Month. Mois.
Trong xứ Ai-cập, người Y-sơ-ra-ên đã quen với một năm có 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, cộng thêm 5 ngày để hiệp đúng với năm dương lịch là 365 ngày, và trong truyện Nước lụt những tháng được tính là 30 ngày (Sáng 7:11, 24; 8:3, 4). Dầu vậy, người Hê-bơ-rơ sau đó có dùng âm lịch. Điều đó có thể thấy bởi: (1) Hai lời chỉ về tháng dùng với ngày trăng mới và thời gian tuần hoàn của mặt trăng, và chỉ về độ vốn có trước. (2) Bởi những câu như Sáng 1:14; Thi 104:19; (3) Bởi sự giữ ngày trăng mới với các của lễ đặc biệt cho Đức Giê-hô-va (Dân 10:10; 28:11-14; IISử 2:4); và (4) Sự tương hợp giữa lễ Vượt qua bao giờ cũng cử hành vào chiều tối ngày 14 tháng đó và ngày trăng tròn (Thi 81:3-5). Xem bài Năm. Thời gian hồi chuyển của mặt trăng tính trung bình là 29 và 30 ngày thay đổi nhau. Dầu vậy khi nói về một tháng thường chỉ 30 ngày (so Dân 20:29; Phục 34:8 với 21:13). Những tháng thường được phân biệt bởi số. Mỗi tháng đều có tên gọi riêng, như tháng giêng gọi là tháng lúa trỗ (Xuất 12:2, 18; 13:4), hoặc tháng Nisan (Êxơ 3:7), tháng hai là tháng Xip (ICác 6:1), tháng ba là tháng Si-van (Êxơ 8:9), tháng tư là tháng Tham-mu (Êxê 8:14); tháng năm là tháng Ab (Xa 7:3); tháng sáu là tháng Ê-lun (Nê 6:15); tháng bảy là tháng Ê-tha-ninh (ICác 8:2); tháng tám là tháng Bu-lơ (ICác 6:38; tháng chín là tháng Kít-lơ (Nê 1:1; Xa 7:1), tháng mười là tháng Tê-bết (Êxơ 2:16); tháng mười một là tháng Shebat (Xa 1:11); tháng mười hai là tháng A-đa (Êxơ 3:7). Ba năm lại có một tháng nhuần. Ban đầu không chia ra tháng đủ và tháng thiếu, sau thì cho 29 ngày là tháng thiếu 30 ngày là tháng đủ. Xem bài Niên Lịch.