Thầy tế lễ thượng phẩm

The high priest. Le Souverain sacrificateur.

I. Đối với luật pháp.– Sự biệt riêng A-rôn và các con trai người làm chức vụ thầy tế lễ (khi trước thuộc về con trưởng nam) được phép trong Xuất 28:1-. Ta thấy ngay từ lúc đầu tiên những thuộc tánh đặc biệt của A-rôn và các thầy tế lễ thượng phẩm khác nối chức người, như phân biệt với các thầy tế lễ khác.

Chỉ A-rôn được xức dầu (Lê 8:12), bởi đó một trong các tiếng đệm đặc biệt của thầy tế lễ thượng phẩm là “thầy tế lễ chịu xức dầu” (Lê 4:3, 5, 16; 21:10, xem Dân 35:25). Điều đó cũng tỏ ra trong Xuất 29:29, 30. Sự xức dầu cho các con trai A-rôn tức các thầy tế lễ thường, dường như chỉ hạn chế trong sự rảy dầu thơm trên áo họ (Xuất 29:21; 28:41, v.v.). Sự xức dầu cho thầy tế lễ thượng phẩm có nói đến trong Thi 133:2.

II. Thầy tế lễ thượng phẩm có một bộ áo đặc biệt, lúc chết thì giao lại cho người kế tự. Bộ áo đó gồm có 8 phần như các thầy Ra-bi vẫn nói: bảng đeo ngực, ê-phót với chiếc dây lưng da, áo dài của ê-phót, mũ, áo lá trong thêu hoặc dệt có hoa, dây lưng, và các vật liệu bằng kim tuyến, chỉ màu tím, đỏ điều, đỏ sậm, và vải gai trắng mịn (Xuất 28:1-). Thêm vào những phần ở trên, trong câu 42, một quần lót bằng vải gai (Lê 16:4); để tính cho đủ số 8, có người tính mũ thầy tế lễ thượng phẩm hoặc cái thẻ riêng khỏi cái mũ; còn người khác thì tính đai để cột ê phót ở phía ngoài riêng với ê phót. Trong số 8 thứ của bộ áo, có 4 tức là cái áo, dây lưng, quần lót, và cái mũ hoặc khăn cũng thuộc về các thầy tế lễ thườ Xét những phần của bộ áo thầy tế lễ thượng phẩm theo thứ tự đã kể ra ở trên, ta thấy:

a) Bảng đeo ngực (hoặc bảng đeo ngực về sự xét đoán, câu 15, 29, 30). Nguyên bảng đeo ngực có chiều dài hai gang, và ngang một gang, nhưng khi gấp đôi lên thì thành hình vuông, là hình mà người ta đeo. Trên đó có mười hai viên ngọc quí, xếp thành bốn hàng, mỗi hàng ba viên, như vậy hiệp với mười hai chi phái, và các trại cũng chia theo cách đó; trên mỗi viên ngọc có chạm tên con cái Y-sơ-ra-ên. Tùy theo bản Septante, và Josèphe, và theo ngôn ngữ của Kinh Thánh, chính những viên ngọc đó làm thành U-rim và Thu-mim.

b) Ê-phót.– Ê-phót chia làm hai phần, một phần che phía sau lưng, còn phần khác ở phía trước, tức là ngực và phần trên của thân thể. Hai phần đó được móc vào nhau ở trên vai bằng hai viên bích ngọc, mỗi viên đó có tên 6 chi phái Y-sơ-ra-ên. Ê-phót cũng được thắt lại bởi một cái đai bằng kim tuyến, chỉ đỏ điều, đỏ sậm, và vải gai mịn quấn ngang lư

c) Áo của ê-phót.– Ấy là một thứ vật liệu kém thứ của chính ê-phót, vì hoàn toàn màu xanh (câu 31), tỏ ra chỉ bằng “vải thường” (39:22). Áo đó mặc ở dưới ê-phót, và dài hơ Áo xanh không có tay, song chỉ khoét ở hai bên nách để tay có thể xỏ qua. Cũng có một lỗ để đầu có thể chui qua, với một viền xung quanh bằng vải thường, cho khỏi rách. Nơi biên dưới có thắt trái lựu màu tím, đỏ điều, đỏ sậm, cùng chuông vàng nhỏ xen vào giữa mỗi trái lựu. Chuông dùng để phát ra âm thanh khi thầy tế lễ thượng phẩm vào ra nơi thánh.

d) Mũ.– Mũ hoặc khăn ở trên, với cái thẻ bằng vàng, khắc con dấu rằng: “Thánh Cho Đức Giê-hô-va”, buộc vào đó bằng một sợi băng màu xanh.

đ) Áo.– Áo thêu là một thứ áo dài bằng vải gai dệt có hoa, giống như một bức xây bằng đá. Dây lưng cũng dùng bằng vải gai, quấn xung quanh thân mấy vòng từ ngực trở xuống, và hai đầu thì thả thòng xuống mắt cá. Quần lót, bằng vải gai, che ngang lưng và đùi; mũ là một thứ khăn bằng vải gai, chỉ che một phần đầu, song không phải như hình nón giống mũ của thầy tế lễ thượng phẩm khi thêm mũ vào đó. Còn bốn thứ sau thì các thầy tế lễ thường cũng có.

A-rôn và các chức phận riêng của người.– Chỉ một mình A-rôn thôi, được phép vào trong nơi chí thánh mỗi năm một lần, vào ngày Đại lễ chuộc tội, khi người rảy huyết của lễ chuộc tội trên nắp thi ân và xông hương ở bên trong bức màn (Lê 17:1-)

Thầy tế lễ thượng phẩm có một vị trí đặc biệt về luật kẻ sát nhân ẩn mình trong các thành ẩn náu. Kẻ sát nhân không được bỏ thành ẩn náu trong lúc sanh tiền của thầy tế lễ đương niên là người đã được xức bằng dầu thánh (Dân 35:25, 28). Cũng nghiêm cấm thầy tế lễ thượng phẩm đi đưa đám xác, hoặc xé áo mình (Lê 10:6). Các thầy Ra-bi thường nói đến một người thứ hai trong trật của thầy tế lễ thượng phẩm, gọi là Sagan, có khi hầu việc thế cho thầy tế lễ cả. Người Sagan đó ở trong Cựu Ước gọi là thầy phó tế (IICác 23:4; 25:18). Như vậy, việc ấy dùng cắt nghĩa về An-ne và Cai-phe (Lu 3:2), An-ne là Sagan (thầy phó tế). Có người cho rằng A-na-nia cũng là Sagan, làm việc thế thầy tế lễ thượng phẩm (Công 23:2).

Không rõ bởi quyền nào mà thầy tế lễ thượng phẩm được cử định làm việc trước khi có các vua Y-sơ-ra-ên. Song vì thấy trong các thời sau, việc ấy vẫn bởi quyền công dân cử định, nên ta có thể suy đoán hồi trước thời quân chủ là bởi các trưởng lão hoặc một Tòa Công luận. Cũng nên thêm rằng, tuổi thường được sung vào chức tế lễ, tùy theo IISử 31:17 là 20 tuổi. Thầy tế lễ hoặc thầy tế lễ thượng phẩm phải là người có đủ tư cách và đã đến tuổi thành nhơn. Theo Lê 21:1- người nào có dấu vết, có tật trên thân thể thì không được hành chức nơi bàn thờ.

Đối với thần đạo.– Về mặt thần đạo của chức thầy tế lễ thượng phẩm không có ở trong phạm vi của bài nầy. Chỉ cần tỏ rằng chức vụ, y phục, phận sự và hành lễ của thầy tế lễ thượng phẩm đều làm hình bóng cho chức tế lễ của Chúa Jêsus Christ; và chỉ bóng những sự dạy dỗ mà nay tỏ ra cách công khai dưới Tin lành. Những điều nầy được tỏ rất rõ trong thơ Hê-bơ-rơ, cũng gồm mọi sự dạy dỗ về đạo đức và thuộc linh chỉ định bởi nghĩa các hình bóng đó.

III. Đối với lịch sử.– Lịch sử của thầy tế lễ thượng phẩm gồm lại một thời kỳ chừng 1370 năm và một chuỗi độ 80 thầy tế lễ thượng phẩm nối tiếp nhau, bắt đầu từ A-rôn và tận cùng với Phannias. Hết thảy tự nhiên sắp đặt thành ba hàng: a) Những người trước vua Đa-vít. b) Từ Đa-vít cho đến phu tù. c) Từ phu tù cho đến chức vụ đó chấm dứt khi Giê-ru-sa-lem bị hủy phá (70 S.C.). Các thầy tế lễ thượng phẩm thuộc hàng thứ nhứt được chép một cách rõ ràng như là: (1) A-rôn (2) Ê-lê-a-sa (3) Phi-nê-a (4) Hê-li (5) A-hi-túp (ISử 9:11; Nê 11:11; ISa 14:3). (6) A-hi-gia (7) A-hi-mê-léc

Phi-nê-a là con của Hê-li, cha của Ê-hi-túp, chết trước cha mình, và như vậy không phải là thầy tế lễ thượng phẩm. Về phần 7 người trên, 3 thầy tế lễ cứ kế tiếp nhau theo trật tự, vì Na-đáp và A-bi-hu, các con trai lớn của A-rôn, đã chết trong đồng vắng (Lê 10:1-). Song Hê-li, thầy tế lễ thứ tư, là thuộc dòng Y-tha-ma. Theo Kinh Thánh không thể quyết định khoảng thời gian đúng là bao nhiêu giữa sự chết của Phi-nê-a và lúc nhậm chức của Hê-li, và có điều gì khiến cho chức thầy tế lễ thượng phẩm từ trong đời Ê-lê-a-sa chuyển sang dòng dõi Y-tha-ma. Sử gia Josèphe quyết rằng cha của Bu-ki, mà sử gia gọi là Giô-sép, và A-bi-ê-xe, tức là A-bi-sua là thầy tế lễ thượng phẩm cuối cùng của dòng Phi-nê-a trước Xa-đốc. Nếu A-bi-sua chết để lại con hoặc cháu chưa đến tuổi, Hê-li, vì đứng đầu dòng dõi Y-tha-ma, lẽ tự nhiên có thể trở nên thầy tế lễ thượng phẩm, hoặc có lẽ được cử ra bởi các trưởng lão. Nếu A-hi-gia và A-hi-mê-léc không phải là những tên thay đổi cùng một người thì chắc là anh em, và cả hai đều là con của A-hi-túp. Vậy những thầy tế lễ thượng phẩm trước đời Đa-vít có thể quyết định với số 8, mà 7 người được nói đến trong Kinh Thánh là thầy tế lễ thượng phẩm, và còn một là A-bi-sua chỉ bởi sử gia Josèphe định thế thôi.

b) Qua đến hàng thứ hai (là thời kỳ từ Đa-vít đến phu tù), khởi sự với tình cảnh khó giải quyết là có hai thầy tế lễ trong đời vua Đa-vít dường như cũng gần ngang nhau về phép tắc, tức là Xa-đốc và A-bia-tha (ISử 15:11) Có thể đúng là sau khi A-hi-mê-léc chết, và A-bia-tha bỏ mà đi với Đa-vít, Sau-lơ có lẽ đã tôn Xa-đốc làm thầy tế lễ, và khi Đa-vít lên ngôi muốn tránh sự khó quyết định giữa bạn trung tín là A-bia-tha và người đồng minh mới và quan trọng là Xa-đốc, thì cử cả hai người làm chức thầy tế lễ chung, mà chức vụ đó trước đây đã ở với A-bia-tha vì đã có ê-phót, U-rim và Thu-mim rồ Điều khó lớn nhứt ta gặp trong sự xem xét các thầy tế lễ thượng phẩm theo lịch sử ở hàng thứ hai là nói chắc ai là thầy tế lễ thượng phẩm trong dịp lễ khánh thành Đền thờ Sa-lô-môn. Sử gia Josèphe nói rằng ấy là Xa-đốc, và Seder Olam đã cử người làm thầy tế lễ trong đời Sa-lô-môn; nhưng trong ICác 4:2 nói rõ và ISử 6:10 chép về A-xa-ria: “là kẻ làm chức tế lễ trong đền vua Sa-lô-môn đã xây ở thành Giê-ru-sa-lem, ” điều đó rõ ràng chỉ về lúc Đền thờ mới hoàn thành. Bởi đó, chúng ta khó lầm khi nói rằng A-xa-ria, con trai A-hi-ma-ách, là thầy tế lễ thượng phẩm thứ nhứt của Đền thờ Sa-lô-môn. Các thầy tế lễ thuộc hàng nầy tận cùng với Sê-ri-gia, là người đã bị Nê-bu-xa A-đan bắt làm phu tù, và bị Nê-bu-cát-nết-sa giết tại Ríp-la cùng với Sô-phô-ni là thầy phó tế (hoặc Sagan) sau khi thiêu Đền thờ và cướp lấy khí dụng thánh (IICác 20:18). Con của Sê-ra-gia, Giô-xa-đác, là cùng thời gian đem đi làm phu tù (ISử 6:15). Thời gian các thầy tế lễ thượng phẩm nầy hành chức là độ 454 năm, tính trung bình hơn 25 năm cho mỗi thầy tế lễ. Cũng đáng chú ý, không một lần nào được chép về sự cầu hỏi bởi U-rim và Thu-mim sau thời của Đa-vít. Chức vụ của các tiên tri dường như được thế cho chức thầy tế lễ thượng phẩm (Xem IISử 15:1-; 18:1-; 20:14, 15; IICác 19:1, 2; 22:12-14; Giê 21:1, 2).

c) Một thời gian chừng 52 năm qua giữa các thầy tế lễ thượng phẩm ở hàng thứ hai và hàng thứ ba, trong khoảng đó không có hoặc Đền thờ, hoặc bàn thờ, hoặc hòm giao ước, hoặc thầy tế lễ. Giô-xa-đác như trong A-ghê chép (1:1, 14v.), được tiếp nối chức vụ thầy tế lễ của cha mình là Sê-ra-gia, song chết tại Ba-by-lôn. Giê-hô-sua, con Giô-xa-đác, là người có nói đến luôn trong E-xơ-ra, Nê-hê-mi, A-ghê và Xa-cha-ri, và bởi đó người là thầy tế lễ đứng đầu hàng thứ ba và cuối cùng, được tôn trọng đặc biệt bởi sự cộng tác sốt sắng với Xô-rô-ba-bên mà dựng lại Đền thờ, và lập lại tài sản chung của Y-sơ-ra-ên đã sút kém. Dưới sự cai trị của Sy-ri, chức thầy tế lễ thượng phẩm phải hạ xuống rất hèn hạ bởi sự bội đạo và các tội trọng của Onias và Menelaus, con của Ê-lê-a-sa, và sau một thời kỳ nghỉ 7 năm thì có Alcimus hành chức tế lễ ngắn ngủi, song cũng vô giá trị. Một cuộc tiếp nối mới và vinh hiển của chức thầy tế lễ thượng phẩm dấy lên từ chi họ Asmonéen, là các thầy tế lễ liên kết chức quyền của quan cai trị công dân với chức quyền của thầy tế lễ, và có một thời gian là các vua độc lập. Chi họ Asmonéen là các thầy tế lễ về ban thứ Giê-hô-gia-ríp, ban thứ nhứt trong số 24 (ISử 24:7) mà sự trở về của họ từ Ba-by-lôn được chép ở ISử 9:10; Nê 11:10. Có lẽ chi họ nầy thuộc về nhà Ê-lê-a-sa dầu không thể quyết chắc. Dòng dõi Asmonéen cứ còn lại từ năm 153 T.C. cho đến bị hủy hại bởi sự chia rẽ bên trong, và sau bị Hê-rốt Đại đế tiêu diệt. Aristobulus, là thầy tế lễ cuối của dòng dõi nầy, anh của Mariamne, bị giết vào năm 35 T.C. bởi Hê-rốt, anh rể người. Không ít hơn 28 thầy tế lễ thượng phẩm từ đời trị vì của Hê-rốt cho đến khi Giê-ru-sa-lem bị hủy phá bởi Titus. Một thời gian chừng 107 năm, Tân Ước giới thiệu với chúng ta một số ít thầy tế lễ về sau và hay thay đổi, như An-ne, Cai-phe và A-na-nia. Théophilus, con trai Ananus là thầy tế lễ cả mà Sau-lơ nhận thơ ở Đa-mách (Công 9:1, 14). Phannias, là thầy tế lễ chót, được cử bằng thăm bởi phái Xê-lốt từ ban thứ các thầy tế lễ mà Sử gia Josèphe gọi là Eniachim (có lẽ là Jachim).

Tiến sĩ Scofield chú thích về thầy tế lễ thượng phẩm như sau nầy:

Xuất 29:5.– Bộ áo của thầy tế lễ thượng phẩm mặc gồm:

Áo lá.– (Xuất 28:39) là áo dài của phương Đông mặc sát vào người, làm bằng vải gai mịn (Xuất 27:9).

Áo dài của ê-phót.– (Xuất 28:31-35) là một áo dài không có đường khâu bằng vải gai màu tím với một lỗ khoét ở trên đầu, mặc ở trên “áo lá.” Các trái lựu, hình bóng sự kết quả, được thêu ở nơi viền trôn áo bằng màu tím, đỏ điều, đỏ sậm, xen vào giữa các chuông bằng vàng, hình bóng sự làm chứng, và phát ra âm thanh khi thầy tế lễ ra vào nơi thánh. Áo dài được thắt chặt bởi một dây lưng thêu.

Ê-phót.– (Xuất 28:5-12) sau được mặc đến. Mặc áo ngắn làm bằng vải gai, thêu bằng kim tuyến, chỉ tím, đỏ điều, và đỏ sậm, ê-phót gồm có hai miếng trước và sau, hiệp lại bởi hai miếng ở trên vai, và bởi một băng ở dưới cùng. Có hai viên bích ngọc, nạm bằng vàng, buộc trên các miếng ở vai của ê-phót, được khắc tên của 12 chi phái. “A-rôn sẽ mang tên của họ trên vai (chỗ của sức lực) mình làm kỷ niệm trước mặt Đức Giê-hô-va” (so Ês 9:6; Lu 15:4, 5).

Bảng đeo ngực là một túi vuông (Xuất 28:16) bằng vải gai đựng U-rim và Thu-mim (Xuất 28:30, lời chua). Buộc vào túi vải gai hình bầu dục đó, gồm có bốn hàng ngọc báu, mỗi hàng ba viên, với tên của mười hai chi phái khắc ở trên, mỗi viên đá có một tên chi phái. Bảng đeo ngực với những hàng ngọc quí đó được buộc vào những góc bên trên các miếng ở trên vai ê-phót bằng những sợi dây vàng. Những khoen vàng cũng được khâu ở trên ê-phót và băng đeo ngực, và bảng đó được buộc chắc vào ê-phót bởi những dây màu tím luồn qua các khoen. Hết thảy được gọi là “bảng đeo ngực của sự xét đoán” vì được mang bởi thầy tế lễ thượng phẩm khi đoán xét việc kiện cáo của dân sự (Xuất 28:30, lời chua).

Mũ (hoặc khăn) bằng vải gai mịn (Xuất 28:37) để che đầu, đeo ở trên trán có một thẻ bằng vàng khắc chữ, “Thánh cho Đức Giê-hô-va” (28:36).

Thêm vào những đồ ở trên có một quần lót bằng vải gai, “mặc từ ngang lưng cho đến bắp vế” (Xuất 28:42).

“Áo” và quần lót bằng vải gai được làm cho thầy tế lễ, cũng là các bộ áo thường của thầy tế lễ thượng phẩm và các thầy tế lễ, phân biệt với các bộ áo khác, là đồ để “được vinh hiển và trang sức.”

Xa 6:11.– Theo sau các sự phán xét trái đất mà những cổ xe ngựa làm hình bóng (Xa 6:1-8) đến sự tỏ ra của Đấng Christ trong nước vinh hiển Ngài (câu 9-15). Đây là thứ tự tiên tri không thay đổi: trước nhứt là những sự phán xét thuộc ngày của Chúa (Ês 2:10-22; Khải 19:11-21), kế đến nước (so Thi 2:5 với Thi 2:6; Ês 3:24-26 với 4:2-6; 10:33, 34 với 11:1-10; Khải 19:19-21 với 20:4-6). Điều nầy được tỏ ra cách hình bóng bởi sự đội mão triều cho Giê-hô-sua, không phải là một sự hiện thấy, song thật là việc xảy ra (so Ês 8:3, 4; Êxê 37:16-22). Sự ứng nghiệm trong Nhánh sẽ vượt qua ý nghĩa hình bóng. Ngài “sẽ được sự oai nghiêm” (câu 13; Mat 16:27; 24:30; 25:31) như Thầy tế lễ kiêm chức Vua trên chính ngôi của Ngài (câu 12, 13; Hêb 7:1-3). Đấng Christ nay làm Thầy tế lễ, song vẫn còn ở trong bức màn nơi chí thánh (Lê 16:15; Hêb 9:11-14, 24), và ngồi trên ngôi của Cha (Khải 3:21). Ngài chưa đi ra mà nhận ngôi vị Ngài (Hêb 9:28). Những mão triều thiên làm ra để chỉ bóng sự phong chức của Giê-hô-sua phải giữ trong Đền thờ làm kỷ niệm hầu cho hy vọng lớn hơn đó của Y-sơ-ra-ên cứ sống.

Sáng 14:18.– Xem bài “Jêsus Christ.”

Hêb 5:6.– Xem bài “Mên-chi-xê-đéc.”

Lên đầu trang