Life. Vie.
I. Định nghĩa.– Trong Cựu Ước có mấy từ Hê-bơ-rơ dịch ra nghĩa “sự sống” là: động từ hayah (trên 2 chữ a có dấu-), tức “sống”, “có sự sống”, hoặc “nguyên tố của sự sống” (principe vital) để “cứ sống”, danh từ hayy#m, hay dùng số nhiều tức “sự sống”, nghĩa là có nguyên tố sự sống kèm với những sự hoạt động và việc làm; nephesh thường có nghĩa là “sinh vật” hoặc “vật thọ tạo”, và có khi chỉ về “nơi có linh hồn, ngôi vị, tình cảm, ưa thích, với những hoạt động của trí khôn”, khi thì chỉ về “sự sống”, “nơi của sự sống”, và trong Cựu Ước chép độ 170 lần, chỉ về sinh hoạt trong cả người và vật; R#ah chỉ về “gió”, “hơi thở”, là nguyên tố hoặc nguồn của sự sinh hoạt, song chẳng hề chỉ về chính sự sống.
Trong Tân Ước, có ba trong mấy từ Hy-lạp dịch ra nghĩa “sự sống”: 1) Bios hiệp với hayy#m, chỉ về sự sống lan rộng, thời gian người có sự sống, và đời người, cũng chỉ về những thức cần cho sự sống, ví dụ như của cải. 2) Psuchç có khi hiệp với hayy#m, và nhiều lần với nephesh và r#ah, có nghĩa về nguyên tố của sự sống trong các sinh vật, hoặc trong phần vô hình thể của con người, nơi có những tình cảm, ước ao, và ham muốn, v.v.. 3) Danh từ zoç kết hợp chặt chẽ với hayy#m, có nghĩa nguyên tố sự sống có trên phạm vi con người hoạt động, mọi sự hoạt động có liên quan tới phần vật chất và thuộc linh.
II. Cựu Ước.
1. Nghĩa thông thường. –Chỉ về sự sống trong thân thể, sự thực hữu và mọi phần hoạt động của con người, là sinh vật có đầy đủ ý thức, và hành động. Trong Cựu Ước không coi thân thể như là nhà tù của linh hồn, song một người chỉ thật sống khi làm mọi việc trong ánh sáng của sự hiện diện và ân điển của Đức Chúa Trời. Như vậy, bí quyết và nguồn của sự sống của con người có được là nhờ sự giao thông với Ngài, ngoài ra không có điều gì tốt lành hoặc đáng ước ao. Bởi đó, sự cần thiết của sự sống là con người phải thắng hơn tội lỗi và lìa bỏ nó. Trung tâm của sự sống con người là phần đạo đức luân ly, có được bởi sự giao thông với Đức Chúa Trời là Nguồn của mọi sự sống và hoạt động.
2. Nghĩa phức tạp của sự sống. (1) Trong Cựu Ước, “sự sống” nhiều lần chỉ về chính nguồn gốc của sự sống, ngoài những sự bày tỏ của nó (Sáng 2:7). Đây, là hơi thở của sự sống, hoặc hơi thở từ Đức Chúa Trời, chứa và thông đồng sinh hoạt với con người, một nguyên tố chính để cho con người trở nên nephesh hoặc một sinh vật (Sáng 1:30; 6:17; 7:22; 45:5, v.v..).
(2) Sự sống chỉ về thời gian người thật có sự sống, tức trọn đời người (Sáng 23:1; 25:7; 47:9; Xuất 6:16, v.v..).
(3) Sự sống của con người là sự ban cho trực tiếp của Đức Chúa Trời và hoàn toàn nhờ Ngài để cứ tiếp tục có (Sáng 1:11-27; 2:7; Dân 16:22)
(4) Chỉ về thời bắt đầu thọ thai (Sáng 18:10, 14; IICác 4:16, 17)
(5) Chỉ về đời người (Phục 32:47; ISa 25:29; Gióp 10:1, v.v..).
(6) Đồng nghĩa với những thức cần thiết cho sự sống (Phục 24:6; Châm 27:27).
(7) Đồng nghĩa với sự khoái lạc và hạnh phúc (Phục 30:15, 19; Exơ 6:10; Thi 16:11; 30:5; Châm 2:19, v.v..).
(8) Được tỏ ra là một ân tứ rất quí (IICác 10:24; Êxơ 7:7; Gióp 2:4; Châm 4:23; 6:26), và ai làm hại sự sống ắt bị phạt nặng (Sáng 9:4, 5; Lê 17:14; 24:17). Đây là tử hình và “mạng đền mạng” (Xuất 21:23; Phục 19:21; so Lê 24:18). Vì cớ sự sống là ở trong huyết, nên cấm ăn huyết (Lê 17:15; Phục 12:23). Mười điều răn cấm giết người. Ý nghĩa thiết yếu của con vật hy sinh là có sự sống (nephesh) trong huyết, vậy khi bị đổ huyết thì mất sự sống (Phục 12:23; Lê 17:11).
(9) Y-sơ-ra-ên ưa sống lâu (Thi 91:16; Xuất 20:12; Thi 21:4; 34:12; 61:6, v.v..), cho nên khi vâng phục cha mẹ và Đức Chúa Trời, thì có thể được sống lâu. (Xuất 20:12; Phục 5:16), Người khôn ngoan, có lòng tinh sạch, kính sợ Đức Chúa Trời cũng có thể được sống lâu. (Châm 3:16; 9:11; Thi 34:12-14; 91:1-10; Truyền 3:12, 13; Châm 10:27; Ês 65:18-21; 38:2-5, v.v..) (10) Khởi đầu Cựu Ước có gợi ý thủy tổ có thể sống mãi mãi nếu ăn trái “cây sự sống giữa vườn” (Sáng 2:9; 3:22-24). Vì thủy tổ phạm tội ăn trái cây “biết điều thiện và điều ác”, thì bị đuổi khỏi vườn Ê-đen kẻo ăn trái cây sự sống và được sống mãi mãi trong địa vị tội lỗi chăng. sự sống không hề chết trong khi không có sự thánh khiết là một sự rủa sả, nên Ngài đặt các “thần chê-ru-bin… để giữ con đường đến cây sự sống” (Sáng 3:24), mà ngăn trở loài người ăn cây sự sống mà sống mãi mãi. Nhưng, điều đó không ngăn trở người được sự sống không hề chết trong một cõi khác như Hê-nóc và Ê-li. Đức Chúa Trời phán: Ngài là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, điều ấy tỏ ra các tổ phụ đó thật còn sống, dầu đã chết mấy trăm năm rồi. Trong Ês 26:19; Đa 12:2 chép tiên tri rằng người chết sẽ sống lại. Thi 16:11; 17:15; 23:6; 49:15; 73:24, 25 đều tỏ ra bấy giờ người tin kính tin rằng sự chết không thể tiêu hủy hoặc làm đứt quãng sự sống giao thông với Đức Chúa Trời.
(11) Vậy, sự thông công với Đức Chúa Trời là nền tảng cốt yếu của sự sống, vì mọi việc làm của con người đều nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Khi Ngài sai Đức Thánh Linh ra, mọi người được dựng nên và sống; khi Ngài rút lại Thánh Linh thì người chết (Thi 104:30). “Trong ơn của Ngài là sự sống” (Thi 30:5, bản Anh); “Nguồn sự sống ở nơi Chúa” (Thi 36:9; 63:3); “các suối tôi đều ở trong Ngài” (Thi 87:7). Bí quyết của Gióp được thịnh vượng, khoái lạc là vì giao thông với Chúa là Đấng gìn giữ mình (Gióp 29:2). Bởi thế, người thời Cựu Ước giao thông với Chúa, không chấp nhận ý tưởng rằng phải cứ ở nơi âm phủ mãi, vì biết sự giao thông với Chúa không hề dứt, cho nên Ngài phải rút mình ra khỏi đó.
III. Apocryphe (Sách ngụy kinh). — Các sách nầy về sự sống cứ dùng như trong Cựu Ước, và thường chép hai tiếng Hy-lạp zoç và psuchç.
IV. Tân Ước. — Ý nghĩa zoç, sự sống, là đại đề của cả Tân Ước. Cựu Ước chú trọng về sự giao thông với Đức Chúa Trời; Tân Ước chú trọng về sự sống có được là bởi Chúa Jêsus Christ, là Đấng Trung Bảo. Trong Tân Ước, nghĩa sự sống trong Cựu Ước được rõ thêm bởi sự dạy dỗ của Chúa Jêsus và ý nghĩa được trọn vẹn.
1. Ba sách Tin lành đầu. –Ở đây, nghĩa sự sống tự nhiên liên quan với nghĩa trong Cựu Ước và Do-thái-giáo, được dùng như sau:
(1) Chỉ về hơi thở, cho thấy con người đang thật sống trong thân thể (Mác 10:45; Lu 12:22; 14:26).
(2) Là đời người (Lu 1:75; 16:25).
(3) Một lần chỉ về sự kết hợp giữa sự giao thông với Chúa và việc làm của người (Lu 12:15), sự sống ấy không bao gồm của cải người có.
(4) Tính cách chung chỉ về sự sống thật, là sự liên lạc thiết yếu với đời và Đức Chúa Trời, cũng gọi là “sự sống đời đời” (Mat 19:29; 25:46). “hằng sống” (Mat 18:8, 9), và sự sống (Mat 19:17; Mác 9:43, 45, 46). Ở đây, Chúa dạy chất chứa của cải ở trên trời và vào nước Đức Chúa Trời là đồng ý với sự bước vào sự sống.
(5) Những quan hệ và hành động của người trong thế gian phải phục sự sống cao thượng và thuộc linh từ Chúa (Mat 10:39; 16:25; Lu 9:24).
(6) Chúa dạy sự sống đời đời sẽ được hưởng trong đời sau (Mat 19:29; Lu 18:30). Điều đó không mâu thuẫn với ý trong đời nay có thể được sự sống đời đời như chính Chúa vẫn liên lạc với cõi thuộc linh và có sự sống đời đời đó, thì Ngài cũng muốn đem người khác vào địa vị phước lành đó nữa. Vậy, Chúa dạy sự thực hữu của sự sống đời đời có thể được ngay bây giờ, song kết quả đầy trọn sẽ được trong tương lai. Nếu bây giờ không có nụ, thì sau không thể có hoa.
(7) Những điều kiện Chúa dạy để vào sự sống đó là phải tin đến Ngài là Đấng Trung Bảo, và phải vâng theo lời Ngài. Chỉ Chúa Jêsus biết Đức Chúa Cha và có thể tỏ ra cho người khác, để người đó biết phải sống thế nào (Mat 11:27, 28).
2. Sách Tin lành Giăng. — Trong sách nầy có sự dạy dỗ rất đầy đủ và phong phú về sự sống, và lời rất quan trọng là “sống”. Sự dạy dỗ nầy không khác ba sách Tin lành đầu, nhưng là phụ thêm vào để làm cho đầy đủ sự Chúa dạy về sự sống. Trong sách Giăng, sự sống không có nhiều nghĩa khác nhau, song suốt cả sách chú trọng đến một mục đích cao cả.
(1) Mấy lần sự sống duy chỉ về hơi thơ, hay sinh hoạt nguyên tố sanh ra sự sống hoặc một đời người (10:11; 15-18; 13:37; 15:13).
(2) Sách bày tỏ Chúa Jêsus là Ngôi Lời, là căn nguyên và phương pháp để người thế gian được sống, cũng như trước khi Ngài giáng thế thì là Nguồn của sự sống vũ trụ (1:4). Như Ngôi Lời trở nên xác thịt, Ngài làm chứng sự sống mình nguyên từ Đức Chúa Cha (5:26; 6:57; 10:18). Vậy, Ngài là phương pháp cho người được sống (3:15-16; 4:14; 5:21; 39:40) và vì cớ mục đích đó Ngài giáng thế (6:33, 34, 51; 10:10).
(3) Sách cũng chỉ về những công việc bày tỏ sự giao thông với Đức Chúa Trời và Chúa Jêsus Christ được gọi là “sự sống đời đời” (3:15, 16, 36; 4:14, v.v…). Trong Kinh Thánh, câu giải nghĩa về “sự sống đời đời” là 17:3. Dầu không giải nghĩa theo khoa học hoặc siêu hình học, nhưng đó là lối chính Chúa Jêsus mô tả ý Ngài, tức “sự sống đời đời là nhìn biết Cha… cùng Jêsus Christ là Đấng Cha đã sai đến.” Hai lời “nhìn biết” đó không phải chỉ là về phần trí khôn và hiểu biết, nhưng có ý rộng hơn, tức là sự giao thông của cá nhân với Ngài, sự hiệp một với Ngài về sự từng trải của những tư tưởng, tình cảm, mục đích, duyên cớ, ước ao, và sự thay đổi với nhau những tình cảm trong phần rất sâu nhiệm của lòng. Sự nhìn biết đó lại có ý là cả phẩm vị của con người được liên lạc với ngôi vị Đức Chúa Trời, và không thể phân rẽ được. Chúa Jêsus muốn dắt đem mọi người đến với sự sống đời đời như thế, vì như vậy mới có thể cho người đói khát được thỏa nguyện (4:14; 6:35), vì đó là nguồn của sự sáng cho mọi người (1:4; 8:12), sự sống ấy không thể tiêu diệt được (6:58; 11:26), sự sống ấy giống như một mạch nước trong linh hồn (4:14); mỗi người có thể nhận sự sống đời đời đó do sự nhận lấy các công đức của Chúa Jêsus (6:53).
(4) Sự sống đó có thể nhận ngay bây giờ, và cũng có kết quả vẻ vang trong tương lai.
a) Người nào tin cây Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, sẽ được từng trải sự sống đó (4:10; 5:24, 40), có thể nhận được một cách “dư dật” (10:10), và sẽ từng trải quyền năng mới trong mọi việc làm.
b) Sự sống đó có kết quả vinh hiển trong tương lai (4:36; 5:29; 6:39, 44, 54). Giăng không chú trọng nhiều đến những sự dạy dỗ về đời sau của Chúa Jêsus bằng chú trọng đến sự thật hiện đang có sự sống ơn phước đó.
3. Sách Công vụ các sứ đồ.– Trong bài cầu thay (Giăng 17:1-), Chúa Jêsus phán sứ mạng mình là “ban sự sống đời đời cho những kẻ mà Cha đã giao phó cho Con” (17:2). Cả sách Công vụ các sứ đồ bày tỏ cách làm thế nào đạt tới mục đích đó. Trong Công vụ các sứ đồ, sự sống có mấy nghĩa:
(1) Chỉ về hơi thở hoặc sự sống thuộc thể (Công 17:25; 20:10, 24; 27:10, 22);
(2) Những sự quan hệ và việc làm của con người trên đất (5:20; 26:4);
(3) Chúa Jêsus được kể là Nguồn và nguyên bản của sự sống, mà Phi-e-rơ gọi là “Chúa của sự sống” (3:15). Sách Công vụ các sứ đồ cũng bày tỏ về ý nghĩa sự sống đời đời như được chép trong các sách Tin lành.
4. Các thơ tín Phao-lô. –Ở đây, sự sống có mấy nghĩa sau:
(1) Là sinh hoạt nguyên tố, hơi thở cho con người có sự thực hữu và sự hoạt động thân thể (Rô 8:11, 38; 11:35; ICôr 3:22; Phil 1:20; 2:30);
(2) Gồm những sự quan hệ và việc làm của người (ICôr 6:3-4; ITi 2:2; 4:8; IITi 1:1; 3:10);
(3) Những sự quan hệ với Đức Chúa Trời và Đấng Christ trong cõi thuộc linh với những hành động phát xuất từ đó ra, đều hợp thành sự sống thật và vĩnh cữu. Sự sống ấy có được bởi Đấng Christ (Rô 5:10), trong Đấng Christ (Rô 6:11), là ân tứ của Đức Chúa Trời ban cho một cách nhưng không (6:23), cũng có được bởi Đức Thánh Linh ban cho (Rô 8:2, 6, 9, 10; IICôr 2:16; 3:6; Ga 6:8), vì vâng theo lời Ngài (Rô 7:10; Phil 2:16), và do đức tin (ITi 1:16). Sự sống đời đời có thể nhận trong đời nầy (ITi 6:12, 19), tỏ ra bởi Tin lành (IITi 1:10), là “đã giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời” (Cô 3:3); là phần thưởng cho người nào “bền lòng làm lành mà tìm” (Rô 2:7), ban quyền năng để thắng hơn tội lỗi và sự chết (Rô 5:17, 18, 21), là mục đích hoặc phần thưởng của người nào biệt mình ra thánh (Rô 6:22), là sự đang có và là sự trông cậy (Tít 1:2; 3:7), sẽ nhận lãnh cách đầy trọn trong đời sau (Rô 2:7; IICôr 5:4). Có lẽ phần lớn những sự Phao-lô dạy về sự sống là nhờ các sách Tin lành.
5. Thơ tín Giăng và sách Khải Huyền.– Nghĩa sự sống ở đây cũng như trong Tin lành Giăng. Sự sống chỉ là sự hoạt động và đời người trong thế gian mà thôi (I Giăng 3:16; Khải 8:9; 11:11; 12:11). Nguồn sự sống là chính Đấng Christ (I Giăng 1:1; 5:11, 16). Sự sống đời đời phước hạnh trong Đấng Christ, là sự hiện đang có của mọi người có sự tương giao với Đức Cha và Đức Con (I Giăng 5:11-12). Đây là tiếng vang của lời Chúa (Giăng 17:3), mà Giăng mô tả sự sống là sự sống đời đời đã ở với Đức Cha và được tỏ ra cho ta. Đó thật là sự giao thông với Đức Cha và Đức Con (I Giăng 1:2, 4). Sự sống đã hứa cho người trung tín (Khải 2:7), và mão triều thiên sự sống đã hứa ban cho người trung tín cho đến chết (Khải 2:10). Những điều đó chắc chỉ về những sự vinh hiển có thể có, bởi sự giao thông với Ngài. Người khao khát được mời đến uống nước sống cách nhưng không (Khải 21:6; 22:17); có sông nước sự sống chảy giữa các phố thành Giê-ru-sa-lem mới (22:1), và cây sự sống trổ mười hai mùa trên bờ sông đó (22:2, 14).
6. Các sách Tân Ước khác.– Thơ Hê-bơ-rơ nói về đời của con người trên đất (2:15; 7:3), về “quyền phép của sự sống chẳng hay hư, hay hết” (Hêb 7:16). Gia-cơ hứa mão triều thiên của sự sống dành cho ai trung tín (1:12). Đời sống ta được mô tả “như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay” (4:14). Phi-e-rơ chép về vợ và chồng đều được hưởng phước sự sống (IIPhi 3:7, 10) và IIPhi 1:3 chép “quyền phép Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính”.