Semitic languages. Langages Sémitiques.
(1) Những thành ngữ “họ hàng Sem” và “các tiếng nói Sem” là nhờ lời trưng dẫn của Sáng 10:21-31. Sau đó, vì hai thành ngữ đó không đúng lắm nên đã dẫn đến việc thay thế bằng những thành ngữ khác, như là các tiếng Á tây, hoặc Sy-rô-A-rạp, là thành ngữ nói lên hai thái cực địa dư của ngữ tộc đó. (2) Không thể nào tả đúng địa giới những diện tích chiếm cứ bởi các chi phái dùng thứ tiếng hay gọi là các thổ ngữ Sem. Theo cách chung, miền cao nguyên xứ Arménie có thể lấy làm giới hạn phía Bắc, sông Tigre và những dãy núi ở bên kia sông làm giới hạn phía Đông, và Biển Đỏ, Đông phương và mấy phần xứ Tiểu A-si làm giới hạn phía Tây. (3) Những thứ tiếng nói của ngữ tộc Sem lớn được thấy dùng trong các nơi sau đây ở những vùng đất kể trên. Dọc theo bờ Địa trung hải, và giữa các chi phái trong xứ Ca-na-an, có thể nói là nơi phát xuất của tiếng dùng trong Cựu Ước được công nhận; trong số đó rải rác mấy di tích của tiếng người Phi-ni-xi. Tại miền Nam, vì xứ A-ra-bi ở biệt lập cho nên còn giữ được một thổ ngữ dùng trong thời kỳ sau đó, phổ biến đến nỗi vượt qua các thứ tiếng đồng loại trong giới hạn có nói tiếng đó. (4) Những phần đặc biệt của chữ viết tiếng Sem đã gây một ảnh hưởng rất lớn trong văn chương. Giống các thứ tiếng khác, thứ tiếng nầy phần nhiều chia làm từng vần một. Đặc biệt ngữ tộc Sem không có các chữ kép (trừ ra các tên riêng) mà thứ ngữ tộc khác đều có.
I. Tiếng Hê-bơ-rơ. — Thời kỳ mở mang.– (5) Tiếng Hê-bơ-rơ là một ngành của ngữ tộc Sem, đã lan tràn trên một phần lớn dân cư ở phía Tây nam Á châu. Ở phương Bắc, (Aram, là tên chỉ xứ Sy-ri, Mê-sô-bô-ta-mi và Ba-by-lôn), trong miền lân cận các chi phái, thổ ngữ Sem trở nên khó hiểu hơn và tính cách chung đã giảm phần tinh tuyền và rõ ràng vì bị ảnh hưởng các cuộc chinh phục của những dân tộc khác. Trái lại, về phía Nam, chính nhờ những sự chống trả đã giúp đỡ việc giữ gìn thổ ngữ đó không bị lai tạp, pha lẫn với ngôn ngữ của các dân tộc khác. Tiếng Hê-bơ-rơ có nhiều sự liên hệ với tiếng Aramaique hơn, điều đó hợp với truyện chép trong Kinh Thánh về các tổ phụ đến từ phương Đông bắc, nói rõ hơn, tức là từ phía Bắc Mê-sô-bô-ta-mi. (6) Có hai vấn đề liên quan trực tiếp tới những cuộc dời đổi chỗ ở của các tổ phụ dân tộc Hê-bơ-rơ, điều này, sau được luận đến rất kỹ bởi nhiều nhà văn: thứ nhứt về nguyên nhân khiến chi họ của Tha-rê dời đổi về hướng Nam và Tây, và vấn đề thứ nhì về căn nguyên và tiếng nói của các chi phái tại xứ Ca-na-an hồi Áp-ra-ham vào đó. Kinh Thánh chỉ chép những dòng dõi kia của Sem là thuộc dòng A-bác-sát được chọn và dẫn đi, bởi một đường mà họ không biết, và cuộc hành trình đó có kết quả rất quan trọng đối với lịch sử của thế gian. Không có gì trái với điều suy nghĩ về cuộc ra đi của Tha-rê từ xứ U-rơ của người Canh-đê để qua xứ Ca-na-an, là do Đức Chúa Trời đã gợi ý và cảm động người khi đang ở trong miền lân cận người Cút, là một dân có tư tưởng và thói tục khác hẳn. Kinh Thánh nói rõ những người mới đến và những thổ dân xứ Ca-na-an không gặp khó khăn gì trong việc giao tiếp, nói chuyện với nhau. Về căn nguyên của những thổ dân đầu tiên ở tại xứ Ca-na-an, lịch sử không chép rõ, nhưng có người cho rằng những cư dân sớm nhất ở Tiểu A-si là thuộc dòng dõi của Gia-phết, và người ta quyết rằng các chi phái đó ra từ Lút, con thứ tư của Sem. (7) Rawlinson và nhiều học giả lại có ý khác: Khi nghiên cứu từ các đài kỷ niệm xưa, hoặc từ lời truyền khẩu, hoặc từ các thổ ngữ hiện nay nói bởi dòng dõi họ, ta được phép tin rằng vào một thời kỳ rất cổ, trước khi có các dân tộc Sem hay Aryens nổi lên, đã có một dòng “Sy-the” lớn (tức Cham) chắc đã lan tràn Âu-châu, Á-châu và Phi-châu. Tiếng nói của họ chỉ giống ít nhiều về từ vựng, song về tính cách của văn pháp và lối đặt câu thì giống nhau. Điều đó dường như phù hợp với lịch sử chép trong Kinh Thánh (Sáng 9:18; 10:6, 15-20). Cũng không thể nhờ những sự giống nhau giữa tiếng nói của những dân cư Ca-na-an (dòng Cham) và tiếng nói của dòng dõi Sem để phản đối ý ở trên về căn nguyên của dân cư đó. “Nếu tra xét Sáng thế ký chép về nhân chủng học, thì sẽ thấy dầu Cham là em của Sem nên dòng dõi người và các dân tộc Sem là thân thuộc với nhau, nhưng dòng dõi Cham được mô tả là dân trước đã ở trong các xứ mà sau giống Araméens chinh phục. Như vậy, Kinh Thánh (Sáng 10:6-20) nói dòng dõi Cham chẳng những là thổ dân vốn ở Ca-na-an với những thành giàu có và văn minh ở bờ biển mà thôi, song họ cũng là những đế quốc hùng cường của Ba-by-lôn và Ni-ni-ve, những nước của Sê-ba và Ha-vi-la giàu có trong xứ A-ra-bi, với nước Ai-cập lạ lùng. Có đủ chứng cớ để tin rằng tất cả những dân tộc thuộc dòng dõi Cham nói các tiếng như chi phái Sy-rô-A-ra-bi chỉ khác nhau về thổ ngữ mà thôi.” (8) Có một câu hỏi cũng liên quan với vấn đề trên: Có phải dòng dõi của Tha-rê, bắt dầu từ Sem, đã học thuật viết chữ nơi người Phê-ni-xi, Ai-cập, hay A-si-ri không — hay là thuật viết chữ được phát minh ra từ giữa chính họ? Xem bài Viết. (9) Giữa các thổ ngữ A-ram và A-ra-bi, thổ ngữ Tha-rê chiếm phần ở giữa. Thổ ngữ đang xem xét đây thường được gọi là tiếng người Hê-bơ-rơ hơn là tiếng người Y-sơ-ra-ên. Có lẽ danh từ “Hê-bơ-rơ” nên được coi là chỉ về hết thảy các chi phái nói tiếng của Sem đã di cư từ miền bên kia sông Ơ-phơ-rát tới miền Nam. (10) Có nhiều nguyên nhân khiến chúng ta khó biết rõ tiếng Hê-bơ-rơ thật đã hình thành thế nào trước khi thành hình chữ viết. Lối văn xuôi của văn chương Hê-bơ-rơ dễ hiểu và đơn sơ, nhưng cũng rất linh hoạt và hợp với đề mục tôn vinh. Song để được ý tôn cao như cần có trong các bài thi ca, thì trong thi ca của tiếng Hê-bơ-rơ có dẫn vào nhiều thành ngữ mà ta không hay thấy trong văn xuôi. Về căn nguyên và sự thực hữu của các thành ngữ đó, trước hết ta phải quay về tiếng Aramaique. Từ thời gian sớm nhứt có văn chương giữa vòng dân Hê-bơ-rơ cho đến 600 T.C., thì tiếng Hê-bơ-rơ vẫn tránh khỏi sự thay đổi cách đặc biệt. Nhưng từ năm 600 T.C. thổ ngữ Hê-bơ-rơ bắt đầu nhường chỗ cho tiếng Aramaique.
II. Tiếng Aramaique.– Thời kỳ giáo khoa.
(11) Tiếng thường gọi là tiếng Aramaique, một thổ ngữ của dòng Sem lớn; tên đó ra từ địa phận nói tiếng đó, A-ram tức cao nguyên hay miền núi (như Ca-na-an tức miền hạ lưu). A-ram thường được chia làm Đông bộ và Tây bộ, những thổ ngữ của hai địa phận nầy được gọi là tiếng Canh-đê và tiếng Syriaque. Địa giới Đông của ngữ tộc Sem không rõ, song có thể quyết rằng chi họ nầy đã kiều ngụ sớm nhứt trong miền thượng lưu sông Tigre, và từ đó chắc đã lan rộng ra các xứ miền Nam. (12) Những phần Kinh Thánh sớm nhứt bằng tiếng Aramaique, tìm thấy trong Đa 2:4-7:28; Exơ 4:8-6:18; 7:12-26; Giê 10:11. Tiếng Aramaique thường dùng trong vòng tín đồ và Hội Thánh được gọi là tiếng Syriaque — là tiếng của Hội Thánh đầu tiên, như tiếng Hê-bơ-rơ và A-rạp là tiếng của Do-thái-giáo và Hồi-giáo. (13) Thật là khó phân biệt giới hạn giữa tiếng nói của đời nầy với đời kia, và thật càng khó hơn khi thử tìm giới hạn thời gian nào thôi dùng tiếng Hê-bơ-rơ và bắt đầu dùng tiếng Aramaique. (14) Về phần chính của tiếng Aramaique — thổ ngữ Tây bộ hoặc thổ ngữ Syriaque — bản sớm nhứt là bản dịch Kinh Thánh gọi là Peshito, có lẽ thuộc về nửa thế kỷ thứ II S.C.. Thổ ngữ dân Sy-ri có lẫn nhiều chữ ngoài như A-rạp, Ba-tư, Hy-lạp và La-tinh, nhứt là Hy-lạp. (15) Những câu tiếng Canh-đê trong Kinh Thánh thật rất quí vì nó soi sáng để chúng ta có thể hiểu được tinh thần và phong tục Do-thái, đồng thời làm rõ ý nghĩa của những đoạn khó hiểu, cũng như nhiều chỗ có thể dịch rõ hơn từ nguyên văn. Bên cạnh đó, những câu tiếng Canh-đê còn mang một giá trị cao hơn vì giúp cho những nhà giải kinh có thể giải nghĩa những đoạn Kinh Thánh hay gây tranh cãi về đạo Đấng Christ. Chưa có thể biết phần nào có giá trị trong văn chương sách Targums về thành ngữ và sự khôn ngoan mà người Do-thái đã sử dụng và phần nào lấy từ bên ngoài. Dầu vậy, sách Targums và các sách đồng thời đều có giá trị lớn về lẽ đạo và sự giải nghĩa; các sách bằng thổ ngữ Aramaique Tây bộ hoặc Syriaque cũng có giá trị như vậy. Từ thế kỷ thứ III đến thứ IX S.C., tiếng Syriaque, đối với phần lớn của Á Châu, là giống tiếng Hy-lạp Hê-lê-nít và tiếng La-tinh thời trung cổ trong phạm vi riêng của mình tức là tiếng Hội Thánh dùng trong nơi đặt tên.
III. Tiếng A-rạp.– Thời kỳ phục hưng. (16) Ta thấy xứ A-ra-bi là nơi tập hợp các chi phái, chi phái đứng đầu chắc từ dòng Ích-ma-ên và các chi phái khác từ dòng Áp-ra-ham, đều liên lạc với nhau bởi kết liên, tiếng nói, lân bang, và phong tục. Các thổ dân vốn ở xứ A-ra-bi không còn nữa. Bán đảo A-ra-bi xưa ở trên đường đi của văn minh Cúc hồi trở lại về phía Đông Bắc. (17) Có chứng cớ bên trong tỏ ra tiếng A-rạp vào hồi mới xuất hiện trong lịch sử thì đã dần được phổ biến ở quê hương hẻo lánh và trơ trụi của mình là xứ A-ra-bi. Dân A-rạp chắc chắn có một nền văn chương trước khi Ma-hô-mết sanh ra (571 S.C.), điều đó được bày tỏ trong tiếng A-rạp, một thứ tiếng có nhiều dấu đặc biệt về văn pháp. Những di tích sớm nhứt đáng tin cậy của văn chương A-rạp là những khúc sách lưu truyền cho đến ngày nay, là các bài đã soạn trước khi có Hồi giáo. (18) Minh chứng giá trị của chữ A-rạp, có hai điều phán đoán khác nhau. Một phái cho rằng tất cả những tinh túy trong từ ngữ va văn pháp khác nhau của ngữ tộc Sem đều được lẫn vào tiếng A-rạp. (19) Trường phái thứ hai lại có quan niệm khác hẳn. Họ quyết rằng vì cớ niên hiệu mới đây (khi so sánh với các tiếng khác thuộc ngữ tộc Sem), và vì cớ các di tích văn chương A-rạp còn lại thật ít quá, nên không thể nói tiếng A-rạp là nguồn gốc của tiếng Hê-bơ-rơ. Về sự đầy đủ từ ngữ, văn pháp, tư tưởng sâu nhiệm, các thể loại văn chương khác nhau, tiếng A-rạp không thiếu gì. Song họ nói sự phong phú của tiếng A-rạp đó không phải hết thảy đều đã được gạn lọc, và các văn sĩ đó không chú ý về nghĩa gốc của các chữ. (20) Bây giờ ta bàn đến một vấn đề quan trọng: Có phải chữ viết được đặt ra bởi Môi-se và các người đồng thời, hay là người Hê-bơ-rơ từ một nguồn nào được học biết về chữ viết. Không thể nghi ngờ người Y-sơ-ra-ên đã biết đến chữ viết trong đời Môi-se. Song có nhiều quan niệm khác nhau về dân tộc nào trong dòng dõi Sem có thể kể là đã sáng kiến ra lối viết chữ (Xem bài Viết). Có một điều rất đặc biệt trong lịch sử của tiếng A-rạp đó là một thời gian ngắn trước thời đại của Ma-hô-mết, thuật viết chữ A-rạp dường như vẫn chưa được nhiều người biết đến, lý do là vì những người Himyarites giữ rất cẩn thận lối viết chữ của riêng mình, tức là chữ “musnad” vì không được phổ biến nên không thông dụng. Có lẽ có mấy chi phái kia đã gần biết viết lối chữ đó, nhưng đến thế kỷ thứ VII S.C., chữ Cufic (gọi như thế vì xuất phát từ thành Cufa) dường như lại được thông dụng hơn. Có lẽ người phát minh là Muramar-Ibn Murrat, một người ở Ba-by-lôn Irak. (21) Khi so sánh các tiếng thuộc ngữ tộc Sem thì thấy phát triển đều nhau. Nhưng trong các tiếng như có hiện nay có lẽ tiếng A-rạp là phong phú nhứt, tiếng Hê-bơ-rơ cũng không kém gì tiếng A-rạp vì nó đã có một lịch sử lâu dài và cũng thường được dùng.