Titus. Tite (đáng tôn trọng).
Bạn đồng đi với Phao-lô trong các cuộc lưu hành truyền giáo. Sách Công vụ các sứ đồ không nói đến tên người. Tít là người Hy-lạp, bởi đó là dân ngoại (Ga 2:1, 3), tin Chúa bởi Phao-lô (Tít 1:4), “con thật ta trong đức tin chung.” Cũng là một trong “mấy người đó, ” là những người đi theo Phao-lô và Ba-na-ba khi họ làm đại biểu của Hội thánh An-ti-ốt mà hỏi thăm Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem về sự làm lễ cắt bì cho dân ngoại tin Chúa (Công 15:2).Hiệp với sự biểu quyết của giáo hội nghị, không cần làm lễ cắt bì cho những người đó, nên Phao-lô phản đối việc ép Tít phải chịu lễ cắt bì, vì cả cha lẫn mẹ của ông đều là người ngoại bang, và Tít làm đại biểu cho Hội Thánh của người không chịu cắt bì tại giáo hội nghị (trái với Ti-mô-thê có mẹ là người Do-thái và cha là người ngoại bang, 16:3).
Tít ở với Phao-lô tại Ê-phê-sô (Công 19:1-), sau đó được sai đến thành Ê-phê-sô (Công 19:1-), và từ đó được sai đến thành Cô-rinh-tô để bắt đầu việc quyên tiền giúp cho thánh đồ tại Giê-ru-sa-lem, và cũng để biết chắc chắn hiệu quả của bức thơ thứ nhứt mà Phao-lô gởi cho Hội thánh tại đó, những việc này tỏ ra Tít có một tinh thần không cầu lợi. Sau đó, Tít sang Ma-xê-đoan, tại đó người gặp Phao-lô bấy giờ đang nóng lòng chờ đợi người ở Trô-ách (Công 20:1, 6; IICôr 2:12, 13). Tít “bạn bè tôi” (7:6; 8:23) cũng là “người cùng làm việc với tôi ở nơi anh em.” Lịch sử (Công 20:1-) không thuật rằng Phao-lô đi ngang qua Trô-ách trong khi từ Ê-phê-sô sang Ma-xê-đoan, nhưng có nói đến lúc Phao-lô từ Ma-xê-đoan về có đi qua Trô-ách và cũng ở tại đó (câu 6, 7) là điều hiệp với thơ tín (IICôr 2:12); đó là một sự gặp gỡ không định trước. Phao-lô đã ấn định thời gian với Tít để gặp người tại Trô-ách, và nếu Tít bị chậm trễ không thể đến Trô-ách đúng hẹn, thì lập tức sang Ma-xê-đoan đến Phi-líp, là bước sau trong cuộc hành trình của Phao-lô. Bởi vậy, dầu tại Trô-ách công việc truyền đạo đang mở mang, nhưng vì lòng nóng nảy muốn nghe Tít thuật lại về công việc của Hội thánh Cô-rinh-tô, khiến Phao-lô không ở đó lâu nữa mà vội vã sang Ma-xê-đoan để gặp Tít tại đó. Lời Tít thuật lại làm cho Phao-lô được yên ủi. Sau đó, Phao-lô dùng Tít để hoàn tất việc quyên tiền giúp các thánh đồ nghèo tại xứ Giu-đê, và là người đem thơ thứ hai viết cho Hội thánh Cô-rinh-tô (IICôr 8:16, 17, 23). Có người cho rằng Tít cũng là người đem thơ thứ nhứt (IICôr 12:18; ICôr 16:12, “anh em.”) Một thời gian Tít làm chủ tọa Hội thánh Cơ-rết (Tít 1:5), là sau khi Phao-lô bị tù lần thứ nhứt tại La-mã, ít lâu trước lần thứ hai độ 67 S.C., mười năm sau lời chú thích về người trong IICô-rinh-tô, 57 S.C.. Có lẽ Tít gặp Phao-lô, y như Sứ đồ mong mỏi, tại Ni-cô-bô-li, vì cuộc hành trình của Tít đi Đa-ma-ti có lẽ bắt đầu từ Cơ-rết (IITi 4:10; Tít 3:12). A-tê-ma và Ti-chi-cơ sang Cơ-rết có thể cho Tít tự do nghỉ chức để qua Ni-cô-bô-li.
Tít dường như bạo dạn hơn, và ít e thẹn hơn Ti-mô-thê, là người không biết chắc có đến Cô-rinh-tô không (ICôr 16:10, 11). Bởi đó, Tít có thể đủ tài đảm đương công việc khó mà Phao-lô giao phó cho, và có thể nhận xét xem ngườICôr có ảnh hưởng gì đối với lời quở trách của Phao-lô trong thơ thứ nhứt về việc họ dung túng những điều xấu xa. Tít càng làm cho sự quở trách nặng hơn, nhưng cũng không kém Phao-lô trong sự yên ủi ngườICôr chút nào; “và anh em đã để tâm thần người (Tít) được yên lặng” (IICôr 7:13). Sự yêu thương bề trong và sự vui mừng của Tít được bày tỏ, đến nỗi trong Tít ta thấy ngoài sự dạn dĩ lại còn có tính cách đáng yêu của chính Sứ đồ. Nghị lực của Tít tỏ ra trong sự sốt sắng lúc Phao-lô cần đến người để lo việc lạc quyên, điều mà Phao-lô đã xin trước nhưng ngườICôr hơi chểnh mảng (IICôr 8:6, 16, 17, 18). Tính chân thật và ngay thẳng của Tít cũng tỏ rõ (12:18); sẵn sàng lấy nhiệt tâm thực hành các nguyện vọng của Sứ đồ, đi bất cứ nơi nào được sai đi. Tít như Phao-lô “ân cần với anh em, nghe lời khuyên… bởi lòng sốt sắng thì tự ý đến thăm anh em.”
Phao-lô giao phó cho Tít việc lần cuối cùng (Tít 1:5). “Ta để con ở lại Cơ-rết đặng sắp đặt mọi việc chưa thu xếp (tức tiếp nối công việc ta khởi làm mà chưa thể làm trọn, vì cớ chỉ tạm ngụ ở đó), và theo như ta dặn bảo cho con mà lập những trưởng lão trong mỗi thành.” Phao-lô khởi sự tổ chức Hội Thánh Cơ-rết. Tít tiếp tục công việc trong mỗi thành, như tại Gortyna, La-sê (Công 27:8). Phao-lô viết thơ cho Tít, nhắc cho người nhớ chức việc mình đã tỏ bằng lời. Tít phải “bịt miệng” những kẻ “phỉnh dỗ” và các giáo sư dạy luật pháp Do-thái (Tít 1:11; so Thi 32:9), khuyên giục tín đồ bất cứ hạng nào, già, trẻ, nam, nữ, tôi mọi và tự chủ đều phải bước đi xứng đáng trong đạo Đấng Christ, làm trọn những phận sự trong gia đình và tránh khỏi sự cãi lẫy vô ích. Phải có người cai trị vững vàng và cương quyết đối với người vô luật pháp “ham ăn và làm biếng” (Tít 1:12) như người Cơ-rết, và một thi sĩ bổn xứ là Épiménides đã mô tả một cách giễu cợt rằng tại đảo Cơ-rết không có “thú dữ” thì đã có người thế cho. “Nhập tịch người Cơ-rết” là châm ngôn chỉ sự nói dối, cũng như “nhập tịch ngườICô-rinh-tô” là châm ngôn chỉ sự buông tuồng. Bởi đó, ho#432;a “chuyện huyễn” (Tít 1:14) mà các thi sĩ ngoại đạo vẫn chê cười, như họ quyết rằng trong xứ họ có mộ của thần Giu-bi-tê. Chỉ có một phương thuốc mà Tít dùng ấy là “ân điển Đức Chúa Trời hay cứu mọi người” (Tít 2:11-14) trong Đấng Christ, là Đấng “liều mình vì chúng ta để chuộc chúng ta khỏi mọi tội.” Phao-lô cũng dặn Tít phải lo liệu đủ cho Xê-na, một thầy dạy luật Do-thái tin Chúa hoặc thầy thông giáo (Tít 3:13), và A-bô-lô là người Tít đã có làm việc với khi người ở Cô-rinh-tô (ICôr 15:12; IICôr 7:6, 9; 8:6; 12:18; Công 19:1).
Nay có một nhà thờ đã hư nát tại Gortyna có mang tên của Tít, vì có lời truyền khẩu nói Tít làm giám mục tại đó. Danh của Tít là lời khẩu hiệu của người Cơ-rết khi bị người Vénitiens xâm chiếm.