Freedom. Liberté.
Tự do là trái với sự nô lệ và tôi mọi, bởi đó ứng dụng cho những phu tù hoặc tôi mọi được buông tha khỏi sự hà hiếp (Lê 25:10; Ês 61:1, v.v.). Về phần đạo đức, quyền bắt người làm tôi mọi là tội (Giăng 8:34), và tự do không phải là chỉ ở bề ngoài, hoặc có quyền lựa chọn lấy lệ, song là ở sự giải thoát khỏi sự tối tăm của linh hồn, sự hung tàn của những dục vọng tội lỗi và sự bắt ý muốn làm tôi mọi do một địa vị đạo đức hư hoại. Về mặt phải, tự do là thật có sự thánh khiết, với ý muốn và tài năng làm theo điều phải và thiện. Sự tự do đó chỉ có thể có trong một địa vị đổi mới của linh hồn, và không thể thực hiện ngoài sự tin kính Đức Chúa Trời. Cả đến những người tin kính đời Cựu Ước cũng có thể khoe vì đã có một phần tự do như thế (Thi 119:45, dịch là “thong dong, ” có nghĩa tự do hành động rộng rãi), nhưng chính là Tin lành Đấng Christ ban cho tự do cách đầy đủ, cho người hiểu biết hoàn toàn và rõ ràng về Đức Chúa Trời, bày tỏ phương pháp được tha tội, ban bố những nguyên tắc rất cao thượng để được thánh khiết, ban Đức Thánh Linh để hủy diệt quyền của tội và bước đến sự công bình. Khi dựng nên một đời sống mới trong linh hồn, Tin lành nâng tín đồ lên khỏi phạm vi của luật lệ bề ngoài, và cho một ý nghĩa về tự do bởi sự thông công mới với Đức Chúa Trời tức làm con Ngài. Bởi đó, Tân Ước có dùng những câu về “sự tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời” (Rô 8:21; so Ga 2:4; 5:13, v.v.), về sự tự do là kết quả bởi có Đức Thánh Linh (IICôr 3:17), và “luật pháp trọn vẹn về sự tự do” (Gia 1:25). Cơ quan mà sự tự do nầy được là “lẽ thật” (Giăng 8:32). Các tín đồ Đấng Christ được cảnh cáo: chớ lợi dụng hoặc lạm dụng sự tự do mình trong Đấng Christ (Ga 5:13; IIPhi 2:16).