Sinai. Sinai (có lẽ thuộc về Sin, thần mặt trăng).
Tên nầy có lẽ ra từ một gốc có nghĩa là “chiếu sáng” bằng tiếng Sy-ri, và trong tiếng Ba-by-lôn có danh từ Sinu là mặt trăng. Đồng vắng Sin (Xuất 16:1; 17:1; Dân 33:11) ở giữa núi Si-na-i và kênh Suez, và chắc đã đặt tên theo “ánh sáng rực rỡ” của phần trắng núi đó. Song tại núi Si-na-i, “cảnh tượng của sự vinh quang Đức Giê-hô-va nơi đỉnh núi; trước mặt dân Y-sơ-ra-ên khác nào như đám lửa hừng (Xuất 24:17), sự vinh quang của Đức Giê-hô-va cứ nhuộm những mỏm núi Jebel M#sa (núi Môi-se) bằng màu đỏ như lửa, phản chiếu từ thứ đá hồng sa, rất lâu trước khi bóng ngã trên đồng bằng phía dưới. Trong Cựu Ước, Si-na-i được nói đến như là đồng vắng và núi 35 lần. Chính đồng vắng và núi đó được gọi là “Hô-rếp” hoặc “hoang vu”. Trong các sách khác của Ngũ Kinh, ngoài Phục truyền luật lệ ký, Si-na-i là tên thường dùng, dầu có khi cũng chép tên là Hô-rếp (Xuất 3:1; 17:6), chỉ về cả “Núi của Đức Chúa Trời” và đồng vắng Rê-phi-đim, chừng 32 cây số ở phía Tây Bắc.
Môi-se chạy trốn đến Ma-đi-an (hoặc “xứ trống không”) ở phía Đông bán đảo Si-na-i (Dân 22:4, 7; 25:1-; 31), và khi Môi-se chăn bầy đến núi Hô-rếp (Xuất 3:1), thì đến phía Tây của đồng vắng. Theo Phục 1:2, từ Hô-rếp đến Ca-đe Ba-nê-a, đi bởi đường núi Sê-i-rơ, phải mất 11 ngày, đường dài chường 232 cây số. Y-sơ-ra-ên, với bầy súc vật, đàn bà và con nít, đi mất 16 ngày. Si-na-i cũng được mô tả cách xa Ai-cập “ba ngày đường” nơi đồng vắng (Xuất 5:3). Sử gia Josèphe nói rằng núi Si-na-i “cao nhứt cả vùng” và cao nhứt cả xứ, chẳng những người ta khó trèo lên, vì cao, nhưng cũng nguy hiểm vì có nhiều vực sâu; thật thế, ta không thể nhìn mà không mỏi mắt và ngoài ra, còn không thể trèo được vì cớ tiếng đồn rằng Đức Chúa Trời ngự tại đó.”
Chắc trong đời Josèphe, người ta cho núi Si-na-i là một trong các đỉnh ở khối đá cát lớn gọi là et-Tur. Đỉnh cao nhứt là Jebel Kâtarin, cao hơn mặt biển chừng 2.500 thước. Ở Đông Bắc đỉnh đó có Jebel Musa (2.250 thước), đỉnh này đầu thấp hơn, nhưng lại trông rõ hơn, vì cánh đồng bằng gọi là er Râhah (“rộng rãi”) ở phía Tây Bắc. Đồng bằng nầy dài chừng 6 cây số và rộng 2 cây số, như vậy theo Robinson, có thể đóng trại ở chân núi, rộng đủ cho một số đông người (Xuất 19:2).
Si-na-i là núi thánh, vì tại đó Chúa ban cho Y-sơ-ra-ên Mười điều răn, và nơi chân núi, giao ước khiến Y-sơ-ra-ên thành một dân tộc có Đức Chúa Trời làm Vua được chuẩn y (Xuất 20:1-24:8). Hết cả bộ luật lệ chép ở trong Xuất 20:1- đến Dân 10:1- được ban hành ở trên núi hoặc ở chân núi Si-na-i, tùy theo sự tuyên đọc nhiều lần (Xuất 24:12; 31:18; 34:2; Lê 1:1; 16:1; 25:1; 26:46; 27:34; Dân 1:1; 9:1). Jebel Musa có hai đỉnh chính, đỉnh Đông Bắc nay có nhà thờ ở trên, còn đỉnh kia, có những hẻm núi chia thành nhiều mỏm, nay có một tu viện ở phía Bắc, và gọi là Râs es-Safsâfeh hoặc “đỉnh liễu.” Ở phía Bắc tu viện có một đỉnh núi thấp hơn gọi là Jebel ed Deir (“núi của tu viện”). Trong tu viện này có một thư viện rất giá trị, có nhiều bản thảo bằng tiếng Hy-lạp, A-ra-bi, một số khác bằng tiếng Syriaque và Ê-thi-ô-bi. Tại đây, năm 1844 và 1859, Tischendorf tìm được bản Tân Ước gọi là Codex Sinaiticus, bản này có vào khoảng 400 S.C.. Cũng ở đây, năm 1892, nữ sĩ Lawis đã tìm ra bản thảo chép các sách Tin lành bằng tiếng Syriaque cổ, và có lẽ viết vào thế kỷ thứ V S.C.. Dầu không thể nói đúng Môi-se đã lên đỉnh nào, thật các đỉnh nói trên cao hơn các núi ở đồng vắng Si-na-i, hoặc xứ Ma-đi-an, vì cả đến núi Jebel Serbal, cách 32 cây số ở phía Tây núi Si-na-i, là dãy có nhiều mỏm, chạy dài 5 cây số, cũng chỉ cao 1840 thước mà thôi. Đức Chúa Trời đã vài lần giáng lâm trên núi Si-na-i: trước hết Ngài hiện đến ở trong bụi gai đang cháy (Xuất 3:4); qua 600 năm, tiên tri Ê-li trốn đến núi nầy, Chúa hiện đến cùng ông trong một cơn bão gió (ICác 19:1-). Theo lời truyền khẩu, có khi trên núi này có nhiều đám mây tụ lại và ở đó hàng mấy ngày (Xuất 24:15), có thể bao phủ các đỉnh núi rất cao. Những người Hê-bơ-rơ đã đến núi Si-na-i tháng thứ ba sau khi rời khỏi Ai-cập.Vào cuối tháng năm (Xuất 19:1), và ngày thứ ba có “sấm vang, chớp nhoáng, một áng mây mịt mịt ở trên núi” (câu 16). Kinh Thánh thường nói đến sự oai nghi, hiển hách của Chúa khi Ngài truyền luật pháp (Phục 33:2; Quan 5:5; Thi 68:8, 17; Ha 3:3).
Tân Ước so sánh giao ước Chúa truyền ở núi Si-na-i khác xa ân điển Ngài ban cho. Vậy, ta biết ân điển đời Tân Ước thắng hơn Luật pháp Cựu Ước (Ga 3:24-25; Hêb 12:18-29).
Tiến sĩ Scofield chú thích về Si-na-i.
Xuất 19:1.– Xem bài Luật pháp, phần dưới.