Sê-đê-kia

Sê-đê-kia Zedekiah. Sedécias (ngay thẳng với Giê-hô-va).

I. Vua cuối cùng của Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem, con út của Giô-si-a, bởi vợ là Ha-mu-ta (Giê 1:3; 37:1), và vì đó là anh của Giô-a-cha (IICác 24:18; 23:31). Tên người nguyên là Ma-tha-nia (câu 17) song Nê-bu-cát-nết-sa đổi là Sê-đê-kia khi đem cháu trai của người là Giê-hô-gia-kim sang Ba-by-lôn và để lại Sê-đê-kia trên ngôi Giê-ru-sa-lem. Sê-đê-kia mới 10 tuổi khi cha chết, và 21 tuổi khi được cầm quyền một nước nghèo hèn như vậy (597 T.C.). Lịch sử của Sê-đê-kia có chép trong IICác 24:17-25:7, với vài chỗ hơi khác nhau trong Giê 39:1-7; 52:1-11, và tóm tắt ngắn trong IISử 36:10; v.v.., cũng ở trong Giê 21:1-; 24:1-; 27:1-; 28:1-; 29:1-; 32:1-; 33:1-; 34:1-; 37:1-; 38:1-; và Êxê 16:11-21. Trong các đoạn nầy dường như Sê-đê-kia không phải là người có lòng rất xấu, song thật ra là người nhu nhược. Nếu Sê-đê-kia có giữ lời chỉ Đức Chúa Trời mà thề và cứ phục Nê-bu-cát-nết-sa, thì chắc được bình yên, dầu phải chịu phục. Song vì yếu đuối, hay lưỡng lự và phản bội, thì người tự chuộc lấy sự hủy hoại cho xứ và cho chính mình. Vì cớ Chúa nổi giận cùng Giu-đa, thì khiến cho Sê-đê-kia “cứng cổ, rắn lòng, không khứng trở về cùng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, ” dầu Ngài có nhờ tiên tri Giê-rê-mi khuyên bảo vua, như khi trước đã nhờ Môi-se cảnh cáo Pha-ra-ôn (IISử 36:12, 13), song Sê-đê-kia không chịu hạ mình xuống.

Theo Giê 27:1- và 28:1-, việc quan trọng nhất trong phần đầu đời Sê-đê-kia trị vì, đó là sự nổi loạn khắp cả xứ Sy-ri chống với ách của người Ba-by-lôn. Giê-ru-sa-lem dường như đứng đầu trong sự chống đối này, vì trong năm thứ IV đời Sê-đê-kia trị vì, có các sứ giả từ các nước lân cận tức Ty-rơ, Si-đôm, Ê-đôm, và Mô-áp đến tại triều để hỏi phải làm cách nào. Song tiên tri Giê-rê-mi theo lời Đức Giê-hô-va phán dạy đã gởi các xiềng và ách cho các sứ giả, có ý cho họ biết rằng sự chống đối với Nê-bu-cát-nết-sa sẽ vô ích. Sau khi tiên tri giả Ha-na-nia đã cất ách khỏi cổ Giê-rê-mi thì tháng bảy năm đó, Ha-na-nia chết theo lời Đức Giê-hô-va đã cậy Giê-rê-mi phán trước. Có lẽ Sê-đê-kia trong năm thứ IV đời trị vì của mình đã bí mật mà lập mưu, tới Ba-by-lôn để cho Nê-bu-cát-nết-sa khỏi nghi ngờ (Giê 51:59), vua cũng gởi sứ giả tới Ba-by-lôn nữa (Giê 37:5-11; 34:21; Êxê 17:13-20). Sê-đê-kia không chịu nhận lời Chúa bởi Giê-rê-mi, mặc dầu đã có sự phạt của Giê-cô-nia cảnh cáo. Công việc lọan nghịch thứ nhứt của Sê-đê-kia được chép là sự giao kết với Ai-cập, để tỏ ra mình là kẻ thù của Ba-by-lôn. Lẽ tự nhiên, người Canh-đê tức khắc xâm chiếm Giê-ru-sa-lem. Dầu ở đây ta chỉ nói qua việc nầy, nhưng Kinh Thánh nói tỏ tường trong Giê 37:5-11; 34:21 và Êxê 17:15-20. Sử gia Josèphe kể một cách đầy đủ về niên hiệu xảy ra, tức năm thứ VIII đời Sê-đê-kia trị vì. Dường như nê-bu-cát-nết-sa biết được lỗi của Sê-đê-kia, bởi không nộp thuế hoặc bởi một lỗi nào khác, tức thì vua phái một cơ binh đến tàn phá xứ Giu-đê. Cả xứ bị tàn phá, chỉ trừ Giê-ru-sa-lem và hai đồn lũy mạnh ở đồng bằng phía Tây La-ki và A-xê-ca la còn được vững mà thôi (Giê 34:7).

Trong khi đó, Pha-ra-ôn Hốp-ra dẫn quân mình đến cứu giúp đồng minh. Khi nghe đạo quân người đến gần thì quân Canh-đê lập tức thôi vây thành, và tiến đến để gặp Pha-ra-ôn. Trong lúc bị vây, Sê-đê-kia đã giải phóng những người nam nữ nô lệ Hê-bơ-rơ khỏi làm tôi mọi cho đồng bào mình, nhưng lúc bấy giờ những người quí tộc Hê-bơ-rơ không chịu sự cầm quyền của Sê-đê-kia bèn bắt lại những tôi đòi, buộc họ trở về phục sự mình. Vậy, Chúa phán: “Nầy, ta rao sự tự do cho các ngươi, tức thả các ngươi ra cho gươm, dao, ôn dịch, đói kém.” (34:17 so Thi 119:45; Giăng 8:36; IICôr 3:17). Sau vua Sê-đê-kia sai Giê-hu-can đến cùng Giê-rê-mi: “Xin vì chúng tôi cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta” (37:3). Giê-rê-mi nói tiên tri rằng những người Canh-đê sẽ trở lại, chiếm lấy thành và đốt đi. Sê-đê-kia sai hỏi kín Giê-rê-mi rằng: “Đức Giê-hô-va có phán lời gì chăng?” Giê-rê-mi nói tiên tri Sê-đê-kia sẽ bị nộp trong tay vua Ba-by-lôn. Thấy Giê-rê-mi trung tín như thế, Sê-đê-kia chịu cảm động, truyền giữ tiên tri tri trong nơi hành lang lính canh, và bảo mỗi ngày phải nuôi cho đến khi trong thành hết bánh (Châm 28:23; Thi 37:19). Khi các quan tướng không chịu, vì yếu đuối Sê-đê-kia đã để cho họ bắt Giê-rê-mi quăng xuống hố bùn.

Không thấy chép cơ binh Ba-by-lôn vắng khỏi Giê-ru-sa-lem bao lâu, chỉ biết rằng ngày 10 tháng 10 năm thứ IX đời Sê-đê-kia, người Canh-đê lại ở trước tường thành Giê-ru-sa-lem lần nữa (Giê 52:4). Nay, Ê-bết-Mê-lết vì Giê-rê-mi cầu xin vua Sê-đê-kia, thì vua sai giải cứu Giê-rê-mi, và hỏi ý kiến lần nữa. Giê-rê-mi tâu vua rằng nếu vua ra đầu hàng các quan trưởng của vua Ba-by-lôn thì sẽ được sống với cả nhà và thành sẽ không bị đốt bằng lửa (38:17). Nhưng Sê-đê-kia đã không vâng lời, nên Giê-rê-mi nói bởi đó thành sẽ bị thiêu đốt và chính vua sẽ bị sỉ nhục. Sê-đê-kia sợ hãi đến nỗi bảo Giê-rê-mi đừng cho ai biết mọi lời đó vì không muốn các quan tướng mình biết.

Từ đó trở đi, cuộc vây thành của người Canh-đê vẫn cứ tiếp tục cho đến khi thành công. Đang khi vua lưỡng lự, thì sự cuối cùng đã đến một cách nhanh chóng. Thành Giê-ru-sa-lem thật đã bị ép đến bước cuối cùng. Bánh đã ăn dần hết (Giê 38:9), trong cơn đói kém, các người mẹ bắt con mình làm thịt nấu và ăn (Ca 4:5, 8, 10) còn da của các quan tướng thì dính vào xương và khô héo đi. Cuối cùng sau mười sáu tháng khủng khiếp, tai nạn xảy đến. Ấy là ngày chín tháng tư trong năm thứ XI Sê-đê-kia trị vì độ giữa tháng Juillet. Sử gia Josèphe cẩn thận chép rằng người Canh-đê đã phá tường thành kiên cố và vững chắc, mở một đường vào thành. Mặt trăng mới lên chín ngày, đã lặn xuống phía dưới đồi, và ở mé Tây trũng Giê-ru-sa-lem, trăng hạ rất thấp để chiếu sáng trong các ngõ hẽm tối tăm, tại đó những người trong thành đã yên nghỉ sớm, có ít cửa sổ mở để ánh trăng lọt vào trong nhà. Những người trong đạo binh của vua Sê-đê-kia còn sống sót, nửa đêm từ giã thành trong sự tối tăm. Đạo binh Canh-đê vào thành bởi một đầu, thì đầu kia vua và các cung phi chạy ra khỏi thành bởi một cửa khác đối ngang. Họ đi đường xuống sông Giô-đanh. Trên đường vua gặp mấy người Do-thái trước đã bỏ Giê-ru-sa-lem mà đầu hàng người Canh-đê; họ nhận biết vua, liền báo tin cho quân Canh-đê. Vừa lúc rạng đông thì người Canh-đê đuổi theo, bọn vua đi đến gần thành Giê-ri-cô thì bị bắt về cho nê-bu-cát-nết-sa bấy giờ đang ở tại Ríp-la, thượng lưu trũng Li-ban. Nê-bu-cát-nết-sa theo sự gian ác đặc biệt của thời bấy giờ, truyền giết các con Sê-đê-kia trước mặt người, và sau Sê-đê-kia cũng bị móc mắt, điều đó làm ứng nghiệm lời tiên tri đã nói trước về vua: “mắt nhìn mắt” (Giê 32:4; Êxê 12:13) “nhưng người sẽ không thấy đất ấy, dầu chết tại đó.” Vua cũng phải bị đeo xiềng đồng, và sau bị dẫn qua Ba-by-lôn và chết tại đó.

II. Con trai của Kê-na-na, một tiên tri trong triều A-háp, đứng đầu hoặc làm lãnh đạo trường tiên tri. Chỉ chép một lần như người phát ngôn, khi các tiên tri được A-háp hỏi về kết quả việc dự tính đi đánh Ra-mốt Ga-la-át (ICác 22:1-; IISử 18:1-). Sê-đê-kia con trai của Kê-na-na sửa sọan đến yết kiến vua với một đôi sừng sắt, theo tục hình bóng của các tiên tri (so Giê 13:1-; 19:1-), sừng của con trâu, được nhận làm biểu hiện của Ép-ra-im (Phục 33:17). Với những sừng đó, người hội kiến trước khi Mi-chê đến, người mô tả cách A-háp sẽ đuổi dân Sy-ri trước mặt mình. Khi Mi-chê đến và tuyên bố lời tiên tri mình thì Sê-đê-kia xông đến trước, vả mặt Mi-chê, tiếp theo có lời nhạo báng. Vì đó người bị Mi-chê ngăm đe, dầu lời hơi khó hiểu song chỉ về sự nguy hiểm riêng sẽ xảy đến cho Sê-đê-kia. Josèphe lại kể rằng sau khi Mi-chê đã nói, Sê-đê-kia lại đến và tố cáo là giả dối, vì cớ lời Mi-chê trái với lời nói trước của tiên tri Ê-li rằng máu A-háp sẽ bị chó trong đồng Na-bốt tại Gít-rê-ên liếm; một chứng cớ sau nữa, vì muốn tỏ ra Mi-chê là người lừa dối, thì Sê-đê-kia đánh người và thử thách Mi-chê làm điều Y-đô đã làm cho Giê-rô-bô-am tức khô héo tay. Về vấn đề Sê-đê-kia và những kẻ theo người là tiên tri của Đức Chúa Trời hay của tà thần nào, thì không có gì đáng ngờ nữa (IISử 18:19-22).

III. Con của Ma-a-sê-gia, tiên tri giả dối trong Ba-by-lôn (Giê 29:21, 22). Người bị tố cáo trong thơ của Giê-rê-mi vì đã cùng với A-háp, con trai của Cô-la-gia, cảnh cáo dân sự bằng những hy vọng giả dối, và vì cách ăn ở ngọai đạo. Tên những người nầy trở nên một tục ngữ, và số phận ghê gớm của họ thành một lời cảnh cáo.

IV. Con của Ha-na-nia, một quan trưởng của Giu-đa trong thời Giê-rê-mi (Giê 36:12).

V. Con của Giê-hô-gia-kim (ISử 3:16).

VI. Một trong các thầy tế lễ có đóng dấu vào giao ước (Nê 10:1).

Lên đầu trang