Fine linen. Fin lin.
(1) Vì Ai-cập là nơi trung tâm lớn chế tạo vải gai đời thái cổ, nên ta thấy lần thứ nhứt Kinh Thánh ngụ ý đến vải gai có liên quan đến xứ đó. Giô-sép khi nhậm chức toàn quyền xứ Ai-cập được “mặc áo vải gai mịn” (Sáng 41:42; shêsh, lời chua, Lụa), và trong những lễ vật dâng làm Đền tạm mà người Y-sơ-ra-ên đem theo từ xứ Ai-cập là “chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai mịn” (Xuất 25:4; 35:6). (2) Trong Xuất 28:42 và Lê 6:10, quần lót và áo lá của thầy tế lễ được nói là bằng vải gai (bad); và bộ áo mặc trong ngày Đại lễ Chuộc tội của thầy tế lễ thượng phẩm cùng đai lưng và mão đều cùng bằng một thứ đó (Lê 16:4). Theo sự so sánh của Xuất 28:42 với 39:28, dường như bad và Shêsh là đồng nghĩa. (3) B#ts, bao giờ cũng dịch là “vải gai mịn, ” chỉ trừ IISử 5:12, dường là một lời sau, và có lẽ cũng như tiếng Hy-lạp Bússos ở trong bản Septante. Loại vải ấy được dùng làm y phục cho ban hát người Lê-vi trong Đền thờ (IISử 5:12), áo khoác ở trên của các vua ngoài áo dài đúng kích thước (ISử 15:27), và bức màn của Đền thờ thêu bởi tay thợ khéo ở Ty-rơ (IISử 3:14). Bộ áo của người giàu trong ví dụ là “áo tía và áo bằng vải gai mịn” (bússos, Lu 16:19). “Vải gai mịn màu tía, lụa” được nói đến trong Khải 18:12 như là hàng hóa của Ba-by-lôn bí mật. (4), (5) Et#n (Châm 7:16), và sâd#n (Quan 14:12, 13), cũng có nghĩa là vải gai. Song danh từ chung gồm cả những thứ đã kể trên là pishteh, được dùng đến — giống “vải bông” – sợi chỉ gai (Quan 15:14), hoặc thứ nguyên liệu mà người ta dệt vải gai, cũng chỉ về chính thứ cây đó (Giô 2:6), và nơi chế tạo. Danh từ đó thường nói chung với lông chiên, như là một thứ sản vật (Lê 13:47, 48, 52, 59; Phục 31:13; Ôs 2:5, 9), chỉ gai dùng làm lưới (Ês 19:8, 9), dây lưng (Giê 13:1), và những dây đó cũng dùng làm bộ áo của thầy tế lễ (Êxê 40:3; 44:17, 18).
Tiến sĩ Scofield chú thích về vải gai mịn như sau:
Xuất 27:9.– Vải gai mịn thường chỉ bóng về sự công bình của cá nhân (Xuất 26:1, so Khải 19:8, vải gai đây la hình bóng đời sống vô tội của Đấng Christ), và vải gai bao bọc chung quanh hành lang của đền tạm, thì chỉ về mực thước của sự công bình mà Đức Chúa Trời đòi hỏi người nào muốn dùng sự công bình của chính mình, để đến cùng Ngài. Đấng Christ, nói theo ý bóng, đã đặt phạm vi hành lang trong Lu 10:25-28. Chỉ có một con đường để đến gần nơi chí thánh, ấy là cái “cửa” (Xuất 27:16; Giăng 10:9). Tấm màn bằng vải gai mịn bao bọc hành lang ngăn cản người tự xưng mình công bình và tội nhân bước vào bên trong, vì cao “năm thước” (Xuất 27:18, chừng 2m50).