Thời đại

Age. Les âges.

Tiến sĩ Scofield chú thích về bảy thời đại như sau:

Sáng 1:28.– Định nghĩa. Thời đại là một thời gian trong đó người chịu thử thách đối với sự vâng phục, một sự khải thị đặc biệt về ý muốn Đức Chúa Trời. Có bảy thời đại như thế được phân biệt trong Kinh Thánh.

— Thời đại thứ nhứt: Thời đại vô tội. Người ta được dựng nên trong sự vô tội, được đặt vào trong một cảnh hoàn toàn, chỉ phải phục một sự thử thách rất đơn sơ, và được cảnh cáo về kết quả của sự không vâng lời. Người nữ sa ngã bởi sự kiêu ngạo; người nam thì bởi cố ý (ITi 2:14). Đức Chúa Trời đã lập lại những vật thọ tạo phạm tội, song thời đại vô tội đã kết thúc trong án phạt trục xuất khỏi vườn (Sáng 3:24).

Sáng 3:23 –Thời đại thứ hai: Lương tâm. Bởi sự không vâng phục, loài người đã đến sự hiểu biết cá nhân và bởi từng trải, về sự lành và sự dữ:–sự lành là vâng phục, sự dữ là không vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời đã cho biết. Bởi sự hiểu biết đó, lương tâm được tỉnh thức. Bị trục xuất ra khỏi vườn Ê-đen và đặt ở giao ước thứ hai hoặc giao ước với A-đam, người có trách nhiệm làm tròn mọi điều lành đã cho biết; kiêng cữ mọi điều dữ đã cho biết và đến gần Đức Chúa Trời bởi của lễ. Kết quả của sự thử thách thứ hai cho loài người được chép trong Sáng 6:5, và thời đại này tận cùng với án phạt Cơn Hồng thủy. Dường như “tại phía Đông vườn Ê-đen” (câu 24) có các Chê-ru-bin và gươm lưỡi chói lòa còn lại chỗ thờ phượng suốt thời đại thứ hai nầy.

Sáng 8:21.– Thời đại thứ ba: Chính phủ loài người. Dưới thời lương tâm cũng như thời vô tội, loài người hoàn toàn thất bại, và án phạt Hồng thủy đã đánh dấu sự tận cùng thời đại thứ hai và sự khởi đầu thời đại thứ ba. Lời công bố của Giao ước với Nô-ê bắt loài người phải chịu một thử thách mới. Tánh cách đặc biệt là sự thiết lập, lần thứ nhứt, chính phủ loài người — chính phủ của người bởi người. Phận sự cao quí của chính phủ này là sự cất mạng sống theo tư pháp. Hết thảy mọi quyền khác của chính phủ là từ đó mà ra. Như vậy, thời đại thứ ba đặc biệt là thời đại của chính phủ loài người. Loài người chịu trách nhiệm cai trị thế gian cho Đức Chúa Trời. Trách nhiệm đó căn cứ trên cả dòng giống, Do-thái và Dân ngoại, cho đến sự thất bại của Y-sơ-ra-ên dưới giao ước Pha-lê-tin (Phục 28:1–30:1-10) dẫn đến án phạt các lần phu tù khi “Các kỳ Dân ngoại” bắt đầu (Xem Lu 21:24; Khải 16:14), và chính phủ thế gian sang hết trong tay Dân ngoại (Đa 2:36-45; Lu 21:24; Công 15:14-17). Cả hai, Y-sơ-ra-ên và Dân ngoại đã cai trị cho mình, không phải cho Đức Chúa Trời. Án phạt làm lộn xộn tiếng nói là kết thúc của sự thử thách dòng giống; án phạt bị phu tù là kết thúc sự thử thách dân Do-thái; còn sự thử thách Dân ngoại sẽ kết thúc bởi sự đập bể pho tượng (Đa 2:1-) và sự phán xét các dân tộc (Mat 25:31-46).

Sáng 12:1.– Thời đại thứ tư: Lời hứa. Về Áp-ra-ham và dòng dõi người thì rõ ràng giao ước với Áp-ra-ham có một sự thay đổi lớn (Sáng 15:18, lời chua). Họ trở nên các con kế tự của lời hứa cách đặc biệt. Giao ước đó thì hoàn toàn bởi ân điển và không có điều kiện. Những dòng dõi của Áp-ra-ham chỉ cần ở trong chính xứ mình để hưởng mọi phước hạnh, trong xứ Ai-cập họ mất hết phước hạnh, song không phải mất giao ước mình. Thời đại lời hứa kết thúc khi Y-sơ-ra-ên vội vàng công nhận luật pháp (Xuất 19:8). Ân điển đã sửa soạn một người giải cứu (Môi-se) sắm sẵn một của lễ cho tội nhân, và bởi quyền phép Đức Chúa Trời đem họ ra khỏi vòng nô lệ (Xuất 19:4); song tại núi Si-na-i họ đổi ân điển để lấy luật pháp. Thời đại lời hứa mở rộng từ Sáng 12:1 đến Xuất 19:8, và hoàn toàn thuộc riêng Y-sơ-ra-ên. Cần phải phân biệt thời đại và giao ước. Thời đại là một cách của sự thử thách, giao ước thì vĩnh viễn không có điều kiện. Luật pháp không tiêu hủy giao ước với Áp-ra-ham (Ga 3:15-18), nhưng là khoảng thời gian sửa dạy cho đến khi “Người dòng dõi đến, là người mà lời hứa đã hứa cho” (Ga 3:19-29; 4:1-7). Thời đại, như là một sự thử thách của Y-sơ-ra-ên, tận cùng lúc ban bố luật pháp.

Xuất 19:8.– Thời đại thứ năm: Luật pháp. Thời đại nầy giới hạn kéo dài từ núi Si-na-i đến đồi Gô-gô-tha, tức từ Xuất Ai-cập cho đến Thập tự. Sử ký Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng và trong xứ Ca-na-an là một bài lịch sử dài thuật những sự phạm luật pháp. Chúa dùng luật pháp thử dân tộc cho đến khi bị làm phu tù. Thời đại nầy tận cùng nơi Thập tự. (1) Địa vị của người lúc mới lập luật pháp (Xuất 19:1-4. (2) Trách nhiệm (Xuất 19:5, 6; Rô 10:5). (3) Khuyết điểm (IICác 17:7-17, 19; Công 2:22, 23). (4) Sự đoán phạt (IICác 17:1-6, 20; 25:1-11; Lu 21:20-24).

Mat 28:19.– Thời đại thứ sáu: Ân điển. Với sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus Christ bắt đầu “thời đại của ân điển Đức Chúa Trời” (Êph 3:2) được định nghĩa như “lòng nhơn từ đã bày tỏ ra cho chúng ta bởi Chúa Jêsus Christ, ” và “sự ban cho của Đức Chúa Trời: chẳng phải bởi việc làm hầu cho không ai khoe mình” (Êph 2:7-9). Dưới ân điển, Đức Chúa Trời ban cho kẻ tội nhân có lòng ăn năn, tin kính, nhận được sự sống đời đời cách nhưng không (Rô 6:23); kể cho người tội sự công bình trọn vẹn (Rô 3:21, 22; 4:4, 5) và ban cho con người có một địa vị hoàn toàn (Êph 1:6). Những kết quả dự định trước của sự thử thách loài người lần thứ sáu nầy là: (1) sự cứu rỗi cho hết thảy mọi kẻ tin (Công 16:31);

(2) Sự phán xét trên một thế gian vô tín và một Hội Thánh bội đạo (Mat 25:31-46; IITê 1:7-10; IIPhi 4:17, 18; Khải 3:15, 16).

(1) Địa vị của loài người từ buổi đầu của thời đại ân điển (Rô 3:19; Ga 3:22; Êph 2:11, 12). (2) Trách nhiệm của loài người dưới ân điển (Giăng 1:11, 12; 3:36; 6:28, 29).

(3) Sự thất bại đã nói trước của loài người (Mat 24:37-39; Lu 18:8; 19:12-14). (4) Sự phán xét (IITê 2:7-12).

Giăng 1:16.– Như là một thời đại, ân điển bắt đầu với sự chết và sự sống lại của Đấng Christ (Rô 3:24-26; 4:24, 25). Điểm thử thách không còn phải là sự vâng phục luật pháp nữa như là điều kiện của sự cứu rỗi, nhưng là sự nhận lấy hoặc chối bỏ Đấng Christ với những công việc lành như trái của sự cứu rỗi (Giăng 1:12, 13; 3:36; Mat 21:37; 22:42; Giăng 15:22, 25; Hêb 1:2; IGiăng 5:10-12). Kết quả ngay của sự thử thách nầy là sự chối bỏ Đấng Christ bởi người Do-thái, và sự đóng đinh Ngài bởi Dân Do-thái và Dân ngoại (Công 4:27). Sự cuối cùng đã dự ngôn của sự thử thách loài người dưới ân điển là sự bội đạo của Hội Thánh hữu danh vô thực (Xem bài BỘI ĐẠO, IITi 3:1-18, lời chua) và những sự phán xét đã khải thị làm kết quả.

Lu 24:51.– Thái độ của Chúa ở đây chỉ đặc tánh của thời đại nầy. Ấy thật là một thời ân điển; Chúa thăng thiên đang ban những phước thuộc linh cho dân sự tin kính. Thời đại dân Do-thái được đánh dấu bởi những phước vật chất như phần thưởng của một dân vâng phục (Phục 28:1-15). Trong thời đại của nước đời đời, phước hạnh thuộc linh và vật chất được hiệp làm một.

Êph 1:10.– Thời đại thứ bảy: Kỳ mãn. Thời đại nầy là thứ bảy và cuối cùng các thời đại theo trật tự đã ấn định về sự sống người ta trên đất, là một với nước có được bởi giao ước với Đa-vít (IISa 7:8-17; Xa 12:8. Tóm tắt; Lu 1:31-33; ICôr 15:24, Tóm tắt), và nhóm lại với mình dưới Đấng Christ mọi “thời kỳ” đã qua: (1) Thời kỳ áp chế và sự cai trị sai lầm kết thúc khi Đấng Christ đến lấy nước Ngài (Ês 11:3, 4). (2) Thời kỳ làm chứng và nín chịu của Đức Chúa Trời kết thúc trong sự phán xét (Mat 25:31-46; Công 17:30, 31; Khải 20:7-15). (3) Thời kỳ khó nhọc kết thúc trong sự yên nghỉ và phần thưởng (IITê 1:6, 7). (4) Thời kỳ đau đớn kết thúc trong sự vinh hiển (Rô 8:17, 18). (5) Thời kỳ của sự đui mù và sự sửa dạy Y-sơ-ra-ên kết thúc trong sự lập lại và trở lại với Chúa (Rô 11:25-27; Êxê 39:25-29). (6) Thời kỳ của dân ngoại kết thúc với sự đập bể pho tượng và lập nên nước thiên đàng (Đa 2:34, 35; Khải 19:15-21). Thời kỳ làm tôi mọi của muôn vật kết thúc trong sự giải cứu lúc các con Đức Chúa Trời được tỏ ra (Sáng 3:17; Ês 11:6-8; Rô 8:19-21).

Khải 12:10.– Thời đại của Nước đời đời (IISa 7:16). Bắt đầu với sự tái lâm của Đấng Christ trên đất, kéo dài suốt “ngàn năm” của sự trị vì Ngài trên đất, và tận cùng khi Ngài đã “giao nước lại cho Đức Chúa Trời là Cha” (ICôr 15:24, lời chua).

Lên đầu trang