Thuế

Taxes. Taxes.

Trong thời các quan xét, Y-sơ-ra-ên bị bó buộc nộp thuế theo thứ tự vào sự thờ phượng Đức Giê-hô-va. Khi ấy chưa phải cung cấp cho quân đội hoặc một triều vua nào. Song có một đền thờ và một ban chức thầy tế lễ, thì dân phải nộp phần mười để cung cấp cho đền thờ và ban chức các thầy tế lễ Lê-vi.

Sau khi đã lập nước quân chủ, thì phải nộp những thứ thuế như sau: (1) Sa-lô-môn đánh thuế trên tài sản ruộng và các bầy vật (ICác 4:7-28; so Am 7:1). (2) Người ta đem quà lễ đặc biệt dâng cho vua lúc khởi sự cai trị (ISa 10:27), hoặc lúc chinh chiến (16:20; 17:18). (3) Các dân phục tùng vua phải nộp thuế (IISa 8:6, 14; ICác 10:15; IICác 3:4) và cũng đòi các thổ dân Ca-na-an giữa vòng Y-sơ-ra-ên phải làm việc (Quan 1:28, 30; ICác 9:20, 21). Khi dân Y-sơ-ra-ên phục một vua ngoại bang thì phải nộp thuế cho vua đó.(4) Những người buôn bán và kẻ kinh doanh phải nộp thuế (ICác 10:15). Đa-vít không đánh thuế bằng tiền hoặc tài sản mà dùng ít tiền riêng của mình để lập cơ binh, va chia số những người đủ tuổi đăng lính thành từng đạo binh 24.000 người, và các đạo binh này luân phiên phục vụ mỗi năm môt tháng (ISử 27:1). Trong thời Sa-lô-môn, dân sự bị đánh thuế và nặng, và vì cớ đó xảy ra sự chia nước (ICác 12:4). Miễn thuế là một phần thưởng cho công trạng (ISa 17:25).

Dưới quyền đế quốc Ba-tư, mỗi tỉnh phải nộp một món tiền đã ấn định vào kho bạc của vua, và cũng nộp thuế để cung cấp cho nhà của quan tổng trấn. Thuế ấy được gọi là lương thực và đối với người Do-thái gồm có thức ăn và bốn mươi siếc-lơ bằng tiền mỗi ngày (Nê 5:14, 15). Thuế có được bởi người ta tiến cống, nộp thuế và đóng tiền mãi lộ (Exơ 4:13, 20). Các thầy tế lễ, người Lê-vi, người Nê-thi-nim được miễn nộp thuế trong xứ Do-thái (Exơ 7:24); song gánh nặng về thuế phần lớn ép trong dân sự vì họ cũng phải cung cấp cho Đền thờ, nên nhiều người phải cầm ruộng và vườn nho mình để có thể nộp thuế đủ (Nê 5:4; 9:37).

Dưới quyền các vua Ai-cập và Sy-ri, việc thâu thuế trong một miền được bán ở nơi đấu giá cho người nào trả nhiều hơn. Người hứa sẽ nộp nhiều huê lợi từ một tỉnh thì được phép thâu thuế và cũng được cấp đủ người để giúp đỡ trong việc thâu thuế. Các vua Sy-ri đánh thuế trên mỗi người và trên muối nữa, đòi một món tiền thuế cho một mão triều thiên bằng vàng hằng năm và lấy một phần ba thóc và một nửa trái cây, và cũng đòi một phần của phần mười và tiền thuế mỗi người phải nộp để cung cấp Đền thờ tại Giê-ru-sa-lem.

Khi người La-mã ở dưới quyền Pompey chiếm lấy Giê-ru-sa-lem năm 63 T.C., thì ép dân Do-thái nộp thuế trong một thời gian ngắn đến một vạn ta lâng. Jules César ra chiếu chỉ rằng thuế không được trưng thầu, không bị đòi năm Sa-bát, và trong năm kế năm sa bát chỉ thâu một phần tư tổng số thường nộp. Hê-rốt Lớn đánh thuế sản vật, ruộng và đánh thuế các hàng hóa mua và bán. Khi xứ Giu-đê đặt dưới quyền các quan tổng đốc, hệ thống tài chánh của đế quốc được đưa vào trong xứ. Những hoa lợi được trưng thầu. Các thứ thuế là: (1) Thuế đất, nộp bằng thổ sản hoặc bằng tiền. (2) Thuế thân (Mat 22:17), và dưới cùng một tên, thuế đánh trên tài sản cá nhân. (3) Thuế xuất cảng, nhập cảng, thâu ở các hải cảng và tại cửa các thành. Trong Giê-ru-sa-lem, dân cư phải trả thuế thổ trạch.

Sau kỳ phu tù, mỗi người Y-sơ-ra-ên đã đến hai mươi tuổi phải nộp nửa siếc lơ cho Đền thờ (Mat 17:24). Những người thâu thuế hằng năm đúng kỳ thăm viếng các thành tại xứ Giu-đê, và trong các nước ngoài thì định các nơi người Y-sơ-ra-ên có thể nộp thuế đó.

Lên đầu trang