Tên riêng Proper noun. Nom propre.
Trong thời chép Kinh Thánh, tên người không những chỉ có nghĩa, song như một luật, mỗi người nghe đến tên thì biết nghĩa ngay, không cần đọc về nguyên ý tên đó. Sa-ra, Gia-cốp, Mi-ri-am, Giô-sa-phát, Ma-thê, Rô-đơ, Đô-ca nghĩa đều rõ cho hết thảy.
Người Hê-bơ-rơ có lẽ đặt tên cho con vào ngày thứ tám từ lúc mới sanh (Sáng 17:12; 21:3, 4; Lu 1:39; 2:21). Có thể đặt cho đứa trẻ tên của một vật thiên nhiên, như: Ta-rách (dê rừng); Lê-a (bò rừng), Giô-na (bồ câu); Tha-ma (cây kè); Ta-bi-tha (hoàng dương). Có thể là một tên bày tỏ điều kiện hình thức, thí dụ: Siếp-ra (tốt đẹp); hoặc nguyện vọng của cha đối với con, như Nô-ê (yên nghỉ) (Sáng 5:29). Có tên được đặt theo ý tiên tri, như tên Jêsus, vì Ngài sẽ làm Cứu Chúa (Mat 1:21). Có nhiều tên chứng thực lòng mộ đạo, biết ơn của cha mẹ, như Si-mê-ôn (đang nghe) (Sáng 29:33), hoặc Nê-tha-nia (Chúa Giê-hô-va đã cho), hoặc Ê-lít-su (Đức Chúa Trời là vầng đá). Có các tên khác dùng để ghi nhớ các biến động của quốc gia, như Y-ca-bốt (ISa 4:21); còn các tên khác là thuộc họ hàng (Lu 1:59-61 so 3:23, 28). Khi tính nết đã được thay đổi tốt hơn thì có thể đặt một tên khác để bày tỏ ra; như Y-sơ-ra-ên và Sê-pha.Về sau, khi trong Pha-lê-tin sử dụng nhiều tiếng khác nhau, thì có khi tên được dịch ra, và người có hai tên để gọi, như Sê-pha theo tiếng Aramaique, và Phi-e-rơ, tiếng Hy-lạp, Thô-ma và Đi-đim, cả hai tên cũng có nghĩa là sanh đôi; Mê-si và Christ cả hai đều có nghĩa là xức dầu. Vào hồi đó, cũng có tên được thay đổi như tên Hê-bơ-rơ, Giô-ha-nan thành tên Hy-lạp Giô-a-nan, và Giô-sép thành Giô-sê.
Các biệt danh không có trong vòng người Hê-bơ-rơ, muốn phân biệt rõ người nào chỉ thêm vào tên người, tên thành, như Jêsus ở Na-xa-rét, Giô-sép ở A-ri-ma-thê, Ma-ri Ma-đơ-len, Na-hum người Ên-cốt; hoặc bởi cách chỉ rõ thuộc dòng dõi nào, như Si-môn, con Giô-na; bởi tâm tính, nghề nghiệp, hoặc các nét đặc biệt khác, như Si-môn Phi-e-rơ, Na-than, đấng tiên tri, Giô-sép, thợ mộc, Ma-thi-ơ, người thâu thuế, Si-môn Xê-lốt, và Đê-ni, quan tòa nơi A-rê-ô-ba. Mỗi người La-mã có ba tên: praenomen, là tên riêng đứng trước, nomen, là tên người quyến thuộc, hoặc nhà, đứng thứ nhì, và cognomen hoặc biệt danh, là tên của họ hàng đứng sau hết. Như vậy, M.Antonius Phê-lít, quan tổng đốc, là Marcus, thuộc thị tộc Antonia, và họ gọi là Phê-lít. Thường chỉ ghi nomen và cognomen, còn tên riêng thì bỏ qua như Jules César, Bôn-xơ Phi-lát, Cơ-lốt Ly-sia.
Tên trong tiếng Hê-bơ-rơ cũng có khi dùng để bày tỏ tánh nết và những thuộc tánh quan trọng. Đức Chúa Trời đã thề bởi danh Ngài làm trọn ý định Ngài (Giê 44:26), tức là Ngài thề bởi quyền phép chứng thực làm trọn lời Ngài. “Danh Chúa được sang cả trên khắp trái đất” (Thi 8:1), là câu văn bày tỏ sự hiện hữu Ngài được giải tỏ trong cuộc sáng tạo và cuộc cứu chuộc. Danh Đức Chúa Trời của Gia-cốp tôn vua lên cao (Thi 20:1) là quyền phép tỏ ra của Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên. Danh Đức Chúa Trời ở trong vị thiên sứ dẫn dắt Y-sơ-ra-ên qua đồng vắng (Xuất 23:21) vì trong thiên sứ đó, ngự sự cao sang của chính Đức Chúa Trời. Danh Đức Chúa Trời ở trong nơi thánh Ngài (IISa 7:13); nơi mà Ngài tỏ mình ra. Biết danh Đức Chúa Trời là làm chứng sự tỏ ra của thuộc tánh và hiểu được đức tánh mà danh đó tỏ ra (Xuất 6:3 với 7; ICác 8:43; Thi 91:14; Ês 52:6; 64:2; Giê 16:21).