Lamentation, bereavement, mourning. Lamentation, Deuil.
Sự than khóc của người phương Đông xưa và nay có tính cách phô trương. Những sự bày tỏ trước công chúng về sự buồn bã, là cất bỏ những đồ trang sức và đày đọa thân thể (Xuất 33:4; IISa 14:2; 19:24; Mat 6:16, 18), xé áo và rạch áo dài ở cổ họng, hoặc xé áo trong, áo ngoài (Lê 10:6; IISa 13:31; Giôên 2:13), cạo đầu và nhổ tóc (Exơ 9:3; Giê 7:29), mặc bao (Giôên 1:8), vải tro hoặc bụi đất lên đầu (IISa 15:32), kiêng ăn (Thi 35:13), khóc lóc và than thở (Giôên 1:8, 13). Cũng có mấy cách bày tỏ khác như mặc áo đen, hoặc màu buồn bã (IISa 14:2; Giê 8:21), để trần một phần thân thể (Ês 20:2; 47:2, v.v.;), nhịn đói, hoặc kiêng thịt và uống (IISa 1:12; 3:35; 12:16, 22, v.v.). Cũng sự chỉ dạy đó nói đến sự giảm bớt của lễ cho Đức Chúa Trời, và cấm không được dự phần vào huyết con sinh (Lê 7:20; Phục 26:14), che “môi trên” tức là phần dưới của mặt, có khi che đầu, để làm dấu sự yên lặng (Lê 13:45; IISa 15:30; 19:4). Cắt thịt (Giê 16:6, 7; 41:5), ngồi hoặc nằm yên lặng tỏ sự buồn bã (Sáng 23:3; Quan 20:26). Một số trong các cách bày tỏ đó thường làm luôn một lúc (Sáng 37:34; IISa 3:31, 32; 13:19; 15:32; Exơ 9:3, 5; Gióp 1:20; Giê 41:5). Bạn bè đến nhà có tang chế, cũng có những người thổi sáo và những kẻ khóc mướn nhứt là các người đàn bà, thì than khóc lớn tiếng (Giê 9:17, 18; Mat 9:23; Công 9:39). Như ngày nay, người ta cũng đãi tiệc cho đoàn dân dự vào đám tang (Giê 16:7), và có trao chén chia buồn. Sau cuộc mai táng, những người đàn bà đến rất sớm hôm sau để viếng mộ, như nay vẫn có thói quen như vậy. Họ cầu nguyện, khóc lóc, thổn thức, hoặc hát và đấm ngực (Mác 16:1, 2). Có nhiều người trong bọn họ làm như vậy là bởi nghề nghiệp khóc mướn, còn người khác là những người thật sự buồn bã, những quyến thuộc của người quá cố, và những bạn hữu thân thiết (Giăng 11:31). Những thói tục giống như thế có nhiều trong xứ Ai-cập, Ba-tư và Sy-the.
Thời gian tang chế có thay đổi: 30 ngày cho A-rôn và Môi-se (Dân 20:29; Phục 34:8), và 7 ngày cho Sau-lơ (ISa 31:13). Những người Ai-cập để tang Gia-cốp 70 ngày, và 7 ngày biệt riêng cho cả công chúng than khóc người tại sân đạp lúa của A-tát (Sáng 50:3, 10).
Luật pháp cấm người Na-xi-rê và thầy tế lễ thượng phẩm đến dự tang chế dầu là cha hoặc mẹ (Lê 21:10, 11; Dân 6:7). Các thầy tế lễ thường thì hạn chế tùy theo là quyến thuộc gần hay xa (Lê 21:1, 2, 4). Các vật thực ăn trong kỳ tang chế bị kể là không sạch (Phục 26:14; Giê 16:5, 7; Êxê 24:17; Ôs 9:4).
Lane nói về người Ai-cập hiện đại, có viết: “Khi có người chết, đàn bà trong gia quyến cất tiếng khóc thảm thiết gọi là welweléh, kêu tên người chết: “Ôi chủ tôi, ôi sự cứu giúp tôi, tai hại cho tôi! ôi sự vinh hiển tôi” (xem Giê 22:18). Những người đàn bà lân cận cũng đến mà đồng thanh kêu như thế. Cũng cho gọi hai hoặc ba người đàn bà khóc thuê đến. Mỗi người đem một cái trống cơm, đánh và kêu lên: “Tội nghiệp cho ông (hoặc bà).” Những đàn bà ở trong gia tộc, đầy tớ, bạn bè, đầu tóc rối bù và có khi xé áo, đánh mặt và kêu lên giống như vậy. Những bà đó không thay đổi quần áo nhưng có khi nhuộm áo lót, lúp trên đầu, và khăn tay bằng màu xanh thẫm, tùy theo thời gian đã ấn định, họ đi tảo mộ”.