Sách Phục truyền luật lệ ký Deuteronomy. Deutéronome (Lặp lại Luật pháp).
I. Nghĩa tên.– Tên nầy, từ bản Septante, là tên sách thứ năm của Ngũ kinh. Tên Hy-lạp trong bản Septante dịch là Phục truyền luật lệ ký, ấy là theo 17:18 nói về “chiếu theo Luật pháp nầy… chép một bản.”
II. Mục đích.– Sách nầy chẳng phải chỉ là bộ lặp lại hay sao lại những luật lệ đã lập rồi, song vì những hoàn cảnh và mục đích đặc biệt thì là một bộ kể lại. Trong Xuất Ê-díp-tô ký, Lê-vi ký, Dân số ký tỏ ra luật lệ đang được thành lập, chép những cơ hội và thời gian khi các phần của luật lệ từng hồi kế tiếp nhau được công nhận, và tuyên bố mỗi phần đó là từ Đức Chúa Trời. Trái lại, trong Phục truyền luật lệ ký tỏ ra luật lệ không phải đang lập, song được thuật lại và giải nghĩa. Ba mươi tám năm đã qua từ khi phần lớn của luật lệ đã được lập. Có một thế hệ của dân Y-sơ-ra-ên sắp chiếm lấy xứ Ca-na-an, được truyền phải nhóm lại để nghe luật lệ của dân tộc, để được dạy dỗ về sự ứng dụng những nguyên tắc luật lệ đó để phù hợp với những cảnh ngộ mới, để được biết rõ ý về nghĩa thuộc linh của luật lệ, và để lập lại giao ước mà Chúa trước đã lập với các tổ phụ. Bây giờ không phải là Đức Giê-hô-va phán với Môi-se như trước, song là Môi-se theo lịnh Ngài mà nói cùng dân sự (1:1-4; 5:1; 29:1).
III. Trước giả.– Trong sách Phục truyền luật lệ ký chép rất rõ “Môi-se chép luật nầy… Khi Môi-se chép những lời luật pháp nầy trong một cuốn sách xong rồi, thì ra lịnh… Hãy lấy cuốn sách luật pháp nầy để bên hòm giao ước… làm chứng nghịch cùng người” (Phục 31:9, 24-27). Vậy, nói Môi-se là nguồn lớn hay là nguồn theo truyền khẩu của luật lệ thì chưa đủ, vì trong mấy câu trên nói “Môi-se chép.” Vả lại trong 31:22 chép: “Môi-se chép bài ca nầy, ” tức là bài ca trong đoạn 32:1-. Trong cả Cựu Ước, không có sách nào chép rõ hơn về trước giả. Đây, chỉ lấy ba lý cớ để chứng minh: a) Tài liệu trong Phục truyền luật lệ ký thuận hiệp với mọi điều ta biết về thời Môi-se: vì tỏ ra hết thời kỳ lập Y-sơ-ra-ên thành một dân tộc, vì có nói đến các dân xung quanh như Ai-cập, Ca-na-an, A-ma-léc, Am-môn, Mô-áp, Ê-đôm, vì sự dạy dỗ căn cứ vào Mười điều răn, và vì đã tìm Côde de hammurabi, viết trước thời Môi-se rất ít 700 năm, nên chứng rằng Môi-se cũng có thể viết. b) Phục truyền luật lệ ký tỏ ra từ Môi-se, vì gần 40 lần có tên Môi-se, và như là tác giả của tài liệu. Phần nhiều suốt cả sách dùng chữ “ta” chỉ về Môi-se như trong 1:16, 18;3:21 29:5. c) Phục truyền luật lệ ký gồm luật quân sự cần có để chiếm xứ, và là sách khuyên dạy. Có chép rõ Môi-se dạy những mạng lịnh và luật lệ như Giê-hô-va đã phán, để dân Y-sơ-ra-ên làm theo khi họ cư ngụ ở xứ sắp vào (Phục 4:5, 14; 5:31 tức phải đuổi thổ dân (7:1; 9:1-3; 20:17; 31:3), lúc tranh chiến phải theo những luật lệ để giữ lấy thần quyền (20:1-20; 23:9-14; 21:10-14; 31:6, 7), và khi chiếm xứ rồi, phải ăn ở tại đó không như kẻ lưu lạc nhưng phải như công dân của một xứ văn minh (19:14; 22:8-10; 24:19-21). Cặp theo với những sự trên, có những lời khuyên về tương lai xuất phát từ tấm lòng của Môi-se. Suốt cả sách có một giọng như cha dạy con tỏ ra thật Môi-se là trước giả.
IV. Tài liệu.– Sách Phục truyền luật lệ ký trước nhứt và phần chính là một bài giảng chia làm ba hồi được chép lại, và cũng được công nhận cách nghiêm trang như một giao ước (1:1–30:1-).
1. Bài giảng thứ nhứt, 1:6-4:40 với lời phụ thêm, 41-49. Khúc nầy thuật lại lịch sử dân Y-sơ-ra-ên từ khi giao ước được lập với những người đời trước họ tại núi Si-na-i, để làm cớ cho họ vâng theo luật lệ của Đức Giê-hô-va. Có chép người phát ngôn là Môi-se (1:1, 3, 5, 9, 15, v.v.). Niên hiệu là ngày mồng một tháng mười một năm thứ bốn mươi, sau khi ra khỏi Ai-cập. Môi-se giảng bài nầy sau khi đánh giết Si-hôn và Óc (1:3, 4; 4:3). Nơi giảng là bên kia sông Giô-đanh tại xứ Mô-áp (1:5 so Dân 33:48; 35:1), trong đồng vắng, nơi thấp (1:1 so Dân 23:28; 24:1). “Bên kia sông Giô-đanh” tức chỉ về miền Đông sông Giô-đanh.
2. Bài giảng thứ hai, 5:1—26:1-. Bài giảng nầy kể lại những luật lệ liên quan với dân sự, và chú trọng về phần thuộc linh của luật lệ, và hết sức khẩn cấp khuyên dân sự phải vâng theo. Người phát ngôn là Môi-se (5:1, 5, 22); niên hiệu là hết bốn mươi năm lưu lạc, khi sắp qua sông Giô-đanh, sau lời tiên tri của Ba-la-am (8:2; 9:1; 11:31; 23:4).
3. Bài giảng thứ ba, 27:1-, 28:1-. Khúc nầy là kết luận bài trước, a) khắc luật pháp trên các bảng đá trát hồ, dựng trên núi Ê-banh, b) phước lành và rủa sả tùy theo việc dân sự có vâng lời hoặc không vâng lời Chúa. Bài giảng lớn nầy được tiếp theo liền bởi một bài ngắn (29:1–30:1-) khi Đức Chúa Trời bảo Môi-se kết kập với Y-sơ-ra-ên một giao ước, là giao ước tại Mô-áp (29:1; 30:1). Giao ước nầy, giống giao ước trước lập tại núi Hô-rếp, được “ghi trong sách” (29:20, 21, 27; 30:10; so Xuất 24:4-8). Nơi và niên hiệu của giao ước nầy ngụ ý đến trong Phục 29:1, 5, 7, 8.
Sau khi giảng ba bài trên hợp thành bản văn sách Phục truyền luật lệ ký, thì Môi-se công cử Giô-suê là người nối chí mình, thay thế mình trong chức vụ lãnh đạo và khuyên bảo Giô-suê cách trọng thể (31:1-8). Môi-se giao quyển sách luật pháp đã chép cho các thầy tế lễ, dặn họ phải đọc trước mặt hội chúng (31:9-13). Môi-se và Giô-suê đến Hội mạc, để Đức Giê-hô-va truyền lịnh cho Giô-suê và truyền cho Môi-se “hãy chép bài ca nầy và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên” (14-23). Ngày đó, Môi-se chép bài ca (22), dặn những người Lê-vi khiêng hòm giao ước phải để “cuốn sách” gồm luật và bài ca bên hòm giao ước (24-29), dặn nhóm hiệp hội chúng để nghe và học bài ca (28), và sau đọc cho cả hội Y-sơ-ra-ên nghe (31:30-32:47), lời khuyên của Môi-se (32:45-47). Chúa bảo Môi-se lên đỉnh Nê-bô, nhìn xứ Ca-na-an, v.v. (32:48-52). Bài từ giã của Môi-se (33:1-29), và Môi-se qua đời (34:1-).
V. Tôn chỉ và sự quan hệ.–a) Tôn chỉ rất lớn tức là: Đức Chúa Trời là Đấng có một không hai, cai quản muôn vật (Phục 4:35-39; 6:4; 32:39; 10:14, 17; 5:26); có quan hệ với các nước trên thế gian (7:19; 9:5;) răn người Y-sơ-ra-ên chớ thờ thần nào khác (6:14; 12:31; 17:3); chớ giao thông với bảy dân tộc, e sa vào vòng tội lỗi chăng (Phục 7:1-4), và chớ dựng nên hình tượng và trụ thờ nào (Phục 16:21, 22).
b) Đức Chúa Trời là Chân thần, thưởng cho người lành, phạt kẻ dữ; là Đấng rất công bình không tây vị ai (Phục 28:1:46; 32:4, 5).
c) Y-sơ-ra-ên là một tuyển dân, Y-sơ-ra-ên cũ đã trở nên một tuyển dân bởi giao ước Đức Giê-hô-va lập với họ tại núi Hô-rếp, vì “Ngài cho họ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho Ngài” (Xuất 19:6). Y-sơ-ra-ên mới đã được sanh ra trong đồng vắng, hưởng ân huệ ban cho tổ phụ họ bởi giao ước chính bây giờ lập trong xứ Mô-áp (Phục 26:16-19; 27:9; 29:1; 5:2, 3). Nhờ đó, họ trở nên kẻ kế tự hưởng những lời hứa đã ban cho các tổ phụ (4:31; 7:12; 8:18; 29:13); họ trở nên thánh và được biệt riêng, được Đức Giê-hô-va yêu thương đặc biệt (7:6; 14:2, 21; 26:18, 19; 28:9; 4:37), họ bị sửa dạy cốt vì mục đích tốt lành cho họ (8:2, 3, 5, 16), để họ được lập như dân sự Đức Chúa Trời, làm phần và cơ nghiệp riêng của Đức Giê-hô-va (32:6, 9; 4:7).
d) Sự thông công duy nhứt giữa Ngài và Y-sơ-ra-ên. Các dân khác sợ những thần mình song Y-sơ-ra-ên chẳng những phải kính sợ Đức Giê-hô-va, mà lại phải yêu mến và dâng mình cho Ngài (4:10; 5:29; 6:5; 10:12, 20; 11:1, 13, 22; 13:3, 4; 17:19; 19:19; 28:58; 30:6, 16, 20; 31:12, 13). Những đặc ân quí nhứt họ hưởng được vì dự phần về phước lành của giao ước; trừ ra Y-sơ-ra-ên, các dân tộc khác là khách lạ và người ngoại, không được nhập vào Y-sơ-ra-ên (23:1-8).
đ) Các lễ trọng của Y-sơ-ra-ên. Ấy là những lễ kỷ niệm việc lớn lao trong lịch sử tức là việc Đức Chúa Trời cảm hóa người Y-sơ-ra-ên (Phục 26:1-).
Những tôn chỉ kể trên đều nên dùng làm giáo khoa để dạy con cái, giữ trong lòng và nên khắc vào gỗ, viết vào cửa hầu cho ai nấy đều biết (Phục 6:6-9; 11:19, 20).
VI. Ảnh hưởng Phục truyền luật lệ ký đối với dân Y-sơ-ra-ên.– Ảnh hưởng đó bắt đầu từ lúc dân Y-sơ-ra-ên mới vào xứ Ca-na-an. Dầu có ít lời trưng dẫn trong Giô-suê, Các quan xét, Sa-mu-ên, Các-vua, nhưng cũng đủ tỏ ra Y-sơ-ra-ên đã biết và vâng giữ những luật lệ như chép trong Phục truyền luật lệ ký. Như khi chiếm thành Giê-ri-cô, thành và mọi vật trong thành bị phú dâng cho Đức Giê-hô-va (Giô 6:17, 18), giữ theo Phục 13:15 (so Giô 10:40; 11:12, 15 với Phục 7:2; 20:16, 17). A-can phạm tội, người cùng cả nhà bị ném đá, và sau bị thiêu bằng lửa (Giô 7:25 so Phục 13:13; 17:5) việc cả nhà A-can bị giết chung với người dường như là trái với Phục 24:16, nhưng không có chứng cớ họ chết vì tội của cha, chắc vì là tòng phạm, vả lại, người Y-sơ-ra-ên nhận biết sự hiệp một trong nhà như kỵ nữ Ra-háp (Giô 6:17). Khi chiếm lấy thành A-hi, người Y-sơ-ra-ên chỉ bắt những súc vật và thu chiến lợi phẩm cho mình (Giô 8:27), giữ theo Phục 20:14; và khi mặt trời lặn thì họ gỡ xác của vua A-hi đang bị treo trên cây xuống, quăng ngoài cổng thành, rồi lấy đá chất lên thành một đống lớn (Giô 8:29), giữ theo Phục 21:23 (so Giô 10:26, 27). Về sự thờ phượng cũng vậy, Giô-suê đã dựng bàn thờ trên núi Ê-banh (Giô 8:30, 31) như lời Môi-se truyền trong Phục 27:4-6, và cũng khắc trên đá một bản luật pháp dựng trên núi đó (Giô 8:32) như Môi-se truyền (Phục 27:3, 8). Vả lại, cứ so Giô 8:33 giữ theo Phục 11:29; 27:12, 13, và so Giô 8:34, 35 giữ theo Phục 31:11, 12. Sách Giô-suê cũng chép lại một truyện quan trọng là khi hai chi phái rưỡi về phía Đông sông Giô-đanh lập một bàn thờ khác hơn bàn thờ trong Đền tạm, nên các chi phái khác tố cáo họ phạm tội (Giô 22:29 so Phục 12:5).
Vài lần trong sách Các quan xét có trích lại, tỏ ra ảnh hưởng của sách Phục truyền luật lệ ký trong dân Y-sơ-ra-ên: như dân Ca-na-an ở Xê-phát bị tận diệt (Quan 1:17 so Phục 7:2; 20:16 tt), Ghê-đê-ôn bỏ những kẻ sờn lòng trước khi ra trận (Quan 7:1-7 so Phục 20:1-9). Cứ xem Quan 6:25-27; 13:16 và Quan 17:13 so với Phục 10:8; 18:1-8; 33:8-11, về sự dâng của lễ trên bàn thờ khác bàn thờ tại Si-lô.
Trong sách ISa 1:1-9, 21, 24 thấy Ên-ca-na từ thành mình đi lên Si-lô hằng năm để thờ phượng Đức Giê-hô-va là nơi thờ phượng độc nhứt. Sau khi hòm giao ước bị người Phi-li-tin cướp lấy thì Sa-mu-ên dâng của lễ tại Mích-ba, Ra-ma và Bết-lê-hem (ISa 7:5-9, 17; 16:4-5), làm như vậy như trái với Phục 12:10-11; song chúng ta biết rằng lúc bấy giờ không có sự bình yên trong xứ. Chỉ khi đã có Đền thờ Sa-lô-môn thì Y-sơ-ra-ên chinh phục được các dân thù nghịch, nhưng vua Sa-lô-môn không trung tín giữ giao ước và luật pháp chép trong Phục truyền luật lệ ký (ICác 11:3, 11). Đời sau, thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đội mão triều thiên trên đầu vương tử là Giô-ách và trao luật pháp cho (IICác 11:13 so Phục 17:18). Vua A-ma-xia không xử tử con cái của kẻ sát nhân y theo lời Chúa đã chép trong luật pháp của Môi-se (IICác 14:6; so Phục 24:16). Vua Ê-xê-chia hết lòng tin cậy Đức Chúa Trời, phá bỏ sự thờ hình tượng, và đánh vỡ con rắn bằng đồng (IICác 18:4, 22), ấy là làm theo sách Phục truyền luật lệ ký.
Các sách tiên tri cũng tỏ ra ảnh hưởng của sách Phục truyền luật lệ ký: như Ô-sê trách dân Y-sơ-ra-ên về việc họ đã dâng của lễ và xông hương trên núi, và khuyên dân Giu-đa chớ theo gương xấu của Y-sơ-ra-ên (Ôs 4:13, 15). Ô-sê cũng nói về việc dân sự chống nghịch, cãi lẫy cùng các thầy tế lễ (Ôs 4:4 so Phục 17:12), lấn địa giới (5:10 so Phục 19:14), chớ về trong Ai-cập (8:13; 9:3 so Phục 28:68) và Đức Giê-hô-va tỏ lòng thương xót đối với Ép-ra-im (11:3 so Phục 1:31; 32:10). Chỉ có thể cắt nghĩa sự can đảm của tiên tri A-mốt và nhờ luật pháp trong Phục truyền luật lệ ký (Am 3:2 so Phục 7:6; 4:7, 8). A-mốt lên án nghịch cùng sự thờ hình tượng, sự trái luật pháp và việc ức hiếp người nghèo như Phục truyền luật lệ ký cấm (Am 2:6-8; Phục 24:12-15; 23:17). Tiên tri Ê-sai cũng phản chiếu tư tưởng và sự dạy dỗ trong Phục truyền luật lệ ký mô tả Si-ôn là nơi thờ phượng độc nhứt của Y-sơ-ra-ên và nơi ngự của Đức Chúa Trời (Ês 2:2-4; 8:18; 28:16; 29:1, 2; so Mi 4:14).
Bởi đó, ta thấy sách Phục truyền luật lệ ký thật có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử Y-sơ-ra-ên đời Cựu Ước, và cũng đến chính ngày nay nữa.
VII. Đặc điểm của sách Phục truyền luật lệ ký.–a) Đặc điểm thứ nhứt.—Đó là sự chuẩn bị để dân Y-sơ-ra-ên cư ngụ lâu dài trong xứ Ca-na-an. 1) Tỏ ra trong lời nói. Thí dụ cho dân sự biết mình sắp sửa sống ở trong một nơi cố định, không còn phải rày đây mai đó. Vì cớ đó trại quân được nói đến nhiều lần trong các sách luật lệ trước; đến Phục truyền luật lệ ký thì không thấy nói đến, trừ ra chỗ trưng dẫn đến một cuộc chiến tranh sắp tới hay sự cắm trại tại Si-tim. Môi-se cũng thường nói đến nhà, thành và cửa thành. 2) Dẫn đến những sự thay đổi nhỏ về luật lệ đang có, hầu cho thuận hiệp với lối sống mới. Thí dụ, luật pháp đòi phải đem những thú giết thịt đến trước cửa Hội mạc, đổi ra cho phép dân sự có thể giết thịt ngay trong thành mình ở (12:15, 21; Lê 17:3, 4). 3) Dẫn đến sự chú trọng chỉ một bàn thờ cho cả dân sự trong nơi mà Đức Giê-hô-va sẽ xưng tên Ngài. Một bàn thờ duy nhứt là cốt để dân sự chống với khuynh hướng sa vào sự thờ phượng tại nhiều nơi thánh của dân Ca-na-an ở các địa phương. Để làm cho sự thờ phượng Đức Giê-hô-va được long trọng và huy hoàng hơn những tục lệ thờ các thần tượng của người Ca-na-an, bằng cách hiệp nhất dân số và tài sản của người Hê-bơ-rơ, để họ cảm biết sự cùng chung sống với nhau và thắt chặt tinh thần hiệp một. Tuy nhiên tinh thần ghen tị giữa cá nhân và chi phái, lòng hướng về sự thờ phượng, và một phe lớn trong dân sự muốn phân rẽ khỏi anh em mà ngụ trong các miền khác để chăn nuôi, thảy đều đã bắt đầu tỏ ra. Vì vậy, luật giữ bàn thờ duy nhứt phải được chú trọng trong thời điểm quan trọng nầy, vì nó cần thiết cho sự hợp nhứt dân sự và cứ thuộc dưới thần quyền.
b) Đặc điểm thứ hai.– 1) Có người nói không có sự phân biệt trong Phục truyền luật lệ ký giữa thầy tế lễ và người Lê-vi như trong Lê-vi ký và Dân số ký. Trong Phục truyền luật lệ ký mấy lần gọi thầy tế lễ là “những thầy tế lễ về dòng Lê-vi” (Phục 18:1-8), và nếu nói như vậy thì có thể cắt nghĩa rằng người Lê-vi nào cũng trở nên thầy tế lễ được. Song:–Chi phái Lê-vi quả thật được chỉ định để hành chức tế lễ (10:6; 18:1-8; 33:8, 9), vì toàn thể chi phái được gọi đến làm việc thánh, nhứt là việc tế lễ. Dầu vậy, khi có sự phân biệt giữa thầy tế lễ, thì thứ tự thấp hơn của người Lê-vi được lập, còn cả chi phái được gọi là chi phái tế lễ (ICác 12:31; Mat 2:1-4; 3:3 so Hêb 7:13). 2) Có danh hiệu “các thầy tế lễ họ Lê-vi” trong những sách chép sau Lê-vi ký. Ê-xê-chi-ên dùng đến (43:19; 44:15), và sách Sử-ký (IISử 23:18; 30:27); Giê-rê-mi cũng vậy (33:18, 21). 3) Sách Phục truyền luật lệ ký căn cứ vào luật lệ thầy tế lễ có trước vì coi những luật đặc biệt về lễ nghi như đã có. Trước giả Phục truyền luật lệ ký nói đến những luật lệ trước vấn đề mình đang nói, và những luật lệ đó dựa vào sách Lê-vi ký và Dân số ký (Phục 18:1, 2 với Dân 18:20; Phục 24:8, 9 với Lê 13:1-, 14:1-; Dân 12:1-), hoặc ngụ ý đến (Phục 12:15 với Lê 17:3 tt). 4) Khúc sách Phục 18:1-8 có thể giải nghĩa theo luật sách Lê-vi ký đang được thi hành. Người Lê-vi không có cơ nghiệp chung với Y-sơ-ra-ên, song được hưởng những đặc ân mà Đức Chúa trời đã qui định cho họ (Lê 6:17, 18; Dân 18:20, 21, 24, 26). Trước giả hết sức chú trọng về luật nầy. Những thầy tế lễ về dòng Lê-vi và cả chi phái Lê-vi không có sản nghiệp; song ho# sẽ nhờ những của tế lễ dùng lửa mà nuôi mình (câu 1). Sau đó nói đến phần định riêng cho những thầy tế lễ và không thêm “dòng Lê-vi.” Dân sự không được lường gạt thầy tế lễ về huê lợi của họ (câu 3, 4 với Xuất 29:27, 28; Lê 7:34; Dân 18:11, 12 thay đổi một chút). Cuối cùng, luận về phép người Lê-vi phục sự trước nơi thánh của Chúa. Nếu một người Lê-vi, bất cứ hạng nào, từ nơi nào đến nơi thánh, cũng hành chức nhơn danh Chúa như anh em mình là người Lê-vi, và cũng sẽ có một phần lương thực bằng các anh em mình (18:6-8). Ở đây không nói đến loại công việc nào, vì gồm cả chức việc thầy tế lễ và những việc của hạng người Lê-vi kém hơn (18:5; 17:12; ISa 2:11, 18; 3:1; ISử 23:6; 29:4, 5, 11). Điểm chú trọng đến là hội chúng sẽ hoàn toàn công nhận mọi người Lê-vi tại nơi thánh và bằng lòng cho họ những quyền lợi riêng. Nếu một người Lê-vi là thầy tế lễ thì sẽ được hầu việc và được phần giống như anh em mình là các thầy tế lễ; nếu không phải là thầy tế lễ, người đó sẽ hưởng đặc ân thuộc anh em mình là người Lê-vi, chớ không phải là thầy tế lễ. Nếu một người Lê-vi nào là người hạ lưu và đến từ nơi rất xa thì những người cầm quyền cũng không được cất phần định khỏi người đó, . Xem bài Ngũ kinh và bài Lê-vi, người.
Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn cho sách Phục truyền luật lệ ký:
Sách Phục truyền luật lệ ký gồm có những lời Môi-se khuyên dân Y-sơ-ra-ên trước lúc từ giã, vì Y-sơ-ra-ên sắp bước vào xứ Chúa ban làm cơ nghiệp mình theo giao ước. Sách nầy tóm tắt cuộc lưu lạc của dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng, đây là điều rất quan trọng vì bày tỏ về sự phán xét đạo đức của Đức Chúa Trời trên những biến động đó; nhắc lại mười Điều răn cho một thế hệ sau, được sanh ra trong đồng vắng, chỉ dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết cách cư xử khi ở trong xứ Thánh, và cũng chép giao ước Pha-lê-tin (30:1-9). Sách nầy tỏ ra sự nghiêm nhặt của Luật pháp. Lời chìa khóa “Ngươi phải;” câu chìa khóa, 11:26-28.
Nên chú ý, lời Chúa hứa ban cho Áp-ra-ham và dòng dõi người theo giao ước với Áp-ra-ham thì không có điều kiện nào (Sáng 13:15; 15:7), song theo giao ước Pha-lê-tin, (Phục 28:1–30:9) lập khi dân Y-sơ-ra-ên dưới quyền lãnh đạo của Giô-suê sắp vào xứ thì có điều kiện. Nếu đi trái với điều kiện của giao ước đó, thì trước hết dân tộc sẽ bị chia làm hai (ICác 12:1-), và sau bị đuổi ra ngoài xứ (IICác 17:1-18; 24:1-25:11). Nhưng trong chính giao ước đó có lời hứa sẽ lập lại Y-sơ-ra-ên không điều kiện, còn phải được ứng nghiệm (Sáng 15:18), xem bài Giao ước với Áp-ra-ham.
Sách Phục truyền luật lệ ký chia làm bảy phần: 1) Tóm tắt lịch sử Y-sơ-ra-ên lưu lạc nơi đồng vắng 1:1-3:29. 2) Chép lại Luật pháp với những lời cảnh cáo và khuyên dạy, 4:1-11:32. 3) Lời dạy bảo, cảnh cáo, và dự ngôn, 12:1-27:26. 4) Những lời tiên tri chót tóm tắt lịch sử Y-sơ-ra-ên cho đến sự tái lâm Đấng Christ và có lời giao ước Pha-lê-tin, 28:1-30:20:1- 5) Lời khuyên chót cho các thầy tế lễ, người Lê-vi, và cho Giô-suê, 31:1-. 6) Bài ca Môi-se và những lời chúc phước khi từ giã, 32:1-; 33:1-. 7) Môi-se qua đời, 34:1-.