Thần quyền

Theocracy. Théocratie.

Josèphe bắt đầu dùng chữ thần quyền để mô tả chính phủ được thiết lập tại núi Si-na-i. “Đấng lập pháp của chúng ta… truyền lịnh cho chính phủ chúng ta trở nên điều mà tôi có thể gọi bằng một danh từ sát nghĩa là thần quyền, vì xưng nhận quyền thế và phép tắc là thuộc Đức Chúa Trời.” Giê-hô-va là Đầu của dân tộc, ngự ở giữa các chê-ru-bin (Xuất 25:22). Hết thảy quyền phép của quốc gia: lập pháp, hành chính, tư pháp đều hiệp lại trong Ngài. Như Đấng lập pháp, Ngài công bố luật nền tảng của quốc gia cho Hội chúng nghe. Sau sự tỏ mình ra cách trực tiếp đó cho dân tộc, Ngài hành chức của chính phủ qua những người Ngài đã dấy lên. Giống như mọi quan trưởng, Ngài ủy nhiệm chức vụ tư pháp cho hầu hết các quan xét, chỉ những vấn đề rất khó mới nhờ cậy đến Đức Giê-hô-va (Xuất 18:19). Về chức vụ lập pháp thì Ngài dùng Môi-se và các đấng tiên tri (Phục 18:15-19). Sự lập pháp là từng hồi, từng lúc; toàn thể luật pháp đã ban cho là một bộ luật đầy đủ, và hiếm khi cần sửa đổi hoặc mở rộng. Những chức phận thông thường giống như vậy được thi hành trong nhiều năm bởi các lãnh tụ, gọi là quan xét, là những người thỉnh thoảng Chúa đã dấy lên, và được công nhận bởi những việc lớn lao đã làm bởi tay họ, để làm vững sự tin cậy của dân chúng và họ trở nên người cầm đầu trong các việc quốc gia.

Thần quyền được đề xướng bởi Đức Chúa Trời tại núi Si-na-i có điều kiện là phải vâng phục (Xuất 19:4-9). Những đề nghị được nhận bởi các trưởng lão của dân sự (câu 7, 8). Mười điều răn hợp thành nền tảng của giao ước được công bố bởi chính Đức Giê-hô-va bằng cách cho cả dân sự có thể nghe (Xuất 20:1, 19, 22; Phục 4:12, 33, 36; 5:4, 22), hầu cho họ có thể tin được (Xuất 19:9). Vì dân sự xin, các phần luật pháp còn lại, là ứng dụng thực hành và giải nghĩa mười điều răn, không được Đức Chúa Trời phán trực tiếp với họ, nhưng bởi Môi-se (20:18-21). Kế đến giao ước được công nhận. Môi-se viết mọi lời của Chúa, lập một bàn thờ và mười hai cột trụ, truyền dâng hy sinh, và rảy nửa phần huyết trên bàn thờ. Môi-se đọc sách của giao ước trong chỗ dân sự nhóm lại nghe, và khi nhận cách đúng phép, thì rảy phần huyết còn lại trên dân sự, nói rằng: “Đây là huyết của giao ước Đức Giê-hô-va đã lập cùng các ngươi y theo mọi lời nầy” (24:3-8). Thần quyền được lập như vậy.

Sách nầy của giao ước gồm có hiến pháp và các luật sớm nhứt của Y-sơ-ra-ên. Mười điều răn hợp lại thành luật nền tảng của quốc gia. Theo lối suy tưởng và danh từ đời nay, thì đáng gọi là hiến pháp; theo ý của người Hê-bơ-rơ mười điều răn thật là một giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân sự. Có một hòa ước, không phải giữa nhiều hội chúng, song giữa hội chúng và Đức Chúa Trời. Đã là luật căn bản, thì mười điều răn được khắc trên đá và để trong hòm giao ước; và gọi là giao ước (Phục 4:13; 9:9, 11; ICác 8:9-21; cũng xem Dân 10:33; Quan 20:27; ISa 4:3), hoặc lời chứng (Xuất 31:18; 32:15, v.v.). Những luật theo sau mười điều răn là những phần nhỏ phụ hoặc điều lệ. Những điều lệ đó là hiến pháp, không gồm có nguyên tắc nào trái với luật pháp đã tổ chức của quốc gia; cốt để giải nghĩa, vì là ứng dụng những lẽ đạo về hiến pháp đối với những việc hằng ngày; hiến pháp là tạm thời, vì có thể hủy bỏ, sửa lại, hoặc thêm lên để hợp với những địa vị mới và sự cần dùng riêng cho mỗi đời. Những điều lệ đó trình ra theo hình thức một bộ luật, không phải là tập sưu tầm những điều lệ rời rạc, nhưng đã được sắp đặt thứ tự hẳn hoi. (1) Luật về lối thờ phượng (Xuất 20:23-26). (2) Luật binh vực quyền lợi của người:

  1. a) Bảo vệ tự do (21:2-11). b) Về sự làm hại cho nhân dân (12-36). c) Về những quyền thuộc tài sản (22:1-17). (3) Luật về sự cai trị hành vi riêng (22:18-23:9). (4) Luật về những mùa thánh và dâng của lễ (10-19). (5) Lời hứa phụ thêm (20-33).

Khi lập chính phủ thần quyền tại núi Si-na-i, ý dân sự là chỉ Đức Chúa Trời là Đấng cai trị, và Môi-se là người đại diện Ngài được công nhận, qua Môi-se Chúa hành quyền lập pháp, tư pháp, và hành chính. Môi-se đã có các quan xét phụ giúp đỡ (Xuất 18:21-26), và cuối thời kỳ ở nơi đồng vắng có lời hứa về sự lập pháp tương lai được ban cho, ấy là sự khải thị tiếp tục của ý muốn Đức Chúa Trời (Phục 18:15-19). Môi-se cũng trông đợi Đức Chúa Trời sẽ chỉ định những lãnh tụ kế tiếp mình, và cuối cùng, vì cớ dân sự thiếu đức tin, thì cần lập một vua như là đại biểu hữu hình trên đất giữ quyền hành chính khi dân sự đã cư ngụ trong xứ Pha-lê-tin. Bởi đó, một luật chung về vua được thảo ra (27:14-20).

Sự bền vững của quốc gia dưới hình thức chính phủ thần quyền là nhờ ở sự thành tín của Đức Chúa Trời, và lời hứa của Ngài; nhưng sự thành công của thần quyền trong bất cứ thời kỳ nào, phải nhờ thái độ của dân sự đối với Đức Chúa Trời và những sự chuẩn bị của giao ước. Điều cốt yếu là dân sự phải vâng phục và nhờ cậy Đức Chúa Trời. Thần quyền căn cứ vào ý Y-sơ-ra-ên như một hội chúng. Y-sơ-ra-ên được chia làm 12 chi phái, liên lạc bởi huyết thống chung, và tiếng nói chung, chịu sự khổ sở chung, và sự cần dùng chung. Y-sơ-ra-ên cứ theo đuổi mục đích lớn bởi sự hăng hái và trông đợi của một người đã tỉnh ngộ, bởi hy vọng tự do và được xứ Chúa hứa ban cho bởi lời hứa và chứng cớ Đức Chúa Trời bảo hộ. Bởi sự định trước của Chúa, Y-sơ-ra-ên hiệp một. Hết thảy những phần tử hợp nhứt đó trong sợi dây liên hiệp, có phần tử cuối cùng là yếu đuối, nên dây liên lạc bị đứt đoạn luôn luôn. Thiếu sức mạnh của sự đoàn kết là một sự ngăn trở thần quyền mà cả đến nền quân chủ lập nên cũng không gây dựng được.

Tiến sĩ Scofield chú thích về thần quyền như sau nầy:

Exơ 6:14.– Sự thờ phượng Đức Giê-hô-va lại được lập như vậy trong Giê-ru-sa-lem song thần quyền không được lập lại. Dân sót từ sự phu tù tại Ba-by-lôn trở về, sống ở trong xứ bởi dân ngoại cho phép; dầu việc đó chắc là bởi sự săn sóc va lo liệu trước của Đức Giê-hô-va cho đến khi Đấng Mê-si đến và bị đóng đinh bởi lính của cường quốc thứ tư trên thế gian (La-mã, Đa 2:40; 7:7). Khỏi ít lâu (70 S.C.) La-mã hủy diệt thành và đền thờ. Xem “thời kỳ dân ngoại” (Lu 21:24; Khải 16:14).

Lên đầu trang