Tế lễ hoặc Cúng tế Sacrifice. Sacrifice.
I. Ý nghĩa tế lễ.– Trong Cựu Ước luận về tế lễ, đại ý là cung phụng, dâng biếu. Còn tôn chỉ cúng tế thì có thể gồm tóm trong ba điều nầy: cầu phước, tránh cơn giận, và tạ ơn. Về việc cúng tế, cả thế gian nói chung đều làm giống nhau; duy sự dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời là khác thôi. Như Sáng 4:4 tt so với 11:4 làm chứng “A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in, và được xưng công bình.” Xét lịch sử thì biết việc tế lễ đời thượng cổ không nhứt định làm vào một chỗ nào; của lễ thì giản dị mộc mạc, nhưng tấm lòng của người dâng tế lễ là hăng hái sốt sắng. Bất luận thời nào, không ai không lấy sự dâng của lễ để tỏ lòng tôn kính Đức Chúa Trời, và nhờ đó mà giao thông với Đức Chúa Trời, và mong được tha tội. Kinh Thánh chép rằng: “Lại chẳng ai nên tay không đến trước mặt ta” (Xuất 23:15; 34:20). Vì vậy, người Y-sơ-ra-ên có tế lễ trong một ngày (Xuất 29:38; IICác 16:15), trong một năm (ISa 20:6), trong một tiết (Xuất 23:14; 34:22), cùng là những việc như lập vua, mời khách, cưới, làm phép cắt bì, dứt sữa, đổi chỗ ở (Phục 20:5), lập giao ước (Sáng 34:54), khai chiến (ISa 7:7-17), và việc thề nguyện đã nên trọn (Sáng 28:20-22; ISa 1:11; IISa 15:7) đều có tế lễ cả.
II. Tên các của lễ.– Danh sách các của tế lễ như Cựu Ước đã nói, đại để là tùy theo hình thức và lý do khi dâng của tế lễ mà đặt ra. Kể tóm tắt có 14 thứ sau:
1. Của lễ thiêu.– (Lê 1:3-17; 6:8-12; Xuất 29:15-18). Theo tiếng Hê-bơ-rơ, thì của lễ thiêu có nghĩa là “khói hương xông lên.” Của lễ thiêu là quan trọng nhứt trong các của lễ. Các vật dâng lên đều phải thiêu hết trên bàn thờ. Ý nghĩa bóng chỉ sự thờ phượng đầy đủ: tức gồm cả thờ phượng, sùng bái, kính dâng, cầu ơn, và đồng thời sự chuộc tội.
2. Của lễ các con sinh dâng trọn.– (Thi 51:19), là của lễ phải thiêu hết trên bàn thờ.
3. Của lễ chay.– (Lê 2:1-; 6:14-23). Theo tiếng Hê-bơ-rơ thì nghĩa là đem “quà lễ” cho ai vì muốn người đó đối đãi tử tế với mình; cũng chỉ dấu về tình bằng hữu (Ês 39:1), một việc tôn kính (ISa 10:27; ICác 10:25), lễ cống (Quan 3:15-17), của lễ dâng cho anh hoặc bạn (Sáng 32:13, 18 so 14:19, Hê-bơ-rơ) để cầu ơn hoặc sự cứu giúp (Sáng 43:11; Ôs 10:6). Trước nhứt trong Sáng 4; 5 chỉ của lễ có huyết và không huyết. Trong đời Môi-se, chỉ hạn chế về ngũ cốc, hoặc để nguyên hoặc rang, xay thành bột và làm bánh lẫn với dầu và nhũ hương. Ngũ cốc là sản vật của công lao người với đất chớ không phải trái cây, v.v… Như vậy, chỉ về những sự cần thiết và kết quả của đời sống, nếu không phải là chính sự sống.
4. Lễ quán.– (Sáng 35:14) là lễ đổ rượu (Xuất 29:40; Ôs 9:4; Phục 32:38), hoặc lễ đổ dầu (Sáng 28:18; Mi 6:7), hoặc đôi khi cũng đổ nước làm tế lễ (ISa 7:6; IISa 23:16).
5. Của lễ thù ân.– (Lê 7:11-21; 28:34; 17:1-9). Có người nói ý nghĩa là Đức Chúa Trời và người hòa thuận nhau; cũng chỉ về những sự giao thông phải lẽ với Ngài, tức sự thông công mật thiết, biết ơn, và nhờ cậy. Châm 7:14.
6. Của lễ cảm tạ.– (IISử 20:21; Am 4:5; Thi 50:14, 23; Lê 7:13-15) có nghĩa là Đức Chúa Trời ban ơn phước đặc biệt nên người nhận ơn dâng của lễ để cảm tạ Ngài.
7. Của lễ thường nguyện.– (Lê 7:16; Dân 15:8) tức là của lễ dâng sau khi việc thề nguyện đã nên trọn.
8. Của lễ lạc ý.– (Lê 22:18, 23; Phục 12:6) tức là của lễ dâng thật lòng để tỏ ý người ta vui vẻ.
9. Của lễ chuộc tội.– (Lê 4:1-5:13; 6:24-30; Xuất 29:11-14; Dân 15:22-29) là của lễ đặc biệt, nói đến trước hết trong luật lệ Môi-se. Ý nghĩa thiết yếu là chuộc tội, cốt để lập lại những sự giao thông bởi giao ước với Đức Chúa Trời. Có hai đặc điểm là: (1) Huyết phải rảy trước nơi thánh, bôi trên các sừng bàn thờ xông hương, và đổ nơi chơn bàn thờ của lễ thiêu. (2) Thịt là thánh, người dâng tế lễ không nên rờ đến, chỉ thầy tế lễ ăn mà thôi. Lễ nghi đặc biệt ngày Đại lễ chuộc tội tập trung ở của lễ nầy.
10 Của lễ mắc lỗi.– (Lê 5:14-6:7; 7:1-7; Dân 5:5-8). Thể lệ dâng của lễ nầy giống với của lễ chuộc tội. Nguyên văn tiếng Hê-bơ-rơ là dâng của lễ nầy để đền bù lại lỗi mình đã phạm với người khác, bày tỏ sự chuộc tội và bồi thường. Các tội cần đến của lễ nầy là: (1) Lỗi phạm đến các vật thánh cách vô ý. (2) Phạm điều răn Luật pháp cấm mà không tự biết. (3) Nói dối cùng kẻ lân cận về đồ vật gởi hay giao cho, hoặc tài vật trộm cắp hoặc giựt của người khác. (4) Thề dối về đồ vật đã mất. (5) Cám dỗ nằm với gái trẻ đã hứa gả cho người khác (Lê 19:20-22). Hai tội đầu là tội phạm không tự biết, còn các tội sau trong Dân 15:30 nói rõ là “cố ý phạm tội, ” (bản Anh dịch là “tay cao, ” tức loạn nghịch với giao ước, thì sẽ không có của lễ nữa). Các tội cố ý nầy buộc phải bồi thường đầy đủ vì phạm đến quyền sở hữu và về vấn đề tiền bạc. Của lễ chuộc tội về phần Đức Chúa Trời để được tha tội, và phải đền bù và thêm một phần năm mới đầy đủ về phần của người bị phạm lỗi. Không được thường như vậy đối với tội phạm cố ý. Về sự cám dỗ nằm với gái trẻ thì phạm đến quyền sở hữu (so Dân 5:5-8; Phục 22:29). Trong Ês 53:10 chép: Tôi tớ Đức Giê-hô-va dâng mạng sống làm “tế chuộc tội” tỏ giá trị của tế lễ nầy.
11. Của lễ lửa.– (Phục 18:1; Lê 2:3, 10; 6:18; ISa 2:28), chỉ về các của lễ dâng bằng lửa; và thường là các của lễ có huyết, song về của lễ chay tức bánh thánh và nhũ hương để trên bàn làm kỷ niệm thì phải đốt một phần với nhũ hương, còn phần lớn thuộc về thầy tế lễ. Của lễ được dâng lên bởi lửa như vậy như một thứ của ăn bằng hơi không thể chất.
12. Của lễ giơ lên.– (Xuất 29:28) tức là giơ lên, hoặc đúng hơn là biệt riêng khỏi phần sót mà dâng. Có người nói danh từ của lễ giơ lên chỉ về trái đầu mùa là thổ sản của đất, và những của cướp trong chiến tranh dâng lên. Các tế phẩm như vai hữu hoặc đùi đều thuộc về thầy tế lễ (Lê 6:17; 7:32).
13. Của lễ đưa qua đưa lại.– (Xuất 29:26; Lê 7:34; 10:14) giống với của lễ giơ lên. Thường ngực là phần của lễ thù ân thuộc về thầy tế lễ được đưa qua đưa lại trước bàn thờ bởi cả người dâng cùng thầy tế lễ (không biết rõ cử động thế nào) chỉ hình bóng rằng của lễ dâng cho Chúa và Ngài ban lại cho người dâng để giúp thầy tế lễ. Cứ như Xuất 35:22, thì có khi của lễ người ta dâng là đồ trang sức. Theo Dân 8:11, 13 thì đại ý chỉ về dâng người Lê-vi.
14. Của lễ kỷ niệm.– (Lê 2:2, 9, 16). Đại khái là dâng của lễ làm kỷ niệm cho Đức Chúa Trời.
III. Các thứ tế lễ.– Danh mục các tế lễ dầu nhiều, nhưng chỉ có năm loại, tức của lễ thiêu, của lễ chay, của lễ thù ân, của lễ chuộc tội, và của lễ chuộc lỗi. Trong năm loại đó cũng có thể chia làm hai: (1) Thiêu trọn vẹn cả trên bàn thờ tức là của lễ thiêu. (2) Không thiêu trọn vẹn cả tức là của lễ chay, của lễ thù ân, của lễ chuộc tội và của lễ chuộc lỗi. Trong loại thứ hai nầy chia làm ba: a) Trừ ra chỗ thịt mà thầy tế lễ đáng được, còn lại thì người dâng lễ vật ăn cả, tức là của lễ thù ân (Lê 7:15-18; 19:5-8; ISa 1:3-7; 9:22-25). b) Thầy tế lễ ăn tại hành lang của hội mạc, tức là của lễ chay, của lễ chuộc lỗi và của lễ chuộc tội thường (Lê 2:3; 6:16, 25, 29; Êxê 42:13; 46:20). c) Thiêu hết con sinh tức là của lễ chuộc tội cần yếu hơn hết (Lê 4:1-; 6:30; Xuất 29:1-25). Của lễ thiêu, của lễ chuộc tội, và của lễ chuộc lỗi cả ba đều chỉ về ý chuộc tội. Nếu ai đã dâng của lễ đó thì mới được chuộc. Của lễ thù ân tức là người dâng tế lễ và Đức Chúa Trời cùng ăn, kẻ dâng tế lễ như là khách quí của Chúa được Ngài ban ơn cho (so 1:7).
IV. Phẩm vật tế lễ.– Theo Lê 1:1–7:1-, thì chia các của lễ làm hai thứ: Mặn và chay. Của lễ mặn thì dùng những vật sạch trong loài súc vật và chim bay (Sáng 8:20). Của lễ chay thì dùng bột mịn, dầu, muối, nhũ hương luôn với lúa và trái đầu mùa (Lê 2:1, 13, 14). Của lễ nào nên dùng phẩm vật nào đều đã có lệ định. Phần nhiều thường dùng bò, chiên, nhưng phải lựa lấy những con chưa đầy năm và không có tì vết (Lê 9:3; 12:6; 14:10; Xuất 29:38). Nếu các con vật dùng làm con sinh tế bị tật và có thương tích đều không được dâng làm của lễ (Lê 22:22). Con vật đó từ lúc mới sinh ra, phải được hơn tám ngày thì mới dâng làm của lễ (Lê 22:27). Nếu dâng của lễ thiêu phải lựa con sinh đực không tì vết. Người nghèo thì thay bằng chim cu, chim bồ câu. Như dâng của lễ thù ân thì bất cứ con sinh đực hay cái đều dùng được cả. Phẩm vật lễ chuộc tội và lễ chuộc lỗi giống với của lễ thiêu. Duy của lễ chuộc tội thông thường thì có thể dùng con mái hay con cái (Lê 4:28, 32). Như dâng của lễ chay thì không nên bỏ men và mật vì men cũng như mật không được đốt để dâng lên Chúa, nhưng nêm thêm muối (Lê 2:11, 13). Lại dùng rượu làm lễ quán (Xuất 29:40). Phẩm vật dâng tế lễ chia làm hai thứ: thánh và chí thánh. Thánh thì như con vật đầu lòng, trái đầu mùa, nộp phần mười, và những vật mà thầy tế lễ được khi làm lễ thù ân. Chí thánh thì như bánh trần thiết (Lê 24:9), hương trước hòm bảng chứng (Xuất 30:36), thứ còn thừa trong của lễ chay (Lê 2:3; 10:12), và thịt con sinh trong của lễ chuộc tội, chuộc lỗi (Lê 6:25, 29; 10:17; Dân 18:9, 10). Theo Lê 6:16; Êxê 42:13; 46:20 đã chép, thì những đồ chí thánh chỉ có thầy tế lễ là được ăn ở nơi thánh thôi. Vì vật đã là chí thánh, thì người ăn đến cũng sẽ nên thánh (so Dân 18:11; Lê 10:14; 22:3, 10-16).
V. Lễ nghi tế lễ.– Xét ISa 2:13-16 chép các qui tắc tế lễ vào thời thượng cổ của người Do-thái ra sao, rất khó biết được kỹ càng đích xác. Bấy giờ, chức thầy tế lễ không trọng yếu lắm. Một người gia trưởng, một vị vua đều có thể tự do dâng của lễ, chớ không cần thầy tế lễ làm thay. Thầy tế lễ chỉ vâng theo ý chỉ Đức Chúa Trời dạy bảo muôn dân, hầu việc đền thờ, thâu lấy phần mình đáng được thôi. Về sau, đặt ra lễ nghi cho thầy tế lễ chuyên coi giữ việc tế lễ, nên lễ càng thêm phiền phức. Người dâng của lễ phải giặt sạch áo mình mới có thể đến bàn thờ được (Xuất 19:10; ISa 16:5). Con sinh dâng tế lễ phải do người coi quản hành lang hội mạc xem xét mới được dâng lên. Lễ nghi tế lễ như dưới đây:
(1) Dắt con sinh đến bàn thờ, giao cho thầy tế lễ. (2) Đặt tay lên đầu con sinh, tỏ ý nó là tế phẩm nên thánh, nhưng không phải tỏ ý lấy con sinh thay người. (3) Giết con sinh ở phía Bắc bàn thờ, trước hết phải vặn cổ nó. (4) Rảy huyết là việc cần yếu hơn hết trong tế lễ. Thầy tế lễ lấy chậu chứa huyết rồi trút trên nền bàn thờ. Nếu muốn tỏ ý lấy con sinh thay người thì rưới huyết ở chỗ gần đền thờ, tức là tỏ ý gần gũi cùng Chúa. Điều trọng yếu hơn hết là lễ chuộc tội trọng thể, lấy huyết rảy trên nắp thi ân ở nơi chí thánh (Lê 16:14, 15). (5) Lột vai, cắt thịt và lấy mỡ (Lê 3:3, 4; 4:8). Da thuộc về thầy tế lễ. Duy của lễ chuộc tội thì phải đốt hết cả da (Xuất 29:14). (6) Khi dâng của lễ thiêu, phải đốt hết thịt trên bàn thờ. (7) Đốt thịt tức là đốt ở trên bàn thờ. Lửa trên bàn thờ cháy mãi không tắt (Lê 6:13).
Các nghi thức kể trên, chỉ có từ số 1 đến số 3 là người chủ tế được phép tự làm thôi, những phần còn lại thì do thầy tế lễ làm hết.
VI. Sự quan trọng của tế lễ.– (1) Cựu Ước nói về tế lễ có ý là dâng phẩm vật cho Đức Chúa Trời. Bấy giờ chọn trong tế phẩm lấy món thực vật quí nhứt mà dâng. Vậy, theo nguyên văn trong Êxê 44:7; Lê 3:11, 16; 21:6; Dân 28:2 thì gọi tế phẩm là bánh và đồ ăn của Đức Giê-hô-va. Mal 1:7 xưng bàn thờ là bàn của Đức Giê-hô-va. (2) Ngoài tế phẩm là đồ ăn của Đức Chúa Trời còn có ý nghĩa trọng yếu khác nữa. Trước khi bị bắt làm phu tù, ý nghĩa cốt yếu hơn hết của tế phẩm là thù ân, nghĩa là đem tiệc yến ở Đền thờ sau khi đã tế. Ý chừng là Đức Chúa Trời và người ta giao thông với nhau, tỏ ra người lại lập minh ước với Chúa lần nữa. Vả, nhờ Ngài mà minh ước được nên trọn và được chúc phước (3) Nghĩa tế lễ, sau khi dân Y-sơ-ra-ên bị bắt làm phu tù, coi trọng về mặt chuộc tội hơn về mặt tương giao. Về nghĩa đó, của lễ nào cũng có, chớ chẳng những của lễ chuộc tội mới có đâu. Của lễ chuộc tội lấy huyết làm trọng yếu hơn hết. Sao huyết lại chuộc tội được? Vì trong huyết có sự sống, nên có thể vì sự sống mà chuộc tội (Lê 17:11). Tóm lại, các của lễ đều là vô công, nghĩa là không có công trạng gì, chẳng qua để làm hình bóng về Đấng Christ thôi. Đấng Christ lấy huyết của Ngài, dâng một lần có thể chuộc tội người ta đời đời. Huyết của chiên, bò, còn có thể khiến người ta trở nên sạch thay, huống chi Đấng Christ nhờ thân linh hằng có, dâng thân Ngài cho Đức Chúa Trời, thì huyết Ngài há lại chẳng luôn làm sạch lòng người, trừ bỏ sự chết, khiến người thờ phượng Đức Chúa Trời hằng sống sao? (Hêb 9:12-14).
VII. Tân Ước đối với tế lễ.– Nên nhớ rằng trong đời Đấng Christ, một phe Do-thái-giáo (Essenes) đã bước tới một trình độ cao nhứt về luân lý, và sống một đời tuyệt đối không vị kỷ, coi nhau như anh em và làm việc nghĩa, nhưng họ không chịu tin các tế lễ bằng thú vật. Cũng nhớ rằng các tiên tri A-mốt, Mi-chê và Ê-sai cũng luôn đặt phần luân lý lên trên lễ nghi rất cao, và cũng không chịu người dâng con vật hy sinh mà không có lòng yêu thích sự công bình (Am 5:21; Ôs 6:6; Mi 6:6; Ês 1:11). Nhưng những sự đó cũng bày tỏ thực sự rằng ý của con người về sự cần thiết dâng tế lễ cho Thần là hầu như phổ thông trong vòng người Do-thái. Qua sự chết của Đấng Christ và sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem đã khiến họ đình chỉ không dâng của lễ hằng ngày, hằng tháng, hằng năm. Sự hiểu biết về tế lễ của Đấng Christ bằng chính mình Ngài, cuối cùng sẽ hủy diệt mọi vết tích tế lễ bằng thú vật.
1. Thái độ Chúa Jêsus.– Chúa Jêsus chẳng bao giờ công kích phương pháp tế lễ. Ngài cho rằng người Do-thái cần dâng tế lễ (Mat 5:24). Hơn thế, Ngài công nhận cả phương pháp tế lễ chép trong Cựu Ước, như có căn nguyên từ Đức Chúa Trời; do đó, Ngài truyền cho kẻ phung được sạch phải dâng tế lễ theo luật Môi-se dạy (Mat 8:4). Không chỗ nào chép Chúa Jêsus tự mình thờ phượng bằng cách dâng của lễ thường. Song Ngài thờ phượng trong Đền thờ, chẳng bao giờ công kích phương pháp tế lễ như luật pháp truyền miệng (Mác 7:6). Một mặt khác, Chúa Jêsus hủy diệt phương pháp tế lễ vì dạy rằng luân lý còn tốt hơn nghi lễ, không phải chỉ về nguyên lý chung, song cũng về sự thờ phượng (Mat 5:23, 24), Ngài ưng thuận lời của tiên tri Ô-sê: “Ta muốn sự thương xót nhưng chẳng muốn của lễ (Mat 9:13; 12:7). Ngài cũng truyền phán rằng thầy thông giáo ở gần Nước Trời vì biết đặt sự yêu thương Đức Chúa Trời và người trên hết thảy của lễ (Mác 12:33). Nhưng Chúa Jêsus không những chỉ dạy tế lễ là kém luật đạo đức, song cũng dạy thôi dâng của lễ như là một phương pháp, khi phán: “Nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước mới, đổ ra cho nhiều người” (Mác 14:24; Mat 26:28; Lu 22:20). Không những chỉ rằng đạo đức có giá trị hơn của lễ, song tế lễ bằng chính mình Ngài còn hơn của lễ xưa, như giao ước mới hơn giao ước cũ vậy.
2. Thái độ của Phao-lô.– Dễ thấy ý của Phao-lô đối với tế lễ người Do-thái, dầu không nói đến nhiều. Chỉ một lần (Công 21:26) sau sự trở lại đạo, Phao-lô dâng tế lễ theo người Do-thái, nhưng việc làm ấy là một vấn đề xứng hiệp để được lòng phe Do-thái-giáo tin đạo Đấng Christ, hầu cho Tin lành của ân điển được phổ biến. Phao-lô coi tế lễ Cựu Ước như hình bóng về của lễ thật mà Đấng Christ đã dâng chính mình làm con sinh tế (ICôr 5:7).
3. Thái độ của tác giả thơ Hê-bơ-rơ.– Tác giả thơ nầy luận nhiều về các của lễ Cựu Ước hơn trước giả Tân Ước nào khác. Người coi các tế lễ đổ huyết như hơn không huyết; và cả của lễ hằng năm ngày Đại lễ chuộc tội bởi thầy tế lễ thượng phẩm là điểm tuyệt đích của chương trình Cựu Ước. Thầy tế lễ thượng phẩm dưới giao ước cũ là hình bóng Đấng Christ trong giao ước mới. Các của lễ trong giao ước cũ không thể cất tội lỗi, và sanh ra sự thay đổi về phần đạo đức, vì cớ sự yếu đuối của con người (10:1-11), tỏ ra bởi cần dâng của lễ mãi (5:2), vì vậy Đức Chúa Trời đã cử một thầy tế lễ thượng phẩm khác là Con Ngài, để thay thế người trong giao ước cũ (5:5; 7:1-28). Điểm quan trọng của sự dạy dỗ trong thơ Hê-bơ-rơ là: tế lễ bằng thú vật không thể chuộc tội và sanh sự thay đổi về đạo đức, vì các của lễ đó, theo Chúa định, chỉ là hình bóng về của lễ lớn là Đấng Christ (8:7; 10:1).
Tóm lại, các trước giả sách Tân Ước, giống Chúa Jêsus, coi phương pháp tế lễ đời Cựu Ước như có căn nguyên từ Đức Chúa Trời và rất cần vào thời bấy giờ, nhưng những của tế lễ đó bất toàn và chỉ là hình bóng tế lễ Đấng Christ, và bởi đó phải thay bằng của lễ trọn vẹn của Ngài.
VIII. Nghĩa tế lễ trong Tân Ước.– Các tác giả Tân Ước tập trung trong một ý là: tế lễ Đấng Christ trên thập tự là tế lễ hoàn toàn và cuối cùng, để chuộc tội và cứu người. Các của lễ trong Cựu Ước chỉ làm hình bóng về tế lễ đó và bị bỏ, vì đã có tế lễ mới làm của lễ sau cùng, dâng lên một lần đủ cả. Chỉ Gia-cơ và Giu-đe trong các tác giả Tân Ước không bàn về tế lễ Đấng Christ, vì trong thơ chỉ có ý dạy dỗ về những phép cư xử hằng ngày.
1. Giăng Báp-tít dạy.– Giăng Báp Tít giới thiệu Chúa Jêsus như là Quan án hầu đến trong ba sách Tin lành đầu, nhưng trong Giăng 1:29, 36, Giăng nói về Ngài là “Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” Wescott nói: “Danh từ đó tỏ ý sự bằng lòng chịu thương khó, sự phục thuận nhẫn nại, hy sinh, và cứu chuộc, v.v” Thật Giăng thấy rằng Đấng Christ “đang chịu cực khổ dưới gánh nặng của tội lỗi loài người.”
2. Chúa Jêsus dạy.– Trong ba sách Tin lành đầu, có hai chỗ Chúa trưng dẫn sự chết mình như một của lễ (Mác 10:45; 14:24 với Mat 20:28; 26:28, so với ICôr 11:25). Nghĩa câu đó là Chúa đến “làm giá trả để chuộc, ” vậy, có nghĩa là tế lễ. Mác 14:24 tỏ rõ hơn nghĩa tế lễ. Các nhà thần học đều tin Chúa Jêsus coi sự chết mình như là việc xác nhận của lễ giao ước mới, đúng như của lễ dâng tại Si-na-i xác nhận giao ước cũ (Xuất 24:3-8). Theo Lu 14:25, 26 thấy Chúa Jêsus coi sự thương khó và sự chết mình như làm ứng nghiệm lời tiên tri trong Cựu Ước.
3. Phi-e-rơ dạy.– Dầu Sứ đồ nầy không nói trực tiếp về Đấng Christ là của lễ chuộc tội, nhưng khi nghiên cứu Công 2:36; 3:18, 19; 4:10-12 và 5:30, 31 thấy có ý đó, vì tỏ ra rằng Ngài là Chúa và Đấng Christ, dầu đã bị đóng đinh, đã làm ứng nghiệm những lời tiên tri bởi sự đau thương, và bởi đó ai ăn năn thì được tha, và chỉ nhơn danh Ngài được cứu, v.v.. Trong IIPhi 1:18, 19 tỏ rõ ta được cứu chuộc bởi huyết của Chiên con không lỗi không vết, vậy tỏ ý Đấng Christ là tế lễ chuộc tội. So 1:2; 3:18.
4. Sự Phao-lô dạy.– Phao-lô xác chứng trong Rô 3:25; 5:9; ICôr 10:16; Êph 1:7; 2:13; Cô 1:20 huyết Đấng Christ có thể cứu rỗi. Phao-lô xưng Ngài là của lễ chuộc tội trong Rô 8:3 và có lẽ trong IICôr 5:21, và xưng Đấng Christ “là con sinh Lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi.” Trong Rô 3:24-26; 5:10, 11; 8:15-17, v.v.. Phao-lô tỏ ra Chúa bởi sự chết đã làm việc cứu chuộc, tha tội, xưng công bình, và nhận làm con nuôi.
5. Sự thơ Hê-bơ-rơ dạy.– Nghĩa của tế lễ được tỏ ra cách đầy đủ trong thơ Hê-bơ-rơ. Mục đích của thơ là bày tỏ các tế lễ Cựu Ước là hình bóng để dẫn đến Đấng làm của lễ hoàn toàn cuối cùng, nên bởi đó có nghĩa thuộc linh. Thơ bày tỏ Đấng Christ vừa làm Thầy tế lễ, Người dâng tế lễ, và Của lễ. Lý luận của tác giả là: Đấng Christ trổi hơn thầy tế lễ dòng A-rôn, vì thuộc dòng vua, làm thầy tế lễ đời đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc, dâng mình làm của lễ cuối cùng để chuộc tội, và có năng lực làm đổi mới con người (4:14; 10:18).
6. Sự Giăng dạy dỗ.– Trong IGiăng 1:7; 2:2; 5:6-8 xưng huyết Đấng Christ chuộc tội và rửa sạch khỏi tội. Trong Khải 1:5 cũng vậy, như trong 13:8 chép về Ngài là “Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế.”
Tóm lại, Tân Ước tỏ ra sự chết Đấng Christ như là: (1) tế lễ của giao ước (Mác 14:24; Mat 26:28; Lu 22:20; Hêb 9:15-22); (2) của lễ chuộc tội (Rô 8:3; IICôr 5:21; Hêb 13:11; IIPhi 3:18); (3) con chiên của lễ Vượt qua (ICôr 5:7); (4) của lễ ngày Đại lễ chuộc tội (Hêb 2:17; 9:12).
IX. Ý nghĩa của lễ đối với tín đồ.– Theo sự dạy dỗ trên, thì đời sống tín đồ phải hy sinh như Đấng Christ đã phó mình cho. Đấng Christ đã dâng mình là tế lễ cho tín đồ, hiện nay cứ hy sinh trong đời sống tín đồ (Ga 2:20; Phil 1:21; so Phil 3:10, 11). Chúa Jêsus cũng chú trọng về lối sống như thế (Mác 8:23). Vậy, sự chết Đấng Christ là duyên cớ, phương pháp, và quyền phép của đời sống hy sinh của tín đồ.
Tiến sĩ Scofield chú thích về tế lễ như sau:
Lê 1:3.– Của lễ thiêu, (1) Làm hình bóng về Đấng Christ tự dâng mình không tì vết cho Đức Chúa Trời cách vui lòng để làm theo ý muốn Cha Ngài mặc dầu phải chết. (2) Của lễ đó chuộc tội, vì người tín đồ trước không có sự vui thỏa đó trong ý muốn Đức Chúa Trời. (3) Thay thế (câu 4), vì Đấng Christ đã làm thế tội nhân, nhưng ý tưởng của án phạt không rõ (Hêb 9:11-14; 10:5-7; Thi 40:6-8; Phil 2:8). Những lời đáng chú trọng (Lê 1:3-5) là “của lễ thiêu, ” “dâng cách tình nguyện” (bản Anh cũ), nó “sẽ được nhậm thế cho” và “chuộc tội.”
Có năm thứ thú vật đáng nhận làm của lễ là:
(1) Bò đực hoặc bò, hình bóng về Đấng Christ, như Đầy tớ nhẫn nại và chịu khổ (ICôr 9:9, 10; Hêb 12:2, 3), “vâng phục cho đến chết” (Ês 52:13-15; Phil 2:5-8). Về tính cách nầy, tế lễ Ngài có thể thay thế, vì ta không thể làm được. (2) Chiên hoặc chiên con, hình bóng về Đấng Christ không do dự, tự mình bằng lòng chịu chết trên thập tự (Ês 53:7; Công 8:32-35). (3) Dê đực, hình bóng về tội nhân (Mat 25:33), và khi dùng về của lễ, Đấng Christ “bị kể vào hàng kẻ dữ” (Ês 53:12; Lu 23:33), “trở nên tội lỗi, ” và “nên sự rủa sả” (Ga 3:13; IICôr 5:21) thế cho tội nhân. (4) và (5) Chim cu hoặc bồ câu, làm hình bóng về sự vô tội, sự buồn bã (Ês 38:14; 59:11; Mat 23:37; Hêb 7:26), là liên quan với sự nghèo khó trong Lê 5:7, và nói về Đấng đã vì chúng ta bằng lòng trở nên nghèo khó (Lu 9:58); con đường của sự nghèo khó Ngài khởi sự bằng cách từ bỏ “hình Đức Chúa Trời, ” và kết thúc là làm của lễ, để cho ta nhờ đó trở nên giàu (IICôr 8:9; Phil 2:6-8). Của lễ Người nghèo dâng trở nên tế lễ cho kẻ nghèo (Lu 2:24.
Những ý nghĩa đó về hình bóng của tế lễ, thử nghiệm chúng ta về sự hiểu biết những phương diện khác nhau của tế lễ duy nhứt là Đấng Christ trên thập tự. Người tín đồ đã trưởng thành nên cần thấy Đấng Christ bị đóng đinh theo mọi mặt như thế.
Êxê 43:19.– Đây là tế lễ trong nước tương lai. Chắc các của lễ nầy là kỷ niệm để nhìn lại thập tự, cũng như các của lễ theo giao ước cũ đang trông đợi và hướng đến của lễ nơi thập tự. Trong cả hai trường hợp, tế lễ bằng thú vật không thể cất tội được (Hêb 10:4; Rô 3:25).
Lê 17:11.– Ý nghĩa của hết thảy tế lễ được giải nghĩa ở đây. Mỗi của lễ là một sự thi hành án phạt của Luật pháp trên vật thế cho người phạm, và mỗi tế lễ như thế chỉ về sự chết thay tội của Đấng Christ, duy nhờ đó mới có thể làm đầy trọn sự công bình của Đức Chúa Trời, bỏ qua các tội của những người dâng tế lễ hình bóng đó (Rô 3:24, 25; Xuất 29:36).
Sáng 4:4.– Chỉ về Đấng Christ, Chiên Con Đức Chúa Trời, là hình bóng rất nhiều lần vẫn chỉ về Đấng Mê-si đau khổ, –“Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29). Một chiên con thích hợp làm hình bóng về sự vô tội của Chúa Jêsus, là Đấng không kháng cự, không làm hại (Ês 53:7; Lu 13:9; Mat 26:53, 54). Hình bóng nầy được tỏ rõ bởi vì ngược với của lễ của Ca-in là của lễ không huyết, tức trái cây là công việc riêng của con người, và tuyên bố, trong buổi sơ khai của nhân loại, lẽ thật đầu tiên: “Không đổ huyết thì không có sự tha thứ” (Hêb 9:22; 11:4).
Hêb 10:18.– Tóm tắt về tế lễ. (1) Lời báo trước thứ nhứt của tế lễ là Sáng 3:21, “áo da thú” rõ ràng chắc đã từ một thú vật bị giết. Lần đầu tiên nói rõ về của lễ là Sáng 4:4, giải nghĩa trong Hêb 11:4. Sự công bình của A-bên là kết quả của tế lễ người, chớ không phải bởi tánh nết người. (2) Trước khi ban bố Luật pháp thì người gia trưởng là thầy tế lễ của gia đình. Bởi Luật pháp một ban thầy tế lễ được lập, và chỉ ban đó có quyền dâng tế lễ. Các của lễ đó là “những bóng, ” hình bóng, bày tỏ bằng nhiều cách tội lỗi và sự cần đến người dâng tế lễ đối với Đức Chúa Trời, và hết thảy đều chỉ về Đấng Christ và được ứng nghiệm trong Ngài. (3) Như tả bóng bởi hình bóng về giải nghĩa bởi Tân Ước, tế lễ của Đấng Christ là hình phạt (Ga 3:13; IICôr 5:21), thay thế (Lê 1:4; Ês 53:5, 6; IICôr 5:21; IIPhi 2:24), tình nguyện (Sáng 22:9; Giăng 10:18); cứu chuộc (Ga 3:13; Êph 1:7; ICôr 6:20); chuộc tội (Rô 3:25), giảng hòa (IICôr 5:18, 19; Cô 1:21, 22), linh nghiệm (Giăng 12:32, 33; Rô 5:9, 10; IICôr 5:21; Êph 2:13; Hêb 9:11, 12, 26; 10:10-17; IGiăng 1:7; Khải 1:5), và khải thị (Giăng 3:16; IGiăng 4:9, 10).