Yêu thương, Sự

Love. Amour ou charité.
Nguyên văn Hy-lạp là Philéô và agápaô. Sự yêu thương là nền tảng của tôn giáo chân chính, được bày tỏ trong Cựu Ước và trong Tân Ước. Chính Chúa Jêsus đã tuyên bố rằng cả luật pháp và lời tiên tri đều đặt trên sự yêu thương (Mat 22:40; Mác 12:28, 34). Phao-lô, trong bài ca của mình về sự yêu thương (ICôr 13:1-), đã lấy sự yêu thương làm điều lớn hơn hết trong các ân điển của đời sống tín đồ Đấng Christ — lớn hơn sự nói các thứ tiếng, lớn hơn ơn nói tiên tri, hoặc có một đức tin xuất chúng; vì không có sự yêu thương thì mọi thứ ơn đó sẽ không ra gì, va không có giá trị vĩnh viễn ở trước mặt Đức Chúa Trời. Không phải Đức Chúa Jêsus hoặc Phao-lô giảm bớt giá trị của đức tin mà từ đó có các ân điển, vì ân điển được công nhận là nền tảng trong sự giao tiếp giữa Đức Chúa Trời và loài người (Giăng 6:28; Hêb 11:6); song Đức Chúa Jêsus cũng như Phao-lô, cả hai kể đức tin không được bày tỏ bằng sự yêu thương đối với Đức Chúa Trời và loài người thì vô ích và không ra gì. Vậy sự yêu thương là sự tỏ bày cao trọng nhứt của sự người giao tiếp với Đấng Tạo hóa và với các đồng loại.
I. Định nghĩa.– Tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng Hy-lạp dùng về sự yêu thương có ý bóng và khác nhau về nghĩa, song có thể tóm tắt trong một định nghĩa như sau: Sự yêu thương, bất cứ dùng cho Đức Chúa Trời hoặc người, là một tình cảm mong mỏi, chăm chú đến, là sự lo đến phần hạnh phúc của người được yêu. Có nhiều sự tỏ ra khác nhau về sự yêu thương được công nhận trong Kinh Thánh, tùy theo những cảnh ngộ và sự liên quan trong đời sống và tùy theo ân điển, như sự bày tỏ lòng yêu thương giữa vợ và chồng, cha và con, anh em theo phần xác, giữa bạn và kẻ thù, và cuối cùng, giữa người và Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, chẳng nên bỏ quên ý nghĩa nền tảng của sự yêu thương như bày tỏ trong định nghĩa là chẳng bao giờ không có nó trong những tình nghĩa kể trên của đời sống, dầu sự tỏ ra có thể khác nhau tùy theo hoàn cảnh và sự liên quan. Cuộc nói chuyện giữa Đấng Christ với Sứ đồ Phi-e-rơ trên bờ biển Ti-bê-ri-át (Giăng 21:15-18) đặt trước mặt chúng ta một hình ảnh tốt đẹp và nghĩa bóng khác nhau của tình yêu thương như ta thấy trong Tân Ước. Nguyên văn Hy-lạp của Philéô và agapaô. Trong câu hỏi của Đấng Christ, “Ngươi yêu ta hơn những kẻ nầy chăng?” động từ Hy-lạp agapás chỉ về sự yêu thương cao trọng và hoàn toàn nhứt, chỉ một sự quyết định rõ về ý muốn và phán đoán, và thuộc đặc biệt về phạm vi của sự khải thị Đức Chúa Trời. Trong lời đáp Phi-e-rơ thế cho bằng chữ Philô nghĩa về sự yêu thương tự nhiên của người, với cảm giác mạnh mẽ, hoặc tình cảm, và chẳng bao giờ dùng trong Kinh Thánh để chỉ sự yêu thương của người đối với Đức Chúa Trời. Vậy, dầu lời đáp của Phi-e-rơ tỏ bày một tình yêu thương kém hơn, khi so sánh với sự yêu thương ở trong lời nói của Đấng Christ, nhưng Phi-e-rơ tin ít nhứt cũng có sự yêu thương như thế đối với Chúa mình.
II. Sự yêu thương của Đức Chúa Trời.– Trước nhứt trong sự suy xét về vấn đề “yêu thương, ” là sự yêu thương của Đức Chúa Trời, — “Ngài tức là sự yêu thương, và từ Ngài mà có sự yêu thương. Sự yêu thương của Đức Chúa Trời, thật là chính bản thể Ngài, “Vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương” — Ngài đã tỏ chính Ngài bằng danh từ yêu quí đối với các vật thọ tạo Ngài đã dựng nên, bày tỏ sự chăm sóc, yêu thương, hy sinh cho những kẻ Ngài yêu. “Đức Chúa Trời là sự yêu thương” (I Giăng 4:8, 16), đúng như Ngài thật là “sự sáng” (1:5), lẽ thật (1:6), và “Thần” (Giăng 4:24). Thần linh và sự sáng đều là những danh từ của bản thể Ngài. Không phải Đức Chúa Trời chỉ yêu thương, song là sự yêu thương; ấy là chính bản tánh Ngài, và Ngài ban bản tánh đó để làm phạm vi mà con cái Ngài ở, vì “ai ở trong sự yêu thương, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy” (I Giăng 4:16). Đạo Đấng Christ là tôn giáo duy nhứt bày tỏ Đấng Chí tôn là sự yêu thương. Trong các tôn giáo ngoại bang Ngài được tỏ ra là một Đấng hay giận dữ và cần phải làm cho Ngài nguôi cơn giận.
1. Những đích của sự yêu thương của Đức Chúa Trời.– Đích của sự yêu thương của Đức Chúa Trời thứ nhứt là Con của chính Ngài, tức Jêsus Christ (Mat 3:17; 17:5; Lu 20:13; Giăng 17:24). Chúa Con dự phần trong sự yêu thương của Chúa Cha trong một nghĩa duy nhứt; ” Là kẻ ta chọn lựa, là kẻ mà linh hồn ta lấy làm đẹp lòng” (Ês 42:1). Có một sự yêu thương vĩnh viễn giữa Chúa Con và Chúa Cha — Chúa Con là căn nguyên và là đích vĩnh viễn của sự yêu thương Chúa Cha (Giăng 17:24). Nếu sự yêu thương của Đức Chúa Trời là vĩnh viễn ắt cũng phải có đích vĩnh viễn, bởi đó Đấng Christ là ngôi vĩnh viễn.
Đức Chúa Trời yêu những kẻ tin đến Con Ngài với sự yêu thương đặc biệt. Những kẻ hiệp một bởi đức tin và sự yêu thương với Đấng Christ là khác với những kẻ không được hiệp một như thế, những đích đặc biệt do sự yêu thương của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus phán: “Cha đã yêu thương họ, như Cha đã yêu thương Con” (Giăng 17:23). Đấng Christ đã trưng dẫn đến thực sự rằng đúng như các môn đồ đã nhận cách đối xử của thế gian mà Ngài đã nhận, cũng vậy môn đồ đã nhận từ Cha cũng sự yêu thương mà chính Ngài đã nhận. Họ không phải là ở ngoài sự yêu thương của Đức Chúa Trời, song chính ở điểm trung tâm. “Vì chính Cha yêu thương các ngươi nhơn các ngươi đã yêu mến ta” (Giăng 16:27). Tại đây, philéô được dùng trong sự yêu thương chỉ về sự yêu thương của Đức Chúa Trời như là Cha cho các tín đồ trong Đấng Christ Con Ngài. Ấy thật là sự yêu thương trong một hình thức càng nóng cháy hơn là sự yêu thương dùng cho thế gian (Giăng 3:16).
Đức Chúa Trời yêu thương thế gian (Giăng 3:16, so ITi 2:4; IIPhi 3:9). Ấy
là một lẽ thật lạ lùng khi ta thấy rằng thế gian nầy là thế nào, một thế gian tội lỗi và hư hoại. Ấy là
một lẽ thật khiến Ni-cô-đem kinh ngạc mà học, vì Ni-cô-đem vốn có ý rằng Đức Chúa Trời chỉ yêu
dân Do-thái thôi. Đối với Ni-cô-đem, trong ý hẹp hòi riêng của người, loan báo thực sự rằng Đức
Chúa Trời yêu thương cả thiên hạ thì rất đỗi ngạc nhiên. Đức Chúa Trời đã yêu thế giới tội nhân hư
mất và bị hại bởi sự sa ngã. Dầu thế gian “yếu đuối, ” “không tin kính, ” “không có sức, ” “tội lỗi”
(Rô 5:6-8), “chết vì lầm lỗi và tội ác” (Êph 2:1), và không công bình, song Đức Chúa Trời
vẫn yêu thương, đến nỗi Ngài đã ban Con một của Ngài để cứu thế gian vậy. Nguyên thủy của sự
cứu loài người là ở trong tình yêu thương và ơn thương xót của Đức Chúa Trời (Êph 2:4).
Song sự yêu thương còn hơn lòng thương xót hoặc tình thương; vì sự yêu thương là hoạt động và tự
đồng nhất với đích mình. Sự yêu thương của Đức Chúa Trời là Cha trên trời về những con cái lưu
lạc trở lại được bày tỏ cách tốt đẹp trong ví dụ người con hoang đàng (Lu 15). Cũng không nên
quên rằng Đức Chúa Trời không những chỉ yêu thương cả thế gian, nhưng Ngài yêu mỗi cá nhân
trong đó; ấy là tình yêu thương đặc biệt và chung (Giăng 3:16, “Hễ ai;” Ga 2:20, “đã yêu tôi và
phó chính mình Ngài vì tôi”).
2. Những sự tỏ ra tình yêu thương của Đức Chúa Trời.– Sự yêu
thương Chúa được bày tỏ vì lo liệu những sự cần dùng về phần xác thịt, trí khôn, đạo đức, và thuộc
linh của dân Ngài (Ês 48:14, 20, 21; 62:9-12; 63:3, 12). Trong những khúc Kinh Thánh nầy thấy
Đức Chúa Trời bày tỏ quyền phép Ngài cho dân sự Ngài trong thời kỳ ở đồng vắng và thời kỳ làm
phu tù, Ngài dẫn dắt họ, nuôi nấng, mặc cho và che chở khỏi mọi kẻ thù nghịch. Sự yêu thương của
Ngài lại được tỏ ra trong tình cảm với dân Ngài, trong sự buồn rầu và sự khốn khó của họ (Ê-sai
63:9); Ngài cũng chịu đau đớn trong sự khốn khổ họ, quyền lợi của họ là của Ngài; Ngài không
phải là kẻ thù song là bạn hữu thật, dầu rằng đối với họ, dường như Ngài giáng sự đau khổ trên họ,
hoặc không lo đến. Ngài không lúc nào quên họ trong mọi sự thử thách. Họ tưởng Ngài thật
đaên mình; họ nói “Đức Chúa Trời đã quên chúng tôi, ” “Đức Chúa Trời há quên làm ơn sao?”
Song không phải; “Đàn bà há dễ quên con mình cho bú, không thương đến con trai ruột mình sao?
Dầu đàn bà quên con mình ta cũng chẳng quên ngươi. Nầy ta đã chạm ngươi trong lòng bàn tay ta”
(Ês 49:15). Sự yêu thương Ngài dường như không có trong lúc sửa phạt dân sự, sự sửa phạt đó
thường là cớ cho sự hiện diện tình yêu thương Ngài vì “Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu, hễ ai mà Ngài
nhận làm con thì cho roi cho vọt” (Hêb 12:6-11). Quở trách và sửa phạt cách yêu thương có
khi cần cho sự lớn lên trong sự thánh khiết và công bình. Sự cứu chuộc chúng ta khỏi tội là qui về
sự yêu thương lạ lùng của Đức Chúa Trời; “Chúa đã yêu thương linh hồn tôi, đem nó ra khỏi hầm
hư nát; vì Chúa đã ném mọi tội lỗi tôi ra sau lưng Ngài” (Ês 38:17; so Thi 50:21; 90:8). Ê-
phê-sô 2:4 bày tỏ một phương pháp lạ lùng về sự cứu chuộc hoàn toàn, phát xuất từ sự thương xót
và yêu thương của Đức Chúa Trời. Nhưng “Đức Chúa Trời là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ
lòng yêu thương lớn Ngài đem yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm
cho chúng ta sống với Đấng Christ, ” v.v.. Ấy là sự yêu thương của Chúa Cha mà ta được một chỗ ở
trong nước trên trời (Êph 2:6-8). Song sự tỏ ra cao cả của tình yêu thương Đức Chúa Trời như
bày tỏ trong Kinh Thánh, được tỏ ra trong sự ban cho Con độc sanh của Ngài chết vì tội lỗi cả thế
gian (Giăng 3:16; Rô 5:6, 7; IGiăng 4:9), và bởi Ngài các con cái loài người có tội song ăn năn
thì được đem vào gia đình Đức Chúa Trời và nhận sự làm con nuôi (I Giăng 3:1; Ga 4:4-6).
Không có sự gì ở trên trời hoặc dưới đất hoặc địa ngục, đã dựng nên, hoặc chưa dựng nên, hoặc còn
được dựng nên, không thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đức Chúa Trời trong Chúa
Jêsus Christ (Rô 8:37).
III. Sự yêu thương của người.–
1. Nguồn sự yêu thương của
người. Bất cứ sự yêu thương nào có trong người, hoặc đối với Đức Chúa Trời, hoặc đối với người
đồng loại, đều bắt nguồn từ Đức Chúa Trời. “Sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời, kẻ nào yêu thì
sanh từ Đức Chúa Trời và nhìn biết Đức Chúa Trời.Vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương” (I Giăng
4:7, 8). “Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu chúng ta trước” (I Giăng 4:19). Trench khi luận về agapç nói
rằng ấy là một lời sanh ra trong lòng dạ của một tôn giáo được khải thị. Những văn sĩ ngoại đạo
không dùng đến, chữ dùng nhứt là philanthrop’ia hoặc philadelphia chỉ sự yêu thương giữa những
người cùng một dòng huyết thống. Sự yêu thương trong lòng người là sự thai nghén từ sự yêu
thương Đức Chúa Trời, chỉ một tấm lòng được tái sanh mới có thể thật nghe như Đức Chúa Trời
yêu thương; đối với hình thức cao trọng hơn sự yêu thương đó, người chưa được tái sanh không thể
nói mình có (I Giăng 4:7, 19, 21; 2:7-11; 3:10; 4:11). Người đã được tái sanh có thể thấy được người
đồng loại như Đức Chúa Trời thấy mình, định giá trị người đồng loại như Đức Chúa Trời định giá
trị mình, không phải vì cớ người là gì; bởi tội lỗi và sự không yêu thương của mình, song vì cớ
người đó có thể nhờ Đấng Christ, mà trở nên thế nào; người thấy chân giá trị của người và sự có thể
được trong Đấng Christ (IICôr 5:14-17). Sự yêu thương nầy cũng tạo nên trong lòng người
bởi Đức Thánh Linh (Rô 5:5), và là một trái của Đức Thánh Linh (Ga 5:22). Sự yêu
thương đó cũng được thúc giục bởi gương sáng của Chúa Jêsus Christ là Đấng tỏ ra cho thế gian
tinh thần và bản tánh của sự yêu thương chân thật (Giăng 13:34; 15:12; Ga 2:20; Ê-phê-sô
5:25-27; IGiăng 4:9).
2. Những đích của sự yêu thương người.– Đức Chúa Trời phải là đích
thứ nhứt và cao cả của sự yêu thương trong con người, Ngài phải được yêu mến cách hết lòng, trí
khôn, linh hồn và sức lực (Mác 12:30; Mác 12:29-34). Trong khúc cuối cùng lời khuyên về sự yêu
thương cao trọng đối với Đức Chúa Trời có liên quan với lẽ đạo về sự hợp nhứt của Đức Chúa Trời
(Phục 6:4) vì Ngôi vị là một và không chia rẽ được, cũng vậy sự yêu thương của
chúng ta đối với Ngài cũng không chia rẽ được. Sự yêu thương của chúng ta đối với Đức Chúa Trời
được tỏ nhiều hơn chỉ là một sự âu yếm hoặc tình cảm, cũng là cái gì tự mình tỏ ra, không những
chỉ trong sự vâng phục các điều răn của Đức Chúa Trời đã cho biết, song cũng trong sự che chở và
binh vực điều răn đó và trong sự tìm biết càng nhiều hơn về ý muốn Đức Chúa Trời hầu để bày tỏ
sự yêu thương đối với Đức Chúa Trời trong sự vâng phục hoàn toàn hơn (so Phục truyền luật lệ ký
10:12). Những kẻ nào yêu Đức Chúa Trời sẽ ghét sự dữ và mọi hình thức của thế gian như bày tỏ ra
trong sự tránh sự mê tham của mắt, mê tham của xác thịt và kiêu ngạo của đời (Thi 97:10; I
Giăng 2:15-17). Bất cứ điều gì ở xung quanh kéo linh hồn người xây bỏ Đức Chúa Trời và sự công
bình Ngài, thì con cái Đức Chúa Trời phải tránh xa. Đấng Christ, vì là Đức Chúa Trời cũng đòi
chiếm nơi thứ nhứt trong sự yêu thương, Ngài phải được chọn trước cha hoặc mẹ, cha hoặc con, chị
hoặc em hoặc bạn (Mat 10:35-38; Lu 14:26). Chữ “ghét” trong các khúc nầy không có
nghĩa là ghen ghét như ta thường dùng hiện nay. Ấy cũng được dùng trong nghĩa mà Gia-cốp nói là
đã “ghét” Lê-a (Sáng 29:31) tức là Gia-cốp yêu nàng kém hơn Ra-chên; Gia-cốp “thương
yêu Ra-chên hơn Lê-a” (Sáng 29:30). Yêu thương Đấng Christ trên tất cả là điều thử thách
của sự làm môn đồ chân thật (Lu 14:26) và là một dấu không thất bại của kẻ được chọn (I Phi-e-
rơ 1:8). Chúng ta tỏ rằng mình thật là con Đức Chúa Trời bởi cách yêu Con Ngài (Giăng 8:42).
Cuối cùng không có sự yêu thương đó có nghĩa là cách xa vĩnh viễn vậy (ICôr
16:22).
Chúng ta cũng phải yêu người đồng loại. Sự yêu thương anh em là kết quả tự nhiên
của sự yêu thương từ cha, vì “bởi đó người ta nhận biết con cái Đức Chúa Trời và con cái ma quỉ;
ai chẳng làm điều công bình là không thuộc về Đức Chúa Trời, kẻ chẳng yêu anh em mình cũng
vậy” (I Giăng 3:10). “Vì có ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời mà lại ghét anh em mình thì là kẻ
nói dối, vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy
được” (4:20). “Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình” (câu 21). Thật ta phải yêu
người đồng loại như “chính mình” vậy (Mat 22:39) tùy theo sự giữ luật pháp cách nghiêm
nhặt. Dầu vậy, Đấng Christ đã đặt ở trước các kẻ theo Ngài một gương sáng cao hơn sự đó, Tùy
theo sự dạy dỗ của Chúa Jêsus ta phải thế vào tiêu chuẩn nầy: “Ta ban cho các ngươi một điều răn
mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu
nhau thể ấy.” (Giăng 13:34). Sự bày tỏ tình yêu thương về tính cách nầy đối với người đồng loại là
bằng cớ sự làm môn đồ chân thật. Có thể gọi là sự hoàn thành bổn phận của chúng ta đối với người
đồng loại, vì “sự yêu thương chẳng hề làm hại lẻ lân cận; vậy yêu thương là sự làm trọn luật pháp”
“vì ai yêu kẻ lân cận mình ấy là đã làm trọn luật pháp, ” (Rô 13:8, 10). Những đức tánh của sự
yêu thương tỏ ra đối với người đồng loại được chép rất hay trong ICôr 13:1-. Tình yêu thương
hay nhịn nhục, chẳng ghen tị, chẳng kiêu ngạo, chẳng khoe mình, chẳng làm điều trái phép; chẳng
ưa sự dữ, song chăm chỉ làm điều lành; không vui về sự sa ngã của kẻ thù hoặc kẻ ganh đua song
vui đón chào sự thành công của người đó, tình yêu thương hy vọng, tin cậy, và nín chịu — vì như
vậy không cần có luật pháp và đó là sự làm trọn luật pháp.
Cũng không nên bỏ qua lời Chúa
dặn các con cái Ngài phải yêu những kẻ thù mình, những kẻ nói xấu mình, những kẻ bắt bớ mình
(Mat 5:43-48). Họ không được lấy ác trả ác, song trái lại lấy phước lành trả cho sự rủa sả. Sự
yêu thương của môn đồ Đấng Christ phải được tự tỏ ra trong sự cung cấp điều cần dùng, không
những cho bạn mà thôi. (I Giăng 3:16-18), song cũng cho kẻ thù nữa (Rô 12:20).
Sự yêu
thương của chúng ta không phải “giả hình” (Rô 12:9) không có sự giả dối nào; không phải chỉ
là điều nói bằng lời hoặc lưỡi, song là một sự thực nghiệm thật được bày tỏ trong sự hầu việc người
khác. “Hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau” (Ga 5:13). Có sự minh chứng lạ lùng nào
để thi hành sự yêu thương hơn là cách Chúa Jêsus đã tỏ ra trong sự rửa chân cho các môn đồ như
thấy trong Giăng 13:1- không? Sự yêu thương gánh bịnh tật kẻ yếu, không tìm lợi riêng, song tìm
hạnh phúc cho kẻ khác (Rô 15:1-3; Phil 2:21; Ga 6:2; ICôr 10:24), sự yêu
thương là không để mình trở nên hòn đá vấp phạm cho kẻ khác (Rô 14:15, 21); sự yêu thương
vui lòng tha thứ cho người khác (Êph 4:32), và cho kẻ khác chỗ tôn trọng (Rô 12:10). Còn
gì thiết yếu hơn là có sự yêu thương như thế? Ấy là làm trọn luật pháp Chúa (Giăng 2:8) và đặt trên
mọi sự gì khác (Cô 3:14). Sự yêu thương là dây buộc giữ lại mọi ân điển khác của đời sống
tín đồ (Cô 3:14) bởi sự nhận được tình yêu thương như thế ta biết ta đã từ sự chết qua sự sống
(I Giăng 3:14), và ấy là sự thử thách cao cả xem ta có ở trong Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời ở
trong ta không (I Giăng 4:12, 16).
Tiến sĩ Scofield chú thích về sự yêu thương:
I Cô-rinh-
tô 12:31.– Xem bài Nói Tiên Tri.
ICôr 13.– Đoạn 13:1- nói tiếp ơn ban cho thuộc linh
bắt đầu trong đoạn 12:1-. Những ân tứ đều là tốt lành song cần được tình yêu thương cai trị (13:1, 2).
Sự làm phúc là tốt, song không ngoài tình yêu thương (13:3). Tình yêu thương được mô tả (13:4-7).
Tình yêu thương tốt hơn sự thông biết chưa trọn vẹn của ta hiện nay (13:8-12), và lớn hơn cả đức
tin và sự trông cậy (câu 13).

Lên đầu trang