Sô-phô-ni, Sách

Sô-phô-ni, Sách The book of Zephaniah. Livre de Sophonie.

I. Tác giả.– Tên Sô-phô-ni nghĩa là “Giê-hô-va đã giấu” (Thi 27:5; 83:3). Có lẽ Sô-phô-ni nhớ nghĩa đó khi chép 2:3. Sách nầy là sách thứ chín trong các sách tiểu tiên tri. Sô-phô-ni là tiên tri thuộc về đời vua Giô-si-a, là con trai Cu-si, cháu Ghê-đa-lia, chắt A-ma-ria, chít Ê-xê-chia (Sô 1:1). Điều đó tỏ ra Sô-phô-ni thuộc một gia đình có danh tiếng, dầu không chắc Ê-xê-chia đó có phải là vua Giu-đa vì không nói vậy (so Châm 25:1; Ês 38:9). Nếu Sô-phô-ni thật thuộc dòng vua, thì lời đoán phạt “các con trai của vua” có nghĩa sâu nhiệm hơn. Sô-phô-ni ở xứ Giu-đa, và dường như ở tại Giê-ru-sa-lem (“nơi nầy” 1:4), lại cũng vì Tiên tri biết rõ địa dư của thành nữa (1:10, 11). Không biết Sô-phô-ni hành chức bao lâu, song giống A-mốt, dường như chỉ một thời gian ngắn, và khi đã làm xong phận sự lại trở về sống cuộc đời riêng của mình, nhưng có lẽ cũng lo đến những vấn đề cải cách đất nước (IICác 23:2).

II. Niên hiệu. — Sô-phô-ni hành chức trong phần đầu đời trị vì của Giô-si-a. Trong Sô 21:13-15 dự ngôn về Ni-ni-ve bị phá diệt (625 T.C.), vậy sách được chép trước năm đó; trong 1:4-6 ngăm đe “trừ diệt phần sót lại của Ba-anh, các tên của thầy cả và thầy tế lễ nó, ” được ứng nghiệm bởi Giô-si-a chừng năm 621 T.C. (IICác 23:4, 5). Sự cải cách của vua Giô-si-a khởi đầu từ năm thứ XII đời trị vì, và hoàn tất năm XVIII. Sô-phô-ni khi tố cáo việc thờ hình tượng đã dọn dường cho cuộc phục hưng của Giô-si-a, và dường như cộng tác với vua trong 6 năm đó. Theo truyền khẩu Do-thái, thì cùng làm với Sô-phô-ni, có tiên tri Giê-rê-mi hành chức tại các đường cái và các chợ, có nữ tiên tri Hun-đa trong trường dạy đạo tại Giê-ru-sa-lem. Trật tự của sách trong các sách tiểu tiên tri, và những lời trích từ Giô-ên, A-mốt, và Ê-sai đều tỏ ra thời Sô-phô-ni hành chức được ghi trong 1:1 là đúng. Chắc Sô-phô-ni có công lớn trong cuộc cải cách đời Giô-si-a.

III. Tài liệu.– Phần lớn các lời tiên tri của sách làm tiểu dẫn cho phần tổng kết lớn lao dưới quyền Đấng Mê-si (1:2-3:8; 3:9-20).

1. Sự ngăm đe đoán phạt (1:2-7); các án phạt đó sẽ đổ trên ai (1:8-11). Ngày của Đức Giê-hô-va đến gần và kinh khiếp, không thể tránh khỏi (1:12-18). Tiếng gọi dân tộc bội đạo đến sự ăn năn, và gọi người nhu mì và công bình dùng các ơn để thoát khỏi ngày thạnh nộ (2:1-3). Nguyên nhân là: những án phạt của Đức Chúa Trời trên kẻ thù của Y-sơ-ra-ên hầu đến, là người Phi-li-tin người Mô-áp, Am-môn (phần sót lại của dân Chúa sẽ được xứ của ba dân tộc đó), Ê-thi-ô-bi và A-sy-ri sẽ trở nên hoang vu. “Vì Ngài sẽ làm các thần trên đất chịu đói (bằng cách hủy diệt những dân thờ chúng), và ai nấy sẽ từ nơi mình thờ lạy Ngài” (2:4-15). Tiếng kêu gọi đó bị coi khinh, cả Giê-ru-sa-lem đã thấy các án phạt trên các nước lân bang mà không chịu từ bỏ sự ô uế mình, thì buộc Đức Chúa Trời công bình phải hình phạt (3:1-7). Trong tất cả mọi sự đó, tên người Canh-đê, là người thi hành sự báo thù của Đức Chúa Trời trên Giu-đa, không có nói đến như trong Giê-rê-mi, vì tiên tri nầy ở gần sự ứng nghiệm các lời tiên tri rõ ràng hơn.

2. Sau sự sửa phạt, Giê-hô-va khuyên mời kẻ sót lại của Giu-đa tin kính chờ đợi Ngài vì Ngài sắp can thiệp cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem chống với các dân tộc nhóm họp nghịch cùng hai nơi đó (Xa 12:1-; 13:1-; 14:1-). “Những kẻ sót lại của Y-sơ-ra-ên sẽ không làm sự gian ác… Đức Chúa Trời sẽ vui mừng cả thể vì cớ ngươi… và làm cho các ngươi nổi danh tiếng và được ngợi khen giữa mọi dân trên đất, ” nên “Chúng sẽ thảy đều kêu cầu danh Đức Giê-hô-va và một lòng hầu việc Ngài” (3:8-20).

Dầu trong sách có nhiều lời quở trách, ngăm đe, đoán phạt, nhưng đều tỏ ra lòng yêu thương của Đức Chúa Trời. Sách khởi đầu với sự buồn rầu, nhưng kết thúc với lời ca hát; hai phần đầu đầy sự tối tăm buồn bực, nhưng phần cuối cùng lại chứa một bài ca yêu thương rất hay trong Cựu Ước.

IV. Lời chìa khóa.– Có ba lời:

(1) “Ngày của Đức Giê-hô-va”, được ghi bảy lần.

(2) “Ở giữa” ghi năm lần và trong 3:11 chép “khỏi giữa”. Nhưng lời chìa khóa nên chú ý là “lửa ghen”. Có hai thứ ghen tương: một không liên quan với Ngài, đo là sự ghen tương thường nghi ngờ về sự bất trung và vẫn tìm kiếm chứng cớ đó. Nơi nào có sự ghen tương đó thì không khác gì địa ngục. Song ghen tương thứ hai là kết quả tự nhiên của sự yêu thương, và đó là bản chất của sự ghen tương Ngài. Chúa yêu dân Ngài đến nỗi không thể dung chịu một kẻ ganh đua, và đòi dân mình phải hết lòng phục sự mình, nên bởi đó Ngài dùng hết cách để được như vậy, dầu phải đoán phạt ghê gớm đến đâu như trong sách Sô-phô-ni. Theo nghĩa ghen đó, nên xem 1:18, “cả đất nầy (Y-sơ-ra-ên) sẽ bị lửa ghen Ngài thiêu nuốt”; 3:8 “Vì cả đất (Các dân tộc ngoại bang) sẽ bị nuốt bởi lửa ghen ta”, và thấy trong 3:17, “vì lòng yêu thương… Ngài sẽ nín lặng”, tức lửa ghen Ngài bị tắt.

V. Lối văn.– Sô-phô-ni viết với một lối văn sinh động và như mô tả một bức tranh. Tiếng Hê-bơ-rơ dùng ở đây là thuần túy, và không lộn tiếng Aramaique nào. Sô 2:14 hiệp với Ês 34:11; Sô 2:15 với Ês 47:8; Sô 3:10 với Ês 18:1; Sô 2:8 với Ês 16:6; Sô 1:5 với Giê 8:2; Sô 1:12 với Giê 48:11. Trong Rô 15:6 dường như trưng dẫn đến Sô 3:9.

Tiến sĩ Scofield chú thích về sách Sô-phô-ni:

Tiểu dẫn.– Tiên tri nầy đồng thời với Giê-rê-mi, hành chức trong đời vua Giô-si-a. Ấy là thời phục hưng (IICác 22:1-); Sô-phô-ni cũng tỏ ra rằng mặc dầu có sự phục hưng bề ngoài của Giô-si-a (Giê 2:11-13), nhưng vì phần đạo đức bên trong của dân sự không thay đổi nên không tránh được cơn phu tù sắp đến.

Sách chia làm bốn phần:

(I) Sự xâm lấn hầu đến của Nê-bu-cát-nết-sa là quang cảnh ngày Đức Giê-hô-va, 1:1-2:3.

(II) Những lời dự ngôn về sự phán xét trên mấy dân tộc kia 2:4-15.

(III) Tình hình đạo đức của Y-sơ-ra-ên khiến cơn phu tù phải đến, 3:1-7.

(IV). Sự phán xét các dân, sau đó có lời phước hạnh của nước Đấng Mê-si, 3:8-20.

1:7.– Xem bài “Ngày của Đức Giê-hô-va.”

3:9.– Trong sách Sô-phô-ni, sự trở lại đạo của “các dân” được nói khác với trật tự tiên tri thông thường; tại đó, phước lành của Y-sơ-ra-ên và sự thiết lập nước xảy ra trước khi các dân ngoại trở lại đạo. Xem lời chua Xa 12:1; và 12:8. Nhưng câu nầy bày tỏ chứng cớ rõ ràng lúc nào các dân ngoại sẽ trở lại với Ngài. Ấy là sau sự đánh phá các dân ngoại. So Ês 11:9 với thượng hạ văn; Đa 2:34-35; Thi 2:5-8; Công 15:15-17; Khải 19:19-20:6.

3:15.– “Ở giữa”, so với mấy chỗ khác trong các sách tiên tri (xem bài Nước, lời chua Xa 12:8) không thể chỉ về sự gì xảy ra khi Đấng Christ giáng lâm lần thứ nhứt, vì thượng hạ văn tỏ ra rất rõ như vậy. Trật tự ngược thật đúng. Xem lời chua Ês 11:1-.kh

Lên đầu trang