T.C..  Cuộc chiến này không sát hại con người mà còn sát hại thú vật hiền lành vô phương tự vệ nữa.  Đức Chúa Trời cũng lên án việc này.  Đây là chi tiết cần thiết nhằm chỉnh lại cho đúng quan niệm sai lầm chủ trương là Đấng Tạo Hoá chỉ chú trọng đến con người mà thôi.  Trái lại, toàn bộ cõi thọ tạo đều khổ đau về tội lỗi, đang trông chờ được phục hồi (Ro 8:20-22 so sánh Sa 6:5-7).

18-20  Trong phần trước (Ha 1:16) có đề cập sơ qua tục thờ phượng ngoại giáo của Ba-by-lôn.  Giờ đây bài giảng này nói chi tiết hơn về việc đó.  Cầu hỏi ý kiến, lời khuyên nơi sản phẩm vô tri vô giác của con người là chuyện vô nghĩa.  Trong khúc Kinh Thánh này, khốn thay nằm ở vị trí khác, không ở trong vị trí mở đầu phân đoạn như những lần trước.  Có người cho rằng từ này bị chép lộn, đáng lẽ nằm ở đầu câu 2:18.  Nhưng không có thủ bản nào ủng hộ ý kiến này, cũng không có lý lẽ đủ vững nào buộc tác giả Kinh Thánh phải khép mình trong phạm vi văn phong mà ông đã chọn từ đầu đến cuối.

Trái ngược với hình tượng câm lặng, sự khải thị chân thật đến từ một mình Đức Chúa Trời mà thôi.  Trong sự hiện diện của Ngài tất cả mọi người phải im lặng cúi đầu.  Đây không phải là tình trạng câm lặng của các sản phẩm vô tri vô giác mà là giây phút lặng thinh đầy ý tôn sùng kính sợ của người thờ phượng khi họ đối diện với Đức Chúa Trời là Đấng Chân Thật là Đấng Hằng Sống (so sánh Thi 46:10  Es 41:1) chớ không phải đối diện với những tượng thần giả mạo, đã không có sự sống lại chỉ toát ra sự chết.  Không phải chỉ riêng gì Y-sơ-ra-ên mà toàn bộ cõi thọ tạo sẽ lặng thinh trong kinh ngạc sững sờ trong sự hiện diện của Ngài.

Câu này cũng giữ vai trò chuyển tiếp giữa những hành động vì tội lỗi của dân áp bức Y-sơ-ra-ên với những việc làm của Đức Chúa Trời.

3. THI THIÊN KHẨN CẦU VÀ CA NGỢI (Ha 3:1-19)

Chương cuối là một bài cầu nguyện kết thúc.  Với bài thi thiên  trong dạng này tác giả qui hiển vinh về cho Đức Chúa Trời vì cớ chính bản thể của Ngài (2,3b,4) và vì cớ những việc làm của Ngài (3a,5-15).  Ông nhớ lại những việc đầy quyền năng của Ngài trong thời xuất hành, sự ban hành luật pháp tại Si-na-i và cuộc chinh phục xứ thánh.  Quyền năng lạ lùng mà Ngài đã phô diễn đối với các đạo quân hùng hậu khiến cho tác giả phải run sợ trong kinh ngạc, nhưng ông biết rằng dù có quyền năng vô song như vậy Đức Chúa Trời vẫn yêu thương và chăm sóc ông.  Nỗi kinh hãi có thể nhường chỗ cho lòng an tâm vui mừng.

Có người đặt vấn đề về sự hiện diện của Thi Thiên  này trong sách Ha-ba-cúc.  Họ cho rằng biết đâu về sau một người nào đó đã ghép thêm Thi Thiên  này vô sách Ha-ba-cúc (xem Dẫn Nhập).  Nhưng xét vị trí của Thi Thiên  này trong Kinh điển, Thi Thiên  này là phần kết luận cảm động cho phần trước là phần tác giả trình bày với Đức Chúa Trời thành tín những đợt khủng hoảng trong niềm tin của mình.

1. Cầu xin Đức Chúa Trời hiện diện thường xuyên và tiếp tục hành động (Ha 3:1-2)

Phần ghi chú ở đầu và ở cuối bài thi thiên này không có gì khác lạ so với những thi thiên khác trong sách Thi Thiên.  Lời ghi chú bài cầu nguyện cũng xuất hiện ở đầu những bài thi thiên khác có nội dung cầu xin hoặc khóc than than vãn (thí dụ Thi 17:1  86:1).  Từ Theo Shigionoth, là một từ khó hiểu, không rõ nghĩa (so sánh 7:1).  Có lẽ từ này nhằm chỉ dẫn về điệu nhạc.  Người ta tấu nhạc của bài Thi thiên này trên “đàn có dây” (19 so sánh 4:1  6:1) dưới sự chỉ dẫn của một nhạc sĩ chuyên nghiệp có hạng xuất hiện trong lời ghi chú của ít nhất 55 bài thi thiên khác nữa.  Còn một lời ghi chú về nhạc nữa, Sê-la xuất hiện rải rác trong bài Thi thiên (3,9,13).

Vì tác giả nhận biết việc làm của Đức Chúa Trời trong thời gian đã qua của Y-sơ-ra-ên nên tác giả đáp ứng về hai mặt.  Riêng lòng ông tràn ngập niềm kính sợ lẫn kinh ngạc đối với quyền năng của Đức Chúa Trời, là Đấng duy trì và cung ứng mọi nhu cầu cho mọi vật thọ tạo của Ngài.  Ông cũng căn cứ vào vốn hiểu biết về những việc làm đã qua của Đức Chúa Trời để cầu xin Ngài thực hiện trở lại những việc đó cho Y-sơ-ra-ên hiện nay.  Ông cầu xin Đức Chúa Trời dành chút ơn thương xót dù đang giữa cơn thạnh nộ của Ngài, một cơn thạnh nộ mà chính ông đã cầu xin Ngài giáng xuống trên kẻ ác trong thời của ông (so sánh Xu 34:6  Lu 1:54).

Cả thạnh nộ lẫn ơn thương xót đều là hai trong nhiều mặt thuộc về bản tánh của Đức Chúa Trời.  Ngay cả khi dân sự cố tình làm ngơ hoặc trắng trợn không vâng phục, tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho họ vẫn đủ sức kéo Ngài đến với họ một cách mạnh mẽ mà không ai cưỡng lại được, bất chấp cách họ đối xử với Ngài (so sánh Os 11:8-11).  Đây không phải là niềm hi vọng trong thuyết phổ độ, tức là chủ trương cho rằng chung cuộc Đức Chúa Trời sẽ tha thứ tất cả mọi chuyện sai trái lỗi lầm và Ngài sẽ phục hồi mối liên hệ giữa mọi người với Ngài.  Nhưng đây là một lời cầu xin rằng nếu khi nào kẻ có tội quay về thật lòng ăn năn với Đấng Tạo Hoá thì xin Ngài sẵn lòng tha thứ cho họ và cho họ thuộc về Ngài.  Trong Kinh Thánh Cựu Ước không phải duy nhất chỉ có bài cầu nguyện xin ơn thương xót này cầu xin ơn thương xót đặt nền tảng trên bản giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với Y-sơ-ra-ên (Phu 30:1-10):  Bản giao ước tiên liệu trường hợp Y-sơ-ra-ên rơi vào tội lỗi nên đã đưa ra một cách cứu vãn là sự tha thứ.  Vì vậy, câu này cô đọng không những sứ điệp của sách Ha-ba-cúc, mà còn cô đọng toàn bộ Phúc Âm nữa.

2. Bàn tay của Đức Chúa Trời trong lịch sử (Ha 3:3-15)

Khúc sách này mô tả biến cố Đức Chúa Trời ngự đến và hiện diện.  Trong thiên nhiên xảy ra nhiều việc lạ kỳ (so sánh Xu 3:1-5  IVua 19:11-12).

(Ha 3:3-7)  Sự hiển thị của Đức Chúa Trời được mô tả bằng những từ khiến chúng ta nhớ lại lần Ngài hiển thị tại núi Si-na-i.  Tác giả dùng một từ ở dạng cổ xưa khi nói về Đức Chúa Trời là Đấng Chí Thánh, khi xuất hiện ở những chỗ khác từ này có liên hệ tới biến cố xuất Ai Cập (Le 11:44-45).  Ngài đến từ Thê-man và núi Pha-ran.  Hai địa danh này ở Ê-đôm bên kia sông Giô-đanh có liên hệ đến sự hiển thị của Đức Chúa Trời tại núi Si-na-i.  Ngài ngự đến trong ánh sáng vinh quang, với chùm chớp là hai tia sáng rực (hoặc “sừng” tự thân sừng tiêu biểu cho năng lực).  Có lẽ tác giả chơi chữ với một từ Hi Bá Lai nhưng có hai nghĩa.  Tai vạ và ôn dịch, cũng liên hệ với cuộc xuất hành và Si-na-i (Xu 5:3  9:3,15), tháp tùng Ngài.  Tác giả dùng hai điều này nhằm gợi nhớ và tiêu biểu cho những người hầu cận của các nhân vật quý phái quan trọng trong thời cổ (so sánh ISa 17:7  IISa 15:1).  Những hiện tượng đáng sợ này ở dưới quyền cai trị của Đức Chúa Trời, phục vụ Ngài và biểu thị quyền năng lạ kỳ của Ngài.

Quyền năng của Ngài cũng lộ rõ qua những chấn động của thiên nhiên như đã xảy ra tại Si-na-i (Xu 19:16-19).  Các dân tộc ở tận phương trời xa sẽ cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời như các núi các đồi đại cổ cũng sẽ cảm nhận như vậy.  Chúng ta thấy núi đồi có từ muôn thuở về trước và tưởng là chúng sẽ trường tồn.  Nhưng so với Đức Chúa Trời thì chúng ta lầm rồi.  Đức Chúa Trời mới thật sự hiện hữu đời đời.  Tác giả mô tả sự ngự đến của Đức Chúa Trời trong phạm vi lớn lao bao trùm toàn cầu chớ không phải chỉ liên hệ đến một dân tộc như dân Y-sơ-ra-ên đã từng chứng kiến tại Si-na-i (so sánh Thi 97:4-5  Gio 3:16  Kh 16:18).

Để kết thúc, phần này đề cập tới hai chi phái du mục ở phía nam cũng sẽ kinh hãi sững sờ trước quyền năng của Đức Chúa Trời khi Ngài ngự đến.

(Ha 3:8-15)  Như ở trên, trong phần này tác giả cũng mượn ý từ cảnh tượng xa xưa tại Si-na-i để mô tả Đức Chúa Trời là chiến sĩ đầy năng lực đứng ra chống cự những người đang áp bức dân tuyển của Ngài (so sánh Xu 15:1-18).  Ngài đối đầu với sông và biển (8) như khi Ngài rẽ Biển Đỏ và sông Giô-đanh (13:17-14:31  Gio 3:13-17) và trong thời Ngài sáng tạo (Giop 26:12-13  Thi 29:1-11).  Hình ảnh này cũng hướng vào tương lai cho thấy Đức Chúa Trời tiếp tục cai trị trên cõi thọ tạo (so sánh Es 11:15  Mat 14:22-23  Kh 21:1).

Vũ khí của Đức Chúa Trời bao gồm cung và mũi tên (9), dù rằng tĩnh từ bổ túc ý cho từ mũi tên thì không rõ lắm.  Có lẽ tĩnh từ đó chỉ về chuyện cây cung bắn hàng loạt bảy mũi tên trong các bản văn của Ca-na-an.  Ở đây cung và tên được dùng làm công cụ hình phạt của Đức Giê-hô-va (so sánh câu 11, Phu 32:23  Thi 7:13).

Sự hiện diện của vị chiến sĩ đầy quyền năng cũng chi phối thiên nhiên, nước chia cắt mặt đất (9, Thi 74:15), rồi tự thân nước cũng rẽ đôi ra tại Biển Đỏ (Xu 14:16,21).  Núi non hùng vĩ và ngay cả mặt trời mặt trăng đều bị chi phối, hoặc đứng khựng lại hoặc chuyển động trái với chu trình thường lệ (so sánh Gios 10:12-14  IIVua 20:9-11).

Sự hiện diện của Đức Chúa Trời ảnh hưởng trên đối tượng ra sao còn tuỳ vào mối liên hệ của Ngài với đối tượng.  Những người chống nghịch Ngài và dân của Ngài thì sẽ nếm cơn thạnh nộ (12) của chiến sĩ này khi Ngài trải khắp đó đây trên thế giới.  Họ sẽ ngỡ ngàng khi thất trận dù lúc tiến công họ cầm chắc chiến thắng.  Còn những người sống trong ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ nhận biết rằng cũng chính vị chiến sĩ đó là Đấng Giải Phóng và là Đấng Cứu Chuộc đầy ân sủng.  Sự nhận biết này giải đáp thoả đáng cho những nỗi thắc mắc khắc khoải của ông Ha-ba-cúc (Ha 1:12-17).

Trong câu 15 tác giả trở lại với hình ảnh ví von mà ông đã dùng ở câu 8, nay chúng cũng đạp dẫm trên biển như trong thời xuất hành vậy (so sánh Xu 14:21-29).

3. Run sợ nhưng vẫn tin cậy (Ha 3:16-19)

Giờ đây tiên tri nói thành tiếng những điều ông ngẫm nghĩ  về từng trải của chính ông và về những phản ứng của ông đối với những sự khải thị mà ông nhận được.  Căn cứ vào nội dung mà Đức Chúa Trời trả lời cho ông, ông có thể bày tỏ niềm tin của mình ở nơi Ngài một cách hùng hồn.

Vừa khi nhận biết quyền năng của Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo và là chiến sĩ lòng ông sợ hãi vô cùng.  Nỗi sợ hãi đó biểu hiện qua những hiện tượng bất thường nơi thể xác của ông.  Tuy nhiên ông không sợ trong tinh thần hèn nhát, nhưng ông vững tâm lặng lẽ chờ đợi vì biết rằng Đức Chúa Trời sẽ gặp gỡ ông như lần trước (Ha 2:1).  Lần này Ngài sẽ giáng sự hình phạt mà Ngài đã phán trước trên kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên.  Rồi đây sẽ đến ngày giờ (2:3) mà ông trông mong lâu nay.

Trong mấy câu cuối cùng tác giả nhận biết rằng chung cuộc ông có thể dứt khoát phó thác niềm tin của mình cho Đức Chúa Trời là Đấng sẽ mãi mãi tôn trọng giao ước của Ngài.  Dân Y-sơ-ra-ên nhận phần thực phẩm phong phú để nuôi thân từ ngành nông nghiệp, nhưng giờ đây tác giả Thi Thiên nhận biết rằng chỉ một mình Đức Giê-hô-va là nguồn trợ giúp lớn lao nhất và Ngài vẫn là Đức Chúa Trời cho dù Ngài tiếp tục cung ứng cho họ những vật thực đó hoặc không.  Niềm tin vững chắc của ông Ha-ba-cúc không dựa trên những phước hạnh nhìn tận mắt nhưng lại chóng qua, mà căn cứ trên mối tương quan vững bền với Đức Chúa Trời trong giao ước (so sánh Gios 1:5  Ro 8:38-39).  Giữa tất cả những băn khoăn thắc mắc và đối thoại với Đức Chúa Trời tác giả vẫn có thể nhận Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của mình.  Tất cả những điều này trở thành lời giải nghĩa một cách thực tế về đức tin đã nảy nở trong Ha 2:4.

Niềm tin này dẫn đến kết quả là Đức Chúa Trời sẽ tăng thêm sức cho tác giả để chịu đựng gian nan nhưng cũng để ông có thể hân hoan hưởng niềm vui trong cuộc đời như con nai nhảy nhót (so sánh IISa 22:34  Thi 18:33,34).  Năng lực này vẫn dành cho những ai thấy rằng mình vẫn có thể đặt niềm tin nơi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và của Hội thánh bất chấp mọi khó khăn trở ngại.

Lên đầu trang