Chương 4 – Các Nghề Nghiệp

MỤC LỤC

“Bàn tay Danh dự là một cái cân. Đường nào cũng dẫn đến cối xay lúa.”

Tục ngữ xứ Sy-ri.

Một cảnh tượng sướng mắt hơn hết trong cuộc gia đình sinh hoạt chính là xem đứa trẻ thức dậy một cách tỉnh táo và đột nhiên, và lấy làm vui thỏa vì đêm tối đã qua và bước sang một ngày mới. Cuộc sinh hoạt trong các thành phố ở phương Đông cũng bày ra một đặc sắc ngây thơ như thế. Lúc hừng đông, các ngôi sao vụt biến mất trong ánh sáng càng lâu càng lộ ra; và vừa lúc mặt trời mọc, thì các công việc hằng ngày đã bắt đầu rồi. Người thức dậy trước nhất là các thợ làm bánh: họ nướng bánh để đem ra ngoài phố bán với sữa nóng cho những người đi làm sớm. Những kẻ phải chăn ngựa, la, lừa và lạc đà ruỗi người ra và thức dậy, mặc áo sẵn sàng để dọn đồ ăn cho các súc vật đương nhẫn nại chờ đợi. Những người làm công đem theo đồ dùng hay là không đem theo gì cả, bắt đầu hội họp ở nơi nhứt định, chào hỏi nhau và chờ người đến thuê. Dân lao động ở ngoài châu thành, hoặc đi bộ, hoặc cỡi lừa. Ta nghe tiếng cái đe kêu chan chát, tiếng gõ của người thợ làm thùng, tiếng quay của cái bánh xe ở giữa sân làm thừng (dây), rồi tiếng vặn ống khóa ken két khi người A-rạp mở cửa hàng. Ngày mới ồn ào, tưng bừng, bận rộn bắt đầu như vậy đó. Vừa khi mặt trời lặn thì công ngừng ngay, các cửa hàng đóng lại, phố xá vắng tanh, và thành phố chìm vào sự yên nghĩ và lặng lẽ của một đêm khác (Thi 104:23).

Người Bédouins chuyên nghề chăn chiên kinh ngạc, sửng sốt khi bước vào thành phố và thấy cách sinh hoạt khác hẳn cách sinh hoạt của mình. Những sự nhu cầu của người rất ít và giản dị biết bao; đồ ăn, quần áo và đồ dùng làm việc phần nhiều do chính tay người và tay vợ con, anh em người làm ra. Nhưng ở thành phố mỗi nghề nghiệp có một phố riêng hoặc một khu chợ riêng; thợ làm thùng, thợ bạc, kẻ bán thóc lúa, gỗ, rau, thịt chiên, vải, thợ đóng giày và làm đệm, đều phối họp với nhau, mỗi nghề có riêng một chỗ. Khi sự sinh hoạt thêm phiền phức, thì luôn luôn có sự nỗ lực và sự phát triển tài khéo đặc biệt.

Các công nghệ ở phương Đông đáng chú ý ở chổ tài khéo được bày tỏ trong sự dùng những khí cụ đơn giản, và công việc tốt nhứt lại do những máy móc thô lỗ. Lịch sử các công nghệ ở phương Đông là một lịch sử của những tay thợ chuyên môn hơn là những phương pháp cải thiện. Bàn tay mềm mại, bức vẽ dễ dàng, con mắt tinh tường để nhận thấy vẽ cân đối và sự tự nhiên biết trước hình nào sẽ ra sao, mọi sự đó phần nhiều do những nghiệp đoàn đời xưa; trong những nghiệp đoàn ấy cha con thường cùng làm một nghề, cứ truyền tử lưu tôn, hết đời nọ sang đời kia. Còn như làm cho nghệ thuật hoàn hảo hơn, thì một bí mật của nhà nghề cũng là một bí mật của một gia đình, và người ta hết sức giấu giếm. Mối lợi riêng đó thật lợi cho gia đình ấy, nhưng nguy hiểm cho quần chúng, vì ngày nay ta thấy nhiều nghề bí mật đã bị quên mất rồi (thí dụ như nghề sơn theo lối cổ, cùng nghề tôi thanh đồng).

Mới đây trong xứ có tiếp xúc với máy móc và cách chế tạo của Âu châu, nên có thêm một vài nghề mới, và những nghề cũ cũng thay đổi ít nhiều. Ở xứ Pha-lê-tin và xứ Sy-ri cũng như ở mọi nơi khác, nghệ thuật chẳng phải vì nghệ thuật mà thôi, nhưng cũng còn vì mối lợi có thể do nghệ thuật mà được. Đó là trách nhiệm về phần tinh thần mà các công cuộc sáng chế phải chịu. Bấy giờ người phương Đông ham thích các thuốc nhuộm lộng lẫy và nhạt chế bằng chất phẩm tử (aniline) của người phương Tây, cũng như người phương Tây ham thích những màu sắc dồi dào và bền bĩ của vải và thảm do người phương Đông làm ra. Công nghệ quan trọng mà ngày nay thiếu hẳn chính là nghề làm hình tượng. Có lẽ ta thấy dấu tích cuối cùng của nghề ấy ở các đền và đồ thờ bằng bạc do tín đồ Hội kia dâng vào các nhà thờ Chúa và nhà thờ các thánh, và ở các ngọn nến to lớn trên bàn thờ mà mặt trời xứ Sy-si không rọi tới.

Bấy giờ chúng ta hãy chú ý đến một vài công nghệ và kỹ nghệ; làm vậy, chúng ta sẽ ngạc nhiên vì thấy là hợp vNê-hê-mi nhiều đoạn trong Kinh Thánh, và những điển cố ấy sẽ có hứng thú và bổ ích cho mình là dường nào.

1. Dệt, nhuộm và thêu.

(1) Nghề dệt.- Còn theo cách thức giản dị hơn hết trong những người đã bắt đầu dệt trước hết, tứ là những người chăn chiên nay đây mai đó, gọi là người Bédouins. Người đàn bà Bédouin cặp một mớ lòng dê nơi cánh tay, kéo một túm ra và buộc vào một tảng đá. Nàng quây sợi và dần dần thêm lông dê vào. Như vậy, nàng được một thứ sợi không đều đặng lắm, một thứ dây tết, sau dệt thành vải lông dê, dùng làm túi đựng thóc cho lừa, ngựa, lạc đà, và làm túi đựng lúa mì và bột. Còn vải lông dê rộng hơn thường thì họ nối lại với nhau để làm những “nhà bằng lông” đen, tức là những trại của người Bédouins. Đó là “bao gai” mà Kinh Thánh nói đến, người ta mang bao gai để tỏ dấu buồn thảm và ăn năn, bao gai cũng dùng để làm mẫu so sánh những thứ gì đen thẫm. Vải lông lạc đà thì hơi mềm hơn; còn mềm nhứt và quí giá nhứt thì là len (laine). Vì cừu và dê có màu đen và trắng, còn lạc đà có màu vàng nhạt hoặc cách gián thẫm, nên người ta dệt vải có những dọc to thẫm và nhạt. Tất cả các thứ vải dệt ở phương Đông đều có hai đặc sắc nầy: Dùng hòn đá khi kéo chỉ, và sự thích có dọc sặc sỡ. Giữa vòng những bộ lạc chăn chiên, đàn bà vẫn còn dệt vải may trại, áo choàng rộng và một ít thứ giống như vậy. Ở vùng thôn quê, ta cũng thường thấy đàn bà tết chỉ bông hoặc chỉ lông chiên đương khi đi đường, nhưng vải dùng bấy giờ phần nhiều do những xưởng dệt ở các thành phố như Aleppo, Beyrouth và Đa-mách, hoặc nhập cảng của Âu châu. Trong khung dệt của phương Đông, các sợi dọc của tấm dệt. buộc vào cái cột gần mái nhà và chạy xuôi về phía trước, thành những hàng tương đối (parallèles), cho đến một cái cột ngang quay được ở nơi chân người dệt. Những sợi ấy làm ra bề dài và bề ngang của tấm vải, và những sợi ngang của bông, vải, lụa hoặc len thì cho vào từng cái một, qua những sợi dọc, từ đầu nọ tới đầu kia; có một tấm gỗ chận trên tấm vải đương dệt, làm cho những sợi ngang và dọc được thẳng hàng. Người thợ dệt ngồi để làm việc.

(2) Nhuộm.- Rất nhiều thuốc nhuộm của phương Đông tốt và bền cực điểm. Màu tía sáng chói là màu họ ưa hơn hết, thì trong tiếng A-rạp cũng như trong tiếng Hê-bơ-rơ đều gọi theo tên một con sâu bọ đóng tổ ở trong một thứ cây dẻ bộp. Thuốc màu chàm thì chế bằng vỏ quả lựu. Nay ở bờ biển Acre người ta còn thấy một loài sò xưa người Phê-ni-xi dùng làm “thuốc màu tía” mà bà Ly-đi đã chuyên bán (Cong 16:14).

Màu tía sáng chói, màu xanh dịu và nhạt, màu đỏ như “huyết rồng” (theo cách gọi của người Thổ nhĩ kỳ), màu vàng của chim hoàng yến, màu chàm, và thỉnh thoảng có màu xanh tinh khiết của dân Hồi giáo làm cho dịu bớt, từng ấy màu dập dìu luôn nhưng bao giờ cũng vẫn thế. Đó là quang cảnh sặc sỡ của một đám người phương Đông.

Người phương Đông rất có tài phân biệt màu nhạt với màu đậm, màu tươi với màu dịu, nhưng không giống như người phương Tây trong chỗ nhận biết sự tương quan của các màu sơ đẳng (couleurs primaires) với các màu trung đẳng (couleurs secondaires). Người ta luôn luôn đặt những màu hồng và tía xanh da trời và xanh lá cây ở cạnh nhau (Xu 26:1). Nếu có một người đờn bà Hồi giáo ăn mặc áo lễ mà lại đứng chung với phụ nữ Âu, Mỹ trong một phòng khách, thì phụ nữ Âu Mỹ sẽ coi người đờn bà ấy là một dị trang, còn người đờn bà ấy sẽ tự hỏi một vài bậc phụ nữ Âu Mỹ đó đã làm tội hoặc chịu tội gì mà phải ăn bận nhũn nhặn như thế. Trong xứ của người đờn bà Hồi giáo ấy, cách phục sức như thế hiệp với ánh nắng chói vốn dung hòa được mọi màu. Cả đến con ngựa vằn ở trong sào huyệt nó cũng nhờ có vằn mà không bị người ta xem thấy. Cùng với những màu sắc lộng lẫy và thường khi chói mắt ấy, các nhà chế tạo ở phương Đông còn có nhiều màu sắc dịu dàng nữa.

(3) Nghề thêu.- Đó là cách tô điểm mọi thứ vải, bông, lụa hoặc len theo nhiều màu sắc và kiểu mẫu. Có hai thứ chính.

A. Các kiểu nguyên một màu, hoặc ảnh hưởng của một kiểu không có màu khác thêm vào. Hạng nầy cũng chia làm hai thứ.

a. Trên vải.- Thật là một việc rất rắc rối và phiền phức của mũi kim; ít khi người người ta làm việc nầy, trừ khi làm áo dài cho người đàn ông ở phương Đông mặc bên ngoài. Áo dài làm bằng vải hoặc lụa màu trơn bóng; người ta cắt áo ấy và trải trên lần lót bằng vải trắng. Rồi người ta để các sợi chỉ to ở giữa lụa và vải theo kiểu đẹp và người ta khâu nó vào, mũi nhỏ hai bên của chỉ to giấu ở trong: như vậy chỉ ở trong nổi lên cao, dầu thật không thấy chỉ ấy được, và hai bên đều giống nhau. Dươi ánh mặt trời, đường thêu trên vải hoặc lụa như thế trông rất lộng lẫy, còn như thêu trên vải dệt bằng vàng, thì trông chói lọi hết sức (Thi 45:13 theo nguyên bản).

b. Trong vải.- Đây ta lại thấy những màu dọc, vuông, tròn, ngòng ngoèo, và chìa khóa do cách dệt không làm nổi trên mặt vải. Thứ hàng nầy dệt ở thành Đa-mách, có rất nhiều kiểu đẹp đẽ khác nhau, và là thứ hàng nội hóa thông dụng. Một vài thứ hàng nầy (hạng “a” hoặc hạng “b”) chắc đã là vật liệu kiểu mẫu dùng may áo cho thầy tế lễ thượng phẩm (Xu 28:39). Cách thêu đó có hình như bàn cờ.

B. Kiểu mẫu có nhiều màu sặc sỡ.-

a. Thứ mặt nổi.- Chính là kiểu mẫu thêm vào, dùng chỉ vàng và có nhiều màu khác nhau. Hình nó như vàng và bạc chạm nổi, như khi một bộ áo cưới ở phương Đông làm bằng lụa tốt và nặng, có thêu những hoa huệ to và nổi bằng vàng.

b. Trong vải.- Trong trường hợp nầy, người ta làm kiểu có màu trong khi dệt, vì cách trang hoàng cốt yếu là các dòng dọc, như trong các bức màn của đền tạm.

Những vải vóc ở phương Đông thường là hai mặt giống nhau. Kinh Thánh gọi những vải ấy là “những bức thêu sặc sỡ” khi người ta có ấn tượng rằng những vải vóc ấy có màu sắc lộng lẫy và khác nhau. Đó là phần việc của người pha màu (Xu 26:36; Exe 16:10).

Chữ “cực xảo” nghĩa là việc thêu chớ không phải đẹp vì đồ dùng mà thôi, mà cũng đẹp vì kiểu tỉ mỉ lẫn các hình loài người, thú hoa và những hàng dọc ngang, và tréo. Đó là công việc của người thợ vẽ (Xu 26:1; 28:6; 36:8).

2. Nghề thợ nề.

– Phần nhiều những cổ tích lạ lùng hơn hết của phương Đông đều do công việc của người thợ nề; ấy cũng như các đặc sắc hiện thời của phương Đông. Những khí cụ và cách thức làm việc của người thợ nề rất có bổ ích cho người kê cứu Kinh Thánh, vì Kinh Thánh hay nói đến người thợ nề để làm thí dụ hoặc để dạy dỗ.

Người làm ruộng ở khắp mọi nơi có tài xây cất những tường thấp bằng đá chồng chất lên để rào ruộng lúa mì và vườn nho; nhưng khi phải xây bằng đá và vôi, thì cần có sự kinh nghiệm của người thợ cả. Có nhiều làng nổi tiếng vì những tay thợ nề, họ đi khắp xứ để làm khoán.

(1) Cái nền.- Phải rất thận trọng về cái nền vì đất hay co vào và giản ra nhơn cớ sự khô ráo của mùa hạ và mùa đông. Cần lập nền sâu trong tầng đá, nên thường khi phải mất nhiều công phu và tiền bạc, và đó thường là cớ thất vọng có nói đến trong sách Lu 14:29. Người ta đào nhiều hố sâu rộng, rồi xây những tường dày bằng đá và vôi. Tường xây cao hơn mặt đất và để ít lâu cho khô và bền. Tự nhiên về sau tất cả công việc ấy không ai thấy nữa; cho nên Kinh Thánh có nói đến sự bất nhã do sự xây dựng trên nền của kẻ khác (Ro 15:20; ICo 3:10).

(2) Hòn đá góc nhà.- Khi đã đặt hòn đá dài nhứt trên nền dự bị sẵn rồi, thì người ta chọn một vầng đá vuông lớn cho mỗi góc để cái nền được vững chắc hơn tại chỗ hai tường giáp nhau (Es 28:16; Thi 118:22; Mat 21:42). Người ta thường đặt một vầng đá vuông giống như thế nhưng mỏng hơn, trên mỗi góc của lớp đá cao nhứt, trên lớp đá đó có đặt các sà của mái nhà. Vì vầng đá nầy không có hình dáng đẹp đẽ, nên tự nhiên các thợ nề bỏ qua nó trong khi đặt những viên đá dài thường, cho đến lúc một sự cần dùng đặc biệt tỏ ra vầng đá ấy rất xứng đáng nối liền hai bức tường. Khi xây nền của một tòa nhà hệ trọng, như công sở hoặc học đường, khi người theo Hồi giáo hay giết một hay nhiều con chiên để thết tiệc người nghèo. Đó tức là lễ khánh thành.

(3) Cái gậy để đo.- Khi xây nền, và thỉnh thoảng trong khi xây tường, người cai thợ nề dùng một cái gậy thẳng và dài độ sáu thước tây để đo các bức tường và khoảng giữa những cửa sổ và cửa lớn (Exe 40:3; Kh 21:16). Cũng dùng một cây gậy ngắn hơn một chút, – dùng một cách rất đơn sơ nhưng đúng lạ lùng – trong khi xây cất các vòm cửa có rất nhiều trong nền kiến trúc của phương Đông.

(4) Dây rọi (Ligne à plomb).- Nó là một cục chì hình cái phễu lật ngược, buộc bằng một sợi dây vào một miếng gỗ đường kính cũng như thế, để khi đặt miếng gỗ vào viên đá mới trát theo một hàng, thì miếng chì ở dưới chỉ hơi đụng đến tường. Người ta luôn luôn dùng dây rọi cho tường được thẳng. Tường có chịu thử nghiệm như thế thì mới được vững bền lâu dài. Cái gì “không ngay thẳng” thì sẽ đổ sụp xuống đất, mặc dầu khi làm lễ khánh thành, người ta đã dâng nhiều con chiên làm tế lễ (Es 28:17; Gie 22:13). Về phần đạo đức, thì sự dạy dỗ về lòng ngay thẳng nầy ứng dụng đặc biệt cho “nhà của Đức Chúa Trời xây” (ICo 3:9), cho sự xây dựng trên nền đức tin (Giu 1:20), và sự xây dựng “nhà thiêng liêng” (IPhi 2:5).

(5) Dây đo bề ngang.- Dây đo bề ngang dùng chung với dây rọi. Khi nào cần phải xây một hàng đá mới, thì người thợ đặt hai viên đá cao bằng nhau ở mỗi đầu tường, hoặc cách nhau chừng sáu thước tây, mỗi viên đá cũng dùng dây rọi thử xem có thẳng xuống không.

Rồi người ta tháo lấy một sợi dây gai, quấn nhiều lần quanh một viên đá, rồi giăng thẳng từ đầu viên đá ấy sang đầu viên đá bên kia, rồi cũng buộc chặt lại ở đó. Người thợ cũng dùng dây rọi mà đo ở quãng giữa dây ấy, rồi mới xây cả một hàng đá; như vậy cả bề ngang và bề dọc đều được ngay thẳng. Dường như ở IIVua 21:13 có nói đến cái dây đo bề ngang, vì ở đó có nói tiên tri rằng cái dây đã dăng trên xứ Sa-ma-ri và trên nhà A-háp cũng sẽ giăng trên thành Giê-ru-sa-lem; ấy có nghĩa là thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị san phẳng như mặt đất.

Sách Giop 38:4-7 có ngụ ý nói đến cái nền đã bị đo, sự dùng dây rọi và các cuộc vui khi làm lễ khánh thành.

(6) Các đồ dùng của người thợ nề.- Những đồ dùng nầy cốt để bổ, đập và trát đá. Cái búa có cạnh răng cưa đáng chú ý đặc biệt, vì những tảng đá lớn của Baalbek chứng tỏ một công việc đập đá chắc phải do một thứ đồ dùng như thế.

Cái rổ con để mang đất đi cũng đáng chú ý; hơn nữa là vì người ta tìm thấy cái rổ ấy chung với các thừng để nhắc lên, – cả rổ và thừng đã vùi xuống đất hằng mấy chục thế kỷ ở nơi những thợ thuyền xứ Ai-cập xưa kia đã đặt.

3. Nghề thợ mộc:

– Phong tục phương Đông không cần đến người thợ mộc bằng người thợ nề. Công việc cốt yếu của người thợ mộc là làm mái nhà, cửa, cánh cửa sổ, song cửa sổ và đi-văng (divan). Dọc theo bờ biển còn có nghề đóng thuyền.

Kinh Thánh có nói đến bàn và nghế; nhưng có lẽ những dân quê ngày xưa cũng như ngày nay chỉ ngồi và ăn trên sàn nhà và trên đi-văng. Để chở hàng nặng, người ta dùng ngựa thay vào xe gỗ, còn giới hạn của các vườn thì phân định bằng các tảng đá, tường, hoặc hàng rào bằng cây xương rồng hoặc lau sậy; thành thử người ta chẳng cần đến công việc của người thợ mộc. Vì cớ ở nhiều nơi thiếu gỗ làm rầm nhà, tỉ như ở thành Giê-ru-sa-lem, cho nên nhiều nhà phải lợp mái hình vòng cung bằng đá, chớ không lợp bằng mái gỗ.

Các bia cổ của xứ Ai-cập tỏ ra cái rìu, cái cưa, cái thước thợ, cái dùi và lọ keo là những đồ dùng cốt yếu của người thợ mộc ngày xưa. Với những đồ dùng nầy và một vài đồ dùng khác nữa, người thợ mộc hiện thời ở phương Đông cũng làm công việc giản dị cũng như người thợ mộc ngày xưa. Công việc khéo léo hơn hết của người thợ mộc là khắc kiểu đẹp trên gỗ trần nhà, làm khung cửa sổ và chạm trổ cửa lớn theo kiểu A-rạp. Người thợ mộc rất hay dùng cái rìu. Khi dùng cưa mà xẻ một tấm gỗ, thì người thợ mộc ngồi trên tấm gỗ mà cứ cưa tới đằng trước.

Người A-rạp so sánh kẻ hà tiện với một cái cưa dài, có hai tay thợ cầm, dùng để xẻ cây gỗ thành tấm, vì nó “ăn” cả khi kéo lên và khi kéo xuống.

4. Nghề làm kim khí:

– Hết thảy sử ký ở phương Đông chứng thực cho Kinh Thánh một cách dồi dào, bởi tỏ ra rằng từ đời thượng cổ người ta đã biết làm những đồ trang hoàng trơn bằng các loại kim khí khác nhau, tức là các loại kim khí mà hiện nay công nghệ cần dùng. Công việc trang hoàng thì gọi là nghề khắc, – khắc vào gỗ, đá, kim khí và đồ nữ trang, ấy cũng như thêu thùa trên vải vóc (Xu 28:11; ISa 13:19; IISa 5:11). Hiện nay nghề khắc vẫn còn giữ nguyên những trạng thái có nói đến trong Kinh Thánh (Xu 32:4; 39:14; IVua 6:18; Exe 8:10; Cong 17:29).

Đông phương bao giờ cũng nổi tiếng về những công trình xây cất đồ sộ, nhưng cuộc khảo sát ở Ai-cập mới đây có tỏ ra rằng công việc tỉ mỉ, phiền phức hơn hết của người thợ kim hoàn cũng khéo léo như thế. Chẳng có gì trong nền mỹ thuật ngày nay có thể trổi hơn tinh thần sáng kiến kiểu mẫu, sự làm việc mềm mại và sự chạm trổ trên mặt vàng, bạc rắn. Người thợ kim hoàn ở phương Đông ngày nay vẫn giữ được sự mềm mại khéo léo của người thợ kim hoàn sắc sảo ngày xưa, nhưng có điều họ thường lấy làm thỏa lòng mà rập lại các kiểu mẫu sẵn có từ xưa. Người thợ làm kim khí ngày nay cũng dùng những khí cụ mà tổ phụ họ đã dùng ngày xưa, – họ cũng dùng theo một cách ấy và để làm những đồ vật như xưa. Người thợ kim khí nào cũng dùng dao trổ, kìm, búa, đe và bễ, chỉ khác về bề lớnnhỏ và sức mạnh tùy theo họ dùng làm đồ sắt, đồ đồng, hoặc đồ vàng, đồ bạc.

Cái đe ngày xưa (Es 41:7) là một khối sắt đặt vào trong một tấm gỗ cây dẻ bộp, còn cái bễ (Es 54:16; Gie 6:29) thì làm bằng da dê hoặc da bò để nguyên cả lông.

(1) Sắt.- Người thợ rèn ngày nay làm nhiều đồ vật bằng sắt mà ngày xưa thì làm bằng đồng hoặc bằng thanh đồng (bronze). Người làm ruộng và thợ nề là khách hàng quen của người thợ rèn. Thợ rèn thường làm những cày, cuốc quặp (houe), cuốc, liềm, móng ngựa, đinh, song cửa sổ, và các đồ dùng của người thợ nề. Khi quân Phi-li-tin ức hiếp dân Y-sơ-ra-ên, thì chúng cấm ngặt nghề thợ rèn (ISa 13:19), ấy cũng như trong cuộc chiến đấu để được tự do tín ngưỡng, người ta cũng cấm đọc Kinh Thánh.

(2) Đồng.- Đồng hạng xoàng cốt để làm các đồ dùng trong bếp, các thùng lớn dùng ở bàn ép rượu, bàn ép trái ô-li-ve và các thùng lớn của người thợ nhuộm. Người ta dùng búa mà đập các tấm đồng tròn và dẹp cho thành hình khí cụ. Để giữ đồng cho khỏi dỉ, người thợ đúc bèn treo nồi ấy trên than hồng mà nung, rồi tráng bằng một nước thiếc. Tráng thiếc như thế nầy: Để thiếc tan chảy trên đồng đã nung nóng, rồi dùng miếng vải và dục khinh toan (nước đái quỉ) mà xát khắp lượt. Thiếc dùng ở Âu châu thì không phải là của phương Đông đâu. Người ta chỉ dùng thiếc ấy để tráng những bình và thùng bằng đồng. Cũng trộn thiếc với đồng để làm ra thau, mà người A-rạp gọi là đồng vàng (cuivre jaune). Người ta dùng thau làm những đồ trang hoàng lịch sự hơn, như mâm, đèn, bình đựng nước và bình cắm hoa.

(3) Vàng và bạc.- Người ta tự nhiên dùng bạc rất nhiều hơn vàng. Thấy có nhiều bạc ở những đồ cặp tóc và những đồ trang sức lối cổ của người Bédouins và người dân quê. Luyện lọc vàng và bạc bằng chất liểm (alcali); gỉ và chất pha bị loại ra như có mô tả ở Es 1:25; Gie 6:29-30; Xa 13:9; Ma 3:3.

Những đồ trang sức thông dụng hơn hết là như sau nầy:

(a) Hoa tai (Sa 35:4; Xu 32:2; Exe 16:12). Hao tai có hình viên tròn, hình dài buôn thõng, hình bán nguyệt và hình mặt nguyệt. Những hoa tai lớn hình bán nguyệt có một sợi dây quàng trên tai, rồi thường buộc vào một lọn tóc.

(b) Vòng cổ (Es 3:19). Những “dây xúc xích” nầy hiệp nên bởi những hột tròn, hột vuông, hoặc những ống tròn rỗng do các chỉ vàng, chỉ bạc nhỏ tết thành; hoặc những “dây xúc xích ấy” toàn là do những dây vàng, dây bạc to tết thành, hay là “đan” rất tỉ mỉ. Vòng cổ thường là biểu hiệu của chức việc (Sa 41:42). Hiện nay con lạc đà còn đeo vòng cổ có buộc lẫn những hình lưỡi liềm (Cac 8:26).

(c) Nhẫn (IVua 21:8). Kinh Thánh hay nói đến nhẫn. Nhẫn chẳng những nạm ngọc dùng để trang sức mà thôi, song cũng còn dùng làm ấn tín. Những nhẫn dùng ấn tín ấy thì thường xỏ vào một sợi dây mà đeo vào cổ.

(d) Xuyến (Sa 24:22; Es 3:19). Nhẫn cũng có nhiều kiểu như kiềng đeo cổ; người ta rất hay đeo nhẫn bằng vàng, bạc, đồng và thủy tinh mùi.

(e) Vòng vàng đeo cánh tay (IISa 1:10). Thứ vòng nầy bằng dây vàng đặc tết thành, hoặc bằng vàng dẹp có chạm trổ theo kiểu mẫu, thỉnh thoảng cũng nạm kim cương. Vòng bám chặt cánh tay vì vàng giẻo, và cũng có một chỗ hở độ hai phân tây. Người A-rạp hay đeo vòng nơi cánh tay hơn hết: ấy vì họ vẫn mặc áo thụng như xưa, mỗi khi làm việc thì phải buộc tay áo ngược ra phía sau cổ, để lộ ra cánh tay trần. Như vậy, đồ trang sức trên cánh tay được bày ra.

(f) Vòng mắt cá (Es 3:18) là những vòng bằng dây vàng trơn tết lại, có dính nhạc và các hình tròn, nay người đàn bà A-rạp còn đeo.

(g) Khoen đeo mũi (Es 3:21; Ch 11:24) cũng chỉ là những chiếc vòng trơn đeo giữa mũi. Trong Kinh Thánh, thượng hạ văn (contexte) không quyết định luôn luôn rằng khoen nói đó là để đeo tai hay là để đeo mũi; trong những trường hợp ấy bản Kinh Thánh tiếng Anh (Revised Version) chỉ dịch là “khoen” mà thôi. Khoen đeo mũi dường như là cổ sơ hơn hết, và có lẽ ban đầu người ta đeo nó làm đồ trang sức để làm biểu hiệu cho sự tin đạo và làm dấu hiệu của sự phù hộ của thần minh.

(h) Bùa đeo (Es 3:20). Đối với tinh thần người phương Đông, thì tất cả đồ trang sức kể trên đây đều có hiệu lực như bùa chú hoặc nhiều hoặc ít nhứt là che chở, giữ gìn cho khỏi con mắt của quỉ sứ. Có mấy thứ trang sức làm ra chỉ để vì mục đích đó, – tức là những mặt tròn và hộp bằng bạc; nhưng vì bùa cũng làm bằng nhiều vật khác nên chúng tôi sẽ luận đến trong mục: “Đời tôn giáo”.

5. Thợ làm bánh:

– Trong vòng dân quê và người Bédouins, thì sự làm bánh là một phận sự cốt yếu trong gia đình, nhưng trong thành phố và các làng đông đúc thì cần có lò bánh lớn của người thợ chuyên môn làm bánh. Tánh chất ngon lành hơn của thứ bánh nầy đã hàm trong câu tục ngữ của người A-rạp, dạy rằng đến cuối cùng vật tột hơn hết vẫn là vật rẻ hơn hết. – “Hãy đưa bánh đến lò của người thợ làm bánh, mặc dầu hắn ăn mất một nửa”.

Dường như theo một lệ chung, người thợ làm bánh ở phương Đông ngày nay không nhào bột, nhưng chỉ nướng bánh của người khác đã làm sẵn và giao cho mình nướng. Một cảnh tượng thường thấy trong thành phố phương Đông là cậu con trai giúp việc người làm bánh đội một khay bánh mới cho nhàn nầy, và cặp cạnh sườn một khay bánh mới cho nhà khác. Bột bánh thì viên tròn sẵn ở nhà, rồi đem đến nhà người làm bánh; người làm bánh nhào lại những bánh dẹp để hấp trong lò. Người đàn bà Do Thái có thói tục lấy một nắm bột, để cho người thợ làm bánh ném vào lửa ở cạnh lò hấp bánh. Đó có lẽ là di tích của thói tục dâng tế lễ (Le 6:15), và cốt để tỏ lòng biết ơn Đức Chúa Trời. Nhưng kẻ mê tín lại đặt cho nắm bột đó tên khác hẳn, theo tiếng A-rạp có nghĩa là “phần của quỉ Sa-tan”. Họ cho rằng làm như thế thì con mắt của ma quỉ không dòm dỏ mình nửa.

Cái lò bánh.- Lò bánh ở phương Đông xây bằng đá, có hình vòng cung, dài và thấp, như một nửa nồi súp de (chaudière) của toa máy xe lửa; ở giữa có xây đá dốc xuống, và mỗi bên có một cái lề dài và hẹp để chất củi dùng đốt lửa. Buổi tối người ta đổ tro ra, và con cái nhà nghèo thường mang đến một miếng thiếc hoặc một mảnh vò vỡ để đem vài cục than hồng về nhà nấu bửa cơm tối (Es 30:14). Ban đêm người ta xếp cũi sẵn sàng để sáng hôm sau nướng bánh; cửa lò thì đóng lại để giữ cho lò được nóng ấm và cho củi không mau cháy hết. Sách Os 7:4,6 nói đến việc ấy, lại hơi bao hàm ý nầy: người thợ làm bánh vừa lo nhồi bột, vừa nướng bánh. Thành Giê-ru-sa-lem ngày xưa có “Phố Hàng Bánh” (Gie 37:21). Ngoài bánh mì thường ăn, còn có nhiều thứ bánh ngọt, kẹo, và món ăn có gia vị cũng hấp trong những lò công cộng nầy, nhứt là nhằm các ngày trước và sau khi khiên ăn theo luật pháp tôn giáo.

6. Người bán thuốc:

– Có bản dịch chữ “người bán thuốc” là “thợ hòa hương” (xem Tr 10:1). Chữ ấy trong nguyên văn gồm cả hai ý nghĩa, và ngụ ý nói đến tánh chất làm thuốc của một vài cây cỏ, cùng các dầu thơm cất được bởi hoa và hột của những cây đó, luôn với sự dùng các cây đó, làm sáp thơm và làm gia vị các món ăn. Hết thảy thành phố lớn ở phương Đông, như Alexandrie, Beyrouth, đều có phố bán dầu thơm, như phấn, viên thuốc thơm, dầu sáp, luôn với bột, lá và vỏ cây.

Kinh Thánh chép các thứ dầu thơm ấy khi luận về dầu thánh và hương xông trong Đền tạm (Xu 30:25,35), sự thờ phượng thần Ba-anh rất huy hoàng (Es 57:9), sự ướp xác người chết và lễ tống táng (Sa 50:2; IISu 16:14; Lu 23:56). Bước vào trong một nhà thờ ở phương Đông, ta ngửi ngay mùi hương, và lư hương tỏa khói luôn luôn kèm với đám táng. Người phương Đông rất ham thích các hương thơm; có một vài thứ hương thơm họ ưa hơn hết, nhưng người Âu châu lại cho là nặng mùi và ngào ngạt quá. Khi cây cam, cây hoa thủy thảo (violette), cây hoa hồng trổ hoa, thì phụ nữ làm nước hoa, đựng trong những bình lớn và nút chặt, để mùa hạ dùng làm nước đường, uống cho mát. Đem ra mời khách, họ đựng vào cốc lớn, để trên mâm đồng và mâm bạc. Các người đàn bà làm “thợ chế dầu thơm” (ISa 8:13) cho nhà vua phải lo chế và pha những thứ nước hoa như thế. Một cảnh đẹp mắt trong các phố của một thành phố phương Đông lúc mùa hạ, chíng là người đàn ông đi chỗ nầy chỗ nọ, với các bình bằng da hoặc bằng thủy tinh, bán nước đá có pha nước thủy thảo, nước hoa hồng, nước cam thảo, hoặc nước nhũ hương. Hắn mời chào kẻ biếng nhác và kẻ hoạt đông, những người buôn bán ngồi nơi cửa hàng, những thợ mộc, thợ rèn đương làm lụng. Để cám dỗ, hắn gõ các chén và đĩa bằng đồng mà rao rằng: “Hè! Ai khát nào! Không đắt tiền mà! Không đắt tiền mà!” Lời rao của hắn gần như là thật, vì uống một cốc nước thấy mát mẻ trong người mà chỉ mất có nửa xu! Sự đó khiến chúng ta suy nghĩ đến sách Es 55:1.

Ch 27:9 và Nha 1:3 có luận đến người ta ưa thích dầu thơm. Sự ưa thích dầu thơm có liên lạc đặc biệt với các hội hè và các nơi tụ họp đông đúc. Trong nhà hội của dân Do Thái, nhằm một buổi sáng nóng bức của mùa hạ, người đầy tớ trông coi nhà hội rảy một ít dầu hoa hồng ở giữa những người đến thờ lạy Chúa.

Khi một xe ngựa chạy qua, trên có những bà phương Đông xức dầu thơm, thì có một luồng thơm phảng phất lâu trong không khí, chẳng khác gì dòng nước Gulf Stream ở giửa đại dương. Vậy thì cái võng của Sa-lô-môn cùng với đám quân hộ vệ mặt mày bám bụi đã tỏa tr không khí của đồng vắng một hương thơm ngào ngạt (Nha 3:6). Có mấy thứ dầu thơm trước kia và cả bây giờ giá rất đắt. Có thứ dầu nầy đựng trong những bình đẹp bằng đá hoa trắng trong suốt (albâtre transparent), bằng kim khí hoặc bằng nhiều chất khác. Khi nói rằng cái bình bị đập vỡ ra (Mac 14:3), thì có nghĩa là đập vỡ cái ấn đóng vào miệng bình. Người ta tìm được những bình dầu thơm như thế ở trong các mồ mả thái cổ, và vẫn còn một ít hương thơm dính vào. Sự biết hiệu lực chữa bịnh của một vài thứ cỏ chính là phần của các y sĩ Do Thái và A-rạp đã hiến vào nền y học Âu châu.

Khi nào chúng ta hiểu biết giá trị cao quí mà người phương Đông để cho các thứ dầu thơm, thì chúng ta mới nhận biết hết ý nghĩa trong lời nói nầy của nhà Truyền đạo – “Danh tiếng hơn dầu quí giá” (Tr 7:1).

7. Người đánh cá:

– Kinh Thánh nói đến cá của sông Ni-lơ (Es 19:8), và của biển (Ne 13:16; Os 4:3; So 1:3). Song những đoạn nói về nghề đánh cá nhiều hơn hết thì lại có tương quan với hồ Ga-li-lê. Cá ở đây tự nhiên là cá nước ngọt. Hồ nầy có rất nhiều cá, và thỉnh thoảng người ta vẫn còn gặp sự nguy hiểm vì đứt lưới và đắm thuyền (Lu 5:6). Có ba cách đánh cá cốt yếu.

(1) Lưới thả.- Khi dùng lưới, thì người đánh cá đứng trên bờ hoặc đứng ở nơi nước đến ngực, rồi khéo ném cái lưới đã cuộn trong tay xuống nước ngay trước mặt mình. Lưới rơi xuống nước thành hình một vòng tròn, và trong khi những cục chì buộc vào vành lưới kéo lưới xuống, thì lưới chìm xuống, thành hình cái mái tròn (dôme) hoặc cái nón (cone), và sau rốt nó chụp lấy cá vào trong. Bấy giờ người đánh cá lặn xuống nước, túm chặt lấy các cục chì, rồi kéo cả lưới lẫn cá vào bờ. Những chỗ tốt nhứt là các suối nóng ở trên miền Ma-ga-đan, tại đó có vô số cá và người đánh cá thường ném một ít mồi nhử cá đến một chỗ gần bờ để dễ bắt lấy.

(2) Lưới kéo cũng là một cái lưới hở và dùng để bắt cá mòi và cá mã hữu (saumon): có những phao ở trên đầu và những cục chì ở đáy lưới. Người ta ngồi trên thuyền mà kéo lưới, thắt miệng lưới lại mà nhốt cá vào trong.

(3) Lưỡi câu.- Sự bắt cá bằng lưỡi hoặc bằng cần câu có nói đến ở Es 19:8; Am 4:2; Ha 1:15; Mat 17:27. Nhằm đêm mùa hạ êm ả, trên bờ Địa Trung Hải, người ta đâm cá (Giop 12:7,8) bằng một cái đinh ba; họ dùng một bó đuốc lắc lư ở mạn lái thuyền để nhử cá bơi lên mặt nước.

Đem tài nghệ của người đánh cá mà ứng dụng vào sự rao giảng Tin Lành (Mat 4:19), thì tỏ ra cần có sự kiên nhẫn, sự quên bỏ mình, và sự dùng phương pháp cho đúng thứ tự trọng vẹn.

8. Người bẫy chim và người săn bắn:

– Săn bắn vẫn luôn luôn là một môn giải trí được người ta ưa chuộng hơn hết tại những nơi người ta rất coi quí sự can đảm, khéo léo và chịu khó.

Những bức chạm của xứ A-si-ri và những bức tranh của xứ Ai-cập có mô tả những cảnh săn bắn: họ dùng dáo, con báo đã thuần biết bắt mồi, và chó mà hãm bắt những con thú lớn, còn những con thú nhỏ hơn ở trên cạn và ở dưới nước thì họ dùng bẫy mà bắt. Các ngôi mộ mới tìm được ở Si-đôn có chứa những trướng bằng đá hoa hình dung những cảnh săn bắn. Trong đó có nói đến ba phương pháp cốt yếu. Ấy là:

(1) bắn bằng cung và tên (Sa 27:3), bây giờ có súng săn thay vào;

(2) đánh bẫy bằng lưới giăng (Am 3:5) và bằng lồng (Gie 5:27), nhứt là các loài chim, như chim cút, chim đa đa và vịt;

(3) các hố có lưới và bụi rậm, bao phủ để bắt hươu, cáo, chó sói và gấu, v. v… (Thi 35:7; Es 24:18; 42:22).

Chim sẻ, và nhiều loài chim nhỏ khác thì bị bắt bằng nhựa phết vào cây ở gần một cái lồng mồi. Có con chim người ta nuôi để nó hót, nhưng phần nhiều thì bị treo trên các cành nhỏ, mỗi cành chừng mười hai con. Người ta cũng bán những con chim đó làm đồ ăn, bằng một giá rẻ như khi Đấng Christ dùng đời sống của chúng nó mà dạy bài học về sự săn sóc của Cha chúng tôi ở trên trời (Mat 10:29).

Chim đa đa chẳng phải bao giờ cũng cẩn thận giữ mình và sẵn sàng bay vù đi; nhưng khi thình lình bị hãm bắt, thì nó tin cậy lạ lùng rằng nơi nó ở sẽ che chở nó rất đắc lực. Một ổ chim đa đa sẽ nằm yên không cử động gần ngay chơn người săn bắn, thế mà người chẳng nhìn thấy. Đa-vít quen biết những thói quen và cách tự cứu mình của chim đa đa đó khi ông so sánh sự hoạn nạn mà Sau-lơ gây cho mình với sự săn chim đa đa (ISa 26:20).

Thỉnh thoảng cũng thấy những người ếm chú rắn: Họ dụ rắn đi ra khỏi hang, rồi dùng rắn mà kiếm ăn bởi khiến rắn quấn quanh thân thể mình mà chẳng làm hại chi. Thường thì cách ít lâu người ta không thấy kẻ xách giỏ đựng rắn đi dạo nữa; hỏi thăm thì mới hay rằng hắn đã bị rắn cắn chết. Kinh Thánh nói đến con rắn không chịu ai ếm chú, dùng nó làm biểu hiệu cho lương tâm đã lì (Thi 58:3,4,5) và sự căm hờn chí tử (Gie 8:17).

Tài nghệ bắt chim có những ý nghĩa thiêng liêng sau nầy: Sức mạnh của tội lổi khi nó giấu ở đằng sau một sự dường như tốt lành, sự vui sướng vì lại được tự do, sự tai họa bất ngờ, và sự báo trả của luật đạo đức khi một người vướng vào bẫy mà chính mình đã gài (Thi 124:7; Tr 9:12; Cac 8:27; Ch 26:27).

9. Những người làm công hằng ngày:

– Mỗi thành phố ở Đông phương có một chỗ đặc biệt ai cũng biết, tại đó cứ lúc rạng đông là thợ thuyền họp lại, chờ kẻ đến mướn mình làm việc lao động trong ngày đó. Công việc gồm có làm vườn, đào hố, chữa tường, giặt quần áo và canh cửa.

Người thợ đứng đó, hoặc không có khí cụ nào, hoặc có cái bay, cái mai, cái cuốc hoặc dây thừng mà mình quen dùng. Thường thi họ mướn thợ một lúc sau khi mặt trời mọc: những người thợ nào không được mướn thì đợi nán lại độ vài giờ, rồi thường đi tản các nơi mà tìm những công việc nhỏ nhặt. Những người làm công nhựt như thế thường là quá biếng nhác, không đúng mực và bất lực, không thể chuyên theo một nghề. Phải có một người cai trông nom họ và giữ cho họ khỏi chơi; và đến lúc trả tiền công, họ thường nêu một vài sự xảy ra đương khi làm việc để đòi quá số tiền công đã định. Thường thấy diễn lại sự cãi nhau ở Mat 20:12 vì nhiều cớ.

Người làm công nhựt sống ngày nào hay ngày ấy; lúc mặt trời lặn, họ phải bỏ tiền công ra mua bữa ăn tối cho gia đình mình, – bửa ăn tối vẫn là bữa c

Lên đầu trang