Tham lam

 Greedy, dishonest gain (NIV), covetousness (KJV). Convoitise.

Tham lam gồm có ba nghĩa: (1) Lấy của phi nghĩa (Xuất 18:21; Êxê 33:31). (2) Muốn có nhiều hơn điều mình có, cách quá đáng (Lu 12:15; ITê 2:5). (3) Quá ham tiền bạc (Lu 16:14; IITi 3:2; ITi 6:10; mặt trái xem Hêb 13:5).

Tham của cải, có kể vào trong hàng mười điều răn. Vậy, tham lam cũng là một tội nặng (Xuất 20:17; Phục 5:21). A-can phạm tội đó, cả nhà bị diệt (Giô 7:16-26). Cựu Ước thường nói tới cái hại của việc tham của (Thi 10:3; 119:36; Châm 10:19; 21:26; 28:19, 22; Ês 57:17; Giê 51:13; Mi 2:2; Ha 2:9). Chúa Jêsus hằng trách người tham của; nhứt là đối với người Pha-ri-si, Ngài càng trách nặng hơn (Lu 16:14). Ngài lại phán: “Tà dâm, tham lam, hung ác hết thảy những điều xấu xa ấy ra từ trong lòng” (Mác 7:22). Ngài có răn dạy mọi người rằng: phải giữ mình, thớ tham lam (Lu 12:15). Phao-lô nói: “Sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác” (ITi 6:10). Lại nói: Tham lam và thờ hình tượng cũng cùng một tội (Êph 5:3-5; Cô 3:5; Rô 1:29; ICôr 6:10). Trong Hội Thánh, có khi có kẻ “Bởi lòng tham lam, lấy lời dối trá khoét anh em” (IIPhi 2:3). Vậy, chỉ những người không tham lam mới được làm chức giám mục (ITi 3:3). Phao-lô nói mình giảng đạo không hề tham của (ITê 2:5; Công 20:33; IICôr 2:17; 7:2; 12:17). Lại nói: “Nếu luật pháp không nói: Ngươi chớ tham lam, thì tôi đã không biết sự tham lam” (Rô 7:7).

Những gương xấu về tham lam là: A-can (Giô 7:1-), Sau-lơ (ISa 15:9, 19), Giu-đa (Mat 26:14, 15), A-na-nia và Sa-phi-ra (Công 5:1-11), Ba-la-am (IIPhi 2:15 với Giu 11).

Lên đầu trang