Chương 5 – Sự Sinh Hoạt Trong Gia Đình

MỤC LỤC

Sự Sinh Hoạt Trong Gia Đình và
Những Dây Liên Lạc Trong Gia Đình

“Chủ nhà biết mọi sự ở trong nhà.

Áo bình an không bao giờ phai màu.

Sự sinh ra là sứ giả của sự chết.”

Tục ngữ xứ Sy-ri.

Đã thấy gã chăn chiên, gã nông phu trong đồng ruộng, những người lái buôn theo đuổi nghề nghiệp, bây giờ chúng ta sẽ chú ý đến sự sinh hoạt trong gia đình. Ấy là vì cớ sự sinh hoạt trong gia đình nên mới có những nghề nghiệp kia.

Trước hết chúng ta hãy xem xét cái nhà và sự sắp đặt trong nhà, sự nấu nướng đồ ăn và cách ăn uống, cùng các thứ và các kiểu y phục. Và chúng ta sẽ xét đến những sự liên lạc và những sự xảy ra cốt yếu trong sự sinh hoạt ở chốn gia đình. Như vậy, chúng ta sẽ sẳn sàng để trong một chương cuối cùng, xem xét thể nào những tình hình và phong tục mà mình mới kê cứu được diễn lại và mở mang trong những việc công, đem cả đặc tính vào xã hội, chính trị và tôn giáo ở phương Đông.

1. Nhà:

– Cũng như trong những xứ khác, nhà là một nơi thân mật biệt riêng, một nơi che chở khỏi lạnh lẽo. Nhưng ở phương Đông, nhà lại đặc biệt là nơi che chở khỏi nắng nóng. Rải rác đây đó có dấu tích của những hang đá làm nơi ở của người thái cổ; và những gã chăn chiên cũng dẫn bầy mình vào các hang đá giống như thế. Hang đá là nơi ẩn náu của những kẻ trốn tránh trong thời dân Y-sơ-ra-ên bị ức hiếp. Ngày nay những hang đá bỏ không của xứ Ba-san và những phòng hẹp đục trong đá của các thầy tu chính là tỏ ra cách kiến trúc những hang đá đời thượng cổ.

(1) Nhà trại.- Đó là kiểu nhà sơ sài hơn hết, rất được thông dụng, và là đặc sắc của người Bédouins hoặc du mục. Nó là một cái mái thấp bằng lông dê đen, phía trước để ngỏ và có hai cột chống lên. Có thể kể chỗ ngỏ ấy là nguyên gốc của mọi cánh cửa, đã được đổi thành đẹp đẽ và to lớn hơn hết, như cổng của các thành phố và của Đền thờ ở Giê-ru-sa-lem. Trại được giữ vững vàng bởi các dây thừng cũng làm bằng lông dê đen, dây thừng buộc vào các cọc bằng gỗ dẻ bộp dùng vồ đóng xuống đất (Cac 4:21; 5:26). Có một tấm màn treo ở giữa trại, phân cách phòng của đờn bà với phòng chung. Vì được che kín không ai thấy như thế, nên đờn bà có thể dễ dàng nghe chuyện ở phòng chung hoặc ở cửa trại (Sa 18:10). Cũng có thể nhìn ra phía ngoài qua tấm rềm làm bằng cói.

Sau khi dân Y-sơ-ra-ên chăm chú vào nghề nông, thì họ vẫn dùng cái trại. Nó là biểu hiệu cho một cuộc đời giản dị, không bị bó buộc; mỗi khi người ta không chịu nhận một phương pháp nào trong việc quốc gia, thì họ lại kêu la rằng: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, mỗi người hãy trở về trại mình!” (IISa 20:1; IVua 12:16). Vì có liên lạc với tổ tông, nên trong thi ca và các sách tiên tri, các trại được địa vị cao quí hơn cái nhà xây bằng đá (Thi 84:1-10; Nha 1:5; Gie 4:20). Hiện nay những người đã được trưởng dưỡng trong cái trại thì rất không đành lòng lìa bỏ nó. Họ cho rằng lìa bỏ cái trại thì về phương diện xã hội là một sự nhục nhã, và về phương diện cá nhân là một sự hi sinh. Cách đây mấy năm, người vợ của một ông quan người Bédouin ở thành Đa-mách đã chết vì thèm thuồng cuộc đời trong cái trại mà mình đã phải dứt bỏ. Quan nầy trước đã cưới một thiếu nữ người Anh, thuộc dòng quí phái; hằng năm bà ở nơi đồng vắng với chồng ít lâu, rồi vợ chồng lại về ở thành Đa-mách. Bà trang hoàng nhà cửa rất lịch sự, cũng trồng trong vườn nhiều thứ cây và hoa quí. Khi bà nầy qua đời, thì quan đó lại cưới một nàng quận chúa cùng dân tộc với mình, đem nàng về nhà mình ở thành Đa-mách. Chẳng bao lâu nàng bắt đầu mất sức khỏe và vui vẻ, mặc dầu chồng mua cho quần áo và đồ nữ trang đẹp đẽ, lại có nhiều bà quí phái tới lui thăm viếng và mời đến nhà chơi, nàng cũng lâm bịnh và qua đời. Lòng nàng thèm nhớ những cuộc hội họp bên biếng, những lạc đà và dê con ở chung quanh trại, và cả cuộc đời giản dị, tự do nơi đồng vắng.

Gie 35:2-17 có để đối chiếu sự người Rê-cáp tuân theo một lời nguyền trong gia tộc với sự bất trung của người Y-sơ-ra-ên đã xây bỏ các điều răn của Đức Chúa Trời.

(2) Nhà cửa ở trong làng và trong thành phố.- Nhà đơn giản của dân quê thường chỉ có một phòng. Chữ A-rạp để chỉ về một cái nhà cũng có nghĩa là một cái phòng, và chắc trong vòng người Hê-bơ-rơ ngày xưa cũng là như vậy. Giữa phòng có một cái trụ bằng gỗ hoặc bằng đá chống đỡ cái sà ngang của mái phẳng, và trên trụ ấy thường có một cái xích đông nhỏ để đặt chiếc đèn dầu; như vậy, đèn soi sáng tất cả phòng hoặc nhà (Mat 5:15).

Nếu nhà có hai phòng, thì hai phòng ấy không xây liền cạnh nhau; nhưng ở giữa có một khoảng trống rộng bằng một phòng. Cũng xây một bức tường nối hai phòng ấy, và như vậy, nhà có một cái sân.

Nếu nhà có ba phòng, thì một phòng chiếm chỗ của bức tường ở cuối sân. Nếu cần có hơn ba phòng, thì họ xây nối vào những phòng kia, và như vậy, làm cho sân dài thêm ra. Đối với một gai đình đông đúc và vào hạng giàu có, cha mẹ có nhiều con trai đã cưới vợ nhưng vẫn ở chung với mình, thì có thể có nhiều sân cái nọ ăn thông dành riêng cho nhiều gia đình nhỏ đó. Các phòng thường không ăn thông với nhau, nhưng cửa thì đều mở ra phía sân. Để che khỏi nắng mưa, người ta xây một dẫy cột có mái chung quanh khu đất hoặc vẩy một cái hiên từ tường ra. Trong một nhà nhỏ chỉ có một hoặc hai phòng, người ta lợp một cái mái bằng lá và cành cây rậm, hoặc bằng những tấm ván cũ, để rủ bóng trên cửa ra vào, hoặc phủ kín một phần sân để che lối vào phòng ở cuối sân. Đó chắc là phần mái nhà đã bị gỡ khi họ giòng người bại xuội xuống và đặt nơi chơn Đấng Christ (Mac 2:4).

(3) Mái nhà.- Mái nhà là một hoặc mấy tấm gỗ lớn đặt ngang, rồi có nhiều tấm gỗ nhỏ đặt lên trên. Tất cả phủ bằng một lớp nhược thảo (genêts), cây nhỏ mọc nơi hoang (bruyères) và lau sậy (roseaux); trên hết lại rải đất dày độ mười phân tây. Khi đất đã bị séo, lăn và nện xuống, thì người ta làm cho cái mái nhà phẳng chịu được nước bởi trát một lần vôi hoặc xi măng, và có những lỗ ở ria tường cho nước mưa thoát ra.

(4) Câu lơn nơi mái nhà (Phu 22:8) không được người ta xây cất cẩn thận như đáng phải làm, và sự thiếu đề phòng ấy thường gây ra tai nạn. Mỗi góc có xây cột cao chừng hai thước tây; họ giăng giây từ trụ nầy đến trụ kia để phơi quần áo. Trong những nhà có đạo Hồi, khoảng trống giữa các cột góc ấy thường chất những tấm ván hoặc xây gạch có chừa chỗ hở, hầu cho người nhà có thể đi lên mái nhà mà kẻ lân cận không thấy được.

Sẽ bị kể là xấu bụng người láng giềng nào đi quanh trên mái nhà để có thể nhìn xuống sân của các nhà bên cạnh. Trong vòng dân quê thì mái nhà cốt nhất dùng để phơi thóc lúa, phơi quả mùa hạ, và phơi củi để dùng lúc mùa đông (Gios 2:6).

Người ta đứng trên mái nhà mà báo cáo công việc trong làng; và khi có đám cưới, người ta hay hội họp trên mái nhà, tại đó tân khách ca hát và vỗ tay, giậm chơn đều nhịp (Cac 16:27).

(5) Phòng cao (IIVua 1:2; 23:12; Mac 14:15; Cong 1:13; 9:37; 20:8).- Đó là một đặc sắc giản dị của nhà cửa ở phương Đông. Và là một cách thích hợp với khí hậu. Mùa hè, người ta làm những lều nhỏ bằng lá và cành cây để ngủ ban đêm cho được mát mẻ hơn. Phòng cao cũng dùng như thế, nhưng dùng được mãi mãi. Khi người ta xây nhiều phòng như thế trên mái nhà, thì Kinh Thánh gọi là nhà mùa hạ, khác hẳn với nhà mùa đông ở dưới (Cac 3:20; Gie 36:22; Am 3:15). Trong những nhà lớn cũng có sự thay đổi như thế bởi ở phía đông, và ở phía tây lúc mùa hạ. Người ta lên mái nhà bởi cái thang cục kịch bằng gỗ hoặc bởi những bậc đá, bắc vào phía ngoài tường nhà, hoặc bắc dọc theo một bức tường trong sân. Phòng cao, vì là một nơi tĩnh mịch và mát mẻ, nên hay được xây cất và bày biện tốt đẹp hơn những phòng thường; khách ngủ lại ban đêm thì ở trong phòng cao đó, cho phân biệt với khách chỉ đến chơi chốc lát. Phòng cao xây cho người của Đức Chúa Trời (IIVua 4:15) cốt dùng làm một nơi tĩnh mịch xứng hiệp với chức vụ thiêng liêng và thói quen cầu nguyện của ông ấy.

(6) Phòng cho khách ở.- Người phương Đông thường không biệt riêng một phòng để khách ở; người phương Tây cho làm như thế là bất lịch sự và hầu như là đuổi khách đi. Người phương Đông không thích ờ một mình, và ban đêm thích thắp một ngọn đèn con trong phòng. Vì họ cứ để nguyên quần áo mà ngủ, nên không cần có chỗ riêng biệt. Nếu giường khách nằm kê ở phòng cao, thì một vài con trai của chủ nhà cũng kê giường ngủ gần giường kháchcho có bạn. Một người phương Đông thấy mình bị bỏ lửng khi được tiếp rước cách tự nhiên trong một gia đình Âu Tây; trái lại, một người Âu Tây thấy mình bị lấn áp vì cớ ông chủ nhà phương Đông luôn luôn có mặt săn sóc đến mình.

Trong những nhà nhỏ thì căn phòng ở đằng cuối sân là phòng khách thường để tiếp những khách tình cờ đến thăm. Phòng nầy thường trống hơn những phòng khác trong nhà.Trong những nhà chỉ có một phòng thì nơi dành cho khách chỉ là một tấm ghế trường ở cuối phòng; đấy là chỗ danh dự mà khách được dẫn đến. Trong những nhà lớn hơn, thì người ta biệt riêng một phòng rộng và bày biện lịch sự ở gần cửa cho tiện, hầu cho khách không phải chờ đợi và người nhà bị làm phiền ít hơn hết. Vì người ta thường đem món giải khát dâng khách, nên phòng cho khách ở cũng là phòng ăn tiệc.

(7) Sàn nhà.- Người ta ít khi tấy sàn nhà bằng gỗ. Ở chốn thôn quê sàn nhà thường là bằng bùn, dùng vồ bằng gỗ mà nện xuống, rồi dùng một tảng đá lớn và dẹp mà xoa cho nhẵn. Cái sàn sạch và bền hơn chính là sàn làm bằng “Xi măng”, thức là vọi trộn với đá sỏi nhỏ, và cũng nện xuống theo cách trên kia. Sàn nhà tốt hơn hết là sàn làm bằng những phiến đá vôi vuông. Trong những nhà đẹp ở thành phố, thì những phòng chung cho mọi người lại lát bằng đá hoa trắng, nổi bật bởi những “lằn” đá đen hoặc những hình bằng đá hoa nhiều màu khác nhau. Các sân rộng thường cũng lát như thế, ở chính giữa sân có một chỗ chứa nước (fontaine) bằng đá hoa làm cảnh; cũng chừa ra nhiều chỗ không lát, để trồng cam, chanh, những cây lớn, cây nhỏ xanh tươi luôn và thơm tho.

(8) Đồ đạc và đồ trang hoàng.- Các bức tường thường làm bằng thạch cao, quét một nước vôi. Nhưng nhà của người giàu có, nhứt là ở thành Đa-mách, thì tường của những phòng chung cho mọi người lại có trang hoàng nhiều hình khảm (mosaĩques) đẹp đẽ bằng gỗ, đá hoa, xa cừ, pha lê và ngà. Những hình trang hoàng thường là những hình kỷ hà học rất phiền phức; song những hình hoa và súc vật cũng thường dùng đến. Thường khi cũng treo gươm, đoản đao và súng để trang hoàng tường. Người ta không thử gián thứ giấy để trang hoàng tường, cũng không thích những hình nhỏ chi chít in trên những giấy đó. Khí hậu nóng nực có ảnh hưởng hay làm cho trễ nải, nên người ta cần có những bức tường để tự nhiên hầu cho tinh thần được sảng khoái. Trong những phòng khách trang hoàng lịch sự thật cũng có ít đồ vật gợi cho ta suy nghĩ về hoàn cảnh êm đềm của một trí óc học rộng biết nhiều. Ta có cảm tưởng rằng tại đó không có cái điều mà chủ nhà cần đến và tự nhiên hưởng được trong tòa nhà đẹp đẽ của mình, nhưng chỉ có cái điều mà người giàu muốn phô bày với khách đến thăm mình. Những tấm thảm đẹp bằng lông chiên, lông dê và lụa trải trên sàn nhà bằng đá hoa; một tấm ghế trường chạy suốt ba phía trong phòng; những gối có bao bằng bông, lông chiên, lụa và kim tuyến do người bổn xứ dệt. Mọi đồ vật đó với một cái gương lớn treo ở góc phòng, một cây đèn nhiều ngọn bằng thủy tinh treo nơi mái nhà, một chỗ đựng nước (fontaine) bằng đá hoa thường khi đặt ngay dưới cây đèn, một vài cái bàn khảm nhỏ bày ở đây đó, đều là những thứ trang hoàng thông thường trong một phòng khách phương Đông.

(9) Cửa.- Cửa là một chỗ thánh khiết và quan hệ đặc biệt. Phía ngoài cửa và phía trong cửa là hai chỗ khác nhau như hai thế giới vậy. Trong những nhà lớn thì người canh cửa ngồi ngay chỗ đi vào để trả lời kẻ hỏi thăm và để dẫn khách vào trong nhà. Ban đêm người canh cửa ngủ trong một phòng nhỏ, ngay lối đi vào, bên cạnh cửa để canh giữ mọi khu trong nhà. Hắn giống như người canh giữ cổng thành và vườn nho. Hắn có trách nhiệm che chở người nhà, nhưng vẫn không thuộc trong vòng bà con. Sau khi đua khách đến cửa phòng khách rồi, hắn lại lui về chỗ gác. Thi 84:10 có ngụ ý nói đến địa vị hèn hạ và ngoại nhân của người gác cửa đó.

Trong những nhà nhỏ hơn không có người gác cửa, thì có một đầy tớ hoặc một người nhà đứng trên bao lơn mà hỏi to rằng: “Ai đó?” Nếu là một người bà con, thì khách trả lời rằng: “Mở cửa!” Nếu là một người bạn thân, thì khách hỏi to rằng: “Tôi đây.” Nhận biết là tiếng nói của ai thì đủ rồi (Cong 12:13).

(10) Cửa sổ.- Người ta mới dùng cửa sổ có mặt kính được ít lâu nay, Cửa sổ ở phương Đông thường có những song gỗ để gìn giữ cho khỏi bị quấy rầy và trộm cắp; nửa dưới cử sổ lại có một tấm bình phong che khuất, để người trong nhà có thể nhìn ra ngoài mà không ai trông thấy mình được. Ban đêm cửa sổ đóng bằng then gỗ, cốt nhất để được yên ổn và tỉnh mịch, và một phần cũng để tránh ánh sáng và ánh nắng mặt trời lúc sáng sớm. Vì cớ đó ở Ma 3:10 có ngụ ý nói đến sự mở cửa sổ. Ở phòng cao thì không cần có song gỗ, vì khách qua đường không nhìn tới hoặc với tới được; cho nên có thể xảy ra những việc như có chép ở Gios 2:15; ISa 19:12; Cong 20:9. Nhà ở thành phố thì cửa sổ thường không trông ra ngoài đường; nhưng bao lơn của các từng trên lại thường trông ra ngoài đường,- các bao lơn ấy có cửa sổ trông ra rất xa và nhận được luồng gió từ cả hai phía. Trong những nhà ấy bình phong vần là một món trang hoàng lịch sự. Các vò đựng nước uống thì đặt gần các cửa sổ ấy để có luồng gió làm cho mát mẻ. Vì trường hợp đó, nên những bình phong có tính cách trang hoàng được gọi là mashraîyel, do tiếng A-rạp mashrab, nghĩa là một chỗ để uống nước. Trong các phòng sách của nước Anh thường thấy một cái bình phong có mỹ thuật, nhưng không có quan hệ với công dụng nguyên trước của nó.

Kinh Thánh chép rằng bà mẹ của Si-sê-ra bồn chồn nhìn qua cửa sổ như thế để chờ con trai mình không hề trở lại (Cac 5:28).

Trên cổng thành phố hoặc nơi đi vào các đồn lũy có một cửa sổ nhỏ đặt trong tường hoặc trong chòi canh, từ chỗ đó người canh gác có thể nhìn thấy mọi kẻ đến gần mà chính mình không bị nguy hiểm gì cả.

(11) Sửa soạn đi ngủ.- Người phương Đông nhóm họp để đi ngủ, chớ không phải ai lui về phòng nấy để đi ngủ. Vậy nên trong thí dụ ở Lu 11:7 có nói người cha thoái thác rằng con cái ngủ với mình, – chúng ngủ trên những đệm trải trên sàn nhà, chung quanh giường của cha. Khi đến giờ ngủ, họ mở tủ, rương hoặc hốc tường để lấy những đồ dùng trên giường ngủ. Mỗi một cái đệm đều nhồi bông hoặc lông chiên; phụ vào mỗi cái đệm lại có một cái chăn trải giường dầy bọc bằng vải cát ba hoặc lụa màu, và khâu thành những đường dọc hoặc tréo. Khi ngủ, người phương Đông dùng chăn trùm cả đầu lẫn thân thể. Trong những sự thánh của đời sống người phương Đông, có khoản không được khuấy rối giấc ngủ hoặc làm giở bửa cơm của ai. Phải khó khăn cực điểm mới bảo được một tên đầy tớ Sy-ri đánh thức chủ hắn lúc trời còn mờ sáng. Khi một người theo Hồi giáo đánh thức bạn đồng đạo, thì người chỉ hô lên rằng: “Đức Chúa Trời là độc nhất!” Tuyên bố cái chơn lý tối cao ấy thì người tin Hồi giáo bao giờ cũng cho là hợp thời, và chỉ kẻ vô tín mới có thể phản đối sự tuyên bố ấy.

2. Đồ ăn:

I. Bánh.- Món ăn cốt yếu là bánh, và trong vòng dân quê và dân lao động ở thành phố thì công việc cốt yếu trong gia đình là làm bánh.

(1) Vo sạch.- Lúa mạch mới ở sân đạp lúa đem đến thì phải sàng sảy cẩn thận và khéo léo (Es 30:28; Am 9:9; Lu 22:31), để cất bỏ những hột sạn cùng viên đất nhỏ, và nhứt là để loại hết những hột nhỏ có chất độc, những cỏ làm hại lúa (nielle), những cỏ lòng vực (ivrai), các thứ nầy có rất nhiều trong những khu ruộng có gai và không được chăm nom cẩn thận (Mat 13:7). Lời Đức Chúa Jêsus cầu nguyện cho Phi-e-rơ ấy là cốt cho đức tin của ông không bị quăng vào đống vô dụng.

Đoạn, người ta vo lúa mạch để cho nó sạch hết bụi bám, rồi đem phơi trong những tấm vải trải trên mái nhà. Đoạn, người ta thâu trữ lúa ấy để gia quyến dùng; họ đựng trong những thùng nhỏ giống như những máy làm bơ. Thùng ấy làm bằng mây hoặc đất sét, có một chỗ hở gần dưới do đó có thể lấy số lúa mạch cần dùng mỗi lần. Những số lúa mạch lớn hơn, phải giữ để làm bột hoặc để gieo mùa sau, thì chứa trong những bể dưới đất hoặc những giếng khô có miệng rất hẹp. Miệng phải che lấp thật kỹ, đến nỗi chỉ có chủ nhà biết bể hoặc giếng ở vào chỗ nào.

(2) Xay.- Khi lúa tiểu mạch hoặc đại mạch phải xay để đem đi chợ bán, thì họ đem đến cối xay; cối xay ở một vài chổ làm việc quanh nănhững nhưng thường thì chỉ làm việc lúc mùa đông, bây giờ mới có đủ nước để xoay bánh xe của cối xay.

Cối xay bằng tay có hai phiến đá tròn, đường kính chừng 45 phân tây, mặt phiến đá ở dưới thường hơi khum khum, còn phiến ở trên thì hơi lõm cho vừa vặn với phiến ở dưới. Phiến ở dưới thường làm bằng đá vôi hoặc bằng huyền vũ nham (basalte), và vì dầy hơn nên cũng nặng hơn phiến ở trên; phiến ở trên làm bằng phiến thạch lỗ chỗ (lave poreuse), hầu cho bề mặt khỏi bị mài nhẵn vì cớ sọ sát. Ở một bên, gần vành tròn; phiến đá ở trên có một cái chốt bằng gỗ. Hai người đàn bà ngồi đối mặt nhau, mỗi người một tay cầm lấy cái chốt mà xay lúa mạch. Giữa phiến đá dưới nổi lên một cái trục, lắp vào cái lỗ ở giữa phiến đá trên, và bởi đó giữ cho phiến đá trên khỏi xê xích. Sự xay cối bằng tay có nói đến ở Xu 11:5; Cac 16:21; Ca 4:13; Mat 24:41. Cấm không được giữ cối xay bằng tay làm vật bảo chứng (Phu 24:6). Ngày nay họ vẫn còn cho làm như thế là đáng xấu hổ. Giop 41:15 có nói đến phiến đá dưới là cứng. Sự dời cối xay đi chổ khác là một trong các sự suy vi của dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày (Gie 25:10); tiếng ròn rã, vui vẻ của cối xay mà ngừng lại, ấy là một sự khoái lạc qua mất, như có nói ở Phu 12:3-4.

Bánh ở phương Đông giống như mấy thứ bánh của người Âu, Mỹ hay ăn buổi sáng. Bánh không làm lớn để dùng dao mà cắt đâu, nhưng người ta dùng tay mà bẻ (Mat 26:26; ICo 9:24).

(3) Trong gia đình người ta hay hấp bánh theo ba cách:

a) Bánh làm bằng bột nhào thì để trên tro nóng hoặc đá đã nung (Sa 18:6; Xu 12:39; IVua 17:12; 19:6; Gi 21:9). Đó là cách cổ sơ hơn hết, và rất gần như ăn hột lúa rang chưa rắn đương lúc gặt hái (Gios 5:11; Ru 2:14). Sau khi ngâm nước, lúa mạch lại thường đựng trong chảo, bắc trên lửa cho đến khi nó thật khô. Rồi người ta xay qua loa, như bột hương mạch rất thô hoặc như lúa mạch giã dập. Người ta dùng bột ấy nấu một thứ xúp, và thường nấu với phạn đậu. Vì lúa mạch có chép chung với phạn đậu ở IISa 17:28, nên chắc đó là một món ăn nướng trong các thứ mà Bát-xi-lai đem dâng Đa-vít. Lúa mạch mịn thì là một thứ tạp hóa thường dùng trong nhà, gọi là semolina, mà người phương Đông cũng dùng để làm nhiều thứ bánh ngọt và kẹo.

b) Thỉnh thoảng họ làm một cái lò hấp bánh theo cách nầy: Bỏ chất bắt lửa, như cỏ, gai gốc và cành con vào một cái vò bằng đất, và khi vò đã nóng đủ thì để những miếng bánh mỏng vào phía ngoài vò. Nhiều khi họ lại đào một cái hốc dưới đất, chung quanh trát thạch cao, rồi cũng bỏ củi và cỏ vào đó, thêm mấy hòn sỏi to để giữ sức nóng. Khi nào khói và lửa để lại một đống than hồng, thì họ để những miếng bánh to và mỏng chung quanh thành hốc, chỉ trong một hai phút là nướng chín.

c) Cũng có một tấm sắt thưa và cong lên như thứ dùng để nướng bánh hương mạch. Giữa trời, họ kê tấm sắt nầy trên hai hòn đá, dưới đốt lửa, rồi nướng những bánh nhỏ trên đó.

(4) Bánh ngọt.- Người ta làm được nhiều thứ bánh mì và bánh ngọt bởi những cách sáng chế giản dị nầy và ở trong lò người thợ làm bánh mà chúng tôi đã mô tả. Trước khi đem đến lò hấp, những bánh mì rẻ tiền thường dùng dầu đánh trên mặt và rắc những thứ bột thơm. Còn bánh ngọt thì thường nhúng hoặc rán với dầu nóng sôi. Những bánh mỏng thì không men thường làm rất cẩn thận – cẩn thận đến nỗi hóa ra kỳ cục – cho khỏi đụng tới một chút men nào; người Do Thái ăn bánh không men trong tuần lễ Vượt qua (Xu 14:31; Le 6:21; 7:12; ISu 23:29).

II. Nước.- Bánh quan hệ thứ nhứt, nước quan hệ thứ nhì. Người phương Đông uống nhiều nước, cả khi dùng bửa và những lúc khác. Khi ngồi ăn, họ luôn luôn chuyền cho nhau cái vò nhỏ xách tay. Họ có thể uống nước nơi miệng vò hoặc nơi cái vòi nhỏ của vò mà không cần phải ghé sát môi miệng vào. Theo cách xã giao củ người phương Đông, khi uống nước, cần phải cẩn thận để ý đến cảm tình riêng của kẻ khác. Một những Ba Tư theo đạo Hồi thì coi cái vòi đã bị môi miệng của một môn đồ Đấng Christ đụng đến là ô uế, và lập tức ném vò xuống đất. Người phương Đông có tài phân biệt các thứ nước khác nhau, tài ấy kỳ lạ đến nỗi người phương Tây không hề biết tới. Trong một thành phố có nhiều giếng nước công cộng, họ có thể nói rất quả quyết thứ nước trong vò đã múc từ nơi giếng nào. Kẻ xách nước không dám thử lừa dối những kẻ dùng nước của mình. Những kẻ ăn mày ngoài cửa thường xin cho uống nước. Người Y-sơ-ra-ên cần dùng nước thật là cấp bách đặc biệt. Ban đêm họ để nước gần bên giường cho dễ với lấy. Buổi sáng, người ta thấy Sau-lơ mất cả cây giáo lẫn bình nước (ISa 26:11). Khi Đa-vít mong mỏi uống nước giếng thành Bết-lê-hem (IISa 23:15), ấy chẳng những vì nó có liên lạc với những ngày sung sướng, bình tĩnh của ông, nhưng cũng vì ông nhớ rõ cái vị đặc biệt của nó. Vậy có một tục ngữ gồm tóm tất cả sự an lạc của một người thạnh vượng và tự mãn rằng – “Bánh hắn đã hấp và vò hắn đã đầy”.

Hai sự đoán phạt Y-sơ-ra-ên đã được tuyên bố bởi những chữ tỏ ra nước rất cần cho sự sống và nước làm cho mát mẻ (Gie 2:13,18). Cũng hãy xem Dan 20:3; IVua 13:8; 17:10; 19:6; Ch 25:25; Es 35:6; Am 8:11; Mat 5:6; 10:42.

III. Thịt, cá, sữa và quả.- Một món thường hay ăn hơn hết trong nhà là những miếng thịt thái nhỏ hầm với đậu, cà chua, ruột các thứ rau, và nhiều thứ khác nữa. Để món đó vào dĩa, và mỗi người lấy dùng: Họ cầm thìa mà múc, lại nhúng thêm vào một miếng nhỏ mới bẻ ở cái bánh mỏng ngay bên cạnh mình. Họ làm như thế rất là khéo léo. Nếu đưa một miếng ấy cho kẻ đồng bàn, ấy là bằng cớ của tình bằng hữu thân thiết (Gi 13:26). Cũng thường hầm con chiên nhỏ hoặc con dê nhỏ với sữa. Người A-rạp gọi món ăn nầy là sữa mẹ, và khi ăn món ấy, họ hay kể một điển cố để binh vực cách làm trái luật từ ngàn xưa đó (Xu 23:19). Trong một bữa tiệc ở phương Đông hay có con chiên con hoặc con dê con quay nguyên cả, đầu và chơn bó lại gần với nhau, và trong bụng nhồi gạo và món gia vị. Họ để tất cả trên cái mâm lớn và bưng ra ăn. Thịt đã ninh nhừ đến nỗi dễ rời khỏi xương, và ai muốn ăn phần thì lấy tay mà gỡ. Về món ăn nầy cũng như về món bánh nhúng nước hầm, ông tù trưởng hoặc ông chủ nhà hay lấy một miếng ngon mà mời một người khách để tỏ lòng quí mến, vì nể đặc biệt.

Có một tiếng Hê-bơ-rơ chỉ về đồ ăn, là tereph, tức là thịt một con thú bắt ở trong bầy (Ch 31:15). Người nội trợ gương mẫu trong dân Y-sơ-ra-ên chọn một con dê con hoặc con chiên con để dọn bữa tối cho gia đình trước khi cả bầy được dẫn đi ăn cỏ lúc mới hừng đông.

Một món ăn phổ thông của xứ Sy-ri là thịt bằm nhỏ với lúa mạch xay qua loa, bỏ vào cối giã và cho thêm đồ gia vị. Rải ra dày độ ba phân tây trong một cái chảo nông; dùng dao khía thành những miếng hình hạt ngọc, phết thứ bơ mà người bản xứ dùng để nấu nướng, rồi đem đến lò để hấp. Dường như có ngụ ý nói đến món ăn nầy ở Ch 27:22, tại đó nói rằng một người ích kỷ, ngu dại, đa nghi sẽ chẳng mất cá tính mặc dầu đã bị cơn thử rèn và nghịch cảnh “xay giã”.

Một món ăn khác hết sức ngon lành ở phương Đông chính là món ăn đã có ảnh hưởng tai hại hơn hết cho Ê-sau (Sa 25:34). Phạn đậu phải ngâm và nấu với nước, tùy sức nó thấm hút được. Rán những miếng hành nhỏ với dầu cho đến khi hành hơi đỏ, rồi cho vào phạn đậu. Lúa mạch giã dập hoặc gạo thường nấu chung với phạn đậu. Khi phạn đậu đương chín, mùi thơm ngào ngạt, khiếm cho người đói thèm thuồng không sao nhịn được.

Người phương Đông không quen nấu xúp: Khi thịt sôi, thì nước thành ra một thứ nước “sốt” (sauce) đặc để ăn chung với thịt. Đó là sự đun, nấu có nói đến trong Kinh Thánh.

Các loài gia cầm thì quay và hầm. Theo ý tưởng của Ch 15:17, một tục ngữ A-rạp nói rằng: “Thà có một miếng bánh và một củ hành mà bình an còn hơn là có gà vịt nhồi mà cãi lộn”.

Ở phương Đông ta nghe nói đến con heo hơn là chính mắt thấy nó. Người ta luôn luôn nói đến con heo, cho là một tiếng khinh bỉ và chửi mắng, nhưng thịt nó thì thỉnh thoảng mới có môn đồ của Đấng Christ ăn. Vì heo hay dầm bùn và vì người ta không cẩn thận quét dọn rác rến, nên trong xứ nóng nầy thịt heo thành ra một món ăn cấm và ai cũng không muốn ăn, trừ khi món ăn ấy được nấu nướng rất tinh khiết. Cả đến thịt heo rừng ăn vào nhiều khi cũng sinh ra dun sán rất là tai hại.

Các người bổn xứ theo đạo Đấng Christ thường ăn thịt sống của chiên và dê. Trái lại, vì quá cẩn thận muốn bỏ hết máu, người Do Thái xát muối vào thịt trước khi nấu nướng.

Có rất nhiều cá ở Địa Trung hải và biển Ga-li-lê, nhưng nhà nước đánh thuế bán cá rất cao, có ý hạn chế nghề ấy; vì tín đồ Hội thánh phương Đông chỉ được ăn cá trong ngày thứ sáu, người ta cho ăn cá là thấp kém và khiến cho suy nghĩ về sự sám hối.

Ngoài sự ăn tươi ra, người thường còn làm cho sữa đặc lại bởi cách khiến nó có một cị chua mát. Chắc Giô-ên đã cho Si-sê-ra uống sữa giải khát chế theo cách ấy (Cac 4:19; 5:25). Người ta lắc váng sữa (crème) trong những bầu da cho đến khi thành ra bơ (beurre). Bơ đun sôi thành ra bơ để nấu nướng, đựng trong vò để dùng quanh năm.

Trong các sách A-rạp kể sự du lịch, thứ bơ nầy gọi là saman hoặc samăni; ở Ấn Độ thì gọi là ghe-cheese. Người ta luôn luôn dùng nó theo nhiều cách chế hóa khác nhau (ISa 17:18).

Rau trộn thì dùng rau cần tây, rau diếp, rau diếp quăn, lá cối xay, rau húng, dưa chuột. Người ta dùng đủ các thứ rau rất nhiều, và người phương Đông rất khéo chế nước sốt (sauce) chua, cay và thơm rẻ tiền. Nhằm lễ Vượt qua, người Do Thái có một thứ nước sốt giống như nước vôi loãng hoặc phấn hòa nước. Họ nhúng các thứ lá đắng, như rau diếp quăn mọc ở rừng vào nước sốt ấy để kỷ niệm thời kỳ làm tôi mọi ở xứ Ai Cập.

Các quả tươi thì ăn lúc đương mùa, nho và cam giữ được lâu hơn hết; quả ăn với bánh, ấy tức là bữa cơm của người lao động. Vả, nho khô, hột giẻ, hạnh nhân, lạc, là những quả thường hay phơi khô hơn hết (Sa 43:11; ISa 25:18).

Kinh Thánh chép rằng Giăng Báp-tít ăn châu chấu; người A-rạp ở đồng vắng phương nam dùng châu chấu như một món ăn khổ; họ ngắt càng châu chấu và đem ướp muối.

IV. Bửa ăn chính nhằm một lúc sau khi mặt trời lặn. Tinh thần và thân thể nghỉ ngơi, ấy là điều người phương Đông cho là cần yếu để ăn ngon, và là điều kiện để được tươi tỉnh và bổ sức cho bởi món ăn. Ấy nghĩa là phải làm xong việc trong một này rồi. Nông phu làm việc trong đồng ruộng cách làng xóm một đỗi đường; người buôn bán thì dọn hàng ở nơi ngoại châu thành; họ không thể về nhà mà ăn cơm buổi trưa. Lại nữa, khí hậu nóng nực, không thể giữ thịt luôn trong nhà, mỗi ngày phải đi mua đồ ăn. Vậy nên đối với đờn ông và đờn bà, bữa cơm tối là thì giờ gia đình sum họp và giải trí. Người ta lấy gối ở ghế “đi văng”, bày chung quanh cái mâm đã đặt trên một bàn nhỏ và thấp. Ăn bánh với mọi thứ đồ ăn khác, và ăn bánh bất cứ lúc nào trong bữa cơm cũng được. Mỗi người khách hoặc người nhà có mấy cái bánh mỏng để bên cạnh mình, thường là ba cái.

Vì lẽ trên đây, mọi món nấu thường ăn vào bữa cơm tối. Có một tục ngữ rằng: “Khách đến buổi tối thì chẳng được ăn bữa tối”. Khánh có thể xin ngủ nhờ bất luận lúc nào, nhưng nếu đến sau buổi tối mà không báo trước, thì không thể viện luật lệ cho trọ mà xin cho ăn. Nhưng theo phép lịch sự ở phương Đông thì thà khuấy rối người láng giềng còn hơn để cho khách lạ phải thất vọng (Lu 11:5).

Khi nào có bữa tiệc lớn, không thể đãi đằng mọi người một lúc, thì họ ngồi chung quanh bàn thành mấy phiên thứ; phiên thứ nào ăn xong thì đứng dậy, nói lời cám ơn chủ tiệc, rồi nhường chỗ cho phiên thứ khác.

Trong những bữa ăn gia đình, phụ nữ thường phải hầu hạ; trong những gia đình giàu có hơn thì có đầy tớ hầu hạ người nhà và khách khứa. Ta thường thấy những đầy tớ thường trực trong gia đình ở giữa vòng người Âu tây hoặc giữa vòng người Đông phương đã theo phong tục của người Âu tây.

Nguyên xưa trong những gia đình cao quí của xứ, thì việc ấy do các bà con nghèo khó làm, họ thỉnh thoảng nhận được món tiền bù lại công khó; hoặc cũng do bọn tôi mọi bắt được khi chiến tranh hay là mua ở chợ. Ta thấy sự giúp việc lối cổ như thế là đồi bại, vì cha mẹ bất đắc dĩ mới phải cho con gái đi ở làm tôi tớ, va người ta thường hay không trả tiền công của tôi tớ. Khi có đám khách người phương Đông đi vào trong phòng từng người một , hoặc ngồi trên “đi văng”, hoặc ngồi ở bàn, thì họ phải chú ý đặc biệt đến thứ bậc do tuổi tác, gia thế, và chức vị trong xã hội. Họ mất một ít thì giờ để nói nhún mình, người nọ tôn người kia là cao quí hơn mình. Trong vòng người Do Thái một người thông thạo luật pháp thì dẫu tiền của kém cỏi, cũng vẫn được kể là cao quí hơn một người giàu, nhưng có địa vị thấp kém trong tôn giáo. Phe Pha-ri-si đã lạm nhậm và lạm dụng lòng người tôn kính công việc Đức Chúa Trời, nên phe ấy mới đòi ngồi chỗ danh dự trong những hội nghị về xã hội và tôn giáo. Một tục ngữ A-rạp bày tỏ ý tưởng của Lu 14:10, mà rằng: “Chớ ngồi chỗ của người nào có thể bảo mình rằng: Đứng dậy!” Để tỏ lòng kính trọng, chủ nhà thỉnh thoảng chính thân hầu hạ khách khứa.

Ăn xong, phải rửa tay theo lối thông thường ở phương Đông, tức là có người cầm bình nước dội vào tay. Các đầy tớ dội nước cho khách, và lúc thường thì người nhà dội lẫn cho nhau. Sách IIVua 3:11 có nói đến thói tục nầy.

3. Y phục:

– Y phục ở phương Đông khác với y phục ở phương Tây về vật liệu, hình dáng và màu sắc. Vật liệu thông thường nhứt là vải bông, hoặc để trắng, hoặc nhuộm màu lam; nhưng lụa thì dùng nhiều để may áo choàng ngoài của đờn ông. Người phương Đông thích cái áo dài lướt thướt trùm cả thân thể hơn là bộ y phục có nhiều cái nhỏ, ngắn hơn. Đờn ông và đờn bà đều mặc các màu rực rỡ hơn những màu hiện nay thường thấy ở phương Tây. Khí hậu nóng bức là cớ chính khiên người ta ưa chuộn y phục nhe, rộng và có màu sắc rực rỡ.

Trong y phục ở phương Đông, sự thích trang sức cũng là điều quan trọng lắm. Áo dài lụng thụng tôn vẻ con người, và các vật phẩm (articles) khác nhau, và nhất là những kiểu khác nhau của áo choàng ngoài, vẫn cốt để phân biệt thứ bậc trong xã hội.

Nếu ăn mặc theo kiểu Âu tây, thì mất hết mọi sự đó, nhưng trái lại, được kể là có học vấn và văn minh cao hơn. Phải nhận xét rằng vì cớ những phong tục và những sự chế tạo bằng máy móc của Âu tây tràn vào, nên trong thế đại (génération) nầy y phục của dân Sy-ri thay đổi nhiều hơn là trong một ngàn năm trước. Thời kỳ giao thừa nầy thường khi làm chướng con mắt phong nhã của người phương Đông và người phương Tây. Một bà bận y phục theo kiểu tối tân của Âu châu, nhưng lại chọn màu rực rỡ của phương Đông. Cũng một thể ấy, một ông mặc áo ba-đờ-suy (pardessus) theo lối Âu tây, lại tưởng rằng sẽ đẹp hơn vì chỉ khoác lùng thùng vào vai như cái áo choàng của phương Đông, để hai ống tay áo rỗng lủng lẳng ở hai bên.

Nguyên thủy ở phương Đông y phục có áo lót mình và áo choàng ngoài. Hai thứ áo nầy vẫn còn là y phục thường dùng của người Bédouins. Sự sửa đổi hai áo đó và sự thêm các thứ áo khác là do cuộc sinh hoạt văn minh hơn ở làng mạc và thành phố, và do tiếp xúc với các nước khác. Mô tả qua loa các thứ y phục mà hiện nay người ta đang dùng ở xứ Sy-ri, thì sẽ giúp chúng ta hiểu nghĩa đen và nghĩa bóng của sự ăn mặc mà Kinh Thánh đã nói đến.

(1) Áo lót, tấm vải và áo bằng vải (Cac 14:12; Ch 31:24; Es 3:23; Mac 14:51). Dân xứ Pha-lê-tin, và cả đến dân Ai Cập ở gần họ trong một xứ nóng bức hơn, thỉnh thoảng choàng thân thể rất kín đáo và đẹp mắt bằng một tấm vải bông rộng hoặc bằng lông chiên. Họ quấn quanh thân thể và để thõng một đầu ở ngang vai. Về y phục ở phương Đông có một sở thích đặc sắc như thế nầy. Họ không thích múi, gim và móc, nghĩa là bất cứ cái gì làm cho y phục của họ phải chặt chẽ, gọn ghẽ. Ở xứ nóng, hể thứ y phục nào sát vào người và chặt chẽ quá thì sẽ làm cho đổ mồ hôi và khó chịu. Áo lót mình thường làm một cách rất giản dị. Một mảnh vải dài gấp làm hai phần đều nhau, hai cạnh khâu lại, để chừa hai lỗ ở trên để xỏ hai cánh tay; một chỗ hở khác để chui đầu và cổ vào, ấy thế là xong cái áo lót mình. Nếu áo lót có tay, thì tay áo dài tới gần cổ tay, và có những giải dài thõng xuống quá đầu gối một chút. Những giải đó dường như chướng

Lên đầu trang