Tát-mốt

Tát-mốt Tadmor. Tadmor (từ Ta-ma, cây kè).

Một thành ở trong đồng vắng (IISử 8:4). Thành được xây dựng bền vững trong thời Sa-lô-môn, sau khi chinh phục Ha-mát Xô-ba (ICác 9:18) chắc để kiểm soát các đoàn dân, thường đi qua đó. Trong ICác 9:18 tỏ ra các thành không những được xây ở trong đồng vắng, song cũng có ở trong toàn cả xứ ấy, đủ để thấy rằng nước của Sa-lô-môn rộng chừng nào (câu 19; 4:21, 24). Người ta gợi ý thành Tát-mốt là một với Tha-ma ở góc Đông nam địa giới đã hứa của xứ (Êxê 47:19; 48:28) có lẽ ở trên đường từ Hếp-rôn đến Ê-lát. Xem bài Tha-ma. Đầu thế kỷ thứ III S.C., nơi đó trở nên một thuộc địa La-mã dưới thời Caracalla, nên bị đổi tên theo lối tiếng La-tinh là Palmyre, nghĩa là thành cây kè. Giữa năm 251 và 273 S.C., sau khi Odenathus, một nghị viên La-mã ở Palmyre, có quyền ngang với hoàng đế, bị ám sát, thì người vợ rất có danh tiếng của ông là Zenobia dường như có ý lập Palmyre thành một nước quân chủ độc lập; và nhờ đó, một thời gian có thể kháng cự các đạo quân La-mã. Nay thành vẫn còn gọi là Tadmur. Ấy là một nơi có cây giữa Sa mạc, cách Đa-mách chừng 210 cây số phía Đông bắc, và cách sông Ơ-phơ-rát chừng 180 cây số. Thành nay chỉ là một đống đổ nát rộng chừng 2 cây số rưỡi. Có một hàng cột theo lối kiến trúc Cô-rinh-tô và một ít theo lối Ionie, với một số mộ giống hình tháp. Các bản khắc tìm được ở đó phần nhiều là tiếng Hy-lạp và tiếng Sem.

Scroll to Top