Flesh. La chair.
1. Những bắp thịt của một thân động vật, hoặc là người, thú, chim hoặc cá, hoặc đúng hơn, mọi phần mềm mại của các vật đó (Sáng 40:19; Xuất 12:8; 16:8; Lê 21:5; Gióp 10:11; Lu 24:39; ICôr 15:39). Xác thịt khác hẳn với thần linh (dịch là linh hồn, Gióp 14:22; Ês 10:18), theo tiếng Hê-bơ-rơ; dịch là thần 31:3; dịch là tâm thần, (Mat 26:41; Cô 2:5).
2. Mọi sinh vật có thịt, người hoặc các loài động vật (Sáng 6:13, 19; 8:17; Công 2:17; Rô 3:20; ICôr 1:29); và có khi trái với Đức Chúa Trời là Thần (Thi 56:4; Ês 31:3; 40:6-8; Giôên 2:28; Mat 16:17).
3. Bản tánh của người thiếu mất Thần Linh của Đức Chúa Trời, bị mọi sự ham muốn cai trị và lý trí phải vâng phục (Rô 7:5; 8:5-7; IICôr 7:1; Ga 5:16-20; IIPhi 2:10); như vậy gồm cả bản tánh của người chưa tái sanh và chưa nên thánh (Rô 8:8, 9; so Giăng 3:6).
Theo đây trích lại phần “xác thịt” từ sách “Psychology of the New Testament” by M. Scott Fletcher, M.A (Oxen).
Danh từ “xác thịt” là một trong những điểm chính trong sự biện luận của thần đạo Kinh Thánh, vì nhờ sự giải nghĩa danh từ đó mà có nhiều kết luận rất quan trọng về thần đạo. Để hiểu đúng lẽ đạo về “xác thịt, ” cần nhứt phải biết cách dùng trong Kinh Thánh. Ngày nay danh từ xác thịt có nhiều ý khác nhau với ý xác thịt dùng trong Kinh Thánh. Như câu thường nói: “thế gian, xác thịt, và ma quỉ, ” tức thì gợi ý xác thịt chỉ có ý về tánh mê nhục dục hay là tình dục. Nói cách rộng hơn, xác thịt chỉ về những sự ham mê và tư dục của tánh thú vật ở trong con người. Dầu Kinh Thánh dùng danh từ xác thịt như thế, nhưng cũng thêm nhiều ý khác nữa. Vậy, rất cần phải phân tích cẩn thận những câu Kinh Thánh dùng danh từ đó; như vậy mới hiểu rõ những ý khác nhau trong Kinh Thánh với ý xác thịt như thường dùng ngày nay.
Bởi vậy, nếu giải thích ý nghĩa “xác thịt” theo ý thông thường thì nghĩa hẹp quá, theo ý triết lý thì rộng quá, không hiệp đúng với ý Kinh Thánh. Dầu vậy, cả hai ý vẫn thường cảm động học giả Kinh Thánh, cho nên phải cẩn thận kẻo có ý lẫn lộn và sai lầm với Kinh Thánh. Vả lại, trong Tân Ước ý nghĩa xác thịt được mở rộng nhiều: phần nhiều vì sự dạy dỗ về sự từng trải thuộc linh của đời sống tín đồ trong Tân Ước tấn tới và sâu nhiệm hơn; vì ảnh hưởng Cựu Ước, và vì ảnh hưởng sự văn minh Hy-lạp. Cũng phải chú ý: để học đúng lẽ thật đạo Đấng Christ không nên nhờ Cửa ngăn (Porche: là nơi người Hy-lạp xưa luận về triết lý) hay là Hàn-lâm-viện, song nên nhờ Đền thờ Chúa, tức sự cầu nguyện giao thông với Chúa bởi Đức Thánh Linh.
I. Xác thịt và Thân thể.
Cựu Ước thường dùng “xác thịt” (Hê-bơ-rơ: basar) chỉ về tổ hợp vật chất, trừ ra da, xương, và máu của người và vật (Lê 9:11; 13:11; Sáng 41:2). Vì Đức Giê-hô-va cho phép lấy xác thịt làm đồ ăn và của lễ dâng cho Ngài, điều đó đủ minh chứng rằng xác thịt không có ý gì dơ bẩn hay xấu xa cả. Trong Tân Ước, danh từ “xác thịt” hay “thịt” (Hy-lạp: sarx) ít khi có ý đó (Giăng 6:51; ICôr 15:39; Khải 17:16), song nhiều lần lấy phần đó chỉ về cả thân thể. Bởi vậy, Tân Ước theo lối Cựu Ước. Như Bác sĩ A.B. Davidson viết: “Nói đúng, tiếng Hê-bơ-rơ không có danh từ nào chỉ thân thể. Vậy, khi có vấn đề nào về thân thể thì phải dùng xác thịt… Ấy vì thịt là phần phơi bày rất nhiều, bao phủ xương và máu, nên tự nhiên người Hê-bơ-rơ lấy một phần đó chỉ về cả thân thể của vật gì sống. Theo ý đó danh từ xác thịt chỉ về sinh vật hữu thể: dẻo, nhẵn, và có các chi thể.” Cho nên, dầu Tân Ước thật có một danh từ “thân thể” (Hy-lạp: soma), nhưng theo lối Cựu Ước dùng danh từ “xác thịt” khi chỉ có ý nói về thân thể mà thôi. Như chép về Chúa Jêsus “lấy xác thịt mà ra đời” (I Giăng 4:2), “đã chịu khổ trong xác thịt” (IIPhi 4:1), “về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết” (IIPhi 3:18), và “xác thịt chẳng thấy sự hư nát” (Công 2:31). Mấy câu sau nầy cũng tỏ ra có khi Tân Ước dùng “xác thịt” và “thân thể” đồng nghĩa với nhau, như Êph 5:28, 29 chép: “chồng phải yêu vợ như chính thân mình, ” và “chẳng hề có người nào ghét chính xác thịt (nguyên văn) mình…” Xem ICôr 6:16 và IICôr 4:10, 11; ICôr 5:3 và Cô 2:5. Có khi cũng dùng cả danh từ đó để chỉ về cả người bề ngoài (Cô 1:22; 2:11).
Vậy, theo ý mấy câu kể trên, trong Tân Ước nhiều lần dùng danh từ “xác thịt” chỉ về cả thân thể như có thể thấy được. Như thế, xác thịt là một phần của thể yếu con người, là phần hèn hạ hơn cả của người. Ấy cũng hiệp với lối dùng trong Cựu Ước, như trong Gióp 14:22 “xác thịt” dùng với “linh hồn” hay “lòng” để chỉ cả người bề trong lẫn bề ngoài. Trong Thi 84:2 cả ba danh từ đó đều dùng chỉ về toàn thể của con người. Người Hê-bơ-rơ xưa không hay phân biệt rõ bề ngoài với bề trong như thời Tân Ước. Khác với người Hy-lạp, người Hê-bơ-rơ coi “xác thịt” với “linh hồn” và “lòng” như đều dự phần về sự giao thông thuộc linh với Đức Chúa Trời (Thi 43:1).
Phao-lô cũng theo ý đó khi lấy “thân thể” và “tinh thần” chỉ về hai mặt của bản tánh người (ICôr 7:34; 5:3; Cô 2:5). Vì Phao-lô, về phần luân lý, hay so sánh “xác thịt” với “thần linh, ” nên ta lấy làm lạ vì bao nhiêu lần ông lấy hai danh từ đó hiệp nhau để tỏ sự tổng hợp của hai phần trong và ngoài của con người (Rô 2:28, 29; ICôr 5:5), giống như những người chép Tân Ước khác dùng “linh hồn” và “thân thể.” Cũng so IICôr 7:5 với 2:13 ta thấy Phao-lô lấy “xác thịt” và “lòng” chỉ về cả người; nhưng danh từ “mặt tôi về phần xác” (Cô 2:1) với “Đấng Christ theo xác thịt” (IICôr 5:17) chỉ về phần người bề ngoài thấy được. “Tôi sống trong xác thịt” (Ga 2:20) chỉ về người sống trong đời nay. Tội lỗi hành động trên hai phần người, xác thịt với ý tưởng, và xác thịt với thần linh (IICôr 7:1).
Vậy, theo Cựu Ước, trong con người hiệp lại xác thịt và linh hồn, hay là xác thịt và lòng; trong các sách Tân Ước, ngoài các thơ Phao-lô và sách Giăng là thân thể và linh hồn, và trong các thơ Phao-lô là xác thịt và thần linh. Điều đó cho thấy theo Kinh Thánh, người có hai phần, song chưa tỏ rõ sự khác nhau giữa “vật chất” và “trí khôn” như ngày nay, vì về hai danh từ nầy hiện tại so sánh giữa vật hữu hình và vô hình, hay giữa vật sống và vật chết. Trái lại, trong Kinh Thánh xác thịt là vật sống có linh hồn hoặc thần linh là sự sống trong thân thể.
II. Xác thịt và sự liên lạc với nó.
Từ những cách dùng chữ xác thịt kể trên thì tự nhiên dẫn qua ý xác thịt là môi giới của sự liên hệ bởi dòng dõi, bởi thân tộc, bởi hôn phối, hoặc bởi quốc gia. Theo tiếng thông dụng, ngày nay hay dùng chữ huyết để tỏ sự liên hệ nầy đối với gia đình, họ hàng, và tổ quốc. Ta thường nói: “tình máu mủ” hay “dây huyết thống, ” và nói “huyết đặc hơn nước.” Trái lại, Kinh Thánh tỏ rằng xác thịt là dây của sự hiệp một. Ý nầy lập trên nền Sáng 2:24:1- “Người nam sẽ dính líu cùng vợ, … và cả hai sẽ nên một thịt.” Chúa Jêsus dùng câu đó để dạy về nghĩa vợ chồng không được lìa bỏ nhau (Mat 19:5; Mác 10:8); và Phao-lô lấy ý đó mà khuyên đừng tà dâm (ICôr 6:16), và vợ chồng phải yêu nhau (Êph 5:25-31). Từ ý đầu tiên đó, xác thịt là căn bản của sự hiệp một bởi hôn phối, sanh ra ý rộng hơn là gồm co mọi tình nghĩa tự nhiên. Trừ ra Hêb 12:9 chép: “Cha về phần xác, ” thì trong Tân Ước cho thấy Phao-lô nhiều lần tỏ ý đó, như khi chép: Đấng Christ “theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra” (Rô 1:3); “Áp-ra-ham tổ phụ chúng ta theo xác thịt” (Rô 4:1), người Y-sơ-ra-ên là “anh em bà con tôi theo phần xác” (Rô 9:3), người khác được gọi là “anh em theo xác thịt” (Rô 9:3), và mọi người khác được gọi là “anh em theo xác thịt là người ngoại” (Êph 2:11). Trái lại, ở đây sự hiệp một giữa Đức Chúa Trời và người ta là sự quan hệ về luân lý, chớ chẳng phải bởi sự liên hệ về xác thịt (xem Rô 9:8).
III. Xác thịt và bản tánh người.
Trong Tân Ước ý thứ ba của danh từ “xác thịt” chỉ chung về “bản tánh người.” Như ý chính, xác thịt có ý nói đến thân thể, sau đến sự liên hệ, nhứt là liên hệ về huyết thống, cũng vậy dẫn đến ý gồm chung cả loài người như khi nói: “mọi xác thịt, ” và bởi đó gợi ý đến “bản tánh người.” Trong Cựu Ước ta thấy danh từ “xác thịt” được dùng khi nói đến mọi sinh vật (Sáng 7:21). Wendt giải thích về câu nầy: … Khi Cựu Ước chép “hết thảy xác thịt… bại hoại” (Sáng 6:12), thì biết không nói đến xác thịt trên thân thể song nói đến bản tánh loài người; và bởi sự khải thị được biết Đức Chúa Trời đoán phạt, Đức Giê-hô-va là Cứu Chúa và là Đấng Cứu chuộc (Ês 49:26; so 40:5; Êxê 21:4, 5), và mọi người phải thờ phượng Đức Giê-hô-va (Ês 66:23; Thi 65:2; 145:21). Bởi đó, đủ biết danh từ xác thịt có ý chẳng những chỉ về phần bề ngoài của thân thể, song cũng chỉ chung về mọi người sống, gồm có bản tánh bề trong của họ nữa.
Khi chép loài người là “xác thịt” cũng gợi ý so sánh người với Đức Chúa Trời. Các sách tiên tri Cựu Ước phân biệt rõ loài người là “xác thịt” với Đức Chúa Trời là “Thần.” Khi Đức Giê-hô-va được gọi là “Thần, ” không phải cốt chỉ về thể yếu song về quyền phép Ngài. Khi loài người được gọi là “mọi xác thịt” không phải cốt chỉ về người bằng gì, nhưng có ý nói về sự yếu đuối của loài người. Về ý nầy Ês 31:3 có nói: “Người Ai-cập là loài người không phải là Đức Chúa Trời; những ngựa nó chỉ là xác thịt không phải là thần.” Ở đây ý của tiên tri nói: không phải là ngựa bằng gì, song có thể làm gì. Vì lúc đó Do-thái có cần được cứu giúp, nên không có ý đồng minh với xứ Ai-cập. Vậy, tiên tri lấy “loài người” và “xác thịt” so sánh “Đức Chúa Trời” và “Thần” để tỏ rõ xứ Ai-cập không có quyền gì so sánh với quyền năng của Đức Giê-hô-va. Wendt tóm lại rằng, “Khi loài người so sánh với Đức Chúa Trời được gọi là xác thịt, đối với hành động của Thánh Linh Ngài, thì dễ biết sự phân biệt đó không phải về phần thể chất, nhưng về quyền phép và cách làm việc.”
Trong Tân Ước, “mọi xác thịt” có chép 9 lần chỉ về cả loài người, phần nhiều trích lại từ Cựu Ước như “mọi loài xác thịt sẽ thấy sự cứu của Đức Chúa Trời” (Lu 3:6), “Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác thịt” (Công 2:17), và “mọi xác thịt ví như cỏ” (IIPhi 1:24), Đấng Christ có quyền “cai trị loài xác thịt” (Giăng 17:2). Trong các thơ tín Phao-lô, khi chép: “Chẳng có xác thịt nào” (theo nguyên văn), theo ý mặt trái điều đó chỉ về mọi người như dùng trong Rô 3:20; Ga 2:16; ICôr 1:29. Các câu đó đều ngụ ý loài người tự mình bất lực, nên cần đầu phục Chúa để nhờ Ngài giúp sức. Xác thịt chẳng những có ý chỉ về người song cũng có ý nói loài người phải nhờ Chúa, vì loài người là xác thịt và yếu đuối. Bởi đó, Tân Ước chép: “xác thịt anh em là yếu đuối” (Rô 6:19, v.v.).
Ý xác thịt tự mình yếu đuối và hư đi đó được bày tỏ trong mấy câu khi so sánh xác thịt với Thần, như khi chép về Chúa trong vườn Ghết-sê-ma-nê phán với môn đồ rằng: “Tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối” (Mat 26:41). Trong Giăng 3:6 với 1:13, cũng đã bày tỏ cho ta thấy “xác thịt” từ đất và “Thần Linh” từ Chúa và người “sanh bởi Đức Chúa Trời” so sánh với người “sanh bởi ý người.” Nguyên lý đời sống trí khôn cho biết những lẽ thật thuộc linh là cao trọng hơn nguyên lý đời sống thân thể trong con người, “vì thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích gì” (Giăng 6:63). Bởi thế ý sai lầm của những người Pha-ri-si mà Chúa Jêsus trách rằng: “Các ngươi xét đoán theo xác thịt” (Giăng 8:15). Cựu Ước chép: “Sanh mạng của mọi xác thịt, ấy là huyết nó” (Lê 17:14), song không có chép “thịt và máu” dầu rằng như thế tỏ rõ hơn bản tánh con người. Mỗi lần Phao-lô dùng “thịt và máu” thì ngụ ý người thuộc về đất và có hình so với Đức Chúa Trời là Đấng thuộc linh vô hình. Vậy Phao-lô đã chứng quyết rằng “thịt và máu chẳng hưởng nước Đức Chúa Trời được” (ICôr 15:50) chớ không phải vì tội, song vì loài người chỉ là vật được tạo thành, không tự mình vào phạm vi thuộc linh được. Phao-lô cũng chép: “Tôi chẳng bàn với thịt và máu” (Ga 1:16) tỏ ý rằng ông không nhận sứ mạng mình từ loài người, song bởi sự khải thị từ Chúa. “Chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết” (Êph 6:12) nên cần phải nhờ “gươm của Đức Thánh Linh” để chống cự với các kẻ thù thuộc linh vô hình.
Từ các câu Tân Ước chỉ về nhân tánh của Chúa Jêsus, như “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ” (Giăng 1:14) Đấng Christ “theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra” (Rô 1:3); và Rô 9:5; ITi 3:16 v.v.; thì đủ biết “xác thịt” với “thịt và máu” vốn không có ý xấu.
IV. Xác thịt và tội lỗi.
Những nghĩa về xác thịt kể trên chưa liên quan với luân lý. Khi chứng rằng xác thịt là tổ hợp sống của thân thể, thân thể là phần bề ngoài thấy được của con người, hoặc khi nói đến xác thịt là ngụ ý loài người hữu hạn và yếu đuối hoặc nói đến tình nghĩa tự nhiên giữa con người, những điều ấy không có ý nói xác thịt có tội hay đáng trách về mặt luân lý.
Các thơ tín của Phao-lô dùng danh từ về tâm lý học nhiều hơn các sách khác trong Kinh Thánh, và có ý nghĩa sâu nhiệm hơn nữa. Về danh từ “xác thịt” cũng thế, vì có khi có nghĩa luân lý và thần đạo, nên liên quan mật thiết với lẽ đạo về tội. Ta phải nhận biết Phao-lô có khi coi xác thịt như là cứ điểm của tội, là phạm vi có tội lỗi hoạt động. Như Wendt nói: “Ý định Phao-lô là bày tỏ nguồn gốc của tội không phải là từ xác thịt, nhưng quyền lực của tội ở trong xác thịt. Điều đó được tỏ ra trong Rô 7:1-, vì đoạn đó mô tả tín đồ sống theo xác thịt, dầu luật pháp đạo đức đã thúc giục lương tâm con người ý thức về tội mình, nhưng chưa có quyền chống trả với tội lỗi (câu 5-7). “Sống theo xác thịt” mô tả sự từng trải đạo đức, và Phao-lô cứ mô tả sự thực đó đối với thời quá khứ khi nói: “Tôi là tánh xác thịt, đã bị bán cho tội lỗi” (câu 14). Tội đã xông vào xác thịt, đã tìm đến phần yếu của con người để chinh phục. Những tình cảm tội lỗi được tỏ ra là các quyền của tội ác mang sự phá hoại và sự chết vào những chi thể của con người. Luật pháp, gọi là thuộc linh, bày tỏ sự hiện diện của kẻ thù đã chiếm lấy phần bề ngoài của con người, và làm cho người bề trong hiểu biết mình đã bị thất bại (bị bán cho “tội lỗi”), và không có năng lực để làm điều lành (“tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm điều lành mình muốn”). Bởi vậy, con người đã ngã lòng mà xưng rằng: “Tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu.” Ấy vì kẻ đắc thắng, tức tội lỗi, đã bắt xác thịt “phải làm phu tù cho luật của tội lỗi.” Vậy, trong câu 23 nầy thấy rõ ý luân lý về xác thịt là nơi có tội lỗi hành động, và chỉ có phần trí khôn của người được so sánh với xác thịt, vì trí khôn là sở năng phán xét luân lý, nhưng cũng có quyền để cứu người khỏi qui phục tội lỗi.
Trong mấy câu khác, “xác thịt” đặt đối ngang với “thần linh, ” và ấy là sự so sánh lớn của thần đạo Phao-lô. Rô 8:4-13 giải nghĩa rất rõ sự khác nhau giữa “xác thịt” và “thần” (tức Thánh Linh). Ai “sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt.” Trí khôn của xác thịt tự mình không thể phục luật của Đức Chúa Trời, và chống nghịch với Ngài. Vậy, ai sống theo xác thịt không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời; không thuộc về Chúa Jêsus; bị lên án là phải chết. Trái lại, ai sống theo Thánh Linh, chăm những sự thuộc về Thánh Linh, và trái của Thánh Linh là “sự sống” và “bình an.” Ai sống theo Thánh Linh, tức người đó có Thần Đức Chúa Trời ngự trong lòng, thì không sống theo xác thịt nữa, tức không sống dưới quyền của tội lỗi; vả lại, thân thể hay chết của người đó một ngày kia sẽ sống lại, vì bởi Đức Thánh Linh người thuộc linh làm cho chết những việc làm của thân thể và bởi đó sẽ sống. Người có Thánh Linh Chúa dẫn dắt là người đã trở nên con của Đức Chúa Trời, và “nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi” (câu 15). Đức Thánh Linh làm chứng cho thần linh người đó biết mình là “con” của Đức Chúa Trời, và là “con kế nghiệp” của sự vinh hiển về sau. Trong tín đồ đã được thức tỉnh song chưa đổi mới hoàn toàn như được mô tả trong Rô 7:1-, đó là bởi trí, trí đoán xét theo đạo đức, chống đối với xác thịt, song bị thua vì không có quyền gì. Nhưng mà, ai giao thông với Đấng Christ, thì tánh xác thịt người đó chẳng những bị phản đối song cũng bị thất bại bởi Thánh Linh, tức là lúc người có Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời hành động ở trong và bởi thần linh người.
Thơ Ga-la-ti cũng so sánh xác thịt và thần linh với nhau. Trong Ga 5:16, 17, Phao-lô cho thấy rất rõ con người có hai phần đó, và thấy “xác thịt” là một với bản tánh phạm tội của con người, còn Thánh Linh (Thần Linh) là tánh đổi mới bởi hành động trực tiếp của Đức Thánh Linh. Vậy, theo Phao-lô, danh từ xác thịt chỉ có thể có nghĩa là nguyên lý của tội trong con người, và thể hiện bằng tình dục và tư dục.
Dầu có nhà thần đạo cho rằng ảnh hưởng triết lý Hy-lạp đã cảm động Phao-lô về lẽ đạo xác thịt, nhưng phải nhớ rằng Phao-lô trước khi trở nên tín đồ thì ông là người Pha-ri-si, và phe Pha-ri-si hết sức phản đối với triết lý đó. Xem ICôr 1:20-31, ta thấy Phao-lô không cho rằng sự khôn ngoan của con người có thể dắt đem người nào tin vào lẽ thật của Chúa, nên “lời nói và sự giảng” của Phao-lô chẳng phải do tài biện luận khôn khéo, nhưng thể hiện ra Thánh Linh và quyền năng (ICôr 2:4). Theo Phao-lô, sự so sánh đó là xác thịt với tinh thần chớ không phải là so sánh với thể chất như có hình hoặc vô hình. Kinh Thánh thường so sánh giữa người và Đức Chúa Trời, so sánh những gì thuộc đất và những gì thuộc trời, giữa tự nhiên và siêu nhiên, tức xác thịt nhờ cõi thiên nhiên và tinh thần nhờ ơn Đức Chúa Trời ban cho.
Phao-lô không coi thân thể như là ngục tù của linh hồn, song như là đền hoặc nơi thánh của Thánh Linh (ICôr 3:16, 17; 6:19), và trong thân thể đó, Đức Thánh Linh ngự và được tỏ ra. Vậy, thân thể có thể trở nên “của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời” (Rô 12:1), vì theo đạo Đấng Christ, “thân thể” là vì Chúa (ICôr 6:13), và thân thể ta là “chi thể của Đấng Christ” (ICôr 6:15). Cho nên, thân thể vốn sống theo xác thịt, có các tình dục xấu xa bị luật pháp xui khiến, đã hành động trong thể xác chúng ta và kết quả là sự chết (Rô 7:5, 23), có thể nhờ người dâng chi thể mình cho Chúa để trở nên “đồ dùng về sự công bình” (Rô 6:13). Chính xác thịt có thể được “sạch khỏi mọi sự dơ bẩn” bởi Đức Thánh Linh (IICôr 7:1). Vả lại, thân thể hay chết sẽ được sống lại và biến hóa bởi Đức Thánh Linh (Rô 8:11), và nhờ Đấng Christ dự phần trong sự cứu chuộc. Phao-lô dạy rằng: Thân thể người mắc tội và chịu phạt tội cũng có thể được cứu chuộc, và khi Chúa tái lâm cũng được dự phần trong vinh quang của sự sống mới trong Đấng Christ. Vậy, thân thể là một phần tử rất cần thiết của phẩm cách con người, như Phao-lô cầu xin: “Nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn … khi Chúa Jêsus Christ chúng ta đến” (ITê 5:23). Có nhiều tín đồ hỏi Phao-lô về sự phục sanh, Sứ đồ đã dạy về lẽ đạo của “thân thể thuộc linh” (ICôr 15:44) thân thể đó mới phù hợp với đời sống mới. Sứ đồ dạy rằng, lúc chết “ấy không phải là chính hình thể sẽ sanh ra” (ICôr 15:37), vả lại, “thịt và máu chẳng hưởng nước Đức Chúa Trời được” (ICôr 15:50). Dầu vậy, khi tín đồ được sống lại từ kẻ chết sẽ có một thân thể. Gọi là “thân thể thuộc linh” không phải là mô tả bằng thể chất, vì Sứ đồ không lấy vấn đề về thể chất làm quan trọng. Đối với Sứ đồ, vấn đề quan trọng nhứt là đời sau cần phải có một thân thể phù hợp để làm cơ quan của sự sống thuộc linh. Thể đời nay là thể có linh hồn (Hy-lạp là psuché, tức phần tư dục); thể đời sau là thể có thần linh (tức thuộc linh, Hy-lạp là pneuma). Có nhà thần đạo nói rằng: “Dầu giữa hai thân thể đó có lẽ không có sự liên hệ trực tiếp, song sự thực hữu của thân thể thuộc linh là nhờ sự chết của thân thể có linh hồn. Nhưng mà, có sự giống nhau cốt yếu giữa hai thân thể đó, ấy vì có những sự bày tỏ liên tiếp nhau cùng một nhân vị, dầu ở phạm vi khác nhau.”
Trong IICôr 4:16, Sứ đồ nói đến sự hư nát “người bề ngoài” ý nói thân thể bởi thịt và huyết nầy sẽ bị tiêu tan mất, nhưng ý tưởng trong đời sau không hề chết chẳng có thân thể, là ý Phao-lô không chấp nhận, nên Sứ đồ dạy rằng: “Chúng ta thật than thở trong thân thể nầy, mà hết sức mong được mặc lấy nhà chúng ta từ trên trời” (IICôr 5:2). Vậy, sau khi chết, tín đồ có một thân thể không hề chết, đó là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Phao-lô vẫn dạy rằng nhân vị đời nay sẽ cứ có trong thân thể đời sau.
Ta thấy Phao-lô phân biệt giữa tội lỗi và xác thịt. Cả hai dầu liên quan chặt chẽ, song phân biệt rõ ràng. Phao-lô đã dạy rõ rằng nguyên lý của tội lỗi là ở trong con người, và tội lỗi nhờ xác thịt con người làm phạm vi hành động. Tuy nhiên, dầu nói tội lỗi có cơ hội hoạt động nhờ vào sự yếu đuối, hoặc sự ham mê của xác thịt, điều đó không phải là nói xác thịt tự nó là tội lỗi. Phao-lô cũng không nói tội lỗi có nguồn gốc từ trong xác thịt, nhưng chứng rằng theo lịch sử căn nguyên tội lỗi là ở sự không vâng phục đầu tiên của A-đam (Rô 8:3-9), và tánh nguyên tội lưu truyền lại cho loài người là cơ nghiệp tự nhiên của xác thịt. Khi So sánh A-đam với Đấng Christ (ICôr 15:45), sự tương tự không phải giữa người tội lỗi và người thánh khiết, song giữa người thứ nhứt như có linh hồn bởi đất mà ra, và người thứ nhì là “thần ban sự sống” bởi trời mà xuống. Điều đó hiệp với ý Phao-lô rằng A-đam vốn không mắc tội lỗi gì (Rô 5:12). Bác sĩ Stevens viết: Phao-lô nói gì về xác thịt là nhờ sự từng trải của loài người từ lúc tội lỗi vào thế gian. Sứ đồ không nói loài người vốn mắc tội; trái lại loài người có ý phạm tội. Song bởi sự tạo thành người có tánh xác thịt, là tánh có những sự ham mê và tình dục, sẵn sàng liên lạc với sự ưa muốn hư hoại và ý muốn bất chính.
Cũng không thể nói rằng phần nhiều tội lỗi liên quan với xác thịt là tội tư dục, vì theo Phao-lô trong mười lăm “việc làm của xác thịt” được kể ra trong Ga 5:19-21, chỉ có thể nói đúng một số là thuộc tư dục; còn các việc còn lại như “ghen ghét, buồn giận, bè đảng, ganh gổ, v.v. không phải thuộc tư dục. Từ tánh xác thịt có sanh ra “sự ghen ghét và tranh cạnh” (ICôr 3:3). Sứ đồ nhận biết “có sự dơ bẩn phần thuộc linh” (IICôr 7:1), và ai “sống theo tư dục xác thịt mình, thì làm trọn các sự ham mê của xác thịt về ý tưởng mình” (Êph 2:3). Bởi vậy, không thể công nhận tội lỗi cốt là “tư dục” dựa vào thuyết lý coi mọi vật như là tội lỗi. Thật ra, Phao-lô phản đối hết sức với sự dạy dỗ đó của phái Trí-huệ Gnostiques mà Phao-lô trong ITi 6:20 nói là có “tri thức ngụy xưng là tri thức.” Phao-lô chép phái khổ hạnh đó “bởi tánh xác thịt đổi lòng kiêu ngạo vô ích, ” và cũng khinh dể thân thể vì là tội ác. Phao-lô cũng coi triết lý người Hy-lạp như vậy, vì là “khôn ngoan theo xác thịt” (ICôr 1:22, 26).
Cuối cùng, Phao-lô chứng quyết về sự vô tội của Đấng Christ, và sự thực hữu của thân thể Ngài. Phao-lô lấy chính danh từ xác thịt để mô tả nhân tánh của Ngài. Chúa “theo xác thịt sanh ra, ” và được “tỏ ra trong xác thịt” (Rô 1:3; ITi 3:16). Về cách Phao-lô dùng danh từ xác thịt về mặt luân lý ở đây, thì bác sĩ Stevens nói: “Khi suy xét xác thịt về mặt siêu hình học (métaphysique), thì không có gì; song suy xét xác thịt về sự từng trải thì có sự tội. Thể chất như đã có, không phải là tội lỗi; nhưng thân thể, hành động bởi linh hồn có những tình cảm và những sự ham mê là nguồn gốc của cám dỗ và nơi ở của tội lỗi.” Điều đó bày tỏ cách dùng danh từ xác thịt và thần linh của Phao-lô có ý nghĩa rộng hơn cách dùng trong các sách khác; và bởi đó, tỏ ra người nào tương giao mật thiết với Đấng Christ có thể lên nơi rất cao của thuộc linh, và người sống theo xác thịt có thể xuống nơi rất thấp hèn của tội lỗi. IIPhi 2:11 hiệp ý với Phao-lô nói rằng: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, tôi khuyên phải kiêng những điều xác thịt ưa thích, là điều chống trả với linh hồn.”
Tiến sĩ Scofield chú thích về xác thịt như sau:
Rô 7:14.– So ICôr 3:1, 4. “Xác thịt” là lời của Phao-lô chỉ về bản tánh của A-đam, và về tín đồ “bước theo” tức là cư xử, dưới quyền của tánh xác thịt. “Xác thịt” là lời vẫn dùng riêng cho người chưa được đổi mới (ICôr 2:14), như “thuộc linh” chỉ ve#người đã đổi mới bước theo “Thánh Linh” (ICôr 3:1; Ga 6:1). Xem bài Phao-lô, phần Scofield, Rô 7:15.
Giu 23.– Tóm tắt: “Xác thịt, ” theo nghĩa luân lý, là người hoàn toàn tự nhiên hoặc người chưa tái sanh, tâm thần, linh hồn và thân thể, tập trung trên bản ngã, hướng về tội, và chống trả Đức Chúa Trời (Rô 7:18). Người tái sanh không phải “ở trong (phạm vi) xác thịt, song trong (phạm vi của) Thánh Linh” (Rô 8:9). Tuy nhiên, xác thịt còn ở trong con người tái sanh đó, và người đó có thể, tùy theo sự lựa chọn, “bước theo xác thịt, ” hoặc “theo Thánh Linh” (ICôr 3:1-4; Ga 5:16, 17). Trong trường hợp thứ nhứt, người là tín đồ “xác thịt, ” trong trường hợp thứ hai là tín đồ “thuộc linh, ” Sự đắc thắng hơn xác thịt sẽ là sự từng trải thông thường của tín đồ bước theo Thánh Linh (Rô 8:2, 4; Ga 5:16, 17).